IV. TỐNG NHÂN TÔNG
QUYỂN 104: NĂM THIÊN THÁNH THỨ 4 (BÍNH DẦN, 1026)
Từ tháng giêng năm Thiên Thánh thứ 4 đời Vua Nhân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Quý Mùi, Khiết Đan phái Xu mật phó sứ, Chương Vũ tiết độ sứ Tiêu Địch Liệt và Quy Nghĩa tiết độ sứ Khang Quân đến chúc mừng lễ Trường Ninh. Sau khi Địch Liệt và đoàn tùy tùng đến chúc mừng, Khiết Đan lại cử người mang rượu và trái cây đến cho Địch Liệt.
Vua hỏi tể tướng Vương Tăng: “Khiết Đan cử hơn 30 người mang rượu và trái cây, đã đến Mạc Châu, có nên cho họ vào không?” Vương Tăng đáp: “Nên ngăn họ lại, dùng quân châu thay thế, chuyển rượu và trái cây cho Địch Liệt là được.” Vua nói: “Phải.”
[2] Ngày Kỷ Hợi, Vua sai Tri chế cáo Chương Đắc Tượng, Thị ngự sử tri tạp sự Hàn Ức cùng Lại bộ Lưu nội tuyển Nam tào khảo thí các quan viên.
Vua nói: “Gần đây xem các tấu chương về quan lại được thăng chức, phần lớn đều làm hỏng việc, tại sao vậy?” Vương Tăng đáp: “Người có học khi nhập ngạch quan lại, ắt phải giữ liêm sỉ, còn những người ngoài ngạch thì ít người biết kính sợ và cẩn thận. Châu huyện tuy nhỏ, nhưng gần dân nhất, nên thanh lọc từ gốc.”
Vua bèn hạ chiếu cho Đắc Tượng và các quan khảo thí kỹ lưỡng.
[3] Bí thư giám trí sĩ Hồ Đán tâu rằng đã soạn xong 《Diễn Thánh Thông Luận》 70 quyển, dùng để hiệu đính Ngũ Kinh, nhưng nhà nghèo không có tiền sao chép dâng lên Vua. Ngày Canh Tý, Vua ban cho Hồ Đán 10 vạn tiền và 100 hộc gạo.
[4] Tri Ích Châu Tiết Điền tâu rằng những người phạm tội ở Lưỡng Xuyên bị đày đi các châu khác, dù già yếu được tha cũng đều bị giữ lại không cho về, từ nay xin không tha nữa. Vua nói: “Dân ở xa không biết luật mà phạm tội, rồi suốt đời không được về quê, đâu phải ý của Trẫm! Xét thấy tình có thể thương, cho phép họ trở về.”
[5] Kinh Nguyên lộ Tẩu mã thừa thụ công sự, Nhập nội cung phụng quan Vương Tòng Đức tâu: “Cùng Tri Trấn Nhung quân Vương Trọng Bảo, Bản lộ Đô giám Lý Đạo Sử phá được tộc Khang Nô ở địa giới Nguyên châu, đốt hơn 700 trướng của thủ lĩnh Bố A ở Ba Câu cùng sáu cửa khác, chém được 79 thủ cấp, thu được trâu, dê, ngựa, lừa và khí giới, giáp trụ kể đến hàng nghìn.” Vua ban cho khí tệ có khác nhau.
(Truyện của Trọng Bảo chép: Phá được tộc Khang Nô, bắt được 150 thủ lĩnh, 7000 con ngựa và dê[1], Vua xuống chiếu khen thưởng công lao. Số liệu này hơi khác, nay theo 《Thực lục》.)
[6] Ngày Tân Sửu, xuống chiếu rằng các xạ thủ cung tên ở Thiểm Tây không được mua bán, thuê mướn ruộng đất của các bộ tộc phiên, nhưng nếu người phiên và người Hán tự nguyện hợp tác canh tác thì cho phép.
[7] Ngày Giáp Thìn, Vua nói với các quan phụ tá: “Phò mã Đô úy Sài Tông Khánh xin làm Sứ tướng, các khanh nghĩ sao?” Vương Tăng đáp: “Các đời trước như Thạch Bảo Cát, Ngụy Hàm Tín đều từng trải qua chiến trận có công lao, đến tuổi già mới được phong làm Sứ tướng. Huống chi chức vụ tướng soái, há có thể tùy tiện xin xỏ.”
Vua nói: “Đúng vậy. Các khanh hãy triệu Tông Khánh đến mà bảo cho.”
[8] Ngự thư viện tâu rằng Hàn lâm đãi chế, Thái tử Trung xá đồng chính Vương Văn Khánh xin được phong chính quan để xuất chức. Vua muốn cho chức Đại Lý bình sự, bèn hỏi ý tể tướng. Tể tướng tâu: “Nếu phong chính quan thì sẽ không phân biệt được thứ bậc. Xin hãy theo chế độ cũ, thăng làm đồng chính quan.” Vua nghe theo.
[9] Ban đầu, người Khương thuộc hai châu Kinh, Hoàn làm loạn, Thiểm Tây chuyển vận sứ Vương Bác Văn hặc tấu Chu Văn Chất và Vương Hoài Tín nắm quân mà lơ là giặc cướp, làm hao tổn lương thực biên giới, xin dùng Tào Vĩ và Điền Mẫn thay thế. Văn Chất đã bị trị tội, ngày Bính Ngọ, điều Tri Thiên Hùng quân, Chương Hoá lưu hậu Tào Vĩ làm Tri Vĩnh Hưng quân, để tiết chế việc biên giới. Đây là theo lời của Bác Văn.
Vĩ sau đó vì bệnh được miễn đi, lại làm Tri Thiên Hùng quân.
Có tên lính Thiên Hùng phạm tội trộm cắp, mọi người cho rằng án đã xong chắc chắn sẽ bị giết, Vĩ lại xử theo pháp luật thông thường. Có người nghi ngờ hỏi, Vĩ cười nói: “Khi ra biên giới đối địch, chém kẻ không tuân mệnh là để răn đe quân ta, chứ không phải thích giết người. Bình thời trị lý nội quận, sao lại làm việc ấy?”
(Truyện Bác Văn chép: Vĩ vì bệnh không đi, bèn dùng Mẫn làm Tổng quản lộ Kinh Nguyên, giặc liền yên. Xét truyện Mẫn không có lệnh làm Tổng quản Kinh Nguyên, dù sau lại làm Tổng quản Hoàn Khánh, nhưng là vào tháng 4 năm Thiên Thánh nguyên niên, e rằng truyện Bác Văn có sai, nay không theo.)
[10] Tháng 2, ngày Mậu Thân mùng một, đặt 4 người Thượng ngự dược cung phụng. Viện Ngự dược chuyên việc kiểm nghiệm phương thuốc bí truyền, pha chế thuốc để dâng lên, và cung ứng cho nội cung. Năm Chí Đạo thứ 3 mới đặt, dùng 3 viên Nhập nội cung phụng quan chưởng quản, hoặc dùng thêm người sĩ. Đến đây, đặt riêng chức Thượng ngự dược cung phụng, phẩm trật ngang Nội điện sùng ban, chỉ dùng nội thị. Sau này tăng lên đến 9 người.
[11] Ngày Canh Tuất, Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ Vương Tăng xin giao cho Tam quán hiệu đính 《Đạo tạng kinh》, Vua theo.
Vua nhân đó nói: “Sách ấy chép nhiều việc luyện đan vàng đá, sao bằng 5000 chữ của Lão Tử giản ước?” Trương Tri Bạch nói: “Bệ hạ lưu tâm việc này, chính là đạo trị nước thanh tịnh vậy.”
[12] Ngày Giáp Dần, xuống chiếu rằng quan lại phạm tội tham nhũng đến mức lưu đày mà quan án sát không tố cáo, sẽ cùng bị hặc tấu.
[13] Ngày Kỷ Mùi, Bảo Đại tiết độ sứ Tiền Duy Diễn tâu rằng con thứ là Đại Lý bình sự Hối xin đổi làm Nội điện thừa chế. Chiếu cho làm Nội điện sùng ban.
Hối lấy con gái của Phò mã đô úy Lý Tuân Húc, tức là con của Kỵ Quốc đại trưởng công chúa, nên đặc cách theo lời thỉnh cầu.
[14] Chiết Giang bao lấy Dư Hàng, dựa vào bờ đặt hai cống, thay nhau đóng mở để đón thuyền từ Ôn Châu, Đài Châu, Cù Châu, Vụ Châu, nhưng thủy triều làm hỏng cống phía bắc, lâu ngày không sửa chữa, khiến thuyền bè hai nơi bị ách tắc.
Ngày Tân Dậu, Thị ngự sử Phương Thận Ngôn dâng tấu xin khôi phục lại[2].
[15] Ngày Nhâm Tuất, sai quan tế thần Cửu cung. Vua nhân đó hỏi các quan phụ chính: “Ngày tế trùng với ngày kỵ của Chân Tông, có nên dùng nhạc không?” Vương Tăng đáp: “Chỉ bày ra mà không tấu nhạc thôi.”
Vua lại hỏi về sự khác nhau giữa nhạc xưa và nay, Vương Tăng nói: “Nhạc xưa dùng cho trời đất, tông miếu, xã tắc, núi sông, quỷ thần, người nghe đều vui vẻ. Nhạc nay thì không như vậy, chỉ làm vui tai mắt mà làm dao động tâm chí, từ xưa các bậc quân vương sa đà vào chuyện vui chơi đều do điều này.”
Vua nói: “Trẫm vốn chưa từng để ý đến thanh sắc, các cuộc yến tiệc trong ngoài đều là miễn cưỡng thôi.” Trương Tri Bạch nói: “Đức lớn của bệ hạ, người ngoài đâu biết được? Xin hãy sai Lữ Di Giản ghi chép đầy đủ vào 《Thời chính ký》.”
[16] Ngày Canh Ngọ, Ty Bộ thự Tịnh Đại xin đặt chợ hòa thị ở biên giới phía tây, được chấp thuận.
[17] Ngày Giáp Tuất, người man ở các châu Quy Thuận thuộc lộ Quỳ Châu là Điền Tư Khâm cùng 302 người đến cống phương vật[3], Xu mật viện tâu rằng số người vào cống quá nhiều, mà Chuyển vận sứ bản lộ không tâu xin chỉ trước. Vua xuống chiếu xét hỏi.
[18] Ngày Ất Hợi, nạo vét các sông ở phía tây kinh thành.
[19] Chiếu cho Nội tàng khố phó sứ An Kế Xương, Điện trung thừa Tống Khả Hành quyền đề cử chế trí tả hữu sương điếm trạch vụ, do nhập nội áp ban Giang Đức Minh tâu rằng lợi tức thuế khóa bị thiếu hụt so với mức cũ. Đợi khi lợi tức thuế khóa đạt mức quy định thì sẽ bãi bỏ chức đề cử.
[20] Đồng quản câu Hà Đông duyên biên an phủ ty Vương Thế Văn tấu: “Trại chủ Bảo Hưng quân ở địa giới Đại châu là Lý Kế Trung hiện đang giữ chức Hữu ban điện trực, còn Giám áp mới được bổ nhiệm là Vương Cách lại là Tả ban điện trực, thứ bậc chức vụ không thuận, e rằng sẽ dẫn đến bất hòa. Xin hạ lệnh cho Tam ban viện, từ nay phàm chức Giám áp phải ở dưới Trại chủ.” Triều đình nghe theo, và điều Vương Cách đến nhậm chức khác.
[21] Tháng 3, ngày Mậu Dần, mùng một, lấy Hàn lâm học sĩ thừa chỉ, kiêm Thị độc học sĩ, Công bộ thượng thư Lý Duy làm Tương châu quan sát sứ.
Ban đầu, ở biên giới có lời đồn rằng Khiết Đan sẽ phá bỏ hiệp ước, nên triều đình cử Lý Duy đi sứ. Khiết Đan chủ vốn đã nghe danh Lý Duy, tiếp đãi trọng thị, mời ông làm thơ về tình hữu nghị lâu dài giữa hai triều đình. Lý Duy hạ bút viết ngay, Khiết Đan chủ rất hài lòng.
Khi trở về, Vua muốn bổ nhiệm ông làm Xu mật phó sứ, nhưng có người chỉ trích rằng Lý Duy không nên tự xưng là “tiểu thần” trong bài thơ gửi Khiết Đan, nên việc bổ nhiệm bị ngăn lại, chỉ thăng ông làm Hình bộ thượng thư. Lý Duy đã chán ngán việc soạn thảo chiếu thư, từ chối không nhận chức, viện dẫn chuyện cũ của Lý Sĩ Hoành, xin đổi sang chức vụ khác, nên mới có mệnh lệnh này.
Tả chánh ngôn Lưu Tùy tấu rằng Lý Duy là văn thần mà xin đổi sang võ chức, không phải là cách khuyến khích liêm chính, nhưng không được trả lời. Sau đó, Lý Duy được bổ nhiệm làm Tri châu Bạc châu. Lý Duy tâu rằng công việc ở Bạc châu nhàn hạ, không muốn nhận bổng lộc hậu, xin đến Tương châu, triều đình đồng ý.
(Cần biết tên người đã ngăn việc bổ nhiệm.)
[22] Ngày Kỷ Mão, điều Tri Tần châu, Hữu Gián nghị đại phu, Tập Hiền viện học sĩ Tiết Khuê làm Tri Ích châu, thăng chức Xu mật trực học sĩ, lấy Cấp sự trung, Long Đồ các trực học sĩ Vương Tùy thay thế[4]. Dân Tần châu cùng người Di hàng nghìn người liệt kê công trạng của Khuê, đến gặp Chuyển vận sứ xin lưu lại, Vua ban thư khen ngợi nhưng không đồng ý.
[23] Ngày Tân Tỵ, cho phép Thượng ngự dược cung phụng Lam Nguyên Dụng và những người khác được phong tặng cha, mẹ, vợ. Nguyên Dụng là con nuôi của Kế Tông.
[24] Ngự sử đài từ sau khi Tiết Khuê rời đi, chức Trung thừa bỏ trống lâu không bổ nhiệm, Thị ngự sử tri tạp sự Hàn Ức một mình quản lý công việc đài hơn một năm[5].
Ngày Nhâm Ngọ, bắt đầu bổ nhiệm Quyền Tri Khai Phong phủ Vương Trăn làm Quyền Ngự sử trung thừa. Trăn dâng tấu: “Các chức Tham quân ở Tam ty, Khai Phong phủ cùng Thừa, Úy ở các huyện xích thường dùng con em quý tộc[6], kiêu căng lười biếng, không quen việc. Xin thay bằng những người xuất thân hàn vi, đỗ đạt, từng làm quan và có hồ sơ không có lỗi lầm.” Lại tâu rằng các lại nhân ở các cơ quan trong kinh được bổ nhiệm làm quan, xin theo quy định cũ, trở về cơ quan cũ ba năm. Vua đều chấp thuận tấu chương.
(Theo quy định cũ, vào tháng 5 năm Nguyên niên, Lý Hiếu Nhược đã từng dâng tấu xin việc này, không rõ vì sao Trăn lại nhắc lại, cần xem xét thêm.)
[25] Trung thư tâu rằng: “Các lộ Chuyển vận sứ, Đề điểm hình ngục đều lập riêng Khuyến nông ty, việc văn thư qua lại, thỉnh cầu rất phiền nhiễu. Xin từ nay đừng lập ty để hành sự, chỉ lệnh cho họ tự thân đảm nhiệm việc sứ, mong rằng ân huệ thực sự đến được với dân.”
Ngày Giáp Thân, chiếu theo lời tâu, bãi bỏ các Khuyến nông ty ở các lộ, Chuyển vận ty, Đề điểm hình ngục vẫn lệnh kiêm nhiệm Khuyến nông sứ như cũ[7].
[26] Ngày Kỷ Hợi, Tổng quản ty lộ Phu Diên tâu rằng, thủ lĩnh bộ tộc người Phiên là Tào Thủ Quý cùng hơn 1800 hộ xin nội thuộc.
[27] Ngày Giáp Thìn, Lý Tư, nguyên quyền Tam ty sứ, bị cách chức Xu mật trực học sĩ; Lưu Quân, Vương Trăn, Phạm Ung, Thái Tề, Du Hiến Khả, Khương Tuân, Chu Văn Chất, nguyên lĩnh Kế trí ty, đều bị phạt 30 cân đồng; Xu mật phó sứ Trương Sĩ Tốn, Tham tri chính sự Lữ Di Giản, Lỗ Tông Đạo đều bị phạt một tháng lương.
Trước đó, Nội áp ban Giang Đức Minh truyền lệnh xuống Ngự sử đài xét hỏi Khổng mục quan Tam ty là Vương Cử, Câu phúc quan Câu Hiến, v.v. Năm Thiên Thánh thứ nhất tháng 5, theo phép cải cách của Tam ty, cho phép thương nhân ở Hà Bắc, Thiểm Tây vùng biên giới nộp lương thảo, được cấp muối hạt, phèn trắng, v.v., không quy định rõ số lượng phèn từ Châu Từ, Châu Tấn, khiến thương nhân xin nhiều phèn Châu Từ, dần làm thiệt hại cho triều đình.
Lại năm Thiên Thánh thứ 2, lệnh báo cáo số lượng lương thảo vùng biên giới, Cử, v.v. lại lấy thuế hạ thu các lộ cùng lụa vải hai Xuyên đổi lấy lương thảo, tính chung vào số lương thảo Tam ty chuẩn bị phòng thủ biên giới tăng thêm; cùng lúc chưa cải cách phép trà, không tính toán tiền hư thực, mà báo cáo dối là thuế bán trà tăng hơn 1.040.000 quan, để mong được ban thưởng. Triều đình cho là đúng, bèn ban thưởng Cử, v.v. mỗi người 50 lạng bạc, 30 tấm lụa.
Đến khi án xong, Hiến bị đày ra đảo Sa Môn, còn Cử trước đó đã bị tội đày đến Châu Túc.
Vì Sĩ Tốn, Di Giản, Tông Đạo từng chủ trương việc biến pháp, nên chiếu lệnh phân tích. Sĩ Tốn nhân đó nói rằng việc sắp xếp cải cách đều không phải do mình. Di Giản thì nói: “Đầu niên hiệu Thiên Thánh, các lộ Hoàn Khánh và một số nơi khác tấu rằng lương thảo không đủ, kho tàng ở kinh sư thường thiếu tiền, lương bổng của quan lại và binh lính chỉ vừa đủ. Từ khi biến pháp đến nay, kinh sư tích trữ được nhiều tiền, biên cương không nghe nói thiếu thốn. Trong khoảng thời gian đó, bộ tộc Phiên làm loạn, điều động binh mã, nhờ vào cơ quan hữu trách, không có nỗi lo thiếu thốn. Từ đó suy ra, việc biến pháp có hiệu quả. Chỉ là Tam Ty so sánh số liệu, có chỗ khác biệt, không phải là việc mà người chấp chính có thể tự mình kiểm tra.”
Còn lời của Tông Đạo cũng tương tự như Di Giản. Cuối cùng vì không hợp với tình trạng mà cử ra nên bị phạt. Cơ quan Tường Định là Tôn Thích và những người khác được đặc biệt tha[8].
(Việc phân tích của Sĩ Tốn và những người khác, căn cứ vào bản chí ghi chép. Lý Tư tháng 9 năm thứ 3 đã bãi chức Tam Ty sứ, đổi làm Xu mật trực học sĩ, nhậm chức Tri Hồng Châu, lần này lại bị cách chức Mật trực. Bản chí ghi nhầm là bãi chức Tam Ty sứ, nay không theo.)
[28] Lý Hữu, Tiết độ suy quan của An Đức, là cháu đời thứ ba của Đường Trang Tông. Ông dâng thư xin được bổ nhiệm chức quan thuận tiện để lo việc quét dọn lăng miếu. Mùa hạ, tháng 4, ngày Đinh Mùi mùng một, đổi làm Tây Kinh lưu thủ suy quan[9].
Nhân đó, Vua nói với các phụ thần: “Đường Trang Tông trăm trận diệt Lương, mới có được thiên hạ, nhưng không chú trọng tu đức, lại đắm chìm vào thanh sắc, sủng ái kẻ hát xướng, dẫn đến họa loạn, thật đáng than tiếc.” Vương Tăng đáp: “Bệ hạ ngày ngày nghe chính sự, lại xem xét dấu tích trị loạn của các đời trước để làm gương, đó là phúc của thiên hạ.”
[29] Ngày Tân Hợi, trả lại tượng Phật thêu do Tri châu Ninh Châu, Viên ngoại lang chức phương là Dương Cập dâng lên. Trước đây, nhân dịp tiết Càn Nguyên, Dương Cập đến dâng tượng, Vua nói với các quan phụ chính: “Cập là kẻ nịnh thần, việc dân yên chính trị tốt mới là chức phận của quan địa phương, cần gì phải làm thế này!” Bèn sai quan lại trả lại tượng.
[30] Ngày Nhâm Tý, ban chiếu cho các lộ Kinh Tây, Hà Bắc, Hoài Nam rằng giá lương thực đang cao, mà nhà giàu lại tích trữ để kiếm lợi lớn, nên ra lệnh cho các nơi bình giá để cứu giúp dân nghèo. Lại ban chiếu rằng quan lại ngoại trấn khi trở về, được phép dùng tiền công điền và bổng lộc dư thừa để mua hàng hóa, nhưng nếu mua hàng hóa với giá thấp hoặc công khai buôn bán, sẽ bị xử theo pháp luật.
[31] Châu Giang tâu rằng ở đạo quán Thái Bình Hưng Quốc Chân Quân có kẻ trộm mũ vàng của tượng thần, xin giao cho Văn Tư viện chế tạo lại.
Vua nói: “Đạo quán nằm ở nơi hẻo lánh, lại dùng vàng làm mũ, chẳng khác nào dụ người ta trộm cắp, khiến họ phạm tội nặng, nên thay bằng đồng rồi mạ vàng.” Vương Tăng lui ra nói: “Lo dân phạm tội mà đổi vàng thành đồng, thật là nhân từ.”
[32] Ngày Ất Mão, từ trong cung đưa ra bức tranh hoa mẫu đơn và thược dược hai đầu ở vườn sau cho các quan phụ chính xem, rồi sai quan ở Quán các làm thơ dâng lên.
[33] Ngày Đinh Tỵ, Khiết Đan phái Tiết độ sứ quân Khải Thánh là Tiêu Hài, Quan sát sứ châu Lợi là Lý Thiệu Kỳ đến chúc mừng tiết Càn Nguyên.
[34] Năm Thiên Thánh đầu tiên, cháu gái của Thượng tướng quân Kiêu Kị vệ là Trương Mỹ cùng Quách hậu vào cung, Vua có ý muốn lập làm hoàng hậu, nhưng Thái hậu nhất định muốn lập Quách hậu, bèn phong Trương thị làm Tài nhân.
[35] Ngày Mậu Ngọ, phong Quang lộc khanh, Tri châu Nhữ Châu là Vương Thự làm Cấp sự trung, Tri châu Lộ Châu. Dân huyện Thượng Đảng là Vương thị bị vu cáo giết mẹ kế, án đã xong, các quan lại đều cho là không còn gì đáng nghi ngờ, chỉ có Vương Thự nói: “Việc này đáng nghi.”
Sau đó, Đề điểm hình ngục là Đỗ Diễn đến, xét lại vụ án, quả nhiên tìm được kẻ giết người thật sự, Vương Thự bèn viết sách 《Biện Ngục Ký》 để răn dạy các quan ngục.
Diễn, người Sơn Âm, cuối niên hiệu Thiên Hi, làm Tri châu Càn Châu. Khi đó Trần Nghiêu Tư làm An phủ Thiểm Tây, có chiếu chỉ ban yến tiệc cho các phủ phiên. Nghiêu Tư đến Càn Châu, thấy Diễn là người hiền, đặc biệt ban yến, lại tâu xin điều Diễn làm Quyền Tri phủ Phượng Tường. Khi Diễn bị triệu về, dân hai châu chặn lại ở biên giới, nói: “Sao lại đoạt mất vị thái thú hiền đức của chúng tôi?”
(Việc của Diễn được chép phụ, việc ban yến căn cứ theo chính truyền của Diễn, phụ truyền không có. Lại xét tháng 11 nhuận năm Thiên Hi thứ 4, Trần Nghiêu Tư làm An phủ Thiểm Tây, đến đâu liền ban thưởng cho quan lại tướng hiệu, không nghe nói chỉ giới hạn ở các phủ phiên. Cần xét lại.)
[36] Ngày Giáp Tý, Hàn lâm học sĩ Hạ Tủng tâu: “Dân Giang Tây, Mân Việt thường bắt rùa lớn ở núi rừng, dựng ngược trong hố, còn sống mà lóc thịt lấy mai[10], gọi là quy đồng. Tiếng kêu đau đớn, không nỡ nghe, lợi ích thu được rất nhỏ mà tàn hại sinh vật quá lớn, xin nghiêm cấm.” Lại xin ở Kim Sơn, Đại Cô Tiểu Cô Sơn, Dương Lan, Tả Lý, Mã Đương, Trường Lô Khẩu đặt thêm thuyền tuần tra, chiêu mộ thủy công để cứu người gặp nạn. Đều được chấp thuận.
[37] Ngày Tân Mùi, xuống chiếu rằng tội nhân phải bêu đầu giữa chợ, từ tháng 5 đến hết tháng 7 thì được miễn.
[38] Ngày Nhâm Thân, xuống chiếu tu sửa đường các ở Tây Xuyên.
[39] Tháng này, miễn thuế tiền mua nông cụ cho các châu quân. Khi đó dân Cao Bưu quân mua nông cụ, mà ty thuế bắt dân nộp tiền, bản quân tâu lên, nên có lệnh này.
(Việc này căn cứ theo 《Hội yếu》.)
[40] Tháng 5, ngày Đinh Sửu, lấy Tri chế cáo Thái Tề, Chương Đắc Tượng cùng làm Hàn lâm học sĩ. Khi đó Viện Xá nhân không có Tri chế cáo, đặc chiếu cho Hàn lâm học sĩ Hạ Tủng soạn chiếu[11].
[41] Ngày Kỷ Mão, ban chiếu cho Lễ bộ tổ chức thi cống cử, tiến sĩ thực sự ứng thi ba lần, các khoa thi năm lần, đều được miễn thi lấy giải.
[42] Phán Hình bộ Yến Túc dâng tấu rằng: “Đường Đại Lý khanh Hồ Diễn dâng sổ ghi tù nhân hàng tháng, Thái Tông nói: ‘Trong đó có những người đáng thương, sao nên cứng nhắc xử theo luật.’ Bèn ban chiếu, phàm tội đại hình, đều cho Thượng thư và Cửu khanh xét lại. Lại ban chiếu, phàm xử tử hình, ở kinh đô phải tâu lên năm lần, các châu ba lần. Từ đó, số người được sống sót rất nhiều. Năm Trinh Quán thứ tư, xử tử 29 người, năm Khai Nguyên thứ 25 chỉ có 58 người.
Nay dân số trong thiên hạ chưa bằng thời Đường, nhưng năm Thiên Thánh thứ ba xử đại hình 2.436 người, so với thời Đường gần gấp trăm lần. Ở kinh đô, tuy tội đại hình chỉ tâu một lần, nhưng các ngục ở châu quận có nghi vấn hoặc tình tiết đáng thương, đều phải tâu lên xin chỉ thị, nhưng Pháp tự thường bác bỏ, khiến quan lại thường bị tội không nên tâu.[12] Vì thế, họ thường thêm thắt tình tiết, uốn nắn tình hình cho phù hợp với luật, làm mất hết ý nghĩa thương xót của triều đình.
Mong theo lệ cũ thời Đường, tất cả tội tử hình trong thiên hạ đều được tâu một lần. Có người sẽ bàn rằng việc chờ chỉ thị sẽ kéo dài. Thần cho rằng luật Hán đều xét tù vào cuối mùa thu, lại thời Đường từ lập xuân đến thu phân không xử tử hình, chưa từng nghe việc kéo dài làm hại đến sự trị vì của Hán, Đường.”
Hạ bản chương xuống Trung thư, Vương Tăng cho rằng nếu thiên hạ đều phải phúc tấu một lần, thì những người tất bị xử tử sẽ chỉ chất đầy trong ngục mà lâu không được xét xử, xin rằng những vụ án còn nghi ngờ hoặc tình tiết có thể thương xót thì cho phép tâu lên.
Ngày Nhâm Ngọ, chiếu rằng: “Trẫm nghĩ đến dân số đông đúc, kẻ phạm tội nhiều, pháp luật có nặng nhẹ, tình tiết có khinh trọng, mà các quan lại khéo léo tránh né điều luật nhỏ, đều xử vào tội nặng, há phải là ý Trẫm muốn giữ lòng nhân từ sao! Hãy lệnh cho thiên hạ, những người phạm tội chết mà tình tiết có thể thương xót hoặc còn nghi ngờ về hình phạt, đều phải tâu lên đầy đủ, các quan lại không được bác bỏ.”
(Vương xưng trong 《Đông Đô Sự Lược》, chiếu rằng: “Quốc gia chăm lo thương xót dân chúng, mong sao không có kiện tụng, nhưng dân số đông đúc, kẻ phạm tội nhiều, Trẫm rất thương xót.”)
[43] Ngày Quý Mùi, chiếu dời Nam Nghi Châu đến trạm Sầm Hùng, vì châu cũ địa thế hiểm trở, trong đó nhiều khí độc chướng khí, quan lại và dân chúng chết hàng năm rất nhiều.
[44] Ngày Mậu Tý, ngự đến điện Sùng Chính xét tù nhân.
[45] Ngày Tân Mão, chiếu rằng từ nay các chức Hiệu khám ở Quán các không được tăng thêm người. Lúc đó, Xu mật phó sứ Trương Sĩ Tốn xin cho con trai là Trương Hữu Trực làm Hiệu khám, Vua cho rằng Quán các là nơi để đãi ngộ anh tài trong thiên hạ, không thể tư thụ, chỉ cho phép đọc sách ở Quán các, và ban chiếu này.
[46] Ngày Kỷ Hợi, chiếu rằng những người được tiến cử dù văn từ hay, nhưng đạo đức không tu dưỡng, thì châu quận không được tiến cử.
[47] Ngày Tân Sửu, con gái của Trần Vương Nguyên Phần là Hoa Nguyên Huyện chủ vì môn khách Trịnh Gián xin bổ làm Trai lang, không được chấp thuận. Chiếu rằng từ nay, những việc xin ân trạch không có tiền lệ, thì cơ quan Nhập nội nội thị tỉnh đề cử quận huyện chủ các viện công sự không được tâu lên.
[48] Thái thường thừa Tang Tháo được thụ chức Giám sát ngự sử. Tang Tháo có đức hạnh cao, triều đình nghe tin, đặc chỉ ban chức này.
(Việc này căn cứ theo 《Hội Yếu》. Sự tích của Tang Tháo, cần xem xét thêm.)
[49] Tháng 5 nhuận, ngày Mậu Thân, định mức thuế vận chuyển gạo hàng năm của Ty Chế trí phát vận Giang, Hoài là 6 triệu thạch. Trước đây, vào niên hiệu Cảnh Đức, mỗi năm không quá 4,5 triệu thạch, sau đó tăng lên đến 6,5 triệu thạch, vì vậy ở vùng Giang, Hoài, giá gạo thường cao mà dân nghèo. Do đó, Đô quan viên ngoại lang Ngô Diệu Khanh xin lấy số lượng vận chuyển gạo hàng năm trong niên hiệu Hàm Bình và Cảnh Đức làm mức trung bình, nên đã cắt giảm.
Tuy nhiên, khi vùng Đông Nam gặp thiên tai, số lượng gạo vận chuyển hàng năm thường bị giảm, có khi hàng vạn hoặc hàng chục vạn[13], lại còn chuyển sang cung cấp cho các địa phương khác, việc này thường xảy ra.
(Từ việc giảm số lượng do thiên tai trở xuống, lại căn cứ vào bản chí. Ngô Diệu Khanh là đồng đảng của Hồ Tắc, xem truyện Thích Luân, không rõ quê quán.)
[50] Trước đây, Lý Tư và những người khác cải cách pháp chế, khiến các hộ trồng trà phải chịu thuế hàng năm như thương nhân nộp lãi, sau đó không thể trả nổi. Đến lúc này, 9 trường ở Thái Hồ nợ tổng cộng 13 vạn quan tiền lãi, chiếu chỉ miễn toàn bộ.
[51] Ngày Kỷ Dậu, chiếu chỉ rằng từ nay, những người mới được bổ nhiệm làm Trai lang Thái miếu phải đến Tông chính tự để tham gia công việc.
[52] Trước đây, kênh Vĩnh Phong ở châu Giải được đào từ năm Chính Thủy thứ 2 thời Hậu Ngụy, Đô thủy hiệu úy Nguyên Thanh dẫn nước từ Bình Khanh chảy về phía tây vào Hoàng Hà để vận chuyển muối, nhưng đến thời Chu, Tề thì bị bỏ hoang.
Vào niên hiệu Đại Nghiệp thời Tùy, Đô thủy giám Diêu Xiêm đắp đập, nạo vét kênh, từ Thiểm chảy vào huyện Giải, từ cuối thời Đường đến thời Ngũ Đại không được tu sửa. Đến bản triều, kênh bị bồi lấp, thuyền bè không đi lại được, việc vận chuyển muối rất khó khăn, người phụ trách vận chuyển hao tổn gia sản gần hết.
Hiệu úy châu Giải là Ma Xử Hậu đến kinh đô kêu oan, và Hữu ban điện trực Lưu Đạt nhân đó xin tu sửa kênh, từ An Ấp đến Bạch Gia trường, Chuyển vận sứ Vương Bác Văn cũng nói việc này có lợi, lại chiếu chỉ cho Tam ty xem xét lợi hại. Năm đó, kênh được hoàn thành, quả nhiên có lợi cho cả công và tư.
[53] Ngày Nhâm Tý, ghi chép con trai của Tả ban điện trực Vương Quý là Đắc Ca làm Tam ban tá chức, đặt tên là Bỉnh Tiết, vì Vương Quý tử trận khi chiến đấu với giặc Thổ Phồn ở trấn Mộc Ba, châu Hoàn, nên đặc biệt ban ơn này.
[54] Ngày Giáp Tý, Vua ban chiếu cho các quan phụ chính đến dãy nhà phía tây điện Sùng Chính để xem các học sĩ Thị độc như Tống Thụ đọc sách 《Đường thư》. Vua nói: “Trẫm xem sử cũ, thường thấy công thần hiếm ai giữ được trọn vẹn từ đầu đến cuối, như Bùi Tịch, Lưu Văn Tĩnh đều là công thần khai quốc, nhưng cuối cùng không tránh khỏi bị giết hoặc nhục nhã.”
Vương Tăng đáp: “Họa của Bùi Tịch và những người khác là do công thành mà không biết lui.”
Tống Thụ kiêm nhiệm chức Câu đương Tam ban viện, nhân đó xin từ chức kiêm nhiệm để chuyên tâm vào việc giảng dạy.
Hoàng thái hậu ra lệnh chọn những văn tự thời trước có thể giúp ích cho việc hiếu dưỡng và bổ sung chính trị để Vua xem, bèn chép và dâng lên bài phú 《Duy Hoàng Giới Đức》 của Tạ Yển đời Đường, lại chép những lời cốt yếu trong 《Hiếu Kinh》 và 《Luận Ngữ》, cùng hai quyển 《Đế Phạm》 do Đường Thái Tông soạn, ba quyển 《Thánh Điển》 và ba quyển 《Quân Thần Chính Lý Luận》 do các quan triều Minh Hoàng dâng lên.
[55] Ngày Đinh Mão, Cao Kế Thăng, Lạc Uyển phó sứ, Tri châu Thạch Châu, được thăng làm Lễ Tân phó sứ.
Trước đây, Cao Kế Thăng bị người nô tên Cao Ngộ vu cáo rằng đã sai Mã Huấn và người nô Lý Văn đến làng Giao, tộc Thạc Nhĩ, bàn mưu phản loạn với tù trưởng bộ lạc. Việc được giao xuống Ngự sử đài xét hỏi, không có chứng cứ phản loạn, Vua ra chiếu đánh chết Cao Ngộ. Cao Kế Thăng cũng bị liên lụy vì sai người đầu độc giết Lý Văn, nhưng Vua nghĩ cha của Kế Thăng là Cao Văn Tùng từ Hà Tây về quy phụ, và Kế Thăng lại lâu năm ở Thạch Châu, nên đặc biệt khoan dung.
(《Đỗ Diễn truyền》 chép: Kế Thăng bị người nô vu cáo, bắt giam hàng trăm người, lâu không quyết định, Đỗ Diễn xét lại được chứng cứ vu cáo của người nô, cuối cùng kết tội giết hắn. Đỗ Diễn lúc đó là Đề hình lộ Hà Đông, nhưng ở đây nói việc giao xuống Ngự sử đài, nên không phải do Đỗ Diễn xử lý, cần xem xét thêm.)
[56] Ngày Tân Mùi, Lại bộ lang trung, Tri chế cáo, Tri Nhữ Châu Trương Sư Đức được bổ làm Hữu gián nghị đại phu, rồi bị bãi chức. Sư Đức là người hiếu thảo, cẩn thận, có gia pháp, không giao du với quyền quý, nên các tể tướng đương thời không ưa ông. Hơn nữa, ông cũng thường xuyên đau yếu, nên ở chức Tây viện chín năm mà cuối cùng không được vào Hàn lâm viện.
Khi Sư Đức mới thử làm Tri chế cáo, viết văn chậm chạp, đến tối vẫn chưa xong[14], các quan chấp chính sai người bảo ông hãy niêm phong lại, ngày hôm sau viết tiếp. Sau đó, họ tâu lên Vua rằng: “Người này có đức hạnh, nên được dùng làm cố vấn.” Chân Tông liền thăng chức cho ông.
(Giang Hưu Phục nói rằng Vương Tăng lúc đó đang nắm quyền, nhưng điều này là sai. Xét việc Sư Đức được bổ làm Tri chế cáo vào tháng 11 năm Thiên Hi thứ 2, lúc đó Vương Tăng đã bãi chức Tham chính hơn một năm, Hướng Mẫn Trung và Vương Khâm Nhược mới là tể tướng, Trương Tri Bạch và Lý Địch làm Tham chính, người tiến cử Sư Đức có lẽ là Tri Bạch và Địch, chắc chắn không phải Vương Tăng. Nay không rõ tên người tiến cử, nhưng vẫn ghi lại sự việc này để tham khảo.)
[57] Xuống chiếu tăng số lượng tiến sĩ được tuyển ở các châu quân thuộc Tây Xuyên, Quảng Nam Đông Tây lộ. Lại xuống chiếu rằng từ nay các quan viên ứng cử trong kỳ thi toả sảnh không cần phải thi trước về chuyên môn, những người trượt sẽ được miễn trách phạt và được phép thi lại. Những người từng phạm tội tham nhũng, bị cách chức, giáng chức hoặc bị thay thế mà chưa được phục chức thì không được phép ứng cử.
Theo chế độ cũ, những người ứng cử trong kỳ thi tỏa sảnh phải được các quan thuộc quyền thi trước về chuyên môn, sau đó mới được dự thi. Nếu bài thi ở Lễ bộ có sai sót, sẽ bị cách chức, còn những người không đạt yêu cầu thì phải nộp tiền chuộc tội và vĩnh viễn không được thi lại. Đến lúc này, Vua muốn mở rộng con đường tiến thân cho các sĩ tử, nên hạ lệnh cho các quan cận thần bàn bạc và ban chiếu này.
(Việc miễn trách phạt cho những người trượt thi đã được quy định lại trong chiếu tháng 4 năm Cảnh Hựu nguyên niên, nhưng chiếu này chỉ áp dụng cho những người trượt thi và những người không được dự thi.)
[58] Tháng 6, ngày Đinh Sửu, xuống chiếu cho Lại bộ Lưu nội tuyển rằng từ nay những người được tuyển chọn sau tám kỳ khảo hạch sẽ được bổ làm Lệnh, Lục, trước đây cùng với các chức Mạc chức quan sơ đẳng, nay đều được bổ làm chức quan Lưỡng sứ.
[59] Ngày Mậu Dần, ban chiếu cho các quan cận thần tiến cử các viên chức từ chư ty sứ đến cáp môn chi hậu có khả năng đảm nhiệm việc biên cương, cùng các sứ thần tam ban có tài bắt giặc, mỗi người tiến cử một người, đưa tên lên tâu.
[60] Châu Mạc tâu rằng mưa lớn làm hư hại tường thành.
[61] Ngày Tân Tỵ, ban chiếu cho dân chúng ở phủ Hà Trung, châu Thiểm, quân Khánh Thành làm ruộng muối ở An Ấp, ba năm thay một lần, ai muốn làm lâu dài thì cho phép.
[62] Ngày Quý Mùi, ban thưởng khí vật và lụa cho viên tuần kiểm biên giới châu Hoàn, cung phụng quan, cáp môn chi hậu Cao Kế Sùng và những người khác, vì tộc Mã Nhĩ Mặc xâm phạm biên giới, mà Kế Sùng và những người khác đã dẫn quân đánh bắt có công.
[63] Ngày Bính Tuất, ty Đề điểm hình ngục lộ Phúc Kiến tâu rằng, châu Kiến, châu Nam Kiếm, quân Thiệu Vũ bị lụt lớn[15], làm hư hại hơn 7.900 nhà cửa công tư, chết đuối hơn 150 người. Ban chiếu cấp cho các gia đình có người chết đuối mỗi nhà hai hộc gạo, những nhà nghèo không thể thu xếp tang lễ thì quan phủ lo chôn cất.
[64] Ngày Canh Dần, mưa lớn sấm chớp, nước ngập mặt đất vài thước, làm hư hại nhà dân trong kinh thành, chết đuối và bị đè chết mấy trăm người.
[65] Ngày Tân Mão, Vua tránh điện chính, giảm bớt bữa ăn thường ngày.
[66] Ngày Nhâm Thìn, Vua nói với các quan phụ chính: “Mưa dầm gây tai họa, có phải do đức kém của Trẫm không?” Vương Tăng đáp: “Đó là trách nhiệm của bọn thần.” Lui về, các quan đều dâng sớ xin từ chức, nhưng không được chấp thuận.
[67] Ban thưởng tiền cho các quân ở kinh thành, miễn thu tiền nhà công trong ba ngày, sai sứ đi xem xét tình hình ruộng đồng trong kinh kỳ, ban chiếu cho dân bị lụt tạm trú trong các ngõ hẻm, lệnh cho viên đô tuần kiểm trong thành mới và cũ lo liệu chăm sóc.
[68] Ngày Quý Tỵ, lấy Tây thượng cáp môn sứ Tào Nghi, Lạc uyển phó sứ nội thị áp ban Giang Đức Minh làm người phụ trách tu sửa các kho tàng và doanh trại trong kinh thành, nội điện sùng ban Mạch Thủ Trung lo việc thông thoát nước đọng.
[69] Phủ Hà Trung, châu Trịnh tâu rằng bị lụt lớn.
[70] Ngày Giáp Ngọ, ban thưởng tiền cho quân cấm vệ ở sông Biện. Khi nước sông Biện dâng cao một trượng, lập tức lệnh cho quân cấm vệ thuộc điện tiền mã bộ quân dọc bờ sông bố trí các trạm tuần tra để phòng ngừa vỡ đê; sau năm ngày đêm, liền ban thưởng tiền.
[71] Ngày Ất Mùi, chiếu rằng từ nay các quan lại nhân dịp tế Nam Giao hoặc lễ Càn Nguyên tiết mà tiến cử người thân, không được xin học vị tiến sĩ cập đệ hoặc xuất thân.
[72] Ngày Đinh Dậu, ban đức âm: “Giảm tội cho tù nhân trong thiên hạ một bậc, những người bị tội đồ trở xuống được tha. Miễn thuế ruộng cho dân ở kinh thành, Kinh Đông, Kinh Tây, Hoài Nam, Hà Bắc bị ngập nước. Những người phải lưu đày, nơi nào họ đến đều phải an ủi, giúp đỡ.”
[73] Ngày Mậu Tuất, quần thần dâng biểu xin Vua ngự ở chính điện, khôi phục việc ăn uống bình thường, không được chấp thuận. Dâng biểu ba lần, Vua mới đồng ý.
[74] Ngày Canh Tý, phán quan Độ chi là Thái thường bác sĩ Vương Tư và Cung phụng quan Cáp môn chi hậu Trương Kế Ân được cử làm thể lượng an phủ ở Kinh Tây lộ.
Ngày Quý Mão, chiếu cho Vương Tư và Trương Kế Ân xem xét năng lực của quan lại và lợi hại trong dân gian, giảm bớt những việc gây phiền nhiễu cho dân do chuyển vận ty phân bổ. Những khoản nợ mà Tam ty đang xử lý, nếu đã hết thời hạn xét xử mà không thể trả được, hoặc đáng được tha theo lệnh ân xá nhưng cơ quan chưa thi hành ngay, thì phải báo cáo rõ ràng.
[75] Lại chiếu cho Tam ty rằng những tài sản công bị nước cuốn trôi, đều được miễn trừ.
[76] Khi nước dâng, các tể tướng đang vào chầu buổi sáng chưa kịp vào, bỗng có chỉ cho nghỉ chầu. Vương Tăng liền nhờ trung sứ tâu rằng: “Thiên tai dị thường, là do bọn thần điều hành không tốt, sao có thể về nhà riêng, thản nhiên ngồi yên?” Liền xin vào yết kiến, trình bày phương cách phòng ngự. Có người cùng chức đã về trước, nghe Vương Tăng như vậy, đều xấu hổ và kính phục.
Lúc đó lại có tin đồn rằng cửa sông Biện vỡ, nước sắp tràn đến, dân chúng kinh thành sợ hãi, đều muốn chạy về phía đông. Vua hỏi Vương Tăng, Tăng đáp: “Chưa có tấu báo về việc vỡ đê, đây chỉ là lời đồn nhảm làm dân hoảng sợ, không đáng lo.” Quả nhiên sau đó đúng như vậy.
[77] Lúc đầu, ở Hành Khánh quan có lũ lớn, Huyện úy Phạm Thủy là Lưu Văn Uất cùng cha mẹ, vợ con bảy người, và Giám tửu thuế, Tá chức Phùng Ích cùng hai người con trai và con gái đều chết đuối. Triều đình ra chiếu phong Lưu Văn Uất làm Lục sự tham quân châu Hoài, miễn việc để tang, lại ban thưởng mười vạn tiền; Phùng Ích được phong làm Phụng chức, ban thưởng năm vạn tiền. Thôi quan Hà Dương là Lưu Lợi Thiệp cứu được nhiều vật phẩm trong kho, phần lớn đều được giữ lại. Thể lượng an phủ Vương Tư và các quan khác xin khen ngợi tài năng của ông, triều đình ra chiếu thăng Lưu Lợi Thiệp làm quan kinh đô, kiêm quản việc huyện Phạm Thủy.
[78] Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Tỵ, triều đình ra chiếu cho Tam ty rằng những người được tuyển chọn từng mượn tiền lương chưa trả mà đã qua đời, thì được miễn trừ.
[79] Lúc đầu, nước sông Biện dâng cao, mọi người lo lắng cho kinh thành. Theo tấu của Xu mật viện, triều đình ra lệnh cho Bát tác ty đắp đê Trần Lưu và vùng đất Cổ Pha Cương phía tây thành để xả nước vào sông Hộ Long[16]. Khi nước rút, lệnh cho Đề điểm Khai Phong phủ là Trương Quân Bình điều động quân lính sửa chữa lại đê điều. Ngày Bính Ngọ, ban thưởng tiền cho quân lính tham gia công việc.
[80] Ngày Mậu Thân, Vua ngự tại điện Trường Xuân, khôi phục lại việc dùng bữa như thường lệ.
[81] Ngày Ất Mão, khôi phục chức Thái thường bác sĩ, Đồng phán châu Thiệu là Cúc Vịnh làm Giám sát ngự sử, theo lời thỉnh cầu của Trung thừa Vương Trăn.
[82] Ngày Nhâm Tuất, Tri châu Hùng là Trương Chiêu Viễn xin giao cho Chuyển vận ty mỗi năm cử quan kiểm tra số tiền và bạc nhập vào bốn trường mậu dịch. Trung thư nói: “Triều đình trước đây lập trường mậu dịch, cũng là để thông thương Nam Bắc, nhằm vỗ về người phương xa, chứ không phải để tính toán lợi nhuận buôn bán. Nếu mỗi năm đều kiểm tra, e rằng trái với ý nghĩa ban đầu.” Vua nói: “Lời tấu của Chiêu Viễn, quả thực không thể thi hành.”
[83] Bãi bỏ thuế Can Độ ở địa giới huyện Đường Dương, châu Ký.
[84] Ngày Ất Sửu, Hàn Ức, Công bộ lang trung, Đãi chế Long Đồ các, được cử làm sứ sang chúc mừng sinh thần vợ Vua Khiết Đan, Điền Thừa Thuyết, Phó sứ Sùng Nghi làm phó. Chiếu rằng tên của Ức phạm húy triều Bắc, tạm đổi thành Ý. Thừa Thuyết là người thân của Hoàng thái hậu, tầm thường mà tự chuyên, truyền lời giả mạo của Hoàng thái hậu sang Khiết Đan rằng: “Nam Bắc hòa hảo, truyền lại cho con cháu, bề tôi hai triều chớ nghi ngờ ngăn trở.” Ức ban đầu không biết việc này.
Vua Khiết Đan sai bày tiệc riêng, cử đại thần đến làm bạn, rồi hỏi Ức: “Thái hậu đã có chỉ, đại sứ nên biết, sao lại không nói?” Ức đáp: “Bản triều mỗi khi cử sứ, Thái hậu thường ở trước rèm lấy lời này răn dạy, không phải muốn truyền đến triều Bắc.” Vua Khiết Đan nghe xong, rất mừng, giơ tay lên trán nói: “Đây là phúc của sinh linh hai triều.” Liền nhờ Ức mang lời tạ ơn. Bấy giờ mọi người đều khen Ức biết nhân lời lẽ sơ suất của phó sứ mà biến thành ân ý.
(Việc này căn cứ vào bài minh trong mộ chí của Hàn Ức do Tô Thuấn Khâm soạn và Tạp chí của Giang Hưu Phục mà sửa chép lại.)
[85] Đặt chức Huyện thừa ở hai huyện Khai Phong, Tường Phù, mỗi nơi một người, lại lệnh cho Lại bộ bổ nhiệm những người có xuất thân làm Mạc chức, Lệnh, Lục. Bấy giờ các chức Bạ, Úy ở hai huyện Xích thường bị sai đi nơi khác, việc huyện bị bỏ bê.
[86] Bãi bỏ các ty Tân thố ở các châu Vĩnh Hưng quân, Tần, Phường. Trước đây, Ty Chuyển vận Thiểm Tây tâu rằng dân gian mua bã rượu của quan để làm giấm, còn nhiều lợi nhuận bỏ sót, đã lập ty để thu thuế, xin mở rộng cách làm này ra cả nước. Vương Tăng nói: “Thuế rượu là do đời trước bất đắc dĩ mà đặt ra, nay kinh phí đã quá lớn, chưa thể bỏ đi. Nếu lại đánh thuế giấm thì quá lắm.” Vì thế bãi bỏ.
[87] Ban tiền cho binh lính đang sửa chữa thành phường ở các châu quân Hà Bắc.
[88] Ngày Bính Dần, sai Hộ bộ phán quan Độ chi viên ngoại lang Cao Địch, Như Kinh phó sứ Cao Chí Ninh đi Hà Bắc kinh qua các châu quân bị lụt để thăm hỏi và an ủi. Cao Địch là người Kỳ.
[89] Phủ Khai Phong tâu rằng trong thành mới và cũ có tất cả 253 kênh mương dẫn nước đổ vào sông, lo rằng dân cư trong ngõ hẻm vứt tro rác làm hỏng đường thoát nước, xin cho quan lại chịu trách nhiệm tuần tra, kiểm tra những người lơ là. Vua chuẩn tấu.
[90] Ngày Tân Mùi, xuống chiếu giảm một nửa số lượng gấm vóc, lộc thai, thấu bối, y chính mà Lưỡng Xuyên dâng cống hàng năm, còn các loại lụa lớn nhỏ và hoa sa thì đổi thành dệt lụa để cung cấp chi phí biên giới.
Trước đó, có người dâng thư nói về việc này, Vua nói với các quan phụ tá: “Ý Trẫm cũng muốn như vậy, nên làm ngay.” Vương Tăng nói: “Gấm vóc thêu dệt chỉ có hại mà không có lợi. Thần ước tính chi phí một tấm gấm có thể dệt được mấy tấm lụa. Bệ hạ đề cao tiết kiệm, giảm chi phí để ban ơn cho người xa, thần đâu dám không tuân chiếu.”
[91] Quốc Tử Giám thiếu quan dạy học, ngày Nhâm Thân, xuống chiếu cho các lộ chuyển vận ty cử các mạc chức, lệnh lục, kinh triều quan có người thông thạo kinh thuật, giỏi giảng giải, đưa tên lên tâu. Vua thường nói với các quan phụ tá: “Gần đây vì nắng nóng nên tạm ngừng giảng đọc, vừa rồi đã triệu Tôn Thích đến giảng sách, các khanh xong việc có thể tạm đến kinh diên.” Vương Tăng nói: “Bệ hạ trong lúc bận rộn vẫn chú ý đến kinh thuật, dù nắng nóng cũng không ngừng, thật là thánh học cao minh.”
[92] Xuống chiếu từ nay các cung thủ Lưỡng Xuyên không được thuê người thay thế, kẻ nào vi phạm cho phép bắt giữ và tố cáo, xử phạt nặng.
Lúc đó Lữ Di Giản từ Ích Châu an phủ trở về, nói rằng trong xuyên có nhiều người giàu thuê người thay thế, phần lớn là nông dân lười biếng, mỗi khi cầm vũ khí đều không dùng được, nên ra lệnh cấm.
[93] Tháng 8, ngày Mậu Dần, đổi tên cố Tần quốc Thành Thánh Kế Minh phu nhân Lưu thị thành Tần quốc Túc Minh Hiền Thuận phu nhân.
[94] Cựu Lễ bộ thượng thư, tặng Hữu bộc xạ, thụy Khang Ý Nhiệm Trung Chính mất. Trung Chính hiếu thảo với mẹ, lúc đầu bị giáng chức ở Vận Châu, tự nói mẹ già, được về giữ quận cũ. Sau khi mẹ mất, Trung Chính cũng chết ngay, vì quá đau buồn.
[95] Ngày Canh Thìn, miễn thuế trâu bò cho dân bị lụt ở Kinh Tây.
[96] Ngày Tân Tỵ, Phùng Nguyên Cát, nguyên là Quyền quân sự phán quan châu Thạch, được thăng một bậc và ban cho áo mũ ngũ phẩm, vì trước đây ông đã xét án oan, cứu sống hai người.
[97] Trước đó, Vương Duyên, Tường nghị quan của Thẩm hình viện, Thái thường bác sĩ, người quận Quán Đào, dâng sớ nói:
“Thời Hán, Đường mới dựng nước, việc binh đao vừa dứt, chưa rảnh trị ngoại xâm, nên tạm nhún nhường để giảng hòa. Khi thái bình, binh lực dư dả mà ngoại xâm vẫn quấy nhiễu, thì dùng binh để trị. Như Hán Vũ Đế đối với Hung Nô, Đường Thái Tông đối với Đột Quyết Hiệt Lợi là vậy. 《Xuân Thu》 nói: ‘Trong nước là chính, ngoài nước là phụ; trong chư hạ là chính, ngoài tứ di là phụ.’ Rõ ràng bậc vương giả dấy nghiệp, trước phải chỉnh đốn kinh sư, rồi đến chư hạ, chư hạ đã yên thì trị tứ di, từ gần đến xa.
Nhà Tống dựng nước đã bảy mươi năm, bốn bể đều thần phục, có thể nói chư hạ đã yên. Thế mà giặc phương Bắc ngang ngược, nhiều lần cướp phát vùng Thâm, Triệu, Bối, Ngụy. Triều trước lo việc binh đao không dứt, nên tạm nhún nhường mà kết minh. Nhưng chúng coi giáo mác là cày bừa, coi cướp bóc là buôn bán, còn ta thành lũy không vững, binh lính không luyện, chỉ chăm chăm giữ lời minh ước, há phải là kế lâu dài sao?
Người giỏi chống giặc, ắt phải nghĩ đến kế sách chăm lo nông nghiệp và làm giàu biên cương. Hà Bắc là nơi căn bản của thiên hạ, dân cư ở đây tiết kiệm, chịu khó, đất đai trải dài mấy ngàn dặm, xưa nay vốn nổi tiếng trù phú. Nay đất đai ở đây, mười phần thì ba phần đã bị Khiết Đan chiếm giữ, còn lại chỉ bảy phần để thu thuế mà thôi.
Thời Ngụy, Sử Khởi đào mười hai kênh, dẫn nước sông Chương tưới ruộng đất mặn chua, khiến Hà Nội trở nên giàu có. Đến đời Đường, sau niên hiệu Chí Đức, kênh đào bị bỏ phế, vùng đất Tương, Ngụy, Từ, Minh gần sông Chương[17], thường xuyên bị lũ lụt, nay đều thành đất mặn chua không thể canh tác. Vì thế, các quận gần biên giới nhiều lần được miễn thuế, nhưng lại có đất chăn nuôi của các giám mục chiếm mấy trăm ngàn khoảnh ruộng dân. Như vậy, đất đai Hà Bắc tuy còn bảy phần, nhưng thực tế thu được thuế chỉ còn bốn phần mà thôi.
Dùng sức lực của bốn phần ấy để cung cấp cho mười vạn quân phòng thủ mùa thu, dân chúng ắt phải lâm vào cảnh khốn cùng. Hơn nữa, các giám mục nuôi mấy vạn con ngựa, chỉ tốn cỏ nuôi mà chẳng được dùng vào việc gì. Xin chọn những con khỏe mạnh để phối hợp với quân đội, những con già yếu đưa về Hà Nam, những con sinh sản nuôi trong dân gian, bãi bỏ các đồng cỏ chăn nuôi, dùng đất ấy làm đồn điền, huy động lính dịch và tù nhân đến cày cấy, mỗi năm có thể thu được mấy chục vạn hộc lúa.
Nước sông Chương, một thạch nước có mấy đấu bùn, người xưa coi là lợi, nay lại thành hại, là do biết dùng hay không mà thôi. Xin chiêu mộ dân khôi phục mười hai kênh, kênh đào được khôi phục thì nước sẽ phân chia, nước phân chia thì không còn lo lũ lụt, dùng nước ấy tưới ruộng, có thể biến đất mặn chua của mấy quận thành đất màu mỡ. Như vậy, dân sẽ giàu gấp mười lần, kho tàng sẽ dư dật. Dùng cách này để chống giặc, còn gì không thể làm được?”
Chiếu cho Chuyển vận sứ Hà Bắc bàn tính rồi tâu lên. Đồng phán Minh Châu là Vương Chẩn lại cho là không nên.
Nhân lúc được thăng làm Giám sát ngự sử, Vương Duyên lại tâu rằng:
“Ruộng kênh bắt đầu từ thời Chiến Quốc. Thời Ngụy Tương Vương, phía đông có nước Tề, phía tây có nước Tần hùng mạnh, nước Hàn và nước Sở ở phía trước, nước Yến và nước Triệu ở phía sau, chiến tranh liên miên, biên giới ngày càng thu hẹp, nếu không tận dụng lợi thế đất đai thì sẽ bị nước mạnh nuốt chửng. Vì vậy, Sử Khởi bàn rằng: ‘Ngụy chia ruộng, mỗi hộ một trăm mẫu, riêng Nghiệp được hai trăm mẫu, vì đất xấu. Sông Chương chảy bên cạnh, Tây Môn Báo cũng không biết dùng, xin dẫn nước tưới cho Nghiệp, để làm giàu cho Hà Nội của Ngụy.’
Thần xem xét sử sách, chỉ ghi chép về sự phì nhiêu nhờ tưới tiêu, không ghi lại phương pháp đào kênh dẫn nước, chỉ có 《Tương Châu Đồ Kinh》 chép: ‘Đập Thiên Tỉnh do Ngụy Vũ Đế xây dựng, dài hai mươi dặm, chia làm mười hai đập[18], mỗi đập cách nhau ba trăm bước, khiến nước chảy vào nhau.’ Vì thế, Tả Tư Xung trong 《Ngụy Đô Phú》 viết: ‘Mười hai đập chảy, cùng nguồn khác cửa[19].’ Xét kỹ điều này, thì sông Chương xưa cạn, không ngang mặt đất, phải đào kênh gần bờ, xây đập bên kênh, nước chảy vào kênh, kênh tưới ruộng. Lúc đầu đào kênh, phải chọn nơi cao, kênh chảy vài dặm mới đến ruộng bằng, nếu nước ngang mặt đất, ruộng và bờ liền nhau, đào kênh rất dễ, tưới ruộng không khó, thì đã khai phá từ lâu, đâu cần đợi lời thần rồi mới tính toán?
Thần nghe nói nước Hàn muốn làm nước Tần mệt mỏi, không cho họ đánh phía đông, bèn sai Trịnh Quốc thuyết phục Tần đào kênh dẫn nước sông Kinh, dọc theo núi Bắc chảy về phía đông đổ vào sông Lạc dài ba trăm dặm, muốn dùng để tưới ruộng. Khi đang làm thì bị phát giác, Trịnh Quốc bèn nói: ‘Vì Hàn kéo dài mạng sống vài năm, vì Tần xây dựng công lao vạn đời.’ Tần cho là phải, cuối cùng sai người đào kênh. Lấy sức mạnh của nước Tần mà đào một con kênh, lại nói là ‘muốn làm họ mệt mỏi’. Trịnh Quốc lại nói ‘vì Hàn kéo dài mạng sống vài năm’. Như vậy là huy động toàn bộ người nước Tần, bắt họ làm việc vài năm rồi mới xong, so sánh việc này với việc kia, thì việc Sử Khởi dẫn nước sông Chương, há phải là công việc một sớm một chiều sao? Ắt hẳn phải bắt vạn người làm việc mỗi năm, vài năm sau mới thu được lợi.
Lại nữa, Trịnh Quốc đào kênh, dọc theo núi Bắc chảy về phía đông đổ vào sông Lạc dài ba trăm dặm, như vậy là chọn đất cao ngất để làm kênh, không tiếp giáp với ruộng bằng phẳng là rõ ràng, nếu không như vậy, thì lợi ích tưới tiêu há có thể xa đến ba trăm dặm sao?
Thần xét kỹ việc Vương Chẩn đo đạc kênh nước sông Chương[20], đại khái nói rằng nước thấp bờ cao, kênh đã bị bồi lấp. Chẩn nói rằng công trình lớn thì cũng đúng, nhưng nếu nói rằng nước đục không thể dùng để tưới tiêu, và đập đắp gặp lũ lớn ắt sẽ hư hỏng, thì đó là do Chẩn không biết phương pháp tưới tiêu và cách đắp đập. Thần xét rằng việc dẫn nước sông Kinh của kênh Trịnh và Bạch, thuộc các huyện Vân Dương, Tam Nguyên, Phú Bình của châu Diệu và các huyện Kinh Dương, Cao Lăng, Dược Dương của phủ Kinh Triệu, dọc theo kênh đều xây các cửa đập, nhiều nơi đặt hơn bốn mươi chỗ, để phân chia dòng nước, phía dưới lại đào các kênh nhỏ, nhờ vậy nước được phân chia, dân không lo ngập lụt.
Hơn nữa, nước sông Kinh một thạch chứa mấy đấu bùn, nên có thể dùng để tưới bón lúa mạ[21], nay nói nước đục không thể tưới, há chẳng phải Chẩn không biết mà tự cho là biết sao?
Lại nữa, cách đắp đập đều dùng đá lớn vuông bốn, năm thước, buộc bằng sắt, chất giữa dòng, chia làm hai nhánh, nhánh chảy về nam là sông Kinh, nhánh chảy về đông là hai kênh, nên dù sóng lớn cũng không thể phá hỏng. Nếu không làm như vậy, thì hàng năm phải sửa chữa, há có lợi gì?
Vì thế, bờ sông Chương nếu khôi phục ruộng kênh, xin tham khảo ở Vân Dương, chọn mười mấy thợ thủy lợi, học theo cách đắp đập và đào kênh của người xưa, cùng xem cách đặt cửa đập tưới tiêu của người nay. Hoặc những dân Vân Dương phạm tội bị lưu đày, nên cho di chuyển đến châu Tương, dạy dân cách trồng trọt trên nước và đất, thì kế hoạch dễ thành. Đến như vùng biên giới phía bắc vốn không có ruộng nước, sau khi di chuyển tội nhân Giang Nam đến, họ truyền dạy lẫn nhau, đều biết cách làm thủy lợi. Thần từng kiến nghị mời thợ thủy lợi đến kênh Trịnh và Bạch xem cách dẫn nước, cũng lo dân châu Từ, châu Tương không biết cách đào kênh.
Vương Chẩn lại nói: ‘Nếu không khơi lại kênh cũ mà chặn sông làm đập, sẽ phải huy động hơn bảy mươi lăm vạn nhân công. Nếu theo cửa kênh đào sâu một trượng bốn thước, sẽ phải huy động hơn mười ba vạn nhân công.’ Theo tính toán của thần, nếu kênh đào rộng hai trượng bốn thước, thì công làm đập có thể giảm một nửa, tổng cộng cần huy động năm mươi vạn nhân công, mỗi ngày huy động một vạn người, năm mươi ngày thì xong. Theo phương pháp của kênh Trịnh và kênh Bạch, lấy đá từ núi Tùng, lấy gỗ từ Bàn Dương, cung cấp sắt từ Lê Thành, chặn giữa dòng, dựa vào bờ dài, dùng gỗ đá vững chắc để làm đập, phía trên là kênh lớn, dẫn nước theo các nhánh khác, dọc kênh vài dặm, bố trí các cửa đập, nước dư chảy về phía đông vào sông Ngự, nếu gặp lúc nước dâng tràn, thì dùng cọc chặn cửa kênh.
Các châu Từ, Ngụy, Hình, Minh vốn ở hạ lưu, đê bờ lại thấp, nếu sóng dư có thể đến, có thể đào thêm kênh khác, đó chính là câu ‘Trịnh Quốc ở trước, kênh Bạch ở sau’, lại nói ‘Đầu bắt đầu từ Cốc Khẩu, cuối chảy vào Dược Dương’. Như vậy, khôi phục lại công trình đã bỏ hoang ba trăm năm, tưới được mấy vạn khoảnh ruộng, dù huy động một vạn người, mấy năm thì xong, cũng không đáng kể là vất vả.
Vả lại, Vương Chẩn nói khơi kênh cũ sẽ đào xuyên qua ruộng dân, huống chi các kênh Vạn Kim, Đô Lĩnh Thủ, tìm không thấy dấu vết. Phàm là kênh rạch, há có thể không chiếm ruộng dân sao? Dù Sử Khởi sống lại, cũng không biết kế sách này sẽ thực hiện thế nào? Các kênh Vạn Kim vốn cũng nằm trong ruộng, chỉ vì lâu ngày bị vùi lấp mà thôi.
Chẩn lại nói: ‘Dân ở kênh Cao Bình có đơn kiện nói rằng sổ thuế đã nặng, dù có được nước tưới tiêu, lợi ích vẫn không đủ.’ Việc đắp đập của thần vốn là muốn làm lợi cho dân, nhưng Chẩn lại không nghĩ đến, trước hết bàn việc tăng thuế, khiến dân lo lắng nghi ngờ, không muốn tưới tiêu, như thế há phải là ý lo cho dân?
Lại có người cho rằng sau khi đập xong, nước sông An Dương giảm, không thể chở thuyền, lo mất thuế chợ búa. Chỉ một dòng kênh, cũng chỉ làm giảm nước sông vài phần, sao lại nói thuyền không qua được? Nếu có lợi cho dân, dù bỏ thuế cũng là việc nhỏ. Chẩn không tìm hiểu lợi hại xưa nay, chỉ nghe lời của dân quê và lính thường, để bàn về việc khôi phục con kênh đã bỏ hoang ba trăm năm, sao có thể hiểu hết được?
Xưa Tây Môn Báo là bề tôi hiền, Sử Khởi còn cho là không biết dùng, đó là không sáng suốt. Huống chi dân quê và lính thường sao hiểu được việc này? Sách truyền nói: ‘Dân có thể cùng hưởng thành quả, nhưng không thể bàn việc khởi đầu.’ Nếu theo lời bàn của thần, khôi phục việc nông, thì việc đào sông ngòi của Vua Vũ, việc phân chia ruộng đất của nhà Chu cũng không hơn được.”
Chiếu đợi khi xong việc đại hà sẽ xem xét công việc, nhưng việc cuối cùng vẫn bị bỏ dở.
[98] Ngày Bính Tuất, xuống chiếu giảm số người phải đi phục dịch ở quân Quảng Tế. Trước đó, Tri quân Phạm Phúng nói: “Đất đai của quân này chỉ rộng bốn mươi dặm, cách Châu Tào rất gần, nhưng số hộ khẩu không bằng một huyện, mà việc sai dịch lại ngang với các châu khác. Xin trả về thuộc Châu Tào, hoặc cắt ba đến năm nghìn hộ ở các huyện gần Châu Tào, Bộc, Đơn để thuộc về quân này.” Xuống cho Ty Chuyển vận xem xét, nói rằng quân không thể bỏ, nên giảm bớt các việc sai dịch.
[99] Ngày Đinh Hợi, Vua xuống chiếu tu sửa đê ngăn biển ở Thái Châu. Trước đó, đê đã bị bỏ hoang lâu ngày không được tu sửa, hàng năm thường bị nước biển tràn vào làm hại ruộng dân. Giám sát thuế muối Tây Khê là Phạm Trọng Yêm đã trình bày với Phó sứ Phát vận là Trương Luân, xin tu sửa lại đê. Trương Luân tâu xin cho Phạm Trọng Yêm làm Tri huyện Hưng Hóa, đứng ra chỉ huy việc tu sửa.
Có người phản đối, cho rằng nếu ngăn được nước biển thì nước lũ sẽ gây tai họa. Trương Luân nói: “Nước biển gây hại mười phần thì nước lũ chỉ gây hại một phần[22], được nhiều mất ít, há chẳng phải là việc nên làm sao?”
Khi công trình bắt đầu, gặp trời mưa to tuyết lớn, sóng biển dữ dội ập đến, dân phu tan chạy, có hơn trăm người bị lún bùn mà chết. Mọi người xôn xao bàn tán rằng không thể tu sửa đê được nữa.
Vua sai Trung sứ đến xem xét, định bãi bỏ công trình. Lại xuống chiếu cho Chuyển vận sứ Hoài Nam là Hồ Lệnh Nghi cùng Phạm Trọng Yêm xem xét việc này có thể thực hiện được không. Hồ Lệnh Nghi hết sức ủng hộ ý kiến của Phạm Trọng Yêm. Sau đó, Phạm Trọng Yêm vì có tang nên phải rời nhiệm sở, nhưng vẫn viết thư gửi Trương Luân, nói rõ lợi ích của việc tu sửa đê. Trương Luân dâng biểu ba lần, xin tự mình đứng ra chỉ huy công trình. Vua bèn sai Trương Luân kiêm quyền Tri châu Thái Châu, xây đê từ trại Tiểu Hải phía đông nam đến trang Cảnh, dài tất cả 180 dặm, và đặt cống ở kênh đào để lấy nước triều thông thuyền bè.
Hơn một năm sau, đê hoàn thành, có 2.600 hộ dân lưu tán trở về. Dân chúng lập đền thờ sống Trương Luân[23]. Hồ Lệnh Nghi và Trương Luân đều được thăng chức. Hồ Lệnh Nghi là người Trần Lưu; Phạm Trọng Yêm là người Ngô.
(Việc Trương Luân kiêm quyền Tri châu Thái Châu là vào ngày Tân Mão tháng 6 năm thứ 5[24], việc Trương Luân và Hồ Lệnh Nghi được thăng chức là vào ngày Giáp Ngọ tháng 7 năm thứ 6[25], nay ghi chép lại cùng nhau, nhưng vẫn tách riêng ra.)
[100] Ngày Mậu Tý, sai quan khảo thí các cử nhân của Khai Phong phủ và Quốc Tử Giám. Tể thần Vương Tăng nhân đó tâu rằng: “Từ đời Đường đến nay, tuyển chọn các bậc nho thần, trao quyền văn bút, việc thăng giáng đều giao cho các cơ quan phụ trách. Nếu việc thăng giáng không hợp với công luận, thì lại tổ chức khảo thí lại và nghiêm khắc trách phạt.
Gần đây, các điều lệ ngày càng chi tiết, phòng ngừa cẩn thận, điều đó tuy tốt, nhưng về nguyên tắc tin tưởng giao phó và chọn người hiền tài, e rằng chưa thật sự thoả đáng. Nay những người bàn việc thường nói ‘Đây đều là quy chế cũ của triều trước, không thể dễ dàng thay đổi’. Nhưng họ không biết rằng Tiên đế chăm chỉ tuyển chọn nhân tài, cốt sao công bằng, ý nguyện của Tiên đế vốn không phải như vậy. Chỉ vì bấy giờ các quan cận thần không hiểu thấu ý sâu xa, không biết đại thể, nên mới có những quy định này.
Kính mong Thánh thượng từ từ xem xét sự việc, sau này sẽ định lại cho chi tiết[26].” Vua nghe theo.
[101] Xuống chiếu rằng: “Việc áp tải quần áo ban tặng cho các châu quân ngoại vi, trước đây đều sai các quan kỹ thuật đảm nhiệm. Gần đây, các tông thất và thân thích thường nhờ người thân xin việc, thậm chí có cả các chức sứ phó và quan triều đình làm việc này, gây phiền nhiễu cho châu huyện. Từ nay, bãi bỏ hết các việc này.”
[102] Ngày Kỷ Sửu, xuống chiếu: “Các man ở An Viễn, Thiên Tứ, Bảo Thuận châu, Nam châu, Thuận châu thuộc khu vực Khê Động của Thi châu vào cống nạp kinh đô, đường xá xa xôi. Từ nay, cho phép họ để lại các vật phẩm cống nạp tại Thi châu, còn các vật phẩm ban tặng thì cấp ngay tại đó. Nếu họ muốn tự vào kinh đô cống nạp, thì cứ mười người cho phép hai ba người đến kinh đô, còn thủ lĩnh thì cho phép ba năm đến một lần.” Đây là theo đề nghị của Chuyển vận sứ Bắc Hải Vương Lập.
(《Ký văn》 cho rằng việc này là theo đề nghị của Vương Lập, nhưng căn cứ vào 《Hội yếu》 thì đây là do Viện Mật quyết định, nay tham khảo cả hai.)
[103] Ngày Ất Mùi, lấy Hữu Gián nghị đại phu, quyền Tam ty sứ Phạm Ung làm sứ sang chúc mừng sinh thần của Khiết Đan, Đông Nhiễm viện sứ, Đái ngự khí giới Hầu Kế Long làm phó sứ; Khởi cư lang, Tri chế cáo Từ Thích làm sứ sang chúc mừng năm mới, Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Bùi Kế Kỷ làm phó sứ; Hoài Nam Giang Chiết Kinh Hồ chế trí phát vận sứ, Hình bộ lang trung Trương Nhược Cốc làm sứ sang chúc mừng năm mới của vợ Khiết Đan, Hữu thị cấm, Cáp môn chi hậu Thôi Chuẩn làm phó sứ.
[104] Ngày Kỷ Hợi, ra chiếu cho các quan ở biên giới không được nhận dân hàng.
[105] Tháng 9, ngày Giáp Thìn, mùng một, ra chiếu từ nay những quân nhân bị phối lưu, vợ con họ đều được cấp lương thực hàng ngày cho đến nơi lưu đày.
[106] Ngày Ất Tỵ, lấy Thiểm Tây chuyển vận sứ, Đãi ngự sử Vương Bác Văn làm Binh bộ viên ngoại lang, Hộ bộ phó sứ. Lúc đó Tam ty thiếu quan, Trung thư bàn việc bổ nhiệm người, Vua nói: “Trước đây bộ lạc phương Bắc quấy nhiễu biên giới phía Tây, Bác Văn có công cung cấp quân lương, người này có thể dùng được.” Bèn cho ngựa trạm triệu Bác Văn về, thăng chức và nhận nhiệm vụ.
[107] Ngày Mậu Thân, Tam ty xin mua thóc và cỏ khô, Vua nhân đó hỏi các quan phụ chính: “Các phường, giám nuôi ngựa có bao nhiêu?” Vương Tăng trả lời: “Hiện nay so với thời Ngũ Đại, số ngựa nhiều gấp mấy lần, tính chi phí cỏ khô mỗi năm không dưới vài trăm vạn, đó là do cách sắp xếp lợi hại không đúng chỗ. Nếu lấy số ngựa của bộ lạc Thiểm Tây nhập vào làm định số, còn lại cho dân gian mua bán, trong hai ba năm ắt sẽ sinh sôi, điều này chẳng khác gì nuôi ở chuồng ngoài.”
(Lý thuyết về “chuồng ngoài”, trước đây đã có, không ngại nhắc lại:
Theo chế độ cũ của tổ tiên, Ty Quần Mục quản lý việc chăn nuôi ngựa trong thiên hạ. Dưới quyền có Viện Tả Hữu Kỳ Kỵ, phụ trách Giám Tả Hữu Thiên Tứ và Phường Tả Hữu Thiên Cứu. Những ngựa bệnh được nuôi dưỡng tại Giám Thượng và Giám Hạ. Quản lý việc chăn nuôi có các chức vụ như Đề Cử, Chỉ Huy Sứ, Phó Sứ, Viên Liêu, Thập Tướng, Tiết Cấp, Thú Y, Tào Đầu, Loát Bào, Trưởng Hành, và Tiểu Để phụ trách điều động ngựa tốt. Các giám ở ngoài do Tri Châu và Thông Phán kiêm nhiệm, dựa vào đất cỏ dựng chuồng, bắt quân lính mùa xuân hè ra đồng chăn thả, mùa thu đông vào chuồng. Sinh sản nhiều được thưởng, hao hụt bị phạt, quy định rất đầy đủ.
Tuy nhiên, số ngựa sinh sản không đủ dùng cho quốc gia, thường phải mua ở các châu biên giới. Trong các năm Ung Hy và Đoan Củng, việc mua bán ngựa diễn ra dọc biên giới: Ở Hà Đông là các châu Lân, Phủ, Phong, Lam, quân Hỏa Sơn[27], trấn Đường Long, trại Trọc Luân; ở Thiểm Tây là các châu Tần, Vị, Kinh, Nguyên, Nghi, Diên, Hoàn, Khánh, Giai, quân Trấn Nhung, Bảo An, cửa Chế Thắng, phủ Hạo Vĩ; ở Hà Tây là các châu Linh, Tuy, Ngân, Hạ; ở Xuyên Hạp là các châu Ích, Văn, Lê, Nhã, Nhung, Mậu, Quỳ, quân Vĩnh Khang; ở Kinh Đông là châu Đăng.
Từ khi Triệu Đức Minh chiếm cứ Hà Nam, việc mua bán chỉ còn ở các châu Lân, Phủ, Kinh, Nguyên, Nghi, Vị, Tần, Giai, Hoàn, quân Khả Lam, Hỏa Sơn, Bảo An, Bảo Đức. Sau đó chỉ còn đặt trường mua bán ở các châu Hoàn, Khánh, Diên, Vị, Nguyên, Tần, Giai, Văn và quân Trấn Nhung. Vào niên hiệu Thiên Thánh, vẫn mua được ngựa từ các bộ tộc phương Bắc, tổng cộng hơn 34.900 con. Điều này được ghi chép trong bản chí, cần xem xét chỉnh sửa thêm.)
[108] Ngày Ất Mão, ban chiếu rằng: “Việc giảng học đã bỏ lâu, sĩ tử không biết kinh điển, há phải do triều đình giáo hóa không đến nơi? Hãy lệnh cho Tôn Thích và Phùng Nguyên tiến cử ba đến năm quan lại kinh triều thông hiểu kinh thuật để tâu lên.”
[109] Vua Long Quang Thù của Tây Nam Phiền sai sứ đến cống nạp sản vật địa phương.
[110] Ngày Bính Thìn, xuống chiếu rằng các chức quan thân tòng của Hoàng thành ty nếu có khuyết, từ nay chọn bổ sung từ quân bộ dưới cấp Thần Dũng.
[111] Ngày Canh Thân, xuống chiếu rằng các cử nhân ở Lễ bộ Cống viện nếu có người thông hiểu ba kinh, thì cho thử giảng giải, đặc biệt báo danh lên, sẽ bàn việc tuyển chọn.
[112] Ngày Ất Sửu, Giám sát ngự sử Tào Tu Cổ tâu: “Bảy mươi tuổi về hưu, đã ghi trong kinh Lễ. Từ thời cận đại trở lại đây, nhiều người tham vinh không chịu rời chức, nên vào niên hiệu Trinh Quán đã từng ban chiếu trách cứ, lại quy định quan về hưu được xếp trên quan đương chức cùng phẩm, là muốn họ biết xấu hổ mà tự rút lui. Gần đây có người gần tám mươi tuổi vẫn còn tại chức, tâm lực đã suy yếu, làm sao giúp ích được việc quan. Chuông kêu canh tàn, chưa tỉnh ngộ việc đi đêm là sai; đường cùng lúc xế chiều, chỉ lo tính toán việc sau khi chết. Xin hạ lệnh cho Ngự sử đài và các lộ Chuyển vận ty [28] khuyên bảo các quan văn võ, ai bảy mươi tuổi thì cho dâng biểu tự xin, đặc cách thăng chức rồi về hưu, vẫn theo chế độ cũ thời Trinh Quán. Còn những bậc đức cao vọng trọng, thì vẫn theo lệ cũ.” Vua nghe theo, bèn định thành lệnh.
Tu Cổ từng cùng mười hai vị ngự sử của ba viện vào chầu buổi sáng, sắp đến triều đường, gặp hai hoạn quan cưỡi ngựa không tránh, người quát ngăn lại bị họ mắng. Tu Cổ tâu: “Đời trước nói Ngự sử đài được tôn thì thiên tử được tôn. Theo lệ cũ, ba viện cùng đi thì ngang hàng với chức Tri tạp sự. Nay hoạn quan khinh nhờn như vậy, xin giao cho cơ quan xét xử.” Vua lập tức sai đánh hai hoạn quan.
(Việc đánh hoạn quan ghi chép ở đây, sợ có thời gian khác.)
[113] Ngày Canh Ngọ, xuống chiếu rằng những người bỏ trốn hơn mười năm nay trở về làm ăn, chưa được đánh thuế, đợi thêm ba năm nữa, giảm thuế một phần mười lăm.
[114] Ngày Tân Mùi, bãi bỏ việc quản lý ruộng đất doanh điền ở hai châu Tương và Đường, giao ruộng đất cho dân, mỗi khoảnh nộp thuế năm phần, các châu sai người và trâu bò đi cày cấy đều được thả về.
Trước đây, châu Tương có 408 khoảnh 80 mẫu ruộng hoang, châu Đường có 170 khoảnh.
Từ năm Hàm Bình thứ 2, Chuyển vận sứ Cảnh Vọng tâu xin lập doanh điền vụ, hàng năm mượn người và trâu bò của các huyện thuộc quyền để cày cấy, mùa hè mượn thêm 600 người làm cỏ, mùa thu mượn thêm 1.500 người gặt hái, thu nhập hàng năm rất lớn.
Sau đó, Chuyển vận sứ Trương Tuyển đổi cách làm, triệu tập 41 hộ dân ven sông đến chia nhau cày cấy, nhưng chẳng bao lâu họ đều kêu xin miễn, doanh điền vụ bị bãi bỏ.
Năm Cảnh Đức thứ 2, Chuyển vận sứ Hứa Thích lại tâu xin khôi phục, hàng năm phải điều động binh lính và dân phu. Đến lúc này, Chuyển vận sứ tâu rằng việc này không tiện, Vua xuống chiếu sai Đồn điền viên ngoại lang Lưu Hán Kiệt cùng Chuyển vận sứ bàn định lợi hại. Lưu Hán Kiệt tâu: “Hai doanh điền vụ từ khi khôi phục đến nay, châu Tương thu được hơn 33 vạn thạch lúa, trị giá hơn 9 vạn quan tiền; châu Đường thu được hơn 6 vạn thạch lúa, trị giá hơn 2 vạn quan tiền. Nhưng chi phí lương bổng cho quan lại, binh lính, trâu bò và các khoản khác, châu Tương tốn hơn 13 vạn quan, châu Đường tốn hơn 4 vạn quan, thu không đủ bù chi.” Vì vậy bãi bỏ.
(Chuyển vận sứ lúc này có lẽ là Dư Hiến Khanh. Việc của Cảnh Vọng xem tháng 4 năm Hàm Bình thứ 2, có khác với chuyện này. Âu Dương Tu viết hành trạng cho Hứa Thích cũng không chép việc khôi phục doanh điền vụ, cần xét lại.)
[115] Ngày Nhâm Thân, sai Hàn lâm học sĩ Hạ Tủng, Thái Tề, Tri chế cáo Trình Lâm cùng những người khác xem xét lại và biên soạn các sắc lệnh. Khi ấy, các cơ quan hữu trách tâu rằng từ năm Đại Trung Tường Phù thứ 7 đến nay, các sắc lệnh đã tăng thêm đến 6.783 điều, xin được xem xét lại.
Hoàng đế hỏi các quan phụ tá: “Có người nói chiếu lệnh của triều đại trước không thể dễ dàng thay đổi, điều đó có đúng không?” Vương Tăng đáp: “Đó là lời của kẻ tiểu nhân làm mê hoặc bề trên. Trong niên hiệu Hàm Bình, các chiếu lệnh của Thái Tông đã được xem xét lại, chỉ giữ lại một hai phần mười. Việc bỏ bớt những điều rườm rà để thuận tiện cho dân, sao lại không thể? Nay các cơ quan chỉ cần trình bày rõ ràng đầu đuôi, lại cần chúng thần xem xét kỹ lợi hại, từng điều một tâu lên, rồi mới thi hành.” Hoàng đế đồng ý.
[116] Chiếu cho các châu quân ở Kinh Đông, Kinh Tây, Hoài Nam, Lưỡng Chiết, Phúc Kiến[29], nơi nào mưa lớn làm hư hại nhà cửa và ruộng đất của dân, thì phải lo cứu giúp.
[117] Mùa đông, tháng 10, ngày Giáp Tuất, mùng 1, có nhật thực.
(Điều này căn cứ theo bản kỷ, còn trong thực lục thì không có.)
[118] Thành Quảng Tín quân bị hư hỏng, vì gần với Khiết Đan nên không dám sửa chữa. Tri quân Bác Châu Đoàn luyện sứ Vương Đức Dụng dẫn quân cấm vệ đến sửa chữa gấp. Chiếu ban tiền cho quân sĩ, và khi thành xong, lại ban chiếu khen ngợi.
[119] Ngày Bính Tý, ban tiền cho quân sĩ ở Trấn Nhung quân sửa chữa trại Thiên Thánh.
[120] Ngày Canh Thìn, Minh Châu tâu rằng Thái Tể phủ nước Nhật Bản cử người đến cống nạp sản vật, nhưng không mang theo biểu chương của nước họ. Chiếu bảo từ chối.
[121] Ngày Tân Tỵ, xuất 20 vạn quan tiền từ kho Nội tàng để mua lương thực dự trữ cho quân đội ở Kinh Tây lộ.
[122] Ngày Ất Dậu, chiếu cho các tiến sĩ và các khoa đã từng dự thi dưới triều trước mà nay không được tiến cử, được phép dự thi ở tỉnh.
[123] Tào Nghi, Giang Đức Minh cùng những người khác sửa chữa nhà ở cho các quân, tổng cộng 139.000 gian. Ngày Tân Mão, chiếu ban áo và đai vàng.
[124] Ty chuyển vận Hoài Nam tâu rằng đê Bắc Thần ở châu Sở và đê Giang Khẩu ở châu Chân đã hoàn thành việc sửa chữa cống nước. Ban đầu, thuyền bè qua lại đê thường bị hư hỏng nhiều, Giám bài ngạn châu Chân là Đào Giám và Giám thuế châu Sở là Vương Ất đều xin đặt cống nước bên cạnh đê, để mở đóng theo thời gian.
Sau khi hoàn thành, thuyền chở lương quả nhiên thuận tiện, mỗi năm tiết kiệm hơn mười vạn quân lính canh đê. Bèn hạ chiếu cho Ty phát vận, những nơi khác có thể làm cống, lệnh quy hoạch rồi tâu lên. Giám và Ất đều được thăng chức tốt.
(Đào Giám là người Tầm Dương, cháu ông là Khải từng làm Phó sứ chuyển vận lộ Thành Đô phủ, có văn tự ghi chép việc này rất chi tiết, nên tìm hiểu thêm.
Ất là người Nguyên Thành, Vương An Thạch viết văn bia mộ ông rằng: Ất nói châu Sở có thể bỏ đê làm cống, mỗi năm tiết kiệm hai mươi mốt vạn bảy nghìn quân lính, một trăm ba mươi vạn tiền công, sáu vạn tám nghìn thạch gạo. So với Thực lục có chỗ khác nhau, nên khảo cứu thêm.)
[125] Ngày Nhâm Thìn, hạ chiếu rằng từ nay những người từ chức Lang trung trở lên về hưu, sẽ được cho một con làm quan. Lúc đó, Đô quan Lang trung Hùng Đồng Văn xin về hưu, tự nói không muốn chia ty, giám đương, chỉ xin cho hai con được xuất thân từ khoa cuối. Đã cho Đồng Văn giữ chức cũ về hưu, lại đặc bổ một con làm Thái miếu Trai lang, nhân đó lập thành lệ.
(Việc của Hùng Đồng Văn, theo Hội yếu, không rõ là người nào.)
[126] Ngày Giáp Ngọ, sương mù dày đặc khắp nơi.
[127] Ngày Ất Mùi, hạ chiếu rằng các chức Sai sứ Điện thị thuộc Tam ban, Tán trực thuộc các ban, và Điện trực thuộc Ngoại ban, xếp dưới các quan có mệnh, trên các chức Nhiếp Trưởng sử, Tư mã.
[128] Ngày Bính Thân, đưa tượng Vua Chân Tông về thờ tại cung Hồng Khánh ở Nam Kinh.
[129] Các huyện thuộc châu Thọ nhiều trộm cướp, đến mức ban ngày công khai cướp bóc dân chúng trong chợ. Vua nghe tin, nói với các quan phụ chính: “Không lập tức bắt giữ, đó là trách nhiệm của quan địa phương.” Hạ chiếu bắt Tri châu, Tư phong Viên ngoại lang Mạnh Mục, cách chức. Bàn chọn người thay Mục.
Có người nói Tri châu Sở, Độ chi Viên ngoại lang Mai Tuần có tài làm quan, từng bị cách chức, nay có thể dùng. Bèn điều Tuần làm Tri châu Thọ, thăng chức Binh bộ Viên ngoại lang, lại ban chiếu chỉ, dạy bảo ý chuyên tâm công việc, rửa sạch lỗi lầm.
[130] Ban tiền đặc chi cho các quân ở kinh thành.
[131] Ngày Kỷ Hợi, Phó sứ Hộ bộ Vương Bác Văn tâu: “Các bộ tộc biên giới Thiểm Tây bắt được quân đào ngũ, phần nhiều do họ đi kiếm củi hoặc thám thính xa mà bị bộ tộc bắt giữ, cũng có người trốn thoát về được nhưng lại bị bắt đi. Các cơ quan đều xử theo pháp luật, nhưng tình cảnh thực đáng thương. Từ nay xin xử phạt đi đày đến các châu xa xôi hiểm ác.” Chiếu chỉ phạt đi đày đến lao thành các châu ngoài, trường hợp nhẹ thì tâu lên xin xét xử.
(Tháng 12 ngày Giáp Tuất, Vương Tùy ban lệnh, nội dung tương tự, cần xem xét. Việc của Bác Văn còn ghi vào ngày Giáp Tuất tháng 7 năm Minh Đạo thứ nhất.)
[132] Tháng 11 ngày Giáp Thìn, chiếu rằng các biên sắc đang thi hành và các tuyên sắc tiếp theo, nếu có điều bất tiện thì cho phép trong ngoài tâu lên lợi hại.
[133] Chiếu rằng những người đỗ cử nhân năm Thiên Hy được bổ làm Tam ban sứ thần, cho phép đổi sang văn chức.
[134] Ngày Tân Hợi, Quốc Tử Giám khắc in và ban hành luật văn cùng phần chú giải.
[135] Ngày Giáp Dần, chiếu rằng: “Dân cường tráng Hà Bắc, từ năm Hàm Bình được chiêu mộ làm lính, nghe nói đã già yếu nhưng vẫn phục vụ trong quân ngũ. Từ nay cho phép con cháu thay thế, nhưng không được quấy nhiễu.”
[136] Trước đó, Tôn Thích và Phùng Nguyên cùng tiến cử Đại Lý tự thừa Dương An Quốc làm Quốc Tử Giám trực giảng, đồng thời triệu cha của An Quốc là Phụng lễ lang, giảng thư châu học Duyện Châu là Quang Phụ vào yết kiến. Vua bảo giảng sách Thượng Thư, Quang Phụ nói: “Việc của Nghiêu, Thuấn xa xôi khó thực hiện, thần xin giảng chương Vô Dật.” Lúc đó ông đã hơn 70 tuổi nhưng lời giảng rõ ràng thông suốt. Vua muốn giữ lại làm quan học, nhưng Quang Phụ cố từ chối.
Ngày Ất Mão, phong Quang Phụ làm Quốc Tử Giám thừa, rồi cho về.
[137] Ngày Mậu Ngọ, thăng chỉ huy Phiên Lạc lộ Kinh Nguyên làm cấm quân, đứng trên Hoành Tắc.
[138] Chiếu rằng các thần liêu tâu xin ân trạch cho con em theo hầu, giảm một bậc so với lệ cũ.
[139] Ngày Kỷ Mùi, chiếu cho Bộ thự ty Phu Diên lộ rằng gần đây tâu việc biên giới nhiều điều không đúng sự thật, hãy răn dạy các bộ tộc xa xôi, không được khinh suất xuất quân.
[140] Ngày Canh Thân, chiếu rằng những người được ấm bổ làm quan kinh triều giám đương 6 năm mà không đạt kết quả, phải giám đương thêm một nhiệm kỳ nữa.
[141] Ngày Giáp Tí, lấy Thái tử Trung xá Lý Dư Khánh làm Điện trung thừa. Dư Khánh cùng phán sự ở Tú Châu, xin lập trường muối ở hai huyện Hải Diêm và Hoa Đình, đến nay, mỗi năm thu được 78 vạn 7 nghìn quan tiền, nên đặc cách thăng chức.
[142] Ngày Ất Sửu, giảm một nửa số lượng vũ khí các lộ phải chế tạo hàng năm.
[143] Thái thường Lễ viện tâu rằng năm sau vào ngày Tân đầu tiên của tháng giêng sẽ cầu cốc với Thượng đế, nhưng ngày Thượng thọ của Trường Ninh tiết lại rơi vào giữa kỳ trai giới, xin đổi sang ngày Tân thứ hai. Được chấp thuận.
[144] Ngày Bính Dần, chiếu rằng các quan Đại Lý tự tường đoạn và kiểm pháp từ nay sau khi mãn nhiệm sẽ được bổ làm tri huyện gần nhà, đợi một nhiệm kỳ xong sẽ được làm đồng phán. (Năm sau, tháng 9, ngày Mậu Ngọ).
[145] Tháng 12, ngày Quý Dậu, sai quan cầu tuyết.
[146] Ngày Giáp Tuất, Tri Tần Châu Vương Tùy tâu: “Các bộ tộc phiên bắt nộp quân đào ngũ, phần nhiều vì tham thưởng hậu mà vu tội cho họ. Nay đã giảm định hình phạt, xin bãi bỏ việc ban thưởng tiền và lụa, chỉ cấp dây lưng và áo ngắn.” Được chấp thuận.
Trước đây, quân lính phạm tội đào ngũ sang các bộ tộc phiên, người rợ bắt làm nô lệ, chỉ cần hơi không vừa ý là bắt nộp để đòi thưởng, nên nhiều người bị xử tử. Vương Tùy ra lệnh rằng ai tự quay về sẽ được miễn tội chết, cho phục ngũ, nhờ vậy mà cứu sống được nhiều người.
(Tháng 10, ngày Kỷ Hợi, Vương Bác Văn tâu xin, việc này có khác, cần xem xét).
[147] Ngày Bính Tý, Hàn lâm học sĩ Hạ Tủng dâng lên 《Quốc triều dịch kinh âm nghĩa》 70 quyển, được ban thưởng khí vật và tiền tùy theo thứ bậc, nhân đó đưa văn phát nguyện của Hoàng thái hậu cho các phụ thần xem.
[148] Ngày Đinh Sửu, ban chiếu rằng giá cả ở kinh thành tăng cao, nên lệnh cho Tam ty xuất kho thóc kém chất lượng để cho dân trong kinh thành vay, hẹn trong hai năm trả lại một nửa số thóc thô. Lại bố trí hàng chục chợ mua thóc, chỉ lấy nửa giá, dân chúng tranh nhau đến. Đến đầu xuân, không có ai bị đói.
Trước đó, thóc trong Thái thương có loại cũ mục không thể dùng làm lương thực cho quân đội, Quyền phát khiển Tam ty sự Trình Lâm nhân đó đề xuất ý kiến này, triều đình nghe theo, tổng cộng xuất ra sáu mươi vạn hộc thóc.
(Trong chính truyện của Trình Lâm, ở phần xuất thóc cũ có viết: Diêm thiết phó sứ Nhâm Bố xin đúc tiền lớn, một đồng đổi được mười đồng, Độ chi phán quan Hứa Thân xin dùng đồng và sắt pha lẫn để đúc, triều đình đưa ý kiến này xuống bàn bạc. Trình Lâm nói rằng ý kiến của Nhâm Bố dùng tiền lớn là dụ dân đúc tiền giả và khiến họ phạm tội, Đường Đệ Ngũ Kỳ từng dùng cách này, cuối cùng không thành công; còn Hứa Thân muốn dùng đồng và sắt pha lẫn để đúc, e rằng không thành, nên cho Hứa Thân thử nghiệm. Việc đúc tiền cuối cùng không thành.
Xét rằng Nhâm Bố làm Độ chi phó sứ vào tháng nhuận tháng 10 năm Thiên Thánh thứ 9, làm Diêm thiết phó sứ vào tháng 7 năm Minh Đạo thứ 2, lúc này chưa phải, chính truyện nhầm lẫn. Lại nữa, Hứa Thân vào tháng 6 năm này mới làm Quảng Tây đề hình, ý kiến đề xuất cũng chưa chắc đã vào lúc này, nay không lấy.)
[149] Tam ty xuống các huyện trong kinh mua nguyên liệu thực phẩm, Đề điểm công sự Trương Tung vì trong kinh có thiên tai mất mùa, xin thu mua thóc ở chợ. Vua hỏi các quan phụ tá: “Việc này dùng để làm gì?” Vương Tăng đáp: “Dùng cho nhà bếp của hoàng gia.” Vua nói: “Làm sao có thể vì miếng ăn mà quấy nhiễu dân, hãy bãi bỏ hết.”
[150] Ngày Tân Tỵ, Đạo lục viện dâng lên danh sách hai mươi nơi danh sơn động phủ hàng năm ném long giản[30], còn lại đều bãi bỏ.
[151] Ngày Nhâm Ngọ, Vua đến Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung, Khai Bảo tự, Cảnh Linh cung cầu tuyết. Theo lệ cũ, khi xa giá trở về, phải có nhạc dẫn đường, Vua chú tâm cầu nguyện, ra lệnh không dùng nhạc. Khi tuyết rơi, các quan phụ tá đều chúc mừng, Vua vui mừng nói: “Dân chúng làm ruộng, từ nay có hy vọng rồi.”
[152] Ngày Đinh Hợi, tách huyện Vệ của châu Vệ sáp nhập vào quân An Lợi, huyện Hoạch Gia của châu Hoài sáp nhập vào châu Vệ.
[153] Cùng ngày, Vua nói với các quan phụ chính rằng: “Trẫm muốn vào ngày Nguyên Đán dẫn trăm quan đến chúc thọ Hoàng thái hậu trước, sau đó mới ngự ở điện Thiên An để nhận lễ chúc mừng. Hãy lệnh cho Thái thường lễ viện soạn thảo nghi thức này.” Hoàng thái hậu nói: “Lẽ nào vì ta mà làm chậm lễ Nguyên hội?” Vương Tăng tâu rằng: “Bệ hạ lấy hiếu kính phụng dưỡng mẹ, thái hậu lấy khiêm nhường giữ gìn quốc thể, xin theo mệnh lệnh của thái hậu.” Rồi ông lạy hai lần để chúc mừng. Vua vẫn muốn chúc thọ thái hậu trước, sau khi lui ra, liền ban chiếu mật giao cho Trung thư.
[154] Lễ bộ Thượng thư, Học sĩ Tập hiền viện là Triều Huýnh nhiều lần dâng sớ xin về hưu. Vua nói với các quan phụ chính: “Huýnh là học sĩ triều trước, chí hướng và đạo đức trong sạch, Trẫm muốn giữ ông lại, được không?” Vương Tăng tâu rằng: “Huýnh đã 76 tuổi, dù bệ hạ muốn giữ ông ấy, nhưng sức lực e không còn đủ.” Vua bèn phong cho ông làm Thái tử Thiếu bảo về hưu, cấp đủ bổng lộc, và ban thưởng như học sĩ.
[155] Bãi bỏ việc lập ban ở cung Thượng Thanh vào năm ngày lễ Thiên Khánh.
[156] Ngày Bính Thân, nước Khiết Đan phái Tiết độ sứ Bảo Tĩnh là Tiêu Hán Ninh và Lang trung Binh bộ, Tri chế cáo là Trịnh Tiết đến chúc mừng ngày Chính đán của Hoàng thái hậu.
[157] Ngày Đinh Dậu, phái Hữu Thiên ngưu vệ Thượng tướng quân là Tiêu Tín và Quan sát sứ châu Sa là Thạch Vũ đến chúc mừng ngày Chính đán.
[158] Tiếp bạn sứ là Khổng Đạo Phụ tâu rằng triều đình phương Bắc biết rõ số lượng quan lại hai chế, xin ngoài việc giả quan, mỗi người đều kiêm nhiệm chức vụ của mình.
(Việc này ghi trong 《Hội yếu》 tháng 12 năm thứ 4.)
[159] Thái thường lễ viện định rằng theo tấu của Quốc tín ty, trong buổi triều hội ngày Chính đán, sứ Khiết Đan vẫn theo nghi thức cũ đứng ở trên long trì, phía nam Tiết độ sứ, chỗ ngồi khi lên điện như nghi thức thị yến.
(Việc này ghi trong Bản chí tháng 12, cần xem xét hoặc bỏ bớt.)
- '7000' nguyên chép là '70', theo 《Tống sử》 quyển 325, truyện Vương Trọng Bảo sửa lại. ↵
- Thị ngự sử Phương Thận Ngôn dâng tấu xin khôi phục lại: 'Phương Thận Ngôn' nguyên bản là 'Phương Cẩn Ngôn', chữ 'Thận' đổi thành 'Cẩn', có lẽ do người Tống kiêng húy Hiếu Tông. Nay căn cứ vào 《Tống hội yếu》 thiên Thực hóa 8-51 và 《Ngô Đình Tiếp Bắc Tống Kinh phủ niên biểu》 (sau đây gọi tắt là 《Kinh phủ niên biểu》) sửa lại. ↵
- Người man ở các châu Quy Thuận thuộc lộ Quỳ Châu là Điền Tư Khâm cùng 302 người đến cống phương vật: Theo 《Tống sử》 quyển 493, 《Man Di truyện》 chép tương tự, 《Tống hội yếu》 thiên Phiên di 5-81 chép là 'Người man Quy Thuận ở Khê Động thuộc lộ Quỳ Châu là Điền Tư Khâm cùng 302 người đến cống phương vật'. 'Quy Thuận', có lẽ không phải là tên châu thực sự. ↵
- Lấy Cấp sự trung, Long Đồ các trực học sĩ Vương Tùy thay thế, chữ 'trung' nguyên bản thiếu, căn cứ theo 《Long Bình tập》 quyển 5, 《Đông Đô sự lược》 quyển 56, 《Tống sử》 quyển 311 bản truyện bổ sung ↵
- Thị ngự sử tri tạp sự Hàn Ức một mình quản lý công việc đài hơn một năm, chữ 'năm' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 《Trị tích thống loại》 quyển 29 về quan chế duyên cách, 《Tống sử》 quyển 315 bản truyện bổ sung ↵
- Các chức Tham quân ở Tam ty, Khai Phong phủ cùng Thừa, Úy ở các huyện xích thường dùng con em quý tộc, chữ 'thường' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác bổ sung ↵
- Chuyển vận ty, Đề điểm hình ngục vẫn lệnh kiêm nhiệm Khuyến nông sứ như cũ. 'Chuyển vận ty', nghi ngờ nên là 'Chuyển vận sứ'. Xem sách này quyển 62, ngày Bính Tý tháng 2 năm Cảnh Đức thứ 3 chép rằng 'các lộ Chuyển vận sứ, phó đều kiêm nhiệm Khuyến nông sứ của lộ mình', có thể tham khảo chứng minh. ↵
- Cơ quan Tường Định là Tôn Thích và những người khác được đặc biệt tha, chữ 'Sở' dưới nguyên có thêm chữ 'Dĩ', theo bản các và bản san. Xem 《Tống hội yếu》 chức quan 64-28 ghi: 'Thị độc học sĩ Tôn Thích trở xuống và các quan lại liên quan đều được đặc biệt tha.' ↵
- Đổi làm Tây Kinh lưu thủ suy quan, 'Tây Kinh' nguyên là 'Kinh Tây', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và bản các sửa lại. ↵
- 'Còn sống mà lóc thịt lấy mai', chữ 'tường' nguyên bản viết là 'thác', các bản khác giống nhau, bản hoạt tự viết là 'dặc', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa lại. Xét 《Tống hội yếu》 phần Hình pháp 2/15 viết là 'còn sống mà chặt thịt'. ↵
- 'Đặc chiếu' nguyên bản viết là 'Đãi chiếu', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa lại. Xét 《Tống hội yếu》 phần Chức quan 6/65 viết là 'bèn lệnh Hàn lâm học sĩ Hạ Tủng soạn chế', có thể chứng minh. ↵
- Quan lại thường bị tội không nên tâu, chữ 'tấu' nguyên là 'đắc', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Biên niên cương mục》 quyển 9, 《Tống sử》 quyển 199 《Hình pháp chí》 sửa lại. ↵
- 'hàng vạn' nguyên bản là 'trăm vạn', theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và 《Tống sử toàn văn》 quyển 7, phần trên, sửa lại. ↵
- chữ 'yến' nguyên bản là 'Yến', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và các bản khác sửa lại ↵
- Châu Kiến, châu Nam Kiếm, quân Thiệu Vũ bị lụt lớn, 'Nam Kiếm châu' nguyên bản là 'Kiếm châu'. Theo 《Hoàn Vũ ký》 quyển 100, 《Cửu vực chí》 quyển 9, 《Tống sử》 quyển 89, 《Địa lý chí》 đều chép: Nam Kiếm châu, quận Kiếm Phố, thời Nam Đường gọi là Kiếm châu, năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 4 thêm chữ 'Nam' để phân biệt với Kiếm châu ở lộ Lợi Châu. Nay bổ sung. ↵
- Sắc lệnh cho Bát tác ty đắp đê Trần Lưu và vùng đất Cổ Pha Cương phía tây thành để xả nước vào sông Hộ Long. 'Cổ Pha Cương' nguyên bản viết là 'Cổ Cương Pha', căn cứ vào các bản khác sửa lại. Theo 《Tống hội yếu》 phương vực 16-5 chép: 'Muốn lệnh cho Bát tác ty xem xét phía tây kinh thành, xả nước vào sông Hộ Long để giảm bớt thế nước... Rồi mở cửa xả nước ở Cổ Pha'. ↵
- 'gần sông Chương' nguyên bản là 'cận', căn cứ theo các bản khác và bản truyện trong 《Tống sử》 sửa lại. ↵
- 'mười hai' nguyên bản là 'mười ba', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và câu 'đập chảy mười hai' dưới đây mà sửa ↵
- 'cùng nguồn khác cửa' bản Tống, bản tóm tắt Tống viết là 'cùng nguồn khác cửa'. ↵
- Kênh nước sông Chương, các bản Tống, Tống Toát Yếu và các bản khác đều ghi là 'Kênh Chương' ↵
- 'Bón' nguyên văn là 'Lợi', theo sách trên sửa lại ↵
- mà nước lũ gây hại một phần 'một phần' nguyên bản là 'hai phần', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 30 về chính tích, 《Tống sử》 quyển 426 truyện Trương Luân sửa lại. ↵
- dân chúng lập đền thờ sống Trương Luân chữ 'sống' nguyên bản thiếu, căn cứ theo sách trên và 《Phạm Văn Chính công tập》 quyển 11 bài văn bia 'Tống cố Cán Châu thứ sử Trương công thần đạo bi' bổ sung. ↵
- việc Trương Luân kiêm quyền Tri châu Thái Châu là vào ngày Tân Mão tháng 6 năm thứ 5 'tháng 6' nguyên bản là 'tháng 8', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu sửa lại. Xem 《Trường biên》 quyển 105, năm Thiên Thánh thứ 5 tháng 6 ngày Tân Mão, Trương Luân lấy chức Phó sứ Phát vận Giang, Chiết, Kinh, Hồ kiêm quyền Tri châu Thái Châu, là vào 'tháng 6', không phải 'tháng 8'. ↵
- việc Trương Luân và Hồ Lệnh Nghi được thăng chức là vào ngày Giáp Ngọ tháng 7 năm thứ 6 'Giáp Ngọ' nguyên bản là 'Giáp Tý', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu sửa lại. Xem 《Trường biên》 quyển 106, năm Thiên Thánh thứ 6 tháng 7 ngày Giáp Ngọ, vì đê ngăn biển hoàn thành, Trương Luân được thăng chức Chiêu Châu thứ sử, Chuyển vận sứ Hoài Nam cũ là Hồ Lệnh Nghi được thăng chức Kim bộ Lang trung, ghi là 'Giáp Ngọ' là đúng. ↵
- 'sau này' trong bản các bản khác ghi là 'từ nay', còn trong 《Tống hội yếu》 quyển 19, mục 8 thì giống với bản gốc. ↵
- Theo 《Tống Sử》 quyển 198, phần Binh Chí, trước 'quân Hỏa Sơn' có hai chữ 'Khả Lam', 《Tống Hội Yếu》 Binh 24/1 cũng liệt kê quân Khả Lam là nơi mua ngựa ở Hà Đông, nghi ngờ bản in gốc thiếu hai chữ 'Khả Lam' trước 'quân Hỏa Sơn'. ↵
- chữ "lộ" nguyên bản thiếu, theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và Tống hội yếu chức quan 77/35 bổ sung ↵
- Chiếu cho các châu quân ở Kinh Đông, Kinh Tây, Hoài Nam, Lưỡng Chiết, Phúc Kiến, chữ 'Nam' vốn bị thiếu, theo bản trong các bản khác mà bổ sung. Xem 《Tống sử》 quyển 9, phần kỷ Nhân Tông và quyển này, tháng 6 ngày Đinh Dậu, đều có ghi chép về việc Hoài Nam bị lụt, có thể tham khảo. ↵
- Đạo lục viện dâng lên danh sách hai mươi nơi danh sơn động phủ hàng năm ném long giản, chữ 'sở' dưới nguyên có chữ 'chiếu', theo bản khác mà bỏ. ↵