IV. TỐNG NHÂN TÔNG
QUYỂN 108: NĂM THIÊN THÁNH THỨ 7 (KỶ TỴ, 1029)
Từ tháng 5 năm Thiên Thánh thứ 7 đời Nhân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.
[1] Tháng 5, ngày Kỷ Mùi mùng một, ban chiếu cho Lễ bộ tổ chức thi cống cử. Ngày Canh Thân, ban chiếu rằng: “Trẫm thử thách kẻ sĩ trong thiên hạ, dùng lời nói để xem chí hướng của họ. Nhưng gần đây tệ xấu lan tràn, đến mức tụ tập tiểu thuyết, xé nát lời dạy xưa, tranh nhau viết văn phù phiếm xa hoa[1], không có ích gì cho đạo trị nước, không phải là điều Trẫm mong đợi ở chư sinh. Lễ bộ hãy nghiêm khắc răn dạy học giả, cố gắng làm sáng tỏ đạo của tiên thánh, để xứng với ý Trẫm.”
[2] Ngày Giáp Tý, Vua nói với các đại thần: “Gần đây nghe nói quan chức châu huyện ở Xuyên, Quảng có người quá hạn mà chưa được thay thế, đây há phải là điều người ta mong muốn sao? Hãy lệnh cho Lại bộ Lưu nội tuyển nhanh chóng chọn người thay thế.” Lại nói: “Quần thần xin đối đáp phần nhiều cầu tiến, ít người cầu thoái, tại sao vậy?” Vương Tăng nói: “Nếu ngăn chặn sự tranh giành, đề cao sự tĩnh lặng rút lui, thì có lẽ sẽ có phong khí khó ham tiến mà trọng thoái lui vậy.” Vua cho là phải.
[3] Ngày Kỷ Tỵ, ban chiếu đem lệnh mới và phụ lệnh ban bố trong thiên hạ. Ban đầu, sai quan san định biên sắc, có người bàn rằng lệnh nhà Đường có điều khác với việc đương triều, cũng sai quan tu định[2], hoàn thành 30 quyển, Hữu ty lại lấy lệnh nghi chế Hàm Bình và chế độ ước thúc. Trong sắc, những tội danh nhẹ hơn 500 điều, đều phụ vào sau lệnh, gọi là “Phụ lệnh sắc”.
[4] Chiếu rằng: Từ nay, dân Quảng Nam mà tổ phụ, phụ mẫu còn sống mà tách hộ khác thì xử theo luật, còn đã phân cư rồi thì không xét. Trước đây, Đồng phán Quế Châu Vương Cáo tâu rằng: “Thời nhà Lưu, hễ tổ phụ, phụ mẫu còn sống mà cháu đã lấy vợ thì lập tức bắt chia tài sản, sau đó người giàu có đến mấy ngàn vàng, còn người nghèo có khi không tự nuôi được. Đến khi triều đình bình định Lĩnh Nam, mới biết pháp luật không cho phép ở riêng. Tranh chấp kiện tụng đến nay vẫn chưa dứt, xin ban điều ước để ràng buộc.” Vì thế ban chiếu này.
[5] Ngày Canh Ngọ, chiếu rằng: “Quan chức triều đình từng giữ chức Lưỡng phủ và Tuyên huy sứ, đã trải qua bốn lần tế giao mà chưa được bổ dụng con cháu thì bổ nhiệm một người thân thuộc; đã trải qua ba lần tế giao mà hiện không có bổng lộc thì lập tức ban ơn. Thứ sử, Thiếu khanh giám trở lên, đã trải qua sáu lần tế giao mà chưa được bổ dụng con cháu và hiện không có bổng lộc[3], cũng bổ nhiệm một người thân thuộc. Lang trung và Viên ngoại lang có chức, quan thăng triều làm Tri châu, Quân giám ở Tây Xuyên, Quảng Nam mà mất, trải qua nhiệm kỳ không phạm tội tham nhũng, nhà hiện không có người hưởng bổng lộc, đều cho phép dâng biểu xin ơn.”
[6] Có người dâng thư lên Vua nói: “Các châu quận gần biên giới trong nội địa, phần nhiều do các quan văn làm tri châu, việc biên phòng và võ lược, họ đâu chịu để ý. Mong rằng từ nay chọn lấy hai ba mươi người có dũng cảm và mưu lược từ chức Nội điện sùng ban trở lên, bổ nhiệm làm tri châu ở các nơi xung yếu thuộc Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây và Tây Xuyên[4], Quảng Nam, không kể xa gần, chỉ cần là nơi xung yếu thì đều bổ nhiệm làm tri châu[5].
Khi mãn nhiệm, phải trình bày mười việc lợi hại của dân chúng hoặc việc biên phòng ở địa phương mình. Hoặc khi triều đình cần người sử dụng, hỏi han trong triều, thì có thể nói rằng người nào đó đã từng ở nơi nào, biết rõ việc ở nơi đó, như vậy là trước hết thử thách họ bằng việc gần biên giới, sau đó giao cho họ nhiệm vụ trấn giữ biên cương, hoặc làm phòng thủ cho châu quận, hoặc làm tướng lĩnh cấp dưới, thì sẽ không thiếu người tài.”
Xu mật viện xin lệnh cho các võ quan từ chức Cáp môn chi hậu trở lên làm tri châu quân, khi mãn nhiệm trở về, tri châu phải trình bày năm việc, trong đó ba việc về lợi hại của dân chúng, hai việc về biên phòng hoặc việc quân sự; còn tri quân phải trình bày ba việc, trong đó hai việc về lợi hại của dân chúng, một việc về biên phòng hoặc việc quân sự, đều được chấp thuận.
[7] Trước đó, Thị ngự sử Cao Biện và Nội thị Dương Hoài Mẫn đến Thiền Châu xem xét việc đắp đê ngăn sông, bàn việc xây đập Đại Hàn. Lại sai Nội thị Kỳ Trọng Tuyên đi xem xét lại, Trọng Tuyên tâu rằng sông lớn đã chảy yên, các đập cũng đủ vững chắc. Vua cũng ngại việc động dân, ngày Nhâm Thân, đem bản đồ các đập cho các đại thần xem, bãi bỏ việc xây đập Đại Hàn. Biện lại xin nới lỏng việc phòng thủ đê điều, để nước chảy tự nhiên, có thể tiết kiệm sức dân, lại có thể ngăn chặn quân địch, nhưng không được trả lời.
(Việc này căn cứ theo truyện Cao Biện. Tháng 12 ngày Tân Hợi, Thực lục chép lời bàn của Biện, cần xem xét thêm.)
[8] Chiếu rằng các bề tôi tấu việc, không được xin phê “y tấu” gửi về Trung thư. Khi ấy, Hình bộ lên điện xin phê “y tấu”, nhưng Trung thư căn cứ vào chiếu thư năm Đại Trung Tường Phù thứ 7 để giải thích rõ.
(Chiếu thư năm Tường Phù thứ 7 ban vào ngày Mậu Dần tháng 3[6].)
[9] Ngày Quý Dậu, Vua ngự điện Sùng Chính xét lại các tù nhân bị giam.
[10] Ngày Giáp Tuất, Thái thường bác sĩ Phạm Phúng được bổ làm Hữu ty gián. Trước đây, Phúng làm Tri quân Quảng Đức, sau vì bệnh nên giám sát đạo quán Linh Tiên ở châu Thư. Thượng ngự dược Trương Hoài Đức đến quán làm lễ, Phúng khéo léo kết thân với ông ta, Hoài Đức tiến cử Phúng với Thái hậu, nên được triệu về. Vua hỏi Phúng muốn nói gì, Phúng đáp: “Nay quyền thần kiêu ngạo ngang ngược, sắp không thể kiềm chế được.” Ý chỉ Tào Lợi Dụng. Sau khi Lợi Dụng bị giáng chức một thời gian, Phúng mới được bổ làm gián quan.
[11] Ngày Ất Hợi, Tri chế cáo Lý Trọng Dung và Thạch Trung Lập đều bị cách chức Tu soạn Sử quán vì tội bảo lãnh sai, phạt 10 cân đồng.
[12] Ngày Canh Thìn, Vua và Thái hậu ngự điện Thừa Minh, các quan xin vào chầu tổng cộng 19 ban. Đến ban thứ 9, Vua ban yến cho các phụ thần ở cửa điện Sùng Chính, một lúc sau lại ngồi thiết triều, đến chiều tối mới tan.
[13] Ngày Tân Tỵ, chiếu rằng: “Các chức Tri châu quân, Đồng phán, Bộ thự, Kiềm hạt, Đô giám, Giám áp, Tuần kiểm, Trại chủ, không đợi chiếu mà tự ý bỏ chức, theo luật Giám lâm thiện ly trường vụ phạt thêm hai bậc; tính ngày nặng hơn, theo luật tại quan vô cố vong. Các quan khác giảm hai bậc so với sắc lệnh, nếu có hành vi trốn tránh hoặc gây việc bỏ bê, phạt thêm một bậc. Tự ý nhận bài ấn, giảm tội một bậc so với người phạm tội.”
[14] Tháng 6, ngày Tân Mão, sai Tư chính điện học sĩ kiêm Hàn lâm thị độc học sĩ Yến Thù, Long đồ các đãi chế Khổng Đạo Phụ và Mã Quý Lương xem xét các chương sớ chuyển đối và phong sự do Viện Đăng văn kiểm dâng lên, phân loại những việc khả thi rồi tâu lên. Hữu ty gián Phạm Phúng nói: “Nếu không phải do Vua tự xem xét quyết định, thì ai dám vì bệ hạ nói hết lời!” Chưa đầy một tháng, chiếu bãi việc xem xét.
[15] Ngày Nhâm Thìn, đặt chức Chuyển vận phán quan ở các lộ Ích, Tử, Quảng Nam, cùng với Chuyển vận sứ chia ra các bộ đi tuần tra, vị trí ở trên các chức Đồng phán của các châu[7], cấp riêng ấn, khi đi tuần tra thì dùng, lại ra chiếu rằng những người đã qua khảo hạch được ba năm thì thăng một chức. Các quan bàn rằng từ khi bãi bỏ các chức Đề điểm hình ngục ở các lộ, mà các lộ Ích, Tử, Quảng Nam chỉ có một Chuyển vận sứ, không thể biết hết được việc dân, nên mới làm như vậy.
[16] Ngày Quý Mão, tăng số lượng tiến sĩ được cử ở bốn lộ Xuyên Hạp, châu Ích thêm bốn người, châu Tử thêm hai người, các châu quân khác nếu dưới ba người thì cho cử ba người.
(Số lượng cũ là bao nhiêu, cần phải tra cứu.)
[17] Ngày Giáp Thìn, ra chiếu rằng những người ứng cử ở Toả sảnh, từ nay ở kinh đô dù có chức vụ hay không, đã bãi chức hay chưa nhận chức, đều được phép lấy giải ở Quốc tử giám hoặc phủ Khai Phong, những người đang làm quan ở ngoài thì được phép lấy giải ở châu khác, nhưng phải xin chỉ trước. Văn thần được phép ứng cử hai lần, võ thần chỉ được một lần.
[18] Ngày Đinh Mùi, có mưa to sấm lớn, cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng bị cháy. Cung này có tất cả 3.610 gian, chỉ còn lại điện Trường Sinh Sùng Thọ.
Hôm sau, Thái hậu khóc với các phụ thần rằng: “Tiên đế dốc sức xây dựng cung này, chỉ một đêm mà cháy gần hết, may còn sót lại một hai điện nhỏ.” Phó Xu mật sứ Phạm Ung đoán Thái hậu có ý định xây dựng lại, bèn nói thẳng: “Chi bằng đốt hết đi.” Thái hậu hỏi nguyên do, Ung đáp: “Tiên triều dùng hết sức lực của thiên hạ để xây dựng, nay đột nhiên thành tro tàn, không phải sức người có thể lường. Nếu nhân chỗ còn sót lại mà tu bổ, thì dân không chịu nổi, không phải là cách để tôn kính lời răn của trời.” Tể tướng Vương Tăng, Lữ Di Giản cũng ủng hộ lời của Ung, Di Giản lại dẫn chứng sách 《Hồng Phạm》 về tai dị để khuyên can, Thái hậu im lặng.
[19] Trai lang Thái miếu là Tô Thuấn Khâm, đến viện Đăng Văn Cổ dâng sớ rằng:
“Bậc liệt sĩ không tránh né gươm giáo mà dâng lời can gián, bậc minh quân không che giấu lỗi lầm mà tiếp nhận lòng trung. Vì thế, người có mưu kế ắt sẽ trình bày trước mặt Vua, kẻ chứa oán hận sẽ không đến mức ngấm ngầm oán trách.
Tuy nhiên, nói ra đã khó, nhưng chấp nhận còn khó hơn; chấp nhận đã khó, nhưng thực hiện lại càng khó hơn. Nếu có người nói ra, ắt phải chấp nhận; nếu đã chấp nhận, ắt phải thực hiện[8], đó là đạo của bậc Vua chúa thời Tam Đại. Mong bệ hạ lưu tâm nghe lời.
Thần thấy năm nay từ mùa xuân đến mùa hạ, mưa dầm âm u không ngớt, ruộng đồng bị thiệt hại gần như đến chín phần mười. Thần cho rằng đó là do dùng người sai lầm, chính lệnh nhiều điều trái ngược, thưởng phạt không công bằng mà gây nên[9]. Trời giáng tai ương là muốn cảnh tỉnh bệ hạ, nhưng các đại thần lại đổ lỗi cho việc hình ngục quá lạm, bệ hạ nghe theo nên đã ban đại xá thiên hạ để cầu mong tiêu trừ tai họa. Như thế, kẻ giết người không phải chết, kẻ làm hại người không phải chịu tội, mà lại muốn hợp với ý trời. Xưa kia, giải quyết các vụ kiện tồn đọng để điều hòa thủy hạn, chưa từng nghe dùng đại xá. Vì thế, sau khi ban xá, khí âm vẫn còn đến nay.
Sách xưa có nói: ‘Khí âm tích tụ sinh ra dương, dương sinh thì tai họa xuất hiện.’ Nhân khí mùa hạ, bùng phát ở cung Ngọc Thanh, mưa gió lẫn lộn, lửa cháy bốn phía, lầu gác muôn nóc, chỉ trong chốc lát đã cháy rụi. Đó không phải do sơ suất trong việc phòng hỏa, mà là lời cảnh cáo của trời.
Bệ hạ nên mặc áo tang, giảm bớt ăn uống, tránh chính điện, tự trách mình, ban chiếu thư ai điếu, bãi bỏ những việc làm không cần thiết, cứu giúp dân chúng thất nghiệp, xem xét những người phụ tá và tả hữu không có đóng góp gì cho quốc gia mà bãi chức, loại bỏ kẻ lạm quyền, suy nghĩ về những sai lầm trong chính sự và hình pháp, thu nhận những lời nói thô thiển, may ra có thể biến tai họa thành phúc lành.
Trong mười ngày qua, chưa thấy bệ hạ làm những việc này, mà lại tính toán công việc để tu sửa. Người dân kinh thành nghe tin đều kinh hãi, bàn tán xôn xao, đều cho là không nên, nói rằng: ‘Chương Thánh hoàng đế cần kiệm hơn mười năm, thiên hạ giàu có, kho tàng đầy ắp, mới xây cung này, đến khi hoàn thành, trong nước đã kiệt quệ. Bệ hạ lên ngôi chưa đầy mười năm, nhiều lần gặp thủy hạn, tuy thuế má đều thu đủ nhưng dân chúng vẫn khốn khó. Nếu đại hưng thổ mộc, thì chi phí không biết đâu là giới hạn. Tài lực hao tổn trong nội bộ, dân chúng vất vả dưới trướng, hao tổn trong nội bộ và vất vả dưới trướng, thì lấy gì để trị quốc!’
Huống chi trời giáng tai ương, bệ hạ lại làm trái, đó là muốn đối địch với trời. Không có ý tự xét mình, làm trái ý trời là điềm không lành, muốn an ổn thì khó lòng đảm đương, muốn cầu phúc lớn, làm sao được! Nay thần xin bày kế cho bệ hạ, không gì bằng chọn người hiền, bỏ kẻ nịnh, tu đức để chăm lo việc trị nước, khiến dân chúng no đủ mà thuế má giảm nhẹ, như thế mới có thể tạ ơn trời và yên lòng dân. Bậc hiền quân thấy biến cố thì tu đạo trừ hung, thời loạn không có điềm báo, trời không cảnh cáo. Nay may mắn được trời báo điềm biến, đó là lúc bệ hạ tu sửa mình, sao có thể xem thường được!
Xưa vào năm thứ ba đời Hán Tuyên Đế, điện Bạch Hạc ở Mậu Lăng bị hỏa hoạn, Vua ban chiếu rằng: ‘Gần đây hỏa hoạn giáng xuống vườn tẩm của Hiếu Vũ Đế, Trẫm run sợ lo lắng. Không thấu hiểu được sự biến dị, tội lỗi ở nơi Trẫm, các quan lại lại không dám thẳng thắn chỉ ra lỗi lầm của Trẫm, dẫn đến việc này, làm sao có thể tỉnh ngộ được?’ Mậu Lăng không bằng kinh đô, điện Bạch Hạc cũng không lớn bằng cung điện này, thế mà Vua còn ban chiếu khắp nơi để tìm lỗi của mình, từ đó biết được các đế vương thời xưa lo lắng nguy nan, nghĩ đến việc trị nước, hết sức cấp bách như vậy.
Thần lại xét sách 《Ngũ Hành Chí》: ‘Người hiền kẻ nịnh phân biệt rõ ràng, quan lại có thứ tự, tuân theo phép tắc cũ, coi trọng lễ nghi và công lao, thì lửa giữ được tính chất của nó. Nếu đạo tin không vững, hoặc khoe khoang sự giả dối, kẻ gièm pha lộng hành, tà thắng chính, thì lửa mất tính chất của nó. Từ trên giáng xuống, hoặc tai họa ập đến bừa bãi, đốt cháy tông miếu, thiêu rụi cung điện, dù có huy động quân đội cũng không thể cứu được.’ Vì thế, năm thứ ba đời Lỗ Thành Công, cung điện mới bị hỏa hoạn, Lưu Hướng cho rằng đó là ứng với việc Thành Công tin lời gièm pha của con cháu Tam Hoàn, đuổi bề tôi của cha; mùa xuân năm thứ chín đời Tương Công, nước Tống bị hỏa hoạn, Lưu Hướng cho rằng đó là ứng với việc Tống Công nghe lời gièm pha, đuổi đại phu Hoa Nhược chạy sang nước Lỗ.
Nay cung điện bị hỏa hoạn, há cũng có nguyên nhân như vậy chăng? Mong bệ hạ lặng lẽ suy xét lại và sửa đổi, bỏ đi việc xây dựng lại tốn công sức, noi theo phép tắc của tiền nhân, thiên hạ sẽ rất may mắn!”
Thuấn Khâm lúc đó hai mươi mốt tuổi, là cháu của Dịch Ôn, con của Kỳ.
(Thuấn Khâm dâng sớ, chính sử không ghi rõ tháng, trong tập cũng không có tháng, nay phụ lục vào đây.)
[20] Ngày Mậu Thân, nước Cưu Tư sai sứ đến cống nạp sản vật địa phương.
[21] Ngày Kỷ Dậu, ban chiếu rằng con em của các quan Tam Ty không được giữ chức vụ quản lý kho tiền và lương thực trong kinh thành.
[22] Ngày Giáp Dần, Môn hạ thị lang kiêm Lại bộ thượng thư, Bình chương sự Vương Tăng bị bãi chức, giáng làm Lại bộ thượng thư, nhận chức Tri Duyện châu.
Trước đây, khi Thái hậu nhận sách tôn hiệu, định ngự tại điện Thiên An, Vương Tăng cương quyết phản đối. Đến lễ Thượng thọ ngày Trường Ninh tiết, Vương Tăng lại kiên quyết phản đối như trước, chỉ bày biện ở điện khác[10]. Thân thuộc bên cạnh Thái hậu thường xin yết kiến, Vương Tăng nhiều lần ngăn cản, Thái hậu càng không vui. Khi cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng bị cháy, Vương Tăng vì quản lý không nghiêm, nhiều lần dâng biểu chịu tội, nên bị bãi chức tể tướng, ra nhậm chức ngoài[11]. Sau đó đổi sang Thanh châu.
[23] Ban chiếu cho Nội thị tỉnh từ nay việc điều động Thân tòng, Thân sự quan phải dựa vào văn thư của Hoàng thành ty, không được để sứ thần tự ý điều động. Trước đó, có nội thị Đặng Đức Dụng truyền lệnh điều động 260 người thuộc Thân tòng đệ nhất chỉ huy, từ Phó hiệu Hoàng Toại trở xuống, đến Chiêu Ứng cứu hỏa, nhưng không có văn thư thông báo cho bản ty, Vua cho là không tiện, nên có chiếu này.
[24] Tháng đó, Hà Bắc có lũ lớn, làm hư cầu phao ở châu Thiền.
[25] Mùa thu, tháng bảy, ngày Mậu Ngọ, mùng một, sai Hộ bộ phó sứ, Hình bộ lang trung Chung Ly Cẩn làm An phủ sứ Hà Bắc, Tác phường sứ Phạm Tông Cổ làm phó.
Lại ra chiếu cho Cẩn và những người đi đến nơi phát kho lương để cứu giúp người nghèo khó, những nhà bị nạn lụt còn sống ba người thì cấp hai ngàn tiền, ít hơn thì một ngàn, người chết đuối mà không thu nhặt được thì quan phải chôn cất, những người đã được kiểm tra miễn thuế thì cho phép nộp thuế gần nơi quan, tạm ngừng việc đánh thuế ở các châu huyện.
Những kho tàng, doanh trại bị nước lụt phải sửa chữa ngay, những nơi thấp thì dời lên chỗ cao[12]. Những vật của quan bị nước làm hư hỏng thì phải cấp phát ngay. Những người ở phường giám làm mất ngựa của quan thì không bị tội, chỉ phải điều tra và giao về bộ phận quản lý. Những quan lại tham lam tàn bạo thì phải tấu hặc. Những người bị giam trong ngục thì giao cho trưởng lại xử nhẹ. Những việc cơ mật ở biên giới, nỗi khổ của dân chúng, phải tường tận báo cáo.
[26] Ngày Tân Dậu, Tri Quang châu, Tả lĩnh quân vệ Đại tướng quân Thạch Phổ bị giáng làm Tả giám môn vệ suất phủ phó suất[13], an trí ở Trừ châu; Đồng phán, Bí thư thừa Vương Thực làm Sâm châu Trưởng sử. Trước đây, Thực tố cáo Phổ nhận hối lộ của bộ hạ, dùng tiền riêng tu sửa đền thờ Khổng Tử. Khi sai quan đến điều tra, lại phát hiện Thực cũng có tội nhận hối lộ, nên cả hai đều bị trị tội. Phổ sau đó được dời đến Dĩnh châu.
[27] Ngày Nhâm Tuất, cấm sĩ thứ, tăng đạo dùng giường tủ sơn đỏ.
[28] Ngày Quý Hợi, vì Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung bị hỏa hoạn, sai sứ đi báo cáo với các lăng tẩm.
[29] Ngày Giáp Tý, Hình bộ lang trung Địch Phỉ làm sứ sinh thần Hoàng hậu Khiết Đan, Tác phường sứ Trần Tông Hiến làm phó. Trần Tông Hiến, chưa rõ lai lịch.
[30] Ngày Ất Sửu, Hàn lâm học sĩ kiêm Thị độc học sĩ, Trung thư xá nhân, Đồng tu quốc sử Tống Thụ bị cách chức Học sĩ.
Thụ giữ chức Phán quan ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, mà cung này bị cháy, nên bị trách phạt. Các nội thị làm chức Đô giám, Thừa thụ đều bị giáng chức hoặc phạt tiền đồng tùy mức độ. Bốn đạo sĩ bị đánh bằng gậy vào lưng, năm người bị đánh bằng gậy. Tri cung Lý Tri Tổn vẫn bị biên chế quản lý ở Trần Châu[14]. Ngự sử đài điều tra nguyên nhân cháy, phát hiện Tri Tổn từng cùng đồ đệ ăn thịt uống rượu trong cung, nên bị xử phạt.
Ban đầu, Thái hậu tức giận vì những người canh giữ không cẩn thận, đều bị bắt giam vào ngục Ngự sử, định xử tử. Trung thừa Vương Thự dâng tấu: “Xưa cung Hoàn và cung Hi của nước Lỗ bị cháy, Khổng Tử cho rằng Hoàn và Hi đã hết thời nên bị hủy. Miếu Cao và điện Tiện ở Liêu Đông bị cháy, Đổng Trọng Thư cho rằng miếu Cao không nên ở Liêu Đông[15], điện không nên ở gần lăng, nên mới có tai họa. Điện Sùng Hoa của nước Ngụy bị cháy, Cao Đường Long khuyên răn về việc xây đài tạ cung thất, nên bỏ đi không sửa, nhưng Văn Đế không nghe, năm sau lại bị cháy. Nay cung điện xây dựng không hợp với kinh nghĩa, tai biến xảy ra như một lời cảnh báo, xin bỏ đất ấy, dừng các lễ cầu đảo để ứng với thiên biến.”
Hữu ty gián Phạm Phúng[16] cũng tâu rằng đây thực là thiên tai, không nên bắt giam điều tra. Giám sát ngự sử Trương Tích tâu rằng, nếu lại trị tội người, e rằng sẽ làm trời thêm giận. Vì nhiều người tâu như vậy, Vua và Thái hậu đều tỉnh ngộ, bèn giảm nhẹ tội cho những người canh giữ.
Có người bàn vẫn còn nghi ngờ rằng sẽ tu sửa lại cung điện, Phúng lại tâu: “Gỗ trên núi đã hết, sức người đã kiệt, dù có tu sửa lại cũng chắc chắn không thành. Thần biết triều đình cũng không làm việc này, nhưng làm sao để dẹp nghi ngờ trong thiên hạ? Xin hãy minh bạch cáo với bốn phương, để mọi nhà đều biết.”
Ngày Kỷ Tỵ, ban chiếu, lấy ý không tu sửa lại cung điện để dụ thiên hạ. Đổi tên điện Trường Sinh Sùng Thọ thành Vạn Thọ Quan.
[31] Cấm các huyện trấn ở Hoài Nam, Lưỡng Chiết, Kinh Hồ mua bán rượu, vì dân có việc cát hung, thường ra lệnh, ép bán rượu, người vi phạm cho dân tố cáo, mộ người thay thế.
[32] Ngày Quý Dậu, xuất kho nội tàng và kho giám hóa mỗi nơi 10 vạn quan tiền, gửi xuống Thiểm Tây, Hà Bắc để giúp mua lương thực dự trữ quân đội.
[33] Ngày Ất Hợi, chiếu rằng từ nay các quan chức điện trực trở lên không được đổi sang chức văn. Lại chiếu rằng các quan văn võ tấu tiến con em nhà khác và người thân khác họ, còn nhỏ chưa được lộc mà nhà mình không có người hưởng lộc, phải kê tên tâu lên.
[34] Ngày Ất Dậu, bãi bỏ tên các chức cung quan sứ do các phụ thần đảm nhiệm, theo lời thỉnh cầu của Lữ Di Giản, Trương Mân, Hạ Tủng.
[35] Chiếu rằng từ nay mỗi năm ban áo ấm cho các đạo, châu, phủ, quân, giám, đều theo mẫu ban xuống mà chế tạo tại chỗ, chỉ cử sứ thần mang chiếu chỉ đến lấy ban, miễn việc vận chuyển từ kinh đô. Theo lời tấu của Tam ty.
[36] Tháng 8, ngày Đinh Hợi mùng một, có nhật thực.
[37] Chiếu rằng: “Tiên đế lo lương bổng của quan lại không đủ, mà người liêm khiết không có gì để khuyến khích, nên ban thêm ruộng công. Thời gian dần trôi, sự xâm lấn càng nhiều, kiện tụng nổi lên, lại hại người, trái với ý của tiên đế. Nay bãi bỏ ruộng chức trong thiên hạ, quan thu lại thu nhập, lấy giá trị đó chia đều cấp phát. Lại giao cho Tam ty soạn điều ước riêng.”
Trước đó, có người dâng thư nói ruộng chức có người có người không, lại có kẻ không tốt, thường lấy nhiều làm hại dân, xin bãi bỏ. Chiếu cho học sĩ điện Tư chính Yến Thù cùng Tam ty, Thẩm quan, Tam ban viện, Lại bộ lưu nội thuyên bàn bạc, đều cho là phải, nên ban chiếu này.
[38] Ngày Kỷ Sửu, tể thần Lữ Di Giản được thăng chức Lại bộ Thị lang, Chiêu văn quán Đại học sĩ.
[39] Ngày Tân Mão, Xu mật sứ Trương Mân đổi làm Tiết độ sứ Sơn Nam Đông Đạo, Tham tri chính sự Hạ Tủng được thăng làm Hình bộ thị lang, lại giữ chức Xu mật phó sứ. Các Xu mật phó sứ Phạm Ung, Khương Tuân, Trần Nghiêu Tá đều được thăng làm Cấp sự trung, Nghiêu Tá đổi làm Tham tri chính sự. Tủng và Di Giản không hòa hợp, nên dùng Nghiêu Tá thay thế.
[40] Ngự sử trung thừa Vương Thự được làm Công bộ thị lang, Tham tri chính sự.
[41] Chuyển vận sứ Giang Nam Đông Lộ Vương Thạc và Chuyển vận sứ Lưỡng Chiết, Tư phong viên ngoại lang Lưu Sở đều bị truất quan, cách chức, vì tội bảo lãnh sai người.
(Bảo lãnh ai, cần tra xét.)
[42] Ngày Giáp Ngọ, xuống chiếu cho Quốc tử giám, từ nay lấy 50 người làm số lượng tiến sĩ được cử đi thi.
[43] Ngày Mậu Tuất, có người dâng thư nói: “Các Ngự sử ở Tam viện, theo lệ cũ, phần nhiều do các tri châu bổ nhiệm. Gần đây, Vương Duyên, Lý Hoành, Chu Gián đều từ chức tri huyện được bổ làm Suy quan ở các tỉnh phủ, rồi làm Chuyển vận sứ phó, thăng chức quá nhanh. Xin từ nay các Ngự sử đều cử người đã từng làm tri châu, đồng phán, những người hiện tại ở đài mà thâm niên còn ít, tạm cho ra làm tri châu.” Theo lời tâu.
(Việc này cần tra xét, cùng với sự việc ghi ngày Kỷ Mùi tháng chín.)
[44] Từ khi định ra chế độ chiết trượng, dài ngắn rộng hẹp đều có kích thước, nhưng nặng nhẹ không có chuẩn, quan lại có thể tùy ý. Đến lúc này, Hữu ty xin định lại, bèn xuống chiếu rằng tất cả các loại trượng dùng, nặng không quá 15 lạng, đóng dấu lên trên, giao cho bộ phận phụ trách thường xuyên kiểm tra.
[45] Ngày Kỷ Hợi, xuống chiếu rằng quan lại phạm tội tham nhũng, từ nay không được cho làm quan gần dân.
[46] Ngày Quý Mão, Lễ bộ viên ngoại lang, kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Cúc Vịnh làm sứ sinh thần Khiết Đan chủ, Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Vương Vĩnh Tích làm phó; Chức phương viên ngoại lang, Phán tam ty Lý khiếm ty Trương Quần làm sứ chánh đán, Như kinh phó sứ Thạch Nguyên Tôn làm phó; Hộ bộ phán quan, Độ chi viên ngoại lang Tô Kỳ làm sứ chánh đán Hoàng hậu Khiết Đan, Nội điện thừa chế, Cáp môn chi hậu Vương Đức Minh làm phó.
[47] Ngày Ất Tỵ, xuống chiếu rằng các quận biên giới sai quan mua lương thực quân dụng, nhưng thóc gạo phần nhiều bị mốc, ẩm thối không ăn được, từ nay dù đã thôi chức, cũng không được miễn tội.
[48] Ngày Kỷ Dậu, đặt hai chức Tuần kiểm dọc sông ở phủ Giang Ninh.
[49] Tam ty tâu: “Theo chế độ cũ, bề tôi hạn chế ruộng đất là 30 khoảnh, nhưng chỉ giới hạn trong một châu. Những người chọn đất chôn cất đôi khi bị ràng buộc bởi thuyết âm dương, nên việc tiến hành rất khó khăn. Xin cho phép được đặt mộ điền ở châu khác, nhưng không được quá 5 khoảnh.” Được chấp thuận.
[50] Ngày Nhâm Tý, ra chiếu: “Người Di ở châu Nhung phạm tội, giao cho Tri châu xử lý hòa giải. Nếu là người Hán, thì xử theo pháp luật. Ai trong ba năm không gây sự, sẽ được đặc cách thăng một bậc.”
[51] Tháng 9, ngày Mậu Ngọ, Định vương Nguyên Nghiễm được cải phong làm Trấn vương.
[52] Ngày Kỷ Mùi, ra chiếu cho Ngự sử đài: “Từ nay, các Ngự sử ở ba viện nếu không tham gia triều hội thì không được tự ý ra ngoài.”
(Việc này cùng với sự việc được ghi vào ngày Mậu Tuất tháng trước đều cần xem xét, hoặc chắc có nguyên nhân. 《Hội yếu》 chép rằng vào tháng 4 năm Bảo Nguyên thứ 2, do lời tâu của Ngự sử Vương Tố, lại ban chiếu nhắc nhở.)
[53] Ngày Bính Dần, ra chiếu cho các môn: “Từ nay, các chức Nhập nội đô tri và Áp ban, nếu là Chiêu tuyên sứ trở lên[17], thì xếp cùng hàng với Khách tỉnh sứ; các chức Hoàng thành sứ phó trở xuống, đều đứng trước Hoàng thành sứ, xếp thành một hàng riêng[18].”
Thời Thái Tổ, các chức Đô tri và Áp ban thường do Cung phụng quan đảm nhiệm, trong cung chỉ cần đội khăn, mặc áo vải thô là đủ. Tể tướng Lữ Di Giản không xem xét cố sự, vội nâng bậc của họ, bị người đương thời chê trách.
(Việc Đô tri và Áp ban đội khăn, mặc áo vải thô, theo 《Giang Hưu Phục tạp chí》, lại chép rằng Hứa công nâng bậc cho Đô tri và Áp ban, không báo cho Ngự sử đài. Đến nay, mỗi khi thăng chức, đều phải tâu xin miễn chầu chính nha. Việc này cần xem xét.)
[54] Ngày Mậu Thìn, các quan lại ở châu Thiền đều bị giáng một bậc do vụ vỡ đê Vương Sở.
[55] Ngày Canh Ngọ, ra chiếu cho Thẩm quan viện và Đại Lý tự: “Từ nay, các chức Tường nghị, Tường đoạn và Pháp trực quan, nếu không được chủ phán quan cùng tội tiến cử, thì không được bổ nhiệm.”
[56] Ngày Tân Mùi, đổi quân hiệu Vĩnh Định thành Vĩnh Ninh để tránh tên lăng của Chân Tông. Các trạm dịch trong huyện có tên trùng đều đổi theo.
[57] Ngày Giáp Tuất, Tư phong viên ngoại lang Triệu Khuếch tâu: “Trước đây khi xét án cấp bách ở Đại Lý tự, chỉ có quan phụ trách vụ án ký tên, còn các quan pháp quan khác không tham gia, e rằng không thể hết lòng. Xin từ nay bắt buộc tất cả đều phải ký tên, nếu bàn về hình phạt có sai sót thì cùng chịu tội.” Được chấp thuận.
[58] Ngày Đinh Sửu, chiếu chỉ rằng việc ban phát áo ấm cho các lộ, hàng năm cử quan kỹ thuật, từ nay cho phép tham gia thêm những người thuộc dòng dõi công thần nghèo khó và những người lâu năm ở các cửa cung.
[59] Sau khi biên soạn xong bộ luật, hợp nhất luật ruộng đất thành một bộ sách, so với luật thời Tường Phù giảm hơn một trăm điều. Những tội thuộc về pháp luật gồm: tội chém đầu có 17 loại, tội lưu đày có 34 loại, tội đồ có 106 loại, tội trượng có 258 loại, tội đánh roi có 76 loại, tội phối lưu có 63 loại, từ tội chém đầu trở xuống phải tâu xin chỉ dụ có 71 loại, tất cả đều nằm ngoài luật lệ hiện hành.
Do đó, ban chiếu cho các lộ xem xét, nghe ý kiến về những điều chưa thuận tiện. Sau đó lại ban chiếu rằng trong vòng một năm không được thay đổi[19], rồi mới khắc bản ban hành.
[60] Ngày Tân Tỵ, chiếu chỉ rằng các Hàn lâm học sĩ, Tri tạp ngự sử trở lên, mỗi người tiến cử một quan thường tham đã từng làm đồng phán một nhiệm kỳ, không phạm tội tham nhũng và có tài năng đảm đương công việc phức tạp, không được tiến cử người thân và thân thuộc của các quan chấp chính.
[61] Lại ban chiếu cho Thẩm quan viện, từ nay khi bổ nhiệm các chức tri châu, tri quân, phải trình lên Trung thư xét duyệt, nếu là người yếu đuối, già yếu, bệnh tật không đảm đương được việc thì bãi chức.
[62] Ngày Nhâm Ngọ, điều Tri Thanh Châu Lý Địch làm Tri Hà Nam Phủ. Địch vào triều yết kiến, Thái hậu nói với Địch: “Khanh trước đây không muốn ta tham gia việc nước, có lẽ là sai lầm. Nay ta bảo dưỡng thiên tử đến thế này, khanh thấy sao?” Địch đáp: “Thần được tiên đế ban ơn sâu, nay thấy thiên tử thánh minh, thực không biết đức lớn của Thái hậu đến thế.” Thái hậu cũng vui.
[63] Ngày Quý Mùi, ban chiếu cho ba ty lệnh thương nhân ở kinh sư nộp một nghìn vạn bó cỏ ngựa.
[64] Mùa đông, tháng 10, ngày Đinh Hợi, vợ của Thôi Tuân Độ, nguyên là Tả dụ đức của Thái tử, tước Thư Thành huyện quân họ Hà, được đặc phong làm Lạc An quận quân.
Tuân Độ từng phụng sự ở Đông cung, con trai ông là Trọng Tư, chức Tả ban điện trực, xin đem chức quan được thăng để phong cho mẹ một tước quận, Vua đã đồng ý và ban chiếu thăng chức cho Trọng Tư.
[65] Ngày Tân Mão, ban chiếu: “Các châu quân ở Kinh Đông, Hà Bắc bị lũ lụt, đã giảm thuế thu, cho phép nộp tiền mặt tại địa phương, và tạm ngừng thu thuế trong một năm. Những người khiếu nại không kịp hạn cũng được xem xét giảm bớt.”
[66] Ngày Giáp Ngọ, ban chiếu rằng: “Các quân ở kinh thành và các nơi chi lương tháng, lệnh cho quan đề điểm trường thương và ba viện lương liệu căn cứ vào việc phân định các kho thóc theo năm tháng, cấp phát theo mức cao thấp của quân tư. Người nào vi phạm thì cho phép người khác tố cáo, công nhân được thăng một bậc, dân thường được thưởng ba mươi ngàn tiền.”
Trước đó, có người dâng thư nói rằng các viện lương liệu khi khám xét giấy tờ, thường không công bằng, có doanh trại ở phía tây mà lại cấp phát từ kho phía đông, hoặc ở phía đông lại cấp từ kho phía tây, cốt để yêu sách quân nhân. Việc được giao xuống Tam ty, Tam ty tâu rằng: “Phàm cấp phát lương quân, đều do viện lương liệu dâng mẫu trước, sau đó Tam ty định kho và phân chia theo năm tháng. Nay ở phía đông thành có mười hai kho chứa gạo từ Giang, Hoài chở về nhiều nhất, phía nam thành chỉ có một kho gạo, phía tây thành có ba kho chứa cả trà, phía bắc thành có bốn kho chứa thuế trong kinh và thức ăn ngựa, chỗ chứa đã khác nhau, khó căn cứ vào việc doanh trại xa gần mà cấp phát. Từ nay các viện lương liệu nếu dám dùng cách này để yêu sách, xin trị tội nặng.” Vì thế ban chiếu này.
(Theo sách 《Bút đàm》 của Thẩm Quát chép: Triều Thái Tổ thường răn cấm binh lính, áo dài không được quá đầu gối, mua cá thịt và rượu vào cổng doanh trại đều có tội.
Lại đặt ra pháp luật thay phiên canh giữ, muốn họ quen với sự vất vả nơi núi sông, xa vợ con và nỗi nhớ quê hương. Thêm vào đó, ngày đi canh giữ bên ngoài nhiều, người người ít con, mà cơm áo dễ đủ.
Lại nữa, binh lính ở kinh thành xin lương, doanh trại ở phía đông thành thì lệnh đến kho phía tây, ở phía tây thì đến kho phía đông, lại không cho phép thuê xe cộ, đều phải tự mang vác, từng thân chinh lên cửa Hữu Dịch xem xét, chính là để họ tập luyện sức lực, kiềm chế sự kiêu ngạo lười biếng, nên quân lính cơm áo không ham muốn bên ngoài, chịu khổ nhọc mà dễ sai khiến.
Nay người dâng thư chỉ ra tệ hại của viện lương liệu khám xét giấy tờ, không biết đó là pháp luật của Thái Tổ, cần xem xét kỹ và ghi chép rõ ràng.)
[67] Ngày Nhâm Dần, ngự ở điện Sùng Chính duyệt binh lính Hổ Dực và Vũ Kị tập trận, thăng bổ có khác nhau.
[68] Ngày Bính Ngọ, kinh thành xảy ra động đất.
[69] Chiếu rằng: “Các quan tri châu quân, văn vũ thăng triều quan, mỗi năm cử một người trong số các phán quan, chủ bạ, uý đương nhiệm, người có tội nhưng không phải là tham nhũng, người có xuất thân đã qua ba kỳ khảo xét, người không có xuất thân đã qua bốn kỳ khảo xét, có thể làm huyện lệnh. Các chuyển vận sứ phó không bị hạn chế về số lượng. Người được cử đến hai người, sẽ được điều động đến các huyện lệnh gần. Khi nhiệm kỳ kết thúc mà không có tội tham nhũng, tội công tư nhẹ, không dùng hình phạt oan uổng, bắt giặc không gây phiền nhiễu, bộ sở tại sẽ tâu lên tình hình trị an, thăng lên chức mạc. Lại làm tri huyện mà không có lỗi lầm[20], hoặc có tội nhưng tình tiết công tư nhẹ, chức nghiệp càng tu dưỡng, khi thay về sẽ được dẫn vào triều đối, đặc cách thăng làm kinh quan. Vẫn theo từng nhiệm kỳ mà được miễn tuyển, nộp thóc và người lưu ngoại vào làm lệnh, đều tăng thêm số lượng khảo xét và cử.”
Trước đó, Lưu nội tuyển dẫn các tuyển nhân vào triều từ biệt, có người già yếu được bổ làm huyện lệnh, Vua nói với các tể thần: “Chức vụ huyện lệnh, có dân có xã, mọi việc hình chính nặng nhẹ trong một huyện đều được tự quyết, nếu không phải là người thích hợp, tác hại sẽ không nhỏ, dù là vùng xa xôi hẻo lánh, càng phải chọn người để tuyên dương đức ý của triều đình. Những người này đều già yếu, cho họ cai trị dân chắc chắn sẽ có tệ tham nhũng và yếu đuối.” Khi ấy có người dâng lời xin được cử người để bổ sung làm huyện lệnh, nên ban chiếu này.
(Vua nói như vậy, theo 《Trương Đường Anh chính yếu》, cần xem xét thêm.)
[70] Ngày Đinh Mùi, chiếu cho các chế trí phát vận sứ của Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ khi tấu kế về kinh sư, không được dùng thổ vật để biếu các quan chức quan trọng gần gũi. Trước đó, Chung Ly Cẩn nhân việc tấu kế đã chở nhiều hoa lạ đá quý dâng vào cung cấm, và hối lộ các quyền quý. Điện trung thị ngự sử Cúc Vịnh, Hữu ty gián Lưu Tùy đều hặc tội Cẩn, Vịnh xin giao cho Ngự sử đài xét xử, Vua trực tiếp dụ Cẩn phải trở về bộ cũ, sau đó lại ban thêm các điều ước.
[71] Xu mật viện tâu rằng: “Ngự Mã trực Vu Vinh bán áo tía tự may, mà Khai Phong phủ lại định tội theo pháp vật quân hiệu, xin giao cho quan pháp nghị xét.” Thẩm hình viện tâu rằng: “Áo tía là do Vinh tự may, không phải do quan cấp, khó có thể định tội theo pháp vật quân hiệu.” Bèn hạ chiếu rằng: “Từ nay, các quân ban mua bán pháp vật quân hiệu do quan cấp, sẽ bị xử theo tội vi chế, còn lại sẽ xử theo tội bất ưng làm, xử nặng.”
[72] Ngày Nhâm Tý, phục chức Cấp sự trung, Tri Vĩnh Hưng quân Lý Tư làm Xu mật trực học sĩ. Con em nhà quyền quý ở Vĩnh Hưng phần nhiều ỷ thế ấm mà làm càn, Tư đều đánh trượng, trong cõi được yên ổn.
[73] Nội điện sùng ban, Đái ngự khí giới Hạ Nguyên Chính làm Cáp môn tuyên sự xá nhân. Nguyên Chính ban đầu tự tiến cử võ nghệ, được triệu kiến, chiếu cho thi bắn cưỡi ngựa, được thăng làm Đái ngự khí giới, sau đó vì cha là Hạ Thủ Uân đang nắm quân cấm, nên đổi mệnh.
[74] Người man ở Hạ Khê châu là Bành Sĩ Đoan, Bành Sĩ Hi đến cống phương vật.
[75] Ngày Quý Sửu, các châu quân ở Hà Bắc phần nhiều do võ thần làm tri châu, mà các quan mạc chức lại có người xuất thân từ kinh học, việc xét án phần nhiều không thông. Chiếu rằng: “Từ nay, lệnh cho Lại bộ lưu nội thuyên chọn những người đã từng được tiến cử để bổ nhiệm.”[21]
[76] Lưu nội tuyển tâu: “Những người mới nhậm chức chưa được xin thi thư phán bạt tuệ, phải trải qua bốn khóa trở lên mới được nộp đơn. Những người đang tại chức ở vùng biên giới như Xuyên, Quảng, Phúc Kiến và những người đang được thuyên ty đề nghị điều chuyển, đều phải đợi khi trở về mới được nộp đơn, trước hết phải nộp bản án đã xét, xếp thành ba loại rồi tâu lên. Xin giao cho hai chế cử quan khác khảo định.”
Chiếu rằng: “Những người đã làm quan ba khóa trở lên mới được nộp đơn. Xem xét bản án, chia làm ba loại, chỉ giao cho quan phán thuyên. Còn lại theo đó.”
[77] Tháng 11, ngày Ất Mão, người man ở Kiềm Châu, Thư Diên man đến cống phương vật.
[78] Ngày Canh Thân, ban chiếu rằng: “Từ nay, các quan trong triều đình theo chiếu chỉ tháng 7 năm Cảnh Đức thứ 4, nếu đã chuyển chức trước khi đến kinh đô và đủ 3 năm thì được xét duyệt, chưa đủ thì phải đợi 4 năm. Những người nhậm chức ở Quảng Nam, Tứ Xuyên đủ 3 năm, cho phép nộp thành tích lên Viện Thẩm quan.”
[79] Ngày Quý Hợi, Đông chí, Vua dẫn trăm quan lên điện Hội Khánh chúc thọ Thái hậu, rồi ngự ở điện Thiên An nhận triều. Hiệu lý Bí các Phạm Trọng Yêm dâng sớ nói: “Thiên tử có đạo thờ cha mẹ, không có lễ làm tôi; có ngôi vị quay mặt về nam, không có nghi thức quay mặt về bắc. Nếu phụng thờ cha mẹ trong cung, hành lễ nhà là được; nay lại cùng đứng chung với trăm quan, làm tổn thể thống của Vua, giảm uy quyền của chủ, không thể làm khuôn mẫu cho đời sau.” Sớ dâng lên, không được trả lời.
Yến Thù trước đây tiến cử Trọng Yêm làm chức quán, nghe việc này rất sợ, gọi Trọng Yêm đến, trách rằng sao dám ngông cuồng cầu danh và làm liên lụy đến người tiến cử. Trọng Yêm nghiêm mặt đáp: “Trọng Yêm nhục nhã vì được ngài tiến cử, luôn sợ không xứng đáng, làm xấu hổ cho người biết mình. Không ngờ hôm nay lại vì trung trực mà mắc tội với ngài.” Thù không trả lời được. Trọng Yêm lui ra, lại viết thư gửi Thù, biện minh cho lời tấu trước, không chịu khuất phục, Thù cuối cùng phải xấu hổ xin lỗi.
Lại dâng sớ xin Thái hậu trả lại chính quyền, cũng không được trả lời, bèn xin ra ngoài làm quan. Ít lâu sau, được bổ làm Thông phán phủ Hà Trung.
(Âu Dương Tu làm bia thần đạo cho Trọng Yêm, nói rằng Thái hậu định đến ngày hôm ấy họp lớn ở điện trước, Vua dẫn trăm quan chúc thọ, Trọng Yêm can ngăn, việc ấy bèn thôi.
Xét sớ của Trọng Yêm dâng lên không được trả lời, việc chúc thọ ở điện Hội Khánh vẫn diễn ra, không hề dừng, có lẽ Tu cho rằng chỉ ở điện tiện chứ không ở điện trước, là nghe lời Trọng Yêm chăng? Nhưng việc bày biện ở điện tiện thực ra do Vương Tăng tấu xin, không phải do Trọng Yêm, Tu nhầm, nay không theo.
Phú Bật làm bia mộ cho Trọng Yêm, cũng nói rằng sớ dâng lên, bèn bãi bỏ nghi thức chúc thọ. Sau đó Vua không vui, ít lâu sau, Trọng Yêm ra làm Thông phán phủ Hà Trung. Bật cũng nhầm. Nay chỉ chép việc ông ra làm Thông phán phủ Hà Trung, phụ chép ở đây.
Sư Văn Oánh cho rằng lúc ấy Trọng Yêm đang làm Hữu ty gián, Thái hậu sai trung sứ bảo đừng nói, điều này sai, nay không theo.)
[80] Ngày Canh Ngọ, ban chiếu rằng những người dân cô độc, ốm đau trong thiên hạ, nơi nào có thì phải cấp thuốc men và thăm hỏi.
[81] Chiếu rằng: “Những ruộng bỏ hoang trên 10 năm, cho phép trong vòng 100 ngày được trở lại làm ăn và miễn thuế má, phu dịch. Sau 5 năm, sẽ giảm 8/10 thuế cũ. Hết hạn mà không trở về, người khác xin làm thì cũng được như vậy.”
[82] Có người dâng thư nói rằng năm nay ở phủ Khai Phong có hơn 1900 người dự thi tiến sĩ, phần nhiều là giả mạo hộ tịch, xin định ra điều lệ.
Ngày Quý Dậu, ban chiếu: “Những cử nhân có hộ tịch ở phủ Khai Phong trên 7 năm và không ở nơi khác, thì được dự thi. Dù không có hộ tịch, cũng chưa từng đăng ký ở châu khác, trước hết phải nộp đơn ở nơi thuộc quyền để xét thực tế, mời 2 quan triều đình ở kinh đô bảo lãnh, nếu vi phạm thì quan bảo lãnh bị xử theo tội vi chế. Những người ở châu khác gửi thi, đều phải trở về nguyên quán, được tính điểm thi cũ. Nếu hối lộ để giả mạo quê quán 3 đời, thì bị xử theo tội vi chế thất, không được dùng ân xá để chuộc tội.”
[83] Ngày Bính Tý, ban chiếu rằng những quan ở Quảng Nam, Phúc Kiến đang để tang cha mẹ mà chưa có người thay thế, vẫn đang tại chức thì được tiếp tục lĩnh bổng lộc.
[84] Người Man ở châu Tú là Hướng Quang Tự sai sứ đến cống vật địa phương.
[85] Ngày Canh Thìn, ban tiền cho binh sĩ sửa thành ở châu Mạc, quân Thuận An.
[86] Ngày Quý Mùi, ban chiếu rằng những dân bắn cung ở Thiểm Tây đã bị bắt lính mà bỏ trốn, cho phép gia đình tạm thời cử con em trai trẻ khỏe thay thế, quá 3 tháng không ra trình diện thì bắt con em đó đi lính thay.
[87] Tháng đó, ban chiếu từ nay mỗi khi gặp lễ Nam Giao, sẽ bổ nhiệm một người cháu đời sau của Chu Thế Tông vào hàng quan lại. (Theo bản chí, cần xem xét thêm).
[88] Tháng 12, ngày Đinh Hợi, ban tiền cho binh sĩ sửa thành ở quân Vĩnh Tĩnh.
[89] Ngày Canh Dần, lấy Tri chế cáo Lý Trọng Dung làm Phán Lễ bộ. Theo lệ cũ, các bài sách luận của ba khoa Mậu tài dị đẳng, Cao đạo khâu viên, Trầm luân thảo trạch trước tiên giao cho Lễ bộ khảo hạch rồi tâu lên[22], sau đó mới được triệu đến thi.
Lúc đó, Trực sử quán Khang Hiếu Cơ làm Phán Lễ bộ, định rằng Phú Bật cùng mười người khác đều có từ lý xuất sắc, nhưng Vua cho rằng việc đánh giá chưa tinh tế, nên đổi lệnh cho Trọng Dung, còn Hiếu Cơ làm Đồng phán, lại lấy bài sách luận của Bật và những người khác để kiểm tra lại.
Bật là người Hà Nam.
[90] Ngày Đinh Dậu, xuống chiếu rằng những kẻ ở Hà Bắc trộm phá đê điền, theo luật trộm phá đê phòng, nếu tái phạm thì đưa đến các châu quân Hà Nam để biên quản.
[91] Ngày Canh Tý, xuống chiếu cho Trung thư, từ nay các bản cáo từ của quan triều trở lên, phải chép riêng một bản dâng lên cấm trung.
[92] Ngày Ất Tỵ, ban tiền cho binh sĩ tu sửa thành ở Châu Thâm, Châu Hình.
[93] Ngày Kỷ Dậu, nước Khiết Đan phái Phụng quốc quân Tiết độ sứ Gia Luật Cao, Sùng lộc Thiếu khanh Hàn Tri Bạch đến chúc mừng ngày Chính đán của Hoàng thái hậu.
[94] Ngày Canh Tuất, phái Trung hưng quân Tiết độ sứ Gia Luật Ỷ, Tân châu Phòng ngự sứ Hàn Chiêu Nhất đến chúc mừng ngày Chính đán.
[95] Ngày Tân Hợi, lấy Tả ty gián, Long đồ các đãi chế Khổng Đạo Phụ làm Tri châu Vận Châu, vì tội xét xử việc hình ngục không đúng. Khi Tào Lợi Dụng chưa bị hại, Đạo Phụ từng nói: “Lợi Dụng và Thượng ngự dược La Sùng Huân lộng quyền, nên sớm trừ bỏ để làm trong sạch triều đình.” Đứng đối đáp một lúc, Thái hậu đồng ý lời ấy, bèn lui ra. Lợi Dụng sau bị khiển trách chết, còn Sùng Huân vẫn còn tại chức.
(Bản truyện nói Đạo Phụ được bổ làm Tả chánh ngôn, ngày nhận mệnh, tấu rằng Xu mật sứ Tào Lợi Dụng và Thượng ngự dược La Sùng Huân lộng quyền, nên sớm trừ bỏ để làm trong sạch triều đình. Đứng đối đáp một lúc[23], Thái hậu đồng ý lời ấy, bèn lui ra.
Xét Đạo Phụ làm Tả chánh ngôn vào tháng 8 năm Thiên Thánh thứ nhất, lúc đó Lợi Dụng và Sùng Huân còn chưa lộ rõ sự kiêu ngạo, Đạo Phụ chắc không thể ngay ngày nhận mệnh đã tấu về hai người này. Đến tháng 12 năm thứ 5, thăng làm Tả ty gián, có thể mới tấu được. Nhưng cách lúc Lợi Dụng bị biếm còn hơn một năm, vội nói Thái hậu đồng ý lời ấy, cũng là sai.
Hơn nữa, Lợi Dụng không nên cùng Sùng Huân bị tấu chung, hoặc nếu Đạo Phụ quả có tấu chung hai người, cũng chắc không phải ngay ngày nhận mệnh. Truyện chắc là sai. Nay lược sửa chút, ghi sau việc Đạo Phụ làm Tri châu Vận Châu. Đạo Phụ ra ngoài giữ chức, chắc cũng vì tấu về Sùng Huân, nên xét lại.)
[96] Trước đó, có mười mấy người vượt sông Hoàng Hà bị bắt giam ở ngục Vận Châu, quan lại nói tội đáng đi đày, Đạo Phụ đều tha, nói rằng: “Trước kia sông Hoàng Hà vỡ đê ở Nam Yến, tràn đến Vận, nên có lệnh cấm. Nay sông đã trở lại dòng cũ, thành sông khô, cấm làm gì nữa.”
(Điều này theo phụ truyện, chánh truyện đã bỏ.)
[97] Vùng Hà Sóc bị nạn lụt, triều đình cho rằng dân chúng mệt mỏi không thể chịu đựng được việc bắt phu, nên đê Vương Sở chưa được đắp. Đô đại tuần hộ đê Thiền, Hoạt là Cao Kế Mật xin từ đê Ngôi Cố ở Thiền Châu nối xuống phía đông bắc đê lớn, đắp đê Dao ở chỗ đất cao để phòng ngự. Thị ngự sử Cao Biện lại xin ở phía tây Thiền Châu chia dòng hai con sông để giảm bớt thế nước.
Ngày Nhâm Tý, sai Long Đồ các đãi chế Hàn Ức, Tả tàng khố sứ Diêm Văn Ứng đến Hà Bắc cùng Chuyển vận sứ xem xét việc này.
[98] Chiếu rằng: “Từ nay, Trung thư chuyển bổ các chức danh từ Lục sự trở lên, không cần theo thứ tự, mà chọn người liêm khiết, cẩn thận, có hạnh kiểm, hiểu rõ công việc để bổ nhiệm. Vẫn triệu hai người có chức danh gần trên để bảo lãnh, nếu phạm tội tham nhũng, sẽ bị liên đới chịu tội.”
[99] Trước đó, Khai Phong phủ giới đề điểm chư huyện công sự Trương Ứng Vật tâu: “Các huyện làm nghề nấu rượu, phần nhiều do hào dân mua độc quyền, thu lợi lớn. Từ nay xin cử quan giám sát, và giao cho Tam ty bảo cử.” Triều đình nghe theo, đó là năm Thiên Hi thứ 4. Đến năm Càn Hưng thì bỏ việc cử quan, năm Thiên Thánh thứ 4, Ứng Vật lại xin, bèn chiếu theo lệ trước mà cử quan.
Năm này, có người dâng thư nói: “Các huyện thuế khoá phần nhiều bị thiếu hụt, vì các quan giám sát đều do bảo cử, nên thường che giấu không nói. Từ nay xin chỉ giao cho Thẩm quan, Tam ban viện cử người giám sát.” Từ đó bỏ chế độ cử quan ở phủ giới.
[100] Thiên hạ dâng báo Hộ bộ: chủ hộ 6.009.896, khẩu 20.031.926; khách hộ 4.552.793, khẩu 6.022.312.
- 'Cạnh vi phù khoa mĩ man chi văn', chữ 'man' 「曼」 nguyên bản là 'man' 「蔓」, căn cứ theo 《Tống bản》, 《Tống toát yếu bản》 và 《Tống sử toàn văn》 quyển 7 thượng, 《Trị tích thống loại》 quyển 28 《Tổ tông khoa cử thủ nhân》 sửa lại. ↵
- 'Mệnh quan san định biên sắc nghị giả dĩ đường lệnh hữu dữ bổn triều sự dị giả diệc mệnh quan tu định', 19 chữ 'San định biên sắc, nghị giả dĩ đường lệnh hữu dữ bổn triều sự dị giả, diệc mệnh quan' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 32 San định biên sắc bổ sung. Xem thêm 《Tống hội yếu》 Hình pháp 1 chi 4. ↵
- Sáu lần tế giao mà chưa được bổ dụng con cháu và hiện không có bổng lộc, chữ 'giả' nguyên bản thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản bổ sung. ↵
- Tây Xuyên nguyên bản chép là 'Tứ Xuyên', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản và Tống hội yếu chức quan 47-7 sửa lại. ↵
- chữ 'sung' (bổ nhiệm) nguyên bản thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống hội yếu chức quan 47-8 bổ sung. ↵
- Chiếu thư năm Tường Phù thứ 7 ban vào ngày Mậu Dần tháng 3, xem sách này quyển 82, chiếu thư được ghi vào ngày Mậu Dần tháng 2 năm Đại Trung Tường Phù thứ 7. Nguyên chú có lẽ nhầm. ↵
- Vị trí ở trên các chức Đồng phán của các châu, 'Đồng phán' nguyên là 'Ty phán', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác sửa lại. ↵
- 'Nếu đã chấp nhận, ắt phải' bốn chữ này nguyên bản thiếu, căn cứ theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 32, sự kiện cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng bị hỏa hoạn mà bổ sung. ↵
- 'Thưởng phạt không công bằng mà gây nên' chữ 'sở' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 đã dẫn mà bổ sung. ↵
- 'Chỉ' bày biện ở điện khác, chữ 'chỉ' trong 《Tống sử》 quyển 310, 《Vương Tăng truyện》 và 《Tục thông giám》 quyển 37 đều chép là 'chỉ'. ↵
- 'Bị bãi chức tể tướng', chữ 'tướng' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Biên niên cương mục》 quyển 9, 《Biên niên lục》 quyển 4 bổ sung. ↵
- chỗ thấp dời lên chỗ cao, chữ 'dời' nguyên là 'trắc', theo bản khác sửa ↵
- Tri Quang châu, Tả lĩnh quân vệ Đại tướng quân Thạch Phổ bị giáng làm Tả giám môn vệ suất phủ phó suất, ba chữ 'phủ phó suất' nguyên bản thiếu, theo 《Tống hội yếu》 chức quan 64-30, 《Tống sử》 quyển 324 bản truyện bổ sung ↵
- Tri cung Lý Tri Tổn vẫn bị biên chế quản lý ở Trần Châu: chữ 'Nhưng' nguyên bản là 'Nãi', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 32 về việc cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng bị cháy mà sửa lại. ↵
- Đổng Trọng Thư cho rằng miếu Cao không nên ở Liêu Đông: chữ 'vi' nguyên bản thiếu, theo sách trên và 《Tống sử toàn văn》 quyển 7 thượng mà bổ sung. ↵
- Hữu ty gián Phạm Phúng: 'Hữu ty gián' nguyên bản là 'Tả ty gián', theo sách trên và 《Biên niên cương mục》 quyển 9, 《Tống sử》 quyển 304 bản truyện mà sửa lại. ↵
- 'Chiêu tuyên sứ' nguyên bản chép là 'Chiêu hoàng sứ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản và 《Tống hội yếu》 Nghi chế 3-14 sửa lại. ↵
- 'Tác' nguyên bản chép là 'Tại', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tống hội yếu》 đã dẫn sửa lại. ↵
- Chữ 'tận' nguyên bản là 'thư', theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 32 sửa lại. ↵
- Lại làm tri huyện mà không có lỗi lầm, chữ 'lại' nguyên là 'có', theo các bản khác sửa lại. ↵
- Chữ 'Chiếu' nguyên bản thiếu, căn cứ vào văn bản mà bổ sung. Theo 《Tống hội yếu》 chức quan 48-8 ghi: 'Chiếu Lại bộ thuyên tuyển chú.' ↵
- 'Lễ bộ' nguyên bản viết là 'Lại bộ', theo bản Tống, Tống toát yếu và Tống hội yếu tuyển cử 10-18, Trị tích thống loại quyển 27 Tổ tông chế khoa thủ nhân sửa lại. ↵
- 'Khắc' nguyên là 'thời', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản sửa. ↵