IV. TỐNG NHÂN TÔNG
QUYỂN 114: NĂM CẢNH HỮU THỨ NHẤT (GIÁP TUẤT, 1034)
Từ năm Cảnh Hữu thứ nhất đời Nhân Tông đến hết tháng 6 nhuận cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Giáp Tý, sai sứ đốc thúc việc vận chuyển gạo từ Giang, Hoài để cứu đói dân chúng ở Kinh Đông.
[2] Cho phép Kinh Triệu phủ lập trường học, ban tặng bộ Cửu Kinh và cấp 5 khoảnh ruộng.
[3] Ngày Bính Dần, xuống chiếu cho các huyện thuộc phủ Khai Phong nấu cháo để cứu đói dân chúng, các châu quân bị thiên tai ở các lộ cũng làm theo.
[4] Sai Long Đồ các đãi chế Yến Túc và Thiên Chương các đãi chế Trương Tông Tượng cùng Tam ty xem xét và tâu lên những lợi hại trong việc quản lý kho tàng ở kinh đô. Lúc này, kho tàng tích trữ nhiều vật phẩm, lại có nhiều quan lại tham nhũng.
[5] Ngày Mậu Thìn, xuống chiếu cho Tam ty đúc tiền “Cảnh Hữu Nguyên Bảo”.
[6] Ngày Canh Ngọ, Cấp sự trung, Tập Hiền viện học sĩ Lý Trọng Dung tạm quản công việc ở Ngự sử đài và Lý Kiểm viện. Lúc này, Xu mật trực học sĩ, Hữu Gián nghị đại phu, Tri Ích châu Hàn Ức được bổ làm Trung thừa nhưng chưa đến nhậm chức, còn Tri tạp Ngự sử thì đi sứ.
[7] Việc lao dịch của dân chúng rất nặng nề, từ Lý chính sau khi mãn nhiệm kỳ phải làm Nha tiền, quản lý kho tàng của phủ, hoặc vận chuyển vật phẩm của quan, thường dẫn đến phá sản. Có những gia đình nhiều đời chung sống, vì trốn tránh lao dịch mà phải chia tách. Do đó, Trung thư bàn định muốn nới lỏng pháp luật. Ngày Quý Dậu, sai Long Đồ các đãi chế Yến Túc và Thiên Chương các đãi chế Trương Tông Tượng cùng Tam ty bàn bạc, rồi xin các lộ Xuyên, Hạp, Mân, Quảng, Ngô, Việt vẫn theo chế độ cũ, còn các lộ khác thì tuyển người có hộ tịch làm Nha tiền, sau ba kỳ, nếu tội không đến mức đi đày, thì bổ làm quân tướng của Tam ty, không còn sai phái người ở hương huyện nữa. Chiếu theo lời tâu mà thi hành.
(Việc này căn cứ vào bản chí liên thư, còn Thực lục ghi vào ngày Bính Ngọ tháng 2.)
[8] Ngày Giáp Tuất, ban chiếu rằng: “Thiên hạ đã hưởng thái bình lâu ngày, bốn phương dân tộc hòa thuận quy phụ, binh đao không dùng đến. Nhưng biên giới chưa bãi bỏ cảnh giác, quân đồn trú vẫn còn nhiều, dân chúng theo quân ngũ đông, mà làm ruộng ít, sự giàu có chưa đạt được, có lẽ vì lẽ đó. Các đại thần chấp chính hãy bàn bạc cải cách chế độ, làm sao để binh lính và nông dân đều có lợi cho thiên hạ, làm khuôn mẫu cho đời sau, liệt kê từng điều rồi tâu lên.”
[9] Hà Bắc chuyển vận sứ, Hình bộ viên ngoại lang Vương Duyên đến triều đình tâu việc, dâng lên bộ sách 《Xuân Thu Tập Truyền》 gồm 15 quyển, lại dâng thư bàn việc thời sự dựa theo 《Xuân Thu》, được lệnh vào làm việc ở Chiêu Văn quán.
Vương Duyên lại tâu: “Các châu Hoài, Vệ, Từ, Tương đều có nguồn nước, có thể đào dẫn để tưới ruộng dân. Xin dùng cựu lệnh huyện Hoạch Gia là Tây Môn Hoạn và tân tri huyện Tướng Lăng là Vương Lương đi khảo sát các châu để quy hoạch.” Chiếu chuẩn y. Lại xin đem đất chăn nuôi ngựa ở hai giám Quảng Bình, Minh Châu cấp cho dân, mỗi mẫu bắt quan chăn nuôi nộp 2 đấu thóc, chiếu giao Tam ty và Quần mục ty bàn bạc rồi tâu lên.
[10] Chiếu cho các huyện bị thiên tai tạm ngừng làm sổ đinh điền, đợi năm được mùa lại làm như cũ.
[11] Ban tên Bảo Thắng cho ngôi chùa do Tả nhai tăng lục Trọng Tuân tu sửa. Trước đây, cho Trọng Tuân xây tháp, đến nay bãi bỏ.
[12] Ngày Đinh Sửu, lệnh cho Hàn lâm học sĩ Chương Đắc Tượng cùng 4 người khác tạm quyền coi việc thi cử.
[13] Ngày Mậu Dần, chiếu cho các quan chức mạc phủ, châu huyện nhậm chức ở lộ Xuyên Hạp được phép đưa gia đình đi theo, quan kinh triều nếu không có thân thuộc nương tựa cũng được như vậy.
[14] Ngày Kỷ Mão, lệnh cho Hàn lâm học sĩ Thạch Trung Lập, Trương Quán tạm quyền soạn chế từ ở Xá nhân viện, vì các tri chế cáo Trịnh Hướng, Tư Yển, Lý Thục đều tạm quyền làm phó chủ khảo.
[15] Chiếu rằng: “Năm ngoái, chỗ nào châu chấu bay đến đều để lại trứng, sợ rằng mùa xuân hè sẽ sinh sôi. Nay ra lệnh cho dân đào trứng châu chấu, mỗi một thăng được cấp năm đấu đậu và gạo[1].”
Sau đó, các châu báo cáo thu được hơn một vạn thạch trứng châu chấu. Lại có chiếu rằng: “Trước đây cấm lúa gạo trong kinh thành mang ra ngoài, nay hãy bỏ lệnh đó, các lộ Giang, Hoài, Lưỡng Chiết không được ngăn cấm mua bán lúa gạo, và cho vay giống lúa và lương thực cho dân nghèo Hoài Nam[2].”
[16] Ngày Nhâm Ngọ, lấy Thái thường bác sĩ Đằng Tông Lượng làm Tả chánh ngôn. Tông Lượng trước đây cùng Lưu Việt dâng sớ lên Trang Hiến thái hậu, xin trả lại chính quyền.
[17] Ngày Quý Mùi, chiếu rằng: “Trẫm nghĩ rằng sĩ tử trong thiên hạ ngày càng nhiều, nhưng đường tiến thân vẫn còn hẹp, có người phải sống lẩn khuất nơi thôn dã[3], đến già vẫn không được tiến thân. Nay ra lệnh cho Nam tỉnh tổ chức thi tiến sĩ và các khoa, lấy hai phần mười. Tiến sĩ năm lần thi, năm mươi tuổi; các khoa sáu lần thi, sáu mươi tuổi; đã từng qua thi điện tiến sĩ ba lần, các khoa năm lần, và đã từng dự thi triều đình trước đây, dù bài thi không đạt chuẩn, cũng không được đuổi về, đều phải báo danh lên.”
Từ đó về sau, lệ này trở thành thường lệ.
(‘Bản kỷ’ chép rằng những người được đặc cách tấu danh, căn cứ vào số lần thi và tuổi tác, so với quy định cũ có phần ưu đãi hơn, và trở thành thường lệ, điều này căn cứ theo ‘Bản chí’.)
[18] Ngày Giáp Thân, chiếu rằng: “Các châu quân, đô tri binh mã sứ hết nhiệm kỳ, từ nay hãy bổ nhiệm làm quyền Trưởng sử, Tư mã ba năm, rồi mới được vào hàng quan.”
[19] Vì Hoài Nam năm đó mất mùa, xuất hai mươi vạn tấm lụa từ kho nội phủ giao cho Tam ty, thay cho thuế năm đó.
[20] Trung thư tâu: “Các quan kinh triều đang giữ chức vụ, đều cho phép khảo xét sau ba năm. Những người đang làm việc ở Tây Xuyên, Quảng Nam đến kỳ khảo xét, cho phép nộp bản kê khai lịch sử nhiệm chức tại Viện Thẩm quan trước hai ba tháng. Những người vì việc thay đổi chức vụ hoặc từng bị giáng chức, đều phải đủ bốn năm.” Vua nghe theo.
[21] Ngày Ất Dậu, xuống chiếu cho các Ty Chuyển vận Kinh Đông Tây, Thiểm Tây, chọn quan đi xem xét các nơi có nguồn nước có thể dẫn tưới ruộng dân, rồi tâu lên, theo lời bàn của Vương Duyên.
[22] Ngày Bính Tuất, Trung thư tâu, các quan Đề điểm hình ngục là triều thần, sứ thần ở các lộ, đều theo chế độ cũ, cấp giấy ấn ngự tiền để ghi chép thành tích, Vua nghe theo.
[23] Ngày Đinh Hợi, quần thần dâng biểu xin nghe nhạc, dâng biểu năm lần, cuối cùng Vua không nghe.
[24] Bắt đầu đặt chức Sùng Chính điện thuyết thư[4], lấy Đô quan viên ngoại lang Giả Xương Triều, Đồn điền viên ngoại lang Triệu Hi Ngôn, Thái thường bác sĩ kiêm Kiểm thảo Sùng Văn viện Vương Tông Đạo, Quốc tử bác sĩ Dương An Quốc làm chức này, mỗi ngày hai người vào cung giảng giải.
Trước đây, Tôn Thích ra làm Tri Duyện Châu, Vua hỏi Thích ai có thể thay thế giảng giải, Thích tiến cử Xương Triều, bèn sai Trung thư thử giảng. Đến đây, đặc biệt đặt chức này để bổ nhiệm họ[5]. Ba năm sau, mới thăng làm Thiên Chương các thị giảng. Tháng 3 năm thứ 4.
[25] Ngày Kỷ Sửu, xuống chiếu đặt trường ở các cửa thành, cấp gạo cho dân nghèo, mỗi ngày một thăng.
[26] Ngày Canh Dần, cho phép các châu nha tiền và người không có ân huệ được mua bán rượu công.
[27] Tạm ngừng thu tiền thượng cung của Hoài Nam một năm.
[28] Đổi tên điện Kế Chiếu thành điện Kế Thánh.
[29] Tháng đó, Triệu Nguyên Hạo bắt đầu xâm phạm Phủ Châu.
[30] Tháng 2, ngày Nhâm Thìn (mùng một), lấy Long Đồ các Trực học sĩ, Hữu Gián nghị đại phu, quyền Tam ty sứ sự Phạm Phúng làm Long Đồ các học sĩ.
[31] Tạm ngừng việc trồng muối ở trì muối Giải Châu trong ba năm, vì lượng muối dự trữ ở trì này đủ dùng trong mười năm.
[32] Đổi quân Tuyên Đức thành quân Chiêu Khánh.
[33] Ngày Quý Tỵ, xuống chiếu cho Tam ty rằng: Vật dụng quan phủ trong thiên hạ tích trữ quá nhiều, mà hàng năm cung cấp sổ sách rất phiền phức, nên giao cho quan chức biến đổi, nếu có thể cung cấp lên trên thì đều chở về kinh sư.
[34] Lại xuống chiếu cho phủ Khai Phong xuất thóc từ kho Thường Bình để cho vay các hộ từ trung đẳng trở xuống, mỗi hộ một hộc.
[35] Ngày Giáp Ngọ, xuống chiếu cho học sĩ điện Tư Chính Tiết Khuê đứng trên hàng Hàn lâm học sĩ thừa chỉ.
[36] Ngày Ất Mùi, bãi bỏ khoa Thư phán Bạt tụy, không còn thi cử trực tiếp. Từ nay, các chức mạc chức, quan châu huyện đã qua ba kỳ khảo xét trở lên, nếu không phải là người ở vùng biên giới hoặc các vùng Xuyên, Quảng, Phúc Kiến, đều được phép ứng thi các khoa Hiền lương Phương chính, Năng trực ngôn Cực gián, v.v. (sáu khoa).
Các quan kinh triều đến chức Thái thường bác sĩ, cùng các tiến sĩ, các khoa đã thi đỗ nhưng bị đánh trượt, không được phép ứng thi các khoa Mậu tài Dị đẳng (ba khoa) và Võ cử.
Đây là theo đề nghị của Tri chế cáo Lý Thục.
Thục từng dâng lên mười điều nghị luận về thời chính, trong đó điều thứ nhất bàn về quốc thể, nói rằng: “Bệ hạ kế thừa ngôi vị của ba đời Vua trước, nên để lại phép tắc cho trăm đời sau, nhưng lại lo sợ rằng sự nhu nhược kéo dài sẽ khiến không thể tự chấn hưng. Sau niên hiệu Thiên Hi, Trang Hiến âm thầm giúp việc trị nước, cho đến khi lâm chung. Đến khi Bệ hạ kế vị, trong mười năm, chính sự xuất phát từ hậu cung, nội thị buông thả, con đường tà ác nảy nở. Thiên mệnh đã mở ra, con đường vương đạo được chỉnh đốn lại, đuổi hết kẻ gian tà, sáng tỏ quy chế; nhưng sao kinh không theo thứ tự, khí lành vẫn uất ức, có lẽ là ý trời muốn Bệ hạ tỉnh ngộ từ những việc ban đầu.
Nay tai họa liên tiếp, thuế má có hạn, mà chi tiêu không đủ; ban thưởng bừa bãi, quan lại ngày càng nhiều, mà sự phân biệt chưa đến nơi. Những người làm quan thì thủ thường, không lo việc lớn, kẻ cầu tiến thì lấy việc đạt được mục đích làm giới hạn, không ngại gian dối. Cận thần ra ngoài nhậm chức, có người cố từ chối rồi bị bãi chức. Tiến cử không đạt nguyện vọng, hoặc không nhận ngay, có người chỉ qua một đêm đã thay đổi. Có kẻ dâng sớ xin chức cao, có kẻ giả dối để mưu cầu tước vương. Khi nhậm chức thì khoa trương, khi dâng lời thì công kích, thường dùng mưu trí giả dối, không sợ bị chê cười, kiêu ngạo tham lam, rất không hợp với đạo công.
Thần mong Bệ hạ một khi ban bố hiệu lệnh thì phải chắc chắn đúng đắn, một khi bổ nhiệm chức vụ thì không thay đổi nữa. Còn như quốc dụng chưa đủ, quan lại bừa bãi chưa phân biệt, binh lính nhũng nhiễu, ngựa mệt mỏi, ban thưởng quá mức, chi tiêu phung phí, xin Bệ hạ sai cận thần biết rõ thể chế trị nước, căn cứ vào số thu chi của ba triều mà tiết kiệm, đó là biện pháp phòng ngừa từ nhỏ và kiểm soát gốc rễ vậy.”
Thứ hai, bàn về thiên tai hạn hán, nói: “Những năm gần đây, nắng hạn hoành hành, dân chúng lâm vào cảnh khốn khó, mùa màng không được thuận lợi. 《Hồng Phạm Ngũ Hành》 nói: ‘Tiếm, thường dương nhược.’ Ý nói rằng sự tiếm vượt sẽ khiến nắng hạn kéo dài.
Lại nói: ‘Thổ viên giá sắc.’ Đất đối với con người, tính chất của nó là tín, công việc của nó là suy nghĩ. Khi nó gặp tai họa thì sương mù bao phủ, khi nó gặp tai ương thì mùa màng không thành. Trời có lẽ muốn nói rằng việc ban thưởng tước vị quá mức, gần như tiếm vượt, mệnh lệnh thay đổi liên tục, không thể hiện được sự tín nhiệm.
Triều đình đối với các đại thần ở phương xa, không tiếc ban thưởng, tướng tương được phong chức cao, vượt cấp mà bổ nhiệm. Đến cả thân thích trong hoàng tộc, vượt quá cấp bậc, cung tần được truy phong, lạm dụng danh hiệu tôn quý, dưới thềm cung điện, việc thăng chức quá ưu đãi, chức vụ thường bị thăng tiến quá nhanh. Đây chẳng phải là sự tiếm vượt sao?
Lại nữa, các điều lệ thay đổi liên tục, có khi chiếu chỉ trước chưa kịp thi hành, chiếu chỉ sau đã bãi bỏ, hoặc đã ban rồi lại thu hồi, hoặc chưa ban đã dừng lại. Đây chẳng phải là mệnh lệnh không đáng tin sao?
Lại có khi sai sứ đi mở kho công để cứu tế người nghèo, nhưng xét bốn dân, người nông thì phải cày ruộng, vốn không có chuyện quốc gia phải chu cấp. Nay lương thực của quân đội và bổng lộc của quan lại, gấp trăm lần xưa, với chi phí lớn như vậy, liệu có thể chịu đựng được không?
Lại nữa, việc vận chuyển lương thực xa xôi, cứu tế không kịp, hoặc huy động dân phu chở lúa, hoặc chiêu mộ người cho vay tiền, ân huệ chưa đến được dân, dân đã bị quấy nhiễu nặng nề, chỉ là những kẻ cầu danh muốn mua chuộc lòng dân mà thôi.
Thần mong bệ hạ tu sửa việc người để ứng phó với biến cố của trời, nếu không, sức lực quốc gia sẽ cạn kiệt, mà cũng không đủ để cứu dân khỏi thiên tai.”
Điều thứ ba bàn về việc tâu trình, nói: “Bệ hạ lâm triều sáng suốt, lắng nghe và tiếp nhận lời trung trực. Tuy nhiên, những bề tôi dâng lời, phần nhiều thiên về lời lẽ cực đoan, buông lời phỉ báng, không nghĩ đến đạo lý, chỉ giả dối mưu mẹo, mưu toan làm mê hoặc thánh thượng, ý đồ tiến thân, mượn danh nghĩa ghét ác, dâng tấu chương liên tục, đòi hỏi phải được trả lời mới thôi, bán rẻ sự ngay thẳng của mình, đổ lỗi cho quân phụ, há phải là ý của Bệ hạ khi lắng nghe và tiếp nhận lời trung trực sao?
Triều trước có Lưu Ký, nhẹ dạ dâng tấu. Năm Tường Phù thứ tám, tiên đế nói với tả hữu rằng: ‘Người này lời lẽ nhiều mưu mẹo, mong muốn nhất định phải thực hiện. Nhưng không biết rằng gần với giả dối sẽ làm loạn sự thật, ý chỉ của lời nói dễ phân biệt.’ Ký từng phạm pháp nhận hối lộ, người xưa xét lời nói xem việc làm, chính là vì thế. Mong Bệ hạ mỗi khi đối đáp[6], hãy đề phòng sâu sắc những kẻ gian tà, phân biệt sự thành thật và giả dối, đừng dễ dàng tin dùng.
Giả như có người khen ai đó tốt, hoặc đại thần muốn tiến cử, nhưng ngại vì đồng liệt; hoặc đã có một chút tốt đẹp, trước hết mượn người khác làm bản lề để tự khoe khoang; hoặc từng nghe thánh thượng khen ngợi, mong được khen ngợi theo ý chỉ, mượn đó làm chỗ dựa, kết bè kết phái từ trước.
Lại có người nói ai đó không tốt, hoặc đại thần ghét, muốn họ bị đuổi đi; hoặc nghe thánh thượng khen ngợi, sắp được thăng chức, ghen ghét việc họ được tiến dụng, khéo léo vu khống; hoặc vốn mang lòng hận thù, danh tiếng đè nén mình, kết hợp với những điều nghi ngờ, ôm lòng hãm hại.
Những kẻ như vậy, gian hiểm muôn hình vạn trạng, không thể không đề phòng. Chân Tông thường nói: ‘Kẻ gian tà không có hình dạng, thật khó nhận ra. Nếu xét kẻ thích hãm hại người khác để tự tiến thân, mười phần thấy tám chín.’ Lời này rất quan trọng, mong Bệ hạ suy xét kỹ.”
Bàn về việc đại thần, điều thứ tư nói: “Việc thay đổi nhân sự hai phủ hơi nhiều, tuy có những kẻ gian tà làm tổn hại sự tin cậy của bệ hạ, nhưng cũng làm tổn thương chính sách giản dị, tĩnh lặng của bệ hạ. Đại thần là cánh tay của quốc gia, nên cần phải lựa chọn kỹ càng.
Thái Tổ định thiên hạ, dùng ba tể tướng nhà Chu đến sáu năm, sau đó mới dùng Triệu Phổ thay thế, tổng cộng mười một năm, rồi mới dùng Tiết Cư Chính và Thẩm Luân thay thế.
Thái Tông lên ngôi, chỉ có một tể tướng là Lư Đa Tốn, sau sáu năm lại dùng Triệu Phổ, trong mười tám năm sau đó, tuy thay đổi tể tướng ba bốn lần, nhưng chỉ dùng năm người là Lý Phưởng, Tống Kỳ, Lữ Mông Chính, Trương Tề Hiền và Lã Đoan. Lúc đó, người tiến cử thì tranh nhau tỏ lòng trung, người lui về thì lo sợ mà tu sửa, bởi việc thăng giáng tể tướng đều do quyết định sáng suốt của bệ hạ.
Trước thời Cảnh Đức của Chân Tông, chỉ thay đổi ba lần, chỉ có năm tể tướng là Lý Hãng, Hướng Mẫn Trung, Vương Đán, Tất Sĩ An và Khấu Chuẩn. Vương Đán giữ chức mười hai năm, tiếp theo là Hướng Mẫn Trung giữ chức lại mười năm. Hai người này tại vị, không phải không có lời dị nghị, nhưng nhờ lòng khoan dung lớn, tin dùng không ngờ vực, nên không bị quyền lực làm nặng nề.
Hơn nữa, quyền lực quá lớn thì bề tôi khó lòng giữ được lâu; lời nói dễ nghe thì kẻ tiểu nhân có thể tranh đấu lẫn nhau. Thái Tông từng nói với tể tướng: ‘Nay bốn phương yên ổn, cùng các khanh cẩn thủ phép tắc của tổ tông là việc cấp bách nhất.’ Đó là đại thể của việc ủy thác tể tướng.”
Điều thứ năm bàn về việc chọn quan, nói rằng: “Vào đầu niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc, danh sách quan lại triều đình văn võ chỉ có hai trăm người. Đến đầu niên hiệu Hàm Bình, tăng lên bốn trăm người. Năm Thiên Thánh thứ nhất, vượt quá một nghìn người. Từ năm ngoái được ban ân huệ, lại vượt quá con số thời Thiên Thánh.
Trước đây, những người được tuyển vào kinh mỗi năm chỉ vài người, có người phải qua mười mấy kỳ khảo hạch, có công lao, không phạm lỗi, được các quan gần gũi nhiều lần tiến cử nhưng cuối cùng vẫn không được thăng chức, khiến cho các địa phương xa xôi và các thành lớn đều phải dùng quan chức mạc phủ để lấp chỗ trống. Năm nay, các chức phán quan, bạ uý chỉ qua bốn kỳ khảo hạch đã được làm quan kinh, mỗi ngày có đến bốn năm người, các địa phương xa không còn chỗ trống, lại dùng người Giang Chiết bổ nhiệm, đó là do ban ân quá rộng so với trước.
Triều đình trước đây từng dụ bảo Thẩm quan viện và Lưu nội tuyển chủ phán rằng[7], nếu có người tài năng xuất chúng[8], được mọi người khen ngợi, thì bí mật tâu lên, sẽ có chỉ đặc biệt thăng chức.
Mong bệ hạ chọn các chủ phán quan của tam ty, bí mật sai điều tra, khi dẫn vào đối đáp, hãy làm theo lệ cũ của triều đình trước. Những người già yếu, hèn kém, thỉnh thoảng nên cách chức, để có sự răn đe và khuyến khích.”
Điều thứ sáu bàn về việc thi cử, nói rằng: “Trước niên hiệu Khai Bảo, mỗi năm số tiến sĩ không quá ba mươi người, số người học kinh điển không quá năm mươi người. Từ khi đánh bại nước ngụy, số quan lại càng đông, bắt đầu mở kỳ thi đình để thu nhận rộng rãi sĩ tử, Thái Tông giao việc này cho Xuân quan, từ niên hiệu Hàm Bình về sau, lại tiếp tục thi đình. Như vậy là lấy địa vị tôn quý của thiên tử mà đích thân đảm nhiệm chức vụ của Xuân quan.
Hơn nữa, việc tuyển chọn người quá rộng, lại chỉ dựa vào tài nghệ trong một ngày, chưa thể hiện hết được sở trường, việc khảo sát trong vài ngày cũng khó có thể đánh giá chính xác.
Mong bệ hạ căn cứ vào số lượng chức quan còn thiếu của Lại bộ năm nay để làm tiêu chuẩn cho năm sau, trước hết giao cho Cống viện tổ chức thi cử, sau đó giao cho hai ba vị văn học cận thần xem xét lại xem có thể chấp nhận hay không, bệ hạ cùng các quan chấp chính mở niêm phong xem danh sách, tham khảo thêm tiếng tăm và thực tài, xếp hạng theo cấp bậc. Như vậy, có thể chọn được người tài thực sự trong thiên hạ.”
Điều thứ bảy bàn về chế khoa, nói rằng: “Theo lệ cũ của Lại bộ, những người dự tuyển chưa đủ điều kiện, nếu có thể làm bài thi phán ba phần, gọi là bạt tụy. Chỉ dùng những án kiện khó và nghĩa cổ để xem họ có tài năng hay không, người văn từ hay được xếp hạng ưu đẳng và bổ nhiệm làm quan, đây là cách thức thông thường của hữu ty để đánh giá và thăng tiến người được tuyển chọn. Nhưng bệ hạ đích thân ngự tại hiên bệ, xem xét và đánh giá bài thi[9], điều này không phù hợp.
Mong bãi bỏ khoa này. Những người có tài văn chương xuất chúng, tự có thể cử vào khoa tài chí kiêm mậu, tường minh lại lý. Lại nữa, khoa mậu tài dị đẳng của Lễ bộ vốn nhằm tìm kiếm người tài xuất chúng, nhưng nghe nói những người không được tiến cử ở địa phương mới đến ứng thí. Mong thay đổi thành quy chế nghiêm ngặt hơn để loại bỏ những kẻ gian lận.”
Điều thứ tám bàn về việc duyệt binh, nói: “Theo 《Khai Bảo Thông Lễ》, có nghi thức giảng võ bốn mùa. Lúc đầu dựng nước, biên cương chưa yên, các Vua tổ thường thân chính xem xét, thử nghiệm, sắp đặt việc luyện tập bắn cung. Sau thời Thái Bình Hưng Quốc, xây đài ở Dương Thôn để chuẩn bị cho việc duyệt binh lớn.
Đầu niên hiệu Hàm Bình đời Chân Tông, lại mở trường đấu ở Đông Vũ Nguyên, điều quân đến tập bắn. Sau đó, Vua lại đến giáo trường Phi Sơn, đích thân huấn luyện, tỏ rõ không quên việc võ bị. Nay kế thừa thời thịnh trị, binh đao không dùng đến đã ba mươi năm, khiến quân sĩ trong doanh trại không còn nghe tiếng trống chiêng. Khổng Tử có nói, không dạy dân đánh trận, tức là bỏ rơi họ.
Mong bệ hạ theo 《Thông Lễ》, rèn quân giảng võ và đích thân xem xét việc luyện tập.”
Điều thứ chín bàn về thời lệnh, nói: “Theo 《Khai Nguyên Định Lễ》, có nghi thức đọc lệnh năm mùa ở Minh Đường và Thái Cực Điện. Mũ áo, đai ngọc đều theo màu sắc phương vị[10], mỗi tháng có lệnh riêng. Nếu tháng lệnh không thuận[11], thì năm tai ương ứng theo. Những năm gần đây, khí hậu rối loạn, lụt hạn không điều hòa. Có lẽ do việc hình chính của các cơ quan có chỗ trái với đạo thuận thời. Trời ứng với điềm lạ, ắt phải thay đổi và sửa sang chính sự.
Mong bệ hạ ra lệnh cho các cơ quan, bàn bạc tu chỉnh lại lễ cũ. Vào ngày khí đến, tập hợp văn võ bá quan đọc thời lệnh ở Thiên An Điện, bệ hạ ngự tọa, các quan gần gũi quỳ nghe, trên dưới cùng răn nhau, để phục hồi vẻ đẹp của lệnh hòa hợp.”
Điều thứ mười: “Từ thời Bảo Lịch nhà Đường về sau, thường vào ngày mùng một hàng tháng, Vua ngự tại điện Tử Thần để cử hành nghi lễ nhập cáp. Sau đó, dù thời Ngũ Đại loạn lạc, nghi lễ này vẫn thỉnh thoảng được duy trì. Đến thời Thánh triều ta, Thái Tổ đã năm lần cử hành nghi lễ này, phần nhiều ngự tại điện Sùng Nguyên, bày đủ các nghi trượng của điện trung và Kim Ngô, thiết lập các chức Đãi chế, Hậu đối quan. Điện Sùng Nguyên tức là điện Thiên An ngày nay.
Sau niên hiệu Càn Đức, đổi sang ngự tại điện Đại Minh, tức là điện Tập Anh ngày nay. Thái Tông ba lần cử hành nghi lễ này, định ra nghi thức mới, tại sân điện Văn Đức tăng thêm nghi trượng Hoàng Huy. Chân Tông cũng ba lần cử hành, vẽ đồ, giảng tập, cất giữ trong cấm các. Nghi lễ này đã bị bỏ hơn hai kỷ, mong nhân thời thịnh thế mà khôi phục lại.”
[37] Chiếu rằng: “Khi thi điện để chọn cử nhân, các quan khảo thí thời gian gấp gáp, phần nhiều không xem xét kỹ lưỡng. Từ nay, việc khảo sát lần đầu, phúc khảo và tường định, lấy mười ngày làm hạn.”
[38] Ngày Bính Thân, sai Long Đồ các Đãi chế Yên Túc, Thiên Chương các Đãi chế Trương Tông Tượng cùng Tam ty bàn việc lợi hại của kho Chiết Trung ở kinh đô rồi tâu lên. Ban đầu định lập kho Chiết Trung để giảm bớt việc vận chuyển lương thực từ Giang, Hoài hàng năm, nhưng có người bàn rằng nếu mua lương thực giá rẻ ở kinh đô thì giá cả sẽ tăng cao, làm hại dân, nên sai bàn kỹ lại.
[39] Tạm thời bỏ lệnh cấm khai thác vàng ở Đăng Châu, Lai Châu vì năm đó mất mùa, dân không thể tự nuôi sống.
[40] Miễn thuế hạ còn thiếu của các châu quân bị thiên tai trên lộ Ích Châu.
[41] Chiếu cho Ty Chuyển vận Hà Bắc, những người nộp thóc vào kho, trước hết phải kê rõ họ tên và số thạch rồi tâu lên, sẽ ban chiếu chỉ bổ nhiệm, đợi khi nộp đủ thóc thì trao cho.
[42] Ngày Đinh Dậu, bãi bỏ mỏ bạc Hàn Thôn ở huyện Ngọc Sơn, châu Tín.
[43] Ngày Kỷ Hợi, ban chiếu: “Các chức Phó sứ của các ty, từ nay nếu được đặc cách thăng lên làm Chính sứ, thì dựa vào ngạch hiện tại, thăng lên năm bậc, làm thành định lệ. Ngày Giáp Tý tháng 9 năm Minh Đạo thứ 2, xem xét lại. Việc xét duyệt và thăng chuyển, vẫn theo quy định cũ.”
[44] Ngày Canh Tý, ban chiếu: Trước và sau ngày giỗ của Trang Ý Thái hậu, cấm nhạc mỗi lần ba ngày, không thiết triều mỗi lần hai ngày.
[45] Trước đó, triệu Tư Mã Trì, quan Binh bộ Viên ngoại lang, đang giữ chức Tri Phượng Tường phủ, về làm Tri Gián viện. Trì dâng biểu xin từ chối. Vua nói với tể tướng: “Người ta đều ham tiến thân, riêng Trì lại muốn lui, thật là hiếm có.” Bèn gia chức Trực sử quán, vẫn giữ chức Tri Phượng Tường. Có lần xử một vụ án khó, Đại Lý tự phúc thẩm lại, các thuộc quan đều lo sợ nhận lỗi. Trì nói: “Trưởng quan là người chịu trách nhiệm chính, không phải lỗi của các ông.” Rồi một mình nhận tội, được chiếu miễn xét.
[46] Ngày Tân Sửu, truy tặng Lý Duy, quan Tương châu Quan sát sứ, làm Hữu bộc xạ. Theo lệ cũ, Quan sát sứ không được truy tặng, nhưng Duy từng làm Hình bộ thượng thư, con ông là Lý Sư Tích, quan Tỷ bộ Viên ngoại lang, xin triều đình, nên được đặc cách truy tặng.
[47] Ban chiếu cho Lễ bộ Cống viện: Những người thi các khoa đã ứng thí bảy lần, không hạn tuổi, đều được đặc cách ghi tên vào sổ.
[48] Ban chiếu: Các châu quân ở Hà Bắc, Kinh Đông, Hoài Nam gần đây nhiều trộm cướp, cho phép các chức Đô giám, Giám áp được ra khỏi thành để ứng viện cho Tuần kiểm bắt giữ.
[49] Ngày Giáp Thìn, tạm giảm hai triệu thạch gạo vận tải từ Giang, Hoài, đợi năm được mùa sẽ bù lại.
[50] Lệnh cho Tri chế cáo Đinh Độ, Tri gián viện Tôn Tổ Đức, Khai Phong phủ Thôi quan Minh Hạo cùng các Phó sứ Tam ty và Yến Túc, Trương Tông Tượng bàn bạc lại những việc đã định trước, rồi tâu lên.
[51] Ngày Ất Tỵ, xuống chiếu cho tiến sĩ Trương Công Tá ở Hoa Châu được miễn thi văn giải trong tương lai, Lễ bộ và Cống viện không được loại bỏ. Tổ của Công Tá là Quốc tử bác sĩ Văn Đán, từng theo Tuyên Tổ, dùng kinh sử dạy Thái Tông và Tần Điệu Vương, còn Chiêu Tuyên sứ Vương Diên Đức cũng theo học ông. Đến lúc này, con của Diên Đức là Bộ quân đô ngu hậu, Anh Châu phòng ngự sứ Ứng Xương tâu rằng hậu duệ của Văn Đán không có ai được hưởng bổng lộc, nên có mệnh lệnh này.
[52] Ngày Đinh Mùi, xuống chiếu cho Tham tri chính sự Vương Tùy và Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Thịnh Độ mỗi người được phong một chức quan cho con trai, vì đã từng tham gia định ra pháp lệnh về muối ở Giải Trì. Thịnh Độ tự tâu: “Thả muối Giải trong ba năm, thu được 2.758.600 cân muối giống. Xin được tiếp tục quản lý hai trì muối[12], mở rộng kế hoạch trồng và chế tạo, đảm bảo tăng thêm nhiều.”
(Vì thế mà ban thưởng. Thịnh Độ tự tâu theo 《Hội yếu》.)
[53] Ngày Mậu Thân, xuống chiếu cho Lân Châu và Phủ Châu mở kho lương để cứu đói cho dân Hán và dân Phiên.
[54] Ngày Giáp Dần, xuống chiếu cho Hà Đông Lộ chiêu mộ người nộp thóc. Nhân đó, hạ lệnh cho các châu, từ nay những người nộp thóc được phong quan được phép tham gia hội họp công cộng ở châu quận, những người giữ chức Trợ giáo nếu phạm tội tư mà hình phạt nhẹ thì được chuộc tội, nếu phạm ba lần thì tâu lên xin xét xử.
[55] Lại xuống chiếu cho Chuyển vận sứ phó và Đề điểm hình ngục ở Xuyên Hạp Lộ được phép đưa gia đình đến ở gần lộ và mỗi năm được qua lại một lần, không được quá mười ngày.
[56] Tân nhậm Tri châu Thái Châu là Khổng Đạo Phụ, tâu rằng cha mẹ già yếu, xin tạm đến Duyện Châu thăm nom rồi mới đến Thái Châu. Xuống chiếu cho Đạo Phụ không cần chờ chỉ triều đình, được đi đường vòng qua Duyện Châu, đặc cách miễn tra xét, và lệnh cho Duyện Châu đưa ông đến nhậm chức. Sau vài tháng, ông được đổi làm Tri châu Từ Châu.
[57] Ngày Tân Dậu, tháng 3, truy phục Nội điện thừa chế Trịnh Chí Thành làm Nhập nội áp ban, và tặng chức Hòa Châu phòng ngự sứ. Chí Thành, vào niên hiệu Thiên Hy từng bị kết tội thông đồng với Chu Năng, khám nhà tìm được biểu xin Thái tử thân chính, bị tước quan và lưu đày đến Phòng Châu rồi mất, đặc cách ban ơn.
[58] Phán quan phủ Khai Phong là Tạ Giáng tâu rằng: “Châu chấu tràn ngập ruộng đồng, xâm nhập vào thành quách, nhảy nhót khắp nơi trong các công đường, giếng nước và đập đều đầy ắp. Các sứ giả nhiều lần đi ra ngoài, quan lại phủ huyện giám sát việc bắt và đuổi châu chấu, giẫm đạp lên nhà cửa và ruộng vườn của dân, khiến dân chúng không thể sống yên ổn. Nước Lỗ ba lần ghi chép về nạn sâu bọ, sách Cốc Lương cho rằng Vua Ai Công dùng thuế ruộng để bóc lột dân. Pháp luật về thuế má của triều đình gần đây có vẻ công bằng, nhưng theo như thần nghe được, có vẻ như quan lại không thực sự xứng đáng với chức vụ của mình nên mới gây ra tai họa này.
Hiện nay, những người cai trị các thành lớn và quản lý dân chúng, có quyền lực lớn, người có tài thì cướp công đoạt danh, dùng thủ đoạn nghiêm khắc và gấp gáp; hoặc dùng lời lẽ giả dối không thực tế, nhiều lần được khen thưởng. Người ngu muội thì chỉ lo sổ sách và hội họp, sợ sệt không dám làm gì. Hai loại người này tuy cách trị dân khác nhau nhưng đều dẫn đến tệ nạn. Việc trị quốc là ở chỗ nuôi dưỡng dân chúng, nuôi dưỡng dân chúng là ở chỗ chọn được quan lại tốt. Quan lại tuân thủ pháp luật thì dân chúng yên ổn, khí hòa và tai họa sẽ tiêu tan.
Thần mong rằng trước hết hãy chọn ra vài chục đến trăm châu lớn, ban chiếu cho các công khanh trở xuống tiến cử người có thể đảm nhận chức thái thú[13], cho phép họ tự chọn các huyện lệnh và trưởng quan thuộc quyền, chú trọng tìm người có tài năng và mưu lược, không bị hạn chế bởi thâm niên hay thi cử. Sau đó, dùng quy định để ước thúc họ, cho phép họ tùy nghi hành sự. Sau một năm, họ phải trình bày tình hình trị lý, tùy theo kết quả mà quyết định thăng chức hay giữ nguyên. Như vậy chắc chắn sẽ có công trạng và phong hóa khác biệt so với việc các cơ quan chỉ dựa vào thâm niên để bổ nhiệm.
Thời Hán, Vua ban chiếu hỏi Kinh Phòng về cách ngăn chặn tai dị, Kinh Phòng trả lời rằng phải xem xét công trạng và khảo sát quan lại. Thần mong bệ hạ hãy rộng rãi tham khảo ý kiến của các quan lại, bãi bỏ những mệnh lệnh phiền hà; ra lệnh cho các quan phụ trách tài chính giảm bớt các khoản thuế má. Đừng khởi tố những vụ án lớn, đừng dùng người nóng vội, hãy giữ cho mọi thứ yên tĩnh và bình ổn.
Sách ‘Truyện’ có nói: ‘Lễ lớn trong thời tai họa, trăm quan đều có mặt nhưng không can thiệp. Đó là để giảm bớt việc.’ Nếu làm như vậy mà tai họa vẫn không tiêu tan, điềm lành không đến, thì linh ý sẽ đầy rẫy[14], nhưng lời thánh sẽ không bị mê hoặc.”
(Tờ tấu của Tạ Giáng không ghi rõ tháng ngày, bản truyện chép rằng: khi trở về triều làm Phán quan phủ Khai Phong, ông đã tâu việc này. Tạ Giáng làm Phán quan phủ là vào tháng hai, ngày Bính Ngọ, nay đưa phụ vào cuối tháng. Xét: ‘Linh ý mãn lan’, nhưng trong Tống sử, truyện Tạ Giang cũng chép như thế, tạm giữ nguyên bản cũ.)
[59] Lê Đức Nhuận người Tế Nhân, tính cương trực liêm khiết, từng làm tri huyện Vệ Chân. Có viên lại châu nhận hối lộ, Đức Nhuận tố cáo, kết quả hơn mười người bị xử tội. Bọn lại liền cùng vu cáo Đức Nhuận phạm tội, bắt giam vào ngục, ông tự tử trong ngục. Nhan Thái Sơ người Bành Thành làm thơ nói lên nỗi oan của ông. Phạm Trọng Yêm trước đây đi sứ Giang, Hoài, xin truy tặng tuất, Vua bèn ban chiếu cấp cho nhà Đức Nhuận ba vạn tiền.
Thái Sơ là cháu đời thứ 47 của Nhan Tử.
[60] Ngày Bính Dần, Long Duy Lượng, chức Hữu ban điện trực tâu rằng: “Dân làm muối ven biển Quảng Châu nộp muối cho quan, mỗi cân được cấp sáu đồng. Quan bán muối ở ba châu Quảng, Huệ, Đoan, mỗi cân giá mười lăm đồng, nên dân gian nhiều người buôn lậu. Xin giảm xuống còn mười đồng.” Vua đồng ý.
[61] Ngày Quý Dậu, ban chiếu cho Viện Thẩm quan: “Quan triều đình ở kinh đô từ chức tri huyện lên thông phán, từ thông phán lên tri châu, nếu từng phạm tội đến mức đi đày, từ nay phải có hai người từ chức đại lưỡng tỉnh trở lên hoặc ba vị quan tại triều có chức tước bảo cử, mới được thăng chức. Những người từng bị xem xét là nhu nhược hoặc hôn ám thì không được cử.”
[62] Ngày Bính Tý, ban chiếu: “Đề thi tiến sĩ do nhà Vua ra, in sẵn phát cho thí sinh, không được phép hỏi thêm.”
[63] Trương Khuê, chức Điện trung thị ngự sử, làm tri châu Hình, mẹ bị bệnh, Khuê liền cắt thịt đùi hòa thuốc cho mẹ uống, mẹ khỏi bệnh. Ngày Đinh Sửu, ban cho Khuê vải lụa, dê và rượu. Khi mẹ mất, Khuê dựng lều bên mộ, tự đắp đất trồng cây bách, mọi người đều khen hiếu.
[64] Ngày Mậu Dần, Vua ngự điện Sùng Chính, thi các tiến sĩ do Lễ bộ tiến cử. Ngày Kỷ Mão, thi các khoa khác. Ngày Tân Tỵ, thi đặc cách tiến cử. Sau đó, lấy đỗ tiến sĩ Trương Đường Khanh, Dương Sát, Từ Thụ cùng 501 người, các khoa khác 282 người, đặc cách tiến cử 857 người. Ban cho các danh hiệu cập đệ, xuất thân, đồng xuất thân và bổ nhiệm làm trưởng sử các châu[15], văn học như chế độ cũ, chỉ có việc bổ nhiệm quan chức thì đặc biệt ưu đãi hơn so với các năm trước và sau. Đường Khanh, Sát, Thụ đều được làm Tướng tác giám thừa, thông phán các châu, người thứ tư và thứ năm làm Đại Lý bình sự, thiêm thư tiết độ châu phán quan, từ người thứ sáu trở xuống đều làm Hiệu thư lang, tri huyện. Giáp thứ hai làm mạc chức quan hai sứ, giáp thứ ba làm mạc chức quan sơ đẳng, giáp thứ tư làm thí hàm phán, ty, chủ bạ, uý, giáp thứ năm làm chủ bạ, úy.
Đường Khanh người Thanh Châu; Sát người Hợp Phì; Thụ người Sơn Âm, con của Khởi.
(Năm đó, thiên tử đối đãi với tiến sĩ ân lễ hơn các năm trước và sau, điều này căn cứ theo bài minh trên mộ Từ Thụ do Lưu Ban soạn.)
[65] Ngày Nhâm Ngọ, miễn thuế hạ và các khoản chi phí di chuyển, chiết biến cho các châu quân bị thiên tai trong năm, đồng thời giảm giá bán lương thực để cứu tế dân nghèo.
[66] Ngày Quý Mùi, giáng Hữu chánh ngôn Lưu Hoán làm Điện trung thừa, thông phán Từ Châu. Hoán trước đây giám sát kho lương ở Tịnh Châu, sau khi vào làm gián quan, đã gửi thư cho kỹ nữ, Tẩu mã thừa thụ Trương Thừa Chấn bắt được thư và tâu lên, nên bị trách phạt.
[67] Hộ làm muối ở hai trì Giải Châu nợ muối 3.371.446 tịch, chiếu chỉ miễn một nửa.
[68] Ngày Ất Dậu, xuất 50 vạn xấp lụa từ kho Nội tàng, giao cho Phát vận ty mua lương thực dự trữ quân. Phát vận sứ Lý Dịch tâu rằng dân chúng vừa trải qua nạn đói, không nên gây thêm phiền nhiễu, chiếu chỉ dừng lại. Dịch ở Hoài Nam nửa năm, sau chuyển đến Diên Châu, thuế vận tăng một phần năm so với năm thường.
(Việc dừng mua lụa, căn cứ theo truyện Lý Dịch, Thực lục không ghi, cần xem xét thêm.)
[69] Mùa hạ, tháng tư, ngày Tân Mão, ban cho Khang Phủ Dân, tiến sĩ cống của nước Cao Ly, cùng xuất thân, vẫn ghi vào bảng xuân.
[70] Giảm thuế ruộng ở phủ Hà Nam một phần mười.
[71] Ngày Nhâm Thìn, chiếu rằng những người thi cử nhân ở sảnh Toả mà không đỗ thì được miễn tội. Trước đây, năm Thiên Hi thứ hai, tể tướng Vương Khâm Nhược xin rằng những người thi cử nhân ở sảnh Toả mà không đỗ thì đều bị tội tư, đến nay mới bãi bỏ. Năm Thiên Thánh thứ tư, tháng năm nhuận, ngày Tân Mùi đã có chiếu rằng những người ứng thi ở sảnh Toả mà không đỗ thì được miễn trách phạt, nay lại có chiếu này, có lẽ là vì chiếu trước chỉ áp dụng cho việc không đỗ, còn chiếu này thì bao gồm cả việc lấy giải vậy[16].
[72] Ngày Giáp Ngọ, truy tặng cố Hàn lâm học sĩ, Lễ bộ thị lang, Tri chế cáo Dương Ức làm Lễ bộ thượng thư, ban thụy hiệu là Văn. Theo lệ cũ của triều đình, những người chưa từng giữ chức ở nhị phủ hoặc phục vụ ở đông cung thì dù là tứ phẩm cũng không được truy tặng. Xu mật sứ Vương Thự nói: “Dương Ức từng soạn tờ tấu thay Khấu Chuẩn, xin thái tử thân chính, bị Đinh Vị bài xích, không được toại chí mà mất. Khấu Chuẩn đã được truy tặng Trung thư lệnh, Dương Ức cũng nên được ban thưởng.” Vì thế đặc cách truy tặng.
Trước đây, Khấu Chuẩn bảo Dương Ức soạn tờ tấu, Vương Thự biết việc này không thể làm, từng khuyên can Khấu Chuẩn. Khấu Chuẩn thất bại, Vương Thự lấy bản thảo tờ tấu giao cho vợ may giấu trong áo. Khi triều đình muốn xét lại công lao cũ của Khấu Chuẩn, Vương Thự mới đưa ra, chữ đã mờ, gần như không thể đọc được. Trấn quốc tiết độ sứ, Phò mã đô uý Lý Tuân Húc xin thêm chữ “Trung” vào thụy hiệu của Dương Ức, tuy tấu không được chấp thuận, nhưng chiếu đưa vào sử quán.
(《Long Xuyên Biệt Chí》 chép việc Vương Thự giữ bản thảo của Dương Ức và khuyên can Khấu Chuẩn, có lẽ là sự thật. Nhưng nói rằng lập thái tử, phế Lưu hậu, đuổi Đinh Vị, sai Vương Thự đi sứ, giết những người không theo mình, thì sai rồi. Tháng sáu năm Thiên Hi thứ tư, khi Khấu Chuẩn bị bãi chức tể tướng, đã bàn rõ việc này.
Ngụy Thái trong 《Ký Sự》 nói rằng việc truy tặng Dương Ức là do Lý Tuân Húc đề xuất, khác với 《Biệt Chí》, nay theo 《Biệt Chí》. Tuân Húc chỉ xin thêm chữ “Trung” vào thụy hiệu mà thôi, việc này thấy trong 《Hội Yếu》, nay ghi thêm.)
[73] Ban cấp trà lạp cho các quan bố trí, kiềm hạt, tướng hiệu ở ba lộ biên giới.
[74] Ngày Đinh Dậu, Điện trung thị ngự sử Bàng Tịch được bổ làm Khai Phong phủ phán quan. Thượng mỹ nhân sai nội thị truyền chỉ miễn thuế chợ cho thợ. Bàng Tịch tâu rằng từ thời tổ tông đến nay chưa từng có việc mỹ nhân truyền chỉ xuống phủ. Vua bèn sai đánh nội thị, nghiêm trách mỹ nhân, và hạ chiếu cho các cơ quan từ nay về sau, nếu trong cung truyền mệnh thì không được nhận.
[75] Ngày Canh Tý, quốc mẫu nước Khiết Đan sai Hữu uy vệ Thượng tướng quân Gia Luật Địch, Lợi châu Quan sát sứ Vương Duy Vĩnh, quốc chủ sai Quảng Đức Tiết độ sứ Gia Luật Thuật, Vĩnh châu Quan sát sứ Cao Thăng sang chúc mừng tiết Càn Nguyên.
[76] Cha của Thượng mỹ nhân là Thượng Kế Bân được làm Hữu thị cấm, chú là Thượng Kế Nhân và Thượng Kế Năng đều được làm Hữu ban Điện trực.
(Theo 《Thực lục》, ngày Ất Mùi tháng 5 năm Minh Đạo thứ nhất, cha của Thượng thị trong hậu cung là Thượng Diên Phúc được làm Quốc tử trợ giáo, nay cha của Thượng thị lại tên là Kế Bân, không rõ vì sao. 《Bản truyền》 cũng chép là Kế Bân, không thấy nhắc đến Diên Phúc, hay là Diên Phúc là cha của một Thượng thị khác? Cần xem xét thêm.)
[77] Ngày Tân Sửu, ban cho Quang lộc tự thừa Lưu (?) xuất thân đồng tiến sĩ, do cha vợ là Xu mật phó sứ Lý Tư xin cho. Vua lại hạ chiếu từ nay về sau, những người dâng văn chương hoặc được ân chuẩn dự thi thì không ban cập đệ nữa, chỉ ban xuất thân hoặc đồng xuất thân. (?) là cháu của Tông.
[78] Ngày Nhâm Dần, ban cho dân họ Lục Khuê ở huyện Định Tương[17] 50 hộc gạo, 50 tấm lụa, và miễn dịch, vì nhà họ Lục bảy đời không chia gia sản.
[79] Ngày Quý Mão, tiết Càn Nguyên, quần thần dâng lễ chúc thọ ở điện Tử Thần.
[80] Ngày Bính Ngọ, bãi bỏ yến lớn, sai Tham tri chính sự Vương Tùy đem tiệc ngự ban cho sứ Khiết Đan ở đô đình dịch, dùng nhạc giáo phường.
[81] Ngày Đinh Mùi, xuất 30 vạn tấm lụa trong kho nội phủ, giao cho Chuyển vận ty Hà Bắc mua lương thảo.
[82] Ngày Quý Sửu, Vua xuống chiếu cho Ngự sử đài đặt chức Điện trung thị ngự sử và Giám sát ngự sử lý hành, cử những người từng làm qua chức Tam thừa trở lên và đã từng làm tri huyện, đợi hai năm thì bổ làm Ngự sử, lại hai năm nữa thì bổ làm phán quan của Tam ty và Khai Phong phủ, theo lời xin của Trung thừa Hàn Ức. Tuy nhiên, chế độ nhà Đường cũng có chức Thị ngự sử lý hành, nay chỉ bỏ sót. Hàn Ức vừa từ Ích Châu trở về, nhân đó tâu rằng hai châu Duy, Mậu tiếp giáp với đất Khương Di, bộ lạc Phiên mỗi năm đến trường mua bán ngựa ở Vĩnh Khang, quen thuộc đường sá hiểm trở, e rằng họ sẽ do thám hai xứ Lưỡng Xuyên, xin dời trường mua bán ngựa đến biên giới châu Lê, Vua đồng ý.
(Việc này không rõ thời gian, nay phụ chép vào đây.)
[83] Ngày Đinh Tỵ, Vua xuống chiếu rằng những dân bị thiên tai mà chết không có người chôn cất, quan phải chôn cất và cúng tế.
[84] Vua xuống chiếu cho Trực sử quán Tống Kỳ, Trịnh Tiển và Quốc tử giám trực giảng Vương Châu cùng san tu sách 《Quảng vận vận lược》, lại sai Tri chế cáo Đinh Độ và Lý Thục xem xét định đoạt. Lúc đó, Tống Kỳ tâu rằng sách 《Quảng vận vận lược》 có nhiều chữ nghi ngờ lẫn lộn, thí sinh trong kỳ thi đôi khi dùng nhầm, quan lại tranh luận, mỗi người một ý, đến nỗi Vua phải tự quyết định, nên xin tu chỉnh lại[18].
[85] Tân Giang Đông chuyển vận sứ Tưởng Đường tâu: “Thần thấy các lộ dùng võ thần làm tri châu quân, phần nhiều không hiểu giáo hóa, không biết việc dân, xin từ nay trừ những nơi biên giới trọng yếu cần chọn võ thần cao cấp, còn các châu quân khác nên dùng quan văn.” Vua dụ cho Xu mật viện, từ nay khi dùng võ thần làm tri châu quân phải chọn người thích hợp.
(Việc này ghi trong 《Hội yếu》 ngày 29 tháng 4 năm Cảnh Hữu nguyên niên.)
[86] Tháng 5, ngày Canh Thân mùng một, Vua xuống chiếu rằng các quan tri phiên quận và chuyển vận sứ[19], chưa đến nơi nhậm chức thì không được tiến cử thuộc quan.
[87] Ngày Tân Dậu, xuất 10 vạn tấm vải đổi lấy tiền để mua lương thực dự trữ cho quân đội Hà Bắc.
[88] Ngày Nhâm Tuất, giảm thuế ruộng cho ba châu Liêm, Hóa, Cao.
[89] Ngày Quý Hợi, Lưu Tùy, người giữ chức Tri châu Tuyên Châu, Binh bộ Viên ngoại lang, được thăng làm Công bộ Lang trung, giữ chức Tri phủ Ứng Thiên. Theo lệ cũ, những người được cử đi sứ sang Khiết Đan đều được phái hai quân Hoàng thành đi cùng để theo dõi hành vi của sứ giả. Các sứ giả thường nhượng bộ để tránh bị gièm pha.
Trước đây, Lưu Tùy đi chúc mừng sinh thần mẹ Khiết Đan, vì bị bệnh tê chân nên không thể lạy, bị quân Hoàng thành vu cáo, cơ quan hữu trách tâu lên, ông bị giáng một chức, điều ra làm Tri châu Tín Châu, rồi chuyển sang Tuyên Châu, hơn một năm chưa được phục chức. Sau đó, Lý Hoành, Thiên Chương các Đãi chế, đi chúc mừng sinh thần Khiết Đan chủ trở về, tâu rõ việc Lưu Tùy bị oan, nên ông được điều về Nam Kinh.
[90] Ngày Ất Sửu, Hàn lâm Thị độc học sĩ, kiêm Long đồ các học sĩ, Công bộ Thị lang, quyền Tri Khai Phong phủ Trình Lâm được bổ nhiệm làm Tam ty sứ[20]. Ngày Bính Dần, ban chiếu từ nay Tam ty sứ tại chức chưa lâu, không được tùy tiện thay đổi. Do đó, Trình Lâm ở Tam ty xem xét bốn năm, rồi được nắm quyền.
Có người xin chiêu mộ người nộp thóc vào kinh đô để bãi bỏ việc chuyển vận lương thực từ Giang, Hoài. Trình Lâm nói: “Nếu bọn thương nhân gian xảo nâng giá mà thóc không đến, thì làm sao?”
Trước đó, Tam ty hợp nhất các khoản thuế ruộng và các khoản nộp khác thành một loại. Trình Lâm nói: “Giả sử hợp nhất da trâu, muối ăn, tiền đất thành một[21], lúa, lúa mì, kê, đậu hợp thành một, thì dễ dàng kiểm tra. Nhưng đời sau có quan lại muốn tăng lợi, lại dùng tên cũ để tăng thêm, thì dân sẽ bị khốn khổ mãi.”
Trình Lâm ở Tam ty, đặc biệt cẩn thận trong việc thu chi, trong cung có yêu cầu gì, ông đều tâu lại xin bãi bỏ. Quan nội thị dâng biểu nói Trình Lâm chuyên quyền. Trình Lâm nghe được, tự mình tâu lên Vua: “Tài phú của Tam ty[22], đều là của triều đình, thần chỉ tiếc cho bệ hạ mà thôi, có gì là của thần?” Vua cho là phải.
(Tháng 10 năm Minh Đạo thứ 2, hợp nhất các khoản thuế thành một loại, đã thi hành rồi, Trình Lâm chỉ có bàn luận như vậy thôi.)
Lâm lại dâng sớ, bàn rằng: “Quân đội cần tinh nhuệ chứ không cần đông, quân lương ở Hà Bắc, Thiểm Tây đều thiếu hụt, nhưng vẫn không ngừng chiêu mộ. Chi phí nuôi một binh lính trú đóng trong doanh trại có thể cấp cho ba binh lính đồn trú. Xưa nuôi một vạn quân, nay đã thành ba vạn. Hà Bắc mỗi năm tiêu tốn hai mươi triệu thạch lương thực, thuế thu được chỉ đủ chi ba phần mười; Thiểm Tây mỗi năm tiêu tốn mười lăm triệu thạch, thuế thu được chỉ đủ chi năm phần mười, còn lại đều phải trông cậy vào kinh sư.
Từ niên hiệu Hàm Bình đến nay, hai biên giới tăng thêm một trăm sáu mươi chỉ huy sứ mã bộ quân, tính ra chi phí mỗi năm cho một chỉ huy kỵ binh khoảng bốn mươi ba nghìn quan tiền, một chỉ huy bộ binh khoảng ba mươi hai nghìn quan tiền. Chưa kể các khoản cấp phát khác, tổng chi phí cho quân đội cũ và mới không dưới mười triệu quan tiền. Trời đất sinh ra của cải có hạn, mà chi tiêu không có giới hạn, đó là lý do quốc khố ngày càng kiệt quệ. Nay các châu quân dọc sông ở Đồng, Hoa, lương thực tích trữ đến mục nát mà không biết sử dụng, giá lương thực nhập vào biên giới tăng cao mà vẫn không đủ.
Thần tha thiết mong bãi bỏ việc chiêu mộ binh lính trú đóng ở Hà Bắc, Thiểm Tây, không tăng thêm nữa, gặp chỗ khuyết thì chọn binh lính tinh nhuệ trong sương quân bổ sung. Lại dần dần dời doanh trại vào nội địa để tiện việc cung cấp lương thực, lúc bình thường thì luân phiên canh giữ biên giới, khi cấp bách thì điều động từ nơi gần. Nghiêm khắc răn dạy các quan ở biên giới, không được xâm phạm gây chuyện để mong được ban thưởng, ai vi phạm sẽ bị trừng trị nặng. Như vậy thì biên giới yên ổn mà quốc khố dư dật.” Vua khen ngợi và tiếp nhận.
(Sớ này theo bản “Chí”, vào năm Cảnh Hựu thứ nhất, nay phụ chép sau khi Lâm làm Tam ty sứ, tháng ba năm sau, Nhậm Bố làm Tri thành Đức quân, bàn rằng quân ở Hà Bắc không thể giảm, chắc là do sớ này, nên khảo xét.)
[91] Ngày Đinh Mão, cấm dân gian dệt gấm lưng, thêu lưng và hoa dày khắp mặt vải, những thứ mà Tây Xuyên mỗi năm dệt để cung tiến cũng bãi bỏ.
[92] Ngày Kỷ Tỵ, chiếu rằng từ nay các đường hậu quan ở Trung thư đường khi thăng đến chức Viên ngoại lang đều được bổ nhiệm ra ngoài, người nào đã làm việc ở Ngũ phòng công sự ba năm thì thay thế.
[93] Ngày Canh Ngọ, chiếu rằng các ty đề điểm hình ngục ở các lộ nếu có trụ sở cùng châu với chuyển vận sứ phó thì đều dời sang châu khác.
[94] Lại có chiếu rằng: Nghe nói nhà cửa của thân thích, nhiều người tiếp xúc với quan lại triều đình, hoặc tiết lộ lời nói trong cấm cung, nên ra lệnh cho các cơ quan xem xét và cử người điều tra.
[95] Ngày Tân Mùi, Vua ngự ở dãy phía tây điện Sùng Chính, triệu tập các đại thần đến xem giảng sách; bãi bỏ việc quân đầu tấu sự, từ đó trở thành lệ.
[96] Chiếu cho Tam ty rằng: Nếu có quan lại nào có thể dâng lên những điều lợi hại về tiền bạc và lương thực có thể thi hành được, thì sẽ được thăng bổ không theo thứ tự.
[97] Bí thư thừa Trương Tông Nghị và Tôn Miễn đều được bổ làm Giám sát ngự sử lý hành, chức Giám sát ngự sử lý hành bắt đầu từ đây.
Tôn Miễn là người Hội Kê.
[98] Ngày Nhâm Thân, xuất ra một triệu quan tiền từ kho nội tàng để ban thưởng cho Tam ty.
[99] Lấy phủ học ở Hà Nam phủ làm Quốc tử giám. Năm thứ ba niên hiệu Đồng Quang đời Hậu Đường, lần đầu xây dựng miếu Văn Tuyên Vương. Năm thứ ba niên hiệu Hàm Bình, tu sửa lại. Trước đây chỉ gọi là phủ học, đến nay Trực tập hiền viện Tạ Giáng tấu lên, mới chính thức đổi tên thành Quốc tử giám.
[100] Ngày Quý Dậu, chiếu rằng các quan Đài gián chưa từng trải qua chức tri châu, thì tạm thời cho làm tri châu.
[101] Ngày Giáp Tuất, Vua ngự ở điện Sùng Chính, xem xét việc chuyển viên của các quân, kéo dài ba ngày.
[102] Ngày Đinh Sửu, cấm dân gian vì năm được mùa mà đóng góp tiền để làm đạo trường cảm tạ ân đức của thánh thượng.
[103] Ngày Nhâm Ngọ, Vua ngự ở điện Sùng Chính, xét lại các tù nhân đang bị giam giữ.
[104] Ngày Quý Mùi, chiếu cho Thái thường lễ viện rằng: Những vật phẩm dâng cúng hàng năm ở lăng Vĩnh Định, nếu không phải là điển lễ, thì bãi bỏ.
[105] Ngày Ất Dậu, chiếu rằng: “Những người đỗ cử nhân bị giam giữ, mà ngục lại hà khắc khiến chết không phải vì bệnh tật, thì quan đề điểm hình ngục phải điều tra. Ai tố cáo sẽ được thưởng mười vạn tiền, công nhân được thăng một bậc; nếu cùng phạm tội mà tự tố cáo, thì được miễn tội và thưởng như trên.” Sau đó lại có chiếu rằng: Quan châu huyện xử tội nhân chết không đúng pháp, dù là tội công, thì nơi đó chưa được phê phạt, phải tấu lên chờ xét xử.
(Chiếu này ban vào ngày Ất Mão tháng sáu, nay ghi chung lại.)
[106] Ngày mùng một tháng sáu, Kỷ Sửu, ban cho châu Trần và châu Dương mỗi nơi năm khoảnh ruộng học điền.
[107] Ngày Nhâm Thìn, sai Chức phương viên ngoại lang Thẩm Hậu Tải đến các châu Hoài, Vệ, Từ, Tương, Hình, Minh, Trấn, Triệu để dạy dân trồng lúa nước.
[108] Quảng Đông chuyển vận ty[23] tâu rằng ở Giao Châu, Trần Công Vĩnh cùng hơn 600 người xin quy phụ, Lý Đức Chính phát quân đến biên giới đuổi bắt. Triều đình ra chiếu cho đưa Công Vĩnh và những người kia trở về, đồng thời dụ Đức Chính phải an ủi và giữ họ lại.
Xu mật sứ Thái Tề tâu: “Người Man bỏ điều ác theo đức, xin hãy thu nhận họ, cấp cho ruộng đất bỏ hoang ở Kinh Hồ để họ tự canh tác. Nay nếu thả họ đi, chắc chắn họ sẽ không trở về bộ cũ. Nếu họ tản mác vào núi rừng, thì hậu họa sẽ ra sao!” Triều đình không nghe. Năm sau, người Man quả nhiên làm loạn.
[109] Con của Vương Mông Chính là Vương Tề Hùng từng bị tội giết người nên bị cách chức.
Tề Hùng là thân thích của Trang Hiến, chưa được ân xá đã phục chức. Việc này giao xuống Xu mật viện, Xu mật sứ Vương Thự định thi hành. Thái Tề nói: “Như thế này là pháp luật bị bẻ cong, sao có thể thi hành được!” Và ông đoán Thự không thể giữ vững lập trường, hôm sau, ông một mình tâu rằng Tề Hùng cậy thế lực của tiên đế mà giết người không chết, lại nhanh chóng phục chức, đó là lấy ân huệ mà phế bỏ pháp luật. Hoàng đế nói: “Giáng một bậc rồi cho làm quan, được không?” Thái Tề kiên quyết nói không được, Hoàng đế nghe theo.
(Theo ghi chép trên cột chùa Kim Thằng viện ở Thành Đô: năm Thiên Thánh thứ 10, Mông Chính làm Quốc tử bác sĩ, coi việc ở Phượng Tường, Tề Hùng làm Tam ban phụng chức, không rõ sau này thăng chức gì.)
[110] Ngày Quý Tỵ, miễn thuế tiền muối sắt bốn mùa ở Nghi Châu một năm.
[111] Ngày Bính Thân, ra chiếu cho Tam ban viện, theo chế độ cũ, sứ thần giám đương một nhiệm kỳ thì làm Tuần kiểm, Giám áp, từ nay thêm một nhiệm kỳ giám đương ở địa phương gần.
[112] Ngày Đinh Dậu, ra chiếu rằng các quan văn võ phạm lỗi thất nghi bị phạt, từ nay không coi là lỗi lầm.
[113] Kinh Đông chuyển vận ty tâu rằng ở vùng Tế, Duyễn vốn có nhiều ruộng đất bỏ hoang, Đô giám ở Thanh Châu là Hác Nhân Vũ khá am hiểu việc ruộng đất, xin cho ông quy hoạch thủy lợi, chiêu mộ dân khai khẩn. Triều đình đồng ý.
[114] Ngày Kỷ Hợi, lấy Hộ bộ phó sứ Vương Duyên kiêm quản việc đào kênh tưới ruộng dân, do Duyên tự xin.
[115] Cho vay gạo cho dân đói ở vùng biên giới Diên Châu, mỗi hộ ba hộc.
[116] Ngày Canh Tý, ra chiếu cho Kiềm hạt ty ở Phu Diên lộ, không được để người Thục Hộ và giặc Phiên cướp bóc ngoài biên giới.
[117] Miễn một nửa thuế cho dân bị thiên tai trong kinh đô.
[118] Hoài Nam chế trí phát vận sứ Lưu Thừa Nhan dâng lên bánh xe quạt và đồ dùng tắm, Đồng tri gián viện Quách Khuyến tâu: “Đây không phải là vật nên dâng, Thừa Nhan muốn dùng thứ này để nịnh bợ bề trên. Xin giao ra ngoài hủy bỏ, để răn đe kẻ tà nịnh.” Ngày Giáp Thìn, chiếu trả lại.
[119] Tả Đồn Vệ tướng quân Mã Quý Lương bị an trí ở Trừ Châu, sai người đánh trống Đăng Văn, được cho về hưu. Thị ngự sử tri tạp sự Dương Giai tâu rằng việc về hưu là để ưu đãi người hiền, Quý Lương đã bị biếm trích thì không nên được hưởng. Có chiếu bắt tội ty trống, Ngự sử trung thừa Hàn Ức cho rằng việc thi hành hay không là do chấp chính, quan lại có tội gì, bèn nộp chiếu về Trung thư. Vua cho rằng Ức nên tâu trình xin chỉ thị, không nên tự tiện nộp chiếu thư, đặc cách tha tội, nhưng vẫn bắt tội quan lại ty trống. Pháp tự cho rằng quan lại phải nộp tiền chuộc tội, cũng được tha.
(Theo Hội yếu, đây là việc ngày 17 tháng 6 năm Ất Tỵ.)
[120] Ngày Giáp Thìn, chiếu cho Khai Phong phủ, từ nay nếu có chỉ dụ truyền tuyên, phải theo lệ ngày hôm sau vào điện tâu trình xin chỉ thị. Trước đây, có chỉ dụ cho Hậu hành Hỗ Ngọc của phủ này chuyển làm Thủ môn tiền hành. Qua hơn trăm ngày, phán quan Bàng Tịch mới tâu lên, nên ban chiếu này.
[121] Ngày Bính Ngọ, lấy Giang Hưu Phục, Tư pháp tham quân Lộ Châu, người đỗ khoa Thư phán bạt tụy, làm Đại Lý tự thừa; Trương Bá Ngọc, Lâm Ức, Diêm Tuân đều được bổ làm quan mạc chức lưỡng sứ.
Hưu Phục là người Trần Lưu; Ức là người Khai Phong; Tuân là người Phượng Tường.
(Tháng 2 ngày Ất Mùi, đã bãi bỏ khoa Thư phán bạt tụy, không rõ vì sao Hưu Phục vẫn được bổ nhiệm do ứng khoa. Xem sách 《Đăng khoa ký》 chép: Mùa xuân năm đó, có chiếu từ nay không đặt khoa này nữa. Tháng 6, lệnh cho những người đã ứng khoa không phải thi, Hưu Phục có lẽ là người không thi mà được bổ nhiệm trực tiếp.)
[122] Ngày Kỷ Dậu, triều đình tổ chức thi sách vấn cho các hiền tài phương chính, người có thể thẳng thắn can gián là Thái thường bác sĩ Tô Thân, người tài năng kiêm toàn, thông hiểu thể dụng là Thái lý tự thừa Ngô Dục, người tài năng xuất chúng là Trương Phương Bình cùng các võ cử nhân tại điện Sùng Chính. Bài sách vấn của Ngô Dục không đầy ba nghìn chữ[24], được đặc cách thăng chức, bổ nhiệm Ngô Dục làm Trứ tác tá lang, Trực tập hiền viện, Thông phán Hồ Châu. Tô Thân làm Từ bộ viên ngoại lang, Thông phán Hồng Châu. Trương Phương Bình làm Hiệu thư lang, Tri huyện Côn Sơn.
Trương Phương Bình là người Tống Thành; Tô Thân là người Tấn Giang; Ngô Dục là người Kiến An.
Từ khi Tần Điệu Vương được an táng ở Nhữ, con cháu về sau cũng được chôn cất theo, đều do hoạn quan quản lý. Hàng năm, người đến viếng mộ không ngớt, đi lại đòi hỏi, gây phiền nhiễu cho châu huyện.
Trước đây, khi Ngô Dục làm Tri huyện Tương Thành, đã kiến nghị: “Những gì quan phủ cần, phải ghi rõ số lượng cụ thể, không để sứ giả tùy tiện đòi hỏi. Những thứ như dê, lợn, xin đều do quan phủ cung cấp.” Nhờ đó, dân chúng giảm được gánh nặng cung phí đến bảy tám phần. Các hoạn quan đi qua đều căm ghét, có kẻ nửa đêm gõ cửa huyện, đòi trâu để kéo xe, Ngô Dục kiên quyết không đáp ứng.
Trước đây, khi các tông thất đi qua, thả chim ưng, chó săn phá hoại ruộng dân, nhưng khi đến Tương Thành, họ đều tự giác răn nhau, không dám tùy tiện.
Ban đầu, khi Ngô Việt quy phục triều đình, đất đai các quận huyện còn hoang vu, dân chiếm ruộng không có quy củ, lâu ngày nhiều người lấn chiếm, kiện tụng mấy chục năm không giải quyết được. Trương Phương Bình triệu tập dân hỏi về số thuế đã nộp, khoảng một hai phần trăm, ông thu hết phần còn lại để cấp cho dân nghèo, từ đó không còn kiện tụng.
[123] Ngày Nhâm Tý, xuất 50 vạn quan tiền từ kho nội tàng giao cho Tam ty, đặt trường mua lúa mạch ở các châu huyện ven sông. Trước đó, vùng Kinh Đông bị hạn hán, lúa mạch không kịp thời gieo trồng nên có lệnh này.
[124] Ngày Quý Sửu, ban chiếu: “Các quan ở Thượng thư tỉnh từng trải qua chức tri châu mà không phạm tội tham nhũng, từ nay về sau đều được bổ nhiệm vào các tào thuộc tả danh. Cụ thể, Lại bộ, Hộ bộ, Lễ bộ thuộc tả danh tào; Ty phong, Ty huân, Khảo công, Độ chi, Kim bộ, Thương bộ, Từ bộ, Chủ khách, Thiện bộ thuộc tả tào; Binh bộ, Hình bộ, Công bộ thuộc hữu danh tào; Chức phương, Giá bộ[25], Khố bộ, Đô quan, Tỷ bộ, Ty môn, Đồn điền, Ngu bộ, Thủy bộ thuộc hữu tào.”
(Có thể tham khảo thêm tháng 10 năm Thiên Hi thứ 3.)
[125] Ngày Giáp Dần, ban chiếu: “Các quan chức từ Đãi chế trở lên, mỗi năm vào dịp tiết Càn Nguyên đã được tiến cử con em hưởng ân trạch, nếu được bổ nhiệm ra ngoài, trừ sáu nơi là Ích, Tử, Tần, Diên, Tịnh, Quảng, không được phép xin thêm. Nếu đã trải qua hai lần tế giao, muốn dùng ân điển để tiến cử người khác họ, thì cho phép.”
[126] Ngày Ất Mão, Trung thư tâu rằng Thái thường bác sĩ Lý Giản Chi, trước đây đã thi ở Học sĩ viện, được ban cho danh hiệu Đồng tiến sĩ xuất thân, làm chức Quán các Hiệu khám, nay được chiếu chỉ bổ nhiệm làm Trực tập hiền viện, Tri châu Hình Châu.
Giản Chi là con của Lý Địch. Cuối niên hiệu Thiên Hi, Địch bị cách chức Tể tướng và bị đày, Giản Chi cũng bị cách chức. Khi Địch được phục chức Tể tướng, Giản Chi tự trình bày với Triều đình, xin xét lại, nên có mệnh lệnh này. Có người bàn tán không đồng tình.
Có người nói: “Địch cùng Lữ Di Giản cùng làm Tể tướng, Địch thẳng thắn mà sơ suất, Di Giản khéo léo mà kín đáo. Địch thường có kế hoạch, Di Giản nhận ra không phải do Địch nghĩ ra[26], bèn hỏi người thân cận: ‘Dưới trướng Phục Cổ, ai là người cùng bàn mưu?’ Người ấy trả lời rằng Lý không có khách nào khác, chỉ có Giản Chi lo liệu việc, hơn xa cha mình. Di Giản bèn nói với Địch: ‘Tài năng của Giản Chi có thể dùng được, nên giao việc cho cậu ấy.’ Địch khiêm tốn không dám nhận, Di Giản nói: ‘Tiến cử người tài là việc của Di Giản, ông không cần biết.’ Liền tâu lên, được chấp thuận, cha con Địch đều vui mừng, không biết rằng Di Giản âm thầm đoạt mất người mưu sĩ của mình.”
Giản Chi nhận mệnh, ở được nửa năm, Địch quả nhiên bị cách chức Tể tướng.
(Việc này theo 《Long Xuyên biệt chí》, nhưng 《Biệt chí》 cho rằng Di Giản tâu xin bổ nhiệm Giản Chi làm Đề hình Lưỡng Chiết. Trong Thực lục và Bản truyện của Giản Chi đều không thấy ghi chép về việc Giản Chi từng làm Đề hình Lưỡng Chiết, e rằng chính là việc bổ nhiệm làm Trực tập hiền viện, Tri châu Hình Châu.
Xem ý của Di Giản chỉ muốn Giản Chi không ở bên cạnh cha mình[27], nên đặc cách bổ nhiệm làm Trực tập hiền viện[28], sai ra ngoài làm quan, mà cha con Địch không nhận ra, e rằng 《Biệt chí》 ghi nhầm. Nay lược bớt, ghi chép việc này.)
[127] Tháng này, Khai Phong phủ và Truy Châu báo cáo có nạn châu chấu.
[128] Tháng 6 nhuận, ngày Mậu Ngọ, mùng một, xuống chiếu rằng trong thiên hạ ai có thể tố cáo kẻ giết người sẽ được thưởng 5 vạn tiền.
[129] Ban cho trường học ở Hàng Châu 5 khoảnh ruộng.
[130] Ngày Kỷ Mùi, phong Đông đầu cung phụng quan Chu Cát làm Nội điện sùng ban, Tả thị cấm Điền Kế Vĩnh làm Tây đầu cung phụng quan, đều được sai đi biên giới xa. Trước đó, xuống chiếu tìm những người từng thuộc quyền Mã Tri Tiết và Tào Vĩ, đến nay tìm được Chu Cát và những người khác, bèn bổ dụng.
(Theo 《Sóc Lịch》: tháng 10 năm Cảnh Hữu thứ 4, có Điện trực Tôn Hạo. 《Thực Lục》 không ghi chép, nay không dùng.)
[131] Ngày Tân Dậu, sai Hàn lâm học sĩ Trương Quan, Tri chế cáo Lý Thục và Tống Kỳ biên soạn sách vở ở Tam quán và Bí các. Lại sai Phán quán các Thịnh Độ, Chương Đắc Tượng, Thạch Trung Lập và Lý Trọng Dung xem xét lại.
[132] Ngày Nhâm Tuất, cho vay gạo cho bộ lạc Phiên ở Khánh Châu, mỗi hộ 1 hộc.
[133] Tạm ngừng việc mua sắm vật phẩm cung tiến ở hai châu Đăng và Lai.
[134] Ngày Giáp Tý, châu Tứ tâu rằng sông Hoài và sông Biện tràn nước.
[135] Ngày Ất Sửu, châu Phủ tâu rằng Triệu Nguyên Hạo từ sau tháng giêng nhiều lần xâm phạm. Xuống chiếu cho Bộ thự ty ở Tịnh và Đại nghiêm ngặt phòng bị.
[136] Ngày Kỷ Tỵ, xuống chiếu cho Viện Thẩm quan rằng từ nay các tri huyện ở Xuyên và Quảng không được bổ nhiệm người có tội tham nhũng.
[137] Thuế hạ năm nay ở Giang Nam Đông lộ, cho phép dân nộp bằng tiền mặt, vì mưa nhiều làm hại mùa màng.
[138] Châu Thường tâu rằng huyện Vô Tích có gió lớn làm đổ nhà. Ban tiền cho những gia đình có người chết do đổ nhà, nhà có từ 3 người chết trở lên được 3.000 tiền, ít hơn thì được một nửa.
[139] Ngày Canh Ngọ, xuống chiếu rằng mọi việc xây dựng, sứ thần, nhân viên và thợ đều được cấp phát tùy theo mức độ, không được tùy tiện xin thăng chức.
[140] Châu Lê tâu rằng bộ lạc Cung Bộ Xuyên Man xin hàng năm cống nạp sản vật địa phương về kinh đô. Xuống chiếu cho 5 năm cống một lần.
[141] Ngày Nhâm Thân, xuống chiếu rằng lễ tiết Càn Nguyên, việc độ tăng đạo và ban áo tía, hiệu sư, đều lấy 100 người làm mức, lại sai Nội thị tỉnh lập sổ để quản lý.
[142] Dời trụ sở của Ty Đề điểm hình ngục ở Ích Châu lộ về châu Mi.
[143] Ngày Giáp Tuất, ban sắc thư khen ngợi cho Trương Hạ, người giữ chức Đô quan viên ngoại lang, tri châu Tứ Châu. Lúc đó, mưa kéo dài hơn một tháng không ngừng, sông Hoài và sông Biện tràn bờ, suýt nhấn chìm thành. Trương Hạ đích thân dẫn dân phu chống đỡ, thành không bị hư hại, nhân dân nhờ đó được yên ổn. Sau đó, ông được thăng làm Ty phong viên ngoại lang. Tháng 7 năm sau, được bổ nhiệm làm Giang Tây chuyển vận sứ.
[144] Ngày Ất Hợi, phá hủy các ngôi chùa không có tên trong danh sách trên toàn quốc.
[145] Ngày Tân Tỵ, ra chiếu rằng: Gần đây do nạn đói kém, dân chúng có người phải bán vợ con hoặc bỏ rơi trẻ nhỏ để người khác nhận nuôi, tất cả đều được phép tùy ý xử lý.
[146] Ngày Nhâm Ngọ, bãi bỏ việc sử dụng mai rùa và vỏ rùa ở Hậu uyển tác sở. Trước đó, Tam ty tâu rằng Hậu uyển tác sở mua mai rùa và vỏ rùa, có người quá hạn không nộp. Vua nói: “Trước đã có chiếu cấm khai thác mai rùa, sao lại có thể mua của dân? Hãy bãi bỏ việc mua này, các đồ dùng bằng mai rùa cũng ngừng sản xuất.” Đây là theo lời tâu của Độ chi phán quan Tạ Giáng.
(Theo lời Tạ Giáng trong bản truyện của ông.)
Tạ Giáng lại tâu: “Nội tàng khố mỗi năm nhận hơn một triệu quan tiền đúc, nhưng mỗi năm cấp cho Tả tàng khố và ba năm một lần tế giao, ước tính chi ra chín mươi vạn quan, số còn lại không đáng kể. Xin cho toàn bộ tiền đúc trong thiên hạ nhập vào Tam ty trong mười năm, giao trách nhiệm sử dụng linh hoạt, để tích trữ lương thực phòng thủ biên giới, còn lợi nhuận từ trà, muối, hương, phèn đều quy về kinh đô, so với việc tích trữ quá nhiều, lợi hại khác xa.
Gần đây, việc sử dụng vật phẩm ngày càng xa xỉ, ban thưởng vượt quy định, nhu cầu trong cung, năm ngoái tính ra bốn mươi lăm vạn quan, từ mùa xuân năm nay đến tháng tư, đã gần hai mươi vạn. Gần đây có chiếu cắt giảm chi phí, nhưng các cơ quan chỉ yêu cầu sổ sách từ thời Hàm Bình, Cảnh Đức, sổ sách không còn[29] thì không biết xử lý thế nào.
Thần cho rằng không bằng căn cứ vào chi tiêu gần đây mà suy ra chi tiêu xa hơn, dần dần xem xét chi tiêu hàng năm để cắt giảm, không cần lấy thời Hàm Bình, Cảnh Đức làm chuẩn.”
Lại tâu: “Hiệu lệnh thay đổi nhiều lần thì làm tổn hại thể thống, nghe lợi hại một chiều thì làm mê muội trí tuệ. Người xin thì muốn mọi việc đều được thực hiện, người giữ thì lo lắng vì không thống nhất. Xin bãi bỏ việc ban hành chiếu chỉ từ trong cung, tất cả chiếu lệnh đều phải qua Trung thư, Xu mật viện rồi mới thi hành.”
[147] Ngày Giáp Thân, ra chiếu rằng: “Từ nay, các cử nhân thi chế khoa do nhà Vua thân chế, sẽ dựng lều ở hành lang điện, và lệnh cho quan lớn cung cấp thức ăn. Các cử nhân võ khoa sẽ thi vào ngày khác.”
Lúc đó, Tri chế cáo Tống Giao tâu: “Các khoa hiền lương, mậu tài, do nhà Vua thân chế, lại thi chung với cử nhân võ khoa, không phải là cách đối đãi với những người tài năng đặc biệt trong thiên hạ. Nên theo lệ cũ, sai quan hữu ty dựng lều, cung cấp đồ ăn uống. Đuổi cử nhân võ khoa đến nơi khác[30].” Chiếu theo lời xin của Tống Giao.
[148] Ngày Ất Dậu, Âu Dương Tu, nguyên là Suy quan Lưu thủ Tây Kinh, được làm Chưởng thư ký Tiết độ sứ Trấn Nam, Hiệu khám Quán các, do Xu mật sứ Vương Thự tiến cử.
Tu người An Phúc, (Âu Dương công, “Tống sử” ghi là người Lư Lăng, văn của ông cũng tự xưng là Lư Lăng Âu Dương Tu, chỗ này ghi là người An Phúc là không đúng.) Ông là cháu đời sau của Tuân.
Trước đây, Tiền Duy Diễn làm Lưu thủ Tây Kinh, Tu và Doãn Chu làm quan thuộc, đều có tiếng tăm, Duy Diễn đối đãi rất hậu. Tu và các bạn rượu chè vô độ, Duy Diễn đi, Vương Thự đến thay, nhiều lần khuyên răn, có lần nghiêm khắc bảo Tu và các bạn rằng: “Các ông có biết họa cuối đời của Khấu Lai Công không? Chính vì uống rượu quá độ đấy.” Các khách đều dạ dạ, riêng Tu đứng dậy đáp: “Theo tôi nghe, họa của Khấu công, chính vì già mà không biết dừng lại.” Thự im lặng, sau không giận, lại tiến cử Tu và Chu, cho vào Quán các, người đương thời khen là hiền.
(Tu, Chu được chức Quán các, theo “Hội yếu” đều do Vương Thự tiến cử. Có người nói trách Âu Dương Tu là Vương Tăng, không đúng. Tiền Duy Diễn rời Tây Kinh tháng 9 năm Minh Đạo thứ 2, Thự đến thay, Thự sau được bái làm Xu mật sứ. Tháng giêng năm Cảnh Hữu nguyên niên, Vương Tăng mới làm Lưu thủ, tính ra lúc ông đến, Tu đã không còn ở Tây Kinh nữa. Nay theo bản truyện. Nhưng Thự chết tháng 9 năm đó, Chu mới được bổ làm Hiệu khám Quán các, có lẽ Thự đã tiến cử trước.)
- Mỗi một thăng được cấp năm đấu đậu và gạo, chữ 'gạo' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống Toát Yếu, bản các và 《Tống sử》 quyển 10, phần Nhân Tông kỷ bổ sung. ↵
- Cho vay giống lúa và lương thực cho dân nghèo Hoài Nam, nguyên bản là 'Giang Hoài', căn cứ theo bản Tống Toát Yếu và các bản sửa lại. ↵
- Có người phải sống lẩn khuất nơi thôn dã, theo 《Trị tích thống loại》 quyển 28 phần Tổ tông khoa cử thủ nhân, 《Thông khảo》 quyển 31 phần Tuyển cử khảo, và 《Tống sử》 quyển 108 phần Tuyển cử chí, trước chữ 'thê trì' đều có hai chữ 'cô hàn'. ↵
- 'Sùng Chính điện' nguyên bản chép là 'Sùng Văn viện', theo 《Biên niên cương mục》 quyển 10, 《Tống sử toàn văn》 quyển 7 hạ, 《Thập triều cương yếu》 quyển 5, 《Tục thông giám》 quyển 39 mà sửa ↵
- 'Đặc' trên nguyên bản có chữ 'thủy', theo 《Tống sử toàn văn》 dẫn trên mà bỏ ↵
- Mong Bệ hạ mỗi khi đối đáp 'tiến đối', 《Đông Đô Sự Lược》 quyển 57 truyện Lý Thục chép là 'tiến thoái'. ↵
- 'Dụ' nguyên là 'luận', theo bản Tống toát yếu, các bản khác và sách 《Đông Đô Sự Lược》 sửa lại. ↵
- 'Chước' nguyên có thêm chữ 'tri', theo sách trên và bản hoạt tự sửa lại. ↵
- Xem xét và đánh giá bài thi, chữ 'hạch' nguyên là 'phúc', theo bản Tống toát yếu và sách 《Đông Đô sự lược》 sửa lại. ↵
- 'Theo' nguyên bản là 'là', căn cứ theo 《Đông Đô Sự Lược》 sửa lại. ↵
- 'Tháng lệnh' nguyên bản là 'hành lệnh', căn cứ theo sách trên sửa lại. ↵
- Xin được tiếp tục quản lý hai trì muối 'Quản lý', trong 《Tống hội yếu》 phần Thực hóa 23-37 viết là 'Kiềm hạt', có lẽ đúng. ↵
- Chiếu cho các công khanh trở xuống tiến cử người có thể đảm nhận chức thái thú, 'Châu thủ' nguyên bản là 'thủ châu', theo sách 《Tống sử》 quyển 295, truyện Tạ Giáng sửa lại. ↵
- Linh ý đầy rẫy, bản 《Tống sử toát yếu》 chép là 'hư âm lịch lan'. ↵
- 'Trưởng sử' nguyên bản là 'trưởng lại', theo các bản khác và bản in hoạt tự sửa lại. ↵
- Chiếu này bao gồm cả việc lấy giải vậy, 'lấy giải' nguyên văn là 'thu giải', theo bản Tống Toát Yếu, bản các, bản hoạt tự sửa lại ↵
- Huyện Định Tương nguyên bản chép là 'Định Hương', bản trong các các chép là 'Định Tương'. Theo 《Hoàn vũ ký》 quyển 42, Định Tương thuộc châu Hãn, Hà Đông; 《Tống sử》 quyển 86, 《Địa lý chí》 cũng chép như vậy. Nay căn cứ để sửa lại. ↵
- Chữ 'thỉnh' nguyên bản là 'thân', theo bản Tống toát yếu và các bản khác sửa lại. ↵
- Chữ 'phiên quận' nguyên bản là 'phiền quận', theo các bản khác sửa lại. ↵
- Hàn lâm Thị độc học sĩ kiêm Long đồ các học sĩ Công bộ Thị lang quyền Tri Khai Phong phủ Trình Lâm làm Tam ty sứ. 'Trình Lâm' nguyên bản viết là 'Trần Lâm', căn cứ theo 《Biên niên cương mục》 quyển 10 và 《Long bình tập》 quyển 8, 《Đông đô sự lược》 quyển 54, 《Tống sử》 quyển 288 bản truyện sửa lại. ↵
- Giả sử hợp nhất da trâu, muối ăn, tiền đất thành một. 'Tiền đất' nguyên bản viết là 'tiền ao', căn cứ theo bản các và 《Biên niên cương mục》 quyển 10, 《Tống sử toàn văn》 quyển 7 hạ, 《Tục thông giám》 quyển 39 sửa lại. ↵
- Tài phú của Tam ty. 'Tài phú' nguyên bản viết là 'phú tài', căn cứ theo bản 《Tống toát yếu》 và 《Biên niên cương mục》, 《Tống sử toàn văn》 sửa lại. ↵
- Quảng Đông chuyển vận ty, chữ 'ty' nguyên là 'sứ', theo bản Tống toát yếu và các bản khác sửa lại. ↵
- Theo bản 'Tống toát yếu', bài sách vấn của Ngô Dục được xếp vào hạng ba, Tô Thân và Trương Phương Bình đều xếp hạng tư, nhưng bài của Trương Phương Bình không đầy ba nghìn chữ, nên được đặc cách thăng chức. 'Tống hội yếu' chép: 'Bài sách của Ngô Dục được xếp vào hạng ba, Tô Thân xếp hạng tư, bài của Trương Phương Bình không đầy ba nghìn chữ... Trương Phương Bình được đặc cách thăng làm Hiệu thư lang Bí thư tỉnh, nhậm chức Tri huyện Côn Sơn, Tô Châu.' 'Tống sử toàn văn' và 'Tục thông giám' cũng chép tương tự: 'Bài sách của Ngô Dục xếp hạng ba, Tô Thân và Trương Phương Bình đều xếp hạng tư.' Đoạn văn này trong bản gốc có chỗ thiếu sót, nên theo bản Tống. ↵
- Giá bộ nguyên tác 'bộ giá', căn cứ theo bản Tống toát yếu, các bản khác và toàn văn Tống sử sửa lại. ↵
- Di Giản nhận ra không phải do Địch nghĩ ra, chữ 'phi' nguyên bản thiếu, theo bản Tống toát yếu, các bản khác và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 37 về sự tích Lữ Di Giản bổ sung. ↵
- Xem ý của Di Giản chỉ muốn Giản Chi không ở bên cạnh cha mình, chữ 'ý' nguyên bản thiếu, chữ 'chỉ' nguyên là 'chính', theo bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 sửa và bổ sung. ↵
- Nên đặc cách bổ nhiệm làm Trực tập hiền viện, chữ 'siêu' nguyên là 'khởi', theo sách trên sửa. ↵
- Chữ 'bạ' trong 'bộ thư bất tồn' nguyên bản thiếu, theo bản Tống toát yếu và 《Tống sử》 quyển 295, truyện Tạ Giáng bổ sung. ↵
- Các bản đều ghi là 'đến nơi khác', bản Tống Toát Yếu ghi là 'thi riêng'. ↵