IV. TỐNG NHÂN TÔNG
QUYỂN 116: NĂM CẢNH HỮU THỨ 2 (ẤT HỢI, 1035)
Từ tháng giêng năm Cảnh Hữu thứ 2 đời Nhân Tông đến tháng 6 cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Canh Dần, Vua xuống chiếu rằng những người từng làm việc ở Đông cung và Tư Thiện đường, không phân biệt còn sống hay đã mất, đều phải kê tên tâu lên. Do đó, Mã quân Đô ngu hậu, Phong Châu Phòng ngự sứ người Thông Xuyên là Trương Tiềm cùng hơn 40 người khác đều được thăng chức, lại sĩ được tăng lương và thăng cấp cũng hơn trăm người.
[2] Ngày Giáp Ngọ, Điện trung Thị ngự sử Lí hành Cao Nhược Nột tâu: “Theo chiếu xá năm Giáp Tuất, những người được tuyển chọn đủ 12 khóa hạn đều được xét duyệt và dẫn vào yết kiến. Nay những người được tiến cử quá nhiều, xin chỉ những ai từng trải qua nhiệm vụ mà không phạm tội tham nhũng và không già yếu mới được nghe theo để cải chức, đồng thời phải có người tiến cử thì mới được thi hành.” Vua nghe theo.
[3] Ngày Nhâm Dần, điều Giang Đông Chuyển vận sứ Tưởng Đường làm Hoài Nam Chuyển vận sứ kiêm Phát vận ty sự[1]. Lúc đó, có người dâng thư nhiều lần nói việc bỏ chức Phát vận sứ là không tiện. Tưởng Đường tâu rằng Bùi Diệu Khanh, Lưu Yến[2], Đệ Ngũ Kỳ, Lý Tốn, Bùi Hưu đều từng làm Chuyển vận sứ Giang, Hoài, Hà Nam, kiêm quản Phát vận ty sự, mà hàng năm vận chuyển lương thực về kinh đô vẫn đủ. Vua nghe theo lời tâu.
Tưởng Đường ở Hoài Nam, mỗi năm tiến cử hơn 200 viên lại thuộc, nói: “Mười người được hai ba người tốt cũng đủ báo đáp quốc gia rồi.”
[4] Độ chi Phán quan, Công bộ Lang trung Hứa Thân làm Giang Nam Đông lộ Chuyển vận sứ.
Phàm đúc tiền đồng, dùng 88 lạng nguyên liệu, được 1.000 đồng tiền, nặng 80 lạng 10 phân. Trong nguyên liệu, đồng chiếm 6 phần, chì và thiếc chiếm 3 phần, đều có dư thừa. Đúc tiền sắt lớn, dùng 240 lạng sắt, được 1.000 đồng tiền, nặng 190 lạng. Đây là quy tắc chung. Thân ở Tam ty, ngày mùng một tháng 10 năm Cảnh Hựu thứ nhất (1034), Thân bắt đầu giữ chức Công trung quyền độ phán. Ông đề xuất dùng thuốc hóa sắt và đồng để đúc chung[3], trọng lượng như tiền đồng, đồng chiếm 3 phần, sắt chiếm 6 phần, đều có dư thừa, cũng được 1.000 đồng tiền, chi phí ít mà lợi nhiều. Nhờ Nội đô tri Diêm Văn Ứng dâng lời tâu, triều đình nghe theo, liền hạ chiếu cho Thân dùng phương pháp này đúc tiền ở kinh sư. Nhưng đa phần đúc tiền pha chì và thiếc thì dễ chảy và dễ thành, pha sắt thì chảy chậm và khó thành, thợ đúc rất khổ. Ban đầu lệnh Thân đúc 1 vạn quan, hơn một tháng mới được 1 vạn đồng[4].
Thân tính tình gian trá, tự biết lời nói không hiệu quả, bèn xin làm Giang Đông chuyển vận sứ, muốn dùng phương pháp này đúc tiền ở Giang châu. Triều đình lại nghe theo, hạ chiếu cho Thân đến Giang châu đúc 100 vạn quan, không được tiết lộ phương pháp. Trong ngoài đều biết việc này không đúng, nhưng các quan chấp chính ủng hộ, cho là khả thi, nhưng cuối cùng không thành công.
(Việc đúc 100 vạn quan ở Giang châu, 《Thực lục》 ghi vào tháng 3, cùng chép. Tháng 12 năm sau, ngày Giáp Thân, Thân từ Giang Đông được điều sang Hồ Nam.)
Trước đó, Phó sứ Diêm thiết là Nhậm Bố xin đúc tiền lớn, một đồng đổi được mười đồng, còn Thân muốn dùng đồng và sắt pha lẫn để đúc. Triều đình đưa việc này xuống cho Tam ty bàn bạc. Trình Lâm tâu rằng: “Bố xin dùng tiền lớn, đó là dụ dân làm tiền giả rồi khiến họ phạm tội. Đời Đường, Đệ Ngũ Kì từng dùng cách này, cuối cùng không thể thực hiện được. Thân muốn dùng đồng và sắt pha lẫn để đúc, e rằng khó thành, nên cho Thân thử làm.” Thân lừa được chấp thuận, là vì Lâm cũng chủ trương việc này.
(Truyện của Lâm chép việc này vào trước năm Thiên Thánh thứ 5 là sai, mà phải là tháng 5 năm Cảnh Hữu nguyên niên, khi Lâm lại làm Tam ty sứ. Truyện của Vương Tử Dung chép: Bố xin đúc tiền lớn, lưu hành ở kinh thành, Trình Lâm tập hợp các quan bàn bạc, Tử Dung lúc đó làm Phán độ chi, nói: “Nay quân doanh một nửa ở ngoài thành, chỉ lưu hành tiền lớn trong thành, được chăng?”
Việc này bèn bị bãi bỏ. Chép khác với truyện của Lâm, nay không theo.)
Thiên Chương các Đãi chế Tôn Tổ Đức nói: “Đồng giả là điều pháp luật cấm, mà quan lại tự làm, đó là dạy dân lừa dối.” Ông cố tranh luận, nhưng không được nghe theo, bèn bị điều ra làm Tri Duyện châu.
(Tổ Đức ra làm Tri Duyện châu vào tháng 2 ngày Quý Mùi, nay chép chung vào đây.)
[5] Ngày Bính Ngọ, xuống chiếu cho Thái thường Lễ viện, lễ tế Thần châu Địa kỳ vào tháng Mạnh đông nên theo như lễ tế Trời Đất, sai nội thần đến dâng hương, lễ xuân thu triều bái các lăng tẩm và các đền miếu có việc cầu đặc biệt cũng theo như vậy.
[6] Thị ngự sử Hàn Độc nói: “Việc thuế má và lao dịch trong thiên hạ rất phiền phức, chỉ còn lưu giữ một sổ sách về thu thuế, một khi bị thất lạc, thì số lượng tăng giảm không thể tra cứu được. Xin lập lại sổ sách thực hành.” Triều đình đưa xuống Tam ty bàn bạc, xin làm theo lệ cũ. Ngày Đinh Mùi, xuống chiếu mỗi lần nhuận thì làm một lần.
[7] Lại xuống chiếu rằng dân ở núi rừng hái lá cây làm trà giả, tính theo giá trị mà xử theo luật lừa dối, coi như tội trộm cắp, nhưng vẫn được thưởng bằng một nửa so với trà thật.
[8] Ngày Mậu Thân, xuống chiếu cho các Lộ Chuyển vận sứ Kinh Đông Tây, Thiểm Tây, Hà Bắc, Hà Đông, Hoài Nam kiểm tra các châu huyện, không được để các hộ bán hết tài sản dời đến kinh đô để trốn tránh lao dịch, những người phân tán gia đình đến nơi khác thì vẫn giữ nguyên hộ tịch cũ, còn những hộ nghèo thì cho phép.
[9] Ngày Kỷ Dậu, đổi tên cung Trường Ninh thành cung Quảng Thánh. Cung này nằm ở điện trước trong cấm thành, có tượng thiên thần của Đạo gia, phía sau xây dựng các lầu gác để thờ thần vị của Chân Tông, chiếm góc tây bắc của cung thành.
[10] Ngày Canh Tuất, ban chiếu rằng: “Từ khi sông Hoành Lũng vỡ đê, đã từng hạ lệnh cho các lộ Hà Bắc, Kinh Đông, Kinh Tây dùng thuế dân để chiết nạp hơn năm trăm vạn bó cỏ sậy. Nay nơi đê vỡ tự nhiên sinh ra bãi bồi, có thể tiết kiệm chi phí công. Vì vậy, ba lộ chưa nộp cỏ sậy, tạm thời đình chỉ.”
[11] Ngày Quý Sửu, thiết lập hai các Nhĩ Anh và Diên Nghĩa[5], viết bài “Vô Dật” trong 《Thượng Thư》 lên bình phong. Các Nhĩ Anh nằm ở phía bắc cửa Nghênh Dương, hướng đông. Các Diên Nghĩa nằm ở phía tây điện Sùng Chính, hướng bắc. Hôm đó, Vua ngự tại các Diên Nghĩa, triệu tập các đại thần xem Thịnh Độ tiến đọc thơ Đường, Giả Xương Triều giảng 《Xuân Thu》. Sau đó, mở yến tiệc tại điện Sùng Chính.
[12] Ngày Giáp Dần, ban chiếu rằng phàm những vật dụng trong cung cần dùng mà không thiếu thì không được hạ lệnh cho Ty Tạp Mãi mua sắm.
[13] Ngày Ất Mão, ban chiếu rằng từ nay số lượng người mang khí giới trong cung không được vượt quá sáu người.
[14] Tháng 2, ngày Bính Thìn mùng một, vì trời xuân lạnh, đặc biệt ban cho các quân tân và than.
[15] Yến Túc cùng các quan dâng lên nhạc khí đã được khảo định và cho các nhạc công trình diện.
Ngày Mậu Ngọ, Vua ngự đến cung Diên Phúc xem xét, tấu 51 khúc nhạc tế giao miếu. Nhân đó hỏi Lý Chiếu về nhạc, Chiếu đáp rằng âm nhạc cao.
Vua bảo trình bày rõ, Chiếu bèn tâu: “Luật chuẩn của Vương Phác so với nhạc cổ cao hơn năm bậc, so với nhạc cấm phường cao hơn hai bậc, đánh Hoàng Chung thì thành Trọng Lã, đánh Giáp Chung thì thành Di Tắc, như vậy mùa đông lại dùng nhạc mùa hạ, mùa xuân lại gọi khí mùa thu. Vì loạn lạc thời Ngũ Đại, nhã nhạc bị hủy hoại, Phác sáng tạo ra luật chuẩn, không hợp với cổ pháp, dùng trong triều đại này, cuối cùng không có điềm lành ứng nghiệm.
Lại nữa, chuông biên và chuông bác không có sự khác biệt về lớn nhỏ, nặng nhẹ, dày mỏng, dài ngắn, đồng thiếc không tinh khiết, âm thanh không hay. Chuông lớn thì âm cao, chuông nhỏ thì âm thấp, không phải là nhạc khí đúng mức. Tương truyền rằng đó là chuông cũ thời Đường, cũng có chuông do Phác chế tạo. Xưa Hiên Viên thị sai Linh Luân chặt trúc làm luật, lại sai Thần Cổ điều hòa âm thanh, sau đó âm thanh ứng với tiếng chim phượng hoàng, ống sáo dài ngắn cũng như cánh chim phượng, nhạc ấy truyền từ thời cổ xưa, là phép không thể thay đổi.
Xin cho thần theo phép luật của Thần Cổ[6], thử đúc một bộ chuông biên, có thể khiến cho độ lượng quyền hành hòa hợp.”
Vua xuống chiếu cho phép, lại sai đúc tại viện Tích Khánh.
[16] Ngày Canh Thân, Thái thường bác sĩ, Trực sử quán Tống Kỳ dâng lên hai quyển 《Đại nhạc đồ nghĩa》.
[17] Trước đó, Vua xuống chiếu bãi bỏ hai giám Quảng Bình ở châu Minh, hợp vào các giám quần mục ở An Dương. Vương Thừa Huân tâu rằng giám Quảng Bình mỗi năm sản xuất hơn nghìn ngựa con, lại là nơi tiên triều xây dựng, không thể bãi bỏ. Lại tâu rằng ngựa còn nhiều, đất chăn nuôi ít. Ngày Quý Hợi, Vua xuống chiếu giữ lại giám Quảng Bình, không giao đất cho dân. Sau đó, Chuyển vận sứ Hà Bắc tâu rằng các giám cũ đã giao hết cho dân, xin cắt hai nghìn khoảnh đất cỏ ở địa giới châu Triệu, tạm giao cho giám An Dương ở châu Tương để chăn nuôi ngựa, Vua đồng ý.
[18] Ngày Giáp Tý, ban chiếu cho Lại bộ lưu nội thuyên rằng từ nay việc bảo cử người được tuyển chọn phải là người đang giữ chức Tri châu, Thông phán, hoặc quan thăng triều từ chức Đô giám, Phó sứ các ty trở lên mới được chấp nhận. Những người ở kinh đô không giữ chức Viên ngoại lang hoặc chưa từng làm Tri châu, Phó sứ các ty chưa từng làm Lộ phân đô giám thì không được bảo cử.
[19] Ngày Bính Dần, miễn thuế trâu bò cho các châu quân bị thiên tai ở ba lộ Giang, Chiết, Hoài Nam.
[20] Ngày Đinh Mão, Long đồ các học sĩ, Cấp sự trung, Tri Duyện châu Phạm Phúng bị giáng làm Vũ Xương hành quân tư mã, không được ký tên vào công vụ[7].
Tân Quảng Đông chuyển vận sứ, Từ bộ viên ngoại lang Bàng Tịch bị giáng làm Thái thường bác sĩ, Tri Lâm Giang quân.
Đông đầu cung phụng quan Ngô Thủ Tắc bị tước một chức quan.
Lại giáng Đô quan viên ngoại lang, Phán Hình bộ Lý Tốn làm Tri Duy Châu, Từ bộ viên ngoại lang, Tri Tín châu Đằng Tông Lượng làm Giám Nhiêu châu thuế, Đồn điền viên ngoại lang, Tri Túc châu Đổng Trữ làm Thông phán Cát châu, Quang lộc tự thừa, Quán các hiệu khám Thạch Diên Niên bị cách chức làm Thông phán Hải châu, Điện trung thừa, Tri An Cát huyện Phạm Chửng làm Hòa châu tư mã.
Lại ban chiếu nêu rõ tội của Phạm Phúng để răn đe trong ngoài.
Trước đó, Tịch làm Ngự sử, nhiều lần hặc tấu Phúng, Tể tướng Lý Đề bênh vực Phúng không trị tội, lại giáng chức Tịch. Tịch bị bãi chức, càng quyết tâm truy cứu Phúng không ngừng, lại nói Phúng buông thả không tuân theo lễ pháp, nếu tha không trị tội, sẽ làm bại hoại phong tục, giống như thời Tây Tấn suy vong, không thể không xem xét.
Khi đó Phúng cũng xin biện bạch, bèn hạ chiếu lập ngục ở Nam Kinh, sai Hoài Nam chuyển vận sứ Hoàng Tổng, Đề điểm Hà Bắc hình ngục Trương Tung tra xét việc này. Tịch bị tội vì hặc tấu Phúng không đúng sự thật, theo luật phải miễn chức, Phúng thì xử theo tội chuộc. Phúng không đợi kết luận, tự ý trở về Duyện Châu.
Lữ Di Giản ghét Phúng hay nói lời quỷ quyệt kích động, lại muốn nhân Phúng để hạ Lý Đề, nên đặc biệt khoan dung Tịch mà trọng tội Phúng. Tất cả những người thân thiết với Phúng đều bị cách chức hoặc giáng tước.
Diên Niên từng dâng sớ xin Trang Hiến thái hậu trả lại chính quyền, Phúng làm Trung thừa, muốn dẫn Diên Niên làm thuộc hạ, Diên Niên kiên quyết từ chối, cuối cùng bị miễn chức. Người đời cho rằng Tịch không ngừng hặc tấu Phúng, thực ra là do Di Giản âm thầm chỉ đạo.
(Việc Phúng xin biện bạch, căn cứ theo bia thần đạo của Tịch do Vương Khuê soạn, các sách khác đều không có ghi chép.)
[21] Ngày Mậu Thìn, Lý Địch, Thượng thư Công bộ, Đồng bình chương sự, bị bãi chức, giáng làm Thượng thư Hình bộ, nhận chức Tri châu Bạc. Trước đó, Vua ngự ở điện Diên Hòa, triệu Tể thần Lữ Di Giản và Tham tri chính sự Tống Thụ đến xử vụ án Phạm Phúng. Vì Lý Địch vốn là đồng đảng với Phạm Phúng nên không được triệu. Lý Địch lo sợ trở về phủ, ngày hôm sau liền bị bãi chức tể tướng. Lời chiếu chỉ đại lược viết: “Trong nội bộ thông gia, lừa dối lẫn nhau, không báo trước sự việc mà dâng lời[8], khá nhiều lần làm bề tôi mà có điều giấu giếm.” Tuy nhiên, Lý Địch tính tình thuần trực, thực sự không nhận ra Phạm Phúng có nhiều lời nói dối.
(《Long Xuyên biệt chí》 chép rằng Lý Địch bị giáng chức, Vương Tăng đang ở ngoài, Tống Thụ vì Vương Tăng báo với Lữ Di Giản xin được phục chức tể tướng, lại nói nên đối đãi tử tế với Vương Tăng, đừng như đối với Lý Địch. Xét Lý Địch bị bãi chức vào ngày 13 tháng 2 năm đó, liền lệnh cho Vương Tăng thay thế. Huống chi Vương Tăng làm Xu mật sứ đã nửa năm, không thể nói là đang ở ngoài. Nếu nói Lữ Di Giản ban đầu không hòa hợp với Lý Địch, muốn hạ bệ ông, bèn tiến cử Vương Tăng làm Xu mật sứ, dự định thay thế Lý Địch sau này, hoặc trước đó bàn việc đuổi Lý Địch, sẽ cử Vương Tăng qua Trung thư, nên Tống Thụ nói như vậy, thì có lẽ hợp lý. Nay đều không chọn dùng.)
[22] Xu mật sứ, Lại bộ thượng thư, Đồng bình chương sự Vương Tăng làm Hữu bộc xạ, kiêm Môn hạ thị lang, Bình chương sự, Tập hiền điện đại học sĩ;
Môn hạ thị lang, kiêm Lại bộ thượng thư, Bình chương sự Lữ Di Giản thăng Hữu bộc xạ;
Hộ bộ thị lang, Tham tri chính sự Vương Tùy làm Lại bộ thị lang, Tri Xu mật viện sự;
Xu mật phó sứ, Lễ bộ thị lang Lý Tư làm Hộ bộ thị lang, Tri Xu mật viện sự;
Xu mật phó sứ, Kiểm hiệu Thái bảo Vương Đức Dụng làm Phụng quốc lưu hậu, Đồng tri Xu mật viện sự;
Hình bộ thị lang, Tham tri chính sự Tống Thụ làm Lại bộ thị lang;
Xu mật phó sứ, Cấp sự trung Thái Tề làm Lễ bộ thị lang, Tham tri chính sự;
Hàn lâm học sĩ thừa chỉ, Đoan minh điện học sĩ, kiêm Hàn lâm thị độc học sĩ, Lễ bộ thị lang Thịnh Độ làm Tham tri chính sự;
Ngự sử trung thừa Hàn Ức làm Công bộ thị lang, Đồng tri Xu mật viện sự.
[23] Ngày Kỷ Tỵ, đổi chức mới của Lý Địch từ Tri Bạc Châu sang Tri Tương Châu. Ngày Canh Ngọ, lại đổi phong làm Tư chính điện đại học sĩ, kiêm Hàn lâm thị độc học sĩ, lưu lại kinh sư, vẫn xếp trên Tam ty sứ.
[24] Chiếu rằng hàng năm có chín đại lễ tế, theo lệ do tể tướng đảm nhiệm, từ nay về sau giao cho Tham tri chính sự và Thượng thư thừa lang phụng tự.
[25] Trực tập hiền viện Giả Xương Triều xin đưa bản chú giải 《Nguyệt lệnh》 của Trịnh Ti Nông vào lại 《Lễ ký》 quyển thứ sáu, còn bản chú giải của Lý Lâm Phủ thì lập thành 《Đường nguyệt lệnh》 riêng, được chấp thuận. Lại chiếu rằng 《Đường nguyệt lệnh》 dùng để tuyên đọc trong bốn tháng đầu mùa.
[26] Ngày Canh Thìn, giáng chức Tư chính điện Đại học sĩ, kiêm Hàn lâm Thị độc học sĩ, Hình bộ Thượng thư Lý Địch xuống làm Thái thường khanh, tri châu Mật.
Ban đầu, Lý Địch lại được vào làm tướng, tự cho rằng mình được hưởng ân điển hiếm có, nên hết lòng phụ tá, biết việc gì cũng làm. Đến khi Lữ Di Giản kế tiếp vào Trung thư, việc chính sự khá chuyên quyền, trong lòng ghen ghét Lý Địch, ngầm nói xấu ông với Vua. Lý Địch tính thẳng thắn mà sơ suất, không nhận ra.
Sau khi bị cách chức vì liên quan đến đảng của Phạm Phúng, Lý Địch oán hận Lữ Di Giản, bèn tâu rằng Lữ Di Giản tư thông với Kinh vương Nguyên Nghiễm, từng bổ nhiệm nhà sư Huệ Thanh dưới cửa làm chức Thủ khuyết Giám nghĩa. Lữ Di Giản xin được biện bạch, Vua sai Tri chế cáo Tư Yển và Độ chi Phó sứ Trương Truyền đến tra hỏi, thì ra việc này là do Lý Địch làm khi còn ở Trung thư, còn Lữ Di Giản vì đang trai giới nên không dự vào. Lý Địch xấu hổ và lo sợ, chờ tội, nên bị giáng chức.
Tuy nhiên, việc bổ nhiệm Huệ Thanh thực ra là ý của Lữ Di Giản, Lý Địch chỉ là người thực hiện văn thư[9], nhưng lại cho rằng Lữ Di Giản riêng tư với Kinh vương, có lẽ Lý Địch tình cờ quên mất. Sau này, ông nói với người khác: “Ta tự cho mình là Tống Cảnh, còn xem Lữ Di Giản là Diêu Sùng, không ngờ họ đối xử với ta như vậy.”
[27] Ngày Nhâm Ngọ, Long đồ các Học sĩ, Cấp sự trung Phùng Nguyên được làm Lễ bộ Thị lang, Hàn lâm Thị độc học sĩ, kiêm Long đồ Học sĩ. Ban đầu, Phùng Nguyên vì giám sát việc tang lễ của Trang Ý không chu toàn, bị cách chức Hàn lâm Học sĩ, ra làm tri châu Hà Dương. Các quan thuộc Quốc tử giám dâng thư xin giữ lại, nhưng các quan chấp chính muốn tâu lên Vua không cho đi, Phùng Nguyên tự xin đi. Lúc đó, Vương Tăng nói rằng Phùng Nguyên là cựu thần của triều đình, không nên vì việc nhỏ mà bỏ ra ngoài, nên lại triệu về.
[28] Xu mật trực học sĩ, Hữu gián nghị đại phu, Tri Thiên Hùng quân Đỗ Diễn được bổ làm Ngự sử trung thừa. Diễn tâu: “Trung thư, Xu mật là đại thần phụ trách ba việc lớn thời xưa, tức là ngồi bàn luận đạo lý, nhưng hiện chỉ vào ngày lẻ mới được vào chầu ở điện trước, làm sao có thể hiểu hết việc thiên hạ! Nên luân phiên triệu kiến, ban cho ngồi ở điện tiện, để tận lực hiến kế, mỗi tháng chỉ cần vài lần là đủ. Còn những việc vụn vặt như dâng mẫu lúa vải, xem xét áo giáp cung tên, điểm danh ngựa, bổ nhiệm và khảo hạch lại viên, đó là việc của các ty chuyên trách, bệ hạ cần gì phải tự quyết định.”
[29] Tháng 3, ngày Bính Tuất, Diêm thiết phó sứ, Binh bộ lang trung Nhậm Bố được bổ làm Hữu gián nghị đại phu, Tri Thành Đức quân. Lúc đó bàn việc giảm binh lực ở Hà Bắc, Bố nói rằng hai vùng biên giới Tây Bắc đang ẩn chứa mưu đồ xấu, nhòm ngó Trung Quốc, nên không thể buông lỏng phòng bị.
(Việc giảm binh lực ở Hà Bắc có thể là do thỉnh cầu của Trình Lâm vào tháng 5 năm ngoái, cần xem xét thêm.)
[30] Ngày Kỷ Sửu, lấy Ngự sử trung thừa Đỗ Diễn tạm quyền phán Lại bộ lưu nội thuyên. Trước đây, các quy tắc tuyển bổ quan lại quá rườm rà, người chủ trì không thể xem hết, lại viên thường nhận hối lộ, làm bậy. Diễn nhậm chức, liền ra lệnh cho lại viên lấy sách luật thuyên bổ, hỏi: “Đã đủ chưa?” Đáp: “Đủ rồi.” Bèn xem xét kỹ, nắm rõ đầu đuôi sự việc. Hôm sau, bảo các lại viên không được lên sảnh, mỗi người ngồi ở phòng mình nghe thi hành văn thư, mọi việc thuyên bổ đều do Diễn tự quyết định, từ đó lại viên không thể làm bậy. Sau hơn một tháng, tiếng tăm vang dội kinh thành. Sau đó đổi làm Tri Thẩm quan viện, cách làm vẫn như khi phán thuyên bổ.
(Việc Thẩm quan xảy ra vào tháng 8, nay ghi chung lại.)
[31] Tri Tô Châu, Tả ty gián, Bí các hiệu lý Phạm Trọng Yêm được bổ làm Lễ bộ viên ngoại lang, Thiên Chương các đãi chế.
(Trọng Yêm từ chức vụ ngoài đột nhiên được vào hàng thị tùng, ắt có nguyên do, sử không ghi rõ, có lẽ là do Phú Bật dâng sớ, nay ghi lại để làm rõ.)
[32] Chiếu rằng Trấn Nhung quân năm nay mất mùa, cho 58 chỉ huy đội cung thủ vay 6 vạn hộc thóc.
[33] Điện trung thừa, thông phán Tề Châu là Trương Tông Di tâu rằng: Phủ Đại Danh mới xây đê vàng, có thể ngăn nước sông Hoàng Hà vỡ ở Hoành Lũng, xin tạm hoãn việc tu sửa đê. Triều đình xuống chiếu cho Ty chuyển vận Hà Bắc vẽ bản đồ sông Hoàng Hà ra đến biển dâng lên.
[34] Thái thường lễ viện tâu: “Thị ngự sử Lưu Quỳ xin bỏ chữ ‘Thái’ trong tôn hiệu của Trang Hiến Minh Túc thái hậu và Trang Ý thái hậu. Vì vào miếu xưng ‘Hậu’ là theo chồng, ở miếu xưng ‘Thái’ là theo con. Nhưng hai thái hậu được thờ ở biệt miếu, theo lễ chưa nên bỏ chữ ‘Thái’.” Vua cho rằng Quỳ không hiểu điển chế, xuống chiếu cho đài quan giải thích.
Quỳ là người Sùng An.
[35] Ngày Tân Mão, quần thần vì Trang Hiến thái hậu đã qua đại tường, dâng biểu xin nghe nhạc, Vua không nghe. Biểu dâng năm lần, Vua xuống chiếu đợi đến khi tế đạm xong mới cho nghe nhạc.
[36] Ngày Nhâm Thìn, xuống chiếu cho những người được tuyển chọn đã qua 12 kỳ khảo xét mà không có người tiến cử, được đặc cách tham gia tuyển chọn.
[37] Ngày Ất Mùi, ban cho bốn châu Bạc, Tú, Bộc, Trịnh mỗi nơi 5 khoảnh ruộng học điền.
[38] Ngày Đinh Dậu, xuống chiếu cho một viên Quốc tử giám trực giảng kiêm nhiệm chức Giám thừa và Chủ bạ.
[39] Xuống chiếu cho Ty chuyển vận Kinh Tây, hàng năm khi tông thất, cung nữ lên lăng tẩm hoặc cử quan đi tế lễ, hoặc khi có chiếu chôn cất cần các vật dụng, đều do quan phủ chuẩn bị, không được quấy nhiễu dân. Đây là theo lời tâu của Tri phủ Hà Nam là Lý Nhược Cốc.
[40] Lại xuống chiếu cho phủ Khai Phong, từ nay về sau nếu trong thành cũ có nhà dân lấn chiếm đường quan, thì lệnh cho Ty tuần tra đường phố của tả hữu quân xét hỏi, và cho phép người khác tố cáo.
[41] Ngày Tân Sửu, tu sửa điện Tây Lương. Điện này ở trong cung, lâu năm đã hư hỏng, nhưng Vua không muốn khởi công xây dựng. Đến lúc này, các quan nhiều lần xin, Vua mới chấp thuận.
[42] Ngày Quý Mão, ban tiền cho binh lính làm việc tu sửa đê vàng ở quân Thiên Hùng[10].
[43] Ngày Mậu Thân, xuất châu báu từ kho điện Nghi Thánh giao cho Tam ty để giúp chi phí.
[44] Ngày Nhâm Tý, gia tặng hai đời cho Bảo Khánh hoàng thái hậu.
[45] Xuống chiếu tạm ngừng thi cử.
[46] Mùa hạ, tháng tư, ngày Bính Thìn, Lý Tuân Húc, Trấn quốc tiết độ sứ, Phò mã đô úy, được bổ nhiệm làm phán quan ở Hứa Châu. Dân chúng đang nộp thuế, quan coi kho không đến kịp, Tuân Húc liền đến nhận thuế thay. Quan coi kho sợ hãi quỳ lạy tạ tội, dân chúng rất vui mừng. Chuyển vận sứ tuyển bổ lính thủy, không hỏi có quen việc hay không, cứ bắt ghi tên vào sổ. Tuân Húc nói: “Bắt người làm việc không quen, thì dùng làm gì!” Bèn sai thuộc hạ xét lại, bỏ đi những người không quen việc nước, chiếm đến bảy tám phần mười.
[47] Ngày Đinh Tỵ, Lý Chiếu tâu rằng vâng chiếu chế ngọc luật để đo khí hậu, xin sai người đến Lộ Châu, huyện Thượng Đảng, núi Dương Đầu tìm lúa cự thử, và đến Hoài Châu, huyện Hà Nội lấy cỏ gia phù, đều được chấp thuận.
[48] Ban cho gia đình Mao Tuân, nguyên là Tiết độ suy quan của Trấn Đông quân, 50 tấm lụa và 50 hộc gạo. Tuân người Cát Châu, đỗ tiến sĩ, lại đỗ khoa Bạt tụy ở Trung thư. Cha ông là Quốc tử bác sĩ Mao Ứng Thuyên cùng mẹ ông mất ở Đậu Châu, Tuân đi chân đất đưa tang về quê chôn, đắp đất thành mộ, rồi ốm yếu mà chết, nên được đặc biệt ban thưởng.
[49] Ngày Kỷ Mùi, Chương Đắc Tượng, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ, Yên Túc, Thiên chương các đãi chế, cùng Phùng Nguyên Tường, Hàn lâm thị độc học sĩ, định lại phép đo thời gian bằng khắc lậu.
[50] Triệu Lương Quy, Tập hiền hiệu lý, tri Tông chính thừa sự, tâu rằng lễ tiến vật mới ở Thái miếu đã bỏ lâu không làm, xin cho bàn định. Tháng 12 tiến các loại rau quả, chim cá, gồm 26 thứ[11], chiếu theo đó thi hành. Lương Quy là con của Triệu An Nhân.
[51] Ngày Canh Thân, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Chương Đắc Tượng cùng các quan tâu rằng: “Kính vâng chiếu chỉ, định việc tế tự Cửu cung quý thần theo lời tấu của sinh viên Ty thiên giám Vu Uyên và lính dịch Đơn Huấn, chỉ dùng một cục, bỏ mất phép phi cung hàng năm. Xét theo phép Cửu cung của Lận Lương Ngộ, có bản đồ Phi kỳ lập thành, mỗi năm di chuyển một lần, chủ về việc tai ương và phúc lành của chín châu.
Thời Thiên Bảo, thuật sĩ Tô Gia Khánh bắt đầu đặt đàn thần Cửu cung, một tầng, cao ba thước, bốn bậc, trên đặt chín đàn nhỏ theo vị trí: đông nam là Chiêu Dao, chính đông là Hiên Viên, đông bắc là Thái Âm, chính nam là Thiên Nhất, trung ương là Thiên Phù, chính bắc là Thái Nhất, tây nam là Nhiếp Đề, chính tây là Hàm Trì, tây bắc là Thanh Long. Số năm ở giữa, đội chín đạp một, bên trái ba, bên phải bảy, hai bốn ở trên, sáu tám ở dưới, phù hợp với phép Độn Giáp, đó là định vị của Cửu cung. Mỗi năm tế vào bốn tháng mạnh, vị trí thay đổi theo năm, nên gọi là Hành kỳ.
Từ niên hiệu Càn Nguyên về sau, chỉ tế theo vị trí cố định, không di chuyển nữa, lại bỏ hai lễ tế mùa đông và mùa hạ. Triều đình ta theo lệ cũ thời Càn Nguyên, chưa từng thay đổi gì. Nay lời thỉnh cầu của Vu Uyên và các quan, vừa hợp với lễ tế đầu thời Thiên Bảo, lại phù hợp với bản đồ Phi kỳ của Lận Lương Ngộ.
Tuy nhiên, phép Cửu cung vốn xuất phát từ thuật gia, văn tế thời vụ không được ghi trong kinh lễ. Xưa, các quan từ đường nhà Hán phụ trách, phần nhiều dựa vào phương sĩ, số lượng sinh tế, đàn trường, thời tiết sáng tối, việc dâng lễ, phối hưởng, múa hát đều theo phương pháp của họ. Vì thế có việc Hoàng Đế dùng chim cú[12], Vũ Di dùng cá khô, đó là vì dân cầu phúc, không có văn tự cũng đều được xếp vào hàng lễ, há có gì quá đáng, không phải chỉ chấp nhất một góc.
Có người bàn rằng không cần phi cung, nếu như nhật nguyệt tinh thần di chuyển khắp nơi mà lễ tế có nơi cố định, thì đó là lễ tế định vị nên theo. Còn như việc suy tính sự luân chuyển, đón thần linh trong mơ hồ, dựa vào phương hướng để trừ tai họa, theo khí mà xét điềm lành, thì văn phi vị vẫn có thể tuân theo. Xin theo lễ nhà Đường, mỗi khi tế Cửu cung, cử một viên quan Ty thiên giám đến nơi tế, theo phương hướng Phi kỳ của quý thần mỗi năm để định vị trí tế.
Từ năm Thiên Thánh Kỷ Tỵ nhập lịch, Thái Nhất ở cung một, mỗi năm tiến một vị, Phi kỳ tuần hành, hết một vòng lại bắt đầu.” Chiếu chuẩn tấu.
[52] Ngày Tân Dậu, ban chiếu cho các lộ đề điểm hình ngục ty, nếu có việc oan uổng liên quan đến tính mạng con người, dù chưa qua chuyển vận ty[13], cũng được phép tiếp nhận và xử lý.
[53] Ngày Giáp Tý, Khiết Đan cử Lâm Nha Bảo Đại Tiết độ sứ Gia Luật Thứ Kỷ và Chính sự xá nhân Lưu Lục Phù đến chúc mừng tiết Càn Nguyên.
[54] Ngày Mậu Thìn, lệnh cho Tể thần Lữ Di Giản và Vương Tăng đảm nhiệm việc đốc thúc đúc chuông lớn cho nhạc lễ, Tham tri chính sự Tống Thụ, Thái Tề, Thịnh Độ cùng tham gia đốc thúc, Hiệu lý tập hiền Lý Chiếu và Câu đương ngự dược viện Đặng Bảo Tín chuyên trách giám sát việc đúc chuông, đồng thời cử Nhập nội đô tri Diêm Văn Ứng làm người đề cử.
Ban đầu, Lý Chiếu đã đúc xong một bộ chuông để dâng lên, sau đó đề nghị cải cách nhạc lễ, lấy thóc kê từ huyện Kinh để đo lường và đúc chuông, nhưng âm thanh vẫn cao, nên đổi dùng thước vải của Đại phủ làm chuẩn. Sau đó, hạ lệnh cho Thái thường chế tạo bốn loại nhạc khí. Lý Chiếu tự đề ra phương pháp làm ống nhạc, lấy 90 hạt thóc làm 420 sao, mỗi sao chiếm 9 phần nhỏ, mỗi hạt thóc tương đương 4 sao 6 phần nhỏ, 90 hạt thóc tương đương 420 sao, dùng làm tiêu chuẩn cho 12 ống nhạc.
[55] Phó sứ chuyển vận Hoài Nam là Ngô Tuân Lộ xin đặt 19 cửa cống ở các châu Chân, Sở, Thái và quân Cao Bưu để điều tiết nước, được chấp thuận.
[56] Ban tặng bộ 《Cửu Kinh》 cho trường học ở châu Sở.
[57] Ngày Canh Ngọ, xuống chiếu cho các quan trong ngoài và kẻ sĩ ẩn dật, ai biết được sự được mất của nhã nhạc âm luật, phép đoán thời tiết, cho phép tiến cử lên triều đình, hoặc tự mình trình bày với quan ty, sẽ được thử nghiệm. Thị ngự sử Lưu Quỳ tâu: “Cái gốc lớn của nhạc, thông với chính sự giáo hóa, không nên dễ dàng thay đổi nhạc khí. Xin chọn người học rộng để bổ vào chức khanh thừa. Những kẻ bốn phương dâng lời bậy bạ để cầu tiến, đều bãi bỏ hết.” Vua khen lời ấy, nhưng rốt cuộc cũng không theo.
(Vua khen lời Quỳ, theo bản truyện mới, nay phụ chép vào, nhưng thực ra không dùng được. Vương Xưng trong 《Đông Đô Sự Lược》 chép chiếu rằng: “Việc làm nhã nhạc là nền tảng của đạo trị nước, việc tế ở giao xã tông miếu, lễ yến tiệc triều đình, sự hòa hợp giữa người và thần, thực là việc quan trọng. Nay sai quan ty khảo xét chính lại chuông lữ.”)
[58] Ngày Nhâm Thân, xuống chiếu cho các con của Tào Lợi Dụng trước đây bị giáng chức, đều được trở về kinh sư. Sau đó lại xuống chiếu cấp cho một phần tư số ruộng đất cũ bị tịch thu.
(Việc cấp một phần tư đất ở, vốn là ngày Giáp Tý tháng 10, nay chép chung vào đây.)
[59] Ngày Quý Dậu, xuống chiếu cấm các quan ty trong thiên hạ không được tự tiện phát trạm ngựa, nếu là việc cơ mật phải dùng trạm ngựa, cho phép niêm phong gửi đến châu quân thuộc quyền để phát đi, kẻ nào vi phạm, cả người gửi và người nhận đều bị luận tội. Trước đây, Giám tửu trấn Long Tuyền châu Định, Hữu ban điện trực Chiết Duy Ninh tự tiện dâng chương bằng trạm ngựa, đã bị tội cách chức, nhân đó định ra điều lệ.
[60] Ngày Mậu Dần, sai Hàn lâm thị giảng học sĩ kiêm Long đồ học sĩ Phùng Nguyên, Độ chi phán quan Tập hiền hiệu lý Niếp Quán Khanh, Trực sử quán Đồng tri Thái thường lễ viện Tống Kỳ cùng tu soạn sách nhạc.
[61] Thái thường thừa, Trực tập hiền viện Lữ Công Xước làm Đồng phán hình bộ, tự nói cha là Di Giản làm tể tướng, mà việc phán hình bộ nhiều việc liên quan đến Trung thư, xin chuyển đi để tránh. Ngày Canh Thìn, sai Công Xước quyền phán Lại bộ Nam tào.
[62] Hoàn Khánh lộ Phó đô bộ thự, Bộ quân đô ngu hậu, Vĩnh Châu phòng ngự sứ Lưu Bình giáng làm Nhiêu Châu phòng ngự sứ, bãi chức quản quân, nhận chức Tri Đồng Châu. Tẩu mã thừa thụ, Nhập nội cung phụng quan Ư Đức Nguyên bị giáng một bậc. Lưu Bình say rượu, tự ý phá khóa vào kho vũ khí, Chuyển vận sứ Tô Kỳ tâu hặc, nhưng Ư Đức Nguyên ban đầu không báo việc này, cả hai đều bị xét hỏi ở Ngự sử đài. Đến khi Lưu Bình xin đối chất với Tô Kỳ, thì Tô Kỳ đã qua đời, tuy được miễn hặc, nhưng vẫn bị trách phạt.
[63] Ghi chép về cháu của Tào Tu Cổ là Tào Cận được bổ làm Thí Tướng tác giám chủ bạ, và cho phép làm người kế tự của Tào Tu Cổ.
(Truyện của Tào Cận chép rằng Thiên Chương các đãi chế Đỗ Kỷ xin cho Tào Cận làm người kế tự của Tào Tu Cổ, và được bổ làm Kiến Châu ty hộ tham quân. Xét rằng Đỗ Kỷ làm đãi chế Thiên Chương các vào tháng 4 năm Khánh Lịch thứ 8, nên truyện chép sai.)
[64] Chiếu rằng các quan lại dùng tráp tử tấu sự, chỉ có Trung thư, Xu mật viện được làm theo chế độ cũ, còn lại đều phải ghi rõ chức vụ và tên họ. Ban đầu, Tri chế cáo Đinh Độ dâng tráp tử không ghi họ, trong cung nhầm giao cho Tham tri chính sự Thịnh Độ, nên mới đặt ra quy định này.
[65] Ngày Tân Tỵ, Thẩm hình viện và Đại Lý tự tâu: “Vâng chiếu xét định điều lệ về việc xông vào cấm vệ. Xét cấm vệ có năm lớp: Thân tòng quan là lớp thứ nhất, Khoan y Thiên vũ quan là lớp thứ hai, Ngự long cung tiễn trực và nỗ trực là lớp thứ ba, Ngự long cốt đóa tử trực là lớp thứ tư, Ngự long trực là lớp thứ năm. Nay so sánh với luật lệnh[14], xin định rằng xông vào từ lớp ngoài cùng thứ nhất thì phạt tù một năm, mỗi lớp vào sâu hơn thì tăng thêm một bậc, tội cao nhất là tù hai năm, nếu là lỗi vô ý thì giảm hai bậc.” Được chấp thuận.
[66] Ngày Nhâm Ngọ, ban tiền cho binh lính tham gia sửa sông ở Bác Châu.
[67] Tháng 5, ngày Giáp Thân, mùng một, ban chiếu rằng: “Bậc vương giả phụng thờ tổ tông, tôn sùng công đức. Vì vậy, khi tế trời đất thì mời thần làm chủ, xét lễ đế hợp thực[15], thì trăm đời không thay đổi. Kính nghĩ Thái Tổ hoàng đế nhận mệnh trời, dựng nghiệp lớn, có thể nói là có công. Thái Tông, Chân Tông, hai bậc thánh nối ngôi, làm cho thịnh vượng thêm nhiều, có thể nói là có đức. Nay lệnh cho quan Lễ bộ khảo xét điển lễ, bàn bạc thứ tự tôn phối, định vị trí hai nhà thờ tổ, Trung thư, Môn hạ xem xét kỹ rồi tâu lên.”
(Vương Xưng trong 《Đông đô sự lược》 chép: Bấy giờ Lễ viện tâu rằng: “Thái Tổ của chúng ta kinh luân buổi đầu, dựng nên thiên hạ, công xứng đáng là tổ của đế vương. Thái Tông chăm chỉ xây dựng chế độ, Chân Tông hoàn thiện việc trị nước, đức xứng đáng là tông của đế vương. Ba miếu đều không bị phế bỏ muôn đời. Đến việc thăng phối với Thượng đế, từ nay lấy Thái Tổ làm định phối, hai tông làm thay phiên phối, tương lai hoàng đế thân hành tế lễ, xin cho ba thánh cùng phối.” Trung thư, Môn hạ tâu xin theo nghị của quan Lễ bộ, chiếu chuẩn y.)
[68] Ngày Ất Dậu, ban chiếu rằng: “Các quan vào đất Thục, người và ngựa, khí giới mang theo, trước đều cấp giấy công văn để kiểm tra gian ngụy. Nghe nói gần đây lỏng lẻo việc phòng cấm, từ nay đi đường bộ đến Kiếm Môn, đường thủy đến Giang Lăng phủ[16], lệnh cho các cơ quan kiểm tra giấy công văn, mỗi tháng tâu lên Xu mật viện.”
[69] Ngày Bính Tuất, cho cháu của Tiết độ sứ Hà Tây là Tang Tán là Tôn Khánh làm Tam ban phụng chức. Khánh vốn là Thân tòng quan, nhân thi võ nghệ mà tự kể gia thế, nên đặc cách cho.
[70] Ban tiền cho dân phu xây đê ở huyện Nguyên Vũ[17].
[71] Ngày Canh Dần, cấm chạm vàng làm đồ trang sức cho phụ nữ.
[72] Lý Chiếu dâng lên bản vẽ chuông chín núm, chuông trước đây trang trí bằng hình con sâu xoắn, đổi thành hình rồng, và tự chế tạo nhạc khí mới tám âm. Lại xin khắc đá riêng làm bộ khánh.
[73] Ngày Tân Mão, sai nội thị đưa nhạc công đến quân Hoài Dương để chế tạo đá khánh.
[74] Chiếu lại nói rằng đã cải chế nhạc khí bằng kim loại và đá, thì các nhạc khí bằng tơ, tre, bầu, đất, da, gỗ cũng nên đổi mới để chuẩn bị cho việc tế lễ, tấu xin được chấp thuận. Bèn đúc đồng làm bốn vật là dược, hợp, thăng, đấu, để định ra phép đo âm thanh của chuông và khánh. Dung lượng của dược là 630 hạt kê để làm dung lượng của Hoàng Chung, hợp gấp ba lần dược, thăng gấp mười hai lần hợp, đấu gấp mười lần thăng. Sau khi cải tạo các nhạc khí để định ra phép đo, lại thấy dung lượng của khánh hơi lớn, bèn tăng thêm sáu dược thành một hợp, mười hợp thành một thăng, mười thăng thành một đấu, gọi là lạc đấu. Khi châu Lộ dâng kê cự, Chiếu chọn hạt kê lớn xếp dọc để kiểm tra độ dài ngắn. Thước làm xong, hợp với thước của Thái phủ, phép đo càng thêm vững chắc.
[75] Phán Đại Lý tự Tư đồ Xương Vận tâu: “Bản tự xét đoán việc lớn trong 20 ngày, việc nhỏ trong 10 ngày, Thẩm hình và Tường nghị mỗi việc giảm một nửa, nhưng không xét trong án có tù nhân hay không. Sợ rằng trong mùa nóng nực, chờ báo cáo lâu ngày, xin từ tháng 4 đến tháng 6, nếu án có tù nhân thì giảm một nửa thời gian. Ở hai Xuyên, Quảng Nam, Phúc Kiến, Hồ Nam, xử theo lệ án khẩn cấp rồi tâu lên.” Được chấp thuận.
[76] Ngày Quý Tỵ, điện Quan Giá mới xây ở hậu uyển hoàn thành.
[77] Ngày Giáp Ngọ, hai lộ Quảng Nam Đông và Quảng Nam Tây đều tâu rằng giặc man quấy nhiễu biên giới, Tuần kiểm các châu Cao, Đậu, Lôi, Hóa là Hứa Chính tử trận. Triều đình sai Tả thị cấm Tang Dịch phối hợp với Đô giám hai châu Quảng, Quế đi đánh dẹp.
Trước đây, Tang Dịch làm Huyện úy Giáp Thành, gặp lúc các huyện thuộc Hà Nam có nhiều giặc cướp, Chuyển vận sứ tâu xin điều Dịch đến huyện Miễn Trì. Bọn giặc cướp chiếm giữ núi Thanh Hôi, thường xuyên ra cướp phá, khiến đường sá bị nguy hiểm. Có tên giặc cướp lâu năm là Vương Bá, đã lâu không bắt được, triều đình mỗi lần bổ nhiệm Tuần kiểm sứ đều ghi rõ tên hắn để bắt. Khi Tang Dịch đến nhậm chức, Tuần kiểm sứ đưa ra một tờ tuyên đầu giả cho Dịch xem, mưu tính việc chiêu dụ. Dịch không biết đó là giả, liền xông vào trong đám giặc, cùng Vương Bá ăn ngủ với nhau hơn mười ngày, Bá bèn cùng Dịch ra ngoài, đến cửa núi thì bị phục binh của Tuần kiểm sứ bắt, Dịch suýt nữa không thoát. Dịch nói: “Tuần kiểm sứ chỉ sợ không có công mà thôi.” Liền giao Vương Bá cho Tuần kiểm sứ, để hắn tự nhận công, trói Bá giải về kinh sư, còn Dịch thì không nói gì thêm.
Triều đình biết chuyện, bèn cách chức Tuần kiểm sứ, thăng Dịch làm Hữu ban điện trực, Tuần kiểm huyện Vĩnh An.
Cuối niên hiệu Minh Đạo, vùng Kinh Tây bị hạn hán và nạn châu chấu, có hai mươi ba tên giặc cướp. Xu mật viện triệu Tang Dịch đến kinh sư, trao cho tên họ của bọn giặc, sai đi bắt[18]. Tang Dịch nói: “Bọn giặc sợ danh tiếng của ta, ắt sẽ tan rã, tan rã thì khó bắt được, nên tỏ ra nhút nhát trước.”
Đến nơi, ông đóng cổng doanh trại, ra lệnh cho quân sĩ không được một người nào tự ý ra ngoài. Ở vài ngày, thuộc hạ không biết làm gì, xin ra ngoài để lập công, đều không được cho phép. Đêm đến, ông cùng vài quân sĩ mặc quần áo giặc, đi theo dấu vết nơi bọn giặc thường qua lại, vào nhà dân, già trẻ đều bỏ chạy, chỉ có một bà lão ở lại, chuẩn bị đồ ăn thức uống, như đối đãi bọn giặc. Tang Dịch trở về, đóng cổng doanh trại ba ngày, rồi lại đến, tự mang đồ ăn đến cùng bà lão dùng bữa, và để lại phần thừa cho bà. Bà lão tưởng là giặc thật, bèn dần thân thiết, nói chuyện về bọn giặc. Bà lão nói: “Chúng nghe tin Tang Điện trực đến, đều bỏ trốn hết. Gần đây nghe nói đóng doanh không ra, biết là không đáng sợ, nay đều trở về rồi, chúng ở chỗ này chỗ kia.”
Tang Dịch ba ngày sau lại đến, tặng bà lão nhiều quà, rồi nói thật: “Ta là Tang Điện trực, hãy giúp ta dò xét tình hình thực tế, đừng để lộ.” Ba ngày sau, ông lại đến, bà lão bèn nắm được nơi ở thực sự của bọn giặc và báo cho ông. Hôm sau, Tang Dịch phân bổ quân sĩ, bắt hết bọn giặc. Những tên hung hãn nhất, ông tự cưỡi ngựa đi bắt.
Khi trở về kinh sư, quan lại Xu mật viện đòi tiền, hứa sẽ tiến cử làm Các môn chi hậu, Tang Dịch không đồng ý. Quan lại giấu công trạng của ông, chỉ miễn cho chức Đoản sứ mà thôi.
[78] Ngày Ất Mùi, bỏ huyện An Lăng thuộc châu Đức.
[79] Ngày Bính Thân, Vua ngự điện Sùng Chính xét tù nhân.
[80] Ngày Kỷ Hợi, ra chiếu rằng những người từng giữ chức ở Nhị phủ mà làm Tri châu, được phép bổ nhiệm một viên Thông phán hoặc Mạc chức quan; những người từ Đại lưỡng tỉnh trở lên làm Tri quân Thiên Hùng, Thành Đức, Ích châu, Thái châu, đều được phép bổ nhiệm một viên Thông phán; còn Thông phán các nơi Vĩnh Hưng quân, Hà Nam phủ, Diên, Hàng, Quảng, Tử châu, đều giao cho Thẩm quan viện tuyển chọn người.
[81] Ban thưởng tiền cho binh lính làm việc ở đê Kim Đê thuộc Thiên Hùng quân và đập Hoành Lũng thuộc chuyên Thiền.
[82] Ngày Canh Tý, Thái thường Lễ viện tâu rằng: “Bậc vương giả dựng miếu thờ nghiêm trang, hợp với thứ tự chiêu mục. Tổ chỉ có một, là người đầu tiên nhận mệnh trời. Tông không định trước, đợi người có đức. Từ tông trở xuống, phân biệt thân sơ, để làm quy chế thay đổi bỏ bớt. Đời sau dù có người hiển đạt, công lớn, cũng không được ngang hàng với tổ tông, đó là để thống nhất đạo tôn kính cổ nhân. Hoàng đế bệ hạ một lòng hiếu trị, ban bố đức âm, luôn nghĩ đến công lao to lớn của ba đời trước, trời cao đất rộng, mà lễ phụng thờ vẫn chưa xứng đáng, sáng suốt lo lắng, tìm cách bày tỏ tấm lòng, sai quan lại tra cứu điển cũ, mở rộng bàn luận, phát huy điều tốt đẹp, mưu tính lâu dài, để hợp với ý trời, lưu danh muôn thuở, đó không phải là việc mà kẻ học thức nông cạn như thần có thể làm được.
Thái Tổ hoàng đế nhận mệnh trời, giao phó bốn biển, dẹp yên loạn lạc, trừ bỏ kẻ bất chính, dẹp tan cuộc nổi dậy ở Trạch, Lộ, thu phục vùng Hoài Hải, đốt phá xe ngựa của Ngô, vây hãm thành lũy của Thục, các nơi như Hồ Nam, Sở, Mân, Ngô đều xin làm quan triều đình. Lúc đó, người trong thiên hạ thoát khỏi cảnh tàn phá, được hưởng cuộc sống mới, đó là sự nghiệp vạn đời. Thái Tông hoàng đế nắm giữ mưu lược, kế thừa võ công, thực hiện ý trời, dẹp yên Thái Nguyên, từ đó thận trọng trong việc thi hành hình phạt, thu nhận cống phẩm từ bốn phương, thưởng công xứng đáng, coi trọng lương thực khuyến khích phân phối, quan lại không phiền nhiễu, dân chúng không oán hận.
Lại mời các bậc đại thần và nho sĩ, giảng đạo mở mang học vấn, rực rỡ như phong tục thời Tam Đại. Chân Tông hoàng đế đức độ ngày càng sáng tỏ, giữ vững uy nghi, vỗ về hòa hợp, yên ổn phương Bắc, thuận theo thiên thời, làm nên thánh đức, noi theo lời dạy của Hạ, kế thừa nghi lễ tuần thú của Ngu, giữ gìn sách quý ở núi Thái Sơn, trồng trọt lương thực ở đất Ký, đón nhận điềm lành, ban phúc khắp dân chúng, mọi loài đều được yên ổn, trăm việc đều chu toàn, trao quyền cho minh quân. Công lao của một tổ hai tông, xét qua các sách xưa, chưa từng có ai vượt qua.
Xưa Thành Thang là tổ của nhà Thương, Thái Giáp, Thái Mậu, Vũ Đinh được xưng là Tam Tông. Hậu Tắc là tổ của nhà Chu, Văn Vương, Vũ Vương xây dựng hai miếu thờ. Cao Đế là tổ của nhà Hán, Hiếu Vũ đặc biệt tôn sùng hai miếu. Đều được con cháu đời đời phụng thờ không dứt. Thái Tổ của ta kinh luân thời loạn lạc, dựng nên thiên hạ, công lao xứng đáng là tổ của đế vương. Thái Tông chăm chỉ xây dựng, Chân Tông hoàn thiện trị quốc, đức độ xứng đáng là tông của đế vương. Ba miếu thờ này mãi mãi không thay đổi, tuyên bố cho thiên hạ, để lại cho đời sau.
Đến việc thăng hưởng Thượng đế, bày tỏ lòng tôn kính đối với các tiên đế, căn cứ theo đạo nhà Chu, đủ để thỏa mãn lễ nghi. Xưa Thái Tông thân hành tế giao[19], phụng Tuyên Tổ, Thái Tổ làm bồi tế; Chân Tông bắt đầu tế tự, phụng Thái Tổ, Thái Tông làm bồi tế. Nay hai tông cùng lên ngôi vị bất diêu, thì lễ nghi không có sự khác biệt, xin từ nay lấy Thái Tổ làm bồi tế chính, hai tông làm bồi tế luân phiên. Phù hợp tình cảm và sự việc, lý lẽ thực sự không có gì đáng ngại.
Việc hoàng đế tương lai thân hành tế tự, xin lấy cả ba thánh đều làm bồi tế[20], trên thể hiện sự hưng thịnh của việc tôn kính, dưới bày tỏ lòng tưởng nhớ sâu xa, đó là việc làm của bậc thánh nhân, cũng là nguyện vọng lớn của quần thần. Sau này luân phiên bồi tế, vẫn theo nghị định trước.
Xưa Đường Cao Tông lên núi Thái Sơn tế trời, lấy Thái Vũ hoàng đế, Văn hoàng đế làm bồi tế Hạo Thiên. Minh Hoàng tế trời, lấy Cao Tổ làm bồi tế trời, Duệ Tông làm bồi tế đất. Năm Khai Nguyên định lễ, lấy Cao Tổ làm bồi tế Phương Khâu, Thái Tông làm bồi tế Thần Châu. Đó là tiền lệ của việc hai tông luân phiên bồi tế. Thời kỳ Thùy Củng, Khai Nguyên, Cao Tổ, Thái Tông, Cao Tông cùng làm bồi tế Hạo Thiên. Chân Tông lên núi Giới Khâu, xuống Xã Thủ, đều lấy Thái Tổ, Thái Tông làm bồi tế trời đất. Đó là chuẩn mực rõ ràng của việc ba thánh cùng làm bồi tế.
Các lễ tế thường niên, thì ngày Đông chí tế Viên Khâu, tháng Trọng Hạ tế Hoàng Địa Kỳ, lấy Thái Tổ làm bồi tế; tháng Mạnh Xuân tế cầu mùa, tháng Hạ tế Vu, tháng Đông tế Thần Châu, lấy Thái Tông làm bồi tế; tháng Mạnh Xuân tế Cảm Sinh Đế, lấy Tuyên Tổ làm bồi tế; tháng Quý Thu tế Đại Hưởng, lấy Chân Tông làm bồi tế, xin đều theo lễ nghi là tiện.”
Trung thư môn hạ tâu: “Kính nghĩ rằng lễ nghi là việc lớn, ắt phải lấy tông miếu làm đầu, đức được tôn kính thì không theo thứ tự chiêu mục mà hủy bỏ, đó là đại pháp của quốc gia, cũng là nghĩa lý chung của việc tế tự tổ tiên. Vì vậy, việc nghiêm phụ phối thiên thực sự là gốc rễ của lòng người, chỉ có bậc thánh mới có thể tế trời, đó là tột cùng của lòng hiếu thảo, nếu không phải bậc thông minh duệ trí[21], thì sao có thể nêu lên được những điều thiếu sót của trăm Vua.
Kính nghĩ bệ hạ được thần minh phù trợ, dựa trên nền tảng vững chắc, bày tỏ lòng hiếu thảo, tham khảo kỹ lưỡng sử cũ, lại khiến các quan đại thần bàn bạc, xem xét kỹ lưỡng sự biến đổi của xưa nay. Như vậy thì bảy đời tông miếu đều có đức lớn đáng ngưỡng mộ, ba vị tiên đế trên trời dù trăm đời cũng không bị hủy bỏ. Đến như quy tắc bồi tế, đều bày tỏ lòng tôn kính, xa thì noi theo nghi lễ nhà Thương, Chu, gần thì theo chế độ nhà Hán, Đường, rộng lớn thay, không thể nào kể xiết, thực là việc làm vĩ đại của trăm Vua. Xin theo nghị định của quan lễ, giao cho ngoại đình thi hành.” Chiếu theo lời tâu.
(Cần xem tên họ của quan lễ đương thời. Nay trong tập của Tống Kỳ có bản tấu nghị này, giống với Thực lục, ắt là do Kỳ chủ trương vậy.)
[83] Ngày Quý Mão, ban chiếu rằng từ nay các quan chức thuộc Đại lưỡng tỉnh trở lên, sau khi đủ 4 năm sẽ được thăng chuyển, nếu có bị phạt thì tăng thêm một năm. Lại ban chiếu rằng các quan thường tham tri không được tùy tiện dâng sớ hoặc đến Trung thư xin bổ nhiệm, nếu vi phạm sẽ bị Ngự sử đài xét tội.
[84] Lại ban chiếu: “Quân nghĩa ở châu Thi nghe nói thường thuê người thay phiên canh giữ, không kịp thời huấn luyện, lại còn tư ý sai khiến. Nay lệnh cho Giám ty xem xét, ai vi phạm sẽ bị xử theo tội tư ý sai khiến quân phòng thủ.”
[85] Ngày Giáp Thìn, ban thưởng tiền cho binh lính tham gia tu sửa đê Kim ở châu Bác.
[86] Ngày Mậu Thân, vì trời nắng nóng, giảm tội cho tù nhân trong thiên hạ một bậc, những ai bị tội đánh trượng trở xuống thì được tha. Các lộ lệnh cho Chuyển vận sứ, Đề điểm hình ngục, khu vực phủ Khai Phong cử Điện trung thị ngự sử Lý hành Cao Nhược Nột và Tiêu Định Cơ đi xét xử.
Định Cơ là người Lư Lăng.
[87] Ngày Đinh Mùi, Đông đầu cung phụng quan, Cáp môn chi hậu, Tri châu Quế Điền Bính tâu rằng nhận được báo cáo của Đồng tuần kiểm Mạch Trọng Thư ở các châu Nghi, Dung, Liễu, rằng người Man ở Trấn Ninh châu thuộc châu Nghi là Mạc Lăng cùng hơn 700 người nổi loạn, bèn cử Tây kinh tác phường sứ Quách Chí Cao và Đông đầu cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Lương Thiệu Hi đi đánh dẹp.
[88] Ngày Canh Tuất, ban chiếu rằng Tri châu Quảng kiêm chức Kiềm hạt lộ Quảng Đông, Tri châu Quế kiêm chức Kiềm hạt lộ Quảng Tây, và tạm thời tăng thêm một viên Đô giám trú bạc lộ Đông và một viên Kiềm hạt lộ Tây. Lúc này, người Man Lão ở các châu Cao, Đậu, Lôi, Hóa quấy nhiễu biên giới, cách xa triều đình, việc không thể báo cáo kịp thời, nên lệnh cho các châu Quảng, Quế kiêm chức Kiềm hạt để tùy nghi xử lý.
[89] Chủ bạ Khai Phong là Lạc Cáo, cháu ngoại của Tể tướng Vương Tăng. Có người khuyên Đồng đề điểm phủ giới là Phù Duy Trung tiến cử ông ta, nhưng Duy Trung không nghe, nói: “Cáo không có thành tích gì tốt, sao có thể dùng thế lực ép ta!” Sau đó, quả nhiên Cáo bị bại lộ vì tham nhũng.
(Tháng này, ngày Nhâm Thìn, Duy Trung được bổ làm Đề điểm phủ giới, nhân đó ghi chép việc này. Truyện của Duy Trung còn nói rằng Ngô Khuê làm Huyện úy Trường Viên, Duy Trung đối đãi hậu hĩnh, Khuê báo lên phủ cùng tiến cử ông. Xét truyện của Khuê không thấy ghi chép việc từng làm Huyện úy Trường Viên, có lẽ truyện bỏ sót, nay cũng không chép theo.)
[90] Tháng 6, ngày Quý Sửu mùng một, xuống chiếu cho những người ở Thiền Châu nộp sao sam được phong quan thì miễn thuế dịch cho hộ đó, người đã mất thì không được miễn, nếu thăng đến tứ phẩm thì vẫn theo chế độ cũ.
[91] Ngày Đinh Tỵ, xuống chiếu rằng các quan Mạc chức, Châu huyện mới nhậm chức chưa đủ kỳ khảo xét thì không được tiến cử. Trước đó, Thị ngự sử tri tạp sự là Quách Khuyến tâu rằng Suy quan Đoàn luyện Mục Châu là Liễu Tam Biến vừa nhậm chức chưa đầy một tháng, chưa có thành tích gì, mà Tri châu Lã Uất đã vội tiến cử, chắc là vì tư tình, nên ban chiếu này.
[92] Ty Đề hình Quảng Tây lại tâu rằng bọn yêu lão Cao, Đậu là Trần Hữu Minh cướp bóc trên biển, sai Tả thị cấm Cáp môn chi hậu là Thị Kỳ Chu và Hữu thị cấm là Chu Quang Tuấn đi đánh dẹp.
[93] Ngày Tân Dậu, vì việc tế giao, cho phối thờ ba vị thánh và Chân Tông làm chủ không dời, sai quan cáo tế ở Thái miếu.
[94] Tả ty gián Diêu Trọng Tôn tâu: “Thần nghe nói có người bàn việc cải chế nhã nhạc để hợp với âm thanh thuần khiết, cho rằng luật cũ quá cao, nên giảm bớt để hạ xuống. Việc dùng cao để so với thấp, người ta vốn đã biết. Nhưng nếu chế tác không tinh xảo, giảm bớt ắt sẽ sai lệch. Thần không biết họ dựa vào đạo lý gì mà dám thay đổi, nghe những việc họ làm đều rất kỳ lạ. Đến như việc luyện đá trắng để làm khánh[22], đúc vàng để làm chuông, lại muốn dùng tam thần, ngũ linh, nhị thập tứ hiếu làm đồ trang trí nhạc khí[23].
Thần tuy ngu muội, nhưng cũng có chỗ nghi ngờ. Từ thời tổ tông đến nay, việc khảo chính đại nhạc, dùng trong tế lễ ở giao miếu, đã trải qua tám mươi năm. Thời tiên triều, thực hiện đầy đủ các nghi lễ long trọng, đốt lửa ở núi Thái Sơn, chôn ngọc ở Phần Thùy, chấn hưng phong tục đã mai một từ lâu của các vương triều trước, thực hiện các điển lễ khó khăn qua các triều đại. Khi cử hành lễ, nhạc này đều được sử dụng để cảm thông với thần minh, tỏ rõ điềm lành. Các bậc tiên nho xem xét bàn luận, chưa từng có lời nào chê trách. Nếu một sớm một chiều dùng quy chế mới, bỏ hết chế độ cũ, thần cho rằng không nên. Mong bệ hạ đặc biệt hạ chiếu bãi bỏ, chỉ dùng nhạc cũ.”
(Lúc đó, Vua đã cho phép Chiếu chế tác nhạc khí[24], việc đã làm rồi, và muốn xem xét kỹ thuật đó đúng sai thế nào, nên chương tấu của Trọng Tôn cuối cùng không giao xuống cho hữu ty. Trọng Tôn dâng tấu, theo 《Hội yếu》, là ngày 9 tháng 6, nay phụ lục vào ngày Tân Dậu.)
[95] Ngày Quý Hợi, xuống chiếu cho các lộ tẩu mã thừa thụ công sự không được nhận quà biếu của châu quận, ai vi phạm sẽ bị xử theo tội tham nhũng. Sau đó lại có chiếu, nếu là quà biếu thức ăn thì được phép nhận.
[96] Trước đây, chuông khánh của Thái thường đặt mỗi 16 chiếc thành một bộ, nhưng bốn thanh âm trong sáng kế tiếp nhau không đánh. Ngày Ất Sửu, Lý Chiếu tâu: “Mười hai thanh âm của luật đã đủ, còn bốn thanh âm trong sáng là nhạc của Trịnh, Vệ, xin ở huyện Biên chỉ giữ lại mười hai thanh âm trung, bỏ bốn thanh âm trong sáng, thì những âm thanh buồn thảm tà vạy không có chỗ phát sinh.”
Phùng Nguyên và những người khác bác lại rằng: “Thánh nhân đời trước chế ra nhạc, lấy phép tắc không phải một, nên có sự hòa hợp của mười ba ống, sự hòa hợp của mười chín ống, sáo ba mươi sáu lưỡi gà, đàn hai mươi lăm dây, đàn tranh mười ba dây, đàn cầm chín dây bảy dây, chuông khánh mười sáu chiếc, mỗi thứ đều có ý nghĩa riêng[25], há có phải chỉ dựa vào luật lã[26], chuyên dùng số mười hai sao?
Huống chi chuông khánh đứng đầu trong tám âm, từ ti trúc trở xuống, đều nhận làm chuẩn, nên thánh nhân đặc biệt chú tâm. Kinh Xuân Thu gọi là nhạc, nói chung là đánh bằng kim khí, Kinh Thi khen ngợi, thực ra là dựa vào tiếng khánh, hai nhạc cụ này không thể tùy tiện thay đổi. Nay Lý Chiếu muốn giảm xuống còn mười hai, không theo đúng phép tắc, xét theo cổ chế, bọn thần cho là không thể được.
Vả lại, thánh nhân đã lấy mười hai luật mỗi luật phối với một chuông, lại đặt bốn thanh âm trong sáng từ Hoàng chung đến Giáp chung để phụ theo thứ tự của thanh âm chính. Xét ý nghĩa của bốn thanh âm trong sáng, là vì bốn cung từ Di tắc đến Ứng chung mà đặt. Ngũ âm, cung là Vua, thương là bề tôi, giác là dân, trưng là việc, vũ là vật. Không lấn át nhau gọi là chính, lấn át nhau gọi là mạn, trăm Vua không thay đổi.
Thanh âm nặng lớn là tôn quý[27], thanh nhẹ trong là thấp kém, thấp kém không thể đè lên tôn quý, xưa nay đều như vậy. Cho nên, khi sắp xếp thứ bậc tôn ti của thanh âm, việc và vật không được tính vào. Tại sao? Việc là do Vua trị, vật là do Vua dùng, không thể tôn quý hơn Vua. Chỉ có ba thứ Vua, bề tôi, dân, thì tự có thứ bậc trên dưới, không thể vượt qua nhau, nên việc đặt bốn thanh âm trong sáng, chính là để bề tôi và dân tránh nhau, để phân biệt tôn ti.
Nay nếu chỉ dùng mười hai chuông, lần lượt đánh, đến khi bốn cung từ Di tắc trở xuống làm cung, bề tôi và dân vượt qua nhau, trên dưới lẫn lộn, thì âm thanh lấn át sẽ nổi lên, điều này rất không thể được. Chuông khánh mười sáu chiếc, đều dựa theo thuyết của các nhà nho đời Chu, Hán, và điển pháp nhà Đường chép, muốn giảm xuống còn mười hai, chỉ có Lý Chiếu là người có kiến giải riêng, bọn thần cho rằng cứ theo cổ chế là tiện.”
Vua ra lệnh tạm dùng mười hai chiếc làm một bộ, và hạ chiếu rằng: “Đợi khi có người hiểu âm nhạc, có thể khảo sát bốn chuông, điều hòa thanh trọc, các quan bàn riêng rồi tâu lên.”
[97] Quảng Tây chuyển vận ty tâu rằng, châu Đam bắt được hơn trăm tên giặc man, còn lại bè đảng đang hội quân để vây bắt. Bèn hạ chiếu rằng trong bọn giặc, ai chém được thủ cấp đến hàng sẽ được miễn tội. Lại sai nội thị Sử Chí Thông, Trương Đức Minh chia nhau ban thưởng tiền cho quân sĩ và dân binh đi đánh giặc.
[98] Ngày Đinh Mão, xuất ra từ kho nội phủ 1 triệu tấm lụa, giao cho Tam ty mua lương thực dự trữ quân dụng.
[99] Ngày Kỷ Tỵ, lấy Đô quan viên ngoại lang Tào Tu Mục làm Thị ngự sử. Tu Mục là em của Tu Cổ, được Trung thừa Đỗ Diễn tiến cử.
[100] Khôi phục chức Thái thường bác sĩ, Tri Lâm Giang quân Bàng Tịch làm Từ bộ viên ngoại lang, Phúc Kiến chuyển vận sứ.
[101] Bãi bỏ việc châu Tần chế tạo cung nỏ cung tiến trong 3 năm.
[102] Ngày Tân Mùi, Vua ngự tại điện Sùng Chính, triệu tập các quan phụ chính để xem nhạc mới. Trước đó, Vua đích thân soạn các khúc nhạc, dùng cung Giáp Chung, giác Hoàng Chung, trưng Thái Thấu, vũ Cô Tẩy, làm khúc Cảnh An để tế Trời.
Lại dùng khúc Cao An để tế Ngũ Đế, Mặt Trời và Mặt Trăng. Soạn khúc Đại An để tế tại cung Cảnh Linh, bãi bỏ khúc Chân An cũ. Dùng cung Hoàng Chung, giác Đại Lã, trưng Thái Thấu, vũ Ứng Chung, làm khúc Hưng An để dâng tế tại tông miếu, bãi bỏ khúc Lí An cũ. Khúc Cảnh An và Hưng An chỉ dùng khi Vua đích thân hành lễ. Dùng giác Cô Tẩy, trưng Lâm Chung, cung Hoàng Chung, giác Thái Thấu, vũ Nam Cung, làm khúc Hữu An để dâng rượu tế Ngũ Đế. Dùng cung Lâm Chung, giác Thái Thấu, trưng Cô Tẩy, vũ Nam Lã, làm khúc Ninh An để tế Thần Đất cùng Thái Xã, Thái Tắc, bãi bỏ khúc Tĩnh An cũ. Do đó, ban chiếu cho các cơ quan, lấy ba vị Thánh là Thái Tổ, Thái Tông, Chân Tông cùng phối hưởng, bèn dùng cung Hoàng Chung làm khúc Quảng An để dâng lễ vật, khúc Chương An để dâng rượu.
Lại ban chiếu, khi Vua đích thân đến tế tại miếu Phụng Từ, phòng của Trang Hiến Hoàng Thái hậu, dùng khúc Đạt An để dâng ngọc tế, khúc Hậu An để dâng rượu; phòng của Trang Ý Hoàng Thái hậu, dùng khúc Báo An để dâng ngọc tế, khúc Diễn An để dâng rượu. Khi Vua ra vào, dùng khúc Can An, bãi bỏ khúc Long An cũ.
Trong các lễ tế thường, đến ngày tế tại đàn Viên Khâu, Thái Tổ phối hưởng, dùng cung Hoàng Chung làm khúc Định An để dâng lễ vật, khúc Anh An để dâng rượu. Tháng giêng tế Cảm Sinh Đế, Tuyên Tổ phối hưởng, dùng cung Thái Thấu làm khúc Hoàng An để dâng lễ vật, khúc Túc An để dâng rượu.
Lễ cầu mùa tế Trời, Thái Tông phối hưởng, làm khúc Nhân An để dâng lễ vật, khúc Thiệu An để dâng rượu. Tháng tư tế Trời cầu mưa, Thái Tông phối hưởng, dùng cung Trọng Lã làm khúc Hiến An để dâng lễ vật, khúc Cảm An để dâng rượu. Ngày Hạ chí tế Hoàng Địa Chi, Thái Tổ phối hưởng, dùng cung Nhuy Tân làm khúc Cung An để dâng lễ vật, khúc Anh An để dâng rượu. Tháng chín tế tại Minh Đường, Chân Tông phối hưởng, dùng cung Vô Xạ làm khúc Thành An để dâng lễ vật, khúc Đức An để dâng rượu. Tháng mười tế Thần Châu Địa Chi, Thái Tông phối hưởng, dùng cung Ứng Chung làm khúc Hóa An để dâng lễ vật, khúc Thiều An để dâng rượu.
Lại soạn khúc Xung An, dùng bảy cung diễn thành tám mươi bốn khúc, đều làm thành bản nhạc để giao cho các cơ quan, riêng khúc Xung An chưa được thi hành.
(Khúc Cảnh An bốn bài, Hưng An bốn bài, Hữu An năm bài được soạn vào ngày Ất Hợi tháng mười năm đầu, khúc Đại An được soạn vào ngày Quý Sửu tháng mười một năm đầu, nay đều ghi ở đây, chỉ không thấy khúc Ninh An, cần xem xét thêm.)
[103] Ngày Ất Hợi, Chương Đức Tượng và các quan dâng lên bộ sách biên soạn về các cơ quan và công việc cùng với bộ biên soạn sắc lệnh tại kinh đô gồm 44 quyển, được ban thưởng phẩm hàm, tước hiệu và tiền bạc khác nhau.
[104] Ty đề hình Quảng Tây tâu rằng giặc man là Mạc Lăng và đồng bọn đã tự đến xin hàng với Lý Trọng Chính, Tuần kiểm châu Quế, châu Nghi.
[105] Bãi bỏ huyện Thiên Trúc thuộc châu Cừ.
[106] Ngày Đinh Sửu, Diêm Văn Ứng, Nhập nội đô tri, được bổ nhiệm làm Nhập nội đô đô tri.
[107] Ty chuyển vận Quảng Tây tâu rằng, giặc man Mạc Lăng vốn tranh chấp ruộng đất với người biên giới là Đàm Địch, giết hại lẫn nhau, bọn chúng chỉ có hơn trăm người, nhưng Mạch Trọng Thư, Đồng Tuần kiểm châu Nghi, châu Dung, châu Liễu, đã khai man là bảy trăm người. Nay chúng đã xin hàng, đã bắt chúng làm tờ cam kết và thả về châu Trấn Ninh. Chiếu chỉ rằng Mạc Lăng và đồng bọn từng giết hại quan lại, mà Chuyển vận sứ tự ý tha chúng, cùng với việc Trọng Thư khai man tăng số giặc, đều bị xét tội và tâu lên.
Ngày Kỷ Mão, lệnh cho Ngụy Quán, Kim bộ viên ngoại lang, Đề điểm hình ngục lộ Quảng Tây, làm Chuyển vận sứ lộ này. Chiếu dụ Quán rằng Mạc Lăng và đồng bọn đã hàng, nên lệnh cho chúng trả lại những người đã bắt, nếu không tuân lệnh, sẽ đem quân truy đuổi. Hơn hai nghìn phụ nữ người Lão ở châu Ung vì nợ nần bị bắt làm nô tì, Quán đều tâu xin cho họ trở về nhà.
Thời Lưu Sưởng, thuế đánh theo đầu người, dù là người sống trên thuyền cũng không được miễn, đến nay, các châu Lôi, Hoá, Khâm, Liêm, Cao vẫn chưa bãi bỏ, Quán đã bãi bỏ, lại giảm bớt bốn trăm người phục dịch vô danh ở châu Liễu.
(Ba việc này được ghi chép thêm.)
[108] Độ chi phán quan, Hình bộ viên ngoại lang, Trực tập hiền viện Đoàn Thiếu Liên làm Lưỡng Chiết Chuyển vận phó sứ.
Các sứ giả trước đây đến các quận huyện, đòi sổ sách, không có thời gian xem hết, thường giao cho lại tư, dùng làm mối lợi[28]. Thiếu Liên ra lệnh cho các quận huyện nộp sổ sách, đều niêm phong, gặp việc thì chỉ lấy một hai quyển tự xem, chọn ra những chỗ sai trái để xử lý, còn lại không xem hết, đều niêm phong trả lại, từ đó lại tư không thể làm gian, mà sổ sách của các châu huyện không ai dám không chỉnh đốn.
Lại thuộc có lỗi, ông gọi đến hỏi: “Nghe nói ngươi làm như thế, có đúng không? Nếu có thì hãy nói cho ta, ta cho ngươi cơ hội sửa đổi. Nếu cho là không, ta sẽ không để người tốt bị vu oan, sẽ minh oan cho ngươi.” Lại thuộc không dám lừa dối, đều trả lời thật. Thiếu Liên mỗi khi biết rõ sự tình, đều ân cần khuyên răn rồi cho về, sau này có người tự sửa đổi, ông vẫn bảo lãnh cho họ.
Ở Tú châu có người vô tội chết trong ngục, lúc đó Thiếu Liên đang ở Hàng châu, lại tư sợ hãi bàn mưu, giả làm lời nhận tội của người chết, chưa kịp hoàn thành, thì Thiếu Liên đã chèo thuyền vào thành, xét án, lại tư đều nhận tội xin chịu tội, cho là ông như thần minh.
Lúc đó, Long đồ các trực học sĩ Trịnh Hướng giữ chức thủ Hàng châu, không có tài trị lý. Người kiện tụng không phục, thường từ châu ra, thẳng đến Thiếu Liên. Thiếu Liên chỉ cần một lời quyết định, không ai không thấy hợp lý.
Hướng là người Trần Lưu.
- Chữ 'Phát vận ty' nguyên bản viết là 'Phát vận sứ', theo bản Tống toát yếu, các bản khác và phần sau của sách này sửa lại. ↵
- Chữ 'Lưu Yến' nguyên bản viết là 'Lưu Yến', theo các bản khác và 《Tống sử》 quyển 298, truyện Tưởng Đường sửa lại. Xem việc Lưu Yến làm Chuyển vận sứ Giang Hoài, Hà Nam trong 《Lưỡng Đường thư》 bản truyện. ↵
- đề xuất dùng thuốc hóa sắt và đồng để đúc chung, hai chữ 'sắt và' ban đầu bị thiếu. Xét đoạn dưới có nói 'đồng sắt đúc chung', và ghi 'đồng chiếm 3 phần, sắt chiếm 6 phần', câu ban đầu không chính xác. Nay căn cứ 《Thông khảo》 quyển 9 phần Tiền tệ khảo và 《Tống sử》 quyển 180 phần Thực hóa chí bổ thêm hai chữ 'sắt và'. ↵
- hơn một tháng mới được 1 vạn đồng, chữ 'đồng' nguyên là 'quan', căn cứ các bản và 《Tống sử》 sửa lại. ↵
- Việc thiết lập hai các Nhĩ Anh và Diên Nghĩa, 'Diên Nghĩa' nguyên bản là 'Diên Hi', căn cứ theo bản Tống Toát Yếu và các bản khác sửa lại. Dưới đây cũng sửa tương tự. Xét 'Diên Nghĩa' và 'Diên Hi', các sách ghi chép khác nhau: 《Tống Hội Yếu》 phương vực 1-6 và 3-7, Sùng Nho 6-7, 《Ngọc Hải》 quyển 163, 《Biên Niên Cương Mục》 quyển 10, 《Thập Triều Cương Yếu》 quyển 5, 《Tống Sử》 quyển 10 phần Nhân Tông kỷ, 《Tục Thông Giám》 quyển 40 đều ghi là 'Diên Nghĩa', còn 《Đông Trai Kỷ Sự》 quyển 1 nguyên bản cũng ghi là 'Diên Nghĩa' (theo 《Tứ Khố Toàn Thư Khảo Chứng》 quyển 71 phần Đông Trai Kỷ Sự, người đời Thanh căn cứ vào 《Tống Sử Địa Lý Chí》 đổi 'Nghĩa' thành 'Hi'). 《Trường Biên Kỷ Sự Bản Mạt》 quyển 29 phần Giảng Diên, 《Tống Sử Toàn Văn》 quyển 7 hạ, 《Tống Sử》 quyển 85 phần Địa Lý Chí lại ghi là 'Diên Hi', 《Tống Bách Tuế Ngụ Ông Phong Song Tiểu Độc》 quyển thượng lại ghi là 'Diên Hi'. Việc nào đúng, cần xem xét thêm. ↵
- Xin cho thần theo phép luật của Thần Cổ, nguyên văn là 'Thanh luật pháp', căn cứ theo bản Tống toát yếu, các bản khác và các sách dẫn trên như Biên niên cương mục, Tống sử toàn văn, Thập triều cương yếu, Tống hội yếu nhạc 1-4, Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 31 nghị nhạc sửa lại. ↵
- Chữ 'công' trong 'bất thiêm thư công sự' vốn bị khuyết, căn cứ vào 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 37 chương 'Ác Phạm Phúng' bổ sung. Theo 《Tống hội yếu》 chức quan 64-34 thì ghi là 'bất thiêm thư châu sự'. ↵
- Theo 《Biên niên lục》 quyển 4 ghi chép lời chiếu chỉ và dẫn văn trong 《Trường biên》, 'thượng ngôn' đều viết là 'Chánh ngôn'. ↵
- Lý Địch chỉ là người thực hiện văn thư, chữ 'chỉ' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống toát yếu và các sách Biên niên lục, Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 37 bổ sung. ↵
- Ban tiền cho binh lính làm việc tu sửa đê vàng ở quân Thiên Hùng: 'Thiên Hùng quân' nguyên bản viết là 'Thiên Sùng quân', nhưng 'Thiên Sùng quân' không có ghi chép, căn cứ vào quyển này, năm Cảnh Hữu thứ 2 tháng 5 ngày Kỷ Hợi sửa lại. ↵
- Tháng 12 tiến các loại rau quả, chim cá, gồm 26 thứ: Theo 《Tống hội yếu》 Lễ 17/86 và 《Tống sử》 quyển 108, Lễ chí đều chép: Chiếu cho Lễ quan và Tông chính bàn định, xin mỗi năm bốn mùa tiến vật, đều dùng sản vật mới ở kinh đô, gồm 28 loại. Khác với sách này. ↵
- 'Hoàng Đế' nguyên văn là 'Hoàng Đế', theo 《Tống hội yếu》 lễ 19-4 và 《Thông khảo》 quyển 80 Giao xã khảo sửa lại. ↵
- chữ 'ty' nguyên là 'sứ', theo bản Tống toát yếu và các bản khác sửa lại. ↵
- 'Luật lệnh' nguyên văn là 'Luật kim', theo văn bản sửa lại. ↵
- 'Đế' nguyên là 'đế', theo 《Tống đại chiếu lệnh tập》 quyển 138, chiếu về việc tổ tông được thăng phối mà sửa ↵
- Giang Lăng phủ nguyên là Giang Hạ phủ, theo bản trong các các mà sửa ↵
- 'Dân phu' nguyên đảo là 'phu dân', theo văn mà sửa ↵
- Câu 'sai đi bắt' nguyên bản thiếu, căn cứ theo 《Âu Dương Văn Trung Công văn tập》 quyển 65 và 《Tống sử》 quyển 325, Tang Dịch truyện bổ sung. ↵
- 'Xưa' nguyên bản là 'Giả', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 và 《Cảnh văn tập》 sửa lại. ↵
- 'Xin lấy cả ba thánh cùng làm bồi tế', chữ 'dĩ' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống toát yếu, bản các và sách trên bổ sung. ↵
- 'Duệ' nguyên bản là 'Tuấn', căn cứ theo bản Tống toát yếu sửa lại. ↵
- 'Như' nguyên là 'ư', theo các bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 31 nghị nhạc, 《Trị tích thống loại》 quyển 6 Cảnh Hữu quân thần nghị nhạc sửa. ↵
- 'Nhị thập tứ hiếu' nguyên là 'Nhị thập tứ khảo', theo sách trên và 《Tống hội yếu》 nhạc 1-23 sửa. ↵
- 'Chế' nguyên là 'Cựu', theo bản 《Tống toát yếu》, các bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》, 《Trị tích thống loại》 sửa. ↵
- Các tự thủ nghĩa 'Tự' nguyên tác 'hữu', cứ thượng dẫn 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 cập 《Biên niên cương mục》 quyển nhất○, 《Tống sử》 quyển nhất nhị lục 《Lạc chí》 cải. ↵
- Ninh hữu nhất chi ư luật lã 'Nhất chi' nguyên tác 'Nhất định', cứ 《Tống toát yếu》 bản, các bản, 《Tống sử toàn văn》 quyển thất hạ cập đồng thượng thư cải. ↵
- Thanh trọng đại giả vi tôn 'đại' nguyên tác 'trọc', cứ 《Tống toát yếu》 bản, các bản, hoạt tự bản cập 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển tam nhất 《Nghị lạc》 cải. ↵
- Dùng làm mối lợi, 《Tống sử》 quyển 297, truyện Đoàn Thiếu Liên chép là 'lại tư dùng làm mối lợi'. ↵