"

IV. TỐNG NHÂN TÔNG

QUYỂN 117: NĂM CẢNH HỮU THỨ 2 (ẤT HỢI, 1035)

Từ tháng 7 đến tháng 12 năm Cảnh Hữu thứ 2 đời Vua Nhân Tông.

[1] Mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Thân, Vua ban chiếu đặc cách ban tên thụy cho Khấu Chuẩn là Trung Mẫn.

[2] Ban tiền cho quân lính tham gia tu sửa sông ở Vũ Nguyên.

[3] Ngày Bính Tuất, Vua ban chiếu sẽ tổ chức lễ tế Nam Giao vào ngày Đông Chí.

[4] Cơ quan Bộ Thự ở Hoàn Khánh lộ tâu rằng, thủ lĩnh vùng biên giới phía tây là Ngộ Ngoa nhiều lần xâm phạm biên giới, xin gửi văn thư đến Phu Diên lộ để ước thúc, Vua đồng ý.

[5] Phong Thôi Phủ Quân làm Hộ Quốc Hiển Ứng Công. Thôi Phủ Quân, vào niên hiệu Trinh Quán đời Đường làm lệnh ở Phũ Dương, sau thăng làm thứ sử Bồ Châu, không rõ tên. Ông nổi tiếng nhân từ ở Phũ Dương, sau khi lập đền thờ, được chôn cất tại đó. Năm Hàm Bình thứ 3, từng sai Từ Châu tu sửa đền thờ, và ở vùng ngoại ô phía bắc kinh thành cùng các quận huyện đều xây đền thờ, thờ cúng như đền thờ núi, nay nhân theo lòng dân mà phong tôn hiệu.

[6] Ban tiền cho quân lính tuần tra ở Hoành Lũng.

[7] Ngày Nhâm Thìn, Vua ban chiếu cho Lại bộ Lưu nội tuyển, những người được tuyển chọn từng có lỗi lầm, không được đổi tên.

[8] Miễn thuế và chuyển đổi thuế cho những người cô độc trong thiên hạ.

[9] Ngày Quý Tỵ, lại ban chiếu cho các quan đại thần đến xem nhạc mới ở điện Sùng Chính, từ đó về sau lại xem thêm.

(Việc này căn cứ theo 《Hội Yếu》.)

[10] Ngày Mậu Tuất, quần thần xin tôn hiệu cho Vua là “Cảnh Hữu Thể Thiên Pháp Đạo Khâm Văn Thông Vũ Thánh Thần Hiếu Đức”, dâng biểu năm lần, Vua đồng ý.

[11] Ngày Canh Tý, Thị ngự sử Tào Tu Mục tâu rằng, nhạc cải cách của Lý Chiếu rất kỳ quặc và tốn kém, xin giao cho hữu ty xét xử. Vua cho rằng chuông khánh do Lý Chiếu chế tác hòa hợp với các nhạc cụ khác, chỉ ngừng việc chế tác thêm, và ban chiếu dụ Tào Tu Mục.

[12] Tri châu Hàng Châu là Trịnh Hướng tâu rằng, Tiết độ suy quan Trấn Đông là Nguyễn Dật rất giỏi âm luật, dâng lên 12 thiên luận về nhạc và 13 ống luật, Vua ban chiếu cho Nguyễn Dật đến kinh đô.

[13] Ngày Nhâm Dần, Vua ban chiếu: “Nghe nói ở Hà Bắc, Hà Đông có những kẻ bất lương, bí mật kết bè đảng, gọi là ‘Côn Tử Xã’, cũng gọi là ‘Một Mệnh Xã’. Từ nay, những kẻ bị bắt sẽ bị đày đến lao thành ở châu khác, kẻ cầm đầu sẽ tâu lên xử lý, ai tự thú sẽ được miễn tội.”

[14] Ngày Quý Mão, ban chiếu chọn người vào làm giáo thụ trong các cung của chư vương, người ngoài đã hoàn thành nhiệm kỳ thì sau hai năm được bổ làm kinh quan; chưa hoàn thành nhiệm kỳ thì sau ba năm được bổ làm mạc chức quan, rồi thêm hai năm nữa được bổ làm kinh quan.

[15] Trước đó, sở tu soạn sách nhạc tâu rằng: Ở các huyện đặt trống kiến, ban đầu không đánh, lại không có ba loại trống đào, và các loại trống cũ đều phần nhiều cũ nát. Do đó, sai Phùng Nguyên và những người khác tìm hiểu kỹ các điển cố[1].

Ngày Giáp Thìn, Phùng Nguyên và những người khác tâu rằng: “Trống kiến có bốn cái, nay đều có nhưng không đánh, lại đặt riêng bốn cái trống tán ở huyện để đánh thay cho trống kiến. Năm Càn Đức thứ 4, Bí thư giám Doãn Chuyết tâu rằng: ‘Trống tán không rõ lý do đặt ra, và trong sách cổ không có ghi chép[2], nên bỏ đi là tiện.’ Lúc đó tuy tâu được chấp thuận, nhưng trống tán đến nay vẫn còn. Lại có trống lôi, trống linh, trống lộ, tuy đánh nhưng đều không thành tiếng, nên thường dựa vào trống tán để làm tiết tấu nhạc, còn trống đào lôi, trống đào linh, trống đào lộ thì thiếu mà chưa chế tạo. Nay đã sửa chính nhã nhạc, xin nên ra lệnh cho thợ cả sửa lại các loại trống, để khi đánh có tiếng. Và chế tạo ba loại trống đào, theo chế độ xưa, để đánh trước, thông với ba loại trống. Bỏ bốn cái trống tán, theo chiếu thư năm Càn Đức.” Lời tâu được chấp thuận.

Lúc đó có người dâng lời, cho rằng trống lôi tám mặt, đời trước dùng để đón thần, nhưng không ghi chép phương pháp đánh, mà trống do Thái nhạc chế tạo, dùng trụ xuyên giữa, nên đánh không kêu.

Bèn sai đổi chế tạo, trên chân núi nổi mây đỡ trống, khắc rồng để trang trí trụ, mỗi mặt một người đánh trống, một người tay trái cầm trống nhỏ để dẫn đầu. Phàm ở đàn Viên khâu, khi thần giáng xuống sáu lần biến hóa, ban đầu tám mặt đều đánh ba tiếng, rồi xoay sang trái, ba bước thì dừng. Ba tiếng là lấy số dương. Lại đánh thêm hai tiếng để làm nhịp, đều theo cách này đến sáu lần thành. Trống linh, trống lộ cũng như vậy. Trống kiến đặt ở bốn góc, đều có trống nhỏ bên trái, trống ứng bên phải. Góc Càn, trống nhỏ bên trái ứng với chung, vị trí Hợi; trống giữa là hoàng chung, vị trí Tý; trống ứng bên phải là đại lã, vị trí Sửu. Góc Cấn, trống nhỏ bên trái là thái thấu, vị trí Dần; trống giữa là giáp chung, vị trí Mão; trống ứng bên phải là cô tẩy, vị trí Thìn. Góc Tốn, trống ứng bên phải là trọng lã, vị trí Tỵ; trống giữa là nhuy tân, vị trí Ngọ; trống nhỏ bên trái là lâm chung, vị trí Mùi. Góc Khôn, trống ứng bên phải là di tắc, vị trí Thân; trống giữa là nam lã, vị trí Dậu; trống nhỏ bên trái là vô xạ, vị trí Tuất. Nên tùy theo tháng mà đánh theo luật lã.

Chiếu chuẩn.

(Sách 《Đông trai ký sự》 của Phạm Trấn chép: “Chu lễ quy định trống lôi dùng trong tế thần, trống linh dùng trong tế xã, trống lộ dùng trong tế quỷ. Trịnh Khang Thành nói: Trống lôi là trống tám mặt. Trống linh là trống sáu mặt. Trống lộ là trống bốn mặt. Số lượng trống không thấy ghi trong kinh, nhưng thần có tôn ti, nên số lượng trống có nhiều ít, lý lẽ có lẽ là như vậy. Chắc hẳn thời Hán vẫn còn như thế, nên Trịnh Khang Thành nói vậy. Mấy mặt, giống như nói mấy cỗ xe, mấy khu nhà, mấy mẫu ruộng vậy.

Đời Đường Khai Nguyên, có người Thục vẽ đồ dâng lên, một trống mà tám mặt, sáu mặt, bốn mặt, đã không thể đánh được, bèn đặt thêm trống tán trong huyện. Triều Tống vẫn theo đó, ở giao miếu chỉ bày mà không đánh. Năm Cảnh Hữu, Phùng Chương Tĩnh công nói trống lôi, trống linh, trống lộ đều nên đánh, còn trống tán xin theo chiếu năm Càn Đức thứ tư bãi bỏ không dùng. Nhưng không nói rõ chế độ trống đúng hay sai[3], rất đáng lạ.”) Sau đó, Nguyên đem việc này tâu lên, bốn góc đặt trống kiến, đã tùy tháng mà hòa nhịp, nhưng không có gì để tiết chế nhạc, mà trong 《Chu quan》 có ghi “dùng trống tấn để đánh nhạc kim”, nên áp dụng. Chiếu theo phép cũ của 《Chu quan》 mà chế tạo. Từ đó trong huyện mới có trống tấn.

Xưa kia, chuông bác được đánh để làm tiết tấu, nhưng không có ý nghĩa hợp thành khúc nhạc. Trong lễ đại xạ có hai chuông bác, đều được đánh một cách lộn xộn. Đến thời Hậu Chu, người ta dùng mười hai chuông bác đánh theo cách tương sinh. Vào niên hiệu Cảnh Đức, Lý Tông Ngạc làm chức Thái thường, tổng quản việc khảo cứu mười hai chuông bác. Các nhạc công truyền lại cho nhau, trong điện đình thường dùng ba điệu và sáu khúc. Ba điệu là Hoàng Chung, Thái Thốc và Nhuy Tân; sáu khúc gồm hai khúc Long An và Chính An trong mỗi điệu. Khi tế lễ ở giao miếu, chuông được treo vòng quanh và đánh.

Tông Ngạc tâu: “Trong các bộ khí nhạc, chuông bác là khó hòa hợp nhất. Nếu một tiếng không đúng, thì cung thương sẽ mất trật tự. Nếu mười hai người đánh chuông bác đều tinh thông, thì nhanh chậm sẽ có quy luật, tùy theo tháng mà dùng luật, các khúc nhạc sẽ không có gì không thông suốt.” Chân Tông bèn hạ chiếu tăng thêm ba khúc Văn vũ, Vũ vũ và Phúc tửu vào hai cung Hoàng Chung và Thái Thốc.

Đến lúc này, Vua hạ chiếu cho Phùng Nguyên và các quan khảo cứu phương pháp đánh chuông. Nguyên và các quan tâu: “Hậu Chu từng dùng phương pháp tương sinh để đánh chuông, âm vận rất hài hòa. Triều đình ta cũng dùng cách tùy quân hợp khúc, nhưng chỉ áp dụng trong điện đình, chưa dùng ở giao miếu. Nên để mười hai chuông bố trí theo các giờ, tùy quân làm tiết tấu, tiện cho việc hợp nhạc, và có thể áp dụng cả ở giao miếu. Nếu là hiên huyện trở xuống, thì không dùng chế độ này, để tôn trọng chế độ nhạc lễ của vương triều.” Vua nghe theo.)

[16] Ngày Mậu Thân, ban cho ông lão Trương Hoàn mười tấm lụa, năm hộc gạo, một chiếc áo tía và đai bạc. Lúc đó, có hàng trăm cụ già dâng biểu xin tôn hiệu cho Vua, riêng Hoàn đã trăm tuổi mà mắt vẫn tinh, tai vẫn thính, nên được ban thưởng đặc biệt.

[17] Hạ chiếu cho Tam ty sứ đến Ngự sử tri tạp tiến cử một viên quan triều đã từng làm thông phán một nhiệm kỳ trở lên, có tài năng đảm đương được công việc phức tạp.

[18] Bãi bỏ sở Thái sài ở Kinh Tây, giao rừng núi cho dân, quan phủ thu một phần mười.

[19] Ngày Kỷ Dậu, hạ chiếu cho các châu Quảng, Diên, Hùng từ nay được phép bổ nhiệm một viên thông phán.

[20] Lễ viện tâu: “Đàn Nam Giao, gian thứ nhất thờ Ngũ phương đế, Đại Minh, Dạ Minh, Thần Châu địa kỳ, Bắc Cực, Thiên Hoàng đại đế. Những năm gần đây chỉ sai quan Bảo chính chính của Ty Thiên tạm coi việc tế lễ. Nhưng Ngũ đế là thần tôn quý, mà chức quan dâng lễ lại thấp kém, việc tế tự không xứng. Xin gian thứ nhất cử Thiếu khanh giám, Chính lang; gian thứ hai, thứ ba cử Viên ngoại lang; dưới đàn và ngoài đàn trong cũng cử quan kinh hoặc Bảo chính chính phân lo việc dâng lễ.” Vua nghe theo.

[21] Tháng 8, ngày Nhâm Tý mùng một, xuống chiếu sửa đổi luật về cướp của. Kẻ không cầm vũ khí, không lấy được của, phạt đi đày 2 năm; lấy được của trị giá 10.000 tiền và làm bị thương người thì xử tử. Kẻ cầm vũ khí mà không lấy được của, phạt lưu đày 3.000 dặm; lấy được của trị giá 5.000 tiền thì xử tử; làm bị thương người thì xử chém. Kẻ không cầm vũ khí mà lấy được của trị giá 6.000 tiền, hoặc kẻ cầm vũ khí mà tội chưa đến mức tử hình, thì vẫn bị thích chữ và đày đến lao thành ngoài 1.000 dặm. Sau đó, quan hữu ty tâu: “Kẻ trộm cắp không dùng vũ lực, lấy được của trị giá 5.000 tiền liền bị thích chữ sung quân, hình phạt lại nặng hơn kẻ cướp. Xin giảm nhẹ tội trộm cắp, đến 10.000 tiền mới thích chữ sung quân.” Vua chuẩn y.

Lại xuống chiếu: Ở kinh thành, kẻ cầm vũ khí trộm cắp, lấy được của trị giá 4.000 tiền cũng bị thích chữ sung quân. Từ đó, luật về trộm cướp chỉ ở kinh thành là nặng hơn, còn các nơi khác so với trước lại khoan hồng hơn.

(Chiếu sau, sách 《Thực lục》 chép vào ngày Nhâm Thân tháng này, nay chép chung lại. Lại xuống chiếu, theo 《Bản chí》 chép phụ vào đây.)

[22] Ngày Quý Sửu, Tri Xu mật sự Lý Tư thôi chức Khởi phục.

[23] Ngày Giáp Dần, mở yến ở điện Tử Thần, lần đầu dùng nhạc.

[24] Ngày Bính Thìn, xuống chiếu tha cho tất cả những người bị phạt đi làm lao dịch trong thiên hạ, nếu bị kết án trước ngày Mậu Thân tháng 5 năm nay. Lại xuống chiếu: Ai tố giác được bọn cướp giết người, từ 10 người trở lên thì thưởng 10 vạn tiền, dưới 10 người thì tính số lượng mà thưởng.

[25] Ngày Tân Dậu, Vua làm bài khúc Cảnh Nghiêm giao cho Thái thường tập luyện, đặt tên là 《Chấn Dung ca》, theo lời xin của Lý Chiếu. Sau đó cho rằng tên Chấn Dung không hợp nghĩa, đổi tên là 《Phụng Nhân》.

(Việc đổi tên 《Phụng Nhân》 vào ngày Ất Mão tháng 10, nay chép chung lại.)

Đồng tri Thái thường lễ viện Tống Kỳ tâu: “Nguyên là Viên ngoại lang Bộ Lễ, Hiệu lý Tập hiền Quách Chẩn từ nhỏ mồ côi, mẹ là Biên cải giá lấy người sĩ Vương Hoán, sinh được bốn con. Chẩn không có chú bác, anh em, một mình thừa tự tế tự họ Quách. Nay Biên không may qua đời, Chẩn xin giải chức để chịu tang. Xét điều lệ trong chế độ tang phục năm bậc, sắc quy định về việc giảm tang phục cho con trai mặc áo xô gai, chống gậy trong một năm: ‘Cha mất, mẹ đi lấy chồng khác hoặc bị đuổi, con trai để tang mẹ.’ Ở bên trái có chú thích: ‘Chỉ áp dụng cho người không thừa tự cha. Nếu là người thừa tự cha, thì không phải để tang mẹ đi lấy chồng khác.'”

Triều đình giao xuống Lễ viện và Ngự sử đài bàn định. Thị ngự sử Lưu Quỳ tâu:

“Theo chiếu năm Thiên Thánh thứ 6, chế độ tang phục năm đời và lễ chính thời Khai Bảo đều ghi chép các điều lệ về việc giảm tang phục Tề Thôi, tuy không khác với lời của Kỳ, nhưng trong lệnh Giả Ninh có quy định: ‘Các tang phục Trảm và Tề ba năm đều phải giải chức[4]; Tề Thôi Trượng Kỳ và người làm con thừa tự cho cha mẹ, hoặc con thứ làm thừa tự cho mẹ, cũng phải giải chức, bày tỏ tâm tang; mẹ bị đuổi hoặc tái giá, người làm con thừa tự cho cha dù không mặc tang phục, cũng phải bày tỏ tâm tang.’ Chú thích nói: ‘Đều là vì người sinh ra mình.’ 《Luật sớ》 nói: ‘Tâm tang là chỉ con của thiếp và con của vợ bị đuổi phải giảm tang phục, trong vòng 25 tháng là tâm tang.’

Lại xem xét kỹ các lệnh[5]: ‘Con đối với mẹ tái giá, dù là người thừa tự cho cha không mặc tang phục, cũng phải bày tỏ tâm tang.’ Lại nói: ‘Người ở tâm tang, nếu cởi tang phục mặc đồ tốt hoặc quên tang mà vui chơi[6], hoặc giả vờ đau khổ để cầu làm quan, đều xử như tang phục chính thức của cha mẹ.’ Hiện nay, Long Đồ các học sĩ Vương Bác Văn và Ngự sử trung thừa Đỗ Diễn đều từng vì mẹ tái giá mà giải chức để chịu tang. Nếu để lúc sống là mẹ con, lúc chết lại coi như người dưng, ắt sẽ làm tổn hại danh giáo, làm vấy bẩn nền hiếu trị.

Vả lại, chế độ giảm tang phục theo thời kỳ, vốn xuất phát từ văn lễ Khai Nguyên, đến thời Thiên Bảo, đã có chiếu chỉ riêng, cho phép để tang đủ ba năm, như vậy có thể thấy thời đó đã nhận ra việc này là trái lễ. Viên Chuẩn đời Tấn nói: ‘Làm người kế tự, để tang mẹ đã tái giá. Căn cứ vào việc ngoại tổ là người khác tộc[7], vẫn bỏ tế lễ mà để tang, biết rằng làm con kế tự nên để tang mẹ đã tái giá.’ Lưu Trí giải thích rằng: ‘Dù là con kế tự của cha, vẫn để tang mẹ đã tái giá theo lễ tế suy.’

Xưa, vợ của Khổng Lý là mẹ của Tử Tư, Lý chết rồi bà tái giá ở nước Vệ, nên sách 《Đàn Cung》 chép: ‘Mẹ của Tử Tư chết, Liễu Nhược nói với Tử Tư rằng: ‘Ông là hậu duệ của thánh nhân, thiên hạ nhìn vào ông để xem lễ, sao ông không cẩn thận?’ Tử Tư nói: ‘Ta cẩn thận gì đâu!” Thạch Bao hỏi Thuần Vu Duệ rằng: ‘Làm con kế tự của cha, không để tang mẹ đã xuất giá. Mẹ tái giá cũng như mẹ xuất giá, có người cho rằng tái giá và xuất giá không khác nhau, là không hiểu ý lễ. Dù giữ nghĩa theo trọng lễ, nhưng vì bỏ tế lễ mà bị chê trách. Xin ông xem xét kỹ.’ Duệ dẫn nghĩa của Tử Tư để trả lời, và nói: ‘Hậu duệ thánh nhân để tang mẹ tái giá, là rõ ràng.’ Việc Chẩn để tang như vậy không phải là quá đáng.”

Chiếu cho hai chế, Ngự sử đài, Lễ viện bàn lại, nghị rằng: “Theo 《Nghi lễ》: ‘Cha chết, mẹ kế tái giá, để tang một năm.’ Ý nói người không sinh ra mình, nên cha mất, mẹ cải giá, con không được coi là mẹ đẻ của mình.

Theo chiếu chỉ năm Thượng Nguyên thứ nhất đời Đường, nếu cha còn sống mà mẹ mất thì vẫn cho phép để tang ba năm. Nay mẹ cải giá sau khi cha đã mất, nên được phép để tang theo quy định. Đường Thiệu bàn rằng: ‘Con trai nối dõi cha để tang mẹ cải giá một năm, còn con không nối dõi cha thì xin không giảm tang.’ Đến năm Thiên Bảo thứ sáu, có chiếu chỉ rằng: ‘Quy định về năm loại tang phục nên được tuân thủ, số năm để tang là ba năm để báo đáp công ơn sinh thành.’ Khi mẹ cải giá qua đời, nên để tang ba năm.

Lại theo nghị định về tang lễ tăng giảm cát hung của Bát Tòa đời Đường: ‘Phàm cha mất, mẹ đẻ cải giá, để tang một năm, con trai nối dõi cha cũng không để tang, không vì tình riêng mà bỏ việc tế tự, chỉ mặc áo vải thô, ở nhà chay, để tang trong lòng ba năm, được miễn dịch và giải chức. Mẹ cũng để tang trong lòng, tình mẫu tử không bao giờ dứt.’ Xét theo chế độ năm loại tang phục trong 《Thông Lễ》: ‘Cha mất, mẹ cải giá, và con của vợ bị đuổi để tang mẹ, và con cháu để tang bà nội, dù đã hết thời gian tang lễ, vẫn để tang trong lòng ba năm.'”

Thị giảng học sĩ Phùng Nguyên tâu: “《Nghi lễ》, 《Lễ ký chính nghĩa》 là chính lễ thời cổ; 《Khai Bảo thông lễ》, 《Ngũ phục niên nguyệt sắc》 là điển chế hiện hành của triều đình. Con trai là người kế thừa cha thì không để tang mẹ đã xuất giá hoặc tái giá. Chỉ có 《Thông lễ nghĩa toản》 dẫn chế độ năm Thiên Bảo thứ 6 đời Đường: ‘Con cái để tang mẹ xuất giá hoặc tái giá đều ba năm.’ Lại dẫn 《Lưu Trí thích nghĩa》: ‘Dù là con trai kế thừa cha, vẫn để tang mẹ xuất giá hoặc tái giá bằng tang phục tề suy, đến khi hết khóc thì bỏ.’ Có người nghi ngờ hai điều này trái ngược nhau. Thần xét kỹ chế độ năm Thiên Bảo, nói các con để tang mẹ xuất giá hoặc tái giá, nên viết ‘đều để tang ba năm’. Lưu Trí nói con trai kế thừa cha để tang mẹ xuất giá hoặc tái giá, nên viết ‘vẫn để tang tề suy, hết khóc thì bỏ’. Mỗi bên có ý riêng, nên không có gì đáng nghi.

Huống chi, 《Thiên Thánh ngũ phục niên nguyệt sắc》 quy định: ‘Con trai của mẹ góa tái giá hoặc cha đã mất mà mẹ bị xuất giá thì để tang mẹ giảm xuống trượng kỳ.’ Như vậy, chế độ năm Thiên Bảo để tang mẹ xuất giá hoặc tái giá ba năm không thể áp dụng. Lại chỉ nói mẹ xuất giá hoặc tái giá, con trai kế thừa cha dù không để tang, vẫn phải để tang trong lòng, nhưng không nói đến việc từ chức. Nếu chỉ dùng kinh lễ, thì hoàn toàn không có quy định về tang phục, áp dụng vào đời nay, e rằng không hợp lý. Nếu theo các con để tang trượng kỳ, lại trái với điều lệ hiện hành. Đã tìm hiểu ý nghĩa của lễ, nên gần với tình người, phàm con trai kế thừa cha mà không có ai phụng thờ tổ tiên, theo 《Thông lễ nghĩa toản》 và 《Lưu Trí thích nghĩa》, để tang tề suy, hết khóc thì bỏ, qua tháng thì tế, vẫn để tang trong lòng, như vậy không xa với lời trong 《Nghi lễ》, 《Lễ ký chính nghĩa》, 《Thông điển》, 《Thông lễ》, 《Ngũ phục niên nguyệt sắc》 rằng ‘con trai kế thừa cha không để tang mẹ xuất giá hoặc tái giá’[8].

Như các con không phải là người kế thừa cha, để tang mẹ xuất giá hoặc tái giá, theo 《Ngũ phục niên nguyệt sắc》, giảm xuống tang phục tề suy trượng kỳ, cũng từ chức để tang trong lòng, như vậy phù hợp với chế độ ngũ phục trong 《Thông lễ》[9] nói ‘dù hết tang, vẫn để tang trong lòng ba năm’, và 《Hình thống》 nói ‘con của vợ bị xuất giá nên giảm tang phục, đều để tang trong lòng trong 25 tháng’, ý nghĩa là một. Xét như vậy, thì điển chế hiện hành của triều đình hoàn toàn phù hợp với chính lễ thời cổ[10], các sách khác có thuyết thiên kiến, không hợp với kinh lễ, đều không thể dẫn dụng. Quách Chẩn nếu không có chú bác và anh để phụng thờ tổ tiên, nên theo điều lệ con trai kế thừa cha, lại vì đã từ chức để tang quá một năm, khó sửa đổi, sau này nên theo đó thi hành.”

Chiếu rằng từ nay đều cho phép từ chức để tâm tang.

(Nghị của Lưu Quỳ vào tháng này ngày Kỷ Mão, Lưỡng chế, Ngự sử đài, Lễ viện định lại và nghị của Phùng Nguyên đều vào tháng 9 năm sau ngày Mậu Dần, nay theo bản chí liên kết viết lại, lược bớt ngày tháng.)

[26] Ngày Nhâm Tuất, Tri chế cáo Lý Thục được cử cùng quản lý Tam ban viện. Thục vì cha vợ là Hàn Ức đang giữ chức Xu mật phó sứ, dẫn lệ xin tránh, chiếu chỉ không cần tránh.

[27] Ngày Giáp Tý, Lưu Bình, Phòng ngự sứ Nhiêu Châu, được bổ làm Phòng ngự sứ Ôn Châu, Mã quân đô ngu hậu. Bình dâng sớ tự trình bày, được triệu đến hỏi tình hình, sau đó vẫn tiếp tục quản quân.

[28] Chiếu chỉ rằng năm viên quản lý Hoàng thành ty, từ nay khi xa giá đi tuần, thường lưu lại trong cung[11].

[29] Ghi công cho con của Hứa Chính, nguyên là Đồng tuần kiểm Lôi Hóa Châu, Tả ban điện trực, là Hứa Cát, bổ làm Tam ban tá chức, ban thêm 50 tấm lụa, vì Chính đã tử trận khi đánh giặc man.

[30] Ngày Bính Dần, đến chùa Phụng Tiên Tư Phúc Thiền viện yết kiến điện thờ thần vị Tuyên Tổ.

[31] Ngày Mậu Thìn, lấy Diêm thiết phán quan, Độ chi lang Dương Nhật Hoa làm sứ sinh thần sang Khiết Đan, Lễ tân phó sứ Trương Sĩ Vũ làm phó. Thái thường bác sĩ, Trực sử quán, Tu khởi cư chú Trịnh Tiển làm sứ chánh đán, Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Sài Di Phạm làm phó.

Nhật Hoa là anh của Nhật Nghiêm.

[32] Hữu ty tâu rằng sách bảo tôn hiệu của hoàng đế xin dùng vàng ròng, được chấp thuận.

(Có thể tham khảo ngày Canh Dần tháng 9 năm Thiên Thánh thứ 2 và ngày 17 tháng giêng năm Minh Đạo thứ 2.)

[33] Ngày Kỷ Tỵ, ngự tại điện Sùng Chính, triệu tập các quan phụ chính xem nhạc mới. Vua đưa ra ống song phượng, giao cho Thái thường luyện tập. Cách chế tạo là ghép hai ống để đủ âm luật, đầu ống khắc hình đôi phượng, gắn hai lưỡi gà. Lúc đó còn đưa ra hai loại đàn là lưỡng nghi cầm và thập nhị huyền cầm để bổ sung cho nhã nhạc. Lưỡng nghi cầm có hai dây; thập nhị huyền cầm giống như đàn thường nhưng tăng thêm số dây để tượng trưng cho số luật lã. Lại sai chế tạo thêm thất huyền cầm, cửu huyền cầm, đều bảo đầu tròn để tế trời, đầu vuông để tế đất.

[34] Lệnh cho Lý Chiếu cùng biên soạn sách nhạc.

[35] Ngày Tân Mùi, ban chiếu rằng từ nay việc tiến hiến ở Cảnh Linh cung, triều hưởng ở Thái Miếu, tế giao ở đàn trời đất sẽ cùng ngày thụ thệ giới. Đây là bắt đầu theo lời của Vương Tăng.

[36] Lại ban chiếu cho các châu ở Thiểm Tây rằng các bia mộ, cây cối của danh thần đời trước, giao cho quan ty thường xuyên kiểm tra, giữ gìn. Đây là theo lời của Trần Nghiêu Tá, người đang giữ chức Tri Vĩnh Hưng quân. Trước đây, Trang Hiến Thái hậu sai quan xây tháp Phật trong thành Kinh Triệu, Khương Tuân đã phá hết các bia cổ để dùng. Nghiêu Tá tâu rằng: “Bia mộ của bề tôi hiền đời Đường, mười phần đã mất bảy tám. Ban đầu con cháu họ muốn dùng đá đẹp, chữ tốt để truyền nghìn năm, nhưng một sớm một chiều lại bị đem dùng như gạch ngói, thật đáng tiếc. Những bia chưa bị phá, xin hạ lệnh cho địa phương giữ gìn cẩn thận.”

[37] Ngày Giáp Tuất, Vua ngự đến trường yết ở cửa An Túc xem các quân phóng yết, lại sai các quân tập trận. Những người giỏi đánh, cưỡi ngựa, bắn cung đều được thăng bổ. Sau đó, Vua ban yến cho các quan tòng thần ở điện trướng.

[38] Ngày Bính Tý, ban chiếu cho Nội thị tỉnh cùng Lễ viện định lại chế độ mũ áo cổn miện, trước hết vẽ đồ dâng lên. Vì mũ áo cổn miện cũ quá xa hoa, nên muốn theo lối giản dị.

[39] Ngày Đinh Sửu, trong cung ban ra sáu thiên sách 《Cảnh Hữu Lạc Tủy Tân Kinh》 cho quần thần. Thiên thứ nhất giải thích mười hai quân; thiên thứ hai nói rõ việc chủ trì; thiên thứ ba phân biệt âm thanh; thiên thứ tư vẽ đồ luật lữ tương sinh, cùng luật dùng trong tế trời đất, tông miếu và cách phối hợp số âm dương; thiên thứ năm nói về độ dài ngắn của mười hai ống; thiên thứ sáu nói về độ lượng hoành qua các đời. Tất cả đều dựa vào âm dương, phối hợp với bốn mùa, lập theo mặt trời mặt trăng, thông suốt với đê trúc, diễn giải theo phép nhâm thức độn giáp.

[40] Ngày Mậu Dần, Khổng Húc, chức Bí thư giám, được phân quản ở Nam Kinh, chuyên trông coi từ miếu Văn Tuyên Vương, lại ban thêm một trăm tấm lụa, năm mươi hộc gạo, cùng rượu thịt dê.

[41] Ngày Kỷ Mão, Hữu gián nghị đại phu, Tri Duyện châu Khổng Đạo Phụ được bổ nhiệm làm Long đồ các Trực học sĩ. Khi ấy, có cận thần dâng lên trăm bài thơ, các quan chấp chính xin phong làm Long đồ các Trực học sĩ. Vua nói: “Thơ tuy nhiều, nhưng không bằng một lời của Khổng Đạo Phụ.” Bèn lệnh cho Đạo Phụ nhận chức. Những người bàn luận nhân đó biết rằng việc cách chức trước đây quả thực không phải ý của Vua.

[42] Lần đầu tiên bổ nhiệm triều thần làm chức Đề điểm ngân đồng khanh dã chú tiền công sự các lộ Giang Chiết[12], Kinh Hồ, Phúc Kiến, Quảng Nam, bổng lộc và ân điển đều giống như chức Đề điểm hình ngục.

(Chiếu rằng triều thần làm chức Đề điểm ngân đồng khanh dã, bổng lộc và ân điển đều giống như chức Đề điểm hình ngục, Thực lục ghi vào ngày Ất Sửu tháng 10, nay ghi chung.

Thực lục tháng này ngày Kỷ Mão ghi việc điều Tri châu Sở Châu, Đồn điền viên ngoại lang Ngụy Kiêm làm chức Đề điểm ngân đồng khanh dã chú tiền công sự các lộ Giang, Chiết, Kinh Hồ, Phúc Kiến, Quảng Nam, vì việc đúc tiền trước đây thuộc quyền Phát vận sứ, nay đã bãi chức Phát vận sứ nên đặt riêng chức quan này. Tuy nhiên, sách 《Lưỡng triều quốc sử chí》 và 《Hội yếu》 phần Chức quan bộ đều không ghi chép về chức Đề điểm khanh dã chú tiền, không rõ nguyên nhân, tạm ghi lại đây, đợi sau xem xét kỹ hơn[13].)

[43] Tháng 9, ngày Tân Tỵ, mùng một, Lý Chiếu tâu: “Nay nhạc khí Chúc mà Thái thường sử dụng, bốn mặt đều vẽ hoa lá theo mùa, không hợp với chế độ cổ. Xin đổi thành hình Thanh Long, Chu Tước, Khoã Trùng, Bạch Hổ, Nguyên Quy để phù hợp với ngũ phương.” Vua nghe theo. Chiếu lại cùng Đặng Bảo Tín làm mới năm giá đồng phương hưởng, Vua ra chiếu cho giáo phường căn cứ theo âm thanh để dạy các nhạc khí.

Ban đầu, Chiếu đã định ra nhã nhạc nhưng âm thanh quá thấp, nên lại chế tạo nhạc khí yến nhạc, muốn mô phỏng lại âm thanh. Sau đó, các nhạc công cho rằng không thể sử dụng, nên bỏ đi.

Theo chế độ nhà Tùy, nội cung huyền có 20 giá[14], dùng đại khánh thay cho bác chung, và bỏ đi kiến cổ. Đến thời Võ hậu nhà Đường xưng chế, đổi lại dùng bác chung, từ đó không thay đổi.

Đến lúc này, Vua ra chiếu hỏi Phùng Nguyên rằng: “Đại khánh nên dùng cách gõ nào, và dùng trong lễ gì?”

Ngày Quý Mùi, Nguyên tâu: “Thời xưa, dùng đặc khánh thay cho bác chung, vốn dùng trong nội cung, sau đó dùng trong các lễ tế. Thời Tùy, Đường, tiếp tục có thay đổi. Tiên đế Đông thiền Lương phủ, Tây tế Phần nhưỡng, đều theo chương cũ, bày trong huyện tấu. Nếu dùng trong cát lễ thì dùng trung cung huyền, trong tế lễ thì dùng cho Hoàng Địa Kỳ, Thần Châu Địa Kỳ, Tiên Tàm, và nay là Phụng Từ miếu, đều nên bày ra. Cung huyền thì có 36 giá, bỏ bốn góc kiến cổ, theo cổ chế là tiện. Còn cách gõ, nên giống như bác chung. Gần đây theo chiếu chỉ, không cho gõ luân phiên, mà lập ra chế độ hợp khúc theo quân, thì đặc khánh vốn không ra khỏi bản quân, cùng với biên khánh tương ứng, làm tiết tấu cho nhạc.” Vua nghe theo.

[44] Ngày Ất Dậu, ban tiền cho binh lính sửa sông ở huyện Nguyên Vũ.

[45] Ngày Bính Tuất, Binh bộ Viên ngoại lang Trương Tích được bổ làm Kinh Đông Chuyển vận sứ. Dân sáu châu Truy, Thanh, Tề, Bộc, Tế, Vận mua đất bãi sông để cày cấy, nhiều lần xảy ra tranh chấp. Trương Tích ra lệnh đăng ký đất đó, mỗi năm thu được hơn hai mươi vạn tấm lụa thuế, và các vụ kiện cũng chấm dứt.

[46] Ngày Tân Mão, xuống chiếu rằng từ nay các quan Viên ngoại lang trở lên giữ chức Tri Gián viện, khi gặp đại lễ, được phép cho một người con làm quan.

[47] Ngày Nhâm Thìn, xuống chiếu cho Hàn lâm học sĩ Trương Quan và các người khác hiệu đính sách 《Tiền Hán thư》, giao xuống Quốc tử giám ban hành. Kinh sử các đời trước đều được chép truyền trên giấy, tuy có sai sót nhưng vẫn có thể tham khảo. Đến đời Ngũ đại, quan phủ bắt đầu dùng bản khắc in sáu bộ kinh, thực sự muốn thống nhất văn tự, khiến người học không bị lẫn lộn. Đến triều Thái Tông, lại cho in các sử của Tư Mã Thiên, Ban Cố, Phạm Uất Tông, cùng với sáu bộ kinh đều được lưu truyền[15], từ đó các bản chép tay trong thiên hạ đều không dùng nữa. Nhưng bản khắc in có nhiều sai sót, ban đầu không được chỉnh sửa, về sau người học không còn bản nào khác để đối chiếu.

Nhân đó, Bí thư thừa Dư Tĩnh dâng lời nói rằng bản quan của 《Tiền Hán thư》 có nhiều sai lầm, xin được hiệu đính. Xuống chiếu cho Dư Tĩnh và Quốc tử giám Vương Châu lấy bản cổ trong bí các ra đối chiếu. Hơn một năm sau, dâng lên 《Hán thư hiệu đính》 30 quyển. Đến đây, sửa lại bản in cũ theo bản hiệu đính mới, nhưng vẫn còn chỗ chưa hoàn chỉnh, còn các sử của Tư Mã Thiên, Phạm Uất Tông thì sai sót càng nhiều, tiếc rằng về sau không còn bản cổ nào để đối chiếu nữa.

[48] Ngày Quý Tỵ, mở yến lớn ở điện Tập Anh, đến giờ Ngọ vì mưa to nên phải bãi bỏ.

[49] Ngày Ất Mùi, xuống chiếu cho Ty thiên giám chế tạo cân nước trăm khắc, để đo đạc ngày đêm.

[50] Ngày Đinh Dậu, Từ bộ Viên ngoại lang, Tập hiền Hiệu lý Lý Chiếu được thăng làm Hình bộ Viên ngoại lang, ban cho áo mặc tam phẩm; Nhập nội Cung phụng quan, Câu đương Ngự dược viện Đặng Bảo Tín được thăng làm Lý tân Phó sứ, vì đã hoàn thành việc chế tạo nhạc khí mới. Các quan lại và thợ tham gia tu sửa, chế tạo tổng cộng hơn bảy trăm người đều được thăng chức, bổ nhiệm khác nhau.

Ban đầu, Lý Chiếu cho rằng nhạc khí cũ âm thanh quá cao, bèn lấy thước Thái phủ làm chuẩn, thực tế so với thước cổ dài hơn một thước hai tấc. Lý Chiếu một mình theo ý mình, chế tạo nhạc khí mới. Âm luật Hoàng chung mà ông định ra lại quá thấp, nhạc công đánh giá âm vận của nó, trong đó có âm bội của Vô xạ. Ông còn đập vỡ chuông khánh cũ, muốn chỉ dùng nhạc khí mới.

Bấy giờ, Vua thường tìm người hiểu biết âm nhạc, nghe theo lời Lý Chiếu. Các quan phụ trách âm nhạc và nhạc công tuy biết việc này không ổn nhưng không dám phản đối. Lại nhờ Nhập nội Đô đô tri Diêm Văn Ứng tiến cử công lao của ông, nên được đặc cách thăng chức. Việc chế tạo bắt đầu từ tháng năm, đến tháng tám thì hoàn thành bảy bộ nhạc khí bằng đồng và đá, nhưng các loại nhạc khí mới do Lý Chiếu tự chế như sênh, vu, cầm, sắt, địch, tất lật, v.v., tổng cộng mười hai loại đều không thể sử dụng được.

Triều đình ra chiếu chỉ lưu lại hai loại là đại sênh và đại vu mà thôi. Lý Chiếu nói: “Tất lật ngày nay chính là ống sậy mà thi ca thời Chu gọi là vĩ quản. Kinh Thi có câu: ‘Tháng giêng gió lạnh thổi, tháng hai rét căm căm.’ Hơn nữa, đầu ống tất lật ngày nay, nhạc công gọi là vĩ tử, tên gọi này bắt nguồn từ đó.” Bèn chế tạo đại quản tất lật làm nhã nhạc, các nhà bàn luận đều chê cười.

[51] Ban cho Ngu bộ Viên ngoại lang Lý Tư Cung năm mươi tấm lụa, ba mươi hộc gạo. Tư Cung đang chịu tang mẹ ở Hình Châu, dựng lều ở mộ ba năm, châu dâng tấu trình việc này, nên được ban thưởng.

[52] Công bộ Lang trung, Thiên Chương các Đãi chế Lưu Tùy qua đời, vừa được thăng chức Đãi chế chưa đầy mười ngày. Lưu Tùy cùng Khổng Đạo Phụ, Tào Tu Cổ cùng thời làm quan giám sát, đều nổi tiếng thanh liêm, cương trực. Xử lý công việc sáng suốt, quyết đoán, người Thục gọi ông là “đèn lồng thủy tinh”. Trước đây, ông đi sứ Khiết Đan về, gặp lúc bị giáng chức, quan phủ thu lại mười lăm con ngựa mà ông được ban. Đến lúc này, Vua thương ông nghèo khó, ban cho gia đình ông sáu mươi vạn tiền.

[53] Ngày Nhâm Dần, Vua ngự điện Sùng Chính, xem xét nhạc khí mới, ra chiếu cho các đại thần Trung thư Môn hạ, Xu mật viện cùng xem.

[54] Chiếu rằng: Từ nay, việc quản lý Ngự dược viện sẽ chọn những nội thần đã nhập sĩ trên ba mươi năm, trải qua mười năm không thăng chức nhưng có nhiều công lao. Sau năm năm sẽ được thăng một bậc, nhưng vẫn lưu lại tại viện. Nếu không phạm lỗi mà sau ba năm được thay thế, sẽ được thăng một bậc. Ngoài ra, không được tự ý xin đổi chức. Các nội thần ở Nội Đông môn, Long Đồ, Thiên Chương các đều do Nội thị tỉnh tuyển chọn.

[55] Ngày Quý Mão, chiếu rằng: Từ nay, nội thần không được dựa vào công lao trong các nhiệm kỳ trước để dâng văn bản hoặc xin đổi chức không theo thứ tự trước mặt Vua.

[56] Ngày Giáp Thìn, chiếu rằng: Xét việc Quảng Tây chuyển vận sứ tự ý cho vay bọn giặc man và Tuần kiểm ở Nghi Châu khai tăng số giặc, đều được đặc xá.

[57] Ban cho Trịnh Châu năm khoảnh ruộng học điền.

[58] Ngày Mậu Thân, chiếu rằng: Từ nay, các quan từ Tam ty sứ phó trở xuống không được tự ý dâng sớ kể công lao để xin thăng chức không theo thứ tự.

[59] Trước đây, các vương phủ tản mác trong kinh thành, việc qua lại bị cấm, nếu không phải là việc triều yết hoặc tế tự thì không được gặp nhau. Ngày Kỷ Dậu, chiếu rằng: Xây dựng cung điện trên đất cũ của Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung, tập hợp mười vị vương cùng ở, ban tên là Mục Thân trạch, sai Tam ty sứ Trình Lâm tổng quản việc này, Nội đô đô tri Diêm Văn Ứng cùng các quan khác phụ trách thi công.

[60] Tham tri chính sự Tống Thụ dâng lên bộ sách biên soạn 《Trung thư tổng lệ》 gồm 419 quyển. Vua ban chiếu khen ngợi, ban thưởng khí tệ cho các quan từ đường hậu trở xuống. Trước đây, Lữ Di Giản tâu xin để Tống Thụ biên soạn sách này, sau đó nói với người khác: “Từ khi có bộ sách này, dù một người tầm thường nắm giữ cũng có thể làm tể tướng.” Tháng 12 năm Hoàng Hựu thứ 5 tiếp tục biên soạn.

[61] Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Chương Đắc Tượng cùng các quan tâu rằng: “Tống Kỳ dâng lên bản 《Đại nhạc đồ nghĩa》, trong đó bàn về chín loại khí cụ dùng trong vũ võ, kinh lễ chỉ nêu chung chung mà không nói rõ thứ tự sử dụng. Vì thế, khi biểu diễn, các vũ công tiến lên cùng lúc mà không có sự phân biệt trước sau.

Hơn nữa, đào là để dẫn vũ; đạc là để thông cổ; thuần là để hòa cổ; nao là để dừng cổ; tương là để phụ trợ nhạc; nhã là để điều chỉnh bước đi. Lẽ nào khi bắt đầu dẫn vũ lại xen lẫn dừng cổ, hoặc khi đã dừng cổ lại lẫn lộn với thông đạc?

Thần cho rằng khi múa vũ bát, tay trái cầm khiên, tay phải cầm rìu, chia thành tám hàng, riêng sai người cầm cờ đi trước, dùng đào và đạc để khởi đầu, dùng thuần để hòa nhịp, tay trái cầm tương để phụ trợ, tay phải cầm nhã để điều tiết. Khi vũ sắp kết thúc, thì dùng nao để rút lui, dùng nhã để điều chỉnh bước đi, còn đào, đạc, thuần, tương đều ngừng lại. Như vậy mới phù hợp với nghi thức vũ. Xin theo như lời bàn của Tống Kỳ.” Tấu được chấp thuận.

(Xét lời tâu của Chương Đắc Tượng, chỉ là một đoạn trong 《Đại nhạc đồ nghĩa》 của Tống Kỳ bàn về thứ tự sử dụng chín khí cụ trong vũ võ, Đắc Tượng không thêm gì, chỉ xin theo lời bàn của Kỳ, nên không đề cập đến các phần khác. Có bản khác thêm chữ “dư”, e là sai, nay không theo.)

[62] Tháng đó, chiếu rằng từ nay về sau, các nội thần làm quan trên ba mươi năm, có nhiều công lao, qua mười năm chưa được thăng chuyển, thì cho khảo xét, bảo đảm rõ ràng rồi xin chỉ.

[63] Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Hợi mùng một, cho lập lại Viện Triều tập để đón các quan ngoại trấn trở về kinh sư.

[64] Trước đó, Thái tử trung xá Lục Đông dâng văn, được triệu vào thí ở Viện Học sĩ, ban cho xuất thân Tiến sĩ, đổi làm Thái tử trung doãn. Nhưng Lục Đông tính tình cố chấp, nóng nảy, mong được bổ nhiệm vào Tam quán, bèn ném chiếu không nhận, bị cách chức hiện tại, đày đến Xử châu.

[65] Chiếu rằng Hà Bắc mấy năm nay được mùa lớn, giá lúa thấp làm hại nông dân, nên cho Chuyển vận ty dùng tiền hiện có mua lúa ở vùng biên giới, nếu không đủ, thì Tam ty hỗ trợ.

[66] Ngày Nhâm Tý, cho phép Thái Châu lập trường học.

[67] Thái Châu tâu rằng Tả Vũ Vệ Đại tướng quân, phân ty Tây Kinh Thạch Phổ đã mất.

Phổ là người phóng khoáng có dũng lược, mỗi khi tham gia đánh dẹp, nghe tin địch ở đâu liền lập tức kéo quân đến. Hai lần dẹp yên giặc Thục, trải qua hàng trăm trận lớn nhỏ, xông pha chém giết, mọi người đều khen ngợi sự dũng cảm của ông. Ông cũng rất thông thạo binh thư, âm dương, lục giáp[16], thiên văn lịch số, thuật suy đoán. Thái Tông từng nói: “Phổ tính tình cương nghị, ít hòa hợp với các tướng khác.” Nhưng vì ông giỏi chiến đấu nên thường được đối đãi hậu hĩnh.

Có lần Vua sai thợ giỏi chế tạo đai vàng, lúc đó Phổ đang mang khí giới hầu cận, liền tiến lên nói: “Xin ban cho thần.” Vua liền ban ngay. Sau khi bị tội phế truất, mỗi khi đến ngày giỗ Thái Tông, ông đều đưa cả nhà đến chùa làm lễ trai tăng, coi đó là việc thường lệ.

[68] Ngày Ất Mão, xuống chiếu lập người kế tự cho Chiêu Thành Thái tử Nguyên Hi, Hình vương Nguyên Kiệt, Hoa vương Nguyên Xưng.

[69] Ngày Bính Thìn, xuống chiếu rằng từ nay các điện thị Đông Tây ban nếu có kẻ đào ngũ, thì đối với 5 ban mang giáp, áp dụng điều lệ cấm quân chờ chỉ dụ; đối với 7 ban không mang giáp, áp dụng điều lệ sương quân, xử phạt xong không chích mặt; những người nhận mệnh đi ra ngoài, nếu là quan lại thì xử theo luật vô cớ bỏ trốn; người tạm quản quân tịch thì tùy theo cấp bậc tướng hiệu mà định tội; người quản lý tài sản công thì áp dụng điều lệ đại tướng Tam ty.

[70] Điện thị gồm 12 ban. Đông đệ nhất, đệ nhị ban, Tây đệ nhất ban, Nỗ thủ ban, Long kỳ trực, tổng cộng 5 ban, mỗi tháng lương 1.500 đồng, gọi là “mang giáp”. Tây đệ nhị ban, Hạ trà tửu tân cựu ban tổng cộng 2 ban, mỗi tháng lương 1.000 đồng; Đông đệ tam, Tây đệ tam, đệ tứ ban, Nam ban, Bắc ban tổng cộng 7 ban, mỗi tháng lương 700 đồng, gọi là “không mang giáp”.

[71] Ngày Kỷ Mùi, bãi bỏ huyện Vĩnh Thanh thuộc Bá Châu, dời trị sở Văn An đến Vĩnh Thanh.

[72] Ngày Tân Dậu, việc trùng tu Hậu miếu hoàn thành.

Lễ viện tâu: “Theo Chu quan, khi triều nhật và tế tự Ngũ đế, thì bày đại thứ và tiểu thứ. Người giải thích cho rằng tế tự Hạo Thiên Thượng đế cũng như vậy. Đại thứ ở ngoài đàn duy, giống như điện canh y ác; tiểu thứ ở bên cạnh đàn, hiện nay chưa thực hiện. Xét theo lệnh từ miếu của Ngụy Vũ đế, sau khi giáng thần xong, xuống bậc, đứng ở chỗ toái, đợi tấu nhạc xong, giống như không vội vàng, liệt tổ chậm tế, không kết thúc nhanh. Vì vậy, ngồi tạm[17], đợi khi nhạc kết thúc, tống thần xong mới đứng dậy.

Như vậy, Vũ đế ngồi đợi, cần phải bố trí thêm chỗ gần, phù hợp với nghĩa của Chu quan. Xin đặt tiểu thứ ở phía đông bản vị của hoàng đế, mỗi lần hiến tế xong, xuống đàn hoặc điện, đến tiểu thứ, đến khi hiến tế cuối cùng, dọn đậu, lại trở về bản vị.” Được chấp thuận.

[73] Chiếu chỉ rằng từ nay việc cử người làm Cáp môn chi hậu phải là người từng trải qua nhiệm vụ biên giới, có tài võ nghệ, giỏi cưỡi ngựa bắn cung mới được xem xét.

[74] Đô đại đề cử quán các thư tịch tâu lên việc hiệu khám kinh sử ở hai kho, tổng cộng 8.435 quyển, ban thưởng khí tệ cho các quan hiệu khám và những người dưới quyền theo thứ bậc.

[75] Ngày Quý Hợi, khôi phục lại chức Quần mục chế trí sứ, và chiếu rằng từ nay chỉ do Đồng tri Xu mật viện hoặc Phó sứ kiêm nhiệm. Chức này đã bị bãi bỏ vào ngày 12 tháng 5 năm Minh Đạo thứ 2, nay khôi phục lại; đến ngày 23 tháng 5 năm Bảo Nguyên thứ 2 lại bị bãi bỏ, sau đó lại khôi phục.

[76] Ngày Giáp Tý, chiếu rằng dân chúng khi tố cáo thiên tai, được phép giữ lại màu sắc và gốc rạ của lúa, để chờ quan ty kiểm tra, còn lại thì lệnh cho cải trồng.

[77] Lễ viện tâu rằng: “Xuân Thu Ẩn Công năm thứ năm[18] có ghi: ‘Khảo cung của Trọng Tử, dâng lần đầu sáu vũ.’ Hà Hưu, Phạm Ninh đều cho rằng không nói đến dật, vì dật đã bao hàm cả can vũ, phụ nữ không có việc võ, chỉ tấu nhạc văn. Ở Giang Tả, Tống Kiến Bình Vương Hoành đều dựa vào đó để bàn luận, nên miếu của Chương Thái Hậu chỉ dùng văn vũ.

Đến đời Đường từ niên hiệu Thùy Củng trở đi, cung trung đã dùng bác chung, sau đó kế thừa, nên các miếu như Nghi Khôn dâng vũ vũ, đầy đủ nhạc khí kim thạch, đặc biệt là thất lễ. Trước đây có chiếu bàn về nhạc phụng từ, các cơ quan dẫn theo điển cũ, đã dùng đặc khánh thay bác chung, lấy âm giáo chuộng nhu, lấy tĩnh làm thể. Nay nhạc bỏ đại chung mà vũ tiến can thuẫn, trái với kinh nghĩa, xin chỉ dùng vũ đức văn.” Tâu được chấp thuận.

[78] Người dâng thư lên nói rằng các lộ hàng năm đưa tiền mẫn về kinh sư, khiến tiền tệ các nơi nặng mà hàng hóa nhẹ. Ngày Đinh Mão, xuống chiếu cho Giang Đông 5 vạn mẫn, từ nay đều mua lụa, lĩnh, bông; Phúc Kiến, Quảng Đông mỗi nơi 10 vạn, Quảng Tây 8 vạn, đều mua bạc dâng lên; Hoài Nam, Hồ Bắc mỗi nơi 5 vạn, Lưỡng Chiết 5 vạn 5 nghìn, vẫn nộp tiền mẫn như cũ.

[79] Ngày Kỷ Tỵ, xuất 70 vạn mẫn từ kho Nội Tàng, 50 vạn từ kho Tả Tàng, giao cho Chuyển Vận Ty Hà Bắc mua dự trữ quân nhu.

[80] Cho phép Tô Châu lập trường học, và cấp 5 khoảnh ruộng.

[81] Ngày Tân Mùi, Tri Xu Mật Viện Vương Tùy dâng sách 《Truyền Đăng Ngọc Anh Tập》, xin in ấn ban hành, được chấp thuận.

[82] Ngày Quý Dậu, ban chiếu rằng các châu quân ở Hà Bắc có đầm hồ đều kiêm nhiệm quản lý việc đồn điền và đê điều. Đầu niên hiệu Cảnh Hữu, Lưu Bình rời Chân Định, Dương Hoài Mẫn vẫn tiếp tục quản lý Ty Đồn Điền như cũ. Đầm hồ ngày càng mở rộng, đến mức lấn chiếm ruộng dân, nhấn chìm mồ mả, trăm họ bắt đầu kêu ca, thậm chí có kẻ đào trộm để thoát nạn lụt. Hoài Mẫn tâu xin lập pháp theo luật đào trộm đê điều, do đó Tri châu Hùng Châu là Cát Hoài Mẫn xin dựng cọc làm mực nước để hạn chế nước lên xuống, được chấp thuận.

(Cát Hoài Mẫn xin lập mực nước, sách Thực Lục ghi vào năm này, Lưu Bình rời Chân Định vào tháng 2 năm Cảnh Hữu nguyên niên, những việc này đều căn cứ vào bản chí phụ lục.)

[83] Ngày Bính Tý, ban chiếu tăng thêm binh lính túc trực cho các châu thông phán, các quan đi qua cũng được phép tạm mượn người.

[84] Ngày mùng một tháng 11, Tân Tỵ, lấy Thư viện Ứng Thiên Phủ làm Phủ học, và cấp 10 khoảnh ruộng.

[85] Ngày Quý Mùi, Bí thư thừa, Quốc tử giám Trực giảng Lâm Vũ bị cách chức, vì vi phạm thời hạn xin nghỉ theo chiếu. Cần xét lại.

[86] Ngày Mậu Tý, Kim Đình giáo chủ, Xung Tĩnh Nguyên sư Quách thị mất.

Khi Hoàng hậu bị kết tội, Vua chỉ vì nhất thời tức giận, lại bị Diêm Văn Ứng gièm pha[19], nên phế bỏ bà, sau đó lại hối hận. Hoàng hậu ở cung Dao Hoa, Vua nhiều lần sai sứ đến thăm hỏi, lại làm thơ nhạc phủ ban cho Hoàng hậu, Hoàng hậu họa lại, lời lẽ rất thê lương, Văn Ứng rất sợ. Nhân lúc Hoàng hậu bị bệnh nhẹ, Văn Ứng cùng thái y đến khám, dời bà đến viện Gia Khánh.

Mấy ngày sau, Hoàng hậu đột ngột qua đời. Trong ngoài đều nghi ngờ Văn Ứng bỏ độc, nhưng không có bằng chứng. Lúc đó Vua đang trai giới ở Nam Giao, không được báo ngay. Khi nghe tin, Vua rất thương xót, hạ chiếu an táng theo lễ Hoàng hậu, anh trai bà là Tây Kinh Tả Tạng Khố sứ[20], Thứ sử Xương Châu là Quách Trung Hòa được thăng làm Xương Châu Đoàn luyện sứ, Nội điện Sùng ban, Các môn Chỉ hậu là Quách Trung Dung được thăng làm Lễ tân Phó sứ, Độ chi Phán quan. Hữu Chánh ngôn, Tập Hiền viện là Vương Nghiêu Thần xin truy cứu những người hầu cận thái y, nhưng không được trả lời.

(Việc này căn cứ theo 《Quốc sử》 và 《Ký văn》.)

[87] Ngày Kỷ Sửu, thăng châu Thái thành quân Hoài Khang.

[88] Nam Giao Đại lễ sứ Lữ Di Giản tâu rằng, có hơn 60 người trong tông thất không đến Trung thư nhận lời thề giới, chiếu chỉ không cho họ tham dự lễ bồi vị.

[89] Ngày Quý Tỵ, triều hưởng ở cung Cảnh Linh.

[90] Ngày Giáp Ngọ, hưởng tế ở Thái miếu và Phụng Từ miếu.

[91] Ngày Ất Mùi, tế trời đất ở đàn Viên Khâu, lấy Thái Tổ, Thái Tông, Chân Tông cùng phối hưởng. Đại xá thiên hạ. Ghi chép hậu duệ của các triều Đường, Lương, Hậu Đường, Tấn, Hán, Chu và các nước ngụy. Từ niên hiệu Kiến Long trở đi, các quan lại, tướng hiệu chết trận mà không có con cháu hưởng lộc, nếu ai tự trình bày với cơ quan mình phụ trách, thì tông thất đều được thăng chức, từ các ty sứ trở xuống đến Điện trực, đều đổi làm quan Tây ban.

[92] Lệnh cho Thẩm hình viện, Đại Lý tự biên soạn riêng việc giảm định các hình phạt phối lưu, làm thành 5 quyển sắc lệnh.

(《Hội yếu》 ghi ngày 4 tháng 10 năm thứ 5 dâng lên 5 quyển sắc lệnh giảm định, nay phụ chép vào đây.)

[93] Tha cho các hộ làm muối ở Vĩnh Lợi giám thuộc Tịnh Châu[21]số muối nợ tích lũy là 77.700 thạch.

[94] Ngày Ất Tỵ, phong Tể thần Lữ Di Giản làm Thân Quốc công, Vương Tăng làm Nghi Quốc công. Kinh vương Nguyên Nghiễm làm Kinh Nam Hoài Nam Tiết độ Đại sứ, kiêm chức Kinh châu Dương châu Mục, lại ban cho đặc quyền vào triều không phải đi nhanh. Hai chức Châu Mục bắt đầu từ Nguyên Nghiễm. Vũ Thắng Tiết độ sứ Đức Văn giữ chức Đồng Bình Chương sự. Vua vì Đức Văn là bậc tôn trưởng, thường gọi là “Ngũ Tướng công” mà không gọi tên. An Hóa Lưu hậu Doãn Nhượng làm Ninh Giang Tiết độ sứ[22].

Doãn Nhượng là con thứ hai của Nguyên Phần.

Khi Vua còn nhỏ, Chân Tông chọn trong tông thất những người con có tuổi tương đương, thông minh lanh lợi, dễ gần để cùng vui chơi, triệu Doãn Nhượng vào cấm cung, sớm tối đọc sách học tập cùng nhau, mọi hành động vui chơi đều hợp lễ tiết. Đến khi Vua ra khỏi cung, mới dùng nhạc Vân Thiều đưa Doãn Nhượng về phủ ngoài.

[95] Ngày Bính Ngọ, 12 người là tông tử giữ chức các ty sứ kiêm lĩnh chức thứ sử các châu được đổi làm các vệ đại tướng quân, kiêm lĩnh chức đoàn luyện sứ các châu; 19 người là các ty sứ được đổi làm các vệ đại tướng quân, kiêm lĩnh chức thứ sử các châu; 19 người là các ty phó sứ được đổi làm các vệ đại tướng quân; từ chức nội điện thừa chế trở xuống 130 người đều được làm tướng quân, suất phủ suất, phó suất, theo chiếu xá của năm Ất Mùi.

Trước đây, tông tử không có phép thăng quan, chỉ khi gặp đại lễ hiếm có thì mới được thăng một chức. Đến khi tế Nam Giao, cùng phối hưởng với ba vị thánh, tông tử đều dâng biểu xin ban ơn, nên mới có chế độ này. Trước kia, từ chức tá chức phải qua mười lần thăng mới đến chức các ty phó sứ, nay từ chức phó suất chỉ cần bốn lần thăng là được lĩnh chức thứ sử ở xa, tám lần thăng là được làm tiết độ sứ.

(Tên họ của tông tử được đổi chức, trong Thực lục và bảng quan chức có chỗ khác nhau, nay tham khảo cả hai. Những người từ chức chính thứ sử trở lên được thăng đổi[23], không tính trong số này.

《Ký văn》 chép: Lữ Thân Công đang nắm quyền, thấy Vua không khỏe, nên đề cử Doãn Nhượng quản câu tông chính ty. Việc tông thất được đổi làm quan Tây Ban đều là kế sách của Thân Công. Trước kia, từ chức tá chức phải qua mười lần thăng mới đến chức các ty phó sứ. Đến khi đổi làm quan Tây Ban, từ chức phó suất chỉ cần bốn lần thăng là được lĩnh chức thứ sử ở xa, bổng lộc gấp mười lần trước, quốc dụng càng rộng, đến nay vẫn là mối lo.

Xét việc Vua không khỏe là vào tháng 8 năm ngoái, đến tháng 9 thì khỏi bệnh, như vậy việc Doãn Nhượng quản câu tông chính và tông tử đổi chức, tự có nguyên nhân riêng. Việc tông tử đổi chức, 《Bút đàm》 của Thẩm Quát có lẽ ghi đúng sự thật. Việc Doãn Nhượng quản câu tông chính, nên theo Thực lục và chính sử.

《Bút đàm》 chép: Việc tông tử đổi làm quan Nam Ban, người đời truyền rằng khi Thái úy Văn Chính Vương làm tể tướng mới bắt đầu bàn việc này, nhưng không phải vậy. Theo lệ cũ, tông tử không có phép thăng quan, chỉ khi gặp đại lễ hiếm có thì mới được thăng một chức. Năm Cảnh Hữu, lần đầu định việc tổ tông cùng phối hưởng tế Nam Giao, tông thất muốn nhân đại lễ xin ban ơn, sai giáo thụ các vương cung là Điêu Ước soạn biểu dâng lên. Sau đó, Ước gặp tể tướng Vương Nghi Công[24], Nghi Công hỏi biểu xin thăng quan của tông thất hôm trước là do ai soạn? Ước không biết ý, đáp là không biết. Về nhà nghĩ lại, sợ việc bại lộ sẽ bị tội, bèn đến phủ tể tướng lần nữa. Nghi Công hỏi như trước, Ước càng sợ, không dám giấu nữa, bèn nói thật. Nghi Công nói: “Không có gì, chỉ thích văn từ của ông thôi.” Rồi khen ngợi nhiều lần, từ từ nói: “Đã có chỉ riêng, vài ngày nữa sẽ có mệnh lệnh.” Từ đó mới có việc ban chức Nam Ban. Thân thuộc gần từ khi mới nhận chức tiểu tướng quân, chỉ cần thăng vài lần là được làm tiết độ sứ, từ đó thành lệ. Các tông tử đem nghìn tấm lụa tạ Ước, Ước từ chối không dám nhận. Tôi thân quen với Điêu, Điêu từng đưa bản thảo biểu cho tôi xem.

Xét Thực lục, hội yếu, chính sử[25] đều ghi là đổi làm quan Tây Ban, chỉ có bảng quan chức ghi là quan Nam Ban[26], cần xét lại.)

[96] Ngày Đinh Mùi, ban ơn cho trăm quan.

[97] Ngày Mậu Thân, đổi chức Tuần kiểm đô giám ở Nghi, Quế châu[27] thành chức Tuần kiểm sứ vùng biên giới các châu Nghi, Dung, Ung, Khâm.

[98] Tháng 12, ngày Tân Hợi mùng một, phục chức cho Lý Địch, Thái thường khanh, trước là Tri châu Mật châu, làm Thượng thư Hình bộ, Tri châu Từ châu.

[99] Chiêu Tuyên sứ, Ân Châu đoàn luyện sứ, Nhập nội đô đô tri Diêm Văn Ứng, lĩnh Gia Châu phòng ngự sứ, bị cách chức đô đô tri, làm Tần Châu kiềm hạt, sau đổi làm Vận Châu kiềm hạt. (Việc đổi làm Vận Châu kiềm hạt xảy ra vào tháng này ngày Quý Sửu, nay ghi chung.) Con trai ông là Nhập nội cung phụng quan, Câu đương ngự dược viện Sĩ Lương được làm Nội điện sùng ban, bị bãi chức ở Ngự dược viện. Lúc đó, gián quan Diêu Trọng Tôn và Cao Nhược Nột hặc tội Văn Ứng khi Vua đang trai giới ở Thái miếu, mà Văn Ứng quát mắng y quan, tiếng vang đến nơi Vua ở; Quách hoàng hậu đột ngột qua đời, trong ngoài đều nghi ngờ Văn Ứng bỏ độc, xin đuổi cả Sĩ Lương ra khỏi triều. Vì thế có mệnh lệnh này.

Văn Ứng lại cáo bệnh xin ở lại, Trọng Tôn lại tấu trình[28], Văn Ứng mới vội rời đi. Văn Ứng chuyên quyền ngang ngược, nhiều việc giả mạo chỉ dụ giao cho bên ngoài, các quan chấp chính không dám trái lệnh. Thiên Chương các đãi chế Phạm Trọng Yêm định tấu hặc tội ông, liền không ăn, giao hết việc nhà cho con trai trưởng, nói: “Nếu ta không thắng, ắt sẽ chết.” Vua cuối cùng nghe lời Trọng Yêm, đày Văn Ứng đến Lĩnh Nam, sau đó chết trên đường đi.

(Việc đày Diêm Văn Ứng đến Lĩnh Nam, rồi chết trên đường, căn cứ theo mộ chí do Phú Bật soạn.

Xét rằng Diêm Văn Ứng vào tháng 12 năm Cảnh Hựu thứ 2 ngày Tân Hợi bị cách chức Nhập nội đô đô tri, lấy chức Chiêu Tuyên sứ lĩnh Gia Châu phòng ngự sứ, làm Tần Châu kiềm hạt, hai ngày sau đổi làm Vận Châu kiềm hạt, bách quan biểu cũng ghi như vậy. Tháng 4 năm Cảnh Hựu thứ 4 ngày Ất Sửu, Văn Ứng được điều làm Lộ Châu kiềm hạt, bách quan biểu cũng ghi như vậy. Tháng 9 năm Bảo Nguyên thứ 2 ngày Quý Mão, Văn Ứng qua đời, căn cứ theo bách quan biểu. Được tặng chức Bân Châu quan sát sứ, căn cứ theo Thực lục. Không có ghi chép nào về việc đày đến Lĩnh Nam và chết trên đường, không rõ Phú Bật căn cứ vào đâu, nay tạm theo mộ chí của Phú Bật, chờ xem xét thêm.)

[100] Tần Châu Tẩu mã thừa thụ tâu rằng, Triệu Nguyên Hạo đem quân đánh Cốt Tư La, xin hạ lệnh cho Thiểm Tây chuẩn bị phòng bị biên giới, Vua đồng ý.

[Viên quan chức] Thừa thụ, không rõ họ tên.

[101] Ngày Nhâm Tý, phong thủ lĩnh Tây Phiền Mạc Xuyên là Cốt Tư La, chức Ninh Viễn Đại tướng quân, Ái Châu Đoàn luyện sứ, làm Lưu hậu quân Bảo Thuận, cấp lương bổng hàng năm, lệnh cho Châu Tần ban tặng.

[102] Lúc đó, Nguyên Hạo sai Tô Nô Nhi đem hai vạn năm nghìn quân đánh Cốt Tư La, bị đánh bại gần như toàn quân bị tiêu diệt, Tô Nô Nhi bị bắt. Nguyên Hạo tự mình dẫn quân đánh thành Li Ngưu, một tháng không hạ được, sau đó giả vờ giảng hòa, mở cổng thành, rồi đại khai sát giới. Lại đánh các thành Thanh Đường, An Nhị, Tông Ca, Đái Tinh Lĩnh, tướng dưới quyền Cốt Tư La là An Tử La đem mười vạn quân chặn đường rút lui, Nguyên Hạo đánh ngày đêm, hơn ba trăm ngày[29], Tử La thua trận, nhưng quân sĩ chết đuối ở sông Tông Ca và chết đói quá nửa.

(Tàn sát thành Li Ngưu, Triệu Tuân cho rằng việc này xảy ra vào niên hiệu Minh Đạo, là sai, nên là năm này. Chính truyện chép rằng, Tử La thua trận, bèn chiếm ba châu Qua, Sa, Túc, là sai, ba châu Qua, Sa, Túc vốn thuộc về Hồi Hột, không tiếp giáp với Cốt Tư La, nay bỏ đi. Từ việc đánh Thanh Đường trở xuống và chiếm ba châu Qua, Sa, Túc chắc chắn không phải năm nay, nay phụ chép.)

Nguyên Hạo từng xâm lược Cốt Tư La, đem quân đến sông Hoàng Hà, Cốt Tư La biết quân ít không địch nổi, đóng quân ở Châu Thiện không ra, ngầm do thám Nguyên Hạo, nắm được tình hình hư thực. Nguyên Hạo đã qua sông, cắm cờ làm dấu chỗ nông, Cốt Tư La ngầm sai người di chuyển cờ đến chỗ sâu để đánh lừa Nguyên Hạo. Đến khi đại chiến, Nguyên Hạo thua chạy về, quân sĩ nhìn cờ mà qua sông, chết đuối mười phần đến tám chín, bị bắt sống rất nhiều.

(Truyện Cốt Tư La chép việc cắm cờ đánh lừa Nguyên Hạo rồi nói, “Từ đó nhiều lần dùng kế lạ phá Nguyên Hạo, Nguyên Hạo không dám nhòm ngó đất của ông”. Đó là lời khoe khoang, nay không chép. Việc nhổ cờ đánh lừa Nguyên Hạo, có thể liên quan đến việc đóng quân ở thành Li Ngưu, nay tạm phụ chép. Lại không rõ thành Li Ngưu so với Châu Thiện là cùng hay khác, xa hay gần, nhưng hai việc này đều không rõ ràng, cần xem xét kỹ trước sau để biên soạn lại.)

Cốt Tư La đến dâng tin thắng trận, triều đình bàn việc phong Cốt Tư La làm Tiết độ sứ. Đồng tri Xu mật viện Hàn Ức cho rằng hai nước kia đều là phiên thần, nay không thể khuyên họ giải hòa, lại nhân việc thắng trận mà ban thưởng, không phải là cách trị vì tứ di. Bàn luận liền dừng lại.

(《Thập triều cương yếu》 của Lý Thực chép: Sau đó, Cốt Tư La lại khởi binh đánh các bộ tộc Khương ở Lan Châu, xâm lấn đến tận Mã Hàm Sơn[30], từ đó chiếm được các vùng Hạ, Ngân, Tuy, Tĩnh, Hựu, Linh, Diêm, Hội, Thắng, Cam, Lương, Qua, Sa, Túc, quân số lên đến hơn năm mươi vạn.)

[103] Ngày Quý Sửu, ban chiếu rằng những người từng làm Nhập nội đô tri, Áp ban mà bị cách chức, từ nay không được phục chức; những người đang tại chức thì không được kiêm nhiệm Hoàng thành ty, thân thích cũng không được kiêm nhiệm Ngự dược viện.

[104] Ngày Mậu Ngọ, truy tặng ba đời của Bảo Khánh Hoàng thái hậu và ba đời của Hoàng hậu, lại tiến phong Diên An quận phu nhân họ Đường làm Thư quốc thái phu nhân.

[105] Ngày Quý Hợi, Long đồ các học sĩ, Hữu gián nghị đại phu, Quyền tri Khai Phong phủ Vương Bác Văn được thăng làm Cấp sự trung, Tri Thiên Hùng quân; Lễ bộ viên ngoại lang, Thiên chương các đãi chế Phạm Trọng Yêm được thăng làm Lại bộ viên ngoại lang, Quyền tri Khai Phong phủ. Trọng Yêm từ khi trở về triều, càng tích cực dâng sớ bàn việc.

Tể tướng ngầm sai người khuyên rằng: “Đãi chế là chức thị thần, không phải là chức trách dùng lời nói.” Trọng Yêm đáp: “Bàn luận chính sự là chức trách của thị thần, tôi đâu dám không cố gắng.”

Tể tướng biết không thể dụ dỗ được, bèn cử ông làm Tri Khai Phong, muốn dùng việc nhiều khó nhọc để làm ông bận rộn, không có thời gian bàn việc khác, cũng hy vọng ông phạm sai lầm để lập tức cách chức. Trọng Yêm ở chức được một tháng, kinh thành trở nên nghiêm túc, được khen là trị vì tốt.

[106] Ngày Giáp Tý, Tả thị cấm Tang Dịch được thăng làm Cáp môn chi hậu, để thưởng công dẹp loạn Man Lão. Dịch từ chối không nhận, xin đem phần thưởng của mình trao cho người trên, nhưng không được chấp thuận. Có người chê Dịch thích danh tiếng, Dịch than thở: “Kẻ sĩ chỉ cần xem xét tâm mình thế nào, nên tự tin vào tâm mình mà hành động. Nếu muốn tránh tiếng, thì việc thiện đều không thể làm được.”

[107] Chiếu rằng dân chúng ở hai lộ Quảng Nam Đông và Quảng Nam Tây không được tư trang bị bác đao, nếu vi phạm thì cả người rèn và người sở hữu đều bị xử theo luật cấm tư hữu binh khí. Ban đầu, chuyển vận sứ tâu rằng, dân làm giặc thường cầm bác đao, khi bắt được chỉ xử tội đánh trượng, hình phạt nhẹ không thể ngăn cấm, nên sửa đổi điều luật này.

[108] Cấm dân chúng ở các lộ Ích, Tử, Quỳ, Lợi tụ tập ban đêm và tan đi lúc sáng, truyền dạy tà giáo. Nếu trong bọn họ có người tự giác tố giác, hoặc người khác tố giác, đều được thưởng ba vạn tiền.

[109] Ngày Ất Sửu, truy tặng Hàn lâm thị độc học sĩ, Binh bộ thị lang, kiêm Bí thư giám Dương Huy Chi làm Thái tử thái sư, thụy hiệu là Văn Trang. Dương Huy Chi từng phụng sự Chân Tông khi còn ở phủ đệ, ban đầu được truy tặng chức Thượng thư. Tham tri chính sự Tống Thụ là cháu ngoại của ông, xin Vua nên gia tặng thêm.

[110] Cho phép châu Mạnh lập trường học, và cấp thêm năm khoảnh ruộng.

[111] Năm Thái Bình Hưng Quốc thứ ba, lần đầu tiên phong cho cháu đời thứ 44 của Văn Tuyên Vương là Tuyên làm Văn Nghi công.

Tuyên mất năm Ung Hi thứ ba, đến cuối niên hiệu Chí Đạo, lại phong cho con của Tuyên là Diên Thế kế tục. Diên Thế mất vào đầu niên hiệu Cảnh Đức, con là Thánh Hựu còn nhỏ, đến năm Thiên Hi thứ năm mới phong cho Thánh Hựu kế tục. Thánh Hựu mất gần mười năm, không có con, nên bãi bỏ việc kế tục.

Nhan Thái Sơ ở Bành Thành nhân việc Hứa Hi xin lập miếu thờ Biển Thước, làm thơ chỉ trích việc bãi bỏ kế tục, châm biếm những người đương quyền khi đắc chí lại quên mất tiên sư. Lại viết thư gửi Tham tri chính sự Thái Tề, Thái Tề tâu lên Vua.

Ngày Tân Mùi, chiếu phong cho em của Thánh Hựu là Tông Nguyện, đang làm Huyện úy Bắc Hải, làm Quốc tử giám chủ bạ, kế tục phong làm Văn Tuyên công.

[112] Ngày Quý Dậu, chiếu cho Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Chương Đắc Tượng, Ngự sử trung thừa Đỗ Diễn, Tri chế cáo Lý Thục biên soạn danh sách con cháu các bề tôi thời Đường, Ngũ Đại và bản triều được hỏi đến trong sách xá thư.

Trước đó, Ngự sử đài bổ nhiệm Thạch Giới, Nhiệm thủ Thôi quan Nam Kinh, làm Chủ bạ.

Giới dâng sớ bàn rằng việc ban chiếu xá tội không nên tìm con cháu của năm đời và các nước ngụy, không hợp ý Vua, nên bị bãi chức và không được triệu lại.

(Sách 《Cửu triều thông lược》 của Hùng Khắc chép: Bèn bãi chức Giới, cho làm Thư ký Trấn Nam. Quán các Hiệu khám Âu Dương Tu gửi thư trách Trung thừa Đỗ Diễn rằng: “Giới chỉ là một kẻ sĩ thấp hèn, dùng hay không dùng, đúng hay sai, chưa đủ làm hại chính sự, nhưng điều đáng tiếc là hành động của Trung thừa vậy. Chủ bạ trong đài không phải là chức quan có quyền bàn việc, nhưng đại để những người ở trong đài, ắt phải lấy sự chính trực, cương nghị, sáng suốt, không sợ hãi, né tránh làm xứng chức. Giới chưa kịp đặt chân đến cửa đài, đã vì dâng lời bàn việc mà bị bãi chức, thật có thể gọi là chính trực, cương nghị, sáng suốt[31], không sợ hãi, né tránh vậy. Xét tài của Giới, không chỉ làm Chủ bạ, mà còn có thể làm Ngự sử. Nay bãi chức Giới mà cử người khác, ắt cũng phải chọn người hiền mà cử. Người hiền vốn thích tranh luận, nếu cử vào đài lại có lời bàn, thì lại bãi chức mà cử người khác ư! Như thế, ắt phải chọn được kẻ ngu muội, tối tăm, nhút nhát, im lặng rồi mới thôi.” Diễn rốt cuộc không nghe theo.)

Thái tử Trung doãn, Tri Hoài Dương quân Lương Thích cũng dâng sớ bàn rằng Chu Toàn Trung là bề tôi phản nghịch nhà Đường, nay ghi chép con cháu của hắn, không thể lấy đó để khuyến khích. Vua cho lời ấy là phải, ghi tên Thích trong cung, rồi triệu làm Tường nghị quan ở Viện Thẩm hình.

Thích là con của Lương Hạo.

[113] Ghi chép con cháu của Lý Chí Trung, Đồng Tuần kiểm châu Quỳnh Nhai, Hữu ban Điện trực, là cháu nội Quang Lang làm Tam ban Tá chức, ban tên là Diên Thưởng, vì Chí Trung tử trận khi đánh nhau với man lão.

[114] Ngày Ất Hợi, Khiết Đan phái Lợi Châu Quan sát sứ Gia Luật Mục, Đại Lý Thiếu khanh Bạc Khả Cửu đến chúc mừng ngày Chính đán.

[115] Ngày Bính Tý, ban chiếu rằng: “Trong thiên hạ, những đê điều, ao hồ, kênh rạch cũ đã bị bỏ phế lâu ngày, nếu các quan Trưởng lại[32], Lệnh tá có thể khuyến khích dân chúng tu sửa, cùng với việc khai khẩn ruộng hoang làm tăng thuế lên đến trăm ngàn trở lên, sẽ được khen thưởng; các quan Chuyển vận sứ phó, Đề điểm hình ngục nếu có thể đôn đốc quan lại trong bộ quy hoạch, cũng sẽ được khen thưởng như vậy.”

[116] Ngày Đinh Sửu, Ngự sử đài tâu rằng: “Các chức Đại tướng quân, Tướng quân của các vệ đều thuộc hàng tam phẩm, xếp hàng một; các chức Suất, Phó suất của các vệ suất phủ đều thuộc hàng tứ phẩm, xếp hàng một. Nay mới bổ nhiệm thêm 85 viên Đại tướng quân, Tướng quân của các vệ là hoàng thân, cùng 51 viên Suất, Phó suất của các vệ suất phủ. Vì các Đại tướng quân hoàng thân trở xuống đều vào chầu trong nội điện, số lượng hơi nhiều, trong sân điện khó sắp xếp, cùng với các buổi yến tiệc không theo thứ tự, trên điện chật hẹp, nên xếp thành hai hàng.”

(Số lượng quan viên này sẽ được tham khảo thêm vào ngày Bính Ngọ tháng 11.)

[117] Ngày Mậu Tuất, ban cho Thái thường bác sĩ Trần Hi Lượng áo mặc ngũ phẩm, vì ông từng biện minh cho vụ án oan. Hi Lượng, đã được nhắc đến vào tháng 7 năm Thiên Thánh thứ 2.

[118] Năm đó, Vua Khiết Đan thêm tôn hiệu là Văn Vũ Nhân Thánh Chiêu Hiếu Hoàng Đế.


  1. Sai Phùng Nguyên và những người khác tìm hiểu kỹ các điển cố, 'tìm hiểu kỹ' nguyên bản là 'khảo cầu', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống hội yếu》 quyển 2 phần 3, 《Trị tích thống loại》 quyển 6 phần 'Cảnh Hữu quân thần nghị nhạc', 《Tống sử》 quyển 126 phần 'Nhạc chí' mà sửa
  2. Và trong sách cổ không có ghi chép, chữ 'và' nguyên bản thiếu, theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 31 phần 'Nghị nhạc' và các sách 《Tống hội yếu》, 《Trị tích thống loại》, 《Tống sử》 bổ sung
  3. 'Thị phi' nguyên bản viết là 'phi thị', căn cứ vào các bản và sách 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 mà sửa lại.
  4. Trảm và Tề ba năm đều phải giải chức, nguyên văn là 'Trảm Thôi', theo 《Tống sử》 quyển 125, chí về Lễ ghi là 'Trảm, Tề ba năm, đều phải giải chức'; 《Tống hội yếu》 Lễ 36/10 ghi: 'Trảm Thôi ba năm, Tề Thôi ba năm, đều phải giải chức.' Nay căn cứ sửa 'Trảm, Thôi' thành 'Trảm Tề'.
  5. Lại xem xét kỹ các lệnh, nguyên văn là 'tải', căn cứ 《Tống hội yếu》 Lễ 36/11 sửa.
  6. Cởi tang phục mặc đồ tốt hoặc quên tang mà vui chơi, 'quên tang' trong sách trên và 《Tống sử》 quyển 125, chí về Lễ đều ghi là 'quên ai', nay căn cứ sửa.
  7. Căn cứ vào việc ngoại tổ là người khác tộc, chữ 'tộc' nguyên bản là 'tông', theo các bản và sách 《Tống sử》 sửa lại.
  8. thì với 《Nghi lễ》, 《Lễ ký chính nghĩa》, 《Thông điển》, 《Thông lễ》, 《Ngũ phục niên nguyệt sắc》 rằng 'con trai kế thừa cha không để tang mẹ xuất giá hoặc tái giá' không xa nhau. 'Dữ' nguyên là 'ư', theo các bản, 《Tống hội yếu》 lễ 36-12 và 《Tống sử》 dẫn trên sửa.
  9. thì với chế độ ngũ phục trong 《Thông lễ》 'dữ' nguyên là 'vu', theo sách trên sửa.
  10. hoàn toàn phù hợp với chính lễ thời cổ 'dữ' nguyên là 'ư', theo các bản và 《Hội yếu》 dẫn trên sửa.
  11. Chiếu chỉ năm viên quản lý Hoàng thành ty, từ nay khi xa giá đi tuần, thường lưu lại trong cung. Theo 《Tống hội yếu》 chức quan 34-22 chép: 'Ngày 13 tháng 8 năm Cảnh Hựu thứ 2, chiếu chỉ năm viên quản lý Hoàng thành ty là Lý Dụng Hòa, mỗi khi xa giá đi tuần, thường lệnh hai người ở lại trong cung theo lệ quản lý.' Văn nghĩa rõ ràng hơn.
  12. Giang Chiết nguyên bản viết ngược là 'Chiết Giang', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và sách 《Biên niên cương mục》 quyển 10, 《Tống sử toàn văn》 quyển 7 hạ đã sửa lại. Chú thích cũng sửa theo.
  13. 'Đợi sau xem xét kỹ hơn', chữ 'đợi' nguyên bản viết là 'thêm', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa lại. Xem Tống bản, câu này có thêm: 'Hội yếu, năm Cảnh Hựu thứ 5 tháng 8, chiếu lệnh khôi phục chức Giang, Hoài Phát vận; lấy Binh bộ lang trung, Trực sử quán Dương Nhật Nghiêm, Hoài Nam Chuyển vận sứ, Độ chi lang trung Dương Cáo, làm chức Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ Chế trí trà diêm phàn thuế đô đại phát vận sứ, kiêm Đề điểm chú tiền sự. Các chức Đề điển chú tiền Ngụy Kiêm, Chuyển vận phán quan Chu Lăng lệnh đến kinh đô. Các việc cần thi hành, Tam ty hạn trong 10 ngày bàn bạc, dâng tấu lên. Trước đó, chiếu bãi chức Chế trí phát vận chú tiền công sự, Hoài Nam Chuyển vận kiêm lĩnh Phát vận, việc trà diêm phàn thuế giao về các lộ Chuyển vận ty, lại đặt thêm một chức Phán quan, việc đúc tiền cũng đặt riêng chức quan. Người dâng tấu nhiều lần cho là bất tiện, nên khôi phục lại.' Nguyên bản lược bỏ.
  14. Trong nguyên bản chữ 'nhị thập' có thêm chữ 'tứ', căn cứ theo bản Tống và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 31 Nghị nhạc, 《Trị tích thống loại》 quyển 6 Cảnh Hựu quân thần nghị nhạc, 《Tống sử》 quyển 126 Nhạc chí mà bỏ đi.
  15. 'cùng' nguyên là 'vu', theo bản trong các kho sửa lại
  16. Lục giáp nguyên bản là 'phương giáp', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản và 《Tống sử》 quyển 324 truyện Thạch Phổ sửa lại.
  17. Các bản khác và 《Thái Thường Nhân Cách Lễ》 quyển 31 đều ghi là 'Cố ngô toạ'.
  18. Xuân Thu Ẩn Công năm thứ năm, hai chữ 'Ẩn Công' nguyên bản bị khuyết, căn cứ vào 《Tống Hội Yếu》 quyển 3 phần 12, 《Tống Sử》 quyển 126 phần Nhạc Chí và 《Thái Thường Nhân Cách Lễ》 dẫn trên để bổ sung.
  19. lại bị Diêm Văn Ứng gièm pha, chữ 'vi' nguyên bản là 'dĩ', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 33 về việc phế Hoàng hậu Quách thị mà sửa.
  20. anh trai bà là Tây Kinh Tả Tạng Khố sứ, bản Tống và bản Tống toát yếu chữ 'sứ' trên có chữ 'phó'.
  21. Vĩnh Lợi giám nguyên bản là 'Thủy Lợi giám', căn cứ theo các bản khác và 《Cửu Vực Chí》 quyển 4, 《Tống Sử》 quyển 86, phần Thái Nguyên phủ sửa lại. Xem xét quyển 126 của sách này, ngày Kỷ Hợi tháng 2 năm Khang Định thứ nhất có ghi chép về Vĩnh Lợi Đông giám thuộc Tịnh Châu, có thể chứng minh.
  22. An Hóa Lưu hậu Doãn Nhượng làm Ninh Giang Tiết độ sứ, 'Ninh Giang' nguyên bản là 'Giang Ninh', căn cứ theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Tống Hội Yếu》 Đế hệ 1.34, 《Tống Sử》 quyển 245, bản truyện sửa lại.
  23. 'Phàm' nguyên văn là 'Nguyên', theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 35 'Tông thất thiên quan' sửa.
  24. Chữ 'ước' nguyên văn khuyết, theo 《Bút đàm》 quyển 2 'Cố sự 2' bổ sung.
  25. 'Hội yếu' nguyên văn khuyết, theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 35 'Tông thất thiên quan' bổ sung.
  26. Chữ 'xuất' nguyên văn khuyết, theo sách trên bổ sung.
  27. Chữ 'đô giám' nguyên bản là 'chư giám'. Theo 《Tống hội yếu》 chức quan 48-122, nói rằng vùng biên giới có chức Tuần kiểm đô giám, nay căn cứ để sửa lại.
  28. Chữ 'tấu' trong 'Trọng Tôn lại tấu trình' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản và Tống toát yếu bản bổ sung.
  29. Bản Tống và 《Tống sử》 quyển 485, truyện nước Hạ đều chép là 'hai trăm ngày'.
  30. Mã Hàm Sơn nguyên bản chép là 'Mã Hoành Sơn', theo 《Thập triều cương yếu》 quyển 5 và 《Tống sử》 sửa lại.
  31. 'Thật' nguyên bản chép là 'chính', nay căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và sách 《Biên niên cương mục》 quyển 10 sửa lại.
  32. Trưởng lại nguyên bản là 'Trưởng sử', căn cứ vào văn bản mà sửa.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.