"

IV. TỐNG NHÂN TÔNG

QUYỂN 122: NĂM BẢO NGUYÊN THỨ NHẤT (MẬU DẦN, 1038)

Từ tháng 4 năm Bảo Nguyên thứ 1 đời Nhân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.

[1] Tháng 4 mùa hạ, ngày Canh Ngọ, cấm không được liên tục dùng lại những tên gọi cũ của phủ đệ vua Chân Tông khi còn là thân vương.

[2] Ngày Quý Dậu, Cấp sự trung, Đồng tri Xu mật viện sự Vương Bác Văn mất.

Ban đầu, Bác Văn làm Tam ty sứ, tâu với Vua rằng: “Thần sắp chết, không còn được nhìn thấy cửa Lưỡng phủ nữa.” Nói xong khóc, Vua thương xót. Vài ngày sau, ông cùng Trần Chấp Trung được bổ nhiệm, giữ chức Xu mật được 36 ngày thì mất. Khi ấy, Vua đang dự yến ở Kim Minh Trì, về cung thì nhận được tin báo tang, vội vã đến viếng, truy tặng chức Lại bộ Thị lang.

Bác Văn nhờ việc quan mà thăng tiến, thường đảm nhiệm những việc khó khăn, làm chính sự luôn giữ thái độ khoan dung. Ông từng nói với các con: “Ta suốt đời xử tội đến mức lưu đày, chưa từng không âm thầm chọn nơi đất lành nước tốt. Các con hãy nhớ lấy.” Tuy nhiên, khi xử vụ án Tào Nhuế, nhiều người bàn tán rằng Bác Văn đã chiều theo ý Trang Hiến, để La Sùng Huân gán ghép tội trạng.

[3] Trước đó, Độ chi Viên ngoại lang, Tập hiền Hiệu lý Trương Ôn Chi làm Đề điểm Hình ngục lộ Hoài Nam. Tri châu Bạc Châu là Dương Sùng Huân ỷ thế làm điều phi pháp, xiềng Tri huyện Mông Thành là Vương Thân tống giam. Ôn Chi đến điều tra, biết được nỗi oan, phá xiềng thả Thân, rồi xử tội xăm mặt và lưu đày hơn chục tên lại gian ác. Ngày Giáp Tuất, bổ nhiệm Ôn Chi làm Chuyển vận sứ lộ Quảng Nam Đông.

Ở Quảng Châu có con kênh nước xiết thông ra biển, bọn gian thừa lúc thủy triều ra vào làm cướp. Ôn Chi cho làm rào chắn nước. Người Di phạm tội, thủ lĩnh của họ được tự xử, nhưng thường rất tàn bạo, nên ôn xin đều xử theo luật Hán. Ôn Chi là con của Trương Tất.

[4] Ngày Ất Hợi, Cấp sự trung, Quyền Ngự sử Trung thừa Trương Quan được bổ nhiệm làm Đồng tri Xu mật viện sự. Vua ban đầu bảo Trung thư rằng khi Lưỡng phủ khuyết chức thì dùng Tống Tường. Đến khi Vương Bác Văn mất, Trung thư tiến cử Tống Tường, Vua nói: “Quan là trạng nguyên triều trước, nên dùng trước.” Lời gièm pha đã có hiệu lực, nhưng Vua đối đãi với Tường rất hậu, cuối cùng vẫn dùng.

[5] Hình bộ Thượng thư, Tri châu Trần Châu là Yến Thù được giữ nguyên chức kiêm Ngự sử Trung thừa, sung chức Lý kiểm sứ.

[6] Ngày Đinh Sửu, Khiết Đan phái Bảo Bình tiết độ sứ Gia Luật Oát[1], Sùng Lộc thiếu khanh Tần Giám đến chúc mừng lễ Càn Nguyên.

[7] Ngày Ất Dậu, điều Tri Bạc Châu, Hà Dương Tam Thành tiết độ sứ Dương Sùng Huân làm Tri Trần Châu.

[8] Ngày Đinh Hợi, ban chiếu khuyên các sĩ tử trong thiên hạ hãy chăm chỉ tu dưỡng, đừng vì nhiều lần thi đỗ mà mong đợi ân huệ.

(Năm Thiên Thánh thứ 5 tháng 4 cũng có chiếu này, có thể bỏ đi.)

[9] Ban cho Thư viện Tung Dương thuộc Hà Nam phủ 10 khoảnh ruộng.

[10] Ngày Tân Mão, sai Hàn lâm học sĩ Triều Tông Xác, Nội thị áp ban Sử Sùng Tín cùng bàn về phép trà.

[11] Ngày Nhâm Thìn, miễn thuế hạ cho châu Nghi và châu Dung.

[12] Ngày Ất Mùi, ban chiếu từ nay thi cử nhân, không được ra đề ngoài các kinh sách hiện hành ở Quốc Tử Giám. Theo lời thỉnh cầu của Hàn lâm thị độc học sĩ Lý Thục.

[13] Tháng 5, ngày Canh Tý, ban cho Tiến sĩ Trương Tông Nhã đồng xuất thân. Tông Nhã đã trượt, tự trình bày có thể giảng được ba kinh, chiếu cho Quốc Tử Giám thử và bổ nhiệm, vẫn ghi vào bảng xuân.

(Trương Tông Nhã là ai, cần tra cứu, nếu không thì bỏ đi. Sáu con trai của Tề Hiền đều có chữ “Tông”, nhưng không có ai tên Tông Nhã. Tiên tổ của Phò mã Trương Đôn Lễ cần tra cứu.)

[14] Ngày Ất Tỵ, ngự tại điện Sùng Chính, xét tù nhân, giảm tội chết xuống tội lưu đày, tội nặng thì thích chữ và đày ra ngoài 500 dặm vào lao thành, tội lưu đày trở xuống giảm một bậc, tội đánh trượng trở xuống thì tha. Ba kinh và vùng phụ cận đặc biệt cử quan, các lộ sai Chuyển vận sứ phó, Đề điểm hình ngục xét xử.

[15] Ngày Đinh Mùi, ghi chép con trai của cựu huyện úy Tương Dương Lưu Đạo Tế là Sơ làm Giao xã trai lang, vì Đạo Tế ra ngoài bắt giặc, qua sông Hán bị chết đuối.

[16] Ngày Mậu Thân, ban chiếu cho Lại bộ Lưu nội tuyển, những người mới đỗ các khoa thi dưới 17 tuổi, lệnh phải đợi tuyển.

[17] Thái thường thừa, trực sử quán, phán diêm thiết câu viện, đồng tu khởi cư chú Diệp Thanh Thần, cha là Tham tri Tô Châu về hưu. Thanh Thần xin ra ngoài để tiện phụng dưỡng, ngày Nhâm Tý, được bổ làm Lưỡng Chiết chuyển vận phó sứ. Lúc đó, ở vùng Thái Hồ có ruộng dân, hào cường chiếm giữ thượng nguồn, nước không thoát được, dân không dám kiện. Thanh Thần dâng lời xin đào sông Bàn Long Hối và cảng Hỗ Độc để dẫn nước ra biển, dân được hưởng lợi.

[18] Ngày Giáp Dần, Hữu ty gián Hàn Kỳ tâu: “Năm Đại Trung Tường Phù thứ 8 có chiếu rằng, kẻ phạm tội ‘tiêu kim’ (ND – tiêu hủy kim loại: dùng vàng bạc, tài sản quý giá để chế tác, trang sức) thì xử trảm. Gần đây hạ chiếu cảnh cáo, những kẻ bị bắt nên theo chiếu mà xử. Nhưng Thẩm hình viện lại tự ý định tội chỉ phạt đi đày 3 năm, e rằng làm hỏng pháp luật triều trước, mở đường cho sự xa xỉ vượt phận, xin hãy dùng lại chiếu cũ năm Tường Phù.” Chiếu cho Ngự sử đài, Hình bộ cùng Thẩm hình viện, Đại Lý tự xem xét rồi tâu lên.

[19] Tháng 6, ngày Mậu Thìn, Tư chính điện đại học sĩ Tống Thụ được cử làm Tri thẩm quan viện. Trước đó, Hàn lâm thị độc học sĩ Mai Tuân làm Tri thẩm quan viện, Ngu bộ viên ngoại lang Phan Nhược Xung xin làm Bạch Ba phát vận phán quan, Tuân giận vì hắn cứ xin mãi, bèn mắng nhiếc, Nhược Xung cũng nói lời bất kính, Tuân liền tâu việc này lên. Bèn giáng Nhược Xung xuống làm chức nhỏ, còn Tuân cũng bị thay thế.

[20] Tây thượng các môn sứ, Khang Châu thứ sử, Tri Hùng Châu Cát Hoài Mẫn được triệu về bàn việc biên cương, rồi lại sai trở về Hùng Châu, đặc cách thụ chức Lai Châu đoàn luyện sứ. Hữu ty gián Hàn Kỳ tâu: “Hoài Mẫn trong hàng võ thần, tuy có chút tài cán, nhưng chưa từng lập công lao gì đặc biệt. Danh khí triều đình, cần phải trân trọng. Nếu bề tôi có thể lập công nơi biên cương, không biết sẽ lấy gì để khuyến khích. Mong đặc cách thu hồi, để sửa chữa lỗi thưởng bừa bãi.” Không được trả lời.

[21] Ngày Bính Tý, Tam ty kiểm pháp quan Tôn Kháng xin rằng những vụ án hình sự có nghi vấn ở Tam ty, theo lệ như Khai Phong phủ, cho phép đến Đại Lý tự thương nghị, được chấp thuận. Kháng là người huyện Y.

[22] Ngày Mậu Dần, bãi bỏ việc thiên hạ cử đồng tử đọc thuộc sách.

(Xem tháng 9 năm Hoàng Hựu thứ 3.)

[23] Ngày Kỷ Mão, châu Kiến báo rằng từ tháng giêng đến tháng tư mưa liên tục, nước suối dâng cao tràn vào thành châu, làm hư hại nhà cửa của dân. Triều đình ban tiền cho gia đình người chết theo mức độ khác nhau[2], và lo việc chôn cất, tế lễ cho những người không có thân nhân.

[24] Hoàng đế rất quan tâm đến nông nghiệp, luôn lo lắng về thiên tai lũ lụt và hạn hán. Ngày Giáp Thân, ban chiếu yêu cầu các châu quận trong thiên hạ mỗi tuần phải báo cáo tình hình mưa tuyết, và lệnh này được ghi thành quy định.

[25] Ngày Mậu Tý, quyền Tri Ty thiên thiếu giám Dương Duy Đức và các quan tâu rằng: “Năm tới là năm Kỷ Mão, tháng chạp nhuận, thì ngày mùng một tháng giêng năm Canh Thìn sẽ có nhật thực. Xin dời tháng nhuận sang năm Canh Thìn, để nhật thực xảy ra vào cuối tháng giêng.”

Hoàng đế nói: “Tháng nhuận là để điều chỉnh thời tiết và phục vụ việc dân, sao có thể tùy tiện thay đổi để tránh được!” Không chấp thuận.

(Trương Đường Anh trong 《Chính yếu》 chép: Mùa đông năm Cảnh Hựu thứ 4, Ty thiên tâu rằng: “Ngày mùng một tháng giêng năm tới sẽ có nhật thực, đây là ngày đầu tiên của ba triều, là điều mà bậc quân vương đặc biệt kiêng kỵ. Xin dời tháng nhuận để tránh điềm xấu.” Hoàng đế cũng cho là phải, bèn hỏi ý kiến các đại thần. Tham tri chính sự Trình Lâm tâu: “Mặt trời là chủ của các dương, tượng trưng cho bậc quân vương. Nay có nhật thực, có lẽ là do đạo cương thường của bệ hạ có chỗ thiếu sót mà gây ra. Chỉ có tu đức, sửa chính trị mới có thể tránh được.” Hoàng đế nói: “Khanh nói rất đúng, Trẫm cũng nghĩ như vậy, không gì bằng tự trách mình để đáp lại thiên biến.” Hoàng đế sợ thiên biến, không bị những lời của thuật sĩ làm mê hoặc.)

[26] Ngày Kỷ Mùi, ban chiếu rằng các khoa thi Hiền lương phương chính, Năng trực ngôn cực gián, Bác thông phần điển, Minh ư giáo hóa, Tài thức kiêm mậu, Minh ư thể dụng và Mậu tài dị đẳng, bốn khoa này đều cùng thi chung một đề sách. Còn các khoa Tường minh lại lý, Khả sử tòng chính, Động thức thao lược, Vận trù quyết thắng, Quân mưu hoành viễn, Tài nhiệm biên ký, ba khoa này, mỗi khoa có đề sách riêng.

[27] Mùa thu, tháng bảy, ngày Đinh Dậu, Trương Quan ở sở Tường định trà pháp xin cho đưa tiền vào kinh sư để bán trà ở bốn sở vụ và mười ba trường tại Chân Châu. Giá trị mười vạn, lại xét theo số năm Cảnh Hữu thứ ba giảm đi, còn sáu vạn bảy nghìn đồng. Người đưa tiền vào Hà Bắc muốn bán trà lại giảm thêm một nghìn, và chiếu lại giảm thêm hai nghìn. Do đó, tiền đưa vào kinh sư chỉ còn sáu vạn năm nghìn đồng, đưa vào Hà Bắc còn sáu vạn bốn nghìn đồng mà thôi.

[28] Ngày Mậu Tuất, chiếu rằng đến ngày đông chí sẽ có việc tế ở Nam Giao, các vật dụng như xe cộ, y phục, v.v., lệnh cho Tam ty phải theo lối giản ước.

[29] Ngày Tân Sửu, ban tiền cho quân thổ dân đánh dẹp người Man ở An Hóa Châu.

[30] Ngày Canh Tuất, xây dựng mới các Tử Vi ở viện Xá nhân, Vua thân chữ viết bảng hiệu.

[31] Ngày Quý Sửu, ban năm khoảnh ruộng học cho châu Tương.

[32] Ngày Bính Thìn, quần thần dâng biểu xin tôn hiệu là Bảo Nguyên Thể Thiên Pháp Đạo Khâm Văn Thông Vũ Thánh Thần Anh Duệ Hiếu Đức, Vua không chấp thuận. Quần thần năm lần dâng biểu, Vua bảo tể tướng Trương Sĩ Tốn rằng: “Đường Mục Tông nói: ‘Ép ta nhận mỹ hiệu, không bằng khiến ta làm vị Vua có đạo; thêm cho ta hư danh, không bằng đặt ta vào chỗ không lỗi lầm.’ Trẫm thường yêu thích lời này, các khanh cũng nên hiểu ý ấy.” Sĩ Tốn khẩn khoản xin mãi, Vua bất đắc dĩ, bèn hạ chiếu bỏ hai chữ “Anh Duệ”, còn lại theo lời thỉnh cầu.

(Hùng Khắc trong 《Cửu Triều Thông Lược》 chép: Vua dùng lời của Mục Tông để răn Sĩ Tốn, thật là có ý sâu xa.)

[33] Hữu ty gián Hàn Kỳ tâu: “Trước đây vâng chiếu xem xét định lại chuông nhạc, từng xem qua 《Cảnh Hữu Quảng Lạc Ký》[3], thấy nhạc do Lý Chiếu chế tạo không hợp với cổ pháp, đều là tự ý đặt ra, tạo thành luật độ riêng, triều đình vì thế mà sử dụng, người hiểu biết từ lâu đã cho là không đúng[4]. Nay sắp thân hành tế lễ Nam Giao, không thể dùng nhạc trái với cổ pháp để dâng lên trời đất và tông miếu. Trộm nghe nhạc cũ của Thái Thường hiện vẫn còn, xin dùng lại trong đại lễ tế Giao.” Chiếu cho Tư chính điện đại học sĩ Tống Thụ, Ngự sử trung thừa Yến Thù cùng hai chế xem xét định lại rồi tâu lên.

Thụ và các quan tâu: “Nhạc mới của Lý Chiếu so với nhạc cũ thấp hơn ba luật. Mọi người đều cho rằng không có căn cứ. Xin theo lời Hàn Kỳ, trong tế lễ Giao Miếu dùng lại nhạc cũ do Hòa Hiện định trước đây. Những chuông khánh cũ chưa qua Lý Chiếu mài dũa[5], vẫn còn ba huyện kỳ và bảy cụ[6], có thể dùng lại trong tế lễ Giao Miếu và điện đình.” Bèn hạ chiếu cho nhạc cũ của Thái Thường vẫn giữ nguyên chế độ cũ, nhạc do Lý Chiếu chế tạo không được dùng nữa.

(Hàn Kỳ tâu vào tháng 5, Tống Thụ và các quan định nghị vào tháng 7, nay theo bản chí, liên kết viết lại.)

[34] Đô quan viên ngoại lang Ngụy Trang từ Thiểm Tây thúc giục mua lương thảo trở về, sau khi được vào chầu, bèn xin được làm quan ở cơ quan trung ương. Hữu ty gián Hàn Kỳ tâu: “Trang là người tầm thường, chỉ nhờ Vương Tùy tiến cử mới được làm quan ở huyện lớn, mà Tam ty lại vì nịnh hót mà tiến cử, sai đi Thiểm Tây. Ngày từ biệt đã được ban áo tam phẩm, nay lại dám xin xỏ, xin trị tội hắn.” Ngày Mậu Ngọ, giáng Trang làm Thông phán Dương châu.

[35] Ngày Nhâm Tuất, Vua ngự ở điện Sùng Chính, ra đề thi cho các hiền tài là Hiền lương phương chính năng trực ngôn cực gián Trứ tác tá lang Điền Huống, Đại Lý bình sự Trương Phương Bình, và Mậu tài dị đẳng Thiệu Kháng. Huống đỗ vào hạng tư, Phương Bình đỗ hạng tư thứ. Kháng vì có liên hệ hôn nhân với Tể tướng Trương Sĩ Tốn nên bị loại. Huống được thăng làm Thái thường thừa, Phương Bình làm Trứ tác tá lang, Thông phán Giang Ninh phủ và Mục châu.

Huống là người Tín Đô; Kháng là người Đan Dương.

(《Thực lục》 chép rằng bài thi của Kháng ít chữ, không đạt chuẩn, nay theo bản truyện của Kháng. Vương Khuê trong bài minh trên mộ Kháng cũng chép: Phạm Trọng Yêm tiến cử Kháng ứng thi khoa Hiền lương phương chính, lúc đó có 14 người áo vải được triệu, đều thi ở Bí các, chỉ có Kháng đỗ. Đến khi thi ở điện Sùng Chính, được bổ làm Kiến Khang quân Tiết độ suy quan. Lúc đó có kẻ muốn hại Tể tướng, bèn gièm pha rằng Kháng có liên hệ hôn nhân với Tể tướng, nên Kháng bị loại, mọi người đều không hiểu vì sao. Thực ra Trương Sĩ Tốn lấy vợ họ Phùng, con trai lấy vợ họ Thiệu, Thiệu vô tình cùng họ với Kháng. Sĩ Tốn không biện bạch được, Kháng cũng im lặng ra đi.)

[36] Ngày Quý Hợi, thi võ cử nhân.

[37] Tháng 8, ngày Bính Dần, thi võ cử nhân về cưỡi ngựa bắn cung.

[38] Ngày Đinh Mão, đặt lại chức Chế trí phát vận sứ ở Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ, lấy Binh bộ lang trung Trực sử quán Dương Nhật Nghiêm và Độ chi lang trung Dương Cáo làm chức này. Trước đó, Thiểm Tây chuyển vận sứ Đoàn Thiếu Liên tâu: “Trước đây thần làm Chuyển vận sứ Hoài Nam, gặp năm được mùa, nên số lương thảo cung nạp đều hoàn thành. Nhưng các lộ đều làm theo ý mình, không thống nhất, e rằng lâu ngày sẽ ảnh hưởng đến đại kế.” Vua nghe theo lời Thiếu Liên, lại sai Nhật Nghiêm và Cáo đảm nhiệm.

[39] Ngày Quý Dậu, Vương Kế Tổ, đồng đề điểm Kinh Đông lộ hình ngục, xin từ nay các lộ đề điểm hình ngục tuần tra trong bộ phận mình, nếu dân có kêu oan thì cho phép thụ lý. Chiếu cho phép nhận đơn từ, gửi chuyển vận ty thi hành.

[40] Ngày Ất Hợi, Trịnh Tiển, tri chế cáo, phán Hình bộ; Bành Thừa, tập hiền hiệu lý, đồng phán. Lại chiếu từ nay thường sai một viên đại lưỡng tỉnh, cấp thêm tiền một vạn, đồng phán cấp tiền trà năm nghìn.

[41] Ngày Bính Tý, Vương Cử Chính, công bộ lang trung, tri chế cáo, làm sứ sinh thần sang Khiết Đan; Trương Sĩ Vũ, lễ tân phó sứ, làm phó. Hàn Kỳ, hữu ty gián, trực tập hiền viện, làm sứ chánh đán; Cao Kế Tung, tả tàng khố sứ, làm phó.

Hàn Kỳ tâu: “Kế Tung trước làm tri châu Hoàn, vì quân sĩ nhặt được mũi tên thất lạc, kèm theo văn thư nặc danh, nói Kế Tung sẽ làm phản, Kế Tung trong lòng bất an, xin về triều[7]. Thần xét việc này có hai điều giả dối, một điều mê hoặc. Kế Tung lâu năm ở biên giới phía tây, nổi tiếng dũng cảm, có thể bị giặc phương tây ghét, bày kế phản gián để loại bỏ. Nếu không, thì do cai quản nghiêm khắc, bị quân lính biên phòng dùng mưu kế hãm hại. Đó là hai điều giả dối có thể xét.

Hơn nữa, nếu Kế Tung phản nghĩa đầu hàng, Nguyên Hạo ắt sẽ bí mật tiếp nhận lời nói của hắn. Nếu Nguyên Hạo trung thành với triều đình, thì nên bí mật tâu việc này, cần gì phải dùng mũi tên thất lạc để tố cáo việc làm phản? Đó là một điều mê hoặc có thể biện bạch. Thần ngu cho rằng nên vội sai Kế Tung trở lại biên giới, còn văn thư nặc danh tố cáo trước đây cũng xin xử tội theo luật. Bên ngoài để ngăn chặn mưu kế phản gián của giặc xảo quyệt, bên trong để phá tan kế hãm hại của quân lính lười biếng[8], sau nữa để củng cố lòng trung thành của Kế Tung. Khiến các quận biên giới nghe tin, ai chẳng kính sợ sự sáng suốt của triều đình, mà nỗ lực giữ lòng trung nghĩa.”

[42] Ngày Canh Thìn, Vua xuống chiếu cho Cao Kế Tung lại làm Tri châu Hoàn Châu, cử Tây Nhiễm viện phó sứ kiêm Cáp môn thông sự xá nhân Vương Tòng Ích thay làm sứ sang Khiết Đan.

Tòng Ích là con của Vương Hán Trung.

[43] Trấn Quốc quân tiết độ sứ, Phò mã đô úy Lý Tuân Húc bị bệnh, dâng sớ xin từ chức, viện dẫn chuyện cũ của Vi Tự Lập đời Đường, xin được ban hiệu sơn lâm[9]. Vua không cho, thân hành đến thăm, ban 5.000 lạng bạch kim, ông từ chối không nhận. Khi ông mất, Vua lại đến viếng, ngừng triều hai ngày, truy tặng Trung thư lệnh, thụy là Hòa Văn.

Tuân Húc học rộng, Vương Đán quý trọng ông. Ông tự cho mình là thân thích, nên có bổn phận giúp đỡ.

Cuối niên hiệu Thiên Thánh, ông từng tâu việc ở trong điện, Vua đứng dậy thay áo, Trang Hiến thái hậu bảo tả hữu lui ra, hỏi gần đây bên ngoài có lời gì, Tuân Húc ậm ừ. Thái hậu gặng hỏi, Tuân Húc nói: “Thần không nghe gì khác, chỉ nghe người ta bàn rằng thiên tử đã đến tuổi trưởng thành, thái hậu nên trả lại chính quyền.” Thái hậu nói: “Ta không luyến tiếc quyền hành, nhưng hoàng đế còn trẻ, nội thị nhiều, sợ chưa kiềm chế được.”

Ông từng dâng ba thuyết năm việc để bàn về triều chính. Khi thái hậu băng, ông bí mật tâu rằng nhũ mẫu của thái hậu là Tấn quốc phu nhân Lâm thị trước đây hay can dự quốc sự, trong ngoài đều chán ghét, nên đưa bà đến ở biệt viện, hạn chế việc vào gặp, để thỏa lòng dân. Tuân Húc được ban nhà và vườn ao, đẹp nhất kinh thành. Những người ông kết giao đều là danh sĩ đương thời.

Ông theo Dương Ức học làm văn, khi Ức mất, ông mặc tang phục. Khi làm Tri châu Hứa Châu, ông đến viếng mộ Dương Ức ở núi Cụ Tỳ, khóc lóc rồi về.

Ông cũng thân thiết với Lưu Quân, khi Quân mất, ông chu cấp cho gia đình. Ông rất thông hiểu Phật học, lúc sắp mất, cùng nhà sư Sở Viên đối đáp bằng kệ tụng, dặn dò không được để vàng ngọc trong quan tài.

[44] Ngày Giáp Thân, Vua xuống chiếu rằng các điện thị muốn đổi sang văn chức thì phải có ba đời từng làm văn chức mới được, kẻ nào gian lận sẽ bị cách chức, không được xá miễn, người bảo lãnh cũng bị xử như vậy.

[45] Ngày Ất Dậu, Vua xuống chiếu rằng những người trước đây được tiến cử làm huyện lệnh thì không được giám đương trường vụ.

[46] Ngày Đinh Hợi, Hữu Kỳ Kỵ sứ, Quý Châu Đoàn luyện sứ, Nhập nội Phó đô tri Trương Vĩnh Hòa được bổ làm Nhập nội Đô tri, Lễ tân Phó sứ Đặng Bảo Tín được bổ làm Lạc Uyển Phó sứ. Vĩnh Hòa và những người khác đã hoàn thành việc chế tạo nghi trượng cho lễ Nam Giao, nên được đặc cách thăng chức.

[47] Lưu nội tuyển tâu rằng, những người được tuyển chọn nếu từng làm Chuyển vận sứ, Đề điểm Hình ngục hoặc bản châu xét thấy không đủ liêm chính, thì khi được dẫn vào yết kiến, sẽ xem xét giáng bậc. Triều đình đồng ý.

[48] Tháng 9, ngày Ất Mùi, xuất khoảng một triệu tấm gấm vóc từ Nội tàng khố, giao cho Thiểm Tây lộ để mua lương thực dự trữ quân sự.

[49] Ngày Đinh Dậu, Độ chi Viên ngoại lang, Sùng Văn viện Kiểm thảo, Thiên Chương các Thị giảng Vương Tông Đạo bị cách chức Giảng thư ở Mục Thân trạch và Đồng tri Thái thường Lễ viện, vì tội không tham dự việc tế tự trong lễ Mạnh Thu tế Thái Miếu và lễ Tịch Nguyệt. Tông Đạo từng nhân việc tấu sự, tự trình bày rằng đã làm quan ở Vương phủ hai mươi năm mà không được thăng chức, Vua thương xót, ban cho áo mũ. Ngự sử hặc tấu, việc bị bỏ qua không xử lý.

(Tông Đạo tự trình bày, căn cứ vào sách 《Ký văn》 và 《Ký sự》, không rõ thời điểm nào, nên bị cách chức Giảng thư ở Mục Thân trạch và chức Đồng tri. Đài quan hặc tấu, việc bị bỏ qua không xử lý, sự việc này căn cứ vào 《Hàn Kỳ Gián cảo》.)

[50] Thái thường Thiếu khanh, Trực Chiêu Văn quán, Tri Quảng Châu Nhậm Trung Sư tâu rằng, châu có ấn Thị bạc sứ, nhưng Tri châu và Thông phán, Sứ thần kết hàm[10], đều kiêm nhiệm việc Câu đương Thị bạc ty. Ngày Canh Tý, chiếu rằng từ nay các Tri châu có chức Thiếu khanh giám trở lên, đều kiêm nhiệm Thị bạc sứ. Việc đặt chức Thị bạc sứ bắt đầu từ Trung Sư.

[51] Ngày Tân Sửu, Ích Lợi Kiềm hạt ty tâu rằng, Tri Bảo Châu Đổng Kế Thiên mất, thủ lĩnh bộ lạc xin cho con trai ông là Nguyên Trọng thay làm Tri Bảo Châu, triều đình đồng ý.

[52] Ngày Mậu Thân, chiếu rằng những người đã nhận lời thề trong việc tế tự mà không thành kính, sẽ không được xá tội.

[53] Lại chiếu rằng những kẻ cướp bắt trói người ném xuống nước, nếu người đó may mắn không chết, sẽ bị xử như tội đã gây thương tích.

[54] Ban thưởng tiền cho binh lính ở hai châu Nghi, Dung tham gia đánh dẹp man tộc.

[55] Ngày Kỷ Dậu, ty Kiềm hạt lộ Phu Diên tâu rằng, Triệu Sơn Ngộ sai người đến huyện Kim Minh, hẹn với Đô giám Lý Sĩ Bân đầu hàng, đã lệnh từ chối. Chiếu cho ty Kiềm hạt cùng các lộ Hoàn Khánh, Kinh Nguyên, Lân Phủ, v.v. đều phải cẩn thận canh phòng, nếu Sơn Ngộ lại sai người đến, chỉ bảo Sĩ Bân dùng ý mình từ chối, cốt sao giữ yên biên phòng.

Ban đầu, Triệu Nguyên Hạo tập hợp các thủ lĩnh các tộc, lấy máu cánh tay hòa với rượu, đặt vào sọ người cùng uống, hẹn trước tiên đánh Phu Diên, muốn từ ba đường Đức Tĩnh, Tắc Môn, Xích Thành cùng tiến vào. Có thủ lĩnh nào can ngăn, liền giết ngay.

Sơn Ngộ là chú của Nguyên Hạo, nhiều lần khuyên Nguyên Hạo nhưng không nghe. Sơn Ngộ sợ bị giết, trước tiên sai người mang chiếu giả đến Sĩ Bân, muốn tự đem quân chặn bến phía nam sông Hoàng Hà[11], phát động bộ lạc quy thuộc, rồi đem vợ vào Dã Lợi La, con là A Ngộ cùng thân thuộc ba mươi hai người, mang theo châu báu, ngựa quý đến đầu hàng.

Tháng này, ngày Canh Tý, đến quân Bảo An. Tri quân Bảo An Chu Nhược Cát báo cho Tri châu Diên Châu Quách Khuyến biết, Khuyến cùng Kiềm hạt Lý Vị do dự không dám nhận.

Trước đó, Sơn Ngộ đã gửi châu báu cho Sĩ Bân trị giá hàng vạn, Khuyến tra hỏi Sĩ Bân, Sĩ Bân tham của, trả lời rằng không có, lại nói chưa từng chiêu dụ họ. Khuyến, Vị cũng cho rằng từ khi Đức Minh nộp cống đã bốn mươi năm, chưa từng giữ lại người nào quy thuộc, cùng bàn định đuổi về, lại ra lệnh dọc biên giới không được nhận người đầu hàng. Do đó tâu lên, nhân đó ban chiếu này. Khuyến, Vị liền sai Sơn Ngộ về, Sơn Ngộ không chịu, bèn lệnh Giám áp Hàn Chu bắt Sơn Ngộ đưa về cho Nguyên Hạo. Đến Nhiếp Di Ba, Nguyên Hạo tập hợp kỵ binh, xạ thủ bắn chết.

Sơn Ngộ tên là Duy Lượng, cùng em là Duy Vĩnh chia nhau nắm quân Tả, Hữu sương. Em họ là Duy Tự cũng được thân cận và giữ chức vụ quan trọng. Sơn Ngộ có tài dũng lược, được người trong nước kính trọng. Nguyên Hạo ghét ông không theo mình, từng nói với Duy Tự: “Ngươi hãy tố cáo Sơn Ngộ làm phản, ta sẽ ban cho ngươi chức tước của Sơn Ngộ. Nếu không, cả họ sẽ bị diệt.” Duy Tự không nỡ, bèn đem chuyện này báo cho Sơn Ngộ.

Sơn Ngộ muốn đầu hàng, bàn với Duy Vĩnh, Duy Vĩnh nói: “Nam triều không ai không biết việc làm của Ngột Tốt, sẽ không tin anh, anh ắt sẽ gặp khó khăn.” Sơn Ngộ nói: “Việc đã đến nước này, không còn cách nào khác. Nếu Nam triều có phúc, ắt sẽ thu nhận ta.” Bèn báo với mẹ, mẹ ông nói: “Con hãy tự lo liệu. Mẹ đã hơn tám mươi tuổi, không thể theo con đi, sẽ thành gánh nặng cho con, hãy đặt mẹ trong nhà rồi châm lửa đốt.” Sơn Ngộ và mọi người khóc lóc làm theo lời mẹ. Khi bị Hàn Chu bắt, ông khóc lóc kêu oan. Chu đến gặp Nguyên Hạo ở Hựu Châu. Nguyên Hạo mặc áo gấm, đội mũ lông vàng, không chịu nhận Sơn Ngộ, nói: “Diên Châu dụ dỗ bề tôi phản nghịch của ta, ta sẽ dẫn quân đến Diên Châu, nhận chúng trước sảnh đường của tri châu.” Chu khuyên giải mãi, Nguyên Hạo mới chịu nhận.

Lúc đó, Nguyên Hạo tự xưng là Ngột Tốt đã mấy năm. Ngột Tốt, theo tiếng Hán, có nghĩa là Thanh Thiên Tử, gọi Trung Quốc là Hoàng Thiên Tử. Nguyên Hạo giết Sơn Ngộ xong, bèn mưu việc xưng đế.

(Tên họ của anh em Sơn Ngộ đều căn cứ theo lời Hàn Chu trong 《Nhật ký》 của Tư Mã Quang. Chu còn nói vợ Sơn Ngộ là Lý thị đã tự sát trước. Nhưng Sơn Ngộ thực ra cùng vợ là Dã Lợi La đến đầu hàng, e rằng lời Chu nói chưa chính xác, nên nay bỏ đoạn này không ghi.)

[56] Ngày Canh Tuất, điều Tri Khánh Châu, Thứ sử Phục Châu là Triệu Chấn làm Tri Hoàn Châu, Tả Tàng Khố Sứ Tây Kinh là Cao Kế Tung lĩnh chức Thứ sử Chiêu Châu, làm Kiềm Hạt lộ Hoàn Khánh, kiêm Tri Khánh Châu.

[57] Ngày Đinh Tỵ, tiến phong Tề Quốc Vĩnh Thọ Bảo Thánh phu nhân họ Hứa làm Ngụy Quốc phu nhân.

[58] Ngày Tân Dậu, bãi bỏ chức quan Đề cử sứ địch lương thảo ở Hà Bắc, Thiểm Tây[12], lệnh cho các quan Chuyển vận sứ, Chuyển vận phó sứ của bản lộ cùng các quan Thông phán của các châu đảm nhiệm việc đề cử.

[59] Mùa đông, tháng 10, ngày Bính Dần, ban chiếu răn dạy bách quan về việc kết bè kết đảng. Trước đây, Lữ Di Giản đuổi Phạm Trọng Yêm và những người khác, sau hơn một năm, Di Giản cũng bị bãi chức Tể tướng, từ đó luận bàn về bè đảng nổi lên. Các sĩ đại phu vì Trọng Yêm mà nói không ngừng, vì thế trong triều ban xuống tờ trát nói rằng: “Trước đây giáng chức Trọng Yêm là vì ông ta bí mật xin lập Hoàng thái đệ hoặc cháu, không chỉ là phỉ báng đại thần. Nay các quan trong ngoài nhiều lần tiến cử Trọng Yêm, việc này liên quan đến bè đảng, nên răn dạy họ.” Vì thế lại ban chiếu này.

[60] Tham tri chính sự Lý Nhược Cốc dâng lời tâu: “Gần đây phong tục suy đồi, chuyên dùng bè phái để vu hãm người lương thiện. Vốn quân tử và tiểu nhân đều có loại riêng, nay đều coi họ là bè phái, e rằng bề tôi chính trực sẽ không thể tự lập được.” Vua đồng ý với lời tâu ấy.

(Xét theo 《Thực lục》, chiếu thư ngày Bính Dần chuyên răn dạy về bè phái, có lẽ là để ngăn chặn những kẻ tiến cử Phạm Trọng Yêm. Bản truyện của Trọng Yêm chép lời nói với Lã Sĩ Tốn, cũng giống với 《Thực lục》. Nhưng bản truyện của Nhược Cốc lại nói rằng Nhược Cốc dâng lời tâu, Vua tỉnh ngộ, bèn hạ chiếu dụ trong ngoài. Tuy nhiên, chiếu thư lại khác với ý của Nhược Cốc. Có lẽ chiếu thư này ban xuống rồi, Nhược Cốc mới dâng lời tâu, Vua nhân đó mà giải tỏa nghi ngờ về bè phái. Ban đầu hạ chiếu này, thực ra không phải do Nhược Cốc dâng lời tâu. Nay lược bớt và chỉnh sửa.

《Chính yếu》 chép: Thái bình lâu ngày, kẻ sĩ tranh nhau xu phụ, nhiều người dựa vào quyền thế để mong được tiến dụng. Lại thêm, đài gián dâng lời tâu việc vụn vặt, không chú trọng đến cốt lõi trị quốc, phần nhiều mang oán báo thù, hại người lương thiện, Vua rất chán ghét, bèn nói với tể tướng: “Xưa khanh đại phu nhường nhịn nhau ở triều đình, sĩ thứ nhân nhường nhịn nhau ngoài đường. Chu Thành Vương không dùng hình phạt[13], thời Hán Văn Đế hổ thẹn khi nói lỗi người. Nay kẻ sĩ đều vu cáo lẫn nhau[14], Trẫm rất hổ thẹn.” Bèn hạ chiếu răn dạy, đó là tháng 10 năm Cảnh Hữu thứ 5. Chiếu thư ban xuống, những kẻ gian nịnh đều thêm hổ thẹn. Chiếu thư tháng 10 năm Cảnh Hữu thứ 5 chính là chiếu này. Trương Đường Anh có lẽ không biết sự thực, ghi chép sai lầm, nay không dùng. Xét ra, năm Cảnh Hữu không có năm thứ 5, có lẽ đây là sai lầm.)

[61] Diêm thiết phó sứ, Công bộ lang trung Tư Mã Trì hết hạn nhiệm kỳ, Trung thư tiến tên, Vua nói: “Đây là người từng từ chối chức gián quan.” Bèn phong làm Thiên Chương các đãi chế, tri phủ Hà Trung.

[62] Ngày Kỷ Tỵ, lấy Trương Duy Lương, người Khiết Đan quy thuận, bổ làm Tam ban phụng chức, ban cho tên là Khánh; em là Duy Thành được bổ làm Hạ ban điện thị, ban cho tên là Hiển.

[63] Ngày Tân Mùi, Tả Thiên Ngưu Vệ tướng quân Tông Thực được bổ nhiệm làm Tả Lĩnh Quân Vệ tướng quân.

[64] Ngày Nhâm Thân, ban chiếu rằng từ Hàn lâm học sĩ đến Long Đồ các trực học sĩ và các chức Thị lang trở lên, được phép mượn mỗi người 10 binh sĩ thuộc Lục quân; Cấp sự trung, Gián nghị đại phu, Tri chế cáo, Đãi chế mỗi người được mượn 7 binh sĩ. Khi nhận chức ngoại nhiệm, không được giữ lại binh sĩ. Các chức Tam ty sứ, Ngự sử trung thừa, Tri Khai Phong phủ, Quần mục sứ, Lĩnh Tam cung quan sự, nếu đã lấy binh sĩ tại chỗ thì không được điều động thêm.

[65] Ngày Giáp Tuất, Triệu Nguyên Hạo cho xây đàn nhận sách phong, tự xưng là Đại Hạ Thủy Văn Anh Vũ Hưng Pháp Kiến Lễ Nhân Hiếu hoàng đế[15], đổi niên hiệu Đại Khánh năm thứ 2 thành Thiên Thụ Lễ Pháp Diên Tộ năm thứ 1. Sai Phan Dã Bố Dịch Lí Mã Khất điều binh tập hợp ở núi Bồng Tử, còn mình thì đến Tây Lương phủ tế thần, rồi sai sứ đến báo việc xưng đế.

[66] Hữu ty gián Hàn Kỳ xin trước ngày đại xá một tháng, ra lệnh cấm ở kinh sư những kẻ phạm tội trộm cắp đến mức phải đi đày hoặc làm bị thương người khác thì không được xá tội. Vua đồng ý.

[67] Ngày Bính Tuất, Viện Thẩm quan tâu rằng các quan kinh triều khi nhận chức sai khiển, nếu có người thân thuộc mà theo pháp luật phải tránh nhưng không nói, đến khi nhậm chức mới xin chuyển đi, thì đều bổ nhiệm đến những nơi xa xôi nhỏ hẻo lánh. Vua đồng ý.

[68] Ngày Kỷ Sửu, đổi tên Vạn Xuân các thành Diên Xuân các. Các này nằm trong cấm thành, phía bắc giáp Hậu uyển, là nơi Vua thường qua lại khi đi chơi.

[69] Thiết lập thêm một chỉ huy đội Cung tiễn thủ ở Hoàn châu.

[70] Ngày Canh Dần, Triệu Chẩn được truy tặng chức Thái tử Thái bảo, thụy là Hi Chất.

[71] Tháng 11, ngày Ất Mùi, đổi Gia Khánh viện thành đạo viện của Cảnh Linh cung.

[72] Cho con của huyện úy huyện Thừa Thị là Mạnh Tân là Quả làm Thái miếu trai lang, Dục làm Giao xã trai lang, vì Tân bắt cướp mà bị chết, nên đặc cách ban thưởng.

[73] Chuyển vận ty Hà Đông tâu rằng châu Hãn xảy ra động đất, dân chúng bị đổ nhà đè chết, có 25 hộ như Lý Uân đều tuyệt tự, ruộng đất tài sản sẽ bị tịch thu sung công. Chiếu chỉ rằng nếu thân tộc khác họ nguyện mua thì cho phép, lại giảm giá ban đầu ba phần mười.

[74] Ngày Giáp Thìn, chiếu chỉ rằng các quan lại xin bổ nhiệm thân thuộc, nếu là quan kinh thành, đều phải đủ tuổi, lại phải thi viết chữ và đọc luật, mới được ra làm quan.

[75] Chiếu cho ty Kiềm hạt Quảng Nam Tây lộ thúc giục quân ở châu Nghi, châu Dung tiến binh đánh dẹp giặc An Hóa. Trước đó, quân triều đình giao chiến với giặc, bị giặc đánh bại, Kiềm hạt Trương Hoài Chí cùng năm người khác đều tử trận.

Trực sử quán Tô Thân dâng sớ nói: “Quốc gia gần đây chỉ chú ý đến hai vùng biên giới phía tây bắc, mà ít để ý đến phương nam, nên mới có họa ngày nay, thật không thể không lo lắng. Thần trước đây từng làm việc ở châu Nghi, hiểu sơ lược về tình hình giặc. Đất An Hóa rộng mấy trăm dặm, quân giặc chỉ có khoảng ba bốn nghìn người. Nhưng chúng dám hoành hành xâm phạm, không chỉ dựa vào địa thế hiểm trở, mà còn do các tướng giữ biên trước đây mưu kế kém cỏi, lại thêm triều đình quá khoan dung.

Trước đây thần nghe lại dân châu Nghi kể, vào niên hiệu Tường Phù, giặc nổi loạn, triều đình phát binh đánh dẹp. Lúc đó, chỉ có An phủ đô giám Mã Ngọc dẫn quân tiến sâu vào, giết và bắt được nhiều giặc. Tri châu Quế Châu Tào Khắc Minh ghen ghét công lao của ông, nhiều lần gửi văn thư ngăn cản, nên ý chí của Mã Ngọc không được thỏa mãn. Đến nay giặc vẫn khiếp sợ danh tiếng của ông, người biết chuyện vẫn tiếc nuối. Giả sử lúc đó các tướng lĩnh đều như Mã Ngọc, thì giặc đã bị tiêu diệt, không có họa ngày nay. Đến nỗi giặc thừa cơ xâm phạm biên giới, giết hại tướng sĩ, tổn hại quốc uy, không gì lớn hơn thế. Nếu triều đình không nhân lúc này phát binh, thì không thể răn đe tương lai, làm chấn động vùng biên viễn. Sáu vị tướng kia, tuy không giỏi cầm quân, tự chuốc lấy thất bại, nhưng oan khuất nhục nhã, cần phải rửa sạch.

Thần xem tình hình giặc, chúng dựa vào địa thế hiểm yếu, chiếm cao đánh xuống, đại quân khó tiến cùng lúc. Nhưng đất đai cằn cỗi, của cải thiếu thốn, chúng phải đốt rừng làm rẫy để có lương thực. Tình thế này có thể dùng kế lâu dài, không thể đánh nhanh, có thể dùng mưu đánh bại, không thể dùng sức tranh giành. Nay các quân Trung Cảm, Trừng Hải ở Quảng Đông, Quảng Tây, Hùng Vũ ở Hồ Nam, Hồ Bắc, đều quen vượt hiểm trở[16]. Lại thêm vũ khí họ dùng cũng giống giặc. Xin hãy nhanh chóng điều họ đến châu Nghi ứng phó, thay bằng quân khác.

Lại sai Chuyển vận sứ chuẩn bị lương thảo đủ dùng vài năm, đợi đến lúc giao mùa thu đông, khí núi tan đi, tiến quân chiếm đường ra vào, chuyển lương bổ quân, dùng kế lâu dài. Đợi khi thuận lợi, liền tính kế tiến sâu, có thể phá tan sào huyệt, chặn đường đi lại. Dù chúng chạy trốn vào rừng rậm, cũng phá hủy nhà cửa, đốt sạch lương thảo, khiến tiến không cướp được gì, lui không có gì phòng thủ. Sau đó ban ơn nước, cho chúng đầu hàng, dời vào nội địa, thu lại đất đai, chiêu dân khai khẩn, sau này có thể mở rộng biên giới làm lá chắn.

Lại ban chiếu cho các bộ lạc lân cận, nói rõ ý triều đình đánh kẻ phản nghịch, không được hỗ trợ lẫn nhau, nếu bắt được thủ cấp, sẽ ban thưởng hậu hĩnh. Nếu tính kế như vậy, thì không quá một năm, giặc phản loạn ắt bị tiêu diệt. Huống chi ở Quảng Tây, Kinh Hồ, Xuyên Hạp có nhiều bộ lạc, đa số hay gây rối, nhân dịp này, tất cả đều sẽ khiếp sợ, có thể bảo đảm mấy chục năm không lo bị quấy nhiễu.”

Vua khen ngợi và tiếp nhận.

[76] Lúc đó, triều đình đã bổ nhiệm Lạc Uyển sứ, Thứ sử Vinh Châu là Phùng Thân Kỉ làm Tri châu Quế Châu, kiêm chức Quảng Tây Kiềm hạt. Thân Kỉ đi qua Giang Lăng, chưa đến nơi, Vua sai Trung sứ bảo Thân Kỉ phải đi nhanh. Thân Kỉ ngày đêm gấp rút đến Nghi Châu, sửa chữa khí giới, huấn luyện quân đội, chiêu mộ dân chúng, huy động trai tráng chuyển lương thực, tiến quân theo ba đường. Thân Kỉ đến trước quân, một mình cưỡi ngựa ra trận, nói với tù trưởng: “Triều đình đối đãi các ngươi rất hậu, sao lại tự chuốc lấy diệt vong! Thiên tử sai ta đến hỏi các ngươi, nếu nghe lời ta thì được sống. Bằng không, sẽ không còn ai sống sót.” Các man tộc ngửa mặt khóc, lạy rạp xuống nói: “Không ngờ hôm nay lại được gặp Phùng công.”

Trước đây, vào cuối niên hiệu Đại Trung Tường Phù và khoảng niên hiệu Thiên Thánh, Thân Kỉ từng hai lần làm Tri châu Nghi Châu, các man tộc rất kính phục uy tín của ông, nên mới nói vậy. Hôm sau, tù trưởng man là Mông Đính nộp hàng vạn khí giới, dẫn quân đến cửa quân đầu hàng. Ban đầu, quân sĩ vì sợ liên lụy mà trốn tránh, Thân Kỉ nói: “Kỷ luật không nghiêm, tướng tự chuốc lấy thất bại, quân sĩ có tội gì.” Xin tha tội chết, hẹn ngày trở về, triều đình đồng ý, Quảng Tây từ đó yên ổn.

Thân Kỉ là cháu của Phùng Chửng.

(Sách 《Tô Thân truyện》 chép tù trưởng man là Mông Quang Nguyệt, sách 《Phùng Thân Kỉ truyện》 chép là Mông Đính, không rõ là hai người hay một người, cần xem xét thêm. Tháng giêng năm sau, ngày Tân Hợi, ty Kiềm hạt Quảng Tây mới tâu lên việc dẹp yên man tộc An Hóa Châu, nay nhân việc thúc giục ty Kiềm hạt tiến quân, liền ghi chép thêm tờ tâu của Tô Thân và sự việc Phùng Thân Kỉ đến trước quân. Tuy nhiên, việc dẹp yên man tộc chắc chắn không vượt quá năm nay. Ngày Tân Hợi tháng giêng năm sau là ngày tấu trình lên, Tân Hợi thực là ngày 20 tháng giêng.)

[77] Trước đó, man tộc đánh giết tướng lại, quân sĩ sợ bị liên lụy mà bị giết, định làm phản, Đề điểm hình ngục là Từ Đích gấp rút đến Nghi Châu, an ủi và giải thích rằng: “Các ngươi mất tướng lại vốn có tội, nhưng nếu ra sức đánh giặc, vẫn có thể lập công để chuộc tội. Nếu sáng làm phản thì chiều sẽ chết, không phải là kế hay.” Mọi người đều nghe theo. Lại thấy người địa phương quen đánh trận, tâu xin khôi phục quân Trừng Hải và Trung Cảm, quân sĩ đều được dùng đến.

[78] Ngày Ất Tỵ, Nam Giao Lễ Nghi Sứ Tống Thụ dâng lên 10 quyển 《Lỗ Bạ Đồ Ký》, được ban chiếu khen ngợi. 《Tống Thụ Truyện》 chép: Khi tế giao, Tống Thụ tạm quyền Thái Bộc Khanh, đi theo xe ngọc, Vua hỏi về nghi thức và điển cố, ông ứng đối rõ ràng, nhân đó dâng lên 10 quyển 《Lỗ Bạ Đồ Ký》[17].

(Xét: 《Lỗ Bạ Đồ Ký》 được dâng lên vào năm Thiên Thánh thứ 6, lời tựa nói rằng sửa sang lại đại giá để tế giao Thượng Đế, tức là năm Thiên Thánh thứ 2. Năm thứ 5, Nhân Tông hai lần tế giao. Đến lúc này, lại tăng thêm một số tiết mục.)

[79] Cơ quan Tường Định Các Môn Nghi Chế tâu rằng, Ngự Sử Trung Thừa dẫn các thuộc quan lên điện, hàng ngũ đứng trên Khai Phong Phủ, nếu xin đối đáp riêng thì theo thứ tự quan chức, Vua đồng ý. Lúc đó, Trung Thừa Yến Thù nói, theo lệ cũ, Ngự Sử Đài tâu việc, hàng ngũ đứng sau Tam Ty và trước Khai Phong Phủ, năm Thiên Thánh thứ 9 mới dùng nghi thức Nội Đông Môn, nên hàng ngũ đứng dưới Khai Phong Phủ, vì thế xin làm rõ lại.

[80] Chiếu rằng dân Quảng Nam Tây Lộ có người chở lương đến Châu Nghi, được miễn một nửa thuế hạ năm sau. Những người ở Châu Nghi và Châu Dung từng bị giặc Man quấy nhiễu[18], và những người phải đi phu vào động, được miễn toàn bộ. Sứ thần, tướng hiệu tử trận, đều được truy tặng quan chức, và ghi chép con cháu để báo lên.

[81] Ngày Mậu Thân, triều hưởng ở Cảnh Linh Cung.

[82] Ngày Kỷ Dậu, hưởng tế ở Thái Miếu và Phụng Từ Miếu.

[83] Ngày Canh Tuất, tế trời đất ở đàn Viên Khâu, đại xá, đổi niên hiệu. Từ ngày này trở về trước, những thuế má ẩn lậu tích tụ lâu năm đã được tra xét ra, đều được miễn bỏ.

[84] Ngày Ất Mão, lại cho tiến cử Huyện Lệnh.

[85] Ngày Mậu Ngọ, châu Vận tâu rằng Tư chính điện đại học sĩ, Tả bộc xạ Vương Tăng mất. Triều đình ngừng chầu hai ngày, truy tặng Thị trung, thụy là Văn Chính.

Vương Tăng tư chất đoan hậu, mày mắt như được khắc họa, mặc áo mũ chỉnh tề, đi đứng vững vàng. Khi vào triều, tiến thoái đều có chỗ nhất định. Lúc ở nhà ít nói, tự mình sống thanh bạch, không ai dám dùng tư tình can thiệp, danh tiếng lừng lẫy khắp thiên hạ. Thuở nhỏ cùng Dương Ức làm thị tòng. Dương Ức thích đùa cợt, nhưng khi nói chuyện với Vương Tăng thì nói: “Tôi không dám đùa với ông.” Ông từng giữ chức phụ chính trong mười năm, việc tiến cử hay cách chức quan lại đều không ai biết. Phạm Trọng Yêm từng hỏi ông về việc này, Vương Tăng đáp: “Người làm chính sự, nếu muốn đem ân huệ về mình, thì oán hận sẽ về ai?” Phạm Trọng Yêm kính phục lời nói của ông. Trước đó, có ngôi sao lớn rơi xuống nơi ông ở, tả hữu kinh hãi báo lại, ông nói: “Một tháng sau sẽ biết.” Đến kỳ hạn, quả nhiên ông mất.

Năm Hoàng Hựu, Vua viết chữ triện trên bia mộ của ông là “Bia Tinh Hiền”, sau lại đổi tên quê ông là Tinh Hiền. Từ Vương Tăng trở đi, bia mộ của đại thần mới được ban chữ triện.

[86] Ngày Kỷ Mùi, ty Đồn điền Hà Bắc tâu rằng muốn dẫn nước sông Bách Tế ở cửa Thạch Trủng để đổ vào các đầm ven biên giới, xin miễn thuế ruộng dân dọc đường đi, được chấp thuận. Lúc đó trời hạn hán, nước đầm cạn, Tri châu Hùng là Cát Hoài Mẫn lo ngại sứ Khiết Đan đến đo đạc độ sâu rộng, bèn dẫn nước sông Giới đổ vào, đầm lại đầy như cũ.

(Việc của Hoài Mẫn được ghi chép thêm trong bản truyện.)

[87] Ngày Canh Thân, xuống chiếu cho các Thượng thư và Thứ sử trở lên được ban ân cáo sắc, cho phép thân thuộc của họ dùng trạm dịch để mang ban.

[88] Ngày Quý Hợi tháng 12, phong Tể thần Trương Sĩ Tốn làm Dĩnh Quốc công, ban ân cho trăm quan.

[89] Ngày Giáp Tý, kinh sư xảy ra động đất.

[90] Ngày Bính Dần, ty Đô kiềm hạt lộ Phu Diên tâu rằng Triệu Nguyên Hạo làm phản.

[91] Ngày Tân Mùi, điều Phó bộ thự lộ Hoàn Khánh, Điện tiền đô ngu hậu, Ung Châu quan sát sứ Lưu Bình làm Phó bộ thự lộ Phu Diên.

[92] Ngày Quý Dậu, lệnh Tam ty sứ, Hộ bộ Thượng thư Hạ Tủng làm Phụng Ninh tiết độ sứ, Tri Vĩnh Hưng quân; Tư chính điện học sĩ, Lại bộ Thị lang, Tri Hà Nam phủ Phạm Ung làm Chấn Vũ tiết độ sứ, Tri Diên Châu.

[93] Giao Chỉ quận vương Lý Đức Chính được phong làm Nam Bình vương, thủ lĩnh Mạc Xuyên, Lưu hậu Bảo Thuận quân Cốt Tư La làm Tiết độ sứ.

[94] Ngày Giáp Tuất, Thượng thư Hình bộ, kiêm Ngự sử trung thừa Yến Thù lại được làm Tam ty sứ, Long đồ các trực học sĩ, Cấp sự trung, Tri Duyện châu Khổng Đạo Phụ vào làm Ngự sử trung thừa.

[95] Tri Tịnh châu, Xu mật trực học sĩ Đỗ Diễn được gia phong Long đồ các trực học sĩ, vì Thái Nguyên là nơi trọng yếu, cần Đỗ Diễn trấn phủ.

[96] Chiếu cấm tuyệt các nơi buôn bán với Nguyên Hạo ở biên giới Thiểm Tây, Hà Đông.

[97] Ngày Đinh Sửu, chiếu rằng ai bắt được người do Nguyên Hạo phái đi do thám sẽ được thưởng mười vạn tiền.

[98] Lại chiếu các Lộ bố trí, Tuần kiểm ty xem xét các Đô giám, Giám áp sứ thần ở biên giới, người có tài dũng, am hiểu việc biên phòng, hoặc người già yếu không đảm đương được chức vụ, đều phải báo tên lên.

[99] Ngày Mậu Dần, dời Phán Hứa châu Lữ Di Giản làm Phán Thiên Hùng quân.

[100] Ngày Kỷ Mão, chiếu cho Tri Vĩnh Hưng quân Hạ Tủng kiêm Đô bố trí bản lộ, Đề cử quân mã các châu Càn, Diệu, An phủ sứ Kinh Nguyên Tần Phượng lộ, Tri Diên châu Phạm Ung kiêm Đô bố trí Phu Diên lộ, An phủ sứ Phu Diên Hoàn Khánh lộ.

[101] Ngày Canh Thìn, lệnh Cấp sự trung, Tập hiền viện học sĩ Du Hiến Khanh cùng Tam ty xem xét việc miễn trừ nợ nần trong thiên hạ.

[102] Ngày Giáp Thân, Hạ Tủng xin ứng trước lương tháng để lo việc hành lý, chiếu cho ứng trước một quý.

[103] Ngày Ất Dậu, chiếu cho Tam ty mỗi năm cấp cho Cốt Tư La một nghìn tấm lụa, một nghìn cân trà góc, một nghìn năm trăm cân trà tán.

[104] Ngày Đinh Hợi, Khiết Đan phái Cao châu Quan sát sứ Gia Luật Đức, Quảng châu Đoàn luyện sứ Thôi Kế Phương đến chúc mừng ngày Chính đán.

[105] Ban đầu, châu Hãn xảy ra động đất, Hàn lâm học sĩ, quyền Tri Khai Phong phủ Tư Yển tâu: “Động đất là do âm khí thịnh. Hiện nay chính lệnh của triều đình không chỉ do trên ban ra, mà ân trạch của hậu cung và ngoại thích ngày càng nhiều, đó là hiệu ứng của dương không thắng được âm. Thêm vào đó, giặc ngoài xâm lấn, giặc trong xâm phạm, nên chọn tướng luyện quân để phòng ngừa xâm lược.”

Khi tế Nam Giao, Triệu Nguyên Hạo không đến triều cống, triều đình định bàn việc đánh dẹp. Yển nói: “Vội đánh dẹp thì quá bạo ngược. Nên sai sứ hỏi tội trạng không thần phục của hắn, đợi khi hắn lời lẽ khuất phục rồi mới xuất binh, như vậy thì sự không ngay thẳng thuộc về hắn, mà quân vương xuất chinh sẽ có danh nghĩa.” Lại tâu rằng quân lính thú biên thay phiên trở về, nên theo chế độ của tổ tông, xem xét tài nghệ của họ rồi mới lần lượt tiến cử. Khi ấy có binh lính đút lót cho quan coi kho để được chọn áo mùa đông, hơn ba mươi người bị bắt giam. Lúc đó là tháng tám, sương tuyết đột nhiên xuất hiện, Yển suy xét điềm “Cấp, thường hàn nhược” trong 《Hồng Phạm》, xin giảm nhẹ hình phạt. Vua đồng ý.

Binh lính thú biên phía tây, vợ con ở lại kinh sư, phạm tội đáng chết, Vua không nỡ để họ chịu hình, có người muốn bỏ thuốc độc vào đồ ăn thức uống để họ được chết lành. Yển hết sức can ngăn việc đó, Vua cũng hối hận mà thôi.

Hoạn quan Trình Trí Thành và tám người sứ thần Tam ban là Phùng Văn Hiển phạm tội, Vua sai tha cho Trí Thành và ba người, còn Văn Hiển và năm người kia vẫn xử theo pháp luật. Yển nói: “Thương xót người gần mà bỏ qua người xa, không phải là chính sự, huống chi cùng tội mà khác hình phạt.” Vua bèn ra chiếu tha hết.

Yển từng nhận chiếu khảo hạch lại viên Trung thư, có đại thần gửi thư nhờ vả, Yển không dám mở xem, vội đốt đi, và nói: “Mở ra mà nói, chẳng phải là quá khắc bạc sao!”

(Tháng tám sương tuyết đột nhiên xuất hiện, không thấy chép trong 《Ngũ Hành Chí》 và 《Bản Kỷ》, không rõ là năm nào? Bản truyện chép việc này sau khi Yển quyền Tri Khai Phong phủ, nghi rằng việc vợ con binh lính thú biên phạm tội và Trình Trí Thành bị xử pháp, đều là việc khi Yển cứu xét hình ngục, không nhất định là ở Khai Phong, cần khảo cứu thêm.)


  1. Bảo Bình tiết độ sứ Gia Luật Oát, nguyên bản là 'Gia Luật Cán', căn cứ vào bản trong các sách và 《Liêu sử》 quyển 18 sửa lại.
  2. Ban tiền cho gia đình người chết theo mức độ khác nhau, bản Tống và bản Tống toát yếu đều ghi là 'Ban tiền cho gia đình người chết và bị thương theo mức độ khác nhau'.
  3. Chữ 'quảng' trong 'Cảnh Hữu Quảng Lạc Ký' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản cùng 《Tống Hội Yếu》 Lạc 2-19, 《Tống Sử Toàn Văn》 quyển 7 hạ, 《Thái Thường Nhân Cách Lễ》 quyển 19, 《Trường Biên Kỷ Sự Bản Mạt》 quyển 31 Nghị Lạc bổ sung.
  4. Chữ 'dĩ' trong 'thức giả cửu dĩ vi phi' vốn viết là 'dĩ', nay căn cứ vào sách trên sửa lại.
  5. Chữ 'chiếu' trong 'cựu lạc chung khánh bất kinh chiếu tuyên ma giả' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản cùng 《Tống Hội Yếu》 Lạc 2-20, 《Trường Biên Kỷ Sự Bản Mạt》 quyển 31 Nghị Lạc bổ sung.
  6. Căn cứ vào 《Tống Hội Yếu》 câu này viết: 'hiện còn dư bảy giá.' 《Thái Thường Nhân Cách Lễ》 thì viết: 'còn ba liệu, dư bảy giá.'
  7. 'xin' nguyên bản chép là 'hất', theo các bản khác và 《Hàn Ngụy công tập》 quyển 10 Gia truyền sửa lại
  8. 'lười biếng' trong 《Hàn Ngụy công tập》 chép là 'đoạ', 《An Dương tập》 Gia truyền quyển 1 cũng giống
  9. Chữ 'lâm' dưới nguyên có thêm chữ 'viện', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Tống sử》 quyển 464 truyện Lý Tuân Húc mà bỏ.
  10. mà Tri châu và Thông phán, Sứ thần kết hàm, chữ 'kết' nguyên bản là 'Cấp', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản sửa lại.
  11. Muốn tự đem quân chặn bến phía nam sông Hoàng Hà 'Chặn', 《Trị tích thống loại》 quyển 7 năm Khang Định Nguyên Hạo quấy nhiễu biên giới chép là 'Cắt'.
  12. Bãi bỏ chức quan Đề cử sứ địch lương thảo ở Hà Bắc, Thiểm Tây, theo 《Tống hội yếu》 phần Thực hóa 39.9-13, nhiều lần xuất hiện cụm từ 'Tiện địch lương thảo', chữ 'sứ' ở đây nghi ngờ nên là chữ 'tiện'.
  13. Chu Thành Vương không dùng hình phạt, 'hình thố' nguyên là 'hình thức', theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 37, Phạm Dư Doãn Âu kế xuất sửa.
  14. Nay kẻ sĩ đều vu cáo lẫn nhau, sách trên chép là 'Nay trên dưới đều vu cáo lẫn nhau'.
  15. Sách 《Biên niên cương mục》 quyển 10, 《Tống sử toàn văn》 quyển 7 hạ, 《Đông đô sự lược》 quyển 127 phần Tây Hạ, 《Trị tích thống loại》 quyển 7 phần Khang Định Nguyên Hạo nhiễu biên đều ghi giống nhau. 《Tống sử》 quyển 485 phần Hạ quốc truyền chép 'Anh Vũ' là 'Bản Vũ'.
  16. 'Quen vượt hiểm trở', chữ 'vượt' nguyên bản là 'trèo', theo các bản khác và 《Tống sử》 quyển 294, truyện Tô Thân sửa lại.
  17. Nguyên văn 'truyền' sửa thành 'soạn', theo bản Tống và 《Tống Sử》 quyển 291, 《Tống Thụ Truyện》
  18. Chữ 'nhị niên' nghi là 'nhị châu', vì giặc An Hóa quấy nhiễu Châu Nghi và Châu Dung vào tháng 2 năm Bảo Nguyên nguyên niên, đến tháng 11 Phùng Thân Kỷ đến Châu Nghi, Quảng Tây mới yên.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.