"

IV. TỐNG NHÂN TÔNG

QUYỂN 129: NĂM KHANG ĐỊNH THỨ NHẤT (CANH THÌN, 1040)

Từ tháng 10 năm Khang Định thứ nhất đời Nhân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.

[1] Tháng 10, mùa đông, ngày Quý Mùi, phong Ngự thị Chu thị (tước Hà Nam quận quân) và Trương thị (tước Thanh Hà quận quân) cùng làm Tài nhân.

Trương thị là người Hà Nam, cha là Trương Nghiêu Phong. Vào đầu niên hiệu Thiên Thánh, ông đến Nam Đô làm khách, nương nhờ họ Tào, một gia đình quyền thế. Họ Tào gả con gái cho ông. Sau đó, ông đỗ Tiến sĩ, được bổ làm Thôi quan quân sự châu Thạch, nhưng chưa nhậm chức thì mất tại kinh đô. Anh họ là Trương Nghiêu Tá sắp nhậm chức ở Thục, họ Tào xin cho các con mồ côi đi theo, nhưng Nghiêu Tá cho rằng đường xa nên không đồng ý, khiến họ Tào càng khốn đốn. Mẹ của Nghiêu Phong[1]là con gái họ Tiền. Lúc đó Trương thị mới 8 tuổi[2], cùng ba chị em theo họ Tiền vào cung. Khi lớn lên[3], bà được Vua yêu quý. Tính thông minh, khéo léo, biết dùng mưu trí, có thể đoán được ý Vua. Trước sau đều được Vua đón tiếp, vì là con nhà lương gia nên được đối đãi khác hẳn các cung nữ khác[4], dần được phong làm Thanh Hà quận quân, rồi cùng làm Tài nhân.

Chu thị là người Khai Phong. Tháng 8 năm Khánh Lịch thứ nhất, Chu thị sinh con là Hi.

(Bản truyền về Trương thị chép rằng năm Khánh Lịch thứ nhất bà được phong làm Thanh Hà quận quân là sai, 《Hội yếu》 cũng chép sai.)

[2] Ngày Ất Dậu, xuống chiếu rằng những kẻ trộm cướp bị truy nã, cho Lưu nội tuyển và Tam ban viện tuyển chọn sứ thần, ai có thể bày mưu kế hoặc tự bắt được thì sẽ bàn luận thăng chức vượt cấp.

[3] Chu Quan, Kiềm hạt Phu Diên, cùng người khác đánh úp hơn mười trại của giặc Tây ở khu vực Quách Bích thuộc châu Hồng, phá được.

(Việc này xảy ra vào ngày mồng 3 tháng này, theo tấu nghị của Phạm Trọng Yêm.)

[4] Ngày Mậu Tý, ban chiếu rằng từ nay các mệnh lệnh ban ra từ trong cung về việc thăng chức và bổ nhiệm các quan, đều phải do Trung thư, Xu mật viện trình bày rõ ràng và tâu lên để báo cáo. Vua tính tình khoan dung nhân hậu, nên khi thân tộc hoặc những người thân cận xin ban mệnh lệnh từ trong cung, đôi khi không thể từ chối.

(Phần “Vua tính tình khoan dung nhân hậu” trở xuống là căn cứ theo 《Ký văn》).

[5] Ngày Kỷ Sửu, sai Hàn lâm học sĩ Vương Cư Chính, Tri chế cáo Vương Củng Thần, Thiên Chương các đãi chế Cao Nhược Nột đến Quốc Tử Giám khảo thí các cử nhân phương lược, Thị ngự sử Trương Vũ Tích đóng dấu niêm phong đầu quyển thi.

[6] Chém Thần Vệ quân chủ, Chiêu Châu thứ sử Đỗ An tại Trấn Nhung quân. Trước đó, giặc cướp đánh Trấn Nhung quân, Kinh Nguyên lộ đô giám Lưu Kế Tông xuất quân giao chiến, nhưng Đỗ An tự ý rời bỏ chủ tướng chạy vào thành.

[7] Ngày Tân Mão, Phu Diên kiềm hạt, Cung bị khố sứ, Trung Châu thứ sử Chu Quán được thăng làm Sùng Nghi sứ, Kinh Nguyên kiềm hạt, kiêm tri Trấn Nhung quân.

[8] Hoàn Khánh kiềm hạt Cao Kế Long cùng các tướng xuất quân đánh các trại Kinh Nạp, Vượng Mục của giặc phương Tây, phá được. (Ngày 9 tháng 10, việc này cũng căn cứ theo tấu nghị của Phạm Trọng Yêm).

[9] Ngày Quý Tỵ, sai Quán các hiệu khám Điêu Ước, Âu Dương Tu cùng biên soạn sách lễ.

[10] Ngày Giáp Ngọ, ban cho Kinh Châu trú bạc đô giám, Lễ Tân phó sứ Vương Khuê hai con ngựa quý, ba mươi lạng vàng, một trăm tấm lụa để băng bó vết thương, lại sai sứ đến an ủi. Lại hạ chiếu khen ngợi công lao của ông ở biên cương để khích lệ các tướng. Sau đó, phong ông làm Bản lộ trú bạc đô giám, kiêm Hành dinh. Lại ban cho tấm bài vàng có khắc chữ, cho phép ông được quyền chuyên quyết việc chém giết.

[11] Ngày Ất Mùi, Đoan Minh điện học sĩ Lý Thục cùng các quan dâng lên mẫu đồng phù, mộc khế, truyền tín bài đã định, giao cho Hữu ty chế tạo.

Mẫu chế đồng phù, phía trên khắc triện chữ “phù phát binh của nơi nào đó”, phía dưới đúc hình hổ báo làm trang trí, rồi chia đôi. Phù bên phải có năm cái, bên trái khắc bốn đầu hổ báo; phù bên trái có một cái, bên phải làm bốn lỗ, để có thể khớp nhau. Lại khắc chữ triện đối nhau, khắc chữ mười can làm hiệu, thứ nhất là Giáp Kỷ, thứ hai là Ất Canh, thứ ba là Bính Tân, thứ tư là Đinh Nhâm, thứ năm là Mậu Quý. Phù bên trái khắc nửa chữ mười can, phù bên phải chỉ khắc hai nửa chữ Giáp Kỷ. Năm phù bên phải lưu lại kinh sư, phù bên trái giao cho Bộ thự, Kiềm hạt, các quan cao cấp ở châu quân nắm giữ.

Khi phát binh, Xu mật viện giao phù từ một đến năm, xoay vòng lại từ đầu. Chỉ huy từ ba trăm đến năm nghìn người dùng một phù hổ một phù báo, trên năm nghìn người dùng hai phù hổ hai phù báo. Xu mật viện giao phù, phù bên phải thứ nhất là bắt đầu, đặt trong hộp, niêm phong ấn, sai sứ giả mang tuyên chỉ cùng giao xuống, tuyên chỉ nói giao phù thứ nhất phát binh bao nhiêu, nơi đó lấy phù bên trái khám xét xong, liền phát binh cho sứ giả, lại niêm phong phù bên phải trả về, đồng thời báo cáo nhanh chóng. Nơi đó ghi chép thứ tự ngày tháng giao phù và số binh, không được giao cho cơ quan dưới quyền.

Về mộc khế, phía trên và dưới đề chữ “khế của nơi nào đó”, chia đôi, ba cái phía trên khắc hình cá, đề số một, hai, ba; một cái phía dưới khắc hình cá rỗng, để có thể khớp nhau, bên trái đề chữ “tả ngư hợp”, bên trái đề chữ “hữu ngư hợp”. Ba cái phía trên lưu lại Bộ thự, Kiềm hạt, các quan cao cấp nắm giữ, một cái phía dưới giao cho các châu quân, thành trại chủ nắm giữ. Bộ thự, Kiềm hạt phát binh mã từ một trăm người trở lên, trước tiên giao khế thứ nhất phía trên, đựng trong túi da, niêm phong ấn[5], sai chỉ sử mang công văn cùng đi. Nơi đó kiểm tra khế phía dưới khớp với khế phía trên, liền phát binh, lại niêm phong khế phía trên trả về, đồng thời báo cáo Bộ thự, Kiềm hạt. Việc giao khế thứ hai, thứ ba cũng như vậy. Quan chưởng khế ghi chép thứ tự ngày tháng giao khế và số binh, để đối chiếu lẫn nhau.

Truyền tín bài, ở giữa có hộc chứa bút mực giấy, giao cho chủ tướng nắm giữ. Mỗi khi ra trận truyền lệnh, viết vào giấy rồi đặt trong bài, đưa báo cho quan binh; sau khi nhận được, viết việc cần làm vào bài rồi trả lại, chủ tướng dùng chữ bí mật làm hiệu để kiểm tra, không được để lộ việc quân.

[12] Ngày Bính Thân, Hoàn Khánh bộ thự, Hãn Châu đoàn luyện sứ, kiêm Tri Khánh Châu Nhâm Phúc được phong làm Long Thần Vệ tứ sương đô chỉ huy sứ, Hạ Châu phòng ngự sứ, để thưởng công lao đánh Bạch Báo thành. Sau đó lại lệnh cho Nhâm Phúc kiêm chức Phó đô bộ thự lộ Phu Diên.

[13] Ngày Đinh Dậu, giáng chức Vị Châu đô giám, Lễ tân phó sứ Ti Bân xuống làm Nội điện sùng ban, giám đương nơi xa, do Kinh lược sứ Hàn Kỳ tâu rằng Ti Bân dẫn quân đến Trấn Nhung quân nhưng lại sợ hãi không dám đánh giặc.

(Xét theo 《Thực lục》, ngày Đinh Sửu tháng 9 có ghi rằng ty Bộ thự Kinh Nguyên tâu rằng ngày 17 tháng này, giặc Tây Hạ xâm phạm Trấn Nhung quân, các đô giám bản lộ là Lưu Kế Tông, Lý Vĩ, Vương Bỉnh, Ti Bân đánh bại ở Tam Xuyên trại, quan quân chết hơn 5.000 người. Đến ngày Nhâm Ngọ, Hàn Kỳ tâu về việc các tướng ở Tam Xuyên thua trận, nhưng không có tên Ti Bân, nay bị giáng chức vì sợ hãi không dám đánh giặc, có lẽ Ti Bân chưa từng thua trận, e rằng ty Bộ thự Kinh Nguyên trong bản tâu ngày Đinh Sửu đã thêm tên Ti Bân vào, nên không lấy làm căn cứ.)

[14] Ngày Mậu Tuất, ban chiếu rằng: “Nghe nói các lộ có giặc cướp hoành hành, nhưng quan ty lại giấu không tâu lên, nay lệnh cho chuyển vận sứ, đề điểm hình ngục ty đốc thúc tuần kiểm, huyện úy tùy nghi dùng mưu kế bắt giặc, kẻ nào dám giấu giếm sẽ bị xử tội vi chế; những người nhút nhát không làm được việc, hãy chọn quan trong bộ thay thế.”

[15] Ngày Canh Tý, xuất 1 triệu tấm lụa từ kho nội phủ giao cho Tam ty để hỗ trợ chi phí biên phòng.

[16] Lúc đầu, cung Hồng Khánh bị hỏa hoạn, Hiệu lý Tập hiền là Hồ Túc xin tu sửa việc thờ cúng lửa, dùng Yên Bá để tế lễ Đại Hỏa.

Quan Lễ bàn rằng: “Yên Bá phối hưởng với lửa, giống như Khí của nhà Chu phối hưởng với Tắc, Hậu Thổ phối hưởng với Xã, trải qua ngàn năm, đã trở thành lễ tế. Từ thời tổ tông đến nay, khi tế lễ Thượng Đế, Đại Thần đã được thờ phụng, miếu Yên Bá mỗi khi có chiếu xá hay dịp xuân thu, đều do quan lớn ở kinh sư đến dâng lễ, nghi thức đầy đủ, chưa từng thiếu sót.

Tuy nhiên, quốc hiệu của nước ta vốn bắt nguồn từ đất Tống, trong ngũ vận lại ứng với đức Hỏa, nên nên dựa vào đất phát tích, nơi cũ ở Thương Khâu, lập đàn tế, thờ phụng Đại Hỏa, dùng Yên Bá phối hưởng. Vào tháng Kiến Thần, Kiến Tuất, là tháng xuất nạp, trong cung ban xuống văn tế, quan lớn ở lưu ty phụng hành lễ tế, lễ vật như biên đậu, sinh tế đều theo quy chế trung tự, tuy không phải là điển chế cũ, nhưng đặc biệt thể hiện lễ mới.”

Miếu cũ của Yên Bá, quan phủ cấp tiền tu sửa, rồi dâng lên quy chế đàn tế: cao năm thước, rộng hai trượng[6], bốn phía có thềm, thềm rộng năm thước, một lớp tường bao quanh, bốn phía cách đàn hai mươi lăm bước. Bài vị dùng sơn đen viết chữ đỏ là “Đại Hỏa vị”, vị phối hưởng là “Yên Bá vị”. Dùng một con dê, một con lợn[7], đồ tế theo quy chế trung tự. Hàng năm vào tháng ba, tháng chín chọn ngày[8], quan lớn trở xuống chia làm ba lần dâng lễ, quan châu, huyện kiêm nhiệm chức Thái chúc, phụng hành lễ tế.

(Hồ Túc bàn việc thờ Đại Hỏa phối hưởng với Yên Bá, văn trong Thực lục quá dài, nay theo bản Chí.)

[17] Ngày Quý Mão, xuống chiếu cho các Chuyển vận sứ Thiểm Tây, Hà Đông, Hà Bắc mỗi nơi dâng lên ba bản địa đồ của bản lộ, một bản tiến vào trong cung, hai bản gửi đến Trung thư, Xu mật viện[9].

[18] Ngày Giáp Thìn, phong người dâng phương lược là Đằng Hi Trọng làm Huyện úy huyện Kinh[10], Lôi Tử Nguyên làm Hiệu thư lang thí dụng, Thành Nhuệ làm Thái miếu trai lang, Lý Tuân cùng mười người khác làm Giao xã trai lang, Trương Tuân cùng mười người khác làm Tư sĩ tham quân các châu, Vương Gia Lân làm Tam ban tá chức, Hàn Kiệt làm Hạ ban điện thị sai sứ, Lý Khẩn cùng ba mươi tám người khác làm Văn học các châu; những người từng thi trượt ở Nam tỉnh mà không muốn nhận chức Văn học, được miễn thi văn giải trong tương lai; những người không đạt chuẩn, được ban mười nghìn tiền rồi cho về. Từ nay về sau, cấm không được chặn xa giá để dâng văn tự.

[19] Ngày Đinh Mùi, xuống chiếu cho Kinh lược sứ Thiểm Tây cử người dụ các chức viên, thủ lĩnh người Hán và người Phiên trong địa giới của Nguyên Hạo, ai có thể dẫn bộ tộc và những người vốn thuộc các châu quận nhà Hán về quy thuận[11], đều được thăng chức không theo thứ tự.

[20] Tháng 11, ngày Nhâm Tý mùng một, giáng chức Lục trạch sứ, Kinh nguyên kiềm hạt, Tri châu Vị châu Quách Chí Cao làm Ngu bộ viên ngoại lang, Giám sát thuế rượu trấn Bách Lý, châu Kinh. Chí Cao vốn là quan văn, khi làm Tri châu Vị châu, gặp giặc cướp Trấn Nhung, dẫn quân đi cứu viện nhưng chần chừ không tiến, nên bị giáng chức.

(Truyện Lý Sư Trung chép: cha là Lý Vĩ làm Đô giám Kinh nguyên, đóng quân ở Trấn Nhung quân. Giặc Hạ hơn mười vạn người xâm phạm Trấn Nhung, Vĩ dẫn quân ra đánh, nhưng tướng khác do Sứ ty cử đi là Quách Chí Cao, do dự không tiến, các tướng vì quân ít không địch nổi, không dám ra nữa, Vĩ bị giáng ba cấp. Cần xem xét thêm.)

[21] Ngày Quý Sửu, giáng chức Kinh nguyên kiềm hạt, Cung bị khố sứ Lý Tri Hòa làm Đô giám châu Phần, Tần Phượng đô giám, Đông đầu cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Thạch Bình làm Giám sát thuế rượu trại Đức Thắng, châu Vị, đều do An phủ phó sứ Hàn Kỳ tâu rằng họ nhút nhát không đảm đương được việc biên cương.

[22] Ngày Giáp Dần, Lương Cát Phủ, Phát vận sứ Tam Môn, Bạch Ba tâu rằng: “Các nơi giặc cướp tụ tập, nhưng những người muốn bắt giặc đa phần bị quan lại ngăn cản, không thể thi thố hết tài năng. Xin từ nay chiêu mộ người, đều cấp cho văn phù, cho phép tự mình ở các huyện, xã tập hợp lực lượng để vây bắt. Người bắt được giặc sẽ được thưởng bằng những vật dụng mà giặc mang theo, đồng thời căn cứ số lượng người bắt được mà ban thưởng riêng.” Triều đình đồng ý.

[23] Ngày Ất Mão, Trương Tích, Phát vận sứ chế trí Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ tâu rằng: “Các chức Tuần kiểm[12] và Huyện uý dọc hai bờ sông Giang, Hoài trước đây đều lấy giữa dòng sông làm ranh giới. Từ nay xin cho họ thống nhất quản lý việc bắt giặc trong phạm vi sông Giang, Hoài.” Triều đình đồng ý.

[24] Điền Huống, Thái thường thừa, Thiêm thư Kinh lược an phủ phán quan sự Thiểm Tây, được bổ nhiệm làm Trực tập hiền viện.

[25] Ngày Bính Thìn, trong cung ban ra các sách do Vua soạn là 《Hồng Phạm Chính Giám》, 《Thẩm Lạc Yếu Ký》, 《Phong Giác Tập Chiếm》 để cho các đại thần xem, đồng thời ban 《Phong Giác Tập Chiếm》 cho các Ty Bộ thự ở Thiểm Tây.

[26] Ngày Đinh Tỵ, cho con của Tôn Kỵ, Quang lộc tự thừa, Trực tập hiền viện là Nhật Tân làm Giao xã trai lang, vì Trương Khuê, Thị ngự sử tri tạp sự tâu rằng Tôn Kỵ từng đỗ đầu khoa tiến sĩ đời Chân Tông, mà Nhật Tân hai lần thi ở Lễ bộ không đỗ nên đặc cách bổ nhiệm.

[27] Ngày Mậu Ngọ, xuống chiếu cho Sài Tông Khánh, Vũ thành tiết độ sứ, Đồng bình chương sự, phán Trịnh Châu trở về triều, giảm bớt 4 triệu tiền công dụng mỗi năm, vì các sứ giả bộ tâu rằng Tông Khánh tham lam, khắc nghiệt, lại buông lỏng thuộc hạ quấy nhiễu dân. Tông Khánh phạm tội đáng bị đi đày một năm, nhưng được đặc xá. Sau đó lại được lệnh phán Tế Châu, đồng thời lệnh cho Kinh đông chuyển vận sứ chọn một viên Thông phán để giúp việc. Tông Khánh cáo bệnh không chịu đi, Ngự sử đài hặc tấu, triều đình xuống chiếu ngừng cấp tiền công dụng, cho phép ở lại kinh sư dưỡng bệnh, khi khỏi bệnh sẽ lại bổ nhiệm ngoại nhiệm.

(Việc phán Tế Châu xảy ra vào tháng 3 năm sau, nay ghi chép kèm theo.

Việc Ngự sử hặc tấu, căn cứ theo 《Sóc lịch》 ghi chép về hai bản tấu của Tôn Miễn hặc tội Tông Khánh.)

[28] Ban cho Cao Diên Đức, chủ trại Tắc Môn, châu Diên, chức Nội điện thừa chế, làm Đoàn luyện sứ châu Từ, cho con trai ông là Cao Doãn Văn, chức Tam ban sai sứ, Điện thị, làm Hữu ban điện trực, Cáp môn chi hậu; Vương Kế Nguyên, quyền Giám áp binh mã, Hữu thị cấm, làm Hữu đồn vệ tướng quân, Thứ sử châu Trung, cho con trai ông là Vương Tuân Lượng làm Hữu ban điện trực, Vương Tuân Thức làm Tam ban phụng chức, Vương Tuân Lễ làm Tá chức.

Lại cho con trai của Trương Khuê, cố Đồng tuần kiểm Tây lộ châu Diên, Hữu thị cấm, là Trương Hoài Hạo làm Hữu thị cấm, Trương Hoài Anh làm Hữu ban điện trực, Trương Hoài Cẩn làm Tam ban phụng chức, đều vì họ đã tử trận khi đánh giặc phương Tây.

[29] Ngày Nhâm Tuất, có ngôi sao lớn bay về phía tây nam, tiếng như sấm ba lần.

[30] Ngày Ất Sửu, cho Lý Trọng Dung, Phán Thái thường tự, Hàn lâm thị độc học sĩ, kiêm Long đồ các học sĩ, kiêm Lễ nghi sự, Phán Thái thường lễ viện, Tri chế cáo Ngô Dục, Thiên chương các đãi chế Tống Kỳ cùng làm Đồng phán Thái thường tự, kiêm Lễ nghi sự. Trước đây, Tạ Giáng phán Lễ viện, dâng lời rằng: “Thái thường tự vốn là cơ quan phụ trách lễ nhạc, nay mọi việc của tự đều do viện này thực hiện, điều này không hợp lễ. Xin đổi Phán viện thành Phán tự, kiêm Lễ nghi sự. Những việc của Đồng tri viện trước tiên phải báo lên Phán tự, sau đó mới thi hành, các việc báo cáo và tấu xin kiểm tra, đều phải cùng Phán tự ký tên.” Vì thế, bắt đầu nghe theo lời của Giáng.

[31] Ngày Bính Dần, điều Địch Phỉ, Tri phủ Hà Trung, Xu mật trực học sĩ, làm Tri châu Trịnh. Có trung quý nhân đi qua Hà Trung, nói rằng sẽ tiến cử Phỉ trước mặt Vua, Phỉ đáp lại bằng lời khác, sau đó nói với người thân rằng: “Ta là một hàn sĩ ở Tương Đàm, nay làm quan đến chức thị tòng, lẽ nào già rồi lại tự làm nhục mình!”

[32] Ban áo nạp cho quân sĩ vùng biên giới châu Diên.

[33] Chiếu cho Ty Đô bộ thự Thiểm Tây xem xét các quan võ và sứ thần các thành trại vùng biên giới, những người có tài năng, dũng cảm nổi tiếng, sau khi mãn nhiệm kỳ sẽ được thăng chức, cho tiếp tục tại nhiệm.

[34] Ngày Đinh Mão, Chỉ sử ty Bộ thự lộ Phu Diên (nguyên là “Chỉ huy”, theo bản các và 《Tống sử》 quyển 290, truyện Địch Thanh chép Thanh vào đầu niên hiệu Bảo Nguyên làm Tam ban sai sứ, Điện thị, Chỉ sử châu Diên, cũng có thể chứng minh), Điện trực Hữu ban Địch Thanh được làm Hữu thị cấm, Cáp môn chi hậu, Đô giám châu Kinh. Mỗi khi ra trận, Thanh xõa tóc, đeo mặt nạ đồng xông vào giữa quân địch, quân địch đều tan vỡ không ai dám đối địch.

Doãn Chu làm Kinh lược phán quan, Thanh với chức Chỉ sử đến yết kiến, Chu cùng bàn việc quân, khen ngợi, tiến cử với Phó sứ Hàn Kỳ, Phạm Trọng Yêm rằng: “Đây là người có tài làm tướng giỏi.” Hai người vừa gặp đã lấy làm lạ, đối đãi rất hậu. Trọng Yêm đem 《Tả thị Xuân Thu》 trao cho và nói: “Tướng mà không biết cổ kim, chỉ là kẻ dũng phu thôi.” Thanh chuyên tâm đọc sách, thông suốt binh pháp của các tướng súy từ Tần, Hán trở về sau, nhờ thế càng nổi tiếng.

[35] Ngày Mậu Thìn, giáng Đô giám Kinh Nguyên, Tây nhiễm viện sứ Tào Anh làm Tả kỵ kỵ phó sứ, vì có tội ứng phó quân Trấn Nhung không có công.

[36] Ngày Canh Ngọ, xuống chiếu các châu, phủ, quân, giám (chữ “quân” nguyên là “khố”, theo bản các), huyện, trấn, cửa ải, bến đò, không được tùy tiện tăng thuế khoản vô danh và khám xét gia quyến người đi đường.

[37] Long Thần vệ Tứ sương Đô chỉ huy sứ, Tượng châu Phòng ngự sứ Lưu Khiêm mất. Khiêm trước làm Bộ thự Hoàn Khánh, Hạ Tủng tâu xin dời đến Kinh Nguyên, gặp lúc giặc cướp quân Trấn Nhung, Khiêm dẫn quân vào đất giặc, phá được nơi chúng tụ tập, để chia bớt thế giặc. Bỗng nhiên bị bệnh mất, được tặng chức Vĩnh Thanh lưu hậu.

(Năm Bảo Nguyên thứ 2, tháng 11, từ Hoàn Khánh dời đến Kinh Nguyên. Năm Khang Định thứ nhất, tháng 8, ngày Canh Tuất, được thăng làm Tượng châu Phòng ngự sứ, Long Thần vệ Sương chủ, Phó đô bộ thự Kinh Nguyên. Xét việc giặc Tây cướp Trấn Nhung là vào giữa tháng 9, Khiêm được thăng làm Phòng ngự sứ Tượng châu và Sương chủ, Phó đô bộ thự vào cuối tháng 8, không phải vì có công ở Trấn Nhung mà được thăng[13].)

[38] Ngày Ất Hợi, truy tặng Trấn nhung quân Tây lộ đô tuần kiểm sứ, Nội điện thừa chế Dương Bảo Cát làm Thâm châu phòng ngự sứ, phong vợ ông là Triệu thị làm Thiên Thủy huyện quân; lại ban cho cha ông là Nhập nội cung phụng quan Thủ Tín làm Thái tử Tả vệ suất phủ suất, mẹ là Tô thị làm Tương Dương quận thái quân, vì Bảo Cát tử trận khi giao chiến với quân Tây tặc.

[39] Trước đó, Lợi châu lộ chuyển vận sứ Trương Tông Di tâu rằng quân Tây tặc từ Văn châu có đường thẳng đến dưới thành Ích châu, xin phòng thủ ở huyện Thanh Xuyên, Long châu. Do đó, Ích châu lộ kiềm hạt ty tâu xin tăng thêm 300 đến 500 quân đồn trú ở Long châu, chọn võ thần làm tri châu, mỗi mùa điều một lượng quân đến Thanh Xuyên để phòng ngự và tuần tra. Triều đình chấp thuận.

(Việc này căn cứ theo 《Hội yếu》. Câu “thẳng đến dưới thành Ích châu” của Tông Di có phần quá đáng, nhưng vẫn ghi lại.)

[40] Ngày Bính Tý, Long đồ các trực học sĩ, Tri Tịnh châu Vương Duyên được bổ làm Xu mật trực học sĩ, Tri Vị châu; Hà Đông đô chuyển vận sứ, Long đồ các trực học sĩ Dương Giai làm Xu mật trực học sĩ, Tri Tịnh châu. Có một hoạn quan tham gia quân sự, vốn ngang ngược, các tướng trước đều ưu đãi ông ta. Khi Dương Giai đến, ông nghiêm khắc xử lý theo pháp luật, ra lệnh cho hoạn quan dẫn quân theo Phó bộ thự đến Hà Ngoại, dặn rằng: “Gặp giặc sắp giao chiến, phải tuân theo mệnh lệnh của Phó bộ thự.” Hoạn quan không phục, cầm tờ hịch tố cáo. Dương Giai quát: “Ngươi biết rằng vi phạm mệnh lệnh chủ tướng là bị chém không!” Viên giám quân sợ hãi toát mồ hôi, không biết làm rơi hốt, hôm sau xin nghỉ ốm, không lâu sau thì chết. Từ đó, quân chính trở nên nghiêm minh.

[41] Ngày Canh Thìn, Tri chế cáo Giả Xương Triều được bổ làm Đồng phán Lưu nội tuyển. Trước đó, phép thuyên bổ quy định rằng huyện lệnh có bổng lộc đủ 12.000 quan tiền mới được tiến cử[14]. Giả Xương Triều cho rằng như vậy thì các huyện nhỏ sẽ không bao giờ có được huyện lệnh tốt, nên xin tiến cử huyện lệnh một cách tổng quát và cấp bổng lộc như các huyện lớn. Triều đình chấp thuận.

(Việc này được ghi trong 《Hội yếu》 vào tháng 3 năm sau, khi Giả Xương Triều đi an phủ Hà Bắc và dâng tấu xin.)

[42] Tháng này, quân sĩ ở Chiết Đông là Ngạc Lân và những người khác giết chết Tuần kiểm sứ Trương Hoài Tín, tập hợp binh lính cướp bóc các châu huyện ở Hồ Nam, Phúc Kiến, Quảng Nam, rồi chạy ra biển. Hoài Tín là nội thần, tính tình hà khắc tàn bạo, mọi người gọi ông ta là “Trương Liệt Kiết”. Ngạc Lân và những người khác tích tụ oán hận, nên đã nổi loạn.

(Việc Ngạc Lân và những người khác nổi loạn không được ghi trong quốc sử, theo tấu nghị của Phú Bật. Sách 《Kê Cổ Lục》 chép việc này vào tháng 9[15], không rõ căn cứ vào đâu, nay theo tấu nghị của Phú Bật. “Trương Liệt Kiết”, theo ghi chép của Tư Mã Quang.)

[43] Bổ sung thêm một viên Thông phán ở châu Thi.

[44] Tháng 12, ngày Quý Mùi, ban chiếu cho các ty Chiêu thảo ở vùng biên giới, nếu có chiến sĩ mua đầu lính để mạo nhận thưởng, sẽ xử theo quân pháp.

[45] Xuất 1 triệu tấm lụa từ kho Nội tàng để giúp Tam ty chi phí biên giới.

[46] Ngày Ất Dậu, lệnh cho Đoan Minh điện học sĩ kiêm Hàn Lâm viện Thị độc học sĩ Lý Thục, Tri chế cáo Giả Xương Triều, Đồng tu Khởi cư chú Quách Chẩn, Thiên Chương các Thị giảng Vương Chu cùng xem xét và định ra quy chế chung về cung thủ và tráng binh. Lại lệnh cho Lý Thục làm Phán Binh bộ, Vương Chu làm Đồng phán. Lúc này, các lộ đang lập danh sách hương binh gửi lên Binh bộ, số tráng binh ở Hà Bắc trong danh sách là 293.000 người, Hà Đông là 144.000 người.

(Điều này theo bản chí. Số tráng binh hai lộ vào năm Khang Định, nay phụ chép ở đây. Cung thủ được ghi riêng.)

[47] Lưu Nội thuyên tâu rằng những người được tuyển chọn thi luật và xử án phần nhiều là để tránh hạn tuyển, xin từ nay chỉ cho phép thi một lần. Theo đó.

[48] Ngày Bính Tuất, ban chiếu cho Ty Nông tự dùng 1 triệu quan tiền Thường bình để giúp Tam ty chi phí quân sự. Từ cuối năm Cảnh Hữu, không cho phép sử dụng tiền Thường bình, trong mấy năm qua đã tích lũy được nhiều, nhưng lương thực quân đội không đủ, nên ban chiếu này.

[49] Ngày Kỷ Sửu, Khiết Đan phái Công bộ Thượng thư, Tu quốc sử Đỗ Phòng đến sính, để đáp lễ Quách Chẩn.

(Đỗ Phòng không có Phó sứ, cần xem xét.)

[50] Ngày Canh Dần, điều Hoàn Khánh Kiềm hạt, Lạc Uyển sứ Cao Kế Long làm Tử Quỳ Kiềm hạt. Lúc đó, Nhậm Phúc được thăng chức Quản quân do công lao ở Bạch Báo, Kế Long ghen ghét và hủy báng ông, Phúc đem việc này tâu lên, nên Kế Long bị điều đi.

[51] Ngày Quý Tỵ, Tri châu Vị Châu là Vương Duyên kiêm nhiệm chức Kinh Nguyên bộ thự ty sự.

[52] Chiếu cho các huyện trong thiên hạ, phàm ai bắt được một thăng trứng châu chấu[16], quan phủ sẽ cấp cho ba thăng gạo đậu.

[53] Trước đó, Trực bí các là Triệu Hi Ngôn tấu rằng: “Theo lễ, thiên tử có bảy miếu, gồm năm miếu thân và hai miếu thờ tổ xa. Căn cứ theo cổ lệ, hai tổ Hi và Thuận nên dời đi. Hiện nay, quốc gia xây riêng điện thờ tại các đạo quán và chùa chiền để thờ phụng thần vị, sao bằng mỗi vị chủ lập một miếu một tẩm. Hoặc có thể xây trước một miếu đường, lấy mười sáu gian hiện tại làm tẩm, rồi lập thêm một miếu thờ tổ xa, mỗi gian đều đề tên miếu và tiêu hủy các pháp bảo, thần vị cùng vàng bạc tổng cộng một vạn tám nghìn lạng.”

Ngày Giáp Ngọ, Đồng phán Thái thường tự Tống Kỳ tâu: “Theo chế độ nhà Chu, có miếu có tẩm, để tượng trưng cho việc Vua có triều đình phía trước và tẩm cung phía sau. Miếu cất giữ bài vị bằng gỗ, tẩm cất giữ y phục, mũ. Đến thời Tần, mới dời tẩm ra bên cạnh mộ, nên trên lăng mới gọi là tẩm điện. (Còn tông miếu thì không có tẩm, có lẽ bắt nguồn từ đây.)

Trịnh Khang Thành nói rằng chế độ nhà Chu lập hai chiêu hai mục, cùng với Thái Tổ, Văn Vương, Vũ Vương hợp thành bảy miếu, đây là thuyết của một nhà, chưa đủ để làm căn cứ. Tuân Khanh, Vương Túc đều nói thiên tử có bảy miếu, chư hầu năm miếu, đại phu ba miếu, sĩ một miếu, giảm dần theo cấp bậc, vậy thì số bảy đời của quốc gia, không dùng thuyết của Khang Thành. Từ Hi Tổ đến Chân Tông, mới chỉ sáu đời, không nên vội lập miếu thờ xa.

Từ thời Chu, Hán, mỗi vị đế đều tự lập miếu riêng. Từ thời Tấn, Tống trở đi, phần nhiều cùng điện khác phòng. Triều ta dùng bảy phòng thay cho bảy miếu, tổ tông truyền lại, đã thực hiện lâu rồi, không thể dễ dàng thay đổi. Hơn nữa, thời tổ tông, pháp khí thần ngự còn ít, qua ba đời thánh, tăng thêm lễ sùng phụng, nên bảo lộc, giường khảm đầy hai phòng. 《Chu Lễ》 viết: ‘Thiên phủ chưởng quản việc giữ gìn kho tàng của tổ miếu.’ Những bảo vật truyền đời đều ở đó. Xin hãy lập kho riêng.” Từ đó, trong phòng đề hiệu miếu, xây kho thần ngự ở phía tây Tông chính tự.

[54] Ngày Ất Mùi, điều Tri Tùy châu, Hữu Thiên Ngưu vệ Thượng tướng quân Vương Đức Dụng làm Tri Tào châu. Đức Dùng đi qua Hứa châu, Mai Tuân nói với Đức Dùng: “Đạo Phụ là người hại ông, nay đã chết rồi.” Đức Dùng nói: “Khổng Trung thừa nói theo chức trách của mình, sao lại là người hại Đức Dùng? Triều đình mất một trung thần, thật đáng tiếc!”

[55] Ban đầu, Triệu Tông Xác và những người khác đến Vĩnh Hưng bàn việc biên cương, Hạ Tủng và những người khác cùng tấu: “Hiện nay binh lính và tướng lĩnh chưa được tập luyện, chỉ nên giữ vững phòng thủ, đợi khi địch xâm phạm thì nhân cơ hội đánh úp, đại quân chưa thể khinh suất tiến đánh.” Đến khi Lưu Thừa Tông thua trận[17], Vua lại ban chiếu thư hỏi về thời điểm xuất quân, Hạ Tủng và những người khác bèn vạch ra hai kế sách công và thủ, sai Phó sứ Hàn Kỳ và Phán quan Doãn Chu mang theo trạm dịch đến kinh đô, xin Vua quyết định.

Ngày Kỷ Hợi, họ vào chầu ở điện Sùng Chính. Trước đó đã có chiếu thăng Hàn Kỳ làm Lễ bộ Lang trung, Doãn Chu làm Tập hiền Hiệu lý. Hàn Kỳ tâu rằng: “Thần vì việc lớn, không đợi triệu mà đến kinh đô, nếu may mắn được thăng chức, sẽ không thể dung thứ trong dư luận.” Ông từ chối không nhận.

[56] Ngày Nhâm Dần, Hàn Kỳ tâu: “Ty Kinh lược An phủ Thiểm Tây và Ty Bộ thự, mọi việc làm đều thông báo cho nhau, chỉ có Ty Kinh lược có hai viên Phán quan, xin cho Phán quan Kinh lược kiêm nhiệm việc tham tường ở Ty Đô bộ thự.” Vua đồng ý.

[57] Ngày Quý Mão, Điện tiền phó đô chỉ huy sứ, Ninh Viễn tiết độ sứ Trịnh Thủ Trung được bổ nhiệm làm An Viễn tiết độ sứ, tri châu Từ Châu; Mã quân phó đô chỉ huy sứ, Uy Vũ lưu hậu Cao Hóa được bổ nhiệm làm Kiến Vũ tiết độ sứ, Điện tiền phó đô chỉ huy sứ; Bộ quân phó đô chỉ huy sứ, Vĩnh Thanh lưu hậu Lý Dụng Hòa được bổ nhiệm làm Mã quân phó đô chỉ huy sứ; Điện tiền đô ngu hậu, Anh Châu phòng ngự sứ Tôn Liêm được bổ nhiệm làm Tùy Châu quan sát sứ, Thiên Hùng quân phó đô bố trí; Mã quân đô ngu hậu, Cao Châu phòng ngự sứ Phương Vinh được bổ nhiệm làm Dung Châu quan sát sứ, Bộ quân phó đô chỉ huy sứ; Bộ quân đô ngu hậu, Dương Châu quan sát sứ, Chân Định phủ lộ phó đô bố trí Lưu Hưng được bổ nhiệm làm Chiêu Vũ lưu hậu; Phụng Nhật Thiên Vũ tứ sương đô chỉ huy sứ, Mi Châu phòng ngự sứ, Phu Diên phó đô bố trí Cát Hoài Mẫn được bổ nhiệm làm Điện tiền đô ngu hậu; Long Thần vệ tứ sương đô chỉ huy sứ, Hạ Châu phòng ngự sứ, Hoàn Khánh phó đô bố trí Nhậm Phúc được bổ nhiệm làm Mã quân đô ngu hậu; Ninh Châu thứ sử, Phu Diên phó đô bố trí Hứa Hoài Đức được bổ nhiệm làm Lăng Châu đoàn luyện sứ; Long Thần vệ tứ sương đô chỉ huy sứ Tôn Liêm, Lưu Hưng đều bị cách chức quản quân, nhưng chiếu cho Bộ quân đô ngu hậu, Phụng Nhật Thiên Vũ tứ sương đô chỉ huy sứ[18] đều chưa bổ nhiệm người, đợi tướng biên giới có công sẽ bổ nhiệm.

(Tần Hưng Tông trong 《Quan chế cựu điển》 nói: Tám vị quản quân, tự so sánh với tám vị công trong triều đình, mà võ quan cùng quân môn gọi là “bát phi thê”[19]. Tổ tông tuyển dụng đặt ra quy tắc rất nghiêm, mỗi lần phân chia võ cử thế tộc và người xuất thân từ quân ngũ, nếu không có người thì để trống, nên bốn vị võ cử thế tộc thường đủ, còn bốn vị quân ngũ thường thiếu, vì khó tìm được người mà không dám phế bỏ pháp chế của tổ tông. Xét lời của Hưng Tông, thuyết này có lẽ lấy từ đây, nhưng cũng không hoàn toàn như thế, nay phụ chép[20], cần xem xét thêm.)

[58] Chiếu cho Lại bộ Lưu nội tuyển, chọn người có hai người tiến cử làm huyện lệnh, từ nay phải dùng một quan viên của bộ này mới được thi hành.

[59] Binh bộ Thượng thư, Tham tri chính sự Tống Thụ qua đời, mẹ ông vẫn còn sống. Khi Thụ mới bị bệnh, không ra làm việc, mẹ hỏi thì ông nói: “Đã đỡ nhiều rồi.” Ông còn tiếp khách và trả lời thăm hỏi, làm như mình đang ổn, hy vọng làm dịu nỗi lo của mẹ, nhưng lại sắp xếp việc hậu sự rất chu đáo[21], ngay cả người nhà cũng không biết. Vua đến nhà ông làm lễ viếng, ngừng triều hai ngày, truy tặng Tư đồ kiêm Thị trung, thụy hiệu là Tuyên Hiến[22].

Thụ tính hiếu thảo, cẩn thận, thanh liêm, lời nói việc làm đều có quy củ. Khi còn nhỏ, tay không cầm tiền. Sau này thông hiểu kinh sử và các học phái, văn chương được đương thời ngưỡng mộ. Trong triều có những cuộc thảo luận lớn, ông thường là người quyết định. Khi bàn về văn chương của người xưa, ông luôn chỉ ra được chỗ đúng sai; còn với tác phẩm đương thời[23], thì ông chưa từng phê bình.

Dương Ức từng khen văn của ông “trầm hùng, thuần mỹ, đặc biệt giỏi về phú, ta không bằng được”. Ông có hơn vạn cuốn sách, tự mình hiệu đính. Chữ viết của ông rất tinh xảo[24], Vua từng lấy chữ ông viết trong 《Thiên Tự Văn》, khi ông mất, thu thập nhiều bản chữ của ông cất trong cung.

[60] Ngày Giáp Thìn, Thái thường Bác sĩ, Tập hiền Hiệu lý, Tri Phường Châu Lý Phi Lượng làm Sùng nghi sứ, Tri Phu Châu; Tả Kỵ Kỵ sứ, Phu Diên Kiềm hạt, kiêm Tri Phu Châu Trương Kháng làm Tây thượng Các môn sứ, đổi làm Đô kiềm hạt, đóng quân ở Diên Châu.

(Việc đổi làm Đô kiềm hạt, đóng quân ở Diên Châu, trong Thực lục không có, đây căn cứ theo bản truyện, cần xem xét thêm.)

[61] Thiểm Tây, Hà Bắc, Hà Đông chế trí thanh bạch diêm phó sứ, Tả thị cấm Vương Văn Tư được bổ làm Cáp môn chi hậu. Trước đây, Văn Tư ở Diên Châu, tự ý vào cõi Tây đánh giặc, bị tội cách chức. Đến đây, Hàn Kỳ tâu xin phục chức cho ông.

(Điền Huống trong 《Thập tứ sách》 nói: Phạm Ung nhiều lần sai Vương Văn Tư trước tiên xâm lược, chính là việc này.)

[62] Ngày Ất Tỵ, xuống chiếu cho hai lộ Phu Diên, Kinh Nguyên vào thượng tuần tháng giêng cùng tiến quân đánh giặc Tây. Vua cùng các đại thần hai phủ bàn bạc, bắt đầu dùng kế sách tấn công do Hàn Kỳ vạch ra. Xu mật phó sứ Đỗ Diễn một mình cho rằng xuất quân liều lĩnh, không phải là kế vạn toàn[25], tranh luận mãi không nghe, bèn xin từ chức, cũng không được chấp thuận.

(《Âu Dương Tu mộ chí》 viết: Có đại thần muốn lấy tội ngăn trở quân đội trị tội Diễn. Không rõ đại thần đó là ai, cần khảo cứu thêm.)

Trước đó, Triều Tông Xác đến quân doanh hỏi kế sách công thủ, mọi người đều muốn đại cử, Kinh lược phán quan Điền Kinh nói: “Giặc đã nuôi mưu lâu rồi, không dễ dàng phá ngay được. Nay muốn đưa quân không quen chiến đấu, tiến sâu vào đất địch, tranh thắng một trận với quân địch đang hăng, đó là điều binh gia kiêng kỵ, xuất quân tất thua.” Có người nói: “Nên giảng hòa.” Điền Kinh lại nói[26]: “Quân giặc chưa từng thất bại, sao chịu hòa được?”

(Việc này ghi sau phần Đỗ Diễn không muốn xuất quân, cần khảo cứu thêm.)

[63] Thái tử Trung doãn, Quán các hiệu khám Âu Dương Tu dâng lời rằng:

“Từ khi Nguyên Hạo làm phản ở Quan Tây, dùng binh đến nay, có nhiều người bàn việc nước. Thần trước đây đã nghĩ ra ba kế để đoán tình hình giặc, nhưng thần là kẻ nho sinh ngu muội, không hiểu đại kế của binh gia, ban đầu còn do dự, chưa dám tự tin. Nay dùng binh đã lâu, hình thế giặc đã lộ rõ, như thần từng đoán, không xa lắm, nên thần tự cho rằng có thể giúp ích được phần nào, xin kính cẩn trình bày.

Phía tây quan ải lơ là phòng bị, dân chúng không thấy binh đao đã hai ba mươi năm rồi. Ban đầu, giặc nổi loạn[27], giấu hình ẩn kế, bất ngờ kéo đến. Lúc đó, quân đồn trú biên giới của ta ít ỏi yếu kém, thành lũy chưa hoàn chỉnh, dân quen sống yên ổn lâu ngày nên dễ hoảng sợ, tướng lĩnh không được chọn lựa kỹ nên nhụt chí, khiến giặc có thể xông thẳng vào sâu trong đất liền. Tuy nhiên, uy thế quốc gia chưa suy yếu, sức dân chưa kiệt quệ, giặc chiếm được thành cũng không thể giữ lâu, cướp bóc xong rồi rút đi, ta có thể đón đánh khi chúng rút lui. Đây là hạ sách, nên giặc biết mà không làm.

Rợ Địch xâm lấn biên giới, từ xưa đã là mối họa. Chúng đánh thành cướp đất, thua thì chạy, thắng thì lại đến, đó là chuyện thường tình. Đây là trung sách, nên giặc dùng cả hai. Còn như giả mạo danh hiệu để uy hiếp quần chúng, trước tiên đánh vào những nơi dễ lấy của ta để làm thỏa lòng chúng, sau đó huấn luyện tinh binh làm kế lâu dài. Vì thế, khi chúng đến, dù thắng cũng không tiến lên, không thua cũng tự rút lui, nhằm dụ quân ta vào thế mệt mỏi; hoặc đánh phía đông, hoặc đánh phía tây, khi ra khi vào, khiến quân ta phải phân tán phòng bị nhiều nơi mà không được nghỉ ngơi.

Ta muốn đánh nhanh, nhưng giặc đang hăng hái; ngồi chờ đánh, chúng lại không đến. Cứ thế giằng co, chưa đầy ba bốn năm, quân ta đã già yếu[28], sức dân đã kiệt quệ, không may lại gặp thiên tai lũ lụt, thuế má nặng nề khiến giặc cướp nổi lên khắp nơi, lúc đó giặc dốc toàn lực đánh vào chỗ yếu kém của ta, là được; ta không chịu nổi cảnh khốn cùng, tức giận xuất quân[29], quyết một trận sống mái, giặc lấy sức khỏe đối phó với quân ta mệt mỏi, cũng được; may mà quân ta khổ sở, chưa biết kế sách gì, bèn xin thông hiếu[30], đòi cống nạp hàng năm, thấy ta khốn đốn, không thể không nghe theo, cũng được: Như vậy, khi sức ta suy yếu, mưu kế của giặc không gì không thực hiện được. Đây là kế sách trong binh pháp gọi là không đánh mà làm quân địch mệt mỏi, là thượng sách, mà giặc hiện nay đang dùng.

Hiện nay, ba mươi vạn quân lính đóng ở phía tây đã hai năm rồi, lại còn có mười bốn, mười lăm vạn quân hương binh không cày cấy mà tự ăn của dân. Từ xưa đến nay chưa từng có bốn, năm mươi vạn[31] người liên tục năm này qua năm khác ăn không làm mà quốc lực không kiệt quệ[32].

Thần nghe nói Nguyên Hạo làm giặc, uy có thể khiến kẻ dưới sợ hãi, ân có thể khiến người ta chết vì mình, từ khi mới tiếm phản, thư từ ngạo mạn đã dâng lên, hơn một năm không xuất binh, một khi xuất binh thì sức mạnh không thể địch nổi. Bắt giữ quan lại phiên, bắt sống tướng lĩnh của ta, nhiều lần lễ nghĩa không giết, đó là mưu đồ hung ác đã tích lũy từ lâu, đều không phải là việc bất ngờ. Sao mà hắn có thể dùng thượng sách làm ta mệt mỏi, ta lại không tự biết mình đã kiệt quệ; hắn dùng kế lâu dài để quấy rối ta, ta lại không có kế sách lâu dài để khống chế hắn!

Huấn luyện binh lính, nuôi dưỡng quân đội, chờ thời cơ thuận lợi, dùng mưu kế xuất kỳ, đó là chức trách của tướng súy, tức là việc bên ngoài, mà Vua không can thiệp. Còn như bên ngoài đoán biết mưu đồ của giặc, bên trong xem xét tình thế quốc gia, biết địch biết ta, nhân mưu chế địch[33], đó là đại kế của triều đình, tức là kế sách trong miếu đường mà thắng, không thể không suy nghĩ. Nay mưu đồ của giặc có thể biết được, là dùng lâu dài để làm ta mệt mỏi, tình thế của ta có thể xem xét, người phía tây đã kiệt quệ rồi[34]. Nếu thực sự có thể tích lũy tài sản, lương thực, để giảm bớt gánh nặng cho người phía tây và củng cố quốc lực, tăng cường binh lực, thì mưu đồ của giặc sẽ bị ngăn chặn và kế sách trong miếu đường sẽ thành công.

Binh lực, chỉ là công và thủ, nhưng đều lấy tài lực làm mạnh yếu. Thủ mà không có tài lực thì không thể lâu dài, điều này không cần phải nói. Xin thử bàn về công. Xưa kia, nhà Tần dựa vào sức mạnh của sáu đời để đối phó với người Hồ, cuối cùng làm khốn đốn thiên hạ mà không đạt được ý nguyện. Nhà Hán nhờ vào sự giàu có thời Văn, Cảnh, ba lần xuất binh mới lấy được Hà Nam. Nhà Tùy, Đường thường đối đầu với Đột Quyết, Thổ Phồn, đánh thắng có, nhưng chưa từng một lần tiêu diệt được. Thế mà Tần, Hán đều rất mạnh, những nơi họ đánh chiếm, nay là đất của Nguyên Hạo.

Huống chi từ khi Lưu Bình bại trận, quân địch càng thêm hung hãn, chưa từng bị đánh bại, kế sách công thủ, không phải là điều thần biết được. Uy trời gia hộ, tuy rồi sẽ quét sạch, nhưng tướng lĩnh biên cương vẫn chưa thấy tìm được sơ hở của giặc, đánh bại hung khí của chúng. Như vậy, công và thủ đều chưa có thời gian nghỉ ngơi, mà tài lực lại không có kế hoạch lâu dài, thần chưa thấy điều đó là khả thi. Bốn năm mươi vạn người ngồi không ăn bám, nhưng đất Quan Tây, của cải không tăng thêm, của cải Quan Đông, không thể vận chuyển đến, thuế má vụn vặt, đã bãi bỏ vì không có ích.

Đến việc bán chức để thu lương, dưới không ai hưởng ứng, đổi phép thuế mà thương nhân không đi lại, như vậy bốn năm mươi vạn người chỉ trông vào dân Quan Tây mà thôi, dân Quan Tây sao không khốn đốn? Khốn đốn mà không nổi dậy làm giặc, chỉ chờ hạn hán mà thôi. Ngoài bị giặc làm hao tổn, trong gặp hạn hán mà nhiều biến cố, tai họa của thiên hạ, sao kể xiết? Của cải Quan Tây không thể tăng thêm, ắt phải thông vận tải mà chuyển đến. Vận tải đã thông, mà của cải Quan Đông không đủ, thì không thể chuyển sang Tây được.

Vì thế, thần cho rằng thông suốt việc vận chuyển đường thủy, khai thác hết lợi ích đất đai, kiểm soát thương nhân[35], ba biện pháp này cùng thực hiện, thì tài chính đủ dùng mà người phương Tây được nhẹ nhàng, sức nước vẹn toàn mà binh lính có thể duy trì lâu dài, giữ cũng được, đánh cũng được, tùy ý bệ hạ sử dụng. Còn như những lợi ích nhỏ nhặt trước mắt, vốn không đủ để làm kế lâu dài, cũng không thể thấy hiệu quả ngay trong chốc lát, nên thần dám không tránh trách nhiệm ngu muội, xin dâng lên ba việc tiện lợi, mong bệ hạ xem xét lựa chọn:

– Một là thông vận chuyển đường thủy. Thần nghe nay những người bàn kế sách phía tây đều lo lắng về việc vận chuyển đường thủy không thông suốt. Thần cho rằng chỉ là chưa tìm cách giải quyết mà thôi. Nay kinh đô đặt ở Biện, vận chuyển đường thủy không đi về phía tây, nên người ta quen thấy vậy mà cho rằng không thể đi về phía tây được, không biết rằng thời Tần, Hán, Tùy, Đường, kinh đô đều ở Ung, thì vật chất trong thiên hạ đều có thể vận chuyển về phía tây[36]. Địa hình núi sông không thay đổi so với xưa, con đường vẫn còn đó, người xưa đi được, người nay sao lại không thể?

Đầu thời Hán, mỗi năm vận chuyển vài chục vạn thạch lúa từ Sơn Đông. Lúc đó đường vận chuyển chưa tu sửa, lượng vận chuyển còn ít, sau này Vũ Đế tu sửa thêm kênh Vị, vận chuyển đến hơn trăm vạn thạch. Thời Tùy Văn Đế, dọc theo sông đặt kho, chuyển tiếp vận chuyển, lúa từ Quan Đông, Phần Tấn đều đến Vị Nam, lượng vận chuyển rất lớn. Dấu tích các kho còn lại vẫn còn, nhưng đều có hiểm trở Tam Môn. Từ thời Đường, Bùi Diệu Khanh lại tìm theo dấu vết thời Tùy ở Tam Môn, đặt kho ở đông tây, mở núi 18 dặm để vận chuyển đường bộ, tránh hiểm trở, cuối cùng theo sông vào Vị. Lúc đó mỗi năm vận chuyển không dưới hai ba trăm vạn thạch. Sau đó Lưu Yến theo con đường của Diệu Khanh, vận chuyển toàn bộ gạo Giang, Hoài để làm đầy Quan Tây. Đời sau nói đến người giỏi kinh tài lợi và vận chuyển đường thủy, thì Diệu Khanh và Yến đứng đầu. Nay gạo Giang, Hoài mỗi năm vào Biện[37] sáu trăm vạn thạch, nếu thật sự có thể chia cho Quan Tây, được một hai trăm vạn thạch là đủ. Nay quân lính ăn lương vận chuyển từ Biện, số lượng đi trấn thủ rất nhiều, quan chức không tiếc trăm vạn thạch lúa, chia đều cho họ, chỉ lo ngại Tam Môn ngăn trở ở giữa mà thôi.

Nay nên nạo vét kênh Biện, để việc vận chuyển hàng năm không bị ngăn trở, sau đó tìm theo dấu vết của Diệu Khanh, không ngại khổ cực vận chuyển đường bộ hơn mười dặm, thì đường thủy thông suốt mà vật chất có thể đến được, lại giảm bớt khó khăn cho Quan Tây. Nếu xưa không có cách, nay có thể làm, còn nên làm, huống chi người xưa đã làm mà không xa, người nay làm thì há khó gì? Diệu Khanh và Yến lúc đầu xử lý vận chuyển, thu được còn ít, đến cuối đời, thu nhập gấp mười lần, đó là phép có thể làm lâu dài rõ ràng rồi, đây là lợi ích của vận chuyển đường thủy.

Thần nghe Hán Cao Tổ vào Tần, không đi qua Quan Đông mà đi đường Nam Dương[38], qua Đặng, Tích rồi vào Vũ Quan; Tào Tháo khởi binh giết Đổng Trác, cũng muốn từ Nam Dương đi Đan, Tích rồi vào Trường An, lúc đó Trương Tế cũng từ Trường An ra Vũ Quan[39] chạy về Nam Dương: đó là con đường dùng binh qua lại từ xưa. Thần nhàn rỗi đến Nam Dương, hỏi các bậc lão thành, nói từ Đặng tây bắc đến Vĩnh Hưng sáu bảy trăm dặm, nay các tiểu thương nhân thường đi qua đó.

Ban đầu, Hán Cao Tổ vào cửa ải, quân lính của ông có mười vạn. Con đường có thể chứa được mười vạn quân, hẳn là không quá hẹp và hiểm trở. Nhưng từ khi Lạc Dương trở thành kinh đô, người đi đường đều hướng về phía đông cửa ải, con đường đó lâu ngày bị bỏ hoang. Nay nếu có thể tìm kiếm và khai thông lại, thì các vật phẩm từ mười một, hai châu dọc theo sông Hán như Vũ Xương, Hán Dương, Dĩnh, Phục, Tương Dương, Lương, Dương, Kim, Thương, Quân, Phòng, Quang Hóa đều có thể chuyển về Nam Dương bằng đường thủy. Từ Nam Dương, dùng xe nhẹ, người kéo và chuyển tiếp[40], tuyển mộ thêm mười lăm, sáu trạm chuyển phát, thì vật phẩm từ hơn mười châu sẽ liên tục vào cửa ải mỗi ngày. Vùng đất dọc sông Hán có nhiều gỗ tốt, dân cư gần sông Hán có đủ dư thừa để đóng thuyền xe, việc này không khó.

Trước đây, bệ hạ rất tiếc công sức của các quan, ban thưởng trong cung mấy chục vạn tiền để cung cấp cho phía tây, nhưng đường xá xa xôi, việc vận chuyển kéo dài hơn một năm vẫn chưa xong. Đến việc vận chuyển quân trang, thường gặp khó khăn vì mưa thu. Các châu biên giới đã lạnh, áo mùa đông[41] vẫn còn kẹt trên đường, khó khăn như vậy. Việc bắt các quan chức châu huyện vận chuyển xa về kinh đô, chuyển đổi gặp nhiều khó khăn[42], rồi mới đến được phía tây, sao bằng so sánh các quận gần Nam Dương, tính toán khoảng cách, vào cửa Vũ Quan? Những nơi có khoảng cách tương đương với kinh đô[43], và những nơi gần nhất đều cho phép vận chuyển thẳng về phía tây cửa ải. Nếu kinh đô thiếu hụt[44], thì lấy tiền trong cung ban thưởng cho các quan để thay thế và sử dụng. Việc vòng vo hay thẳng thắn, lợi hại rõ ràng, đây là lợi ích của vận chuyển đường bộ.

– Điều thứ hai là tận dụng lợi đất. Thần nghe rằng người xưa vẽ kế hoạch tài lợi thì dễ thành công, còn người nay bàn về tài lợi thì khó tìm ra phương pháp. Người xưa chỉ đóng thuế mà thôi, nếu không đủ thì đúc núi, nấu biển, độc quyền rượu và trà, đánh thuế chợ và tính toán xe thuyền, vẫn còn có thể làm được để tạm thời đáp ứng nhu cầu.

Từ thời Hán, Ngụy đến nay[45], pháp luật ngày càng tăng, việc thu thuế càng tinh vi, nay các phương pháp thu thuế đã hết. Ngày xưa, ngoài thuế còn có các khoản thu khác để phòng khi có việc. Nay lấy hết các phương pháp thu thuế dùng vào lúc không có việc[46], đều dùng vào những khoản chi tiêu lãng phí, đến khi đột nhiên có việc thì không còn cách nào để tăng thu[47]. Tuy nhiên, vẫn còn có thể làm được: dân làm việc nộp thuế đã mệt mỏi, còn những kẻ nhàn rỗi vẫn thảnh thơi; đất đai sản xuất không thể thay thế, mà đất bỏ hoang còn nhiều: như vậy dân còn sức lực dư thừa, đất còn lợi ích chưa khai thác, điều này có thể làm được.

Hơn nữa, xem xét các đời trước dùng binh, chưa từng không lo việc khai khẩn ruộng đất trước. Thời Hán Vũ Đế, quân đội thiếu thốn, Triệu Quá đưa ra phương pháp cày ruộng để đáp ứng nhu cầu; Triệu Sung Quốc đánh Tây Khương, các quan tranh nhau muốn xuất quân, nhưng Sung Quốc nghĩ đến kế sách toàn thắng, kiên nhẫn chờ đợi kẻ địch suy yếu, đến mức trái chiếu lệnh ngừng binh để lo việc đồn điền, khai khẩn ruộng đất ở biên giới xa xôi, dùng quân du kích để phòng chống cướp bóc, việc khai khẩn ruộng đất không dễ dàng, nhưng vẫn cố gắng làm. Khi Tào Tháo đóng quân ở Hứa Hạ, kẻ địch mạnh bao vây bốn phía, nhìn lại ngày nay, nghi ngờ rằng họ phải chiến đấu ngày đêm không có thời gian rảnh. Nhưng dùng kế của Tảo Chi, Hàn Hạo, lập quan coi ruộng, chiêu mộ dân khai khẩn ruộng đất gần Hứa, mỗi năm thu được mấy trăm vạn thạch. Sau đó, các quận quốc đều khai khẩn ruộng đất, tích trữ được mấy trăm vạn thạch lương.

Thời Tùy, Đường, chế độ ruộng đất càng rộng, không kể xiết. Tình thế khó khăn mà khai khẩn ruộng đất, không ai bằng Triệu Sung Quốc; tình thế cấp bách mà không có thời gian khai khẩn ruộng đất, không ai bằng Tào Tháo, nhưng họ đều cố gắng làm. Không vì chậm trễ mà không khai khẩn ruộng đất, vì biết rằng lợi ích của đất đai rộng lớn và có thể giảm bớt gánh nặng cho dân.

Nay đất đai trong thiên hạ, không canh tác còn nhiều, thần chưa thể nói hết, xin nêu những điều gần đây: từ kinh đô về phía tây, đất bỏ hoang không biết bao nhiêu, không phải vì đất xấu mà bỏ, mà vì người dân không chăm chỉ làm ruộng và phu dịch nặng nề nên bỏ trốn. Đất bỏ hoang lâu ngày, lợi ích gấp mấy lần so với khai khẩn ruộng đất[48]. Nay nếu thúc đẩy họ chăm chỉ, miễn trừ phu dịch, thì người muốn canh tác sẽ nhiều.

Thần nghe rằng hương binh không tiện cho dân, các quan đang bàn luận. Người đi lính bỏ nghề nông, giả vờ tập luyện để uống rượu và đánh bạc, lấy tiền từ nhà mình, không quan tâm có hay không, quan lại không cấm, cha anh không dám hỏi, nhà nhà đều cho là mối lo. Hương binh ở Hà Đông, Hà Bắc, Quan Tây, còn có ích; còn hương binh ở Kinh Đông, Kinh Tây, bình thường không đủ để phòng chống trộm cướp, mà khi hạn hán lũ lụt lại dễ trở thành trộm cướp.

Điều đáng lo ngại hơn cả là vùng Kinh Tây vốn là đất nghèo, không có nguồn lợi từ núi rừng, dân chỉ trông cậy vào việc cày cấy. Nhưng hiện nay, trong ba hộ thì có một người, năm hộ thì có hai người là dân du thủ. Tổng cộng khoảng mười tám, chín châu, nói ít đi cũng có đến bốn, năm vạn người không cày cấy mà vẫn có ăn, đó là tự làm hao tổn lẫn nhau và gây thêm khốn khó[49].

Nay nếu thực sự có thể đuổi hết những người này đi cày cấy trên đất bỏ hoang, nhà nước cho vay giống, thu hoạch hàng năm chia đôi theo phép của dân, chiêu mộ những quan lại quen việc ruộng làm điền quan, khen thưởng họ và khuyến khích, thì dân muốn làm ruộng sẽ nhiều. Thời Thái Tông hoàng đế, thường cho dân Trần, Thái vay tiền để mua trâu cày. Thời Chân Tông hoàng đế, cũng nghe theo lời của Cảnh Vọng, mua trâu ở Hồ Nam để khai khẩn đồn điền. Hiện nay, trâu ở Hồ Nam bán ra phương Bắc hàng năm[50], đều xuất phát từ Kinh Tây, nếu nhà nước mua giúp[51], thì không khó gì.

Hơn nữa, hương binh vốn là nông dân, khi bị ghi vào sổ binh thì bỏ nghề. Nay may mắn họ bỏ nghề nông chưa lâu, có thể đuổi họ trở lại ruộng đồng, không để họ tụ tập uống rượu và đánh bạc, gây phiền hà cho cha anh, đó là điều dân mong muốn. Sức một người không nhàn rỗi, mỗi năm có thể cày một khoảnh đất bỏ hoang[52], nếu bốn, năm vạn người đều cày cấy, thì lợi từ đất bỏ hoang lâu năm sẽ tăng gấp nhiều lần[53], thì lương thực hàng năm sẽ không đếm xuể. Ruộng đất Kinh Tây, phía Bắc có sông lớn, phía Nam đến Hán và phía Tây giáp ải, nếu lại thông được đường thủy bộ, tích trữ lương thực khắp nơi, chỉ cần bệ hạ hạ chiếu cho các cơ quan chuyển dùng mà thôi.

– Thứ ba là việc độc quyền buôn bán. Thần nghe rằng nhà Tần bỏ phép Vua, mở đường cho sự thôn tính, trên thì xâm phạm lợi chung, dưới thì bóc lột dân nghèo, làm mối họa cho nước đã lâu. Từ đời Hán trở đi, thường muốn đặt ra phép tắc để ngăn chặn việc này, nhưng không thể được. Bởi vì người trị nước thì ngày càng tăng thêm lợi ích, kẻ thôn tính thì ngày càng khéo léo tìm kiếm lợi lộc, đến mức cực đoan, thương nhân ngồi không mà nắm quyền lợi quốc gia, nguyên nhân không gì khác, là do lợi ích được mở rộng quá nhiều. Lợi ích mở rộng thì trên khó chuyên quyền, tất phải chia sẻ với dưới, sau đó mới lưu thông mà không bị trì trệ. Nhưng những người bàn luận hiện nay lại muốn đoạt lợi của thương nhân về tay triều đình để độc quyền, nên mưu đoạt lợi của thương nhân càng sâu, mà lợi ích quốc gia càng tổn hại.

Trước đây, các cơ quan hữu ty nhiều lần thay đổi phép tắc, mỗi lần thay đổi, trong một năm lại tổn thất hàng triệu. Những người bàn luận không biết rằng lợi ích không thể độc quyền, muốn độc quyền thì lại càng tổn hại, chỉ nói rằng thay đổi phép tắc chưa hợp lý, thay đổi mãi thì tổn hại càng nhiều. Muốn mười phần lợi đều về tay triều đình, nhưng đến khi thiếu hụt, chưa được ba phần, chi bằng chia sẻ với thương nhân, thường được năm phần.

Hiện nay, lợi ích lớn nhất của quốc gia là trà và muối. Từ khi thay đổi phép tắc, thương nhân không còn buôn bán, một năm mất mát, mấy năm không bù đắp được, chỗ nào cũng tích trữ hỏng nát, bỏ đi rồi đốt. Trước đây, những người bàn luận nhiều lần nói rằng phép thuế ba lần là tiện lợi, các cơ quan hữu ty đã xem xét kỹ rồi, nay nếu thực sự có thể khôi phục lại, khiến thương nhân có lợi mà buôn bán thông suốt, thì trên dưới đều được lợi. Muối ở Giải Trì chất đống như núi, nay nên tạm hạ giá[54], dụ dỗ các thương nhân mà phân phối, trước hết ra lệnh rằng ‘ba năm sau sẽ khôi phục giá cũ’, thì những thương nhân tham lợi sẽ tranh nhau mua. Trà sinh ra từ núi mà vô tận, muối sinh ra từ nước mà không cạn, hạ giá mà phân phối trong ba năm, chưa giảm được một hai phần mười. Vật quý là vì có thể làm tài sản quốc gia. Nay không phân phối mà tích trữ, đó là tiếc rẻ đất cát hỏng nát, có ích gì?

Những thương nhân lớn có thể tích trữ hàng hóa[55], há phải tự mình bán từng đồng xu trên chợ sao? Tất phải có những tiểu thương đến mà chia sẻ. Tiểu thương không có lợi thì không làm[56], nên thương nhân lớn không ghen ghét việc tiểu thương chia sẻ lợi ích của họ, vì dựa vào hàng hóa nhiều, tuy lợi ít nhưng hàng hóa lưu thông nhanh, thì tích tiểu thành đa.

Nay làm nước lớn, có hàng hóa vô tận không cạn, lại ghen ghét việc thương nhân lớn chia sẻ lợi ích[57], đành để hàng hóa vô dụng, tích trữ thành đất cát hỏng nát, sao vậy? Cho nên thương nhân lớn khéo dùng mưu kế thì không tiếc lợi mà dụ dỗ tiểu thương; nước lớn khéo dùng mưu kế thì không tiếc lợi mà dụ dỗ thương nhân lớn: đó là cách chia sẻ lợi ích với thương nhân, lấy ít mà được nhiều. Còn như quan huyện tự mình làm việc buôn bán[58], đó là việc thương nhân lớn không làm, thần cho rằng làm như vậy khó lâu dài. Nếu thực sự không so đo từng đồng xu mà nghĩ đến việc lớn, thì hàng hóa hỏng nát được phân phối mà tiền tệ lưu thông, có thể không tốn công mà đủ dùng.

Thần ngu muội không đủ để hiểu thời sự, nếu như kiên trì phòng thủ để chống giặc, có lợi thì xuất quân quấy nhiễu, những việc nhỏ thuận tiện, xin tạm giao cho các tướng biên cương. Đến như tích trữ lương thực và tiền bạc, thông suốt việc vận chuyển đường thủy, không quá một hai năm mà sức nước dần dồi dào, quân biên cương dần quen chiến đấu, sức mạnh của giặc dần suy yếu, mà có cơ hội để lợi dụng, sau đó một trận mà tiêu diệt chúng, đó là kế vạn toàn vậy.

Xin bệ hạ giao việc nhỏ cho tướng soái, mưu tính đại kế mà thi hành, thì thiên hạ may mắn lắm thay!”

[64] Ngày Bính Ngọ, quốc mẫu nước Khiết Đan sai Tả Thiên Ngưu Vệ Thượng tướng quân Gia Luật Thứ Trung, Sùng Lộc khanh Tôn Văn Chiêu, Khiết Đan chủ sai Sùng Nghi tiết độ sứ Tiêu Thiệu Quân, Tây Thượng Cáp Môn sứ Duy Châu thứ sử Tần Đức Xương đến chúc mừng ngày Chính Đán.

[65] Ngày Đinh Mùi, triều đình ra chiếu cho Khai Phong phủ, Kinh Đông Tây và Hà Đông lộ thu gom 50.000 con lừa để chuẩn bị cho việc đánh phía Tây, theo kế sách tấu lên của Kinh lược ty Thiểm Tây.

(Việc thu gom 50.000 con lừa, Tôn Miễn có tấu nghị, có thể xem xét bổ sung.

Sách 《Đông Hiên Lục》 của Ngụy Thái chép: Sở Chấp Trung thích đùa cợt[59], hay giễu cợt vô lễ. Vào niên hiệu Khánh Lịch, Hàn Ngụy công (Hàn Kỳ) làm tướng ở Thiểm Tây, dẫn quân bốn lộ tiến vào Bình Hạ để đánh Nguyên Hạo. Quân sắp xuất phát, Doãn Chu vốn quen biết Chấp Trung, tiến cử với Hàn công. Hàn triệu ông đến, bàn việc tiến quân vào địch giới. Chấp Trung vốn không muốn tham gia chiến dịch này, bèn hỏi Hàn công: “Gia tộc và trướng của địch không cố định, nếu chúng dời đi xa, khiến quân ta phải đuổi theo, chẳng phải sẽ kéo dài thời gian sao?” Hàn công đáp: “Nay đại quân tiến vào địch giới, sẽ hành quân gấp đôi tốc độ.” Chấp Trung hỏi: “Đường vận lương làm sao đi nhanh được?” Hàn đáp: “Ta đã thu gom hết lừa trong Quan Trung[60] để chở lương thực. Lừa đi nhanh, có thể theo kịp quân. Nếu tiến sâu mà hết lương, có thể giết lừa để ăn.” Chấp Trung từ tốn nói: “Lừa quả là được khen thưởng lớn.” Hàn công nổi giận vì sự vô lễ của ông, nên không cho vào mạc phủ.

Tuy nhiên, việc bốn lộ tiến quân[61] cuối cùng cũng không thành công.

Lại xét: Việc thu gom lừa là sự kiện tháng 12 năm Khang Định nguyên niên, Ngụy Thái nhầm cho là niên hiệu Khánh Lịch, nay phụ chép ở đây để chứng tỏ rằng lúc đó không chỉ Phạm Trọng Yêm không muốn đại cử, hoặc có thể phụ chép thêm ý kiến của Phạm Trọng Yêm về việc đợi mùa xuân sâu mới tiến quân.)

[66] Ngày Mậu Thân, Đồn điền viên ngoại lang, Thông phán Hà Trung phủ là Bì Trọng Dung được bổ nhiệm làm Tri châu Thương Châu, kiêm chức Đề điểm thái đồng chú thiết tiền sự. Trọng Dung từng kiến nghị đúc tiền lớn, một đồng tiền lớn tương đương mười đồng tiền nhỏ. Sau khi đưa ra bàn bạc với hai chế và Tam ty, mọi người đều cho rằng có thể tạm thời thực hiện để hỗ trợ chi phí biên giới, nên có mệnh lệnh này.

Trước đó, Hàn Kỳ khi làm An phủ sứ Thiểm Tây, từng nói rằng Thiểm Tây sản xuất nhiều sắt, có thể đúc tiền và sử dụng song song. (Điều này được ghi trong gia truyền của Hàn Kỳ.) Do đó, Diệp Thanh Thần theo đề nghị của Trọng Dung, đúc tiền lớn một đồng đổi mười đồng.

Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Đinh Độ tâu rằng: “Tiền Ngũ Thù đời Hán, tiền Khai Nguyên đời Đường và pháp chế tiền tệ của triều ta, đều có trọng lượng và kích thước vừa phải, là chuẩn mực nhất. Các đời thay đổi[62], pháp chế dù tinh vi[63], nhưng không thể kéo dài được một năm, lại phải đúc lại. Những người bàn luận muốn dùng pháp luật nghiêm khắc để ngăn chặn việc đúc tiền giả.

Xưa, nhà Hán thay đổi tiền tệ[64], số người chết vì đúc tiền giả lên đến hàng chục vạn; đời Đường đúc tiền Càn Nguyên và Trọng Luân Càn Nguyên, tiền nhẹ mà giá trị lớn, hình phạt nghiêm khắc cũng không thể ngăn chặn được. Nay quân lính trấn giữ biên giới, mỗi tháng được cấp một trăm đồng, nhưng tiền lớn chỉ có mười đồng, không thể sử dụng lẻ được. Tiền cũ không lưu hành, tiền mới càng nhẹ, khiến giá lương thực và cỏ khô tăng cao.

Thần từng làm Tri châu Hồ Châu, thấy dân vi phạm lệnh cấm buôn trà, nhận một ngàn đồng, lập khế ước để thay cho việc bị đánh roi[65]. Ở Kinh Tây, có kẻ cướp giết người, lấy quần áo cũ, giá trị chỉ vài trăm đồng. Lợi nhuận từ việc đúc tiền giả, không chỉ gấp vài lần. Lại có những nơi núi non hiểm trở, bọn cướp tụ tập, lò luyện kim ngày càng nhiều, lúc bình thường thì đúc tiền[66], lúc nguy cấp thì làm cướp. Đồ dùng bằng đồng và chì trong dân gian đều bị đúc thành tiền lớn, làm sao ngăn chặn được!”

(Bản chí chép: Khi quân đội hưng thịnh, Thiểm Tây thiếu hụt ngân sách[67], bắt đầu theo đề nghị của Tri châu Thương Châu Bì Trọng Dung, khai thác đồng xanh ở núi Hồng Nhai, huyện Lạc Nam và lò Thanh Thủy, châu Quắc, lập hai giám Phụ Dân[68], Chu Dương để đúc tiền. Xét theo Thực lục, thì đúc tiền sắt, khác với bản chí, cần xem xét thêm. Tôn Miễn tâu xin bãi bỏ việc đúc tiền lớn, nên xóa bỏ phần phụ lục.)

[67] Tướng tác giám thừa thông phán Nghi Châu Cảnh Truyền, Cung bị khố phó sứ tri Thanh Giản thành là Chủng Thế Hoành cùng lo việc kế hoạch lương thảo cho quân đội Thiểm Tây. Cảnh Truyền là người Hà Nam.

[68] Quyền Tam ty sứ Diệp Thanh Thần tâu rằng phép mới về trà chưa thích hợp[69], xin chọn đại thần am hiểu tài lợi để bàn lại việc thuế khóa. Vua cho rằng hiệu lệnh thay đổi nhiều khiến dân chúng hoang mang, bèn hạ chiếu cho Tam ty định lại, cốt sao thuận lợi cho người buôn bán, nhưng rốt cuộc cũng không thay đổi gì.

(Trước đây, năm Minh Đạo thứ hai, lại dùng chế độ cũ từ năm Thiên Hy, cho phép thương nhân đem tiền và lương thực đến kinh sư cùng các châu quân Hoài, Chiết, Giang Nam, Kinh Hồ để đổi lấy muối, việc này căn cứ theo 《Thực hóa chí》 quyển 4, đã chép vào cuối năm Minh Đạo thứ hai. Đến năm Cảnh Hữu thứ hai, Tam ty tâu rằng việc buôn bán ở các lộ không có lợi, bèn bãi bỏ, nhưng việc đem tiền đến kinh sư vẫn giữ như cũ. Việc này cũng căn cứ theo 《Thực hóa chí》 quyển 4. Chiếu năm Cảnh Hữu thứ hai, Thực lục không chép, nay tạm theo bản chí chép vào đây.)

[69] Năm đó, lại hạ chiếu cho thương nhân đem cỏ khô và lương thực đến biên giới Thiểm Tây, nếu muốn nhận muối Đông Nam thì tăng số lượng cho họ.

(Việc này cũng căn cứ theo 《Thực hóa chí》 quyển 4, chí chép là chiếu năm Khang Định nguyên niên, nhưng Thực lục cũng không có, nay tạm chép vào đây.)

[70] Nhân lúc lúa ở Hà Bắc rẻ, Tam ty bèn xin các châu trong nội địa thi hành phép ba thuế, chiêu mộ người đem hàng vào, dùng muối Đông Nam thay tiền thật ở kinh sư, hạ chiếu mua đến hai mươi vạn thạch thì thôi.

(Việc này căn cứ theo 《Thực hóa chí》 quyển 3. Ở quyển 4[70] chép thêm về việc tăng số lượng và muối Đông Nam, lại nói: Hà Bắc dùng phép ba thuế, cũng dùng muối thay tiền mân ở kinh sư, tức là điều chép ở quyển 3. Quyển 3 chép hơi chi tiết, nay dùng theo đó.)


  1. Nguyên bản chép 'Nghiêu Tá', theo Tống bản, Tống toát yếu và 《Đông Đô Sự Lược》 quyển 13, phần Thế gia 1 - Ôn Thành Hoàng hậu Trương thị sửa lại
  2. Nguyên bản chép 'thị', Tống bản và Tống toát yếu đều chép 'thị'
  3. Nguyên bản thiếu chữ 'trưởng', theo Tống toát yếu và 《Đông Đô Sự Lược》 quyển 13, phần Thế gia 1 - Ôn Thành Hoàng hậu Trương thị bổ sung. 《Tống sử》 quyển 242, phần Bản truyền chép: 'Lớn lên được sủng ái, hưởng ân sủng lớn'
  4. Các bản khác chép 'tần thị'
  5. Niêm phong ấn, trên đó nguyên có chữ 'Chương nang', căn cứ theo bản Tống, bản các và 《Tống sử》 quyển 196 《Binh chí》 mà bỏ.
  6. rộng hai trượng, chữ 'hai' nguyên là 'ba', theo bản Tống, bản Tóm tắt và sách 《Tống sử》 quyển 103, Lễ chí sửa lại.
  7. dùng một con dê, chữ 'dê' nguyên là 'bò đực', theo bản Tống, bản Tóm tắt, bản Các và 《Tống sử》 sửa lại.
  8. hàng năm vào tháng ba, tháng chín chọn ngày, hai chữ 'tháng chín' nguyên bản thiếu, theo 《Tống sử》 và 《Tục thông giám》 quyển 42 bổ sung.
  9. hai bản gửi đến Trung thư, Xu mật viện, chữ 'hai' nguyên là 'một', theo ý văn và bản Các sửa lại.
  10. Huyện úy huyện Kinh, chữ 'Kinh' nguyên bản viết là 'Kinh', xét thời Tống không có huyện 'Kinh', theo bản trong các sách sửa lại.
  11. 'về quy thuận' nguyên bản viết là 'quy thuận về', theo bản trong các sách sửa lại.
  12. Theo 《Tống hội yếu》 binh 11-16, 'Đồng tuần kiểm' được ghi là 'Đô đồng tuần kiểm'.
  13. chữ 'chi' dưới nguyên có chữ 'ngộ', theo bản các bỏ
  14. '12.000' nguyên văn là '20.000', căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 285, truyện Giả Xương Triều, đã sửa lại
  15. chép việc này vào tháng 9, chữ 'ư' nguyên bản thiếu, theo bản Tống và bản Tóm tắt của Tống bổ sung
  16. 'phàm' nguyên bản là 'dân', theo bản Tống, Tống toát yếu và 《Tống sử toàn văn》 quyển 7 hạ sửa lại.
  17. Lưu Thừa Tông, chữ 'Tông' nguyên bản là 'Trung', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác sửa lại.
  18. Tôn Liêm, Lưu Hưng đều bị cách chức quản quân, nhưng chiếu cho Bộ quân đô ngu hậu, Phụng Nhật Thiên Vũ tứ sương đô chỉ huy sứ 'Tôn Liêm' trở xuống 25 chữ nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản bổ sung.
  19. 'Phi thê' Tống bản, Tống toát yếu bản chép là 'Hàng thê'.
  20. Nay phụ chép 'Phụ chép' nguyên bản chép là 'Sở kiến', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa.
  21. 'Sắp xếp' nguyên bản là 'sửa chữa', theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống, bản Các và sửa lại.
  22. 'Tuyên Hiến' nguyên bản là 'Trung Hiến', theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống, bản Các và 《Đông Đô Sự Lược》 quyển 57, 《Tống Sử》 quyển 291 bản truyện sửa lại.
  23. 'Đương thời' nguyên bản là 'Đương thì', theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống sửa lại.
  24. 'Tinh xảo' nguyên bản là 'Tinh hảo', theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và 《Đông Đô Sự Lược》 quyển 57, 《Tống Sử》 quyển 291 bản truyện sửa lại.
  25. 'kế' nguyên là 'sách', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 《Trị tích thống loại》 quyển 8 《Nhân Tông kinh chế Tây Hạ yếu lược》, 《Tống sử toàn văn》 quyển 7 hạ sửa lại.
  26. 'Kinh' nguyên thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tống sử toàn văn》 quyển 7 hạ bổ sung.
  27. Ban đầu giặc nổi loạn, 'nổi loạn' nguyên văn là 'manh động', theo bản Tống, bản Tóm tắt đời Tống, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 quyển 45 sửa lại.
  28. Quân ta đã già yếu, 'già yếu' nguyên văn là 'mệt mỏi', theo bản Tống, bản Tóm tắt đời Tống và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 sửa lại.
  29. Tức giận xuất quân, 'tức giận' nguyên văn là 'bất ngờ', theo bản Tống, bản Tóm tắt đời Tống, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 sửa lại.
  30. Xin thông hiếu, 'xin' nguyên văn là 'vào', theo bản Tống, bản Tóm tắt đời Tống và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 sửa lại.
  31. Bốn, năm mươi vạn nguyên văn là 'bốn mươi lăm vạn', căn cứ theo sách trên và 《Biên niên cương mục》 quyển 11 sửa lại, đoạn dưới nói 'bốn, năm mươi vạn người ngồi mà ăn', cũng có thể chứng minh.
  32. 'Không kiệt quệ' nguyên văn trên có chữ 'có', căn cứ theo bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 quyển 45, 《Biên niên cương mục》 quyển 11 bỏ đi.
  33. 'Nhân mưu chế địch' nguyên văn là 'Khốn mưu tri địch', căn cứ theo 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 quyển 45 sửa lại. 'Tri', bản Tống, bản tóm tắt Tống cũng đều viết là 'chế'.
  34. 'Người phía tây đã kiệt quệ rồi' nguyên văn 'tây' viết là 'nhi', căn cứ theo bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 quyển 45 sửa lại.
  35. kiểm soát thương nhân, chữ 'kiểm' nguyên bản là 'quyền', căn cứ theo 《Trị tích thống loại》 quyển 8, 《Nhân Tông kinh chế Tây Hạ yếu lược》, 《Biên niên cương mục》 quyển 11 mà sửa. Các chỗ sau cũng vậy.
  36. 'về phía tây' chữ 'tây' nguyên bản thiếu, theo bản Tống toát yếu và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 quyển 45 bổ sung
  37. 'vào Biện' chữ 'vào' nguyên bản thiếu, theo sách trên bổ sung
  38. 'đi đường Nam Dương' chữ 'đi' nguyên bản là 'thông', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 quyển 45 sửa. Dưới đây 'đi Đan, Tích' cũng vậy
  39. 'từ Trường An ra Vũ Quan' chữ 'ra' nguyên bản là 'vào', theo sách trên sửa
  40. chữ 'nhân' bị thiếu, theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 quyển 45 bổ sung
  41. nguyên văn là 'y phục', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 quyển 45 sửa
  42. chữ 'mạo' nguyên văn là 'tào', theo sách trên sửa
  43. chữ 'dữ' bị thiếu, dưới chữ 'chí' có chữ 'vu', chữ 'viễn' nguyên văn là 'đắc', theo bản Tống, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 quyển 45, 《Biên niên cương mục》 quyển 11 bổ sung, bỏ, sửa
  44. chữ 'hữu' bị thiếu, theo bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》, 《Biên niên cương mục》 bổ sung
  45. Chữ 'Ngụy' trong 'Hán Ngụy' vốn bị thiếu, theo bản Tống toát yếu, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 quyển 45 bổ sung.
  46. Chữ 'dụng' trong 'dụng ư vô sự chi thời' vốn bị thiếu, theo sách trên bổ sung.
  47. Chữ 'pháp' trong 'vô pháp khả tăng' vốn bị thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công tập》 quyển 45 bổ sung.
  48. Chữ 'lợi' trong 'kì lợi số bội ư doanh điền' vốn là 'địa', theo sách trên sửa lại.
  49. 'Tự làm hao tổn lẫn nhau và gây thêm khốn khó': 'Tự' và 'làm' nguyên bản đảo ngược, căn cứ theo sách trên sửa lại.
  50. 'Bán ra phương Bắc': 'Bắc' nguyên bản là 'Đây', căn cứ theo 《Âu Dương Văn Trung Công Tập》 quyển 45 sửa lại.
  51. 'Mua giúp': 'Mua' nguyên bản là 'Bán', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công Tập》 quyển 45 sửa lại.
  52. 'Sức một người không nhàn rỗi, mỗi năm có thể cày một khoảnh đất bỏ hoang': Bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công Tập》 quyển 45 đều ghi là 'Sức một người, nếu nhàn rỗi, có thể cày một khoảnh ruộng man'.
  53. 'Lợi sẽ tăng gấp nhiều lần': 'Lợi' nguyên bản thiếu, căn cứ theo sách trên bổ sung.
  54. Tạm hạ giá 'giá' chữ 'kì' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và bản Âu Dương Văn Trung công tập bổ sung.
  55. Tích trữ hàng hóa 'tích' nguyên bản là 'súc', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và Âu Dương Văn Trung công tập quyển 45 sửa.
  56. Không có lợi thì không làm 'không' nguyên bản là 'làm', căn cứ theo sách trên sửa.
  57. Lại ghen ghét việc thương nhân lớn chia sẻ lợi ích 'lại' nguyên bản là 'nãi', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và Âu Dương Văn Trung công tập quyển 45 sửa.
  58. Tự mình làm việc buôn bán 'việc' nguyên bản là 'chợ', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và Âu Dương Văn Trung công tập quyển 45 sửa.
  59. 'thích đùa cợt' thiếu chữ 'vi', căn cứ vào bản khác bổ sung. Bản Tống và 《Tống Toát Yếu》 chép là 'thiên tư hoạt kê'
  60. 'Quan Trung' nguyên bản chép là 'Mân Trung', căn cứ vào bản Tống, 《Tống Toát Yếu》 và bản khác sửa lại
  61. 'Tuy nhiên, việc bốn lộ tiến quân' thiếu chữ 'nhiên', căn cứ vào sách trên bổ sung
  62. chữ 'cải' trong 'lịch đại cải canh' ban đầu bị thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống sử quyển 292 Đinh Độ truyền bổ sung
  63. chữ 'sảo' trong 'pháp tuy tinh mật' ban đầu có, theo sách trên đã bỏ
  64. chữ 'tích' trong 'tích Hán biến tiền tệ' ban đầu viết là 'nhược', theo các bản và Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 45 Thương Châu đúc tiền lớn, Tống sử quyển 292 Đinh Độ truyền sửa
  65. chữ 'đại' trong 'đại tiên bối' ban đầu viết là 'tại', theo sách trên sửa
  66. chữ 'tắc' trong 'cư tắc chú tiền' ban đầu bị thiếu, theo sách trên sửa
  67. chữ 'di' trong 'di dụng bất túc' ban đầu viết là 'phú', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 45 Thương Châu đúc tiền lớn sửa
  68. chữ 'dân' trong 'Phụ Dân' ban đầu bị thiếu, theo sách trên và Tống sử quyển 180 Thực hóa chí hạ 2 bổ sung
  69. Phép mới về trà chưa thích hợp, chữ 'phép' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống toát yếu, bản các và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 45 về phép trà bổ sung.
  70. Quyển 4, chữ 'đệ' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống toát yếu, bản các và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 45 về việc đổi muối Đông Nam bổ sung.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.