IV. TỐNG NHÂN TÔNG
QUYỂN 134: NĂM KHÁNH LỊCH THỨ NHẤT (TÂN TỴ, 1041)
Từ tháng 10 đến tháng 12 năm Khánh Lịch thứ nhất đời Vua Nhân Tông.
[1] Tháng 10, mùa đông, ngày Đinh Sửu, mùng một, Thiểm Tây chuyển vận sứ Biện Hàm tâu xin từ nay, nếu bản ty cử quan viên đi phục vụ quân sự mà dám trì hoãn hoặc địa phương giữ lại không cho đi, đều xử theo tội vi phạm chế độ. Vua đồng ý.
[2] Ngày Mậu Dần, Hà Bắc chuyển vận ty xin điều động dân phu tu sửa thành trì các châu, tổng cộng 21 châu. Vua đồng ý. Lúc này nghe tin quân Khiết Đan đang mưu tính xâm lược.
(Việc Khiết Đan mưu xâm lược ghi trong 《Kê Cổ Lục》. Việc tu sửa thành 21 châu ghi trong 《Sóc Lịch》).
[3] Ngày Kỷ Mão, Vua ban chiếu: “Trước đây nghe nói việc điều động lương thảo theo quân ở Thiểm Tây khiến dân chúng rất khổ cực. Từ nay, quân sĩ xuất chinh đều được cấp lương mang theo.”
[4] Ngày Canh Thìn, Sai Hộ bộ phó sứ, Binh bộ lang trung Lý Tông Vịnh và Cung bị khố sứ, Đái ngự khí giới Vương Tòng Chính đến Hà Đông xem xét việc tu sửa lại trại Ninh Viễn; Hữu chánh ngôn, Trực sử quán, Đồng tu khởi cư chú Lương Thích đến Thiểm Tây lo việc chuẩn bị lương thảo.
[5] Nội thị Hữu ban đô tri Vương Thủ Trung tâu xin từ nay, Quân đầu ty tuyển mộ binh sĩ từ các châu ngoài, người nào cao từ 5 thước 5 tấc trở lên, có tài năng và dũng cảm, đều cho vào quân Vạn Thắng chỉ huy. Vua đồng ý.
[6] Tri Tịnh châu Dương Giai tâu rằng: “Hiện nay dù có được trăm vạn dân khỏe mạnh, e rằng vẫn chưa đủ đối phó với giặc. Xin tăng thêm 6-7 vạn quân chính quy ở bản lộ.” Vua trả lời: “Từ xưa, biên phòng đều dùng binh địa phương, chỉ cần huấn luyện tốt là được. Những người khỏe mạnh được tuyển mộ, nếu được tập luyện thường xuyên và dùng cùng quân chính quy, lo gì không đối phó được với giặc?”
Trước đây, khi Nguyên Hạo xâm lược, Vua ban mật chiếu cho Dương Giai tuyển một vạn dân khỏe mạnh để ứng phó ở Lân, Phủ. Dương Giai tâu rằng: “Xuất quân ra trận mà không có kỷ luật thì binh sĩ không tuân lệnh. Nay phát động nông dân ra biên giới, e rằng họ sẽ bỏ trốn trên đường hoặc rút lui khi ra trận, không tuân theo hiệu lệnh. Xin xử theo quân pháp.” Vua đồng ý. Dân Tịnh châu rất sợ hãi. Đô chuyển vận sứ Văn Ngạn Bác tâu xin bãi bỏ việc này.
(Văn Ngạn Bác năm sau mới làm Đô tào, lúc này chưa phải, chỉ là Chuyển vận phó sứ. Sử chép nhầm).
[7] Ngày Quý Mùi, Đô giám Phu Diên là Chủng Thế Hoành xin chiêu mộ dân đinh ở thành Thanh Giản, không xăm mặt, đặt tên riêng thành một quân, Vua nghe theo.
[8] Ngày Đinh Hợi, Tri châu Tịnh Châu là Dương Giai tâu rằng: “Lân Châu, Phong Châu và Ninh Viễn Trại đều nằm ngoài sông, tiếp giáp với địch, không có một tấc lụa hay một hạt thóc nào đóng góp để giúp triều đình, mà Lân Châu mỗi năm tiêu tốn một triệu quan tiền. Hiện nay, Phong Châu và Ninh Viễn Trại đã bị địch phá hủy. Chỉ còn Lân Châu là một thành trì cô lập, cách Phủ Châu 140 dặm, nằm ở vùng biên giới xa xôi. Dù Ninh Viễn Trại nằm giữa hai châu, có thể làm nơi đóng quân và tiếp ứng, nhưng trong đó không có nguồn nước để phòng thủ. Nếu muốn tu sửa lại, chỉ tốn tiền của quốc gia.
Nay xin xây dựng Lân Châu mới ở bờ đông sông Hoàng Hà, thuộc Hợp Hà Tân, Lam Châu, trên núi Bùi Gia. Nơi này bốn mặt hiểm trở, có nguồn nước, và bờ tây sông đối diện có đất Bạch Tháp, cũng có thể xây một trại để đóng quân nhẹ. Hơn nữa, bờ tây sông đều thuộc địa phận Lân Châu, không mất đất cũ. Thấy lợi thì tiến, không thì cố thủ. Vì Lân Châu cũ nguy hiểm và quân ít, nếu đóng nhiều quân thì lương thực không đủ, ít quân thì khó giữ, nên dời xa để đến gần, không phải là thu hẹp lãnh thổ. Nếu nói rằng dời Lân Châu thì địch sẽ áp sát biên giới, đó là không hiểu rằng người Di Địch di chuyển như chim, không thể ở lâu một chỗ. Nếu chúng đến ở, phải cày cấy đất đai, ta có thể dùng quân nhỏ từ bờ tây sông quấy nhiễu, chúng sao có thể giữ được kế hoạch tự vệ?
Vì vậy, thần cho rằng dời châu có năm lợi, không dời thì có ba hại. Tiết kiệm tiền của quốc gia, giảm gánh nặng cho dân, là lợi thứ nhất. Phòng thủ nội địa từ Khả Lam, Bảo Đức, Hỏa Sơn và Lam Châu, Thạch Châu, Phủ Châu dọc sông, là lợi thứ hai. Ta chiếm giữ vị trí then chốt, dù sông đóng băng, địch cũng không dám vượt sông sang đông, là lợi thứ ba. Thương nhân qua lại, thông thương hàng hóa, là lợi thứ tư. Khi sông đóng băng, có thể đóng 5-7 nghìn quân dọc sông để tăng thế quân, là lợi thứ năm.
Hiện nay, việc vận chuyển lương thực đến Lân Châu tốn nghìn quan tiền, nếu không dời châu, dân Hà Đông sẽ mãi khổ vì điều động, là hại thứ nhất. Dùng thành trì cô lập làm mồi nhử địch, là hại thứ hai. Đường sá hiểm trở, viện binh khó đến, là hại thứ ba. Hơn nữa, bốn phía châu, người Khương bị địch đe dọa, tan tác hết, chỉ còn thành trì cô lập, như tứ chi đã mất mà chỉ còn đầu mặt và tim phổi. Nay Khiết Đan lại cùng Tây tặc mưu tính, đợi sông đóng băng sẽ tấn công Hà Đông. Nếu triều đình không nghĩ cách phòng thủ mà tu sửa Ninh Viễn Trại, đó là cầu hư danh mà bỏ qua đại họa. Huống chi Linh Châu, Hạ Châu đều là quận cổ thời Đường, Hán, một sớm một chiều bỏ đi, một Lân Châu có gì đáng tiếc!”
Vua nói với các đại thần: “Lân Châu là quận cổ. Năm Hàm Bình, từng bị giặc bao vây, không phải là không thể giữ được. Nay vội vàng bỏ đi, là muốn lùi lại lấy sông Hoàng Hà làm biên giới. Hãy bảo Dương Giai nhanh chóng tu sửa Ninh Viễn Trại để cứu viện Lân Châu.”
[9] Ngày Mậu Tý, sai Hộ bộ phó sứ Lý Tông Vịnh, Đái ngự khí giới Vương Tòng Thiện đến doanh độ Ninh Viễn trại. (Việc này căn cứ theo Sóc lịch.)
[10] Phong nhũ mẫu của Hoàng hậu là Trường An huyện quân Chu thị làm Nhữ Nam quận quân.
[11] Ngày Kỷ Sửu, quan Ngự sử đài suy trực, Bí thư thừa Lý Tông Dịch tâu rằng: “Vâng chiếu đến Hà Đông chiêu mộ người cường tráng sung quân, nhưng những người cường tráng này tránh việc bị thích chữ lên mặt nên phần nhiều bỏ trốn. Xin chỉ thích chữ lên tay họ.” Triều đình đồng ý.
(Thực lục chép vào ngày Mậu Dần, nay theo Sóc lịch.)
[12] Ngày Nhâm Thìn, Đồng phán Thái thường tự Lữ Công Xước tâu: “Các đời làm lễ giao tế, vị trí phối hưởng không có hướng nghiêng. Chân Tông từng chỉ bức vẽ phong thiền cho các quan phụ chính và nói: ‘Trẫm từng thấy lễ giao tế Hạo Thiên Thượng đế, không ngồi chính diện, vì Hoàng Địa Kỷ ngồi kế bên. Nay tu sửa đàn phong thiền, Thượng đế nên ngồi ở vị trí chính, còn Thái Tổ, Thái Tông phối hưởng nên theo lễ giao tế mà đặt nghiêng.’ Sau đó, các quan không hiểu ý tiên đế muốn báo công thành tựu và tuỳ nghi thay đổi, mỗi khi soạn lễ Nam Giao, vừa dẫn văn thời Tường Phù về việc đặt nghiêng, lại ghi cả lễ nghi hướng tây bắc, đến lúc làm lễ thì tuỳ ý chọn một cách, chưa từng xác định rõ ràng. Xin từ nay về sau, vị trí phối hưởng của tổ tông trong lễ Nam Giao đều quy định là hướng tây ở phía đông.” Chiếu chuẩn.
Công Xước lại nói: “Các đồ tế lễ ở giao miếu đều theo đúng cổ chế, nhưng không chứa rượu tam tửu, ngũ tề, nước minh thủy, rượu minh tửu, các cơ quan cứ theo thói quen, coi đó là ‘đồ để xem’. Ở giao miếu, vị trí phối hưởng với trời đất chỉ dùng rượu tế tự, chia làm hai thăng cho vị trí đại tế và trung tế, một thăng cho vị trí tiểu tế, chỉ có một tôn để dâng rượu hiến tế, một tôn để uống phúc. Nên chiếu cho quan coi rượu theo pháp chế tề, rượu, chia đều vào các tôn lôi. Các cơ quan lấy nước minh thủy, đối với rượu minh tửu đổ vào tôn trên. Quan lễ cho rằng chú giải của Trịnh thị về 《Chu Lễ》 ‘ngũ tề, tam tửu’, chỉ dẫn theo tên rượu thời Hán để so sánh[1], mà không có chế tạo.
Xin vẫn dùng rượu tế tự như cũ, các tôn lôi ở đàn điện trên dưới, các cơ quan không bày đồ trống, và theo chế độ nhà Đường dùng nước giếng thay cho nước minh thủy, rượu minh tửu; vị trí chính phối dâng rượu hiến tế, uống phúc, trước dùng hai thăng rượu thì mỗi thứ tăng thêm hai thăng, các vị thần tòng tự, dùng số thăng cũ đổ đầy vào các tôn lôi.” Đều theo lời tâu.
[13] Ngày Giáp Ngọ, điều Phán quân Vĩnh Hưng, Tuyên Huy Nam Viện Sứ, Trung Vũ Tiết Độ Sứ, Thiểm Tây Mã Bộ Quân Đô Bộ Thự, kiêm Kinh Lược An Phủ Duyên Biên Chiêu Thảo Sứ Hạ Tủng làm Phán phủ Hà Trung, Tri quân Vĩnh Hưng, Tư Chính Điện Học Sĩ, Công Bộ Thị Lang, Đồng Thiểm Tây Mã Bộ Quân Đô Bộ Thự, kiêm Kinh Lược An Phủ Duyên Biên Chiêu Thảo Sứ Trần Chấp Trung làm Tri châu Thiểm.
Tủng vốn có ý ở triều đình, đến khi nhận việc ở phía tây, thường do dự tránh né, lâu ngày không có công trạng, lại bất đồng ý kiến nhiều với Chấp Trung, đều dâng biểu xin giải chức binh quyền, và Gián quan Trương Phương Bình cũng xin bãi chức thống soái của Tủng. Chấp Trung lại nói việc binh cần giữ bí mật, nghìn dặm phải theo mệnh lệnh, không phải là cách để chế thắng, nên giao cho bốn lộ mỗi nơi giữ vững biên giới, ý kiến gần giống với Phương Bình. Triều đình cho là phải, bèn bãi chức cả hai người, bắt đầu chia Thiểm Tây làm bốn lộ.
[14] Xu mật trực học sĩ, Khởi cư xá nhân, quản câu Tần Phượng lộ bộ thự ty sự kiêm Tri Tần châu Hàn Kỳ làm Lễ bộ lang trung; Xu mật trực học sĩ, Hình bộ lang trung, quản câu Kinh Nguyên lộ bộ thự ty sự kiêm Tri Vị châu Vương Duyên làm Hữu ty lang trung; Long đồ các trực học sĩ, Hộ bộ lang trung, quản câu Hoàn Khánh lộ bộ thự ty sự kiêm Tri Khánh châu Phạm Trọng Yêm làm Tả ty lang trung; Long đồ các trực học sĩ, Lễ bộ lang trung, quản câu Phu Diên lộ bộ thự ty sự kiêm Tri Diên châu Bàng Tịch làm Lại bộ lang trung, đều kiêm chức Bản lộ Mã bộ quân đô bộ thự, Kinh lược an phủ duyên biên chiêu thảo sứ.
[15] Gián quan Trương Phương Bình tâu: “Kinh Nguyên so với bốn lộ là nơi xung yếu nhất đối với giặc, Vương Duyên tuy đã từng làm quan xử lý công việc, có chút thành tích, nhưng chưa từng đảm nhận trọng trách[2], e rằng khó lòng đương đầu với giặc mạnh. Hơn nữa, ông ta vừa được thăng chức, liền ngang hàng với những người đã có công lao lâu năm ở ba lộ khác, chắc chắn sẽ khiến họ bất mãn. Xin hãy chọn một người trong ba lộ để thay thế Vương Duyên, như vậy mới hợp lòng người.” Nhưng không được chấp thuận.
[16] Chiếu cho Thiểm Tây chuyển vận ty xem xét đất hoang để lập doanh điền vụ.
[17] Ngày Ất Mùi, bổ nhiệm Tri Thanh Giản thành, Cung bị khố phó sứ, Phu Diên đô giám Chủng Thế Hoành quản câu Đông lộ doanh điền.
[18] Chiếu rằng từ nay các Phó sứ Tam ty sẽ sắp xếp thứ tự theo thời gian nhậm chức, khi ký duyệt văn thư thì ưu tiên Diêm thiết, sau đó là Độ chi, rồi đến Hộ bộ. Trước đây, khi Phó sứ Tam ty khuyết chức, thường thăng bổ theo thứ tự, không thể giữ chức lâu dài nên nhiều việc bị bỏ bê, vì thế ban chiếu này.
[19] Ngày Bính Thân, chiếu rằng từ nay các Phó sứ Tam ty nếu gặp tang sự sẽ được khởi phục theo lệ của hai chế. Lúc đó, Diêm thiết phó sứ Trương Tích mất mẹ, Tam ty sứ Diêu Trọng Tôn xin đặc cách khởi phục ông ta, từ đó thành lệ.
[20] Ngày Đinh Dậu, Viện Thẩm quan tâu rằng, gần đây có lệnh cho các quan lại tiến cử người làm tri châu ở Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây, số lượng khá nhiều, xin cho các tri châu đương nhiệm sau khi nhậm chức được một năm rưỡi thì cử người thay thế, đủ hai năm thì hết nhiệm kỳ. Triều đình đồng ý.
[21] Ngày Mậu Tuất, cấm dân chúng ở Hoả Sơn, Bảo Đức quân dọc sông Hoàng Hà tự ý đặt thuyền chở khách.
[22] Ngày Kỷ Hợi, bãi bỏ việc sử dụng đồng phù và mộc khế ở các lộ.
[23] Ngày Canh Tý, ra chiếu cho Điện tiền và Mã bộ quân ty, những người từng thuộc quân tịch ở biên giới phía tây trước đây, phải khai báo tên tuổi. Trước đây, Hàn Hoài Lượng người Hạ Châu, đổi tên là Phúc, làm quân sĩ trong Thần Vệ quân. Xu mật viện lo ngại ông ta do thám việc cơ mật của triều đình, bèn giao cho Khai Phong phủ tra xét. Nhưng Phúc đã quy phụ từ trước khi Nguyên Hạo nổi loạn, nhập ngũ vào Thần Vệ quân, có công phá thành Bạch Báo, được bổ làm Thừa cục, không phải là người do Nguyên Hạo cử đi do thám. Triều đình ra chiếu đặc cách thăng một bậc cho ông ta. Đồng thời ra lệnh bí mật bắt giữ những gián điệp trong kinh thành, và ban chiếu này.
[24] Ngày Tân Sửu, ra chiếu rằng: “Từ khi dùng binh ở Thiểm Tây, thuế má thu được ở địa phương cùng vàng bạc từ nội khố và hai Xuyên dâng lên, số lượng không thể kể xiết, nhưng quân lương vẫn chưa đủ. Nên lệnh cho các lộ Đô bộ thự ty tổ chức khai khẩn ruộng đất, để giúp chi phí biên phòng.”
[25] Ngày Nhâm Dần, Trương Phương Bình, quan Tri gián viện, lại dâng sớ tâu rằng:
“Từ khi Nguyên Hạo phản loạn, quân triều đình nhiều lần xuất binh nhưng không thành công, khiến cho âm mưu hung ác của hắn càng thêm mạnh mẽ. Hiện nay từ bốn lộ Thiểm Tây, Lân Phủ Hà Đông, việc vận chuyển lương thực từ xa gần để cung cấp[3] khiến cả thiên hạ đều mệt mỏi, nhưng việc giải giáp và ngừng chiến sự chưa thể định ngày được.
Thần từng hỏi những người từ biên giới trở về về tình hình trong giặc, nhiều người nói rằng giặc cướp đã hoành hành ba năm, tuy thường đắc ý, nhưng việc huy động quân đội rất khó khăn, nên phải mất nhiều năm mới có thể tiến quân một lần, liên tiếp chiếm được thành trại, nhưng vẫn chưa chiếm được một tấc đất nào của ta. Nay ta cắt bỏ bổng lộc của chúng, cấm buôn bán ở các cửa ải, khiến trong giặc một thước vải có giá đến vài trăm đồng tiền. Từ đó suy đoán tình hình giặc, làm sao chúng không khốn đốn được?
Người Di Địch khi đắc chí thì kiêu ngạo ngỗ ngược[4], khi gặp khó khăn[5] thì tỏ ra khiêm nhường thuận phục. Tuy nhiên, chúng đã kết thù với đại quốc, nếu có lòng hối cải, cũng không thể tự thông hiểu với triều đình, dù triều đình muốn chiêu dụ, nhưng không có danh nghĩa và thời cơ thích hợp, việc này cũng khó thực hiện.
Nay nhân dịp đại lễ Nam Giao, nên đặc biệt ban ân huệ rộng rãi, để tỏ lòng khoan dung. Hoặc ban một chiếu chỉ đặc biệt, hoặc ghi vào văn xá, đại ý nội dung như sau: ‘Bậc đế vương lấy thiên hạ làm phạm vi, mọi sinh linh đều được nuôi dưỡng. Huống chi Sóc Phương, Linh Vũ, Hà Tây năm quận đều là đất của vương triều. Từ thời Đức Minh trở lại đây, vẫn giữ được tiết tháo của bề tôi ngoại quốc, triều đình đối đãi rất mực ân cần.
Năm ngoái, Nguyên Hạo sai sứ đến xưng rằng được bộ tộc suy tôn, muốn tiếm xưng đế hiệu. Vì chúng đã thuận phục hơn ba mươi năm, đột nhiên có lời tâu này, không khỏi khiến ta nghi ngờ, chưa rõ tình hình nên đã dẫn đến việc xuất binh, khiến dân biên giới không yên, chịu cảnh lầm than. Nay đại lễ Nam Giao đã hoàn thành, ân trạch lớn ban ra, ta nhìn về phương Tây, lòng đau xót, tự trách mình đã thiếu sót trong việc nuôi dưỡng.’
Từ nay, nếu Hạ Châu có sứ giả đến biên giới muốn thông tấu với triều đình, không được ngăn cản, hãy để quan biên giới tiếp nhận và tâu lên. Đồng thời, hãy thông báo rộng rãi cho quan biên giới về việc cẩn thủ biên cương, không nên gây sát phạt, dán bảng cáo thị ở biên giới. Hoặc chọn một viên quan biên giới có danh tiếng, cử một sứ giả đơn độc để truyền đạt ý chỉ của triều đình, đủ để tỏ rõ đức nghĩa sâu dày của triều đình[6], mà không làm tổn hại đến uy nghiêm.
Hơn nữa, giặc đã tự tôn trong bộ tộc của chúng từ lâu, trước đây chúng chỉ muốn xưng hiệu ‘Ô Châu’, nhưng người trong nước lo lắng không sâu sắc, tiếc rẻ hư danh này, nên đã dẫn đến họa lớn. Nếu bệ hạ thuận theo lời thỉnh cầu trước đây của chúng, ban thưởng theo thời gian, để thiên hạ biết rằng bệ hạ có mưu lược sâu xa, vì sinh linh mà tính toán, thì trời đất quỷ thần cũng sẽ giúp người nhân mà phù thuận. Nếu lòng giặc vẫn hung hãn, không chịu thay đổi, cũng đủ để khiến chúng kiêu ngạo lười biếng, kích động lòng căm phẫn của quân ta. Binh lực như lửa, không kiềm chế sẽ tự thiêu, khiến ta phẫn nộ mà chúng lười biếng, giặc có nguy cơ tự thiêu, thành bại đã có thể tính toán được!
Có người bàn rằng: ‘Giặc từ khi xâm lược chưa từng không thắng, sao lại có thể bị khốn đốn? Nay dù có chiêu dụ chúng, chỉ thấy tự làm yếu mình, giặc có chịu thay đổi lòng dạ không?’ Thần cho rằng trước đây giặc Thiên làm loạn biên cương, được xưng là kiêu hãn và có mưu lược, đánh chiếm Sóc Phương, Linh Vũ, khiến quốc gia mất đất nghìn dặm, nhưng binh lực của chúng cũng bị tổn hại nghiêm trọng. Lúc đó, Kế Thiên bị Lục Cốc giết, thế lực cũng không còn, nên trước khi chết đã dặn Đức Minh rằng: ‘Ngươi phải hết lòng quy thuận triều đình, nếu một hai biểu chương chưa được chấp nhận, thì cứ liên tục dâng sớ để cầu xin được lắng nghe.’ Vì thế, Đức Minh quy phục, cả đời không thay lòng.
Nay giặc không thể so với Kế Thiên, nhưng không may từ khi mới nổi loạn, người giữ biên cương của ta lại không phải người tài, nên giặc nhiều lần đắc chí, binh lính của chúng ham lợi từ việc cướp bóc. Nếu trước đây ta không bị đại bại, chúng không thu được lợi lớn, mà giặc lại tàn ác với thuộc hạ, thì sớm muộn cũng sẽ suy yếu, huống chi các tộc khác có chịu giúp chúng không? Nay quốc gia xử lý việc biên cương, phòng thủ ngày càng vững chắc, chỉ cần tướng sĩ dốc lòng, tài chính đủ dùng, tạm để chúng đến mà không cướp được gì, thì giặc ắt tự khốn. Nay trước hết mở đường cho chúng quy thuận, để tính kế lâu dài, dù giặc chưa thay lòng, thì với quốc gia cũng chẳng tổn hại gì.
Có người lại nói: ‘Giặc dù tỏ ra quy phục, nhưng lòng dạ của rợ có thể tin được không? Nếu có thực lòng, thì việc phòng bị biên cương có thể bỏ được không?’ Thần cho rằng vào đầu niên hiệu Cảnh Đức, Khiết Đan đại quân xâm lược Hà Sóc. Tiên đế thân chinh, đi tuần thú phương Bắc đến Thiền Châu. Khiết Đan bèn sai sứ đến nghị hòa, sau đó tướng chỉ huy của chúng là Đạt Lãm trúng tên nỏ mà chết, hòa nghị liền được định. Lúc đó, biên cương có thể giữ vững, lòng dạ của rợ cũng bỏ cảnh giác, mà nói rằng hòa hảo kéo dài đến nay[7]? Điều đó phụ thuộc vào việc triều đình biết cách vỗ về, kiểm soát mà thôi.
Chi phí cho việc biên phòng hiện nay, mỗi năm thuế khóa lên đến hàng nghìn vạn[8]. Từ khi dùng binh đến nay, số người bị bắt giữ và giết hại không dưới mười vạn. Vì vậy, từ xưa đến nay, những người bàn luận về việc biên phòng đều cho rằng hòa hảo với người Nhung là có lợi, còn việc chinh chiến và đồn trú là có hại, bởi họ đều suy nghĩ sâu xa về điều này. Kính mong bệ hạ triệu tập các đại thần của hai phủ, bàn bạc và thực hiện kế sách này.”
Vua vui mừng nói: “Đó chính là ý của Trẫm.” Liền ra lệnh cho Phương Bình đem tấu chương giao cho Trung thư. Lữ Di Giản đọc xong, chắp tay nói: “Ngài nói đến điều này, thật là phúc của xã tắc.”
[26] Có người dâng thư lên nói: “Gần đây, những người bị đình chỉ, đang chịu tang hoặc thi không đỗ thường hay đi lại vùng biên giới. Người bị đình chỉ không suy nghĩ về lỗi lầm của mình, dẫn đến vi phạm pháp luật. Người đang chịu tang không lo việc tang lễ, chỉ chú tâm vào việc kinh doanh và nhờ vả. Người thi không đỗ không nói đến việc văn lý sai lầm, không có cách nào tiến thủ. Hễ tụ tập lại thì thường sinh ra oán giận và phỉ báng.
Huống chi đất nước chưa yên ổn, nên ngăn chặn những kẻ này[9], mong ban chỉ dụ cho các châu huyện thuộc quyền Tam lộ đô chuyển vận ty thường xuyên theo dõi, không cho họ tụ tập, những người không phải cư dân địa phương thì cấm hết việc đi lại vùng biên giới.” Vua đồng ý.
(Việc này căn cứ theo 《Hội Yếu》, là sự việc ngày Nhâm Dần.)
[27] Ngày Quý Mão, ban chiếu rằng từ nay các quan lại vùng biên giới khi tổ chức yến tiệc không được dùng nữ kỹ để phục vụ, theo lời thỉnh cầu của Hàn lâm học sĩ Tô Thân.
(Việc này căn cứ theo 《Hội Yếu》.)
[28] Ngày Ất Tỵ, ban chiếu rằng các sứ thần Tam ban trở lên, nếu gặp tang cha mẹ, được nghỉ một tháng. Các quan lại văn võ đang nhậm chức ở biên giới Hà Đông, Hà Bắc, Thiểm Tây, nếu có việc tang chế xin nghỉ thì được phép về thay thế.
[29] Tri Khánh châu Phạm Trọng Yêm tâu: “Thần vâng chiếu bàn việc kìm chế quân giặc, không cho chúng cùng tiến ra Hà Đông lộ. Nay phía tây bắc trại Vĩnh Hòa, Hoàn châu cách 120 dặm có Chiết Khương hội, phía đông bắc Khánh châu cách 150 dặm có Kim Thang, Bạch Báo trại, đều là nơi giặc mở chợ. Quân mã Trấn Nhung có thể đánh Chiết Khương, Phu Diên có thể xâm phạm Kim Thang, Bạch Báo. Hoàn Khánh lộ xuất binh kìm chế, chỉ có hai nơi này. Nếu giặc xâm phạm Hà Đông, lại sai các lộ chia quân tiến đến nơi hiểm yếu, thì có thể kìm chế quân mã giặc vùng Hoành Sơn, không dám tiến ra các lộ khác. Nếu giặc phát binh ở ngoài sông, quân mã gần đó tiến đến Hà Đông, thì Hoàn Khánh cách xa, e không đủ sức kìm chế.”
[30] Tháng 11, ngày Đinh Mùi mùng một, Tứ phương quán sứ, Chiêu châu thứ sử Cao Kế Tuyên làm Ân châu Đoàn luyện sứ, Phụng Nhật Thiên Vũ tứ sương Đô chỉ huy sứ, Tri Tịnh châu kiêm Hà Đông lộ Kinh lược an phủ Duyên biên Chiêu thảo sứ, thay cho Dương Giai.
Giai từng dâng sáu việc lên triều đình: Một là bãi bỏ việc hoạn quan tham gia quân sự, hai là dời Lân châu, ba là được tùy nghi hành sự, bốn là cách chức các tướng bất tài, năm là chiêu mộ vũ sĩ, sáu là chuyên việc bổ nhiệm.
Lại nói: “Nếu dùng lời thần thì thần nhận mệnh, không thì thôi.” Triều đình khó xử, Giai nhiều lần dâng tấu không thôi, bèn bãi chức Tri Hình châu.
[31] Trước đó, có chiếu sai Phó bộ thự Tịnh châu Triệu Chấn đem một vạn hai nghìn quân Vạn Thắng phòng thủ bờ đông sông ở Lân châu, Phủ châu. Ngày Mậu Thân, có người dâng thư nói: “Chấn trước đây ở Thiểm Tây vì tham nhũng hèn nhát làm mất lòng quân sĩ, để mất trại Tắc Môn, Diên châu, lại phạm tội buôn bán xâm phạm cấp dưới, nên bị giáng đi Đàm châu, nay lại giao việc biên cương trọng yếu, xin triệu về nghiêm khắc răn dạy.” Chiếu đem tờ tấu cho Chấn xem.
(Việc Chấn đem quân Vạn Thắng, theo lịch sóc, là vào tháng 10 ngày Nhâm Dần, nay phụ chép ở đây, Thực lục không có.)
[32] Dân lại và tăng đạo Lân châu, Phủ châu đến kinh xin thêm quân chống giặc phương Tây. Vua triệu vào điện riêng hỏi han, ban trà lụa, an ủy rồi cho về, tăng đạo được ban áo tía và hiệu sư.
[33] Ngày Nhâm Tý, lấy Tần Phượng phó bộ thự, Điện tiền đô ngu hậu, Cảm Đức quân lưu hậu Lý Chiêu Lượng, Kinh Nguyên phó bộ thự, Điện tiền đô ngu hậu, Mi Châu phòng ngự sứ Cát Hoài Mẫn, Hoàn Khánh phó bộ thự, Trừ Châu đoàn luyện sứ kiêm Tri Khánh Châu Vương Trọng Bảo, đều kiêm chức Bản lộ chiêu thảo kinh lược an phủ phó sứ. Phu Diên kiềm hạt kiêm Lưỡng lộ đô tuần kiểm sứ, Quyền bản lộ phó bộ thự, Tây Kinh tác phường sứ Vương Tín kiêm chức Bản lộ chiêu thảo kinh lược an phủ đô giám.
[34] Xuống chiếu cho Giang, Nhiêu, Trì ba châu đúc tiền, đúc ba trăm vạn quan tiền sắt để chuẩn bị quân phí cho Thiểm Tây.
[35] Ty bộ thự Kinh Nguyên xin tu sửa trại Diệp Tiếp, chiêu mộ và đặt mười chỉ huy cường tráng và cung tiễn thủ. Theo lời xin.
(Bản kỷ chép ngày Nhâm Tý đặt cường tráng và cung tiễn thủ ở lộ Kinh Nguyên. Nay phụ vào đây.)
[36] Thăng Uy Viễn ở Phủ Châu và Phi Kị ở Lân Châu làm cấm quân.
[37] Ngày Quý Sửu, truy tặng Ninh Viễn trại chủ Lân Châu, Tả thị cấm Vương Thế Thiện làm Hữu đồn vệ tướng quân, Thứ sử Thi Châu; Tri Phong Châu, Tả thị cấm Vương Dư Khánh làm Hữu đồn vệ tướng quân, Thứ sử Phù Châu; Ninh Viễn trại binh mã giám áp, Điện trực Vương Hiển làm Hữu thiên ngưu vệ tướng quân; Phong Châu binh mã giám áp, Tam ban sai sứ, Điện thị Tôn Cát làm Thái tử Hữu vệ suất phủ suất; Phong Châu chỉ sử, Tam ban tá chức Hầu Tú làm Thái tử Hữu thanh đạo suất phủ suất.
[38] Ngày Giáp Dần, xuống chiếu: “Nghe nói dân gian các châu Truy, Tề đặt giáo đầu, tập binh khí, tụ họp thành xã. Từ nay, người cầm đầu xử trảm, những người còn lại xử phạt đi đày ở các quân châu xa xôi hiểm ác, lao thành. Lại lệnh cho người tố cáo bắt giữ, bắt được một người thì thưởng ba mươi ngàn tiền.”
[39] Ngày Ất Mão, lấy Cung bị khố phó sứ, Thọ Châu binh mã đô giám Lý Hưng làm Sùng nghi sứ, Lân Phủ Châu duyên biên đô tuần kiểm sứ, lại xuống chiếu dụ bản lộ rằng: Hưng từng làm ngụy đoàn luyện sứ ở Tây giới, nay đặc cách bổ nhiệm, sau này nếu có việc thất bại, sẽ không liên lụy đến tội của các quan ty thuộc bộ.”
[40] Hữu chánh ngôn, trực tập hiền viện Điền Huống tâu: “Trấn Nhung, Nguyên, Vị, địa phương mấy trăm dặm, thường bị giặc Tây cướp bóc, không còn làm ruộng được. Nay dốc hết sức lực của Quan Trung, hao tổn tiền bạc trong kinh đô, mới đủ cung cấp lương thảo cho Diên Châu và Bảo An quân, nếu lại cung cấp cho các lộ khác, thì kế hoạch quốc gia sẽ nguy ngập, đáng lo.
Thần cho rằng nên lấy những nơi ngựa giặc giày xéo, không có người cày cấy, đại quy mô khai khẩn ruộng đất, dùng quân Bảo Tiệp mới tuyển, cứ 500 người đặt một đồn, bổ nhiệm người theo thứ bậc, cứ hai ba đồn đặt một viên quan phụ trách ruộng đất, sai họ cày cấy đúng thời vụ, lúc nông nhàn thì dạy tập võ nghệ để phòng chiến đấu. Nay người già yếu bị giết hại, người tráng kiện đều bị bắt đi, tương lai dù có trở về, cũng đều tài sản tiêu tan, không thể tự cày cấy được. Ruộng đất của họ đều do quan phủ thu mua, nếu ai muốn trở lại đất cũ, thì lấy một nửa số lúa do quan phủ trồng mà cấp cho. Như vậy ruộng đất không bỏ hoang, mà kế hoạch biên phòng cũng được nhẹ bớt.”
[41] Ngày Bính Thìn, vì giá lương thực trong kinh đô đắt, xuất kho 1 triệu hộc thóc, bán rẻ để cứu giúp dân nghèo.
[42] Ngày Tân Dậu, chiếu miễn cho các phiên tộc phải đứng hầu ở Thái Miếu, việc đứng ban ở ngoài cửa Tuyên Đức, cửa Cảnh Linh cung và đàn Nam Giao vẫn như cũ.
[43] Chiếu cho Kinh lược ty Hà Đông chiêu dụ các thổ quan người phiên ở địa giới Lân, Phủ Châu là Mã Nhai, thủ lĩnh giới Tây là Lạp Vượng, thủ lĩnh trấn Đường Long là Lai Thủ Thuận, tuần kiểm giới Phủ Châu là Khiết La, trước bị giặc Nguyên Hạo bắt ép sang giới Tây, mà có thể tự mình trở về, sẽ được bổ làm Tiết độ sứ, Quan sát sứ đến Thứ sử, lại ban cho áo gấm, đai lụa.
[44] Chiếu cho Diên Châu: “Nếu Nguyên Hạo đặc biệt sai người đem biểu chương đến, thì hãy tạm giữ lại, trước hết tâu rõ sự việc lên. Nếu sai quan ngụy đem thư riêng đến châu, phải đợi triều đình xử lý, rồi mới báo lại.” Bắt đầu dùng kế của Trương Phương Bình.
[45] Ngày Giáp Tý, triều hưởng ở Cảnh Linh cung.
[46] Ngày Ất Sửu, hưởng tế ở Thái Miếu, Phụng Từ miếu.
[47] Ngày Bính Dần, tế trời đất ở đàn Viên Khâu. Trước đó, Gián quan Trương Phương Bình tâu: “Ở đàn tế, chỗ chính vị trải thảm màu vàng, chỗ phối vị và chỗ uống rượu phúc trải thảm màu đỏ. Từ chỗ nghỉ nhỏ đến các vị trí trên đàn, đường hoàng đạo trải thảm màu vàng, lại vượt quá chỗ trải thảm; các quan chấp sự khi lên xuống tránh né xoay vòng, áo quần chạm vào vị trí thần, xin bỏ đường hoàng đạo trên đàn. Lại dựng chỗ nghỉ nhỏ, đặc biệt mới có gần đây, hoàng đế khi dâng lễ vật xong, mỗi lần xuống liền đến đó nghỉ ngơi, tả hữu thị tòng ngồi phía sau, xin bỏ đi, hoặc chỉ bỏ màn che.”
Xuống chiếu cho quan Lễ bộ bàn định: Đường hoàng đạo trên đàn, chỗ bái lạy, chỗ uống rượu phúc đổi dùng thảm màu đỏ, các quan chấp sự không phải tránh né; đường hoàng đạo dưới đàn, chỗ bái lạy, chỗ cởi kiếm, chỗ nhìn lửa tế vẫn giữ như cũ. Dựng chỗ nghỉ nhỏ, bỏ hết màn che bốn phía. Đến lúc này, Vua không ngự chỗ nghỉ nhỏ, bỏ thảm đường hoàng đạo dưới đàn, đi chân đất mà lên, đổi thảm bái lạy dùng màu đỏ, thảm màu đỏ trên đàn cũng không dùng, ghi vào quy chế nghi lễ.
(Sách bản chí chép việc này, nhưng dựa theo sách 《Nhân Cách Lễ》 mà lược bớt lời rườm rà, nhưng không có thứ tự rõ ràng, nên việc có chỗ sai sót, nay vẫn dùng sách 《Nhân Cách Lễ》 để sửa lại. Không dùng thảm màu đỏ, là nói trên đàn, sách chí lại không có chữ “trên đàn”, nếu là dưới đàn thì vốn dùng thảm màu đỏ. Lại xem sách 《Trương Phương Bình Tập》, lời tâu này thực ra là của Phương Bình, nay đặc biệt chép lại.)
[48] Đại xá, đổi niên hiệu. Xuống chiếu miễn thuế hạ điền năm sau của Thiểm Tây hai phần mười, thuế hạ và thu năm nay của châu Lân Phủ cùng thuế hạ năm sau, thuế thu năm nay của quân Bảo An đều được miễn hết.
[49] Chiếu rằng: “Từ khi Nguyên Hạo phản bội ân huệ, nhiều lần xin quy phụ, nhưng ý muốn làm chậm trễ quân ta, chuyên dùng mưu mẹo gian trá, nên ta từ chối không nhận. Huống chi sĩ dân Hà Tây vốn được giáo hóa của vương đạo, Trẫm là cha mẹ của họ, há không thương xót sao! Từ nay, các quan biên thùy hãy cẩn thủ biên cương, luyện tập quân sĩ tinh nhuệ, không vì chiến đấu mà giết oan người già trẻ nhỏ và đốt phá trại của các tộc. Các tướng súy của triều đình, từng có công lao giữ biên cương, giao cho Trung thư, Môn hạ tìm hỏi con cháu của họ, đặc biệt bổ dụng. Nay công thần không hạn chế phẩm trật, cho phép dựng kích ở cổng nhà, các quan văn võ được lập gia miếu, những người đã được ban kích thì cấp đất công để xây dựng, lệnh cho Hữu ty xem xét chế độ rồi tâu lên.”
(Sách 《Trương Phương Bình truyện》 chép rằng việc bổ dụng con cháu công thần[10], ban thưởng thêm cho tướng giữ biên cương, công thần được lập tư miếu, ban kích, tổng cộng chín việc, đều do Phương Bình đề xuất.)
[50] Tiến sĩ ở Khai Phong phủ, do người ngoại châu mạo nhập hộ tịch, khiến người bản phủ được tiến cử rất ít, những tiến sĩ đã hai lần thi, lệnh cho triệu ba quan chức và quan lại huyện bảo lãnh, cho phép trực tiếp dự thi ở tỉnh. Số người được tiến cử ở ngoại châu, lệnh cho Hữu ty xem xét, đặc biệt tăng thêm. Những người trước đây thi đỗ về việc biên sự, được bổ làm Tư sĩ tham quân, Văn học, Trưởng sử, tuổi dưới sáu mươi, đều cho phép nộp đơn xin bổ nhiệm, căn cứ vào bài thi phán chia làm ba bậc, bổ nhiệm tạm quyền làm Chủ bạ, Úy ở các vùng biên giới và gần biên giới Thiểm Tây, nếu một nhiệm kỳ không phạm tội tham nhũng hay công tội đến mức đi đày, thì bổ làm quan chính thức của bản lộ, nếu phạm tội công hay tư đến mức đi đày trở lên, thì nhiệm kỳ sau vẫn như cũ.
[51] Kinh Đông, Truy, Duy, Thanh, Tề, Nghi, Từ châu, Hoài Dương quân đều là khu vực độc quyền muối, gần đây bị thiên tai, dân chúng nghèo khổ, đặc biệt cho phép buôn bán tự do, chỉ thu thuế tiền. Các giếng muối ở Lưỡng Xuyên đã lâu năm, nguồn muối không còn, cùng với các xưởng rèn sắt và cối xay nước đã bỏ hoang, nhưng dân vẫn phải nộp thuế hư; lại thêm việc Tây Xuyên gần đây tăng giá muối, khiến dân thiếu ăn, cùng với hai châu Tử, Toại gặp năm nhuận, thuế hai kỳ phải nộp thêm tiền thuế tháng nhuận, đều được đặc biệt miễn trừ.
Kinh Đông, hai châu Mật, Đăng đều nấu nước biển làm muối, Mật châu có một trường, Đăng châu có bốn trường, Nam Kinh cùng bảy châu quân Duyễn, Vận, Tào, Bộc, Tế, Đơn, Quảng Tế ăn muối ao, còn lại đều ăn muối hai châu này, quan tự buôn bán, cấm dân buôn lậu. Cùng với tám châu quân Truy, Duy, Hoài Dương đều bãi bỏ cấm, bèn bỏ thuế hàng năm của Mật, Đăng, chỉ bắt dân nộp tiền thuê. Sau đó, Duyễn, Vận đều vì đất đai liền kề, xin bỏ ăn muối ao, được thông thương muối biển, thu thuế như các châu Truy, Duy, được chấp thuận. Từ đó, các châu quan không còn tích trữ muối, mà hàng năm cấp muối tằm cho dân cũng bị bãi bỏ.
(Việc này căn cứ vào bản chí phụ lục, có thể tra cứu vào ngày Kỷ Mùi tháng giêng. Lại theo truyện Trương Quan: Quan vào ngày Canh Dần tháng 11 năm nay, từ Thiền châu chuyển đến Vận châu. Theo luật cũ, Kinh Đông thông thương muối An Ấp, nhưng vùng ven biển cấm nấu lậu. Quan tâu rằng: “Chỗ có lợi, dân đều đổ xô đến, dù giết hàng ngày ở chợ cũng không ngăn được, xin bãi cấm để tiện dân.” Năm đó, số người được miễn tội xăm mặt và lưu đày không kể xiết. Như vậy, Duyễn, Vận được thông thương muối biển, chắc chắn là do lời xin của Quan, chỉ là không rõ thời điểm mà thôi.)
[52] Ngày Quý Dậu, tạm đặt một viên thông phán ở Giai châu.
[53] Ngày Ất Hợi, ban tiền đặc chi Nam Giao cho các binh sĩ cung tiễn thủ và quân Bảo Nghị ở vùng biên giới Thiểm Tây.
[54] Tháng này, Lương Thích từ Thiểm Tây trở về, Tri Khánh châu Phạm Trọng Yêm dâng tấu kèm theo hai kế sách công và thủ, nói:
“Thần trộm xem xét việc biên giới phía tây từ trước đến nay, mỗi lần bàn về công hay thủ, đều chưa thấy hợp lý. Có người nói phải tiến hành đánh dẹp để mong bình định. Thần cho rằng nếu các lộ cùng tiến đánh, thì quân chia tướng ít, khí thế không đủ mạnh. Vượt qua sa mạc đầy gió cát, dễ lạc phương hướng, việc vận chuyển lương thực và quân nhu thường bị cướp bóc. Hang ổ của giặc nằm xa xôi bên kia sông, nếu không có tướng tài thì không thể tập kích được. Còn như khi giặc quấy nhiễu biên giới, thường tập trung binh lực tấn công một lộ, mỗi khi có chiếu chỉ của triều đình yêu cầu tiến vào lãnh thổ địch để kiềm chế, thì các tướng soái lại không có kế sách gì sẵn, mù quáng tiến quân, không biết mục tiêu là gì, chỉ tìm những nơi yếu kém để cướp bóc lấy công, vừa không thể phô trương thanh thế quân đội, lại cũng không thể phân tán được thế lực của giặc. Đó là sự vô hiệu của việc tiến đánh và kiềm chế.
Có người nói nên dùng biện pháp phòng thủ, giặc đến thì chống cự, giặc đi thì không đuổi theo. Thần thấy rằng việc phòng thủ biên giới hiện nay phần lớn không dùng binh lính địa phương, họ không muốn đóng quân lâu dài, lại không có ruộng đồng để canh tác, nên phải vận chuyển lương thực từ xa. Đóng quân lâu thì tinh thần quân đội suy yếu, vận chuyển từ xa thì sức dân kiệt quệ, kéo dài nhiều năm tháng, e rằng sẽ sinh ra mối họa khác. Đó là sự bất lợi của việc phòng thủ.
Thần mang trọng trách của quốc gia, chưa từng có chút công lao nào, ngày đêm lo lắng, mong có thể đóng góp điều gì đó, nhưng tài năng và kiến thức còn hạn hẹp, cuối cùng vẫn chưa có sáng kiến gì. Nay tham khảo ý kiến của người biên giới mà đưa ra kế sách nhỏ này, vốn không dám cho rằng nó có thể áp dụng được, cũng không dám mong nó nhất định sẽ được thực hiện, chỉ mong triều đình xem xét cùng các ý kiến khác, chọn lựa xem có thể hay không, nếu không có gì đáng lấy, xin hãy bỏ qua.”
Bàn về việc tấn công, có ý kiến rằng: “Thần cho rằng nếu tiến đánh không có lợi, thì còn tấn công làm gì? Thần thấy rằng phía tây Diên An, phía đông Khánh Châu, có một vùng đất của giặc dài hơn trăm dặm xâm nhập vào đất Hán, trong đó có ba trại Kim Thang, Bạch Báo và Hậu Kiều, ngăn cản đường đi qua của hai châu Diên An và Khánh Châu, khiến binh lực không tiếp ứng được, kế hoạch ứng phó bị kéo dài. Trước đây tuy từng tấn công chiếm được, nhưng không có ân huệ chiêu hàng, cũng không có kế hoạch phòng thủ, quân Hán vừa rút về, biên giới lại gặp họa như cũ. Thần cho rằng nếu giặc phương Tây lại có hành động lớn, triều đình ắt sẽ ra lệnh kiềm chế, thì nơi có thể tấn công chính là đây. Có thể sử dụng ba vạn bộ binh và năm nghìn kỵ binh.
Ở lộ Phu Diên, dùng mười hai nghìn bộ binh[11] và ba nghìn kỵ binh. Ở lộ Kinh Nguyên, dùng chín nghìn bộ binh và một nghìn kỵ binh. Lộ Hoàn Khánh tự chọn một vạn bộ binh và kỵ binh. Ngoài quân chính quy, còn có thể huy động thêm bảy tám nghìn quân phiên.
Khi quân tiến vào địa giới, trước hết phải ban bố hiệu lệnh: kẻ nào đầu hàng sống sẽ được thưởng, kẻ nào giết người đầu hàng sẽ bị chém, bắt được kẻ tinh nhuệ sẽ được thưởng, hại người già, trẻ nhỏ và phụ nữ sẽ bị chém, kẻ nào chống cự sẽ bị giết, kẻ nào quy phục sẽ được ban thưởng hậu hĩnh để an ủi, kẻ nào bỏ chạy thì không đuổi theo vì sợ có phục binh, kẻ nào ở lại thì không bắt di chuyển để họ yên ổn. Sau đó, xây dựng thành trại lớn để chiếm giữ vùng đất đó. Nếu thành cũ đã kiên cố thì tu sửa thêm, nếu không phải là đất phòng thủ thì chọn nơi hiểm yếu khác, dùng tiền chiêu mộ binh lính mặc giáp, hộ dân quen thuộc và người khỏe mạnh, kiêm cả việc công.
Trước đây vâng lệnh triều đình, tu sửa các thành trại ven biên giới, thần thấy dân đang bận việc đồng áng, bèn dùng tiền nhàn rỗi của quan phủ và khuyên những hộ giàu có góp tiền thuê phu, phân phát cho binh lính giúp việc làm lương thực, binh lính mặc giáp đều vui vẻ tình nguyện, các trại đều hoàn thành công việc. Đợi khi thành trại kiên cố, sẽ để lại binh lính địa phương phòng thủ, số lượng gấp đôi so với các trại cũ.
Cử Phạm Toàn và Triệu Minh đến an phủ, Phạm Toàn hiện là Kỵ Ký Phó Sứ, Bắc Đô Tuần Kiểm của Khánh Châu. Triệu Minh hiện là Đông Đầu Cung Phụng Quan, Đô Tuần Kiểm Sứ của trại Nhu Viễn.
Phải nghiêm khắc răn dạy rằng: Nếu giặc đến đông thì phải bố trí trinh sát rõ ràng, gọi viện binh, củng cố phòng thủ. Phía đông cách trại Đức Tĩnh 40 dặm, phía tây cách trại Đông Cốc 80 dặm, phía tây nam cách trại Nhu Viễn 80 dặm. Trại Bạch Báo, phía tây cách trại Nhu Viễn 50 dặm, phía nam cách châu Khánh 150 dặm. Phải củng cố thành lũy, tiêu thổ để làm khốn đốn giặc; nếu giặc đến ít thì chặn nơi hiểm yếu, bố trí phục binh để đối phó; thường ngày phải tăng cường thu thuế và lập đồn điền để hỗ trợ. Làm như vậy thì có thể chia cắt thế lực của giặc, nâng cao uy thế quân ta, thông suốt hai lộ Diên, Khánh, dễ dàng ứng cứu lẫn nhau.
Những quan viên sứ thần phụ trách quân sự[12], người dũng cảm quyết đoán, dẫn đầu thì đứng ở hàng đầu, như Vương Tín, Địch Thanh, Lưu Chửng, Phạm Toàn[13], Lưu Di Tôn, Trương Kiến Hầu. Người có thể dùng để ứng phó thì đứng ở hàng thứ, như Nhậm Thủ Tín, Vương Quỳ, Vương Ngộ, Vương Văn, Trương Tông Vũ, Đàm Gia Chấn, Vương Thủ Ân. Trong số sứ thần, người có thể đảm nhận một đội quân thì tham gia cả trước lẫn sau, như Trương Tín, Vương Tiến, Trương Trung, Quách Quỳ, Trương Hoài Trung. Người có tâm lực, giỏi việc thì lo xây dựng thành trại, như Chu Mỹ, Trương Xán, Lý Vĩ, Dương Lân, Lưu Kiêm Tế, Trương Kế Huân.
Thần xem thời Hậu Hán, Đoàn Kỉ Minh dùng 5.000 kỵ binh, 10.000 bộ binh, 3.000 xe, 5,4 tỷ tiền, trong ba mùa đông và hai mùa hạ[14], đã đánh bại các tộc Khương. Lại xem thời Đường, Mã Toại chế tạo chiến xa, đi thì chở binh giáp, dừng thì làm doanh trận, hoặc chặn nơi hiểm yếu để ngăn chặn địch xông vào. Thần thấy đường núi ở đây khó dùng xe lớn, nên dùng 2.000 xe nhỏ. Dùng 20 vạn lượng bạc, lụa, tiền để thưởng cho tướng lại có công và các bộ lạc quy hàng, đồng thời mua thêm cỏ khô, thóc lúa, cũng tạm đủ dùng. Phía tây châu Hoàn, phía đông Trấn Nhung, lại có một dải bộ lạc Hồ Lô Tuyền, tiếp giáp với Minh Châu, Diệt Tạng, chặn đường qua lại giữa châu Hoàn và Trấn Nhung. Nơi ở của Minh Châu, Diệt Tạng, phía bắc giáp địa giới giặc, phần nhiều đang chờ xem tình thế.
Lại nữa, phía nam châu Diên, Nam An cách châu Tuy cũ 40 dặm, nằm ở cửa sông Ngân, Hạ. Hiện nay quân mã châu Diên vượt sông Hoàng Hà về phía đông, tiến vào Lam, Thạch, rồi lại vượt sông Hoàng Hà về phía tây, quay lại Lân Phủ để ứng cứu. Bởi vì dải châu Tuy cũ bị giặc chặn đường qua lại. Trong ba nơi trên, riêng lộ Lân Phủ, thần chưa từng đến đó, xin hạ lệnh cho địa phương đó điều tra và vẽ bản đồ, sẽ thấy rõ thứ tự núi sông, đường sá. Như vậy, chiếm được một nơi[15], bình định xong lại tính kế chiếm nơi khác, làm kế sách phòng thủ. So với việc sáng đi tối về, cách này có phần thuận tiện và ổn định hơn.”
Bàn về việc phòng thủ, có ý kiến rằng: “Thần xem xét, người Tây Nhung ở ngoài vùng sa mạc xa xôi, phía bắc sông lớn, dựa vào địa thế xa xôi hiểm trở, khó lòng đánh chiếm được. Họ lập quan chức, đặt quân đội mà không cần cấp lương thực, mỗi lần kéo quân xâm phạm biên giới, mọi thứ nhỏ nhặt đều do dân chúng cung cấp[16], họ tập hợp như gió, tan đi như mây, chưa từng tích trữ nuôi dưỡng. Trung Quốc thì không như vậy, quân lính đóng ở biên giới xa xôi lâu ngày không được thay phiên, chịu khổ cực nơi sa mạc, nhớ nhung quê hương, lại phải cấp lương thực hàng ngày, tiền bạc hàng tháng, áo quần, giày dép mùa đông và mùa xuân, việc vận chuyển lương thực không ngừng nghỉ. Quốc khố và sức dân ngày càng kiệt quệ, tinh thần quân đội u uất, buộc phải nhân nhượng. Đó là nỗi lo tích trữ quân đội của Trung Nguyên, khác với kẻ địch.
Thần cho rằng dù người Tây Nhung có đầu hàng, thì biên giới vẫn phải phòng thủ[17], cần phải có kế hoạch lâu dài. Thời xưa há không có mưu thần? Xem Hán Triệu Sung Quốc khai khẩn đồn điền, thu được nhiều lợi ích từ đất đai, từ đó đánh bại Tiên Linh. Ngụy Vũ trong lúc chinh chiến, ra lệnh cho binh sĩ mặc giáp tùy nghi khai khẩn, nên không quá vất vả mà lập được đại công, trong vài năm, lương thực tích trữ khắp nơi, kho đụn đều đầy. Nhà Đường đặt đồn điền, năm Thiên Bảo thứ 8, Hà Tây thu được 26 vạn thạch, Lũng Tây thu được 44 vạn thạch. Tôn Vũ nói: ‘Phân chia chư hầu, lấy lợi ích của họ mà làm lợi cho họ, khiến họ hưởng lợi từ đất đai, sử dụng sức dân, nên thuế má không có nỗi khổ vận chuyển, lao dịch không có tiếng oán than.’ Thần trước đây ở Diên Châu, thấy Tri Thanh Giản thành là Chủng Thế Hoành nói muốn khai khẩn ruộng đất tại địa phương, nay nghe nói chỉ thu được một vạn thạc.
Thần xem xét các trại biên giới hiện nay, đều có thể dùng cung thủ và thổ binh để phòng thủ, đồng thời đặt đồn điền, định mức thuế theo mẫu ruộng, binh lính thu được lợi nhuận dư thừa, bán lại cho quan phủ, người dân vui vẻ làm việc, nhà nước thu được lợi ích, thì nỗi lo vận chuyển lương thực lâu dần sẽ chấm dứt. Hơn nữa, cho binh lính đưa gia đình đến biên giới, coi trọng lợi ích từ ruộng đất[18], quen thuộc địa hình, cha mẹ vợ con cùng nhau kiên cường phòng thủ, so với quân lính từ phương đông không thích làm ruộng, không quen địa hình, lại không có tình cảm lưu luyến, thì hiệu quả cách xa nhau. Những nơi thiếu ruộng, cho phép bộ lạc dâng nạp ruộng hoang để được thăng chức khen thưởng, hoặc cân nhắc trả giá thích đáng.
Nếu triều đình cho phép thực hiện phương pháp này, thì giao cho thần lựa chọn quan viên, dựa theo nghĩa lý thời xưa, cân nhắc tình hình hiện tại, thực hiện ở biên giới, hy vọng việc phòng thủ càng lâu thì chuẩn bị càng đầy đủ, dù kẻ địch thỉnh thoảng gây họa ở biên giới, cũng không thể làm khốn đốn Trung Quốc. Đó là lý do thần nói rằng mượn sức của thổ binh và cung thủ, đặt đồn điền là lợi ích của việc phòng thủ.
Thần xem thời thịnh trị của Hán Cao Đế, có Tiêu Hà, Trương Lương quyết thắng nơi ngàn dặm, dưới có quân đội trăm trận, với bốn mươi vạn quân bị vây khốn ở Bình Thành, bèn kết ước hòa thân với Hung Nô. Đến thời Cao Hậu, Văn Đế, Cảnh Đế, đời nào cũng như vậy, không dứt tình hòa hiếu. Nhưng Hung Nô nhiều lần thay đổi, thường xuyên xâm phạm biên ải, giết hại quan lại và dân chúng, không thể chịu nổi sự tàn bạo. Đến cả thư từ cũng ngạo mạn, coi thường Trung Quốc, mà bậc quân chủ vì lợi ích của dân chúng[19], tự khuất mình nhẫn nhịn, không vì thế mà động lòng.
Hiếu Văn Đế lên ngôi, tướng quân Trần Vũ xin bàn việc chinh phạt để mở rộng bờ cõi, Hiếu Văn Đế nói: ‘Binh khí là đồ hung hiểm. Khó đạt được điều mong muốn, động binh tất hao tổn bệnh tật, biết làm sao với dân chúng phương xa? Nay Hung Nô xâm lấn trong nước, quân tướng không có công lao, dân biên giới cha con phải mang vũ khí lâu ngày, Trẫm đau lòng thương xót, ngày nào quên được? Chưa thể tiêu trừ, mong hãy củng cố quân đội, đặt đồn canh, kết hòa hiếu, thông sứ giả, yên ổn biên cương phía bắc, như vậy là công lao lớn lắm rồi! Vậy hãy đừng bàn việc dùng binh.’ Vì thế dân chúng không phải chịu lao dịch trong ngoài, được nghỉ ngơi nơi ruộng đồng, thiên hạ giàu có, gà gáy chó sủa, ánh lửa muôn dặm, có thể gọi là thái bình vui vẻ chăng? Tư Mã Thiên cho rằng Văn Đế có thể làm cho thiên hạ hòa vui, hợp với đạo lớn, nên ghi vào sách luật, làm khuôn mẫu cho đời sau.
Thần cho rằng nếu dùng cách đánh, thì nên chọn nơi gần mà thế quân không nguy hiểm; nếu dùng cách giữ, thì phải tính kế lâu dài mà sức dân không kiệt quệ[20]. Sau đó học theo đức hòa vui của Văn Đế, không có nỗi hối hận đau thương của Hiếu Vũ Đế, thì thiên hạ thật may mắn biết bao!”
(Trọng Yêm dâng tấu hai kế sách đánh và giữ, theo tấu nghị quyển thứ chín cuối sách. Lại tấu xin nạp hòa nghị, nói rằng hai kế sách này dâng trong tháng mười một. Nay phụ vào cuối tháng.)
Trọng Yêm lại tâu: “Thần gần đây vâng theo chiếu chỉ triều đình, được lệnh phải tìm nhiều cách để kìm chế quân giặc phương Tây, không cho chúng sang Hà Đông gây họa. Thần nhân lúc trời lạnh ngoài biên ải[21], tạm lệnh cho các tướng tá ra biên giới dương oai, tiếp đó Diên Châu đã xuất quân đánh Kim Thang Trại, cùng bàn kế hoạch với các lộ khác để cùng tiến quân. Các tướng tá của bản lộ sợ quân giặc tập trung lực lượng chống cự, nên quân mã Diên Châu buộc phải tiến vào trong địa giới. Đô giám Hoàn Châu là Hác Tự, từ An Tắc tiến vào địa giới, bị tổn thất quân mã. Đó là do thần không thể kiềm chế được, xin chịu tội theo pháp luật. Tuy nhiên, việc này có lợi có hại, thần không dám không nói.
Thần thấy rằng từ khi xảy ra việc phương Tây, mỗi khi quân giặc tập trung tấn công một lộ, triều đình lại chỉ huy các lộ khác tiến vào địa giới để kìm chế thế giặc, nhưng thu được rất ít mà tổn thất lại khá lớn. Chỉ như việc ở ngoài núi, các nơi tiến vào địa giới để kìm chế, trong đó Khánh Châu đã mất hơn một nghìn người gồm sứ thần, quân viên và binh sĩ, cùng không ít áo giáp và khí giới.
Nay việc ở Hà Đông, các nơi cũng bàn kế hoạch tiến vào địa giới để kìm chế, trong đó Hoàn Khánh lại mất hơn bốn trăm năm mươi người gồm sứ thần, quân viên và binh sĩ, số lượng khí giới chưa rõ. Bởi vì khi ra vào trận mạc, trước sau trái phải đều cần dựa vào các tướng tá có năng lực[22]. Phân tán ở các lộ, mỗi lần xuất quân, trước sau trái phải mạnh yếu không đều, dẫn đến hỏng việc.
Thần từ Khánh Châu đã thấy triều đình hai lần sai trung sứ đến thúc giục, lệnh phải bàn kế hoạch tiến vào địa giới để kìm chế. Thần tuy nói là chưa thuận lợi, nhưng các lộ lân cận đã xuất quân, cùng nhau bàn kế hoạch, các tướng sợ uy triều đình, không dám không tiến, lại có tướng tá tham công may mắn, chỉ lo cướp bóc, đi sáng về tối, mười lần thành công cũng không bù được một lần thất bại, chỉ phí công ban thưởng, việc biên giới biết đến bao giờ mới xong! Mong triều đình xem xét kỹ, đừng sai trung sứ thúc giục các lộ dễ dàng tiến vào địa giới.
Thần đã phụ theo Lương Thích tâu lên, nếu quân giặc đại quân tiến vào, buộc phải kìm chế, thì nên từ các lộ lân cận chọn tướng súy và quân mã có năng lực, tập trung tấn công một nơi, may ra ít thất bại. Lại nên xây dựng trại thành, chiếm giữ những nơi hiểm yếu, kìm chế như vậy, hoặc có thể thành công. Nếu quân giặc không đại quân tiến vào, thì mỗi nơi nên giữ yên, nuôi dưỡng sức mạnh, giữ vững thế trận, đợi giặc đến. Ý kiến ngu muội của thần, không ngoài kế sách này, xin triều đình xem xét kỹ lưỡng.”
(Việc Hác Tự tiến vào địa giới bị tổn thất, Thực lục không ghi, nay phụ chép vào đây.)
[55] Tháng 12, ngày Bính Tý, mùng một, ban ơn cho các quan, phong tể tướng Thân quốc công Lữ Di Giản làm Hứa quốc công.
[56] Trung thư, Xu mật viện tâu rằng, quân Tuyên Nghị được chiêu mộ ở Kinh Đông, Kinh Tây lộ, xin cho mỗi lộ chọn một vạn người đến kinh sư nhập vào cấm quân, được chấp thuận.
[57] Ngày Đinh Sửu, Ty thiên giám dâng lịch Sùng Thiên vạn niên đã soạn xong.
[58] Phong thần đất ở Phủ Châu làm miếu Linh Hữu. Bản châu tâu rằng khi giặc Ngô vây thành, thần đã báo cho người trong châu biết ngày giặc rút lui.
[59] Ngày Mậu Dần, chiếu cho các quan bộ thự và chuyển vận sứ ở bốn lộ Thiểm Tây kiêm chức Doanh điền sứ, chuyển vận phán quan kiêm quản câu Doanh điền sự.
[60] Ngày Canh Thìn, Đại Châu tâu rằng, biên giới cũ của Khiết Đan nằm trên đất mà Tô Trực đang canh tác, gần đây họ lại gửi văn thư muốn lấy thành Mãi Mã cũ làm biên giới, e rằng sẽ có việc xâm canh bất tiện. Chiếu cho bản phủ gửi văn thư khuyên bảo họ.
[61] Ngày Quý Mùi, chiếu cho Tam ty đúc tiền “Khánh Lịch Nguyên Bảo”.
[62] Phạm Ung, Tri Vĩnh Hưng quân, Tư chính điện học sĩ, Lại bộ Thị lang, được thăng làm Tư chính điện Đại học sĩ, Thượng thư Tả thừa. Trước đây, Ung tu sửa thành quân, có người cho là không tiện, xuống chiếu đình chỉ việc này. Ung giấu chiếu mà gấp rút hoàn thành[23], đến khi giặc đánh Định Xuyên, vùng Bân, Kì đều lo sợ, chỉ có Vĩnh Hưng không lo giặc.
(Việc tu thành, căn cứ theo bản truyện, ghi chép thêm.)
[63] Ngày Giáp Thân, Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Đinh Độ, Trực sử quán, Đồng tu Khởi cư chú Lương Thích, cùng Tam ty xá các khoản nợ của thiên hạ.
[64] Hứa Hoài Đức, Phó bộ thự Phu Diên, Long Thần vệ Tứ sương Đô chỉ huy sứ, Khang Châu Phòng ngự sứ, được điều làm Phó bộ thự Tần Phượng. Hoài Đức vì tội ra khỏi biên giới đánh giặc mà chần chừ không tiến, binh lính dưới quyền bỏ lương thảo theo quân, theo luật phải cách chức, nhưng vì đã được đại xá nên chỉ điều đi nơi khác, lệnh tự hặc tội.
[65] Xu mật viện tâu rằng, Phó bố trí Hoàn Khánh là Vương Trọng Bảo cùng các tướng phá được thành Kim Thang, chém được 27 thủ cấp, nhưng quân đội tử trận 49 người, lo ngại rằng quân địch sẽ lại đến xâm phạm biên giới, xin lệnh cho lộ Phu Diên chuẩn bị phòng bị, Vua nghe theo.
[66] Ngày Ất Dậu, giáng chức Hữu ban điện trực Hàn Tông Cẩn xuống làm Tam ban tá chức. Trước đây, chú của Tông Cẩn là Hàn Toại làm Trại chủ Khảo Lão ở Diên Châu, tử trận, vợ là Trương giả mạo Tông Cẩn là con của Toại để được làm quan. Đến nay việc bị phát giác, chiếu rằng vì Toại không có con nối dõi, nên đặc cách giáng chức bổ nhiệm.
[67] Cho con của Đô tuần kiểm các châu Thông, Thái là Triệu Kiêm Tốn là Triệu Sung làm Tam ban tá chức, Triệu Chương làm Tam ban sai sứ điện thị, vì Kiêm Tốn tử trận khi đánh giặc biển.
[68] Ngày Bính Tuất, điều Kiềm hạt Tần Phượng là Cao Kế Nguyên làm Tri châu Lũng. Tri châu Tần là Hàn Kỳ tâu rằng Kế Nguyên ở biên giới không hòa hợp với quân tình, nên điều đi.
[69] Cấm các quan ở biên giới mua ngựa tư, ai thiếu ngựa thì quan cấp cho.
[70] Ngày Đinh Hợi, thăng Đô giám Kinh Nguyên là Vương Văn làm Nội điện thừa chế. Vì Văn đánh bại tộc Đảng Lưu, chém được 240 thủ cấp, nên đặc cách thăng chức.
[71] Khôi phục chức Tây đầu cung phụng quan Vương Bỉnh làm Cáp môn chi hậu, chuyên quản việc thành Lung Can. Bỉnh trước đây vì phạm tội thất luật, bị đoạt chức làm Giám áp châu Vị, nay đã được ân xá, lại được Tri châu Vị là Vương Duyên tiến cử, nên có lệnh này.
[72] Ngày Mậu Tý, thăng Đại Lý tự thừa Tống Hồi làm Nội điện sùng ban, quản việc doanh điền lộ Thiểm Tây.
[73] Ngày Kỷ Sửu, Hàn lâm học sĩ Vương Nghiêu Thần dâng lên sách mới biên soạn 《Sùng Văn Tổng Mục》 gồm 60 quyển. Năm Cảnh Hữu đầu tiên, vì sách trong Tam quán và Bí các có nhiều sai lầm và không đầy đủ, nên sai quan định việc giữ hay bỏ, bèn bắt chước sách 《Khai Nguyên Tứ Bộ Lục》 làm thành 《Tổng Mục》, đến nay dâng lên. Sách tàng trữ gồm 30.669 quyển, nhưng có nhiều quyển trùng lặp, cũng có quyển đáng giữ mà bỏ sót không ghi chép.
[74] Ngày Canh Dần, bổ nhiệm các chức vụ: Tư chính điện học sĩ, Lễ bộ Thị lang Trương Quan; Hữu Gián nghị đại phu Tống Tường; Hàn lâm học sĩ kiêm Long đồ các học sĩ, Binh bộ Viên ngoại lang, Tri chế cáo, Phán Tập hiền viện Vương Nghiêu Thần; Hàn lâm học sĩ kiêm Thị độc học sĩ, Khởi phục Binh bộ Lang trung, Tri chế cáo, Phán Chiêu văn quán Niếp Quan Khanh; Binh bộ Viên ngoại lang, Tri chế cáo Quách Chẩn, đều được gia tăng phẩm trật và thực ấp khác nhau. Biên tu quan: Thái thường Bác sĩ, Trực Tập hiền viện Lữ Công Xước làm Công bộ Viên ngoại lang; Điện trung Thừa, Thiên chương các Thị giảng, Sử quán Kiểm thảo Vương Chu làm Thái thường Bác sĩ.
Các chức vụ hiệu khám: Điện trung Thừa Điêu Ước, Thái tử Trung doãn Âu Dương Tu, Trứ tác tá lang Dương Nghi, Đại Lý bình sự Lục Kinh, đều làm Tập hiền hiệu lý. Quản câu tam quán, Bí các: Nội điện Thừa chế Vương Tòng Lễ làm Cung bị khố Phó sứ; Nhập nội Cung phụng quan Bùi Tư, hậu Ngự dược viện mãn ngày ưu đãi cải quan; Cao ban Dương An Hiển làm Cao phẩm.
Trương Quan, Tống Tường tuy ở ngoài, nhưng vì từng đảm nhiệm chức vụ, cũng được dự vào.
Trần Kinh vốn họ Lục, mẹ ông tái giá với Trần Kiến Tố, nên mang họ Trần. Khi Kiến Tố mất, Kinh để tang xong, bèn trở lại họ cũ. Kiến Tố là người Hà Nam. Phú Bật viết văn bia mộ cho ông, con trai ông là Thích Hoành. Kiến Tố mất vào tháng 2 năm Cảnh Hựu thứ hai.
[75] Ngày Nhâm Thìn, Hữu Gián nghị đại phu, Quyền Ngự sử Trung thừa Liễu Thực làm Hàn lâm Thị độc học sĩ, Tri Đặng Châu, vì bệnh tự xin.
[76] Long đồ các Trực học sĩ kiêm Thị giảng, Lễ bộ Lang trung, Quyền Tri Khai Phong phủ Giả Xương Triều làm Hữu Gián nghị đại phu, Quyền Ngự sử Trung thừa.
[77] Bí thư thừa Như Hiêu Tiêu tâu: “Đồng đề điểm Hà Đông lộ hình ngục, Cung bị khố phó sứ Trần Đỉnh, vốn là xuất thân từ Tam ty; Đồng đề điểm Thiểm Tây lộ hình ngục, Nội điện thừa chế Trần Bỉnh, nguyên là y quan của Hàn Lâm. Hai lộ vốn có nhiều người tài giỏi, mà để hai người này giữ chức án sát, không phải là cách coi trọng sứ mệnh.”
Ngày Quý Tỵ, điều Trần Đỉnh đến Giang Nam Đông lộ, Trần Bỉnh đến Giang Nam Tây lộ, vẫn giữ chức Đồng đề điểm hình ngục. Các quan nghị luận cho rằng hai người này không nên giữ chức giám ty, dù điều đến lộ khác cũng không được. Tháng 2 năm sau, Trần Đỉnh bị bãi chức. Tháng 5 năm sau nữa, Trần Bỉnh cũng bị bãi chức.
(Như Hiêu Tiêu bị Dư Tĩnh hặc tội, cần xét lại. Ngày Đinh Sửu tháng 2 năm sau, Trần Đỉnh được bổ làm Ích Châu đô giám kiêm tri Lợi Châu. Ngày Mậu Tý tháng 5 năm thứ ba, Trần Bỉnh được bổ làm Kinh Nam đô giám. Nay ghi chép thêm.)
[78] Ngày Giáp Ngọ, Tri Vĩnh Hưng quân Phạm Ung tâu rằng Văn học tham quân Lương Tạo xin vào địa giới phía tây để thuyết phục Nguyên Hạo quy thuận. Vua nói với các phụ thần: “Lương Tạo là người nhờ bàn việc biên cương mà được làm quan, e rằng lời nói của hắn khoa trương, bị Di Địch coi thường, không nên cho phép.”
[79] Hàn Kỳ tâu: “Trận chiến ở ngoài núi trước đây, các tướng phần nhiều tử trận, binh lính dưới quyền không thể bị xử tội đồng loạt. Nay nếu không đặt ra pháp chế, thì mọi người chỉ lo sống còn, há còn để ý đến việc chủ tướng tử trận! Nếu số lượng không nhiều, thì quân pháp có thể thi hành nghiêm ngặt. Xin cho các lộ Thiểm Tây, Hà Đông được phép đặt thân binh 150 người, Kiềm hạt 100 người, Chiêu thảo, Đô giám 70 người, mỗi tháng cấp thêm 200 tiền, nếu khi xuất quân đối địch mà chủ tướng tử trận thì đều xử trảm.” Vua nghe theo.
[80] Chiếu cho các lộ Thiểm Tây, ngoại trừ những người đang sung vào đội ngũ bảo nghị, cường tráng và cung tiễn thủ, thì lập riêng quân Hộ Tắc, chiêu mộ những người thông thạo địa hình núi sông, hiểu rõ tình hình người Phiên, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, xăm mực vào cánh tay để sung vào quân ngũ, mỗi 200 người làm một chỉ huy, tự trang bị vũ khí, tập hợp tại hương gian[24] để luyện tập võ nghệ. Mỗi quý tập hợp một lần tại châu để duyệt binh, không có việc gì thì cho về làm ruộng, mỗi tháng cấp muối và trà. Khi có biến thì triệu tập để phòng thủ[25], lập tức cấp lương thực, không được vượt quá phạm vi của lộ.
(《Phạm Trọng Yêm tấu nghị》 quyển 10, nói việc này bất tiện, có thể xóa bỏ hoặc phụ lục.)
[81] Ngày Ất Mùi, tiến phong nhũ mẫu Lâm thị, tước hiệu Tấn quốc Từ Thọ Phúc Thánh phu nhân, lên làm Hàn quốc Hiền Hòa Hữu Thánh phu nhân.
[82] Ngày Bính Thân, Tông Thực, chức Hữu Thiên Ngưu vệ Đại tướng quân, được thăng làm Hữu Vũ Lâm vệ Đại tướng quân.
[83] Ngày Đinh Dậu, chiếu cho Kinh kỳ và Kinh Tây lộ giảm giá bán thóc quan để cứu tế dân nghèo.
[84] Tiến phong Tài nhân Trương thị lên làm Tu viện.
[85] Ngày Mậu Tuất, chiếu định từ nay Đại học sĩ điện Tư chính đặt hai viên, Học sĩ ba viên.
[86] Khôi phục chức Từ bộ Viên ngoại lang Triệu Khái làm Trực Tập hiền viện, Tri châu Trừ.
Trước đây Khái bị cách chức vì liên quan đến việc bảo lãnh không đúng người, đến nay được ân xá khôi phục chức vụ, người được bảo lãnh là Trương Cáo. Cáo phạm tội tham nhũng, bị lưu đày ra biển. Khái cũng bị khiển trách nhiều năm, nhưng vẫn thương xót Cáo không suy giảm, người đời khen Khái là người nhân hậu.
[87] Ngày Kỷ Hợi, Cao Kế Tuyên, chức Binh Đại Duyên biên Chiêu thảo Kinh lược An phủ sứ, Tri châu Binh, kiêm quản lương thảo của lộ.
[88] Phạm Trọng Yêm, Tri châu Khánh, tâu rằng: “Từ nay xin cho các Trại chủ, Binh mã Giám áp ở biên giới do Bộ thự ty tiến cử, nếu tiến cử không đúng người, dẫn đến mất thành trại, dù đã được ân xá hoặc đổi đi nơi khác, cũng không được miễn tội.” Được chấp thuận.
[89] Ngày Canh Tý, Quốc mẫu nước Khiết Đan phái Tả Giám môn vệ Thượng tướng quân Gia Luật Nguyên Đức, Xuân châu Quan sát sứ Hàn Vĩnh Tích; Khiết Đan phái Trưởng Ninh Tiết độ sứ Gia Luật Phúc, Thái phủ khanh Hàn Bảo Hoành sang chúc mừng ngày Chính đán.
[90] Năm này, Dương Thông Hán, Tri châu Huy ở động Khê thuộc Hồ Nam, đến cống nạp sản vật địa phương.
- Chỉ dẫn theo tên rượu thời Hán để so sánh, chữ 'thời' nguyên bản là 'thất', căn cứ theo bản Tống toát yếu, các bản khác và 《Thái Thường Nhân Cách Lễ》 quyển 13 sửa lại. ↵
- chưa từng đảm nhận trọng trách: 'canh' nguyên bản là 'tiện', theo các bản khác và 《Lạc toàn tập》 quyển 21, 《Luận trừ Vị châu lộ chiêu thảo sứ sự》 sửa lại ↵
- Việc vận chuyển lương thực từ xa gần 'Viễn cận', trong 《Lạc Toàn Tập》 quyển 20, 'Thỉnh nhân giao nhân tứ xá chiêu hoài tây tặc tráp tử' chép là 'Viễn cận đồn thú'. ↵
- 'Ngỗ ngược' chữ 'nghịch' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Trị Tích Thống Loại》 quyển 7 'Khang Định Nguyên Hạo Nhiễu Biên' bổ sung. ↵
- 'Khi gặp khó khăn' chữ 'sảo' nguyên bản thiếu, căn cứ theo sách trên bổ sung. ↵
- 'Đức nghĩa sâu dày' chữ 'nghĩa' nguyên bản là 'ý', căn cứ theo sách trên và 《Lạc Toàn Tập》 sửa lại. ↵
- 'Lúc đó, biên cương có thể giữ vững, lòng dạ của rợ cũng bỏ cảnh giác, mà nói rằng hòa hảo kéo dài đến nay' - Tống bản, Tống toát yếu bản đều giống nhau. Trong 《Lạc Toàn Tập》 bốn chữ cuối viết là 'đến nay vẫn vững chắc'. Các bản viết là 'lúc đó cũng không dám bảo lòng dạ của rợ bỏ cảnh giác, mà có thể kéo dài hòa hảo đến ngày nay', có lẽ các bản này đúng. ↵
- Chi phí biên phòng mỗi năm thuế khóa hàng nghìn vạn, 'biên sự' trong bản Tống viết là 'sự biên'; 'thuế khóa hàng nghìn vạn' trong bản Tống viết là 'mỗi năm vài chục vạn', trong 《Lạc Toàn Tập》 cũng viết là 'mỗi năm gần mười vạn'. ↵
- Nên ngăn chặn những kẻ này, ba chữ 'nên ngăn chặn' nguyên bản không có, căn cứ theo 《Tống Hội Yếu》 Hình pháp 2-26 bổ sung. ↵
- Chữ 'hậu' nguyên là 'phục', theo bản Tống toát yếu và 《Lạc Toàn tập》 quyển 20 sửa lại. ↵
- Mười hai nghìn, nguyên bản là 'một nghìn', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và bản 《Phạm Văn Chính Công Tập》 sửa lại. ↵
- 'chủ' nguyên là 'thổ', theo sách trên sửa lại ↵
- 'Phạm Toàn' nguyên là 'Uyển Toàn', theo sách trên sửa lại ↵
- 'hai mùa hạ' nguyên là 'ba mùa hạ', theo 《Hậu Hán thư》 quyển 65 truyện Đoàn Quýnh và sách trên sửa lại ↵
- 'Như vậy' trong 《Phạm Văn Chính công tập》 là 'Như' ↵
- 'do' nguyên bản là 'xuất', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Phạm Văn Chính Công tập》 quyển 5 'Nghị thủ' sửa lại. ↵
- 'tu' nguyên bản là 'tuy', theo bản Tống toát yếu và 《Phạm Văn Chính Công tập》 sửa lại. ↵
- 'lợi' nguyên bản là 'địa', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Phạm Văn Chính Công tập》 sửa lại. ↵
- mà bậc quân chủ vì lợi ích của dân chúng 'mà' chữ nguyên bản thiếu, theo sách trên bổ sung. ↵
- thì phải tính kế lâu dài mà sức dân không kiệt quệ 'kế' chữ nguyên bản thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách trên bổ sung. ↵
- Chữ 'nhân' nguyên bản thiếu, chữ 'tái' nguyên bản viết là 'trại', nay căn cứ vào các bản khác để bổ sung và sửa lại. ↵
- Chữ 'tịch' nguyên bản viết là 'cực', nay căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản và các bản khác để sửa lại. ↵
- 'Giấu' nguyên bản là 'nghịch', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tống sử》 quyển 288, 《Phạm Ung truyện》 sửa lại. ↵
- hương gian, các bản khác và 《Tống sử》 quyển 191, chí binh viết là 'hương lư'. ↵
- 'triệu tập' nguyên bản có chữ 'tập', căn cứ theo sách trên mà bỏ. ↵