"

IV. TỐNG NHÂN TÔNG

QUYỂN 144: NĂM KHÁNH LỊCH THỨ 3 (QUÝ MÙI, 1043)

Bắt đầu từ tháng 10 năm Khánh Lịch thứ 3 đời Vua Nhân Tông đến hết tháng đó.

[1] Tháng 10, mùa đông, ngày Ất Mùi mùng một, Lưu Hãng, Hữu Gián nghị đại phu, Tri Giang Ninh phủ, được bổ nhiệm làm Long Đồ các Trực học sĩ, Tri Đàm châu, phụ trách việc kinh chế man.

(Lưu Hãng kiêm chức An phủ sứ, nhưng việc này thực tế xảy ra vào tháng 2 năm thứ 5, lúc này chưa có, sử truyện gộp lại nói, nay không lấy. Tuy nhiên, sách 《Hội Yếu》 cũng ghi rằng tháng 10 năm này lần đầu đặt Ty An phủ Hồ Nam, phù hợp với sử truyện, cần xem xét thêm.)

[2] Ngày Bính Thân, xuống chiếu cho Ty Chuyển vận Lộ Lợi Châu, nghe nói bọn giặc vào cướp dân chúng ở Kim Châu, lệnh cho hai châu Lương và Dương xuất binh đánh chặn.

[3] Ngày Đinh Dậu, Lý Chiêu Lượng, Bộ quân Phó đô chỉ huy sứ, Cảm Đức quân Lưu hậu, được bổ nhiệm làm Đô bộ thự phủ Chân Định, lộ Định Châu.

Gián quan Âu Dương Tu nói:

“Thần thấy triều đình từ Hà Đông điều Lý Chiêu Lượng làm Đô bộ thự Chân Định. Thần nghĩ rằng kẻ địch gian trá, ắt sẽ gây họa cho quốc gia, việc biên cương phía Bắc luôn cần phải có sự chuẩn bị. Việc này, bệ hạ đã từ lâu lo lắng, các đại thần chấp chính không phải không biết mà lo, người trong thiên hạ cũng đều lo lắng cho triều đình. Lý Chiêu Lượng bất tài, không đủ khả năng làm tướng soái[1], không thể giao binh quyền. Việc này, bệ hạ đã từ lâu biết rõ, các đại thần chấp chính không phải không biết, người trong thiên hạ cũng đều biết, không rõ vì sao đột nhiên có mệnh lệnh này? Phàm việc triều đình làm không đúng, hoặc vì việc nhỏ mà bỏ qua, có thể không biết, dẫn đến sai lầm khi thi hành, nhưng chưa từng có việc đại sự đáng lo của thiên hạ mà cả trên dưới đều biết, lại công khai sai trái, giao cho người không xứng đáng như thế này.

Thần đoán rằng nghị luận của hai phủ, ắt là do Thi Xương Ngôn gần đây tấu rằng ba lộ thiếu Đô bộ thự, mà hiện tại không có người, nên tạm dùng Chiêu Lượng để ứng phó, rồi sẽ từ từ chọn người khác, chỉ như vậy mà thôi. Nhưng thần thấy triều đình làm việc thường hay trì hoãn, khi cấp bách thì làm qua loa, vừa xong liền bỏ, không để ý nữa. Ví như sai Quách Thừa Hữu đến Trấn Định, sau vì bất tài mà bãi chức, dùng Khang Đức Dư làm Kiềm hạt, bỏ trống chức Đô bộ thự, vốn để chờ chọn người khác.

Thần ban đầu vui mừng vì triều đình ắt sẽ từ đây cẩn thận trong việc chọn người, nhưng đã qua mấy tháng, có từng dụng tâm tìm người đâu? Một khi Xương Ngôn tấu lên, lại sai Chiêu Lượng đi. Nay lúc bình thường không có việc gì còn như vậy, không thể chọn người để dùng, huống chi một khi có việc gấp, lại tìm người ở đâu? Vì thế thần cho rằng việc triều nghị muốn từ từ chọn người thay Chiêu Lượng, chỉ là lời nói suông mà thôi.

Hiện nay thiên hạ rộng lớn, không thể nói là không có người tài, chỉ là triều đình không có phương pháp để thu phục họ mà thôi. Thà dùng kẻ bất tài để hỏng việc, chứ không chịu khó tâm sức để chọn người tài. Việc đến mức nguy hiểm, thật đáng thương xót. Thần nghĩ về nguyên nhân triều đình thiếu người tài để sử dụng[2], là do cứ theo lệ thường, phải dùng người theo thứ bậc và kinh nghiệm, không dám vượt cấp bổ nhiệm, nên không có người tài để dùng. Người xưa nói: ‘Khó khăn ở việc chọn người hiền, dễ dàng ở việc sử dụng họ.’ Ngày nay người tài đã khó tìm, mà tìm kiếm lại không chuyên tâm, đợi họ tự đến, làm sao có được?

Thần đã nhiều lần dâng lời khuyên về phương pháp tuyển chọn tướng lĩnh, nhưng chưa được thi hành. Lại từng xin chọn tướng ở mười mấy châu ven biên giới, cũng không được chấp nhận. Thà công khai chọn kẻ bất tài, giao cho quyền bính lớn, một khi hỏng việc, hối hận sao kịp! Kính mong bệ hạ xuất phát từ quyết đoán sáng suốt, sớm sai hai phủ chọn người thay thế Chiêu Lượng, và sớm bàn bạc phương pháp chọn tướng. Nếu khó tìm được đại tướng ngay, xin hãy chọn trong số những người có chức vụ thấp và kinh nghiệm ít ở các châu quân ven biên giới, có lẽ dễ tìm hơn.

Trước đây, tên họ của sứ giả phương Bắc chậm vài ngày, sĩ phu trong ngoài đã lo lắng nghi ngờ. Nay may mắn họ chưa động binh, nên chuẩn bị trước. Binh pháp nói: ‘Đừng trông chờ họ không đến, mà hãy chuẩn bị sẵn sàng để đối phó.’ Mong bệ hạ vì kế sách xã tắc, suy nghĩ kỹ và thực hiện, thì thiên hạ may mắn biết bao.”

(Bài luận về việc chọn tướng trong quân đội, có thể phụ thêm vào đây.)

[4] Bắc Tác phường sứ, Thứ sử Phong châu Khang Đức Dư được bổ nhiệm làm Kiềm hạt Tịnh Đại, kiêm Tri Đại châu.

[5] Viện Xu mật tâu: “Các lộ Tri châu kiêm chức Đề cử binh giáp đạo tặc, nếu không có tài lực hoặc lười biếng, hôn mê, xin chọn người từ cấp Lưỡng tỉnh trở lên hoặc từng trải qua chức Chuyển vận sứ, Đề điểm hình ngục để thay thế. Và lệnh xem xét các chức Đô giám, Tuần kiểm, Huyện úy thuộc quyền không làm tốt việc, báo tên lên.” Được chấp thuận.

[6] Tri Quang Hóa quân Hàn Cương tính tình khắc nghiệt, không thể vỗ về quân sĩ. Lúc đó, bọn giặc Trương Hải cướp bóc đến biên giới, Cương dẫn ba trăm quân Tuyên Nghị mặc giáp lên thành phòng thủ, hơn mười ngày. Trong thành, dân giàu chuẩn bị rượu thịt khao quân, Cương thu một nửa, đem cầm lấy tiền mua vũ khí. Quân sĩ ở xa, có khi không được ăn uống kịp thời, còn bánh do Cương cấp thường đến tối mới đưa, khô cứng không ăn được.

Khi sứ thần giám sát đến, quân sĩ không mang theo sổ lĩnh lương[3], dân giàu lại xin nộp tiền để giúp, Cương nói: “Quân sĩ bản quân còn chưa đủ, huống chi là giám sát?” Quân sĩ nghe lời đồn rằng dân hiến tiền để cấp cho quân phòng thành, nhưng tri quân từ chối, càng oán giận. Cương lại sai hiệu úy Vương Đức vẽ bản đồ bố trí trong thành, lâu không xong, Cương mắng: “Ta không dám chém ngươi sao!” Bèn gọi đao phủ cầm kiếm đứng dưới sân, mọi người càng sợ hãi.

Lúc đó có người dâng lương được làm quan là Lạc Tử Trung đến yết kiến Cương[4], Cương bảo Tử Trung không cần lạy, quân sĩ nghe nhầm, tưởng Tử Trung hiến tiền mà Cương lại từ chối. Đang lúc cấp phát lương thực, viên liêu Thiệu Hưng quát mọi người đứng dậy: “Các ngươi đừng ăn!” Mọi người liền ném bánh xuống sân. Cương nổi giận, bắt mấy người, xiềng lại giam vào ngục. Hưng sợ hãi, ngày hôm sau Mậu Tuất, Hưng dẫn quân cướp kho vũ khí, định giết Cương. Cương trèo thành chạy trốn, đem gia quyến xuống thuyền nhỏ, theo sông Hán xuôi dòng, quan lại cũng đều bỏ trốn. Hưng bèn đốt phá cướp bóc dân chúng, bắt chỉ huy sứ Lý Mỹ và hơn ba trăm quân sĩ đi về phía Thục. Lý Mỹ già yếu không đi được, tự tử. Cương là con trưởng của Hàn Ức.

[7] Chiếu cho Hậu uyển tạo tác sở từ nay hoa đeo của Vua không được dùng vàng khảm.

[8] Ngày Tân Sửu, ban cho Truyền pháp viện, Tự vụ ty mỗi năm năm trăm ngàn tiền.

[9] Ngày Nhâm Dần, ban 22 khoảnh ruộng của cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng cho Quốc Tử Giám.

[10] Ngày Quý Mão, cử Quyền phát khiển Độ chi phán quan, Ngu bộ Viên ngoại lang Đỗ {Mộc Tỵ} làm Kinh Tây chuyển vận án sát sứ kiêm Thể lượng an phủ, vì triều đình cho rằng ông có tài năng để đốc thúc trị tội bọn giặc cướp.

[11] Ngày Giáp Thìn, điều Thông phán Trấn Nhung quân, Thái thường Bác sĩ Phạm Tường làm Tri châu Nhữ Châu, ban cho áo mặc ngũ phẩm. Trước đây, giặc phương Tây vây đánh Trấn Nhung quân, Phạm Tường cố thủ có công, nên được ban thưởng. Phạm Tường là người Tam Thủy.

(Bản truyện của Phạm Tường chép rằng, đầu niên hiệu Khang Định, ông làm Thông phán Trấn Nhung quân, khi Tri quân Cao Kế Tung chết, Triệu Nguyên Hạo vây thành rất gấp, Phạm Tường chỉ huy tướng sĩ chống cự và đẩy lui giặc. Ông tâu xin xây dựng Lưu Phan bảo và Định Xuyên trại[5]. Ông từng làm Tri châu các châu Khánh, Nhữ, Hoa. Nay 《Thực lục》 chép Phạm Tường từ chức Thông phán Trấn Nhung quân chuyển sang làm Tri châu Nhữ Châu, chưa từng làm Tri châu Khánh Châu, khác với bản truyện.

Lúc này Triệu Nguyên Hạo đã xin hòa, chắc chắn không tái phạm Trấn Nhung, chắc là việc đầu niên hiệu Khang Định; theo 《Hành trạng》 của Phạm Dục, con Phạm Tường, chép việc giữ Trấn Nhung rất chi tiết, cũng nói là đầu niên hiệu Khang Định. Tuy nhiên, việc đầu niên hiệu Khang Định đến nay mới ban thưởng, thì không rõ lý do. 《Hành trạng》 chép ông làm Thông phán Khánh Châu, vì Trương Hải cướp phá Kinh Tây, nên được thăng làm Tri châu Nhữ Châu, khác với bản truyện. Có lẽ Phạm Tường được bổ làm Thông phán Khánh Châu nhưng chưa nhận chức, nên đổi làm Tri châu Nhữ Châu, nay chỉ theo 《Thực lục》.)

[12] Gián quan Âu Dương Tu tâu: “Thần nghe rằng Phạm Trọng Yêm, Phú Bật từ khi nhận được chiếu chỉ, đã trình bày các sự việc cần phải xem xét và thực hiện. Thần nghe từ xưa các bậc đế vương muốn trị nước, đều cần những người đồng lòng hợp sức[6], cùng nhau duy trì, gọi là cơ hội ngàn năm một thuở. Nay Phạm Trọng Yêm gặp được bệ hạ thánh minh, có thể nói là cơ hội khó gặp, bệ hạ có Phạm Trọng Yêm cũng là bậc hiền thần khó tìm. Bệ hạ đã hết lòng đối đãi, Phạm Trọng Yêm cũng tận tâm báo đáp, trên dưới như vậy, thần cho rằng việc gì cũng thành, chỉ cần xem cách thực hiện thế nào.

Huống chi Phạm Trọng Yêm, Phú Bật là người bệ hạ đặc biệt chọn lựa, khi mới dùng, thiên hạ đều vui mừng, nhưng thần vẫn lo rằng bệ hạ đã chọn được người, nhưng chưa biết dùng thế nào. Gần đây thấy bệ hạ mở Thiên Chương các, thong thả hỏi han, tự tay viết chiếu chỉ, dặn dò kỹ lưỡng, rồi trong ngoài đều xôn xao, vừa kinh ngạc vừa vui mừng. Hai việc lớn này, sáng báo về kinh, chiều truyền khắp bốn biển, đều nói từ trước đến nay[7] chưa từng giao trách nhiệm lớn cho đại thần như vậy. Người trong thiên hạ đều ngẩng đầu trông đợi xem bệ hạ dùng hai người này có tài năng gì, hai vị đại thần này sẽ báo đáp bệ hạ bằng việc gì. Việc được mất của bệ hạ, nằm ở hành động này, sự an nguy của dân chúng, cũng hệ ở lúc này.

Vì thế, Phạm Trọng Yêm không thể không tận tâm phát huy tài năng, bệ hạ cũng nên kiên quyết chủ trương thực hiện, để trên không làm hỏng sự sáng suốt trong việc dùng người, dưới không làm mất lòng tin của thiên hạ. Thần không phải không biết bệ hạ đang chuyên tâm quyết chí, không tự buông lỏng, các đại thần trong ngoài đều lo cho nước, chắc chắn không đố kỵ nhau. Nhưng điều thần lo là, những điều Phạm Trọng Yêm nói, trước hết phải dứt bỏ những việc may rủi, cầu an, khoan dung, mới có thể cứu vãn những tệ nạn tích tụ lâu nay.

Những việc như vậy, đều sẽ gây oán giận cho tiểu nhân, không tránh khỏi những lời bàn tán xôn xao, những kẻ gian tà chưa bị trừ bỏ, sẽ thường xuyên gièm pha, nếu bệ hạ nghe theo chút ít, thì việc sẽ không thành. Thần cho rằng lúc mới bắt đầu việc này, càng cần trên dưới hợp sức. Những oán giận của tiểu nhân, Phạm Trọng Yêm tự mình gánh vác, những lời gièm pha gian tà, bệ hạ cũng phải kiên quyết cự tuyệt. Đợi lâu dần ổn định, tự nhiên sẽ thấy thành công. Thần mong bệ hạ lưu tâm, kiên trì đến cùng, đó là phúc của xã tắc, là may mắn của thiên hạ.”

(Xét Phạm Trọng Yêm trình bày mười việc, điều thứ tư là chọn quan trưởng. Ngày Bính Ngọ 12 tháng này, Trương Ôn Chi được chọn làm Chuyển vận án sát sứ, tức là việc chọn quan trưởng, đây là việc trong mười điều được thực hiện trước.

Tấu chương của Âu Dương Tu không rõ thời gian, nay phụ chép vào đây.)

[13] Ngày Bính Ngọ, Diêm thiết phó sứ, Công bộ lang trung Trương Ôn Chi được bổ nhiệm làm Thiên Chương các đãi chế, Hà Bắc đô chuyển vận án sát sứ; Binh bộ viên ngoại lang, Tri gián viện[8] Vương Tố được bổ nhiệm làm Thiên Chương các đãi chế, Hoài Nam đô chuyển vận án sát sứ; Diêm thiết phán quan, Binh bộ viên ngoại lang Trầm Mạc được bổ nhiệm làm Trực sử quán, Kinh Đông chuyển vận án sát sứ. Đây là theo lời tâu của Phú Bật, Phạm Trọng Yêm và những người khác.

Trước đây, Phạm Trọng Yêm, Hàn Kỳ và những người khác đã tâu rằng: “Xưa kia, trong triều đình đặt ra các chức công khanh, sĩ đại phu để giúp thiên tử quản lý và giám sát chính sự trong thiên hạ; bên ngoài thì đặt ra các chức nhạc mục, thứ sử, phương bá, quan sát sứ, thái phỏng sứ để thống lĩnh các chư hầu và thủ tể, phân chia mà cai trị. Nếu cả trong lẫn ngoài đều có người tài giỏi, thì thiên hạ chưa từng không được trị vì tốt đẹp. Ngày nay, chức chuyển vận sứ, án sát sứ chính là chức vụ của nhạc mục, phương bá, thứ sử, quan sát sứ, thái phỏng sứ thời xưa; chức tri châu, tri huyện chính là nhiệm vụ của chư hầu và thủ tể thời xưa. Quan lại trong ngoài tuy nhiều, nhưng người cùng bệ hạ trị vì thiên hạ, chỉ có thủ tể là quan trọng nhất.

Những năm gần đây, không chú trọng tuyển chọn, những kẻ bất tài, tham nhũng, già yếu đều được bổ nhiệm theo lệ. Nhìn từ một huyện đến một châu, từ một châu đến một lộ, từ một lộ đến cả thiên hạ, đều như vậy cả. Trong số đó, dù có vài vị quan tốt, nhưng cũng chỉ một hai trong trăm người, khiến cho thuế má trong thiên hạ không được công bằng, kiện tụng không được giải quyết, hạn hán lũ lụt không được cứu giúp, trộm cướp không được trừ diệt. Dân chúng không có nơi để kêu oán, tất sinh ra oán hận, mà không nghĩ đến việc làm phản thì chưa từng có. Dân đã oán hận và làm phản, kẻ gian hùng sẽ nổi lên thu phục họ, thì thiên hạ tất sẽ nguy hiểm.

Nay dân đang oán hận nhưng chưa đến mức làm phản, nên khẩn cấp cứu giúp họ. Cách cứu giúp tốt nhất, không gì bằng chọn được người tài làm thủ tể. Muốn chọn được người tài làm thủ tể, xin hạ chiếu cho hai phủ cùng tuyển chọn chuyển vận sứ, nếu không đủ, cho phép tạm thời bổ nhiệm người làm tri châu. Đã chọn được người tài, thì giao cho các lộ tự chọn tri châu, ai không làm tốt nhiệm vụ thì tâu xin bãi chức, lệnh cho tạm thời bổ nhiệm người làm thông phán. Đã chọn được người tài, thì giao cho các châu tự chọn tri huyện, huyện lệnh, ai không làm tốt nhiệm vụ thì tâu xin bãi chức, lệnh cho tạm thời bổ nhiệm người làm mạc chức.

Làm như vậy, tất cả đều sẽ chọn được người tài. Những người được bổ nhiệm tạm thời, phải đợi khi có thành tích chính trị, một hai năm sau mới chính thức bổ nhiệm. Dù đã chọn lựa kỹ càng, nhưng vẫn sợ có người không xứng chức, tất phải giáng chức hoặc cách chức, đợi đến khi mọi người đều xứng chức mới thôi. Lại lệnh cho họ giữ chức lâu dài, không nên thay đổi nhiều lần, những người có chính sách khác biệt, nên được thăng chức. Nếu làm được như vậy, quan lại tu chỉnh chính sự, thì thiên hạ tự nhiên sẽ yên ổn, triều đình chỉ cần nắm đại cương mà chấn chỉnh là được.”

Vua nghe theo lời tâu, nên những người như Ôn Chi đều được chọn đầu tiên. Tố vào từ biệt, Vua bảo rằng: “Khanh nay đã rời khỏi gián viện, nếu còn việc gì chưa nói, có thể nói hết ra.”

(Đây là mười việc mà Trọng Yêm và những người khác đã tâu lên, việc thứ tư là chọn quan trưởng, đã ghi rõ vào ngày Đinh Mão tháng chín, nay lại chép thêm. Mười việc đều theo như thế, nếu không biết thì để trống.)

[14] Thái thường bác sĩ, Bí các hiệu lý Tôn Phủ làm Hữu chính ngôn, tại Gián viện nhận chức.

[15] Ban thưởng tiền cho quân sĩ các châu Kinh Hồ, Tương, Đặng… tham gia bắt giặc.

[16] Điều Tri Đức châu, Hữu tán thiện đại phu Lý Túc Chi làm Đề điểm hình ngục lộ Quỳ Châu. Túc Chi là cháu của Lý Địch, trước làm Thông phán châu Thiền, vì dâng sớ đề nghị sửa thành nên được thăng làm Tri Đức châu. Lúc đó, người Man ở Thí, Kiềm là Điền Trung Bá quấy nhiễu biên giới, nên triều đình chọn Túc Chi. Đến nơi, ông thẳng đến trại biên giới, dùng uy tín để khuyên bảo, mọi người đều sợ phục. Triều đình ban chiếu khen thưởng.

(Việc này căn cứ theo bản truyện của Túc Chi. Sự việc về Điền Trung Bá còn được ghi chép vào tháng 11 năm thứ 4, khi Bành Thừa tu chú, cần xem xét thêm.)

[17] Ngày Đinh Mùi, lấy Hữu chính ngôn, Tập hiền hiệu lý Dư Tĩnh làm Chánh đán sứ sang nước Khiết Đan thay cho Trương Ôn Chi.

[18] Ban chiếu rằng: “Những sổ thuế trong thiên hạ có việc làm giả sách vở để trốn đi, hoặc nhân việc chia cắt mà trốn tránh, hoặc chiếm công điền mà không nộp thuế, những việc như thế, nếu quan huyện lệnh và tá lại có thể phát hiện ra tệ nạn để tăng thu nhập cho quốc khố thì sẽ bàn thưởng.”

Ban đầu, huyện Phì Hương, châu Minh có việc thuế ruộng không công bằng, lâu ngày không thể giải quyết, Chuyển vận sứ Dương Giai lo lắng về việc này. Đại Lý tự thừa Quách Tư nói: “Việc này không khó, chỉ cần đi một chuyến là có thể quyết định ngay.” Giai liền cử Tư làm quyền lệnh, đồng thời phái Bí thư thừa Tôn Lâm cùng tham gia. Tư và Lâm dùng phương pháp đo đạc ruộng đất “Thiên bộ phương điền” đi khắp nơi đo đạc, thu được số liệu, miễn thuế cho 400 hộ không có đất, điều chỉnh thuế cho 100 hộ có đất nhưng không phải nộp thuế, thu được 80 vạn tiền thuế còn nợ, dân lưu tán mới trở về.

Đến khi Vương Tố làm Gián quan, đề nghị điều chỉnh thuế ruộng trong thiên hạ, Âu Dương Tu liền nói về phương pháp đo đạc ruộng đất của Quách Tư và Tôn Lâm, đơn giản mà dễ thực hiện, xin triệu hai người này về. Tam ty cũng cho là phải, và xin chọn bốn châu Bạc, Thọ, Nhữ, Thái là những nơi bất công nhất để điều chỉnh. Do đó, cử Quách Tư và Tôn Lâm đến châu Thái trước, bắt đầu đo đạc huyện Thượng Thái, thu được 26.930 khoảnh ruộng, điều chỉnh thuế cho dân. Sau đó, Quách Tư nói các châu huyện có nhiều ruộng bỏ hoang, không thể đo đạc hết được, triều đình cũng ngại tốn công sức, nên bãi bỏ.

Tôn Lâm là người Cộng Thành.

(Sách 《Ký văn》 cho rằng các quan chấp chính không đồng ý với đề nghị này, nên ngăn lại và bãi bỏ. 《Bản truyền》 của Quách Tư nói rằng ông phải về chịu tang mẹ, nay theo 《Thực hóa chí》.)

[19] Lại có chiếu rằng nếu có kẻ trộm giết người và cướp bóc, các quan lại bắt giặc phải ngay trong ngày báo cáo số người bị giết và cướp bóc[9] lên châu quân sở tại, các châu quân cũng phải trong ngày tấu lên, nếu dám giấu giếm hoặc trì hoãn, đều bị xử theo tội vi phạm chế độ.

[20] Ngày Mậu Thân, Vua xuống chiếu cho Trung thư và Xu mật viện cùng chọn các quan đề điểm hình ngục ở các lộ. Điện trung thừa, Tri nhạc châu Dương Điền[10] được bổ làm Đề điểm hình ngục lộ Kinh Hồ Nam. Lúc đó đang đánh dẹp man Dao, Vua sai Điền đốc thúc việc này.

Điền là chắt của Dương Trọng Huân.

[21] Ngày Canh Tuất, điều Thi Xương Ngôn, Đô chuyển vận án sát sứ lộ Hà Bắc, làm Đô chuyển vận án sát sứ lộ Hà Đông. Xương Ngôn đến Hà Đông, có người xin lập 12 trại ở Lân, Phủ để mở rộng biên giới, Vua lại xuống chiếu cho Xương Ngôn cùng Minh Hạo, Trương Kháng xem xét việc này có thể làm được không. Xương Ngôn cho rằng: Lân, Phủ ở ngoài sông, không đem lại lợi ích gì cho quốc gia, mà đến nay vẫn phải cung cấp lương thực để phòng thủ, chỉ vì sợ mang tiếng là thu hẹp lãnh thổ. Nay không nên làm thêm những việc vô ích như lập trại, khiến hao tổn thêm tài lực. Vua nghe theo.

(Việc Trương Kháng tăng thêm các bảo trại, cần xem xét thêm từ tháng 6 năm thứ 4 trở đi.)

[22] Ngày Tân Hợi, Diêu Tự Tông, Quân sự phán quan châu Hoàn, được bổ làm Trứ tác lang, Câu đương công sự ty Bộ thự bốn lộ Thiểm Tây. Trước đây, Phạm Trọng Yêm tiến cử Tự Tông văn chương có thể làm việc ở quán các, nhưng tài năng của ông chưa được phát huy, xin thăng chức cho ông, để giúp việc ở phủ tướng Thiểm Tây. Vua xuống chiếu nghe theo lời xin này[11].

[23] Tăng thêm một viên Mạc chức quan ở châu Đặng. Trước đây, châu này tâu rằng trước có 4 viên Mạc chức quan, sau giảm bớt 2 viên, thấy nhiều việc bị bỏ bê, nên lại tăng thêm.

[24] Ngày Quý Sửu, Gián quan Dư Tĩnh đi sứ Khiết Đan, ngày từ biệt, ông viết những việc cần tâu lên vào cái hốt, mỗi việc ghi bằng một chữ, tổng cộng mấy chục chữ. Vua trông thấy, chỉ vào từng chữ bảo ông trình bày từng việc, đến gần chiều mới xong.

[25] Ngày Giáp Dần, khôi phục lại chức Chuyển vận phán quan ở các lộ, và ban chiếu cho Trung thư, Xu mật viện cùng tuyển dụng. Năm Thiên Thánh thứ 7, lần đầu đặt chức Chuyển vận phán quan ở Ích, Tử, Quảng Đông Tây, sau đó khuyết không bổ nhiệm chính thức, nên gọi là khôi phục. (Sau năm Thiên Thánh, khuyết không bổ nhiệm, cần xem xét. Hai phủ cùng tuyển, ngày đó là Tân Dậu, nay ghi chung.)

[26] Ngày Ất Mão, ban chiếu tu sửa sách binh pháp, Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Đinh Độ làm người đề cử, Tập hiền hiệu lí Tăng Công Lượng, Chu Thái làm Kiểm duyệt quan. Chu Thái vào tháng 9 ngày Bính Dần, từ chức Tá trứ tác, Trực giảng được bổ làm Tập hiền hiệu lí, sau đó mất, trong tập của Phạm Trọng Yêm có tấu trạng xin lục dụng em trai ông.

[27] Ngày Đinh Tỵ, Sử quán tu soạn Vương Chất, Tập hiền hiệu lí, Thiên Chương các thị giảng Tăng Công Lượng cùng xem xét định việc biên soạn sắc lệnh.

[28] Ngày Kỷ Mùi, Phạm Trọng Yêm tâu: “Thần thấy các quan kinh triều, sứ thần, người được tuyển chọn dâng trạng, hoặc bàn về công lao, hoặc kêu oan về lỗi lầm, hoặc xin bổ nhiệm, những việc rõ ràng có thể thi hành hoặc bãi bỏ thì triều đình liền có chỉ thị. Những việc mà Trung thư, Xu mật viện chưa thấy văn bản gốc, hoặc e rằng Thẩm quan viện, Tam ban viện, Lưu nội tuyển có điều lệ riêng khó xử lý ngay, thường đều phê chuyển đến các cơ quan liên quan. Các cơ quan này thấy văn bản được phê chuyển đến, không có quyền quyết định, nên không thi hành, gọi là ‘tống sát’. Do đó, quan viên, sứ thần dâng trạng ba đến năm lần vẫn không thể kết thúc, dẫn đến tình trạng trì trệ.

Thần xin đặc biệt ban thánh chỉ, từ nay về sau, các quan kinh triều, sứ thần, người được tuyển chọn dâng trạng, bàn về công lao, kêu oan về lỗi lầm, xin bổ nhiệm, nếu triều đình chưa có chỉ thị quyết định, chỉ phê chuyển đến Thẩm quan viện, Tam ban viện, Lưu nội tuyển, thì yêu cầu các cơ quan này xem xét kỹ lưỡng. Nếu có việc cần thi hành, liền xem xét, nêu rõ điều lệ và tình lý để quyết định, trình lên, chuyển đến Trung thư, Xu mật viện xem xét lại, chờ chỉ thị tiếp theo. Nếu không thể thi hành, yêu cầu các cơ quan này thông báo cho người liên quan biết. Như vậy, các cơ quan sẽ phát huy chức trách của mình, công việc không bị bỏ sót, cũng tránh được việc quan viên, sứ thần, người được tuyển chọn dâng trạng nhiều lần, làm phiền Thánh thượng.”

Được chấp thuận.

(Thực lục chỉ ghi rằng chiếu cho trong ngoài, ai có trình bày công lao hoặc kêu oan về tội trạng, Trung thư phê chuyển đến các cơ quan, gọi là ‘tống sát’, không thi hành nữa. Từ nay nên lệnh cho chủ phán quan xem xét việc có thể thi hành, tâu riêng để nghe quyết định. Xét đây là lời tâu của Phạm Trọng Yêm, Thực lục chỉ ghi tóm tắt, nay giữ nguyên bản tâu của Trọng Yêm.)

[29] Ngày Canh Thân, Trương Kỳ, Hộ quốc tiết độ sứ kiêm Thị trung, tước Từ quốc công, được cho về hưu với chức Thái tử Thái sư, khi gặp các buổi đại triều hội, được phép đứng vào hàng ngũ dưới cửa Trung thư. Vua ban chiếu cho Hàn Kỳ và các quan rằng: “Trẫm vì lòng mong mỏi của người trong và ngoài nước, nên quyết định dùng các khanh. Nay Hàn Kỳ tạm thời đi Thiểm Tây, Phạm Trọng Yêm và Phú Bật nên cùng Tể tướng Đắc Tượng hết lòng lo việc nước, đừng có gì e ngại né tránh. Những việc cấp bách hiện nay, nếu có gì có thể kiến nghị, hãy trình bày hết cho Trẫm.”

[30] Ngày Nhâm Tuất, ban chiếu rằng: “Thời Đường, Ngu xưa, xét cổ lập quan chỉ có trăm người, người hiền minh thì được hưởng ân huệ, người sáng suốt thì có thể phát huy đức lớn. Tuy nhiên, vẫn phải ba năm mới khảo công, ba lần khảo mới thăng giáng kẻ hèn người hiền. Theo chế độ nhà Chu, chức Thái tể mỗi năm nhận sổ sách của các quan phủ để tâu lên Vua việc bãi bỏ hay bổ nhiệm, ba năm thì đại kế công trạng của quần thần mà thưởng phạt. Cho nên phép khảo công từ xưa đã có.

Thời Tường Phù, trị nước đạt đến thái bình, mọi chiếu chỉ đều chủ trương khoan dung rộng rãi, khảo công tối đa thì có chế độ hạn năm, vào chức quan thì có quy cách tuần tự. Đến những năm gần đây lo việc biên cương, nhân duyên nhiều việc, nhiều lần xem xét sổ sách quan lại, xem xét hành vi triều đình, muốn có được người tài ứng phó công việc, biết rằng thiếu sót đạo dưỡng dục. Tuy nhiên, nếu không khen chê thiện ác thì không khích lệ được, nếu không phân biệt phẩm chất thì không phấn khởi được. Đặc biệt ban bố quy chế, để khuyến khích thành tựu quan chức.

Từ nay, các quan lại ở hai nơi, nếu không có công đức và hành trạng tốt, thì không được thăng chức bất thường; những người bị bãi chức không theo thứ tự, thì không được lấy việc chuyển chức kiêm nhiệm làm lệ. Các quan từ Lưỡng tỉnh trở lên, theo phép cũ bốn năm một lần thăng chức, nay phải trình bày lý lịch để nghe chỉ dụ. Quan lại kinh triều, thời hạn khảo công, nếu có tội tư và từng có tội tham nhũng, trước hết phải căn cứ vào tình hình nặng nhẹ và công lao cùng số người tiến cử mà tâu lên để nghe chỉ dụ; nếu khảo công ba năm, tội tham nhũng tư lợi từ trượng trở xuống đã được xin chỉ dụ, từ tội đồ trở lên phải xin chỉ dụ lần nữa, những người có thể tự đổi mới không phạm tội tư mà có thành tích xuất sắc và có người tiến cử, đều được thăng chức theo thứ tự. Tự xin xử lý công việc ở kinh đô, năm năm một lần khảo công, nếu được tiến cử và tuyển chọn thì không bị hạn chế.

Phàm có chính sách tốt và thành tích đặc biệt, hoặc khuyến khích nông tang đạt được lợi ích tốt, xét án oan khuất, quản lý công việc có thể cải cách được tệ nạn lớn, tiết kiệm được nhiều tiền lương, căn cứ vào việc lớn nhỏ mà thăng chức thăng nhiệm, người được tuyển chọn cũng xem xét như vậy.

Nếu quan triều thăng lên chức Viên ngoại lang, phải ba năm không có tội tư, và có năm người là Giám ty hoặc quan thanh vọng bảo lãnh, mới được khảo công. Thăng lên chức Lang trung, Thiếu khanh giám cũng như vậy. Số người tiến cử không đủ, thì tăng thêm hai năm. Thăng lên chức Đại khanh giám, Gián nghị đại phu, không làm thành lệ thường, đều phải nghe chỉ dụ. Lại định chế, Giám vật vụ vào chức thân dân, thứ thăng lên Thông phán, Thông phán thăng lên Tri châu, đều phải có người tiến cử. Số người tiến cử không đủ, thì không được thăng chức.”

(Đây là mười việc mà Trọng Yêm và những người khác dâng lên, việc thứ nhất là minh bạch việc thăng giáng, đã ghi đủ vào ngày Đinh Mão tháng chín.)

[31] Xu mật sứ Đỗ Diễn đề nghị chọn con em ngoại thích để thử làm quan ngoài. Ngày Quý Hợi, lấy Thư châu Đoàn luyện sứ Lý Đoan Ý làm Tri châu Ký châu. Đoan Ý là con của Tuân Húc.

[32] Ngày Giáp Tý, Thiểm Tây tứ lộ Kinh lược An phủ Chiêu thảo sứ Trịnh Tiễn tâu: “Dân sinh hộ Đức Thuận quân thuộc gia tộc Đại vương[12] Nguyên Ninh đem thành Thủy Lạc đến dâng. Vùng đất này phía tây chiếm Lũng Chì[13], thông đường qua lại với Tần châu, hai con sông Lũng chảy quanh phía tây thành, bao quanh sông Hà, sông Vị, ruộng đất màu mỡ, rộng hàng trăm dặm, có hơn mười bộ lạc người Chi, không thuộc quyền cai trị nào. Vừa rồi sai Tĩnh Biên trại chủ Lưu Hỗ chiêu tập các thủ lĩnh, họ đều nguyện nộp con tin, xin được bổ làm quan nhà Hán. Nay nếu xây thành tại đây, có thể có được ba đến năm vạn quân phiên cùng các tay cung nỏ cùng chống giặc phương tây, thực là lợi ích lớn cho biên cương.” Được chấp thuận.

Lưu Hỗ trước làm Hữu thị cấm, Giám áp trại Ngoã Đình, quyền Trại chủ Tĩnh Biên, đánh phá các tộc Đảng Lưu, chém một tướng kiêu dũng, bắt được ngựa, trâu, lạc đà kể đến hàng vạn. Lúc ấy Nhậm Phúc thua trận, các thành biên giới đóng cửa ban ngày, dân cư và súc sản phần nhiều bị giặc cướp đoạt, chỉ có Hỗ mở cửa thành thu nhận, người biên giới gọi Hỗ là “Lưu Khai Môn”. Được thăng làm Tả thị cấm, Hàn Kỳ và Phạm Trọng Yêm tiến cử làm Cáp môn chi hậu.

Lại đánh bại người Chi ở Mục Ninh. Phía tây nam cách Lược Dương hai trăm dặm, có một thành tên là Thủy Lạc, đất bằng phẳng màu mỡ, lại có lợi về thủy luân[14], bạc, đồng, xung quanh thành có hàng vạn trướng, người Hán chạy trốn đều quy phục, dạy họ trăm nghề buôn bán, tự thành một nước hoàn chỉnh. Tào Vĩ ở Tần châu từng kinh doanh mà không được. Hỗ tiến vào thành Chương Xuyên, thu được mấy trăm khoảnh ruộng tốt để tăng thêm quân đồn trú, bí mật sai người thuyết phục chủ thành là Đạc Tư Na khiến họ quy phục. Gặp lúc Trịnh Tiển dựa vào bia Thủy La thành của Diêu Tự Tông, (Tiển vào tháng 8 đi tuần biên). Khi đi tuần biên, Hỗ bèn triệu Đạc Tư Na và các thủ lĩnh đến dâng đất Kết Công, Thủy Lạc, La Cam, xin làm thuộc hộ. Tiển liền lệnh cho Hỗ đem quân đến nhận đất.

Vừa đến thì người Chi đột nhiên thay đổi ý, tập hợp mấy vạn quân vây kín, ban đêm đốt lửa hò hét, định giết sạch quân quan. Quân của Hỗ chỉ có một nghìn người, trước sau mấy trăm dặm không có viện binh, một mình nằm vững suy nghĩ[15], bèn lệnh sáng nấu ăn chậm, ngồi trên ghế hồ chỉ huy tiến thoái, một trận đánh tan người Chi, đuổi chạy đến Thạch Môn, các thủ lĩnh đều cúi đầu xin hàng, bèn đuổi hết bọn họ vào hàng ngũ, để thông đường từ Tần, Vị.

Lại đánh bại người Chi ở Lâm Đào dưới thành. Được thăng làm Nội điện sùng ban. Tiển đi tuần biên đến quân Trấn Nhung, đến Liên Hoa bảo, trời lạnh, cùng các tướng tá bày tiệc rượu, Nguyên Hạo đem quân áp sát biên giới. Gặp lúc chiều tối bụi bay lên, có người báo quân giặc kỵ đến, Tiển nói: “Đây chắc là tướng giữ Tam Xuyên đi tuần biên về, không phải quân giặc kỵ đâu.” Quả nhiên như vậy.

[33] Quế Dương Giám báo cáo bắt giết được 389 tên giặc Dao.

[34] Gián quan Âu Dương Tu tâu:

“Thần trước đây nghe đồn rằng Trương Tử Thích chưa có ngày về, giặc Ngô Hạo lại sai người khác đến, e rằng Tử Thích bị giặc bắt giữ. Người Tây Hạ đến, ý đồ khó lường, việc biên cương không thể không lo, đây chính là lúc cần dựa vào tướng sĩ ra sức. Gần đây nghe đồn Yến Độ điều tra việc Đằng Tông Lượng, truy xét lan man, khiến các huyện ở Bân Châu đều phải xiềng xích, tra tấn toàn người vô tội, nhà tù đầy ắp. Quân dân tướng sĩ biên cương thấy việc này ồn ào, ai nấy đều oán than, từ Địch Thanh, Chủng Thế Hoành trở đi đều tan rã, không còn chuyên tâm.

Triều đình vốn vì đài quan tâu rằng Đằng Tông Lượng tiêu tiền quá nhiều, chưa rõ hư thực, nên sai Yến Độ điều tra, không ngờ lại làm việc như vậy, khiến lòng người dao động. Nếu không sớm chấm dứt, e rằng Nguyên Hạo nhân lúc biên cương rối ren, tướng sĩ lo sợ tan rã mà đột nhiên xuất binh, ai sẽ dám xông pha vì triều đình?

Thần là quan tai mắt của bệ hạ, thường phải thăm dò việc ngoài, mấy ngày gần đây, kinh thành xôn xao về việc tướng biên cương bất an. Thần cũng nghe rằng khi Điền Huống ở Khánh Châu, thấy Đằng Tông Lượng không có tội lớn gì, còn Yến Độ gây chuyện ồn ào, đã nhiều lần tâu trình, nhưng triều đình không hồi đáp; lại viết thư khắp nơi, báo cho các đại thần trong triều, muốn truyền đạt đến thánh thượng, nhưng các đại thần đều tránh hiềm nghi, chắc không dám dâng thư của Huống.

Thần lo rằng bệ hạ chỉ biết việc Đằng Tông Lượng tiêu tiền quá nhiều, mà không biết việc tướng biên cương kinh hãi xôn xao. Như lúc thần mới nghe việc Đằng Tông Lượng xảy ra, đã từng tâu xin sớm điều tra xử lý. Nếu thần cứ khăng khăng giữ lời tâu trước, cố chấp sai lầm, thì chỉ mong điều tra ra tội nặng của Tông Lượng, mới chứng tỏ lời thần trước đây là đúng; nhưng thần không dám làm như vậy, thà rằng vì lời tâu trước không hợp lý mà mang tội, chứ không thể hôm nay cố chấp sai lầm, khiến việc nước bị hỏng.

Thần trộm nghĩ triều đình đối với Tông Lượng, chắc chắn không có yêu ghét, nhưng nghe nói ông ta có tội thì không thể không tra hỏi. Nếu quả thực không có lỗi lớn thì cũng không cần phải tìm kiếm những lỗi nhỏ[16], chỉ sợ quan khám hy vọng theo ý chỉ của triều đình, làm quá lên, gây náo động nơi biên giới.

Đối với Đằng Tông Lượng, thần mong triều đình nhanh chóng kết thúc vụ án. Đồng thời xin đặc biệt ban chiếu chỉ, ra lệnh cho các quan biên giới không được truy xét lan man, và cho phép họ từ nay về sau sử dụng tiền bạc, chỉ cần không nhận vào tư, thì được tùy nghi sử dụng, không cần phải e ngại, để họ có thể yên tâm, thoải mái dốc sức lập công.

Những tấu chương nhiều lần của Điền Huống cùng thư từ trao đổi với các đại thần, thần mong bệ hạ hãy xem xét kỹ lưỡng[17]. Điền Huống là bề tôi thân cận của bệ hạ, vốn không phải kẻ gian nịnh, lời nói của ông ta đáng tin, hơn nữa ông ta đang ở biên giới, mọi việc đều tận mắt chứng kiến, chắc chắn không nói sai sự thật.”

Tu lại tâu: “Thần trước đây nghe đồn rằng Yến Độ điều tra việc của Đằng Tông Lượng, đã làm rối loạn biên cương, từng có tấu chương, xin ban chiếu thư để an ủy các quan ở biên giới. Hôm nay lại nghe Yến Độ tự ý ban hành văn thư, hạch hỏi Xu mật phó sứ Hàn Kỳ về việc bàn luận biên sự, không biết Yến Độ có thực sự dám làm như vậy không? Nếu quả thật có, thì thật đáng kinh hãi.

Thần nghĩ rằng Hàn Kỳ là đại thần bên cạnh bệ hạ, liên quan đến việc nặng nhẹ của quốc gia, nay Yến Độ dám vô cớ xâm phạm như vậy, chính là khinh nhờn triều đình, lợi dụng pháp luật. Thường thấy những kẻ tiểu nhân hiểm ác trước đây, phần nhiều làm như vậy, khi có một vụ án, liền hăng hái điều tra, coi như của quý, cố làm những việc khắc nghiệt, để mong được tiếng tăm cương trực, tự cho rằng hãm hại người càng nhiều thì thăng tiến càng nhanh, nên mới khoa trương thanh thế, tùy ý bịa đặt.

Nay Yến Độ vốn chỉ được lệnh điều tra việc Đằng Tông Lượng sử dụng tiền công quá mức, tại sao lại hạch hỏi đại thần về việc bàn luận biên sự? Rõ ràng là sinh sự ngoài ý, vi phạm điều lệ điều tra. Huống chi Xu mật phó sứ là chức vụ phụ tá, Tuyên phủ sứ mang mệnh Vua mà đi, vốn dựa vào trọng thần để đặc biệt trấn an. Nay nếu vô cớ bị một viên lại nhục mạ mà bệ hạ không bênh vực, thì từ nay về sau những người mang mệnh Vua đi sứ, đều bị biên giới coi thường, những người làm việc cho đại thần, lại sợ bị tiểu nhân khống chế.

Vì vậy, Yến Độ đối với quốc thể, nên bị xử tội nặng, trách cứ hắn là lại nhục, cũng tự vi phạm điều lệ, tội phải xử lý, tình không thể dung thứ. Nay Xu mật phó sứ còn bị xâm phạm, thì các tướng lĩnh dưới quyền, vô tội bị liên lụy không ít, căn cứ vào việc làm như vậy, vụ án này chắc chắn không công bằng. Vụ án hình ngục của Đằng Tông Lượng, xin chọn quan khác điều tra kết thúc[18]. Yến Độ cũng xin giao cho cơ quan khác điều tra tội trạng và xử lý.”

Tháng giêng năm sau, không đợi Yến Độ tâu xong vụ án, đã cách chức Đằng Tông Lượng làm Tri châu Quắc, Yến Độ cuối cùng không bị xử lý.

Tu lại tâu: “Thần nghe đồn rằng biên thần Trương Kháng gần đây vì sử dụng quá số tiền công, hiện đang bị giam giữ tại Thiểm Tây để điều tra. Các quan điều tra đã bắt giữ rất nhiều người liên quan. Thần cũng nghe nói Địch Thanh từng theo Trương Kháng vào biên giới, hiện đã bị triệu tập để đối chất. Thần thấy rằng từ khi quốc gia khởi binh đến nay, trong năm sáu năm chỉ có được hai viên tướng biên thùy là Địch Thanh và Chủng Thế Hoành mà thôi. Họ trung dũng tài giỏi, không thể đối xử như Trương Kháng, Đằng Tông Lượng được.

Thần nghĩ Địch Thanh vốn là võ tướng, không hiểu luật pháp, dù có sử dụng quá số tiền công, chắc chắn không phải cố ý lạm dụng, chỉ là sơ suất trong kiểm điểm, dẫn đến việc lỡ xâm phạm mà thôi. Hiện nay sứ giả nghị hòa đang ở trong đất giặc, nếu một lời không hợp, giặc sẽ nổi giận gây họa, tất sẽ xâm phạm biên giới. Việc phòng bị biên cương đang cần những tướng tài dũng cảm, huống chi như Địch Thanh thì không có hai ba người. Đáng tiếc vì chút tiền công nhỏ mà trong lúc cần người, lại tự giam giữ Địch Thanh, khiến giặc nghe được, cho là được kế. Thần mong triều đình đặc cách ra lệnh cho quan điều tra chỉ xét việc của Trương Kháng, không được vơ vét bắt bớ. Còn Địch Thanh dù có liên quan, cũng xin được miễn điều tra.

Thần với biên thần vốn không có quan hệ gì, đâu có yêu ghét? Chỉ sợ quan điều tra chỉ biết vâng lệnh triều đình, không nghĩ đến tình hình biên cương, đem người tài hiếm có của quốc gia xét xử như người thường, một khi thiếu người gây ra sai lầm thì hối hận không kịp.

Xin triều đình đặc cách khoan hồng. Biên thần biết rằng tướng vô công phạm pháp tất bị trị tội, người cần dùng cũng có thể chuộc lỗi, thì ai nấy đều tự gắng sức, sẽ thấy thành công.”

Tháng bảy ngày Giáp Tuất, Trương Kháng từ Vị Châu được điều làm Tịnh Đại bộ thự. Sang năm tháng giêng, chưa đợi án xét xong, Kháng bị tước chức Dẫn tiến sứ, giáng làm Bản lộ Kiềm hạt; Địch Thanh cuối cùng không bị xử phạt.

[35] Tri châu Vị là Doãn Chu tâu: “Thần trộm thấy từ trước đến nay, các võ thần sử dụng tiền công sứ được ban cấp vào các việc linh tinh, coi như của riêng mình. Riêng Địch Thanh đối với tiền công dụng thì không dùng riêng một xu nào. Huống hồ từ khi có việc phía Tây, bản lộ tăng thêm số quân, các quan coi quân, chỉ huy, sứ thần đều tăng gấp mấy lần trước.

Lại thêm Địch Thanh thường cùng các quan thân hành chỉ đạo việc luyện tập, trong quân mỗi khi có khao thưởng, chi phí càng nhiều. Nếu không dùng tiền vật khác để buôn bán thì không sao đủ dùng. Địch Thanh vốn cẩn thận, nhưng thực chất là võ tướng chưa hiểu rõ pháp luật triều đình, từ khi nghe việc điều tra tiền công dụng, cho rằng chế viện sẽ đến bắt giam đối chất, thần tuy ngày đêm giải thích, nhưng trong lòng vẫn lo sợ.

Lại nói trước đây ở Diên Châu, khi mới nhận chức Kinh Nguyên bộ thự, đã báo với Bàng Tịch rằng không muốn quản lý tiền công sứ, sợ không biết cách. Nay bị vướng vào nhiều việc, lời lẽ cảm khái, thật đáng thương xót.

Thần cho rằng triều đình đề bạt Địch Thanh từ chức Điện trực, chưa đầy ba năm đã lên đến chức Thứ sử, giao cho quyền bính một lộ, ắt là vì trung lực tài trí của ông hơn người, lại muốn ông phấn chấn tự lập công để báo đáp sự trọng dụng đặc biệt. Nay chỉ vì lỗi nhỏ mà khiến ông lo sợ như vậy. Hiện nay biên giới ngày ngày có tin tức, nếu giặc bất ngờ kéo đến, cần phải đem quân ra ngoài, trong tình trạng lo lắng nghi ngờ như thế, e rằng không thể quản lý quân chính, dẫn đến sơ suất.

Kính mong Thánh từ xem xét, đặc biệt ban chỉ dụ để Địch Thanh yên tâm, chuyên tâm lo việc biên cương.”


  1. Không đủ khả năng làm tướng soái, chữ 'kham' nguyên là 'khả', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Âu Dương Văn Trung Công văn tập》 quyển 101, bài 'Luận Lý Chiêu Lượng không thể cầm quân trát tử' sửa lại.
  2. Nguyên nhân thiếu người tài để sử dụng, chữ 'nhân' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách trên bổ sung.
  3. 'Lịch' nguyên là 'Lệ', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Tục Thủy kỷ văn》 quyển 11 sửa.
  4. 'Thông' nguyên thiếu, theo các bản trên và sách trên bổ sung.
  5. Chữ 'bảo' trong 'Lưu Phan bảo' nguyên có chữ 'chi', 'Xuyên' nguyên là chữ 'Dụng'. Xét 《Cửu vực chí》 và 《Tống sử Địa lý chí》 đều không có 'Định Dụng bảo', theo 《Tống sử》 quyển 303, truyện Phạm Tường, sửa lại.
  6. Cần những người đồng lòng hợp sức, chữ 'đãi' nguyên là 'đắc', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 38, cùng 《Âu Dương Văn Trung công văn tập》 quyển 101, sửa lại.
  7. Từ trước đến nay, chữ 'tự' nguyên là 'nhật', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, các bản khác và sách trên, sửa lại.
  8. Ba chữ 'Tri gián viện' nguyên bản bị thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 41 'Án sát quan lại', 《Tống sử toàn văn》 quyển 8 thượng bổ sung.
  9. 'Số người bị giết và cướp bóc' nguyên bản thiếu chữ 'giết'. Trên nói 'có kẻ trộm giết người và cướp bóc', ở đây cũng phải nói 'số người bị giết và cướp bóc', theo 《Tống hội yếu》 binh 11-19 bổ sung.
  10. Dương Điền, chữ 'Điền' nguyên bản viết là 'Lược', căn cứ theo các bản khác và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 48 'Quế Dương man Dao chi bạn', 《Trị tích thống loại》 quyển 9 'Nhân Tông bình Quế Dương giám tặc', 《Tống sử》 quyển 300 bản truyện sửa lại. Các chỗ sau cũng vậy.
  11. Chữ 'kỳ' nguyên bản viết là 'kỳ', căn cứ theo văn cảnh sửa lại.
  12. Gia tộc Đại vương, chữ 'vương' nguyên bản là 'nhâm', theo bản Tống toát yếu, các bản khác và 《Tống sử toàn văn》 quyển 8 sửa lại.
  13. Lũng Chì, chữ 'chì' nguyên bản là 'để', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trị tích thống loại》 quyển 10 sửa lại.
  14. Các bản và 《Tống sử》 quyển 320 truyện Lưu Hỗ đều giống nhau, chỉ có 《Biên niên cương mục》 quyển 12 chép là 'thủy thâu'.
  15. Các bản đều giống nhau, 《Trị tích thống loại》 chép là 'khung lư'.
  16. chữ 'tì' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách 《Âu Dương Văn Trung Công Văn Tập》 quyển 102, bài 'Luận Yến Độ Khám Đằng Tông Lượng Sự Trương Hoàng Thái Quá Trát Tử' bổ sung
  17. chữ 'tận' nguyên bản viết là 'Tuyên', căn cứ theo các bản trên và sách trên sửa lại
  18. lấy khám kết tuyệt 'Tuyệt' chữ nguyên thiếu, căn cứ vào các bản trên và 《Âu Dương Văn Trung Công Văn Tập》 quyển 102 《Tái Luận Yến Độ Cúc Ngục Chi Man Trát Tử》 bổ sung.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.