"

IV. TỐNG NHÂN TÔNG

QUYỂN 102: NĂM THIÊN THÁNH THỨ 2 (GIÁP TÝ, 1024)

Từ tháng giêng năm Thiên Thánh thứ 2 đời Nhân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Giáp Ngọ, ban chiếu rằng: “Lễ bộ Cống viện, Khai Phong phủ, Quốc Tử Giám và các nơi khác đều tăng thêm chức vụ điểm kiểm thí quyển, phong di, tuần phố[1], giám môn quan có sai biệt.

Những người dự thi ở Khai Phong phủ không có hộ tịch thì phải có hai vị quan kinh triều có học vị bảo lãnh, hoặc một vị quan từng giữ chức vụ nhưng không có học vị; các châu khác thì phải có một vị quan hoặc sứ thần bảo lãnh, không được quá một người. Nếu bảo lãnh không đúng sự thật, sẽ bị xử theo tội vi chế. Những người dự thi ở hai nơi hoặc từng phạm tội nhưng được chuộc bằng ân huệ thì vĩnh viễn không được vào trường thi. Người cùng bảo lãnh sẽ bị đình chỉ thi năm khoa, người bị đình chỉ ba khoa thì thực tế chỉ đình chỉ một khoa, năm khoa thì đình chỉ hai khoa.

Tiến sĩ không được dùng vần để vào thi, bãi bỏ việc thi riêng ở các khoa cũ, cho phép đến trường thi lại. Những người bị đánh trượt mà phỉ báng quan chủ khảo hoặc gửi thư nặc danh, lệnh cho nơi đó bắt giữ.

Nếu quan chủ khảo không công bằng, cho phép tố cáo đơn danh, không được tập hợp nhiều người cùng tố cáo. Các lộ Quảng Nam Đông Tây, Ích, Tử, Lợi, Quỳ, theo chế độ cũ, nếu có người đỗ ngoài chỉ tiêu cũng cho phép tiến cử, nhưng gần đây nghe nói có nhiều người mạo tịch, từ nay không được tiến cử ngoài chỉ tiêu.”

Lúc này, thời bình đã lâu, số người dự thi trong thiên hạ ngày càng đông, thường xảy ra tranh chấp, nên ban hành các điều khoản này.

[2] Ngày Quý Mão, lệnh cho Ngự sử trung thừa Lưu Quân cùng ba người khác tạm quyền chủ trì việc thi cử.

[3] Ngày Mậu Thân, Lại bộ dẫn chín người được tuyển chọn vào yết kiến, trong đó có Vương Đắc Thuyết, nguyên là Huyện úy huyện Thúc Lộc, làm quan nhiều năm ít lỗi lầm, sổ khảo hạch nhiều nhất, nhưng không có người bảo lãnh. Vua thấy ông cô độc nghèo khó, đặc cách thăng làm Đại Lý tự thừa.

Một hôm khác, lại dẫn những người được tuyển chọn vào yết kiến, có người tên là Giả Tích Thiện, trải qua mười bốn lần khảo hạch không có lỗi lầm công hay tư, tuy không có người tiến cử, vẫn được đặc cách thăng làm quan kinh đô.

(Việc của Giả Tích Thiện, sách 《Hội yếu》 chép vào ngày 15 tháng 10, nay phụ chép vào đây.)

[4] Ngày Canh Tuất, giáng chức Tri châu Đặng Châu, Cấp sự trung Khấu Giam làm Thiếu phủ giám, Tri châu Kim Châu; Tả Đồn vệ Đại tướng quân Thạch Phổ, đang bị an trí ở Thái Châu, giáng làm Tướng quân bản vệ, đều vì tội không bảo lãnh được người.

[5] Xuống chiếu cho thi cử theo lệ năm Hàm Bình thứ hai, lệnh cho Lễ bộ yết bảng, trước phải trình bày các bậc đỗ và ký hiệu lên để tâu lên.

[6] Ngày Tân Hợi, Tri cống cử Lưu Quân xin cử quan phúc khảo và tường định.

Vua nói: “Như thế không phải là ý trách nhiệm hoàn thành.” Xuống chiếu cho Lưu Quân cứ công bằng mà khảo xét. Tuần phố quan, Tả Chánh ngôn Khổng Diên Lỗ lại xin trước khi thi, lệnh cho chủ ty hiểu dụ thí sinh không được thỉnh cầu, lại cho khắc in đề thi, giải thích rõ ràng, phát ngay trong phòng thi.

Vua nói: “Khoa cử lấy người, điều lệ đã nhiều, cứ theo lệ cũ mà thi hành là được.”

[7] Ngày Giáp Dần, xuống chiếu cho các quan hai chế, Đại lưỡng tỉnh trở lên, Chính thứ sử, Cáp môn sứ trở lên, đều được phép cáo tạ vào ngày nhận mệnh. Trước đây, các quan cáo tạ, hoặc từ ngoài về thay, Vua muốn biết hết tên họ, nên lệnh cho một ngày trước phải tâu tên lên. Các quan Cáp môn không hiểu ý Vua, mà các quan thị tòng cũng phải tâu. Đến đây, Hàn lâm học sĩ Lý Tư dâng lời xin sửa lại.

[8] Tháng đó, Vua ban chiếu: “Từ nay, các châu quân ở các lộ phải thường xuyên giữ lại các huyện lệnh để quản lý sổ sách, thúc đẩy thuế má, và xử lý các vụ kiện tụng về hôn nhân, ruộng đất. Không được sai họ đi làm các việc công nhỏ nhặt hoặc so sánh lợi nhuận ở các huyện, trấn, đạo, điếm, trường vụ. Khi huyện lệnh và phó mãn nhiệm kỳ, dù đã được phê chuẩn nghỉ việc, nhưng nếu một huyện hoàn toàn thiếu người, chưa được cấp giấy giải nhiệm, thì phải đợi đến khi huyện đó không còn thiếu người mới được rời nhiệm sở.”

Lúc đó, các châu quân liên tục báo cáo rằng các huyện lệnh và phó do mãn nhiệm kỳ hoặc bị chuyển vận ty sai đi so sánh lợi nhuận ở nơi khác, dẫn đến một số huyện hoàn toàn thiếu quan chức, nên mới có quy định này.

(Sự việc này được ghi trong 《Hội yếu》 tháng giêng năm Thiên Thánh thứ hai.)

[9] Lại bộ Nam Tào tâu: “Khi xét duyệt các quan chức, thường hỏi Hình bộ xem họ có phạm tội gì không, để quyết định tội danh công hay tư. Nhưng sợ rằng trong đó có người từng phạm tội, hoặc có án tấu ở Đại Lý tự chưa được xử, nên Hình bộ không biết được. Từ nay xin thêm việc hỏi Đại Lý tự.” Vua đồng ý.

[10] Tháng 2, ngày Tân Dậu, Tả Đồn Vệ Đại tướng quân Lý Phúc, đã về hưu, được phục chức, trở lại làm quan. Trước đây, Phúc làm Bộ thự ở Vĩnh Hưng quân, vì không phát hiện được việc Chu Năng làm phản nên bị buộc về hưu. Do đã qua nhiều lần ân xá, nên được khởi dụng lại.

[11] Châu Tương dâng lên cuốn 《Hán Xuân Thu》 do Tướng tác giám Hồ Đán, đã về hưu, soạn. Vua hỏi về lý lịch và quá trình soạn sách của Đán. Tể thần Vương Khâm Nhược tâu: “Đán tinh thông từ học, đỗ tiến sĩ đệ nhất, hai lần làm tri chế cáo. Nhưng không giữ gìn tiểu tiết, nhiều lần bị cách chức, nay đã về hưu. Ông từng nói sau thời Tam Đại, chỉ có nhà Hán là chính thống, nên dựa vào sự việc bốn trăm năm của nhà Hán để lập ra lời khen chê, bắt chước 《Xuân Thu》.” Vua khen ngợi. Ngày Quý Hợi, phong Đán làm Bí thư giám, và cho con trai ông là Bân làm Chủ bạ Tướng tác giám.

[12] Ngày Ất Sửu, Vua triệu tập các phụ thần đến dự buổi giảng 《Hiếu Kinh》 ở dãy nhà phía tây điện Sùng Chính.

[13] Ngày Bính Dần, phục chức Tây đầu cung phụng quan Khang Văn Đức làm Cáp môn chi hậu. Văn Đức trước làm Đô giám quân Vĩnh Hưng, Chu Năng dùng binh làm phản, Tri quân Vĩnh Hưng Chu Tốn sai Văn Đức chiêu dụ trở về hơn 300 quân phản loạn, nhưng vẫn bị tội không phát hiện được âm mưu của Năng, bị cách chức và giám sát thuế muối ở Tập Tân. Đến đây, nhờ ân xá tự trình bày, nên được phục chức.

[14] Ban tiền cho binh lính tu sửa thành ở Khâm Châu.

[15] Ngày Canh Ngọ, Vua nói với Vương Khâm Nhược: “Đã lâu không mở khoa thi, e rằng bỏ sót người hiền tài trong thiên hạ, nên lệnh cho Lễ bộ Cống viện khảo thí cẩn thận, tới đây lấy đỗ Tiến sĩ tăng lên 200 người, các khoa khác 350 người.”

[16] Sai nội thần từ cửa sông Biện đến Tứ Châu thu nhặt và chôn cất xác chết trôi, làm lễ tế.

[17] Ngày Tân Mùi, vì lễ Đại tường của Chân Tông, các chùa chiền trong kinh thành và các châu huyện từng được Vua tuần du, độ người làm tăng đạo có khác nhau.

[18] Ngày Quý Dậu, ban chiếu: “Những người bị giáng chức, biên quản trước ngày Mậu Tý tháng 2 năm Càn Hưng thứ nhất, lệnh cho các lộ Chuyển vận ty, ngoài những người đã được phục chức và bổ nhiệm, còn lại phải trình bày rõ nguyên nhân phạm tội để tâu lên.”

[19] Cảnh Linh cung vốn là phủ đệ cũ của Tấn vương, Chân Tông sinh ra ở đây. Vua lên ngôi, tu sửa Vạn Thọ điện, đặt tên là Phụng Chân, để thờ tượng. Ngày Canh Thìn, sai Vương Khâm Nhược làm Lễ nghi sứ.

[20] Ngày Quý Mùi, Hoàng thái hậu viết thư ban cho các đại thần, bày tỏ ý nguyện trị vì khi lâm triều.

(《Đông Đô sự lược》 chép: Hoàng thái hậu chiếu cho tể tướng rằng: “Ta nhận sự ủy thác sâu sắc của Tiên đế, Hoàng đế còn trẻ, giúp thành chính đạo, trị dân, mong được vui thấy cháu, mãi hưởng niềm vui tuổi già, đó là chí nguyện của ta. Lại nhờ cậy tam sự, bách quan, hãy hết lòng, cùng đạt đến đạo.”)

[21] Ngày Giáp Thân, Vệ úy tự thừa Khang Duy Nhất làm Thị cấm, Cáp môn chi hậu, Đô giám binh mã Hoài Châu, theo lời thỉnh cầu của cha là Tây thượng Cáp môn sứ, Tương Châu đoàn luyện sứ, Tri Tần Châu Kế Anh. Vua nhớ tổ của ông là Bảo Duệ chết vì việc nước, Kế Anh đang giữ biên cương, nên có mệnh lệnh này.

[22] Ngày Ất Dậu, Lý Ứng Cơ, Công bộ thị lang, Tri châu Từ Châu, vì trước đây làm Tri châu Duyện Châu tham lam tàn bạo, phạm pháp, bị giáng làm Tướng tác giám, phân ty tại Nam Kinh.

Vua hỏi Vương Khâm Nhược rằng: “Ứng Cơ tham nhũng như vậy, sao lại làm quan đến chức Thừa lang?” Khâm Nhược đáp: “Ứng Cơ vốn không có tiếng liêm khiết, nhưng các cơ quan giám sát chưa từng xét tội, nên mới tích lũy thâm niên đến mức này.”

Vua nói: “Các cơ quan giám sát bên ngoài là tai mắt của triều đình, nếu không làm tròn chức trách, thì lỗi về ai?”

Ngày Bính Tuất, chiếu cho các chuyển vận sứ Lưu Minh Thứ, Lý Doãn Nguyên và các đề điểm hình ngục Thượng Lâm, Quách Vị được miễn tra xét, mỗi người nộp 20 cân đồng để chuộc tội.

[23] Ngày Đinh Hợi, chiếu rằng các châu Hùng, Bá, Bảo và quân Quảng Tín, An Túc đều là vùng biên giới, khi giao thiệp văn thư với Khiết Đan, các chức quan mạc phủ đều phải chọn người có xuất thân Tiến sĩ.

[24] Tháng 3, ngày Mậu Tý, mùng một, chiếu cho Lễ bộ rằng các cử nhân các khoa không thể đối sách thì chưa được loại bỏ. Trước đây, có người dâng thư nói rằng việc học kinh không thấu đáo ý chỉ kinh điển, xin thêm một bài vấn sách vào khoa thi. Đến nay, nhiều người đối đáp sai lầm, Vua cho rằng họ chuyên tâm học kinh, không giỏi văn chương, nên đặc cách lấy điểm mạnh của họ để mở rộng đường làm quan.

[25] Điện tiền đô chỉ huy sứ, Tiết độ sứ Bảo Tĩnh Uất Chiêu Mẫn mất, được tặng chức Thị trung. Theo lệ cũ, triều đình nghỉ một ngày, nhưng chiếu đặc cách nghỉ hai ngày.

[26] Ngày Kỷ Sửu, Đồng đề điểm Khai Phong phủ giới các huyện trấn công sự Trương Quân Bình tâu rằng các châu Nam Kinh, Trần, Hứa, Từ, Túc, Bạc, Tào, Đơn, Thái, Dĩnh có các kênh đào cổ nối liền với vùng kinh thành, lâu ngày không được tu sửa, nên kinh đô thường xuyên bị lụt, xin cử quan viên đào vét. Chiếu theo lời tâu.

Quân Bình dâng tám việc: Một là xem xét địa hình, theo dấu cũ về độ sâu rộng, ra lệnh cho các châu tính toán công việc đào đất, lập sổ để ghi chép việc này. Hai là nếu công việc không đúng như tính toán, hoặc nước dâng làm hại ruộng dân, quan phải chịu tội, bồi thường chi phí. Ba là xét lại những kẻ tham nhũng, nhân việc công mà vơ vét tiền dân. Bốn là các chức tri châu, thông phán, lệnh tá nếu khuyên được dân đóng góp chi phí công việc, thì ghi làm thành tích, cho làm quan tại chỗ, công nhiều thì ban thưởng lớn. Năm là cấm dân đắp đập chứa nước bắt cá, làm cản dòng sông. Sáu là sau khi đào xong, căn cứ vào sổ mới ghi độ rộng sâu, so sánh công sức, dùng đất đào lên đắp thành đê. Bảy là mương rãnh phía trên rộng một trượng, thì phía dưới rộng tám thước, sâu bốn thước, chỗ cao thì đào sâu thêm. Dùng tỷ lệ này, tính toán chỗ lồi lõm, tiện cho việc kiểm tra. Tám là mương cũ bị bồi lấp thành ruộng dân, thuộc sổ thuế, nếu ai khai phá thì xã huyện bảo lãnh miễn thuế, ban hành thành lệnh cố định.

[27] Ban tiền cho Khâm châu, mỗi năm một trăm quan, để khao quân Giao Chỉ.

[28] Bộ Hình tâu cử Hàn Trung Chính, tri huyện Hầu Quan mới nhậm chức, làm quan xét lại. Vua nói: “Trung Chính từng xử oan người, khi dẫn vào đối chất, không cho thăng chức, sao lại cử làm quan pháp lại?”

Ngày Nhâm Thìn, quan phán Bộ Hình Thạch Tông Đạo bị phạt tám cân vàng, quan xét lại Lương Như Khuê bị phạt mười cân đồng.

[29] Ngày Quý Tỵ, Vua nước Cưu Tư là Trí Hải sai sứ đến cống vật lạ.

[30] Ngày Đinh Dậu, đặt tượng Vua Chân Tông ở điện Phụng Chân trong cung Cảnh Linh.

[31] Thái hậu bảo các tể tướng: “Gần đây chọn các bậc nho thần hầu giảng sách cho Vua, rất có ích.” Các tể tướng nhân đó nói rằng Mã Tông Nguyên, Công bộ lang trung, thông hiểu kinh sử, có đức hạnh, có thể cho vào hầu giảng sách.

Ngày Tân Sửu, cho Tông Nguyên làm chức Trực Long Đồ Các. Tông Nguyên là người huyện Đơn Phụ.

[32] Ngày Nhâm Dần, lấy Vệ úy tự thừa Trần Chấp Trung làm Thái tử Trung doãn, cùng phán Hấp Châu. Chấp Trung trước đây cùng Trần Nghiêu Tá bị giáng chức, Nghiêu Tá đã được làm Tri chế cáo, còn Chấp Trung vẫn bị liên lụy vì tội trước, giám sát thuế Chân Châu, nên được thăng chức.

[33] Ngày Quý Mão, Vương Khâm Nhược dâng lên 《Chân Tông Thực lục》 150 quyển. Vua và Thái hậu đặt hương án, xem xét rơi lệ, cho Khâm Nhược ngồi, hỏi han lâu, ban yến ở Biên tu viện, hạ chiếu khen ngợi.

Trước đó, Phùng Chửng làm Giám tu, Chửng mất, Khâm Nhược thay thế. Khâm Nhược được thăng Tư đồ, các quan tu soạn là Lý Duy, Yến Thù, Tôn Thích, Tống Thụ, Trần Nghiêu Tá, các quan kiểm thảo là Vương Cử Chính, Lý Thục đều được thăng chức, ban cho khí tệ, áo, đai vàng, ngựa, các nội thần quản câu là Chu Văn Chất, Lưu Sùng Siêu cũng được thưởng. Con Phùng Chửng là Cung uyển phó sứ Đoan Kỷ được làm Như kinh sứ. Thục là con của Nhược Cốc.

[34] Lễ bộ dâng danh sách tiến sĩ hợp cách, chiếu cho Hàn lâm học sĩ Yến Thù, Long đồ các trực học sĩ Phùng Nguyên xếp hạng.

Ngày Ất Tỵ, Vua ngự ở Sùng Chính điện, ban cho Tống Giao, Diệp Thanh Thần, Trịnh Tiển cùng 154 người đỗ tiến sĩ, 46 người đỗ đồng xuất thân. Sáu người không đỗ, vì từng qua kỳ thi của Chân Tông, được đặc cách ban đồng Tam lễ xuất thân.

Ngày Bính Ngọ, lại ban cho 196 người đỗ các khoa, 81 người đỗ đồng xuất thân.

Giao cùng em là Kỳ đều nổi tiếng về tài làm thơ phú. Lễ bộ tâu xếp Kỳ đứng thứ ba, nhưng Thái hậu không muốn em đứng trước anh, nên đẩy Giao lên đứng đầu, còn Kỳ xếp thứ mười. Lưu Quân xem bài đối sách của Thanh Thần, thấy lạ, nên đẩy lên đứng thứ hai. Triều đình dùng bài đối sách để chọn người đỗ cao, bắt đầu từ Thanh Thần.

Giao là người An Lục; Thanh Thần là người Trường Châu; Tiển là người Ngô Huyện. Giao được bổ làm Đại Lý bình sự, cùng phán xử việc ở Tương Châu; Tiển được bổ làm Phụng lễ lang, ký thư sự ở Ninh Quốc quân tiết độ phán quan.

(Việc niêm yết bảng vàng như năm Hàm Bình thứ hai, còn việc bổ nhiệm quan chức thì như kỳ thi đối sách trước [2], cần xem xét kỹ hơn.)

[35] Ngày Mậu Thân, sai quan chia nhau đến Ngũ Nhạc, Tứ Độc để cầu mưa.

[36] Ngày Canh Tuất, trời mưa.

[37] Ngày Nhâm Tý, ban cho Hương cống tiến sĩ Trương Côi và Thái thường tự Thái chúc Lã Tông Giản đỗ Tiến sĩ cập đệ, vẫn ghi vào bảng vàng mùa xuân. Côi là cháu của Kịp, con rể của Tể tướng Vương Khâm Nhược; Tông Giản là em của Tham tri chính sự Di Giản.

[38] Quan Chuyển vận sứ Hà Đông tâu rằng, Đô tuần kiểm sứ vùng biên Lam Thạch Thấp Châu, Đoàn luyện sứ Duy Châu là Điêu Tán tiếc tiền công, không dùng để khao quân. Ngày Quý Sửu, lệnh cho Tán đổi chức với Tổng quản binh mã Lộ Châu, Đoàn luyện sứ Ký Châu là Hứa Siêu.

[39] Tháng tư mùa hạ, ngày Tân Dậu, Ngự sử trung thừa Lưu Quân được làm Xu mật trực học sĩ, Lễ bộ thị lang, tri nhậm Dĩnh Châu, vì Quân xin ra ngoài do bệnh.

[40] Cấm dùng lưới đánh cá trên sông Huệ Dân, Kinh và Sách.

[41] Quan Tri châu Trì Châu là Lý Hư Kỉ tâu rằng, các châu huyện đầu xuân thường ứng trước tiền để mua lụa, dân không muốn thì bắt ép, gây phiền nhiễu. Bèn hạ chiếu cho Tam ty bảo các châu huyện không được ép buộc, những thứ không phải sản vật địa phương thì bãi bỏ.

[42] Thời Thiên Hi đầu tiên, nhũ mẫu của Vua là Hứa thị bị cung nhân gièm pha, phải ra khỏi cung, gả cho Miêu Kế Tông. Đến lúc này, bà đến xin gặp Vua để tự trình bày. Ngày Bính Dần, phong bà làm Lâm Dĩnh huyện quân, cho Kế Tông làm Hữu ban điện trực, sau đó gia phong Hứa thị làm Đương Dương quận phu nhân[3], rồi cho bà trở lại cung.

[43] Ngày Mậu Thìn, Khiết Đan phái Tả giám môn vệ thượng tướng quân Tiêu Lâm, Hữu giám môn vệ thượng tướng quân Trịnh Quân đến chúc mừng tiết Càn Nguyên.

[44] Ngày Kỷ Mão, Tri thành Đức quân, Vĩnh Châu đoàn luyện sứ Tiền Duy Tế được gia phong làm Cát Châu phòng ngự sứ, lưu lại giữ chức cũ. Có kẻ làm giả bạch kim để cầm cố lấy tiền, gia đình người đó đến tố cáo, Duy Tế bí mật bảo rằng: “Hãy nói là bị trộm, rồi treo thưởng lớn, người cầm cố sẽ đến đòi tiền thừa, lập tức bắt được.” Quả nhiên như vậy.

[45] Ty Bộ thự lộ Phu Diên tâu rằng giặc cướp quân Bảo An, tộc trưởng người Thổ là Vượng Luật đánh đuổi chúng. Chiếu phong Vượng Luật làm Tam ban tá chức, lại ban tên họ là Lưu Hán Trung.

[46] Ngày Canh Thìn, phong cho 43 người đỗ tiến sĩ đặc cách là Lý Đạo Tông và 77 người đỗ các khoa khác như Vương Bá làm Tướng tác giám chủ bạ và các chức Trưởng sử, Văn học, Tư sĩ tham quân ở các châu. Đạo Tông đều đã quá 50 tuổi, từng ứng thi 6 lần; Vương Bá đều quá 60 tuổi, từng ứng thi 8 lần. Vua bảo các quan phụ chính rằng: “Những người này tuy không giỏi khoa cử, nhưng thương họ đầu bạc mà chưa thành đạt, nên đều cho tuyển dụng.”

[47] Ngày Ất Dậu, ghi chép hậu duệ nhà Tấn.

[48] Tể thần tấu rằng còn thiếu một viên quan đường hậu. Chiếu cho Lại bộ tuyển chọn trong số người được chọn, người có xuất thân, tài năng tốt, viết chữ đẹp[4], từng giữ chức vụ mà không phạm lỗi, đến Trung thư thử nghiệm công việc. Từ đó về sau, nhiều trường hợp như thế, đều được bổ nhiệm làm quan kinh đô sung chức; hoặc có người từ Ngũ phòng thăng chuyển[5], ban đầu được bổ nhiệm làm Kiểm hiệu Viên ngoại lang, sau khi được ân điển, thì thăng làm quan kinh đô sung chức.

[49] Các viên Tập hiền hiệu lí là Cát Ngang, Trương Trọng Doãn, Hoàng Bật, Trần Thương, Phạm Thuyết đều xin được bổ nhiệm làm quan ngoại nhiệm. Chiếu cho tất cả được làm Thông phán ở các nơi nhỏ. Thời Thái Tông, những người mang chức quán mà ra ngoài[6], đều làm Tri châu. Sau niên hiệu Cảnh Đức, Vương Dục, Lưu Thích đều vì chức vụ thấp, chỉ được làm Thông phán. Đến nay, theo lệ của Dục và Thích.

[50] Tháng 5, ngày Đinh Hợi mùng một, Ty thiên giám báo rằng sẽ có nhật thực. Nhưng sau đó không xảy ra, Trung thư dâng biểu chúc mừng.

[51] Ngày Mậu Tý, Khả hãn vương nước Hồi Hột ở Cam Châu sai sứ đến cống phương vật.

[52] Trước đó, triều đình ra chiếu bàn về việc dâng lên lễ phục của Hoàng thái hậu.

Thái thường lễ viện tâu: “Theo 《Khai Bảo lễ》, Hoàng thái hậu nên mặc áo huy y, đai da, tất xanh, giày xanh, đeo ngọc bội trắng, dây đen, đai lớn, áo lót sa trắng, tế tất, đai lớn, trang sức đầu gồm 12 bông hoa, dùng khi nhận sách phong, tế tằm, dự triều hội và các việc lớn.

Lại theo chế độ nhà Tùy, lễ phục của hoàng hậu có bốn bậc, bậc thứ tư là áo đỏ, may bằng lụa đỏ, dùng khi yến tiệc và tiếp khách. Nay bàn rằng mỗi khi triều yết thần ngự[7], đi về bằng kiệu, mặc áo đỏ, tế tất, đai da, đai lớn, thụ trang trí ngọc, ngọc bội, tất, giày trang trí vàng, đều cùng màu với áo[8].

Khi thường xử lý việc, bỏ tế tất, đai da, ngọc bội, tất; hoặc mặc áo cúc y, thì dùng lụa vàng, cũng dùng thụ trang trí ngọc, đai lớn, giày.”

Sai nội thị Chu Văn Chất theo nghị định mà chế tạo, đến nay dâng lên.

[53] Ngày Ất Mùi, ra chiếu cho các huyện thuộc Khai Phong phủ về việc chiết biến thuế phú, từ nay về sau, các hộ thuộc đẳng thứ ba trở xuống được nộp bằng thóc màu rẻ tại kho gần nhất.

[54] Ngự tại điện Sùng Chính xét tù, các tội từ tạp phạm tử tội trở xuống đều giảm một bậc, tội đánh trượng thì tha.

[55] Ngày Đinh Dậu, lại đến chùa Tư Thánh, thăm bệnh của Thân Quốc đại trưởng công chúa, hiệu là Báo Từ Chính Giác đại sư. Khi công chúa mất, lại đến viếng. Trong thời gian để tang Chân Tông, không mặc tang phục[9], bãi triều năm ngày, truy thụy công chúa là Từ Minh.

[56] Ngày Canh Tý, ban chiếu rằng các quan viên nếu gặp ngày khởi cư, hoành hành mà xin nghỉ, đều phải cử quan y khám xét rồi tâu lên. Trước đó, Hữu Tuần sứ Trương Ức đàn hặc Lang trung Hộ bộ, Tu soạn Sử quán Thạch Trung Lập cùng 33 viên khác đều cáo bệnh không đến dự hoành hành, nên ra lệnh cảnh cáo.

[57] Ngày Nhâm Dần, Ty Thiên tâu rằng nguyệt thực nhưng do mây che nên không thấy, Trung thư dâng biểu chúc mừng.

[58] Tháng đó, Lưu nội tuyển tâu: “Văn học Trần châu là Vương Gián, Văn học Đơn châu là Nghiêm Cửu Linh đều thiếu 9 lần tuyển, tuổi trên 60, theo chiếu chỉ ‘theo lệ bổ nhiệm vào các châu Giang, Chiết, Kinh, Hồ nhỏ’. Nay kiểm tra thấy không có chức Chủ bạ huyện trên 2000 hộ nào khuyết, tuy có huyện nhỏ nhưng phần nhiều kiêm chức Úy, người 60 tuổi khó xử lý. Xin từ nay những người được chỉ bổ nhiệm làm Lệnh, Lục ở huyện nhỏ hoặc Phán ty, Bạ úy huyện nhỏ, nếu không có huyện dưới 2000 hộ, thì không kể hộ khẩu nhiều ít, Lệnh, Lục chỉ bổ nhiệm trong phạm vi 10 quan tiền lộc, Phán ty, Bạ úy chỉ bổ nhiệm trong phạm vi 7 quan tiền lộc.” Được chấp thuận.

[59] Tháng 6, ngày Đinh Tị mùng một, Chuyển vận sứ Hà Đông là Chung Ly Cẩn xin bãi chức quan tiện địch, chỉ do bản ty chọn Thông phán hoặc Mạc chức quan đảm nhiệm. Vua nói: “Việc biên cương rất trọng yếu, nếu không do triều đình cử quan thì châu huyện sẽ làm qua loa, không thu mua kịp thời.” Không cho phép.

[60] Ngày Kỷ Mùi, các quan dâng biểu xin nghe nhạc, không cho. Dâng biểu 5 lần, mới cho phép. Nhân đó dụ Vương Khâm Nhược rằng: “Nay tuy miễn cưỡng theo lời thỉnh cầu của mọi người, nhưng yến tiệc mùa thu chỉ dùng một nửa nhạc, còn việc thỉnh cầu đi chơi thì lòng ta chưa nỡ.” Khâm Nhược đáp: “Bệ hạ tuy hiếu thảo hơn người, nhưng lễ chế của tiên vương cũng không thể vượt qua.”

[61] Ban cho Mã Tông Nguyên phẩm phục tam phẩm, vì giảng xong sách 《Hiếu Kinh》.

[62] Chuyển vận sứ Hồ Nam tâu rằng trại Thủy Nam châu Lễ nhiều thủy nỗ bắn người, lính thú chết hàng năm rất nhiều, xin dời đến thôn Đài Nghi. Được chấp thuận, đổi tên trại là Đài Nghi.

[63] Sai quan hiệu khám sách 《Nam Sử》, 《Bắc Sử》.

[64] Trợ giáo các châu là Lạc Hòa cùng 23 người xin được điều bổ làm quan. Ngày Giáp Tí, đều bổ làm Tham quân.

[65] Kinh sư có dân cư xâm chiếm đường phố, lệnh cho Khai Phong phủ ra thông báo, hạn trong một năm phải phá bỏ theo cột mốc đã quy định.

[66] Ngày Ất Sửu, Quyền Hộ bộ phán quan, Điện trung thị ngự sử Lý Hiếu Nhược được bổ làm Từ bộ viên ngoại lang, đồng phán Dận châu, vì phạm lỗi tiếp đón sứ Khiết Đan không đúng nghi thức.

Vua nói với các quan phụ tá: “Gần đây chọn cận thần tiếp đón sứ phương Bắc, khá khó tìm người.” Rồi than thở rằng người tài giỏi thật không dễ kiếm. Vương Khâm Nhược đáp: “Văn vật các triều trước hưng thịnh, nhân tài vốn nhiều. Bệ hạ thành tâm, chăm chỉ khen thưởng, ắt sẽ có người xứng đáng. Tuy nhiên, người tài cao nên được dùng không theo thứ tự, mới có thể hết lòng trung thành.” Vua rất tán đồng.

(Việc này được ghi trong 《Bảo Huấn》.)

[67] Đề điểm hình ngục lộ Tử châu là Vương Kế Minh tâu rằng Tri châu Tử châu là Vương Thế Xương già yếu không trị lý được, Vua liền hạ chiếu chọn người thay thế. Vì Chuyển vận sứ Giang Trọng Phủ không biết tiến cử, ngày Mậu Thìn, giáng Trọng Phủ làm Tri châu nhỏ. Kế Minh và Trọng Phủ, chưa rõ lai lịch.

[68] Ngày Tân Mùi, Ty An phủ duyên biên Hà Đông tâu rằng các bộ tộc Ngũ tộc, Bát tộc ở Phủ châu trước đã dẫn người nhà đến các châu Hà Đông làm ruộng, nay muốn đưa họ trở về đất cũ ở phía tây sông, Vua đồng ý.

[69] Ngày Nhâm Thân, bãi bỏ việc thắp đèn ở các cung quan vào các tiết Thiên Khánh, Thiên Kỳ, Thiên Huống, Tiên Thiên, Giáng Thánh.

(Sách 《Vương Mãnh Văn Chính Công Ngôn Hành Lục》 chép: Tư không Vương Công được triệu từ Giang Ninh, lại nắm chính quyền, thường lo việc lễ cung quan khâm phụng, nhưng sơ suất không như trước, nhiều lần tâu lên, Minh Túc hoàng thái hậu do dự chưa quyết. Một hôm, Vương Công tâu trước rèm rằng: “Thiên đạo xa, nhân đạo gần. Hơn nữa, năm Thiên Hi có linh văn giáng xuống, nói tiên đế thọ ba vạn ngày, lúc đó Khâm Nhược vui mừng nói: Ba vạn ngày là tám mươi ba tuổi. Thần lúc đó tham dự quốc chính, thái hậu hẳn cũng nhớ, nhưng sau đó không ứng nghiệm. Vậy nay chỉ nên tuân theo điển lễ, không cần quá mức.” Ký Công xấu hổ lui ra, từ đó không nói nữa.

Xét Vương Tăng năm Thiên Hi thứ nhất tháng tám bãi chính, lấy chức Lễ bộ thị lang về ban, năm thứ hai tháng giêng phán đô tỉnh, tháng ba ra làm tri phủ Ứng Thiên, tháng chín dời làm tri phủ Thiên Hùng, năm thứ tư tháng tám lại tham chính. Còn Khấu Chuẩn tâu thiên thư giáng ở núi Can Hữu, thực ra là tháng ba năm thứ ba, tháng tư năm đó mới đón thiên thư vào cung, lúc đó Vương Tăng đã bãi chính lâu rồi. Lại tháng tám năm đó vì thiên thư giáng lần nữa, đại xá, lúc đó Khâm Nhược cũng đã bãi tướng trước.

Sách 《Ngôn Hành Lục》 nói “Thần lúc đó tham dự quốc chính”, ắt là sai, nay không theo. Hơn nữa, 《Thực Lục》 chép tháng sáu năm thứ ba ngày Giáp Ngọ Khâm Nhược bãi tướng sau, có chép Khâm Nhược từng nói Chu Hoài Chính bịa đặt thiên thư, vậy e rằng lời 《Ngôn Hành Lục》 nói “vui mừng trước”, cũng chưa chắc đúng, vì Khâm Nhược ắt không thể nói Hoài Chính bịa đặt khi đã bãi chính. Nay đều không theo.)

[70] Ngày Đinh Sửu, Chuyển vận sứ Quỳ Châu lộ Điêu Trạm tâu: “Các giếng muối ở quân Vân An quản lý, thuế hàng năm rất nhiều, nhưng các võ thần làm tri quân, sơ suất trong việc kiểm tra sổ sách, tích lũy nợ đọng. Xin từ nay chọn triều thần làm tri quân.” Theo lời tâu.

[71] Ngày Mậu Dần, Giám sát ngự sử Lý Hoành tâu rằng: “Những năm gần đây, các quan lại cử tấu mạc chức, châu huyện quan, theo lệ phải có năm người trở lên và người được cử phải có bốn kỳ khảo xét trở lên, mới được xét duyệt và dẫn vào yết kiến. Trong đó có những người tại nhiệm chỉ được một hai người tấu cử, sau khi thay chức lại trì hoãn, nhờ cậy quan ngoại nhiệm tiến cử, hoặc nhờ vả những quan mới được bổ nhiệm ngoại nhiệm tấu cử.

Xin từ nay các chức Chuyển vận, Chế trí phát vận, Đề điểm hình ngục khuyến nông sứ phó sứ, Tri châu quân, Thông phán, Kiềm hạt, Đô giám Sùng ban trở lên, đều phải tấu cử mạc chức, châu huyện quan trong bộ mình. Tại kinh, các quan Đại lưỡng tỉnh trở lên, đều được phép cử quan. Các quan thường tham và Quán các từng giữ chức Tri châu, Thông phán, thăng triều quan, được phép theo điều lệ tấu cử; còn các thăng triều quan chưa từng giữ chức Tri châu quân, Thông phán trở lên, thì không được cử quan. Người được cử phải đang tại nhiệm, nếu có hai người là Chuyển vận, Chế trí phát vận, Đề điểm hình ngục khuyến nông sứ phó sứ cử, thì được thi hành theo lệ; nếu chỉ có một người cử, mà không có Tri châu quân, Thông phán tại chỗ, thì phải đợi hai quan thường tham bảo cử, mới được xét duyệt.

Từ nay, những người phạm tội đến mức đi đày, trừ tội tham nhũng, tư lợi quá mức, cố tình vi phạm không được tấu cử, còn những tội vì công mà phạm tư[10], sự việc không nghiêm trọng, cũng được phép tấu cử.” Vua nghe theo.

Vua nhân đó nói với các phụ thần rằng: “Hàng ngày xem các tấu cử quan của thiên hạ, há không có sai sót sao?” Vương Khâm Nhược đáp: “Theo lời xin của Hoành, cũng có thể giảm bớt sự lạm dụng.”

Hoành là cháu của Xương Ngôn.

(《Thực lục》 chép lời tấu của Hoành rất sơ lược, nay lấy 《Hội yếu》 chép lại, để lưu lại sự việc ban đầu.)

[72] Chiếu rằng từ nay nếu có chức quan kiểm pháp của Tam ty khuyết, thì Lưu nội tuyển căn cứ theo công mà lựa chọn, bảo đảm minh bạch rồi tâu lên, còn các sứ phó của Tam ty không được tiến cử nữa[11].

[73] Mùa thu, tháng 7, ngày Mậu Tý, chiếu rằng vào ngày Đông chí sẽ làm lễ tế ở Nam Giao.

[74] Ngày Nhâm Thìn, sai Điện trung thị ngự sử Vương Thạc và Nội điện thừa chế Chu Tự đi kiểm tra số trà tích trữ ở các sơn trường.

[75] Trước đây, triều đình đã áp dụng phép thiếp xạ của Lý Tư, thực hiện được một năm, các thương nhân lớn không thể thao túng giá cả, nhưng có người bàn rằng việc mua lương thực ở biên giới trả bằng tiền mặt, e rằng kho tàng ở kinh sư không đủ để tiếp tục, nên tranh luận cho rằng phép này không tiện. Khi ấy, Ty chế trí Giang, Hoài tâu rằng có trà bị ứ đọng hư hỏng, xin đem đốt bỏ hết. Triều đình nghi ngờ có tệ nạn do thay đổi phép tắc, hạ chiếu trách Ty kế trí, nhân đó sai Vương Thạc và Chu Tự đi xem xét.

Sau đó, Tư và những người khác trình bày các lợi ích và tác hại, nói rằng: “Từng cử quan viên đến xem xét Thiểm Tây, Hà Bắc, lấy Trấn Nhung quân và Định châu làm chuẩn. Ở Trấn Nhung quân, giá trị lương thực nhập kho là 28.000[12], ở Định châu giá trị lương thực nhập kho là 45.000, cấp trà đều trị giá 100.000. Vốn mua trà ở Kỳ châu so với giá trị lương thực ở Trấn Nhung quân, lại mất đi một phần ba vốn, thu về không đủ bù đắp[13], tệ nạn nằm ở việc trà và mua lương thực biên giới phụ thuộc lẫn nhau, nên đổi pháp lệnh hiện tại. So sánh giữa pháp lệnh cũ và mới[14].

Năm Càn Hưng thứ nhất dùng pháp tam thuyết, mỗi khoán trị giá 100.000[15], trà bán được từ 11.000 đến 62.000, hương liệu, ngà voi bán được 41.000 có lẻ, tiền Đông Nam bán được 83.000, nhưng thực tế ở kinh sư thu được 750.000 có lẻ[16], lương thực dự trữ biên giới là hơn 2.050.000 bó cỏ, 2.980.000 thạch thóc.

Năm Thiên Thánh thứ nhất dùng pháp mới, năm thứ hai, trà và hương liệu, tiền Đông Nam mỗi lần cấp trị giá 100.000, trà thu được thực tế từ 74.000 có lẻ đến 80.000, hương liệu, ngà voi thu được 73.000 có lẻ, tiền Đông Nam thu được 150.500, nhưng thực tế ở kinh sư thu được tăng thêm 1.040.000 có lẻ[17], lương thực dự trữ biên giới tăng thêm hơn 11.690.000 bó cỏ, thóc tăng thêm hơn 2.130.000 thạch.

Trước đây dùng giá ảo cấp khoán, đến kinh sư thì xuất tiền bán đi, hoặc đổi thành tiền thực để cấp trà, giá cao thấp tùy theo thị trường. Những người trước đây bán rẻ cho thương nhân trà, khoán trị giá 100.000, bắt nộp thêm 50.000 tiền thực, tổng cộng cấp trị giá trà năm Thiên Hi thứ năm là 150.000. Tiểu thương dưới 1.000.000 được miễn nộp tiền, mỗi khoán trị giá 100.000, cấp trị giá trà từ 70.000 đến 75.000, khi trà năm Thiên Hi hết thì cấp trà từ năm Càn Hưng về sau, lại tăng thêm 50.000 tiền nộp riêng đều thành 70.000[18], và cấp hao hụt như cũ, đợi khi khoán cũ hết thì dừng. Như vậy, lại tiết kiệm được tổng trị giá trà, hương liệu, ngà voi, tiền Đông Nam là 2.710.000.”

Các đại thần của Nhị phủ cũng tâu rằng: “Số tiền tiết kiệm và thu thêm được tổng cộng hơn sáu trăm năm mươi vạn quan. Trước đây, dự trữ biên giới có khi không đủ cung cấp cho một năm, nhưng đến nay, nơi nhiều có dự trữ đủ bốn năm, nơi ít cũng đủ hai năm, và trà ở phương Đông Nam cũng không còn tình trạng ứ đọng. Những gì mà Ty Chế trí xin đốt bỏ chỉ là những thứ hư hỏng qua nhiều năm không thể dùng được mà thôi.”

Nhân đó tâu tiếp: “Việc thực hiện pháp mới đã thấy rõ kết quả. Nguồn tham nhũng tích tụ nhiều năm đã bị chặn đứng trong một sớm một chiều, thương nhân được lợi từ việc khôi phục tình trạng cũ, muốn tìm cách lay chuyển, nhưng những người bàn luận không xem xét thực tế, lại giúp họ tuyên truyền. Xin hãy kiên quyết thực hiện, đừng để bị lung lay bởi lời đồn.”

Do đó, triều đình ban chiếu cho các cơ quan có thẩm quyền treo bảng thông báo cho thương nhân biết ý định kiên định thực hiện pháp mới, và ban thưởng cho các lại dịch bằng bạc và lụa với mức độ khác nhau.

(《Thực lục》 chỉ ghi chép việc cử sứ giả đi kiểm tra trà dự trữ vào thời điểm này, và kèm theo sự kiện ban thưởng bạc lụa cho lại dịch vào ngày Giáp Thìn tháng 3 năm thứ 4, còn những việc khác đều không ghi, nay đều theo 《Bản chí》.

《Hội yếu》 cũng không ghi việc cử sứ giả đi kiểm tra trà dự trữ, cũng như các điều lợi hại do Lý Tư và những người khác dâng lên, việc treo bảng thông báo cho thương nhân, và việc ban thưởng bạc lụa, không rõ vì sao.)

[76] Ngày Mậu Tuất, Khương Tuân, Lang trung Hình bộ, Thị ngự sử tri tạp sự, tâu rằng: “Tam ty và Khai Phong phủ mỗi ngày tiếp khách, việc công bị bỏ bê nhiều. Lại có những văn thần kiêm nhiệm chức vụ đi xa quá mức, cản trở người qua đường. Các quan kỹ thuật chưa lên triều mà được ban áo tía, nhiều người được đeo thẻ cá, làm rối loạn triều chính. Những điều này đều đã có quy định từ trước, xin hãy thi hành cấm chỉ.” Triều đình đồng ý.

[77] Ngày Kỷ Hợi, phong Tiết Khuê, Long đồ các đãi chế, quyền Tri Khai Phong phủ, làm Hữu gián nghị đại phu, quyền Ngự sử trung thừa. Khuê dâng sớ bàn về việc chọn người, cầu trị, đề cao tiết kiệm, loại bỏ thanh sắc, tổng cộng hơn mười việc.

[78] Giám sát ngự sử Trương Dật được bổ nhiệm làm Đề điểm hình ngục khuyến nông sứ ở Ích Châu lộ. Vua nói với các phụ thần: “Dân vật ở Ích bộ phồn thịnh, chức vụ Đề án cần phải chọn người tài, Dật có đảm đương được không?” Vương Khâm Nhược tâu: “Dật làm Ngự sử, nổi tiếng thanh liêm cẩn trọng, nay được chọn giao việc này, chắc chắn sẽ làm tròn chức trách.”

Dật, người huyện Huỳnh Dương, trước đây từng làm Hiệu thư lang thử chức, quản lý huyện Đặng Thành thuộc châu Tương, nổi tiếng là người có tài năng. Tri châu Tạ Bí muốn tiến cử Dật, trước tiên đặt một cái bàn, đặt tờ tấu lên trên, hướng về phía cung điện lạy hai lạy và nói: “Lão thần vì triều đình tìm được một vị quan tốt.” Sau đó dâng tấu lên. Một hôm, khi được dẫn vào triều kiến, Chân Tông hỏi Dật muốn nhận chức vụ gì. Dật trả lời: “Mẹ già nhà nghèo, chỉ mong được một chức quan nhỏ gần quê để về phụng dưỡng mẹ là đủ.” Vua bèn bổ nhiệm ông làm Quan sát suy quan châu Thiền. Ít lâu sau, mẹ ông qua đời, ông phải về chịu tang. Khi mãn tang, được dẫn vào triều kiến, Vua lại hỏi ông muốn nhận chức gì. Dật trả lời: “Xin được một chức quan ở kinh thành.” Vua bèn đổi cho ông làm Thừa chức Đại Lý tự. Chân Tông rất quý trọng Tạ Bí, nên lại triệu Dật vào hỏi[19], là do Tạ Bí tiến cử. Dật được bổ làm Tri huyện Trường Thủy, lúc đó Vương Tự Tông làm Lưu thủ Tây Kinh, đối đãi ông rất hậu. Khi ông được điều đến huyện Thanh Thần, vì nhà nghèo không đủ chi dùng, Tự Tông cho vay nửa năm lương để lo việc trang bị. Đến huyện, ông mở trường học, dạy học trò. Sau này, người trong huyện là Trần Hi Lượng và Dương Dị lần lượt đỗ khoa cử, Dật đổi tên nơi ở của họ thành xóm Quế Chi. Phía đông nam huyện có bãi Tùng Bách, mùa hè thu nước lũ dâng cao, thường làm lật thuyền. Dật cầu khấn thần sông, chưa đầy một tháng, bãi cát dời đi năm dặm, người đương thời đều lấy làm lạ.

[79] Ngày Canh Tý, lấy Tể thần Vương Khâm Nhược làm Nam giao đại lễ sứ, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Lý Duy làm Lễ nghi sứ, Hàn lâm học sĩ Yến Thù làm Nghi trượng sứ, quyền Ngự sử trung thừa Tiết Khuê làm Lỗ bạ sứ, quyền Tri Khai Phong phủ Vương Trăn làm Kiều đạo đốn đệ sứ.

Tể tướng làm Đại lễ sứ, Thái thường khanh làm Lễ nghi sứ, Ngự sử trung thừa làm Nghi trượng sứ, Binh bộ thượng thư làm Lỗ bạ sứ, Khai Phong doãn làm Kiều đạo đốn đệ sứ, từ đầu triều đại vẫn theo chế độ này.

Về sau, nếu Thái thường khanh, Ngự sử trung thừa, Binh bộ thượng thư có khiếm khuyết, thì lấy Học sĩ hoặc các Thượng thư, Thừa, Lang khác đảm nhiệm, nhưng chức trách vẫn do Lễ viện, Ngự sử đài, Binh bộ lại giữ như cũ.

Các nghi vệ danh vật đều do Lỗ bạ sứ quản lý, Nghi trượng sứ chỉ đốc thúc các ty mà thôi. Thứ tự các sứ là Đại lễ, Lễ nghi, Nghi trượng, Lỗ bạ, còn Kiều đạo đốn đệ sứ ở vị trí thấp nhất.

(Khi Chân Tông làm lễ phong thiền, năm sứ đều do phụ thần đảm nhiệm. Đến khi tôn hiệu Ngọc Hoàng, Tể tướng Hướng Mẫn Trung đáng lẽ làm Lễ nghi sứ, nhưng vì tuổi già không đảm đương được việc tán đạo, nên đổi lấy Xu mật sứ Vương Khâm Nhược, còn Mẫn Trung thì làm Nghi trượng sứ, như vậy là sai thứ tự. Nay có Trung thừa mà đổi tên sứ, không phải là lệ cũ. 《Thực lục》 chép: Khi phụng tự ở Bạc Châu, lấy phụ thần đảm nhiệm năm sứ, Hướng Mẫn Trung nhường chức Lễ nghi sứ cho Vương Khâm Nhược, là sai, nay đều sửa lại.)

[80] Ban đầu, khi Chân Tông băng hà, trong cung sai trung sứ ban cho chùa Cảnh Đức ở núi Ngọc Tuyền, quân Kinh Môn ba nghìn lạng bạc, lệnh mua ruộng, nhưng các sư trong chùa không dám nhận. Chuyển vận sứ của bản lộ tâu: “Theo chế độ cũ, chùa chiền không được mua ruộng để xâm phạm nông nghiệp.”

Vua nói với tể tướng: “Việc này là để tạo phúc cho tiên đế, đừng bắt buộc theo pháp luật, nhưng cũng không được lấy làm tiền lệ.” Sau đó, các chùa chiền dần dần mua thêm ruộng[20]. (Việc mua thêm ruộng, căn cứ theo 《Thực hóa chí》.)

Khi còn hàn vi, Hoàng thái hậu từng đi qua Ngọc Tuyền, có một vị lão tăng nói rằng sau này bà sẽ cực kỳ quý hiển. Sau khi lời tiên đoán ứng nghiệm, bà nhiều lần triệu vị tăng đó nhưng ông không đến, nên mới có việc ban thưởng này.

(《Thiệu Bá Ôn văn kiến lục》 chép: Chương Hiến Minh Túc Thái hậu, người Hoa Dương, Thành Đô. Khi còn nhỏ, theo cha xuống hạp, đến chùa Ngọc Tuyền, có một vị trưởng lão giỏi xem tướng, nói với cha bà: “Ngài là người quý tộc.” Khi thấy Thái hậu, ông ta kinh ngạc nói: “Sự quý hiển của ngài là nhờ cô gái này.” Lại nói: “Phương xa không đáng lưu lại, sao không đến kinh sư?” Cha bà lấy cớ nghèo khó từ chối, trưởng lão tặng ông một trăm lạng vàng.

Đến kinh sư, Chân Tông đang làm phán quan ở Nam Nha, nhờ Trương Kỳ đưa bà vào cung. Khi lên ngôi, bà được phong làm Tài nhân, rồi thăng lên Thần phi[21], đến khi chính thức ở ngôi trong cung, tiếng tăm vang dội khắp thiên hạ.

Khi Nhân Tông lên ngôi, Thái hậu nhiếp chính, vị trưởng lão ở Ngọc Tuyền đã về chùa Trường Lô. Thái hậu nhiều lần triệu nhưng ông không đến, sai sứ đến hỏi cần gì, ông trả lời: “Đạo nhân không cần gì cả, chỉ là chùa Ngọc Tuyền không có tăng đường, chùa Trường Lô không có cổng chùa, xin Thái hậu nghĩ đến.”

Thái hậu bèn ban cho hai chùa những vật dụng trong cung, dùng tiền đó xây dựng. Riêng chùa Trường Lô nằm bên sông, cổng chùa dựng trên mặt nước, vừa xây xong thì bị giao long phá hủy. Thái hậu quyết tâm xây lại, dùng mấy vạn cân sắt sống xếp dưới chân cổng, cổng mới đứng vững, vì giao long sợ sắt. Nay trên xà nhà tăng đường chùa Ngọc Tuyền có ghi là do Thái hậu xây dựng[22].)

[81] Ngày Giáp Thìn, quần thần dâng biểu xin tôn hiệu cho Vua là Thánh Văn Duệ Vũ Nhân Minh Hiếu Đức, lại xin tôn hiệu cho Hoàng thái hậu là Ứng Nguyên Sùng Đức Nhân Thọ Từ Thánh, Vua đều không chấp thuận. Biểu dâng lên ba lần, Vua mới nghe theo.

[82] Ngày Đinh Mùi, Lý Nhược Cốc, Hình bộ Lang trung, phán Hộ bộ Câu viện, được cử làm sứ sang chúc mừng sinh thần vợ của Khiết Đan, Phạm Thủ Khánh, Nội điện Thừa chế, Cáp môn Chỉ hậu, làm phó sứ. Khi Nhược Cốc và đồng liêu từ biệt, không đợi xin được vào chầu dưới màn che, liền đến điện Trường Xuân tâu việc[23], Thái hậu không vui, sau đó sai Chương Đắc Tượng, Hình bộ Lang trung, Trực sử quán, và Phùng Khắc Trung, Cung phụng quan, Cáp môn Chỉ hậu, thay thế.

(Phụ truyện chép: Thái hậu nghe chính sự, sứ giả từ biệt ở sân, rồi lên điện, Nhược Cốc và đồng liêu từ biệt xong, liền vội vàng bước ra, bèn bãi bỏ việc đi sứ. Chép khác với chính truyện và Thực lục, nên khảo cứu thêm.)

[83] Ngày Kỷ Dậu, lần đầu đến chùa Khải Thánh triều bái thần vị của Thái Tông, trước đây trong thời gian để tang, theo lời tâu của Lễ nghi viện, chỉ sai phụ thần đến dâng lễ.

[84] Ngày Quý Sửu, đưa tượng Vua Chân Tông vào thờ tại điện An Thánh ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng.

[85] Tháng 8, ngày Bính Thìn, mùng một, yến tiệc ở điện Sùng Chính, lần đầu dùng một nửa nhạc lễ. Nhạc công tấu nhạc, Vua không hề để mắt, đến cuối tiệc vẫn còn vẻ buồn, tả hữu nhìn nhau, không ai là không cảm thán.

[86] Lúc đó, chiếu chỉ truyền xuống thành Đô phủ, triệu tập người làm trò Hứa Triều Thiên và những người khác bổ sung vào giáo phường. Tả Chánh ngôn Lưu Tùy cho rằng những người thợ hèn kém không đáng để làm nhục chiếu thư.

Giám sát Ngự sử Lý Hoành tâu: “Bệ hạ mới lên ngôi, chưa thể trọng dụng những người tài ẩn dật, mà lại đầu tiên triệu tập những kẻ làm nghề ca hát, điều này không thể làm rạng rỡ đức tốt của bệ hạ trong thiên hạ.” Triều Thiên và những người khác liền bị bãi chức và trở về.

(Lưu Tùy và Lý Hoành can gián việc triệu tập nhạc công, nhưng không đúng thời điểm, nay ghi chép phụ vào đây. Lý Hoành nói rằng bệ hạ mới lên ngôi, chưa thể trọng dụng người tài ẩn dật, chắc chắn là vào đầu niên hiệu Thiên Thánh. Bản truyện của Lưu Tùy ghi chép sự việc này, xen lẫn với việc bàn về sao biến và việc hặc tấu Chung Ly Cẩn, nay không lấy.)

[87] Chiếu chỉ rằng các quan đã được bổ nhiệm mà phạm pháp, cho phép người tiến cử trình bày tình hình, nếu trình bày không đúng sự thật thì bị trị tội. Bản chí lại nói rằng không trình báo đúng sự thật cũng được miễn tội. Nay chỉ theo Thực lục và bản kỷ.

[88] Ngày Đinh Tỵ, bãi bỏ việc nấu phèn ở quân Vô Vi, cho phép dân tự nấu, quan thu mua.

[89] Tiết độ sứ Bảo Đại là Tiền Duy Diễn tâu: “Chân Tông ngự giá đến Thiền Uyên đánh Khiết Đan, giết tướng lớn của họ là Thát Lãm, kết minh và khiến họ quy phục. Nay thụy hiệu chỉ xưng là Văn mà không có Vũ, nên thêm thụy hiệu Vũ.” Chiếu chỉ cho hai chế và Thái thường Lễ viện bàn thêm.

[90] Ngày Mậu Thìn, tế Xã, ban yến tiệc như lệ cũ. Từ đó, nếu tể thần xin bãi bỏ, thì chỉ sai trung sứ ban rượu và trái cây.

[91] Ngày Tân Mùi, Nam giao kiều đạo đốn đệ sứ Vương Trăn xin rằng xa giá từ Thái miếu trở về, đi qua phía tây Cảnh Linh cung và Chu Tước môn đến Giao cung, theo chế độ năm Cảnh Đức. Được chấp thuận, và lệnh ngày đó cử quan đến Cảnh Linh cung tấu cáo.

[92] Lại bộ Lưu nội tuyển dẫn tuyển nhân, phàm ai có tội riêng đều chưa được cải chức. Vua hỏi các phụ thần: “Tội riêng có mấy loại?” Vương Khâm Nhược đáp: “Tội riêng vốn nhiều, nhưng trong đó nặng nhẹ khác nhau, như đến nha môn tạ lỗi không kịp, hoặc đánh rơi hốt, mất lễ nghi, việc tuy rất nhỏ, nhưng vì không liên quan đến công việc, đều là tội riêng.” Vua nói: “Các quan nên xét tình hình, không thể vì lỗi nhỏ mà bỏ phế mãi.” Ngày Giáp Tuất, chiếu chỉ từ nay những trường hợp như vậy không cản trở việc cải chức.

[93] Lúc đầu, Tri phong châu, Nội điện thừa chế Vương Văn Ngọc mất[24], mẹ ông là Chiết thị cùng các thủ lĩnh quan lại người phiên xin cho con trưởng của Văn Ngọc là Dư Khánh kế nhiệm chức Tri châu. Sau đó lại xin cho cháu của Văn Ngọc là Hoài Tín, người giữ chức Điện trực, Tuần hạt Thiên Môn quan, coi sóc trạm ngựa, được kế nhiệm.

Triều đình bèn hạ chiếu cho Quản câu lộ Lân Phủ quân mã công sự Cao Kế Trung và Tri phủ châu Chiết Duy Trung tập hợp quan lại người Hán và người phiên bàn bạc quyết định. Kế Trung và các quan tâu rằng: “Hoài Tín tự ý vào Phong châu, khao thưởng các thủ lĩnh, giết chó thề nguyền, muốn đoạt ngôi vị của Dư Khánh, mà Chiết thị không thể ngăn cản, không thể dùng được. Văn Ngọc còn có cháu là Hoài Quân, hiện giữ chức Tam ban phụng chức, Giám Tấn châu diêm thuế, có thể sai thay thế Dư Khánh. Tuy nhiên, trong di biểu, Văn Ngọc từng tiến cử Dư Khánh thay mình, nay cũng xin ban cho Dư Khánh một chức quan.”

Ngày Đinh Sửu, phong Hoài Quân làm Hữu ban điện trực, Tri phong châu[25], bổ Dư Khánh làm Tam ban tá chức, tha cho Hoài Tín không truy cứu.

[94] Ngày Mậu Dần, sai Độ chi viên ngoại lang, Bí các hiệu lí Lý Thùy và Nội điện sùng ban, Cáp môn chi hậu Trương Quân Bình đi xem xét tình hình sông ngòi ở các châu Hoạt, Vệ, vì năm nay được mùa, chuẩn bị bàn việc đắp đê ngăn chỗ sông vỡ.

[95] Ngày Kỷ Mão, Vua ngự giá đến Quốc tử giám, bái yết Tiên thánh Văn Tuyên vương. Triệu tập các quan theo hầu lên giảng đường, sai Trực giảng, Đồn điền lang trung Mã Quy Phù giảng 《Luận ngữ》, ban cho Quy Phù áo mặc tam phẩm. Sau đó xem bia khen ngợi 72 vị hiền nhân, xem bản đồ về ba lễ, hỏi Thị giảng Phùng Nguyên về chế độ ba đời. Rồi lại đến miếu Chiêu Liệt Vũ Thành vương. Khi trở về, ngự đến điện Kế Chiếu, ban yến cho các quan theo hầu. Quy Phù, chưa rõ lai lịch.

[96] Ngày Nhâm Ngọ, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Lý Duy và các quan xin tôn thêm thụy hiệu cho Chân Tông là Văn Minh Vũ Định Chương Thánh Nguyên Hiếu. Chiếu theo lời tâu.

[97] Bí thư lang Hàn Cừ tâu: “Từ nay, ruộng chức điền của chức vụ khuyết, nếu chính quan đến nhậm chức, đúng theo sắc hạn thì cấp cho, nếu không đúng thì thu hết về quan, không cấp cho người quyền quản lý nữa.” Vua nghe theo. Cừ là con của Quốc Hoa.

[98] Tháng 9, ngày Canh Dần, Trung thư môn hạ tâu: “Sách bảo thụy hiệu của Chân Tông và tôn hiệu của Hoàng thái hậu, hoàng đế, các pháp vật dùng trong lễ đều làm bằng vàng, chỉ có năm Thiên Hi từng dùng vàng mạ.”

Vua nói: “Chân Tông và Hoàng thái hậu nên dùng vàng, còn pháp vật của Trẫm chỉ dùng vàng mạ thôi.” Hoàng thái hậu bảo các tể thần: “Hoàng đế mới lên ngôi, lần đầu nhận sách mệnh, nên dùng vàng ròng, còn lại chỉ dùng vàng mạ là được.”

(Ngày 17 tháng giêng năm Minh Đạo thứ 2 và ngày 17 tháng 8 năm Cảnh Hựu thứ 2, có thể tham khảo.)

[99] Người dâng thư nói rằng Phủ Hà Trung, Châu Đồng Hoa những năm gần đây bị hạn hán, dân chúng nhiều người lưu lạc, xin miễn thuế phải chuyển đi nơi khác. Vua bèn nói với các phụ thần: “Dân chúng nộp thuế, tiện ở bản châu, sao lại phải chuyển sang quận khác?” Các quan đáp: “Biên giới phía tây đóng quân, nếu không chuyển thuế của dân thì càng gây thêm phiền nhiễu.” Vua đặc biệt hạ chiếu cho Chuyển vận ty giảm bớt số thuế.

[100] Ngày Tân Mão, tế ở cung Thái Nhất. Khi về, dừng xe xem người cày ruộng bên đường, rồi sai trung sứ đến an ủi, ban cho trà và lụa.

[101] Ngày Kỷ Hợi, Cáp môn tâu: “Theo chế độ cũ, Tri châu Doanh được vào chầu, nhưng gần đây có chiếu chỉ cho phép từ Lộ phân Kiềm hạt trở lên. Tân Tri châu Doanh là Trương Chiêu Viễn vì kiêm chức Kiềm hạt Cao Dương Quan, không thuộc quy định mới.” Vua hạ chiếu: Từ nay, Tri châu Doanh và Kiềm hạt Cao Dương Quan đều được vào chầu.

[102] Ngày Canh Tý, Hoàng thái hậu viết thư ban cho Trung thư môn hạ, lấy cháu gái của cố Trung thư lệnh Quách Sùng làm Hoàng hậu, và bảo các phụ thần: “Từ xưa, nhà ngoại thích ít ai giữ được phú quý, nên lần này chọn từ gia đình suy cựu, để tránh ngày sau có thể làm rối loạn chính sự của Vua[26].”

[103] Ngày Quý Mão, lấy Độ chi phó sứ, Lễ bộ viên ngoại lang Thái Tề làm sứ sang Khiết Đan chúc mừng sinh thần, Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Lý Dụng Hòa làm phó; Diêm thiết phán quan, Binh bộ viên ngoại lang Trương Truyền làm sứ chúc mừng năm mới, Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Trương Sĩ Vũ làm phó.

[104] Lưỡng chế định Hoàng thái hậu nhận sách tôn hiệu ở điện Sùng Chính, Vua cho rằng lễ nghi chưa xứng đáng, ngày Giáp Thìn, xuống chiếu đổi sang điện Văn Đức, phát sách ở điện Thiên An. Thái hậu cũng muốn nhận sách ở điện Thiên An, Vương Tăng nói không được, nên thôi.

[105] Ngày Đinh Mùi, Vua bảo các phụ thần: “Hôm qua yến tiệc trong cung, Trẫm nhiều lần khuyên nhủ, Hoàng thái hậu mới nghe nhạc.”

Vương Khâm Nhược liền đem lời Vua hỏi Thái hậu, Thái hậu nói: “Từ khi Tiên đế bỏ thiên hạ, ta không muốn nghe nhạc suốt đời, hoàng đế nhiều lần thỉnh cầu, sao có thể cự tuyệt nặng nề?”

[106] Ngày Kỷ Dậu, miễn cho các cung thủ ở Châu Nguyên khỏi phải chịu sai dịch của châu huyện.

[107] Ngày Quý Sửu, tăng sĩ Tây Thiên Trúc là Ái Hiền đến dâng kinh Phạn, đều được ban áo tía, đai thắt.

[108] Tri Châu Duyễn, Công bộ thị lang Lý Ứng Cơ được làm Tướng tác giám, phân ty ở Nam Kinh, cư trú ở Từ Châu.

(Việc này ghi trong 《Hội yếu》 tháng 9 năm thứ 2).

[109] Mùa đông, tháng 10, ngày Bính Thìn, đưa tượng Chân Tông về thờ ở viện Hồng Phúc.

[110] Ngày Nhâm Tuất, Vua bảo các phụ thần: “Nghe nói ở Hoạt Châu sửa sông, nhiều binh lính bị chết đuối, quan hữu ty chỉ xóa tên họ trong quân tịch vì cho là đào ngũ, thật đáng thương xót. Từ nay nên lệnh cho ghi rõ tên những người chết đuối, cấp tiền tử tế để tuất cho gia đình họ.”

[111] Ngày lễ Thiên Khánh, theo chế độ cũ, trước và sau 5 ngày không tâu án tử hình. Xuống chiếu từ nay chỉ cấm trước và sau 1 ngày, các án khác chỉ cấm vào ngày chính lễ.

[112] Ngày Đinh Mão, Vua bảo các phụ thần: “Lễ giao là việc trọng đại, Trẫm muốn trước tập lễ nghi trong cung, hãy lệnh cho quan Lễ bộ soạn thảo rồi tâu lên.”

[113] Ngày Mậu Thìn, Vua bảo các phụ thần: “Hàn lâm đãi chiếu Vương Văn Độ gần đây khắc bia ngự chế triều trước, đã được ban áo tía lại còn xin đeo thẻ bài. Huống chi theo chế độ cũ, các quan kỹ thuật đều không được đeo thẻ bài để phân biệt với sĩ loại, nên nghiêm cấm lại.”

[114] Bà nội của Trương Vĩnh Đức, người phụng chức Tam ban, họ Lưu, thọ 108 tuổi, được Vua thường triệu vào cung, thương cảm vì tuổi cao, ban chiếu cho Vĩnh Đức được bổ nhiệm làm quan ở nơi gần để tiện chăm sóc.

(Vĩnh Đức đã được nhắc đến vào năm Thiên Hi thứ 5.)

[115] Ngày Canh Thìn, công trình tu sửa Tam ty hoàn thành, gồm 1.172 khu, Vua sai Tri chế cáo Tống Thụ viết bài ký.

[116] Ngày Tân Tỵ, ban chiếu từ nay về sau, sách xá tội do Hình bộ in ấn rồi ban hành. Lúc đó, Phán bộ Yên Túc tâu rằng theo chế độ cũ, tập hợp thư lại chép tay, chữ sai nhiều, các nơi tâu lại, có khi dẫn đến chậm trễ, nên xin khắc bản in để ban bố.

Có người nói: “Bản in mà sai thì sai càng nhiều.” Vương Tăng nói: “Không để một chữ nào sai là được.” Rồi đưa vào luật.

(Vương Tử Dung nói: Khấu Lai công từng bàn in sách xá tội để ban bố khắp nơi, mọi người không đồng ý nên thôi. Sau đó, các nơi tâu lại chữ sai trong sách xá tội, Vương Nghi công mới dùng lời bàn của Khấu, sai Hình bộ giam thợ khắc chữ rồi in ấn ban bố. Nhân đó, quan coi lịch cũng xin in lịch. Theo chế độ cũ, mỗi năm chiêu mộ người chép tốn 300 quan, nay in ấn chỉ tốn 30 quan.

Việc “Có người nói: ‘Một bản sai thì trăm nghìn bản sai.’ Vương Nghi công nói: ‘Không để một chữ nào sai là được.’ Từ đó đưa vào luật.” Tử Dung nói lời bàn ban đầu là của Khấu Lai công, không rõ căn cứ, nay chỉ lấy chính sử, Thực lục bổ sung thêm.)

[117] Lưu nội tuyển xét duyệt công tội của 8 người được tuyển là Vương Quỹ, dẫn vào yết kiến, Vua nói: “Trong đó có người từng xử án sai, từ nay không được bổ nhiệm làm quan coi ngục.”

[118] Tháng 11, ngày Giáp Ngọ, thêm thụy hiệu cho Chân Tông.

[119] Ngày Ất Mùi, làm lễ triều hưởng ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng và cung Cảnh Linh.

[120] Ngày Bính Thân, làm lễ hưởng ở Thái Miếu.

[121] Ngày Đinh Dậu, làm lễ hợp tế trời đất ở đàn Viên Khâu, đại xá. Bá quan dâng tôn hiệu cho hoàng đế và hoàng thái hậu. Ban thưởng cho bá quan, các quân thêm một bậc.

[122] Lệnh cho Tam ty tạm ngừng mua lụa là trong một năm, giảm một phần ba số giấy cung tiến của châu Hấp.

[123] Ngày Ất Tỵ, lập hoàng hậu họ Quách.

[124] Ngày Tân Hợi, Vương Khâm Nhược được phong làm Ký quốc công, Tào Lợi Dụng đổi phong làm Lỗ quốc công, văn võ bách quan đều được gia ân. Theo lệ cũ, các phụ thần thường được thăng chức, Tham tri chính sự Lữ Di Giản cùng đồng liêu từ chối, từ đó trở thành quy định.

(Tống Mẫn Cầu trong 《Xuân Minh Thoái Triều Lục》 chép: Từ niên hiệu Kiến Long đến Thiên Hi, mỗi khi triều đình tổ chức đại lễ, hai phủ đều được thăng chức. Đến năm Thiên Thánh thứ hai, Lữ Di Giản khẩn thiết xin dừng lại, từ đó chỉ gia ân mà thôi. Xét lại, từ đầu niên hiệu Hàm Bình, Tôn Hà đã từng kiến nghị cải cách, nhưng Tống Mẫn Cầu không nhớ, quốc sử cũng theo đó mà ghi chép.)

[125] Tháng 12, ngày Mậu Ngọ, Binh bộ viên ngoại lang, Trực sử quán, Tri Kỳ châu Lý Di Canh được điều về phân ty Tây Kinh. Theo chế độ cũ, Kỳ châu nộp tiền muối và rượu bằng gỗ và than để đúc tiền, nhưng Lý Di Canh tự ý cho nộp bằng lụa, dân nghèo không thể đáp ứng. Chuyển vận sứ tâu lên, Vua hỏi về việc làm trước đây của ông, Vương Khâm Nhược đáp: “Lý Di Canh trước đây giữ nhiều quận, làm nhiều việc phi pháp, ở Kỳ châu càng nghiêm trọng.” Vì thế bị trách phạt.

[126] Ngày Ất Sửu, xây dựng chùa Từ Hiếu.

(Việc này căn cứ theo 《Hội Yếu》.)

[127] Ngày Bính Dần, Quyền phán đô tỉnh Mã Lượng tâu: “Trong thiên hạ có hàng chục vạn tăng nhân, có kẻ làm trộm cướp, dân chúng rất khổ. Xin từ nay ngoài số người được độ hàng năm, không được độ thêm người khác, và từ nay không được thu nhận những người từng phạm tội nặng hoặc có hình xăm vào sổ tăng.” Chiếu chuẩn y.

[128] Ngày Canh Ngọ, lệnh cho Khai Phong phủ mỗi năm vào ngày Chính Đán, Đông Chí cấm hành hình ba ngày, ngày Đoan Ngọ cấm một ngày, thi hành ngay.

[129] Tông Ca Cốt Tư La và Lập Tuần sai đại thủ lĩnh Tư Đạc Chính đến cống phương vật.

[130] Ngày Bính Tý, chiếu rằng từ nay các quan kinh triều mãn tang, khi nhận chiếu chỉ, phải đến sảnh Tam viện Ngự sử để bái nhận.

[131] Ngày Kỷ Mão, Khiết Đan sai Hữu Giám môn Vệ Thượng tướng quân Tiêu Vinh và Cao châu Quan sát sứ Lý Diên đến chúc mừng ngày Chính Đán.

[132] Mùa đông năm đó, quân Khiết Đan tập trận lớn, tuyên bố săn bắn ở U Châu, triều đình lo lắng, bèn hỏi ý kiến hai phủ, đều xin chuẩn bị lương thực, luyện tập quân sĩ để phòng bị bất trắc. Duy có Xu mật phó sứ Trương Tri Bạch nói: “Khiết Đan vừa mới kết hòa hảo, nay họ động binh là vì thấy Vua mới lên ngôi, muốn thăm dò thử thách triều đình ta mà thôi, sao có thể tự gây hiềm khích? Nếu vẫn còn lo ngại, chi bằng nhân việc sông Hoàng Hà đang vỡ đê, lấy danh nghĩa phòng chống lũ lụt, nếu chẳng may có biến cố, cũng đủ để ứng phó.” Không lâu sau, quân Khiết Đan quả nhiên rút lui.

[133] Hùng Châu có quân lính báo rằng có quân địch xâm nhập cướp bóc, dân chúng biên giới đều sợ hãi. Tri châu Cao Kế Trung nói: “Khiết Đan hàng năm dựa vào vàng lụa của ta, sao dám phá vỡ minh ước?” Ông vẫn bình tĩnh như thường. Sau đó mới biết người Bột Hải nổi loạn chống Khiết Đan, đi cướp phá hai bên biên giới.

(Tư Mã Quang trong 《Ký Văn》 chép: Năm Thiên Thánh đầu tiên, Khiết Đan sai sứ đến xin mượn đất trong biên giới để chăn ngựa. Triều đình nghi ngờ, không biết trả lời thế nào. Vương Khâm Nhược đang bệnh ở nhà, Chương Hiến Thái hậu sai người khiêng kiệu vào điện hỏi ý kiến. Khâm Nhược nói: “Không cho thì tỏ ra sợ hãi, chi bằng cho họ.”

Thái hậu nói: “Bắc địch hung hãn, sao lại để họ vào trong biên giới?” Khâm Nhược đáp: “Khiết Đan chỉ dọa nạt bằng lời nói suông, chưa chắc đã dám đến. Nên bí mật ban chiếu cho Tào Vĩ tâu xin chỉnh đốn quân ngựa, để phòng bất trắc.” Thái hậu nghe theo. Quả nhiên Khiết Đan không vào biên giới. Lúc đó Tào Vĩ đang làm Tri châu Định Châu.

Âu Tĩnh trong 《Thánh Tống Xuyết Di》 chép: Vương Khâm Nhược lại vào Trung thư. Năm Thiên Thánh đầu tiên, Bắc triều sai sứ đưa thư, nói rằng nước họ đói kém, xin mượn đất Hùng Châu để săn bắn. Lúc đó Khâm Nhược đang nghỉ ốm, trong ngoài đều không biết trả lời thế nào.

Mấy ngày sau, Khâm Nhược vào chầu, Vua hỏi việc ấy. Khâm Nhược đáp: “Xin cho họ mượn.” Vua hỏi: “Lý do thế nào?” Khâm Nhược nói: “Năm Hàm Bình, họ đến xâm lấn bờ cõi, có báo trước bằng thư không?” Bèn theo lời ấy mà trả lời, rất khéo léo.

Hai việc này có lẽ cùng xảy ra năm ấy. Nhưng lúc đó Tào Vĩ đang làm Tri châu Thiên Hùng quân. Tháng 11 năm sau Khâm Nhược mất. Tháng giêng năm thứ 4 lại dời đến Vĩnh Hưng, tháng 7 lại làm Tri châu Thiên Hùng quân, chưa từng làm Tri châu Định Châu. Có lẽ đều là tin đồn sai lạc, nay không chép.)


  1. Tuần phố nguyên là 'tuần bộ', theo bản Tống Toát Yếu và 《Trị Tích Thống Loại》 quyển 28, phần Tổ Tông Khoa Cử Thủ Nhân sửa lại.
  2. Việc bổ nhiệm quan chức thì như kỳ thi đối sách trước, chữ 'như' nguyên là 'gia', theo bản Tống, bản tóm tắt đời Tống và bản các bản khác sửa lại
  3. Chữ 'tầm' vốn thiếu, căn cứ theo 《Tống hội yếu》 hậu phi 3-31 bổ sung. Lại nữa, 'Đương Dương quận', trong 《Hội yếu》 chép là Cao Dương quận, có lẽ đúng.
  4. 'Thư trát' nguyên là 'Thư lí', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và Tống hội yếu chức quan 3-24 sửa
  5. 'Tự thiên' nguyên là 'Tự tuyển', theo bản Tống toát yếu và Tống hội yếu chức quan 3-24 sửa
  6. 'Quán chức' nguyên là 'Quan chức', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và các bản khác sửa
  7. 'triều' nguyên là 'liễn', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 《Tống hội yếu》 dư phục 4-4, 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 27 Trang Hiến thùy liêm sửa.
  8. 'như' nguyên là 'dĩ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 sửa.
  9. 'bất chế phục' trong 《Tống hội yếu》 lễ 41-8 chép là 'bất thành phục', có lẽ đúng.
  10. Dư nhân công trí tư, 《Tống hội yếu》 tuyển cử 27 chi 20 chép là 'Dư nhân công trí tư tội chí đồ', có lẽ đúng.
  11. câu 'các sứ phó của Tam ty không được tiến cử nữa' nguyên bản là 'Phó sứ', căn cứ theo các bản và 《Tống hội yếu》 phần Hình pháp, mục 1, điều 65 sửa lại cho đúng.
  12. Giá trị lương thực nhập kho ở Trấn Nhung quân là 28.000, nguyên bản ghi '10.000', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 45 về pháp trà, 《Tống sử》 quyển 183 về thực hóa chí sửa lại.
  13. Thu về không đủ bù đắp, các bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》, 《Trị tích thống loại》 quyển 29 về tổ tông dụng độ tổn ích đều giống nhau. 《Tống sử》 ghi: 'Được không bù mất, tệ ở chỗ trà và việc mua lương thực biên giới phụ thuộc lẫn nhau'.
  14. So sánh giữa pháp lệnh cũ và mới, chữ 'cũ' nguyên bản thiếu, căn cứ theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 và 《Tống sử》 bổ sung.
  15. Mỗi khoán trị giá 100.000, chữ 'khoán' nguyên bản ghi 'cấp', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》, 《Tống sử》 sửa lại.
  16. Thực tế ở kinh sư thu được 750.000 có lẻ, 'thực thu' nguyên bản ghi 'thu thực', căn cứ theo sách trên sửa lại.
  17. Thực tế ở kinh sư thu được tăng thêm 1.040.000 có lẻ, chữ 'trăm' nguyên bản thiếu, '40.000' nguyên bản ghi '4.000', căn cứ theo sách trên sửa lại.
  18. Lại tăng thêm 50.000 tiền nộp riêng đều thành 70.000, chữ 'đều' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 45 về pháp trà bổ sung.
  19. Lại triệu Dật vào hỏi, chữ 'hỏi' nguyên bản là 'đối', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và truyện Trương Dật trong quyển 426 của 《Tống sử》 mà sửa lại.
  20. Sau đó, các chùa chiền dần dần mua thêm ruộng. 'Chùa chiền' nguyên bản viết là 'Thị quan', căn cứ theo bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 27, 《Trang Hiến thùy liêm》, cùng 《Tống sử》 quyển 173, 《Thực hóa chí》 mà sửa lại.
  21. Thăng lên Thần phi. 'Phi' nguyên bản viết là 'Vị', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 đã dẫn mà sửa lại.
  22. Nay trên xà nhà tăng đường chùa Ngọc Tuyền có ghi là do Thái hậu xây dựng. Chữ 'Vân' nguyên bản thiếu, căn cứ theo sách đã dẫn mà bổ sung. Xem 《Thiệu Bá Ôn văn kiến lục》 quyển 1 chép: 'Nay trên xà nhà tăng đường chùa Ngọc Tuyền ghi rằng do Thái hậu xây dựng'.
  23. Việc đến điện Trường Xuân tâu sự, 'Trường Xuân điện' nguyên bản chép là 'Trường Thọ điện', 《Tống sử》 quyển 291, truyện Lý Nhược Cốc chép là 'Trường Xuân điện', 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 27, mục Trang Hiến thùy liêm cũng chép giống. Xét 《Tống hội yếu》 phần Phương vực, quyển 1, mục 4, và 《Tống sử》 quyển 85, mục Địa lý chí đều chép: Điện Thùy Củng, tên cũ là Trường Xuân, năm Minh Đạo thứ nhất, tháng 10 đổi tên là Cần Chính, tháng 11 đổi tên là Thùy Củng, là nơi thường ngày Vua thiết triều. Bản biên nên chép là 'Trường Xuân điện', nay theo đó mà sửa.
  24. Tri phong châu Nội điện thừa chế Vương Văn Ngọc mất, 'Phong châu' nguyên bản là 'Nông châu', căn cứ theo các bản khác và 《Tống hội yếu》 phương vực 21-11 sửa lại
  25. Phong Hoài Quân làm Hữu ban điện trực Tri phong châu, 'Hữu ban điện trực' nguyên bản là 'Tam ban điện trực', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 sửa lại
  26. 'Nạo' ở trên nguyên có chữ 'Nhiễu', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác mà xóa.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.