"

IV. TỐNG NHÂN TÔNG

QUYỂN 133: NĂM KHÁNH LỊCH THỨ NHẤT (TÂN TỴ, 1041)

Từ tháng 8 đến hết tháng 9 năm đó.

[1] Tháng 8, ngày Đinh Sửu mùng một, sai quan đến châu Thiền tế sông. Lúc đó đang bàn việc đào sông Phân Thủy để giảm bớt dòng chảy mạnh, chưa hoàn thành công việc thì nước tự nhiên thành dòng, châu báo việc này lên, đặc biệt làm lễ tế.

[2] Ngày Mậu Dần, xuống chiếu cho Phó Đô bộ thự Hứa Hoài Đức, Trú bạc Đô giám Nhậm Thủ Tín, Lưu Chửng, Tuần kiểm Hoàng Thế Ninh đem một vạn quân cứu viện châu Lân, châu Phủ.

[3] Ngày Kỷ Mão, ban tiền cho quân sĩ giữ thành ở châu Lân, châu Phủ.

[4] Ngày Canh Thìn, xuống chiếu cho lộ Hà Đông, Nguyên Hạo xâm phạm châu Lân, châu Phủ, những thành trại đi qua nếu có thể xuất kỳ binh đặt phục binh đánh úp, tùy công mà khen thưởng, quân mã nếu bị thương tổn cũng không bị tội.

[5] Ngày Tân Tỵ, Trung thư tâu: “Gần đây lệnh cho các lộ Hoài Nam thêm sai Cung thủ đốc bắt trộm cướp, lo rằng Huyện úy có người tham nhũng hôn ám không đủ năng lực, xin cho Lưu nội tuyển chọn người từng giữ chức không phạm tội tham nhũng, tuổi chưa đến 60 bổ nhiệm, lại xem xét những người đương chức không đủ năng lực thì đổi chỗ.” Theo lời tâu. Tháng 4 năm sau, ngày Đinh Dậu.

[6] Ngày Nhâm Ngọ, giáng chức Kinh Hồ Nam Lộ chuyển vận sứ, Thái thường bác sĩ Vương Quỹ làm Tri châu Kiền Châu, vì tội không thi hành chỉ thị của Trung thư. Quỹ ở Hồ Nam bắt dân nộp tiền để miễn dịch, thu được 30 vạn quan tiền, dâng lên làm tiền thừa, được ban chiếu khen thưởng. Từ đó, các lộ khác tranh nhau bóc lột dân để lấy lòng Vua. Khi lệnh điều Quỹ đến Kiền Châu được ban ra, Tri giám viện Trương Phương Bình tấu rằng Quỹ tàn hại dân chúng, không nên giao cho đại quận[1], nên đổi đi làm Tri châu Trì Châu.

(Việc điều Quỹ đến Trì Châu vào ngày Tân Mão tháng này, nay ghi chung lại. Việc Quỹ dâng tiền thừa được khen thưởng, theo sách 《Thực hóa chí》. Lại nữa, tháng 8 năm Khánh Lịch thứ 5, Quỹ được bổ làm Giang Tây tào. Bao Chửng tấu rằng Quỹ trước đây làm Kinh Hồ tào, bất hợp lý bắt dân nộp tiền của, dâng lên để mong được thăng chức, dân chúng dưới núi khổ sở vì bị đòi hỏi quá mức, bỏ trốn vào động man, tập hợp bọn hung ác, gây nên mối họa lớn, đến nay vẫn chưa dứt. 《Hội yếu》 chép rằng Quỹ bị cách chức vì làm việc sai trái, bị giáng chức. Khác với 《Thực lục》.)

[7] Hoàng tử thứ ba sinh ra, mẹ là Chu Tài nhân.

[8] Ngày Giáp Thân, sai quan tế cáo ở tông miếu. Hôm đó, Vua nói với các quan phụ chính: “Trẫm vừa xây một điện nhỏ trong cung, nhưng các quan không hiểu ý Trẫm, làm quá xa hoa, nhưng Trẫm không muốn phá hủy công trình đã hoàn thành. Nay chùa Đại Tướng Quốc đang xây điện để cất giữ ngự thư của Thái Tông, có thể dời biển chùa đến đó.” Nhân đó, Vua nói rằng trong cung thường dùng vải vàng làm đệm. Lữ Di Giản đáp: “Bệ hạ lấy hiếu thảo phụng thờ tổ tiên, lấy sự tiết kiệm làm gương cho bề tôi, dù là đức lớn của thánh nhân cũng không hơn được!” Vua nói: “Trẫm chỉ tình cờ nói với các khanh, không muốn truyền ra ngoài, sợ mang tiếng cầu danh.”

[9] Chiếu cho Hà Bắc đặt trường mua ngựa chiến, miễn cho bảy châu quân ở vùng biên giới. Xét vào tháng 2 năm Khang Định thứ nhất, việc mua ngựa chỉ áp dụng ở các lộ Kinh Đông Tây, Hoài Nam, Thiểm Tây, đến tháng 8 năm Khánh Lịch thứ nhất mới mở rộng sang Hà Bắc.

(《Thực lục》 ghi việc miễn cho bảy châu quân ở biên giới, tức là chỉ Hà Bắc. Nhưng 《Bản chí》 lại ghi chung sự việc này vào tháng 2 năm Khang Định thứ nhất, e là sai, nay theo 《Thực lục》. Lại xét theo 《Sóc lịch》: Ty Chuyển vận Hà Bắc xin đặt sáu trường mua ngựa ở Thiên Hùng quân, chiếu trừ bảy châu quân như Hùng, Bá không mua, còn lại hai mươi bảy châu quân đều theo lệ sáu trường thu mua. Như vậy, 《Bản chí》 đã sai rõ ràng.)

[10] Ngày Ất Dậu, chiếu cho hai chế quan kiểm duyệt sách 《Đường thư》, chép một hai điều về sự tích quân thần gần với đạo trị quốc để dâng lên, theo lời của Hàn lâm học sĩ Tô Thân. Thân nói chuyện cũ của Đường Hiến Tông, từng sai cận thần ghi chép việc được mất của đời trước, vẽ thành đồ để xem. Gián quan Trương Phương Bình cũng nói việc trị loạn của nhà Đường gần với hiện tại, xin chọn những điều có thể thi hành ngày nay, có ích cho chính sự, chép một hai điều dâng lên. Đây cũng là ý của Giả Nghị, Triều Thác mượn chuyện Tần để nói về Hán vậy.

[11] Trung thư, Xu mật viện tâu: “Những người làm nghề cung thủ ở Kinh Tây nguyện sung quân, đã có chiếu lệnh tuyển vào quân Tuyên Nghị. Các chức Đô giám, Giám áp nếu chiêu mộ được trên năm trăm người, sẽ được đặc biệt ban thưởng. Cuối năm, các chức Tri châu, Thông phán do Ty Chuyển vận bản lộ báo cáo số người chiêu mộ.” Đều theo lời tâu.

[12] Ngày Bính Tuất, Đồng Thiểm Tây Kinh lược An phủ sứ, Tri Vĩnh Hưng quân Trần Chấp Trung tâu: “Giặc vây Lân châu, Phủ châu, có sông lớn ngăn cách, khó cứu viện. Hơn nữa, Hà Đông một lộ nằm giữa hai nước địch, nếu chúng hợp lực xâm lược, thì họa lớn hơn cả Quan Trung. Nên gấp chiêu mộ dũng sĩ, tạm cấp tiền lương, quân nhu, áo mặc cho quân cấm vệ, không chích mặt, chia về các chủ tướng, cùng quân triều đình sử dụng. Thưởng nên tăng bậc, phạt nên giảm nhẹ, để họ hăng hái và vui lòng phục tùng. Khi giặc yên, ai muốn ở lại quân ngũ thì ưu đãi cho danh ngạch, ai muốn về làm ruộng thì miễn dao dịch. Nên chọn đại thần làm Chiêu thảo An phủ sứ một lộ, đóng trị sở ở Tịnh châu, giao quyền tiết chế, để sớm thành công.”

[13] Ngày Đinh Hợi, xuống chiếu: Lễ Nam Giao gần đến, trong ngoài không được vì việc hoàng tử ra đời mà dâng cống hiến.

[14] Bãi bỏ việc cử nhân trong thiên hạ nộp công quyển. Trước đây, Quyền Tri Khai Phong phủ Giả Xương Triều tâu: “Từ đời Đường, Lễ bộ lấy danh tiếng, xem xét học vấn, nên trước nộp công quyển. Nay có niêm phong, sao chép, mọi việc đều căn cứ vào bài thi, thì công quyển có thể bãi bỏ.” Chiếu theo lời tâu.

[15] Dân Hà Nam là Chu Tiến Năng, cha mẹ mất, dựng lều bên mộ, ngày ngày bán củi kiếm tiền để cúng tế sớm tối. Phủ ấy tâu lên, chiếu ban cho Tiến Năng 20 tấm lụa, 10 hộc gạo.

[16] Ngày Mậu Tý, Hữu Chánh ngôn, Tri chế cáo Lưu Hãng làm sứ sinh thần quốc mẫu nước Khiết Đan, Sùng Nghi phó sứ Vương Chỉnh làm phó; Lễ bộ Viên ngoại lang, kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Thi Xương Ngôn làm sứ sinh thần quốc chủ, Tả Thị cấm, Cáp môn chi hậu Hà Cửu Linh làm phó; Quyền Diêm Thiết phán quan, Công bộ Lang trung Trương Miễn làm sứ chánh đán quốc mẫu, Nội điện Sùng ban Hầu Tông Lượng làm phó; Quyền Độ chi phán quan, Binh bộ Viên ngoại lang Vương Cầu làm sứ chánh đán quốc chủ, Nội điện Sùng ban, Cáp môn chi hậu Thị Kì Tuấn làm phó.

[17] Đồn điền viên ngoại lang, Tập hiền hiệu lý Tăng Công Lượng, Hữu chính ngôn, Trực sử quán, Đồng tu khởi cư chú Lương Thích, khảo thí cử nhân ở sảnh khoá. Cử nhân nào có thân thích với quan khảo thí, đều phải đổi chỗ, cử quan khác đến khảo thí.

(Việc khoá sảnh cử nhân bắt đầu từ chiếu thư ngày Canh Dần, tháng nhuận 12 năm Bảo Nguyên thứ 2. Tăng Công Lượng là người Tấn Giang, con của Tăng Hội. Sách Hội yếu nhầm ghi việc này vào năm Cảnh Hựu thứ 5, nay theo Thực lục. Lương Thích được bổ chức ở sử quán vào mùa hạ năm nay, Tăng Công Lượng được bổ chức ở sử quán vào mùa thu năm nay, lúc cuối năm Cảnh Hựu cả hai đều chưa nhậm chức. Tăng Hội, xem tháng 3 năm Đoan Củng thứ 2[2].)

[18] Chiếu cho Nội thị tỉnh, Ngự dược viện, Nội đông môn ty lấy sổ sách từ thời Tiên đế và đầu năm Thiên Thánh, so sánh số lượng chi tiêu tăng giảm trong nội cung những năm gần đây rồi tâu lên.

[19] Lân Châu tâu: “Nguyên Hạo từ ngày Mậu Thìn tháng trước, đem quân vây thành. Ngày Ất Dậu tháng này, vượt qua sông Khuất Dã, lên núi phía tây đến Bạch Thảo Bình[3], cách thành 15 dặm đóng quân. Ngày Bính Tuất, phá được trại Ninh Viễn, trại chủ là Thị cấm Vương Thế Thiện, Binh mã giám áp là Điện trực Vương Hiển đều tử trận, kho tàng và lầu gác đều bị đốt sạch.

Lại đem quân đánh Phủ Châu. Trong thành có 6.100 quân, dân chúng cũng quen việc chiến đấu. Thành hiểm trở và kiên cố, phía đông nam đều có cửa nước, vách đá dựng đứng, phía dưới là sông lớn. Giặc men theo con đường nhỏ trên vách đá, nối đuôi nhau tiến lên. Trên thành bắn tên ném đá xuống, giặc chết và bị thương gần hết. Chúng chuyển sang đánh phía bắc thành, quân sĩ lại ra sức chiến đấu, bị thương hơn 1.000 người, giặc bèn rút lui, cho quân cướp phá khắp nơi, cắt lúa, đào kho, lại chuyển sang vây Phong Châu.”

Hai châu Lân và Phủ đều nằm ở ngoài sông, dựa vào núi làm thành, là nơi hiểm trở và kiên cố nhất. Ban đầu, Chuyển vận sứ Hà Đông là Văn Kỵ, do đường vận lương đến châu Lân quanh co xa xôi, quân lương không đủ, bèn dựa theo việc Trương Thuyết đời Đường từng chỉ huy một vạn quân ở Tịnh châu[4], xuất quân từ Hợp Hà quan, đánh úp quân Đảng Hạng ở Ngân Thành và đại phá chúng, sau đó tâu xin lập châu Lân.

Đây là con đường thẳng ngoài sông, từ đời Chiết Đức Ỷ đã có Phủ Cốc, tức là sông lớn thông với Bảo Đức, thuyền bè và thương nhân qua lại thuận tiện cho dân châu Phủ, từ đó trở thành con đường phụ của châu Lân. Do đó, đường Hà Quan bị bỏ hoang không được tu sửa, Văn Kỵ muốn khôi phục lại nhưng chưa kịp hoàn thành thì qua đời. Đến khi con trai ông là Văn Ngạn Bác làm Chuyển vận phó sứ Hà Đông, bèn mở thông đường đến Ngân Thành, và châu Lân có lương thực dự trữ để phòng thủ.

Trong thành vốn thiếu nước, bị vây lâu ngày, quân sĩ khát nước mệt mỏi. Có người khuyên Tri châu Miêu Kế Tuyên lấy bùn từ rãnh bẩn để trát lên tường thành, Nguyên Hạo ngẩng đầu nhìn và nói: “Gián điệp báo rằng ta không cần đánh, chưa đầy ba ngày, quân Hán sẽ chết khát. Nay họ còn có thừa nước để trát tường, gián điệp đã lừa ta.” Bèn chém gián điệp dưới chân thành rồi giải vây rút lui.

(Sách 《Thực Lục》 chép: Châu có lương thực dự trữ có thể phòng thủ lâu dài, Nguyên Hạo biết trong thành có chuẩn bị nên giải vây rút lui. Xét rằng châu có lương thực để phòng thủ là nhờ công của Văn Ngạn Bác. Tuy nhiên, việc bị vây hai mươi ngày mà được giải vây thực chất là do Nguyên Hạo nghi ngờ trong thành còn nhiều nước, không chỉ vì có lương thực dự trữ. Nay lấy bài văn bia mộ vợ của Miêu Kế Tuyên là Tống thị do Lý Thanh Thần soạn và 《Đông Hiên Ký》 của Ngụy Thái để ghi chép thêm. Tuy nhiên, Lý Thanh Thần nói rằng Kế Tuyên làm trái ý quý thần nên công lao không được ghi nhận. Điều này không đúng. Xét thấy Kế Tuyên sau đó được phong làm Thứ sử Tư châu, chứng tỏ triều đình đã ghi nhận công lao của ông.

《Ký Văn》 của Tư Mã Quang cũng chép rằng quân địch thấy bùn và rơm rạ chất đống nên giải vây. Nội dung này giống với ghi chép của Lý Thanh Thần và Ngụy Thái. Lại chép rằng quân địch vây châu Lân hai mươi bảy ngày rồi rút lui. Cần xem xét thêm.)

[20] Chiếu rằng: Quân sĩ từng tham chiến đến mức tàn phế, cấp một nửa lương thực và quần áo suốt đời; nếu không muốn ở lại quân ngũ, mỗi người cấp 30 nghìn tiền, tùy ý tự do.

[21] Ngày Kỷ Sửu, Trung thư, Xu mật viện tâu rằng: Đã điều động 20 chỉ huy Thần Vệ ở kinh thành đến Hà Bắc lộ. Chiếu tạm thời sai đến Tịnh Đại lộ, vì Phong châu, Lân châu đang lâm nguy.

[22] Ngày Canh Dần, Hữu Vũ vệ tướng quân Triệu Chấn lĩnh chức Huệ châu Đoàn luyện sứ, Tịnh Đại châu Kiềm hạt, sau thăng làm Phó đô bộ thự. Việc thăng làm Phó đô bộ thự không rõ thời gian, nhân Bản truyền ghi chép sơ lược ở đây.

[23] Ngày Tân Mão, Tri Hoài Dương quân, Tướng tác thiếu giám Phạm Phúng làm Quang lộc khanh, Tri Thiểm châu, trên đường đi đổi làm Tri Lộ châu. Vào yết kiến, tâu rằng: “Nguyên Hạo không thể đánh, chỉ nên dùng quân giữ nơi hiểm yếu, ngăn chặn xâm lược, lâu ngày ắt tự khuất phục. Nếu trong nước tu sửa trăm việc, thân hành tiết kiệm, như chuyện cũ của tổ tông, thì việc biên cương không đáng lo cho bệ hạ.”

[24] Ngày Nhâm Thìn, Tam ty tâu rằng: Quân lính đóng lâu ở Thiểm Tây, mà quân phí không đủ, đặc biệt dựa vào lợi nhuận từ việc độc quyền rượu trong thiên hạ, xin xét công lao tăng thuế của các quan giám mỗi năm để đặc biệt khen thưởng. Tấu được chấp thuận.

[25] Tri gián viện Trương Phương Bình tâu rằng: “Thần nhận chức ở gián viện, đến nay chưa đầy năm mươi ngày, mà các nội thần, ngoại thích, y quan đã có đến hơn hai mươi người được thăng chuyển, lớn thì làm phòng, đoàn, thứ sử, nhỏ thì giữ các chức vụ quan trọng gần Vua. Nay biên cương đang có chiến sự, tướng sĩ phơi mình nơi chiến trận, giặc cướp ngang ngược, quân triều đình chưa lập được công trạng gì, nên tăng thưởng tước lộc để khuyến khích người có công. Những người nơi đầu đạn mũi tên, trước lưỡi gươm ngọn giáo, lấy đầu tranh đầu, lấy mạng tranh mạng, lập công lớn báo lên triều đình, đến khi báo thưởng lại chưa từng được ban ân huệ đặc biệt. Còn những kẻ thân cận trong màn trướng, thân thích gần gũi, ngồi không mà được ân sủng, động một chút là được ban thưởng hậu hĩnh, đến cả những kẻ thuộc loại phương kỹ tạp nhạp cũng được ơn mưa móc quá mức. Kính mong bệ hạ xét lại quyền uy phúc lộc, suy tính kỹ cái gốc an nguy, không để kẻ thân cận dám xin xỏ bừa bãi.

Xin bệ hạ dụ các quan chấp chính, từ nay nếu có chỉ truyền trong cung, những việc bổ nhiệm không đúng thứ tự, phải xem xét kỹ lưỡng rồi tâu lại, nếu có kẻ cầu xin quá đáng[5], nên đặt ra điều lệ cấm chỉ.” Chiếu y theo lệnh trước, nghiêm chỉnh tuân theo.

(Việc này căn cứ theo 《Hội yếu》 thiên cấm ước truy phụ, không rõ vì sao 《Thực lục》 không chép.)

[26] Ngày Quý Tỵ, chiếu cho Quốc Tử Giám năm nay giải phát tiến sĩ, các khoa, mỗi khoa đặc cách tăng thêm hai mươi người.

[27] Ngày Giáp Ngọ, chiếu cho các lộ Kinh Đông, những người cung thủ, cường tráng nguyện gia nhập Tuyên Nghị quân, từ chức Chỉ huy sứ trở xuống giảm một bậc, Áp quan[6] trở xuống vẫn như cũ. Lại sai hai viên triều thần đi chiêu mộ bổ sung.

(Lộ Kinh Đông, căn cứ theo 《Hội yếu》 thiên mộ binh.)

[28] Tri gián viện Trương Phương Bình tâu rằng:

“Thấy rằng triều đình sai các quan chia đường đi đến Thiểm Tây, Hà Đông, Kinh Đông Tây lộ, từ trước đến nay điểm sai cường tráng, cung thủ để chiêu mộ những người nguyện sung quân, phân phối vào các chỉ huy Tuyên Nghị, Bảo Tiệp. Thần trộm nghĩ việc này liên quan đến sự an nguy, dám hết lòng nhỏ mọn, góp phần vào việc bàn luận quốc gia, xin kính cẩn liệt kê những điều bất tiện cùng ý kiến ngu muội của thần như sau:

Từ năm ngoái khi ban sắc mệnh đầu tiên, điểm sai cường tráng, cung thủ lúc đó[7], dân gian xôn xao, đều nói rằng lúc này điểm sai, tuy lấy danh nghĩa là cường tráng, cung thủ, nhưng thực chất là muốn xăm bổ sung vào quân ngũ[8]. Sắc chỉ nhiều lần ban xuống, dặn dò kỹ càng, giải thích ý của triều đình khi điểm sai, chỉ là để bảo vệ quê hương, chắc chắn không phải để đi đánh trận, các quận huyện dùng nhiều cách an ủi, dân chúng vẫn còn nghi ngờ và xôn xao. Đến mùa đông năm ngoái sau khi tập luyện, liền cho về làm ăn, trong làng xóm thầm thì, mới tạm yên.

Tuy nhiên, những người có tên trong sổ cung thủ, thường ngày vẫn lo sợ, tâm không yên, mỗi khi nghe có sứ giả đi qua các châu huyện, liền xúm lại bàn tán, cho rằng sẽ bị điều động. Nay mệnh lệnh này đột nhiên ban xuống, quả nhiên như dân chúng đã dự đoán, từ nay về sau mệnh lệnh sẽ không còn được tin tưởng, đây là điều bất tiện thứ nhất.

Ban bố mệnh lệnh ngăn việc triệu tập người tình nguyện. Vì trước đây điểm sai cung thủ, phần nhiều là những nhà giàu có, thường đều no đủ, há có người nào tình nguyện đi lính? Thần nghe nói các quan triều được sai đi đã bàn bạc với nhau rằng lần này nhận mệnh triều đình, ý muốn dựa vào đó để hoàn thành công việc, nếu đến quận huyện mà không có người ứng mộ, ắt phải cùng quan lại ép buộc họ mà thôi.

Thần nghĩ rằng những sứ thần được sai đi đều là những người tầm thường, thiển cận trong triều, lại xét các quan lại quận huyện, người có tài năng đủ để đảm đương việc cũng không nhiều[9]. Nay đã đặt ra phần thưởng lợi ích, họ chỉ biết dốc lòng làm việc. Nếu mưu tính không tốt, hoặc dẫn đến biến cố bất ngờ, bọn gian hoạt nhân cơ hội kích động tụ tập, vạn nhất gây náo động, lại thành mối họa lớn, đó là điều bất tiện thứ hai.

Các sứ thần được sai đi, đã cùng quan lại quận huyện ép buộc dân chúng phải đi lính, tức phải tập hợp họ lại và áp giải về kinh đô. Những người bị sung quân đã không phải là tự nguyện, nếu lên đường, vì phải chia ly với người thân, mới sinh lòng hối hận, giữa đường bỏ trốn, làm sao ngăn chặn được? Họ đã không dám trở về quê hương, tụ tập nơi rừng rậm, từ xa gần hô ứng nhau, kết nối liên tục, hoặc bọn gian hào có mưu đồ, nhân lúc quận huyện không phòng bị, tình thế một khi náo động, ắt phải vất vả dẹp yên, đó là điều bất tiện thứ ba.

Nay vùng Kinh Đông, Kinh Tây đang gặp nạn đói kém, dân chúng đã khó khăn về lương thực, thường ngày còn làm giặc cướp, một người khởi xướng, ắt nhiều người hưởng ứng, đó là điều bất tiện thứ tư.

Những người khỏe mạnh, cung thủ, đều ở các quận huyện, chưa bỏ nghề nông. Nếu triều đình dùng phép thay phiên của thời Hán, theo phép phòng thủ mùa thu của thời Đường, vừa cày ruộng vừa đánh giặc, thay phiên nhau phòng thủ, thì nông nghiệp không bị bỏ bê, binh lính không thiếu hụt, không hao tổn kho lương[10], luôn có được người tráng đinh. Nay đã ghi tên làm chính binh, đóng quân liên tục, thì việc ăn mặc, tiền bạc, cả đời phải trông cậy vào triều đình, đó là điều bất tiện thứ năm.

Đã có chiếu chỉ, đến ngày Đông chí sẽ cử hành lễ giao, các quận huyện xa gần cần đặc biệt giữ yên tĩnh. Kẻ ngu muội không thể lừa dối, kẻ yếu không thể thắng được, đó là dân chúng. Vỗ về thì họ hòa thuận, xáo động thì họ nguy hiểm. Võ có bảy đức, an dân là gốc, việc chưa có dấu hiệu, tệ nạn còn chưa cứu được, nếu lại ép buộc họ, đó là khơi mào loạn lạc. Vậy nỗi lo của triều đình, không phải ở bốn phương xa. Tai họa nảy sinh từ chỗ không ngờ, mầm mống tội ác có giai đoạn. Thắng, Quảng thời Tần, Hoàng Cân thời Hán, Sào, Nhượng thời Đường, đều bắt đầu từ đám đông ô hợp, đó là điều bất tiện thứ sáu.

Sáu mối lo này, rõ ràng trước mắt, không thể không suy nghĩ sâu xa, không thể không phòng bị kỹ càng. Thần là kẻ hèn mọn, kiến thức nông cạn, thực sự không đủ sức tham gia bàn luận quốc gia, giúp đỡ mưu kế của bậc thánh. Nhưng vì chức vụ ở ngạch gián quan, nên phải dám nói không giấu giếm, vì thế trình bày ý kiến ngu muội, mong trên xét chọn.

Thần cho rằng các châu quận gần biên giới ở Thiểm Tây, Hà Đông, xin chia một nửa số cường tráng, cung thủ đã được điểm danh trước đây để đi phòng thủ biên giới. Mỗi năm từ tháng 9 đến tháng 2 thì cho về, mỗi năm thay đổi một lần, giữ lại một nửa để phòng thủ bản châu, thường xuyên huấn luyện. Khi đi phòng thủ, theo quy định như quân xuất chinh, quan phủ cấp tiền trang bị, mùa đông cấp áo, hàng ngày cấp lương thực. Dân sợ bị ghi tên vào quân ngũ không chỉ vì nguy hiểm nơi chiến trường, mà còn vì phải xa quê hương, suốt đời cách biệt với người thân, đó là nỗi đau lớn.

Nay nếu luân phiên đi phòng thủ, vẫn không rời quê hương, hy vọng biên sự dần yên ổn, thì sẽ được nghỉ ngơi an nghiệp. Xưa Thái Tông hoàng đế ghi tên người hai bờ sông làm hương binh, lúc ấy người hiểu biết cũng than thở đó là kế sách sai lầm. Không bằng dựa vào cường tráng hai bờ sông, để họ phòng thủ biên giới, người tráng kiện vào quân ngũ, người già yếu ra khỏi dịch vụ, không dùng vải lụa của kho, không ăn lương thực của kho, biên giới không thiếu người phòng thủ, dân không bỏ nghề nông, cần gì phải tích trữ trong doanh trại rồi mới thành quân đội?

Lại nghe nói lúc ghi tên hương binh, nhân lúc đại quân đang tập hợp, sợ dân loạn, nên bí mật ra lệnh cho các châu quận, hoàn thành trong một ngày. Vì thế dù dân có âm mưu xấu, cũng không kịp thực hiện. Nay triều đình vừa tiếc danh hiệu cường tráng, lại làm việc ghi tên bắt buộc, sai hai triều thần đi các lộ, đi khắp hai ba mươi châu quận, diện tích mấy ngàn dặm, có khi không thể đến tận nơi, chỉ gửi văn thư cho quan lại châu huyện, mỗi người lại theo ý kiến riêng, tranh cãi bất đồng. Chỉ sợ sứ giả vừa đi, lòng dân đã dao động, sau này dù hối hận cũng khó cứu vãn.

Mong triều đình xem xét kỹ, việc không ngại thay đổi, thu hồi mệnh lệnh đã ban cho các lộ chuyển vận ty, đình chỉ việc sai quan đi, thật là may mắn cho thiên hạ, phúc cho quốc gia vậy!”

Tờ tấu dâng lên không được trả lời, Phương Bình lại dâng tờ tấu khác, cố sức tranh luận[11], cuối cùng vẫn không được trả lời.

(Căn cứ vào tờ tấu sau của Phương Bình, nói rằng ngày 19 đã dâng tấu, không biết là tháng nào, trong tấu có câu “đã ban sắc chỉ” v.v., không phải tháng 7 thì là tháng 8. Vì ngày 18 tháng 8 là ngày Giáp Ngọ, lần đầu cử hai viên quan triều đến Kinh Đông chiêu mộ bổ sung quân Tuyên Nghị, ngày hôm sau là Ất Mùi, có lẽ tờ tấu này thực sự được dâng lên vào ngày 19 tháng này. Nay ghi chép phụ sau sự kiện cử quan triều vào ngày Giáp Ngọ.)

[29] Ngày Ất Mùi, Nguyên Hạo chiếm Phong Châu, Tri châu Thị cấm Vương Dư Khánh, Quyền Binh mã Giám áp Tam ban Sai sứ Điện thị Tôn Cát, Chỉ sử Tam ban Tá chức Hầu Tú đều tử trận. Trước đây, Vương Duyên ở Tịnh Châu, dâng tấu xin dời Phong Châu, nhưng không được trả lời. Chưa đầy một năm, quả nhiên Phong Châu bị chiếm.

[30] Duy Châu Đoàn luyện sứ Quách Thừa Hữu được cử làm Tu Thiền Châu Hộ thành đê Bộ thự, Nội điện Thừa chế Trần Bỉnh, Nội điện Sùng ban Cáp môn Chi hậu Lưu Hiển, Tả Thị cấm Cáp môn Chi hậu Đinh Ất đều làm Đô giám.

[31] Chiếu chỉ cho nội thị đi ngựa trạm[12] đi công vụ dọc biên giới, các châu quân qua đường phải báo cáo ngày giờ đến và đi.

[32] Phu Diên Tẩu mã Thừa thụ Phó Quý Minh[13] tâu rằng Nguyên Hạo xâm lược Lân, Phủ, nghe nói quân địch chết và bị thương hơn ba vạn người. Vua nói với các quan phụ tá: “Đây là do gián điệp hoặc muốn làm ta kiêu ngạo, hoặc muốn làm chậm trễ việc điều động quân các lộ, nên lệnh cho Bộ thự ty Phu Diên nghiêm chỉnh phòng bị biên giới.”

[33] Phá hủy lầu gác mới xây ở Đồng Quan, vì Vương Nghiêu Thần đi sứ Thiểm Tây trở về, tâu rằng lòng dân Quan Trung không yên.

[34] Cho người quy thuận từ Khiết Đan là Triệu Anh làm Quan sát suy quan ở Hồng Châu, ban cho áo tía, đai bạc và năm vạn tiền, đổi tên là Chí Trung. Chí Trung từng làm Trung thư xá nhân của Khiết Đan, phạm tội với Tông Chân, liền bỏ trốn về nước, kể lại rất chi tiết những việc của Khiết Đan trước niên hiệu Khánh Lịch.

(Chí Trung, lại xem thêm vào tháng 4 năm Gia Hựu thứ 2 và tháng 7 năm Hi Ninh thứ 2.)

[35] Ngày Kỷ Hợi, ra chiếu rằng những người làm nghề bắn cung ở vùng biên giới nếu trốn tránh việc binh dịch bằng cách lập nghiệp ở các châu quận gần kinh thành, thì sẽ bị xử phạt và đày đến các châu quận phía nam gần đó làm lính đồn trú.

[36] Ngày Canh Tý, Kinh lược sứ Hà Đông báo rằng Phong Châu đã thất thủ.

[37] Ngày Quý Mão, ban tiền cho binh lính sửa đê bảo vệ thành ở Thiền Châu.

[38] Ngày Giáp Thìn, Chế trí thanh bạch diêm sứ Thiểm Tây, Giám sát ngự sử Tiết Hựu được phục chức làm Thái thường bác sĩ. Trước đây, Hựu từng làm Thông phán Kinh Châu với chức Bác sĩ, Bàng Tịch tâu xin đổi chức Ngự sử để chuyên trách việc muối, nhưng chưa từng có công lao gì, lại còn xin làm Chuyển vận sứ, nên bị khiển trách.

[39] Ra chiếu rằng từ nay, con cháu của các quan lại nếu đã dâng gia tập lên triều đình, thì người khác không được dâng lại nữa.

(Việc này ghi trong 《Hội yếu》 ngày 28 tháng 8.)

[40] Ngày Ất Tỵ, cho Hoàn Khánh kiềm hạt, Tả tàng khố sứ[14] Cao Kế Long kiêm chức Vinh Châu thứ sử, quyền tri Hoàn Châu. Tháng 2 năm Khang Định nguyên niên, Kế Long từ chức Hoàn Khánh kiềm hạt chuyển đến Tử Quỳ. Nay lại gọi là Hoàn Khánh, có lẽ là chưa từng đến Tử Quỳ, cần xem xét thêm.

[41] Ra chiếu rằng con em của các quân, các ban trực, nếu trong dân gian có người tài giỏi dũng cảm muốn ra sức giúp nước, thì cho phép đến nơi mình thuộc về tự trình bày, để bổ sung vào chỉ huy Thần Tiệp, khi đủ một vạn người thì tạm thời điều đi trấn giữ biên giới.

[42] Tri gián viện Trương Phương Bình tâu rằng:

“Giặc Khương làm phản, quân triều đình đi đánh dẹp, phân phó cho các đại thần làm thống soái, nên phong cho Hạ Tủng làm Thiểm Tây chiêu thảo đẳng sứ, nắm quyền tiết chế quân chính bốn lộ. Dốc hết sức nước lo việc biên cương, đã ba năm nay. Quân không ra trận thì thôi, ra trận ắt thất bại; giặc không đến thì thôi, đến ắt đắc chí. Các thành trại trọng yếu bị tàn phá gần hết, các bộ lạc phiên thuộc bị cướp bóc gần sạch. Quân đội hao mòn, tài lực kiệt quệ, thiên hạ suy tàn.

Năm ngoái, Lưu Bình, Thạch Nguyên Tôn bại vong, cách chức Tiết việt của Phạm Ung; mùa xuân năm nay, Nhậm Phúc thất trận, bãi chức Kinh lược của Hàn Kỳ. Trong ngoài đều cho rằng triều đình không thi hành uy phạt, trách nhiệm quá nhẹ. Thế mà vẫn còn tỏ ra giảm nhẹ hình phạt để ngăn chặn dư luận. Há lại có chuyện nắm quyền chỉ huy đại quân, ngồi nhìn giặc cướp, đến nỗi quân tan tướng chết[15], nước nhà suy yếu, uy thế tổn hại, mà lại nói rằng ta không biết trước! Thế thì còn dùng danh hiệu thống soái để làm gì?

Từ thời Tam đại đến thời Xuân Thu các nước chư hầu, phàm khi xuất quân, chưa từng có vị quân chủ nào không đích thân lo việc quân. Từ thời Hán đến thời Đường, khi hưng binh khởi nghĩa, chưa từng có vị nguyên soái nào không thân chinh xông pha trận mạc. Thời Hậu Hán, Đoàn Kỷ Minh đánh giặc Khương, hơn mười năm chưa từng ngủ yên giấc, cuối cùng bình định được người Khương. Nếu tướng soái hết lòng vì nước, quyết tâm diệt giặc, có được những bề tôi như vậy, thì bệ hạ còn lo gì nữa?

Thần nghe lời bàn của dân chúng, đều nói rằng trước sau thua trận, không phải giặc đánh bại ta, mà là ta tự chuốc lấy. Các quan biên thùy vâng mệnh Chiêu thảo ty, việc cơ yếu, cơ hội, không mất ở chỗ vội vàng, thì cũng mất ở chỗ chậm trễ. Người dũng không thể thi thố sức mạnh, người trí không thể chuyên tâm mưu lược. Lại thêm yêu ghét đấu đá, ý kiến trái ngược, người ta không biết theo ai[16].

Triều đình lập ra cơ quan này, là để cho tay chân phối hợp, đầu đuôi ứng cứu, tập trung mưu lược vào quyết đoán, thông suốt các nơi thành một nhà. Gần đây như vụ vây hãm Lân châu, Phủ châu, tuy không thuộc quyền Thiểm Tây, nhưng là chức thống soái, nếu lo lắng cho nạn nước, dù chưa thể xin đi cứu viện, cũng nên kéo quân ra biên giới, hỗ trợ thanh thế. Bệ hạ sai sứ mang tỷ thư, thúc giục đem quân đánh vào phía sau giặc. Nhưng họ chần chừ, lập dị, cuối cùng không tuân mệnh, khiến giặc như vào chỗ không người, chiếm được Phong châu, diệt Ninh Viễn, Lân châu tuy còn, nhưng thế đã cô lập. Như người Tần nhìn người Việt béo gầy, không động lòng. Chỉ sợ rằng Kinh Nguyên, Phu Diên có việc gấp, cũng chưa chắc đã ứng cứu được như tay chân đầu đuôi.

Nếu còn giữ chức cũ, thì ban cho một quận để thực hiện kế hoạch tự toàn. Chọn kỹ các tướng giữ các lộ, mỗi người tự lập công. Căn cứ vào tình hình biên giới mà phân bố binh lực. Lại tăng thêm quân trọng yếu ở Vĩnh Hưng để làm căn bản cho các lộ. Mùa xuân và mùa thu chọn trọng thần đi tuần tra biên giới. Mùa xuân thì xem xét khả năng phòng bị, dời xe ngựa vào kho chứa, lệnh cho tướng giữ thành sửa chữa thành hào, hoàn thiện khí giới[17], để chuẩn bị cho chính lệnh phòng thủ mùa thu. Mùa thu thì xem xét phương pháp huấn luyện, kỹ thuật bổ sung quân số, xét công lao và năng lực của quan lại để rõ ràng về việc thăng chức hay cách chức.

Xem xét tình hình thuế má và lương thực[18], để thông suốt kế hoạch lương thực, nghiêm ngặt trong việc chuẩn bị chiến đấu và phòng thủ. Chỉ cần các thành biên giới có thể kiên cố phòng thủ, đã đủ để ngăn chặn giặc, nếu các tướng súy đều tận dụng hết sức, thì không có ai không lập công cho quốc gia.”

[43] Ngày mùng một tháng 9, ngày Đinh Mùi, phong Mộ Ân, người tộc Ô Quý ở Hoàn Châu, làm Tuần kiểm Phiên quan, Hữu Thị cấm, chức Cáp môn Chi hậu, vì Thiểm Tây Bộ thự ty tâu rằng Mộ Ân có công chống giặc phương Tây.

[44] Ngày Mậu Thân, chiếu rằng từ nay các cử nhân trong khoa thi, văn thần[19] được phép ứng thi ba lần, vũ thần hai lần.

[45] Ngày Canh Tuất, Trương Kháng, chức Đô Kiềm hạt kiêm Tri Phu Châu, Tây Thượng Cáp môn sứ, Trung Châu Thứ sử, được bổ nhiệm làm Tịnh Đại Kiềm hạt, chuyên quản lý việc quân mã ở Lân Phủ, thay thế Khang Đức Dư.

[46] Lúc này, Nguyên Hạo đã đánh phá Phong Châu, dẫn quân đóng ở Lưu Li Bảo, cho kỵ binh cướp bóc giữa hai châu Lân và Phủ, hai châu đóng cửa thành không ra. Dân chúng thiếu nước uống, một lượng vàng đổi được một chén nước. Triều đình bàn bạc việc bỏ đất Hà Ngoại, giữ Bảo Đức Quân, lấy sông làm giới hạn, nhưng chưa quyết định. Vì thế, triều đình điều Trương Kháng đến để lo liệu việc này. Trương Kháng một mình cưỡi ngựa đến thành Phủ Châu, cửa thành đóng chặt không mở. Trương Kháng nói: “Ta là quân mã mới đến.” Rồi ông xuất trình sắc lệnh cho người trên thành xem, sau đó được vào thành, cửa thành liền mở, cho dân chúng ra ngoài kiếm củi và lấy nước ở khe suối. Tuy nhiên, kỵ binh địch vẫn thỉnh thoảng ra cướp bóc ruộng đất của người Hán.

Trương Kháng thấy ở phía đông châu, núi Tiêu Sơn có hang than đá, bèn cho xây Đông Thắng Bảo; phía dưới thành có vườn rau, bèn cho xây Kim Thành Bảo; phía bắc châu có hố cát có nước suối, bèn cho xây An Định Bảo, đặt quân canh giữ. Ông chiêu mộ người ra ngoài gặt lúa, người đeo liềm và người cầm vũ khí hộ tống đều được chia phần như nhau. Lúc này, cấm binh thua trận, không còn chí chiến đấu, nên ông chiêu mộ dịch binh, đêm mai phục ở đường hiểm[20], đón đánh kỵ binh tuần tra của địch. Đến sáng, có người mang thủ cấp đến dâng, Trương Kháng khao thưởng, cho mặc áo gấm, cấm binh bắt đầu hổ thẹn và phấn khích nói: “Chẳng lẽ ta lại không bằng họ sao?” Ông lại cho phép họ uống rượu và đánh bạc, binh sĩ vốn khốn khó, mong được lợi, đều muốn ra trận. Trương Kháng biết họ có thể dùng được, bèn bắt đầu bàn kế đánh Lưu Li Bảo.

Gián điệp mai phục bên cạnh trại giặc trong đám cỏ, thấy một lão Khương đang nướng lá lách dê để bói điềm lành dữ, kinh hãi nói: “Ngày mai sẽ có quân cấp bách đến, nên tránh đi.” Mọi người đều cười nói: “Người Hán đang giấu đầu trong gối, sao dám đến đây!” Trương Kháng biết địch không phòng bị, đêm dẫn quân tập kích, đại phá địch, chém hơn hai trăm thủ cấp. Địch bỏ trại chạy trốn, ông bèn cho xây Tuyên Uy Trại ở Bộ Đà Câu để ngăn chặn đường giặc. Tuyên Uy Trại cách phía nam Phủ Châu sáu mươi dặm.

(《Vũ kinh biên phòng》 chép rằng Trương Kháng xây hai trại bảo, đều ghi chép kèm. Xét theo 《Minh Hạo truyền》, Minh Hạo làm Đô Tào Hà Đông, bèn xây dựng Kiến Ninh Trung Hậu Bách Thắng Trại, Trấn Xuyên[21] Thanh Trại Bảo, tổng cộng năm thành. Minh Hạo được bổ làm Đô Tào, là bảy ngày sau sự việc này.)

Đô giám Phu Diên, Tây Kinh tác phường sứ, Thứ sử Quý Châu Vương Tín làm Kiềm hạt bản lộ kiêm Đô tuần kiểm sứ hai lộ.

Ban đầu Tín làm Đô giám Phu Diên, đêm mới đến, quân địch kéo đến mấy vạn người, áp sát thành, quân lại sợ hãi, không biết làm gì. Tín dẫn hai ngàn quân tinh nhuệ, đêm ra cửa nam, đánh nhau với giặc, không lợi, mất tiền quân, bèn giữ quân không động. Sáng sớm, lén lên núi đông, chỉnh đốn quân ngũ, thừa thế đánh xuống, đánh đuổi giặc, truy kích, bắt được nhiều rồi về. Cát Hoài Mẫn thua, Tín lại xuất quân chống giặc, bắt giết rất nhiều.

[47] Trung thư, Xu mật viện tâu: Gần đây giặc Tây cướp Lân, Phủ, đã phát binh đến Tịnh, Đại tiếp ứng. Chiếu gửi cho Tri Tịnh Châu Dương Giai, ngoài việc Tịnh Châu hợp trú đại quân, Lân, Phủ Châu so với trước tăng thêm đồn trú, còn lại phân bố các châu bờ đông Hoàng Hà phòng bị, cùng nhau tiếp ứng.

(Việc này theo 《Sóc Lịch》.)

[48] Ngày Tân Hợi, sai Đông đầu cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Nhậm Hoàng Thường đi xem xét địa hình bằng phẳng rộng rãi ở các châu Lam, Thạch, Thấp, quân Bảo Đức, Hoả Sơn, Khả Lam, đào hào rãnh để ngăn ngựa giặc.

[49] Ngày Nhâm Tý, Tri Vĩnh Hưng Quân Phạm Ung xin hạ lệnh cho Tam ty cử quan ở các châu quân sản xuất sắt Hà Đông đúc tiền lớn để giúp quân phí Thiểm Tây, đồng thời bãi bỏ việc chở tiền sắt nhỏ đến Hưng Nguyên và các nơi khác, theo lời xin.

[50] Ngày Ất Mão, lấy quyền Diêm thiết phán quan, Thị ngự sử Tiêu Định Cơ, Từ bộ viên ngoại lang, Tập hiền hiệu lý, phán Hộ bộ câu viện Vương Kỳ, cùng làm Đề cử kế độ Giang Nam Đông Tây, Kinh Hồ Nam Bắc lộ diêm tửu công sự. Kỳ tâu rằng bốn lộ dân gian thiếu muối, thuế rượu hàng năm không đạt, xin cùng Định Cơ đi xem xét. Sau đó lại mệnh Chế trí, Phát vận sứ Dương Cáo kiêm kế độ lợi hại. Kỳ tâu rằng vào đầu niên hiệu Thiên Hi, từng vì giá muối ở Kinh Hồ cao, chiếu giảm mỗi cân ba đồng hoặc hai đồng[22], từ đó lợi nhuận ngày càng giảm, xin khôi phục giá cũ, có thể tăng thêm bốn vạn quan tiền mỗi năm, được chấp thuận.

Chế trí ty lại tâu rằng những năm gần đây sông ngòi cạn kiệt, việc vận chuyển gặp khó khăn, chi phí ngày càng lớn, xin tăng thêm tiền mua muối ở sáu lộ Giang, Hoài, Lưỡng Chiết, Kinh Hồ. Giao xuống Tam ty bàn bạc, Tam ty tâu rằng Kinh Hồ đã từng tăng tiền, còn lại bốn lộ ba mươi tám châu quân, xin tăng mỗi cân ba đồng hoặc bốn đồng. Chiếu đợi khi sông ngòi thông suốt sẽ khôi phục như cũ.

Sau đó, Chế trí ty lại đặt kho chuyển vận ở Giang châu, tăng thêm thuyền vận chuyển và thuê thuyền tư để vận chuyển, nhân đó xin tăng thêm năm đồng mỗi cân ở năm mươi mốt châu quân sáu lộ. Từ lời tâu của Kỳ về đầu niên hiệu Thiên Hi đến việc tăng năm đồng mỗi cân, đều căn cứ theo bản chí. Từ đó, thuế muối và rượu mỗi năm tăng thêm ba mươi vạn sáu nghìn quan tiền.

(Đoạn này căn cứ theo mộ chí của Vương Kỳ và Tiêu Định Cơ, cùng sử chí thêm vào. Bản truyện của Kỳ cũng nói mỗi năm tăng thuế ba mươi vạn quan. Việc Dương Cáo kiêm kế độ là ngày Nhâm Thân, nay ghi chung. Việc kế độ của Cáo không đề cập đến rượu, không rõ nguyên nhân, cần xem xét thêm.)

[51] Ban tiền cho binh lính làm việc ở Tiểu Lạc Môn thái tạo vụ thuộc Tần châu và những người sửa chữa thành Tam Quan ở Diên châu.

[52] Ngày Mậu Ngọ, đánh chết viên quan giữ chức Trung thư thủ đương là Chu Biện ở chợ kinh đô, vì tội thêm giả mạo 34 sa di vào chiếu chỉ cho phép xuất gia. Việc phát giác, phủ Khai Phong chỉ xét án những người khác mà không hỏi đến lại viên trong đường. Tri chế cáo Phú Bật, lúc ấy đang làm chức Củ sát hình ngục, báo với chấp chính, xin giao lại viên ấy cho Khai Phong, chấp chính chỉ chỗ ngồi của ông mà nói: “Ông đã ngồi đây, đừng vì danh mà truy cứu quá sâu.” Bật nghiêm mặt không nhận lời, nói: “Phải bắt được lại viên ấy mới thôi.” Chấp chính càng không vui.

Trước đây, vợ của Lưu Tòng Đức là phu nhân Toại Quốc, con gái của Vương Mông Chính, thường ra vào nội đình, có người nói bà được Vua yêu, sau bị khiển trách tước phong, bãi chầu, nhưng lâu ngày lại ra vào như cũ. Gián quan Trương Phương Bình nhiều lần dâng sớ bàn luận, đều bị giữ lại. Sau đó có chiếu phục phong Toại Quốc, Bật soạn tờ từ chối và trả lại sắc phong, lệnh phong bèn bãi. Theo chế độ nhà Đường, chỉ có Cấp sự trung được trả lại chiếu thư, Trung thư xá nhân “soạn tờ từ chối và trả lại sắc phong”, việc này bắt đầu từ Bật.

(《Thực lục》 phụ truyện nói là Chu Nhật Tuyên, nay theo 《Thực lục》, hoặc Nhật Tuyên tức là Biện. Bật đã soạn tờ từ chối và trả lại sắc phong, bãi phong Toại Quốc, việc này căn cứ vào 《Biệt chí》, không rõ thời gian. Xem tờ tráp tạ trà thuốc của sứ giả ban cho Bật ở Thanh Châu, nói rằng khi làm Tri chế cáo, hai lần ” soạn tờ từ chối và trả lại sắc phong”, và khi làm Củ sát hình ngục, tố cáo lại viên trong đường giả mạo giới điệp. Như vậy việc ” soạn tờ từ chối và trả lại sắc phong” phải xảy ra trước khi làm Củ sát hình ngục. Ngày tháng không thể khảo cứu, nay phụ vào sau việc xử tử lại viên trong đường. Hai lần trả lại từ đầu, việc này là một, không biết việc kia là gì.

Xét vợ của Lưu Tòng Đức là con gái Vương Mông Chính. Năm Cảnh Hữu thứ 4, Mông Chính bị tội tư thông với tỳ nữ của cha, bị tước danh, lưu đày Quảng Nam, liền có chiếu từ nay vợ Tòng Đức không được vào cung, việc bị khiển trách tước phong, 《Thực lục》 không chép, 《Biệt chí》 nói chắc có căn cứ, nay theo đó. Như vậy 《Chí》 chép là năm Bảo Nguyên, e rằng sai niên hiệu, phải là năm Cảnh Hữu.)

[53] Năm Bảo Nguyên nguyên niên, người Thanh Châu là Triệu Vũ dâng thư, nói rằng Nguyên Hạo tất sẽ làm phản. Tể tướng cho rằng ông ta điên cuồng, bèn giáng làm Văn học Tham quân, an trí ở Phúc Châu. Đến khi Nguyên Hạo làm phản, Triệu Vũ tự đến bộ cũ kêu oan, nhưng không được chấp nhận, bèn trốn đến kinh sư, lại dâng thư, và nói rằng Lưu Bình tuy dũng cảm nhưng không có mưu lược, ắt sẽ thất bại.

Tể tướng càng tức giận, bèn giao cho Khai Phong phủ, lệnh cho phủ ty dùng luật “tại quan vô cớ bỏ trốn” để xét tội Triệu Vũ. Ty lục là Trần Hi Lượng tâu xin lấy tờ thư của Triệu Vũ giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý, nếu lời nói của ông ta ứng nghiệm thì không nên trách phạt. Nhờ đó, Triệu Vũ được tha.

Sau khi Lưu Bình thất bại, Triệu Vũ được bổ làm Tư mã Thanh Châu. Triệu Vũ lại dâng lên bản đồ trận “Đại Diễn” và bảy thiên “Hệ thuyết”.

Ngày Kỷ Mùi, phong Triệu Vũ làm Quân sự Suy quan Hoàn Châu.

(Sách 《Anh Tông Thực lục》 trong phần phụ truyện của Trần Hi Lượng ghi rằng Triệu Vũ là nam tử Thanh Châu. Tô Thức viết truyện về Trần Hi Lượng cũng ghi là dân Thanh Châu. Tuy nhiên, phần phụ truyện ghi rằng ông bị giáng làm Văn học Tham quân, an trí ở Phúc Châu. Tô Thức lại ghi là lưu đày đến Kiến Châu. Hơn nữa, đã ghi là “trách thụ” thì có thể suy đoán rằng khi Triệu Vũ dâng thư, ông đã có chức quan, nhưng sử sách không ghi rõ.

Sách 《Biên niên》 lại ghi ông là bố y Lại Châu, khác với hai bản truyện kia. Nay theo hai bản truyện, ghi là người Thanh Châu, và theo phần phụ truyện, ghi là lưu đày đến Phúc Châu. Truyện của Tô Thức lại ghi rằng ông được bổ làm Suy quan Từ Châu, có lẽ là sai.)

[54] Ngày Canh Thân, phong Triệu Du, chức Đô tuần kiểm sứ hai lộ Phu Châu và Hoàn Khánh, Đông đầu Cung phụng quan, Cáp môn Chi hậu, làm Nội điện Thừa chế. Triệu Du tâu rằng khi giao chiến với quân Tây tặc, có Vũ kị Trưởng hành là Trịnh Phúc chém được Ngụy Quan sát sứ Hoài Khắc, và khi quân địch bắn trúng ngựa của ông, thì Thổ Hồn Phó Binh mã sứ La Vinh đã đẩy ngựa của mình cho ông, nhờ đó đẩy lui quân địch mà trở về. Triệu Du đã được ban thưởng, đồng thời bổ nhiệm La Vinh làm Quân sứ, Trịnh Phúc làm Thập tướng.

[55] Quảng Nam Đông Lộ chuyển vận ty tâu rằng thương nhân Thiệu Bảo đến nước Chiêm Thành, thấy bọn giặc cướp Ngạc Lân hơn trăm người bị giam giữ trong nước ấy. Vua xuống chiếu cho bản lộ chọn hai viên sứ thần, mang chiếu thư và lễ vật ban cho quốc chủ Chiêm Thành, bắt giải tên tướng giặc về kinh, còn bọn đảng còn lại thì cho xử tử ngay tại chỗ. Ban đầu, Ngạc Lân cùng quân Quảng Châu giao chiến trên biển, gặp gió lớn, có người báo rằng Ngạc Lân đã chết đuối, châu ấy đem việc ấy tâu lên. Đề điểm hình ngục Nam Xương là Viên Kháng[23] riêng nói: “Hôm ấy gió thổi về hướng Chiêm Thành, Ngạc Lân chưa chắc đã chết.” Sau đó, quả nhiên bắt được Ngạc Lân ở Chiêm Thành.

[56] Ngày Tân Dậu, Tri Tần Châu Hàn Kỳ được phục chức Khởi cư xá nhân, Tri Khánh Châu Phạm Trọng Yêm được phục chức Hộ bộ lang trung.

[57] Hàn Kỳ dâng sớ nói: (Sớ này của Kỳ, theo gia truyền thì viết ngay sau khi được phục chức Khởi cư xá nhân, nay ghi chép kèm theo, cần xem xét thêm.)

“Thần trong mấy năm nay, vâng mệnh chạy ngược xuôi, chưa từng được yên ổn. Từ khi đến Thiểm Tây[24] mới hơn một năm, hai lần đến vùng biên giới xa xôi, đều gặp giặc đến, thần không thể thân mình xông pha tên đạn, ứng biến kịp thời, mà chỉ biết khích lệ tướng sĩ, rõ ràng thưởng phạt, ngày đêm không nghỉ, quên cả ăn ngủ, mong sao lập được chút công nhỏ để báo đáp ý dùng của bệ hạ. Không may trời chưa giúp thuận, các tướng tự ý hành động, dẫn đến thất bại ở vùng ngoài núi, cuối cùng bị khiển trách, chí nguyện không thành. Tuy nhiên, thần vẫn còn mưu tính, đâu dám vì thoát khỏi trách nhiệm nặng nề mà an phận im lặng? Vẫn mong bệ hạ cũng không vì một lần thất bại của thần mà bỏ rơi không dùng nữa.

Từ khi giặc phương Tây phản loạn, những người bàn việc biên cương đã có đến hàng vạn kế sách, ai cũng đưa ra ý kiến của mình, dâng lên triều đình. Triều đình cũng rộng mở lắng nghe, dù nhỏ nhặt cũng đều thi hành. Trong đó, phần lớn đều muốn bảo vệ biên cương, yêu dân, tiết kiệm.

Những người bàn về việc bảo vệ biên cương thì nói rằng giặc đông ta ít, không thể đọ sức, chỉ cần khi giặc đến thì thu dân vào thành, đóng chặt cổng, tỏ ra thận trọng, còn ngoài đồng ruộng thì không kịp cứu. Họ không biết rằng từ khi thái bình, dân cư vùng biên giới ngày càng đông đúc, nhà cửa đều gần ruộng đồng, có chỗ tích trữ lương thực, yêu quê hương không muốn rời đi. Từ tháng 9 năm ngoái, sau khi giặc đánh vào Trấn Nhung quân, Kinh lược ty đã cử Mã Vi Mỹ, Giám áp thành Lung Can, đi khuyên dụ dân ngoài núi vào sống trong thành trại. Nhưng rốt cuộc lại lừa dối Mã Vi Mỹ, nên dân vẫn không chịu di chuyển.

Thần đã hỏi kỹ nguyên nhân, thì được biết rằng hiện nay mỗi hộ dân thường có vài người, đến mùa cày cấy, già trẻ đều phải ra đồng, còn việc kiếm củi, lấy nước đều rất thuận tiện. Nếu bắt họ vào thành trại, không chỉ không có chỗ ở, mà cả củi nước cũng phải mua. Vì thế, họ vẫn ở ngoài đồng, chỉ khi giặc đến mới chạy trốn, có khi cả nhà bị bắt. Từ Hoàn Khánh đến Kinh Nguyên, dân thuộc hộ dọc biên giới có hơn mười vạn người, từ trước đến nay vì quân triều đình yếu, không thể bảo vệ họ, nên họ đều có ý bỏ đi.

Thần cho rằng nếu dùng quân hiện đang đồn trú để bảo vệ biên cương, thì e rằng trong thời gian ngắn, dân biên giới sẽ bị giặc tàn sát, cướp bóc, phải dời hết vào nội địa, các tộc thuộc hộ sẽ theo giặc, vùng biên giới hàng trăm dặm sẽ trở nên hoang vắng, chỉ còn lại những thành trại cô lập, lương thảo hàng năm lấy đâu ra? Dùng quân phân tán để chống lại quân chuyên nhất của giặc, không biết đến bao giờ mới dẹp được mối họa này? Giặc đã biết không có hậu họa, sẽ thừa thắng tiến sâu, căn bản của quan phụ há không lung lay sao?

Những người bàn về việc yêu dân, tiết kiệm thì nói rằng dân là gốc nước, không thể làm khổ họ. Quân đồn trú biên giới có thể dần dần cắt giảm, nếu chỉ phòng thủ thì không cần nhiều quân, như vậy có thể giảm bớt gánh nặng thuế má, vận chuyển lương thực. Họ không biết rằng thế giặc chưa yên, họa biên giới ngày càng lớn, ngày càng bị hao mòn, tổn thất càng nhiều. Đó đều là những lợi ích trước mắt mà bỏ qua cái lớn xa xôi.

Nếu là kế sách lâu dài cho quốc gia thì không phải như vậy. Với đức nghiệp của tổ tông, nhân thánh của bệ hạ, sức lực của thiên hạ, mà để cho giặc Khương nhỏ thường thực hiện kế sách hợp binh, không dám đối địch, chỉ nói rằng chúng đông ta ít, rồi làm kế thu hẹp lãnh thổ bỏ dân, há chẳng đáng tiếc sao! Thần vì lo lắng cho nước, tận trung, há nỡ giấu giếm mà không nói! Nay ba lộ Phu Diên, Kinh Nguyên, Hoàn Khánh, ngoài số binh mã đóng giữ phòng thủ, có thể điều động mỗi nơi một vạn người tập trung ở ba châu Phu, Khánh, Vị.

Thần nay vì bệ hạ tính kế, không gì bằng ở ba châu Phu, Khánh, Vị, mỗi nơi thêm ba vạn quân, chọn dùng ba viên tướng có dũng lược, thống lĩnh huấn luyện, trước chia định bộ ngũ, đặt xa các đồn canh, vào mùa xuân thu khi giặc Tây có động tĩnh, trước chiếm giữ nơi hiểm yếu, giặc đến thì hợp binh đóng giữ, xem thời cơ chỉnh đốn đội ngũ, hợp lực đánh chúng.

Lại khi giặc Tây chưa kịp tập hợp[25], xuất quân đã chỉnh đốn từ ba châu, tiến vào cướp phá. Hoặc phá chợ hòa thị của chúng, hoặc chiêu dụ các bộ lạc, hoặc lại đắp lũy mở rộng đất đai, rộng chiêu mộ người mạnh, lập riêng chế độ, để hỗ trợ quân chính. Những hộ thuộc có giúp giặc, thì hội quân bí mật tiêu diệt. Các tộc thấy tình thế này, tự nhiên không còn ý định theo giặc, dần dần có thể sai khiến. Đã không thể làm loạn, thì có thể nghiêm cấm việc buôn bán muối xanh, lúa gạo, vải lụa, không để giao thông với giặc.

Triều đình tiết kiệm chi phí, dùng một phần ba kho nội phủ, chia giúp việc biên phòng, lấy vàng lụa ban cho các vị tướng ở các lộ, sai người do thám giặc, thì động tĩnh biết trước. Gặp lúc nắng nóng, thì điều quân đến biên giới để ăn lương thảo[26]. Như thế, trong hai ba năm, sức giặc dần suy yếu, việc bình định có kỳ hạn, thật là kế sách tạm khó nhọc mà lâu dài yên ổn vậy!

Có người nói rằng tăng thêm binh lính quá nhiều, sao có thể đột ngột chiêu mộ được? Thần cho rằng việc tuyển chọn và huấn luyện binh lính vốn có phép tắc cũ của tổ tông, chỉ là làm hay không làm mà thôi. Nếu thực sự thực hiện, thì có gì khó khăn? Hơn nữa, binh lính địa phương đã mạnh, thì các quân Củng Thánh, Long Vệ, Vân Vũ, Thần Kỵ cùng Thần Vệ, Long Kỵ dọc biên giới, cùng các quân luyện tập đoàn kết[27], dần dần có thể thay thế để điều về kinh sư, làm cho cốt cán mạnh mà cành yếu, từ đó trong ngoài đều yên ổn.”

[58] Trương Dũ, người thảo dã ở Ích Châu, được bổ làm Thí Hiệu thư lang.

Dũ là người huyện Bì, tướng mạo khôi ngô, có chí lớn, đi du học khắp nơi, nhiều lần thi cử không đỗ. Đầu niên hiệu Khang Định, theo chiếu dâng thư bàn việc biên cương. Tri châu Dương Nhật Nghiêm tiến cử Dũ vì ông từng sống lâu ở Tam Tần, hiểu rõ tình hình địch, nên triệu về hỏi han. Vương Củng Thần khi đi an phủ Tây Xuyên cũng khen tài ông, Vua hạ chiếu triệu về kinh. Dũ từ chối vì cha già, lại dâng thư xin cử sứ giả sang Khiết Đan, khiến họ đánh nhau với giặc phương Tây, để bảo toàn sức lực của Trung Quốc.

Ông cũng gửi thư cho Tể tướng Lữ Di Giản, trình bày tường tận yếu lược trị thiên hạ, và nói: “Đã mất ở phương Đông, nên thu lại ở phương Tây.” Di Giản coi trọng lời ông, cho rằng thư của Dũ còn hơn cả Quách Nguyên Chấn. Vì thế, Vua bổ nhiệm ông làm quan, Dũ dâng biểu xin nhường chức cho cha là Hiển Trung, Vua đồng ý. Sau đó, ông ẩn cư ở núi Thanh Thành, trước sau sáu lần được chiếu triệu nhưng đều không nhận.

[59] Ngày Giáp Tý, Vua hạ chiếu: Từ nay, các quan khi được ân tứ tiến cử con cháu, nếu xin đổi chức vụ, thì những người đã được đổi chức không được xin thăng chức lần nữa.

[60] Ngày Ất Sửu, Vua hạ chiếu: Các châu quân ở Kinh Đông, Kinh Tây bị thiên tai, thuế thu đông được miễn giảm theo từng cấp bậc. Vua còn lo dân nghèo không kịp nộp thuế, giao cho Chuyển vận sứ điều tra tâu lên, những người bỏ trốn đều được hoãn thuế.

[61] Lại hạ chiếu: Các châu, quân, huyện, trấn dọc biên giới Hà Đông đặt đài phong hỏa.

[62] Ngày Nhâm Thân, Tri phủ châu, Như kinh sứ Chiết Kế Mẫn được làm Cung uyển sứ, Thứ sử Phổ châu; Tri châu Lân châu, Lễ tân phó sứ Miêu Kế Tuyên được làm Lễ tân sứ, Thứ sử Tư châu, đều do có công giữ thành.

[63] Trước đó, Đồn điền viên ngoại lang Trương Chỉ thông phán Phủ châu. Châu dựa vào núi, không có thành ngoài, Trương Chỉ muốn xây dựng. Tướng châu nói: “Châu ta dựa vào hiểm trở, giặc chắc không đến.” Chỉ không nghe. Thành sắp xây xong, giặc kéo đến rất đông, bèn nối những cây gỗ lớn để lấp chỗ hở, dùng nỏ mạnh để phòng thủ. Lúc đó, trong ngoài không liên lạc được với nhau nhiều ngày, lòng dân hoang mang lo sợ.

Trong kho có mấy nghìn tấm vải mua ngựa, Chỉ giả chiếu ban cho quân lính giữ thành, quân lính đều hướng về phía đông hô vạn tuế, giặc nghi ngờ có viện binh đến. Châu không có giếng, dân lấy nước sông để uống, giặc chặn đường lấy nước. Chỉ mở cửa thành ban đêm, dẫn quân đánh giặc, giặc lui một chút, bèn cho quân triều đình đóng ở hai bên, để dân ra lấy nước. Lại lấy bùn kênh phủ lên đống cỏ, đốc thúc dân lên thành ra sức chiến đấu. Giặc chết và bị thương rất nhiều, bèn rút đi. Chỉ được thăng làm Đô quan viên ngoại lang do có công.

Chỉ là người Hà Nội.

[64] Đô giám Lân Châu là Vương Khải, cháu đời thứ ba của Toàn Bân. Ông từng xuất quân ở cầu Song Phong[28]và Nhiễm Trượng Cốc, gặp địch và đánh bại chúng. Lại đánh bại bộ tộc Bàng Thanh và Hoàng La, lại đánh nhau ở núi Tứ Hậu, trước sau chém được 387 thủ cấp, thiêu hủy và thu được trâu ngựa, lạc đà, khí giới kể đến hàng ngàn. Giặc vây Lân Châu, ông lên thành chống cự, ngày đêm 31 ngày, giặc mới giải vây rút đi. Đặc cách thăng làm Tây đầu cung phụng quan.

Khi về triều, giặc vẫn cướp bóc, đường sá không thông, nên được bổ làm Nội điện sùng ban, Đô tuần kiểm sứ vùng biên Lân Phủ lộ. Cùng với Đồng tuần kiểm Trương Tiết hộ vệ đường lương ở Thanh Mi Lãng, giặc kéo đến đông, ông bị lạc mất Tiết. Bèn chia quân ra đánh tập hậu, lại hợp quân với Tiết, chém được 65 thủ cấp. Lại tiến vào Thố Mao Xuyên, giặc có ba vạn quân, Khải đem sáu nghìn quân xông vào vòng vây, bị tên bắn trúng mặt, vẫn đánh không ngừng, đến tối giặc tan vỡ, lại chém được 186 thủ cấp, giặc tự giẫm đạp lên nhau chết đến hàng ngàn. Được thăng làm Nam tác phường phó sứ.

Trương Tiết là người Phủ Cốc, nhờ tiền của mà làm nha tướng, có dũng lược, giỏi cưỡi ngựa bắn cung.

Năm Thiên Thánh, quan sát sứ giả của Tây Hạ là A Ngộ cướp phá Lân Châu, bắt dân biên giới rồi hẹn trả con, sau đó mới trả lại những người đã bắt. Lân Châu trả con cho A Ngộ, nhưng A Ngộ lại trái ước. An phủ sứ sai Trương Tiết đến chất vấn, Tiết thẳng đến trướng, lấy lẽ nghịch thuận khuyên bảo A Ngộ, A Ngộ không biết nói gì, liền giữ Tiết lại cùng ăn. A Ngộ rút đao đâm miếng thịt lớn mời Tiết, Tiết đưa miệng đến đao ăn thịt, không chút sợ hãi. A Ngộ lại giương cung lắp tên, chỉ vào bụng Tiết mà kéo căng dây, Tiết vẫn ăn không ngừng, sắc mặt tự nhiên. A Ngộ vỗ lưng Tiết nói: “Đúng là kẻ dũng cảm.”

Hôm sau, lại cùng Tiết đi săn, hai con thỏ chạy trước ngựa, Tiết bắn hai mũi tên, liền giết chết cả hai con thỏ. A Ngộ kinh ngạc khâm phục, tặng Tiết ngựa, lạc đà, và trả lại hết những người đã bắt như lời hẹn trước. Tướng châu bổ nhiệm Tiết làm chủ trại Lai Viễn. Tiết tự tay giết thủ lĩnh giả là Nga Dịch Nhi, đoạt lấy áo giáp và ngựa của hắn. Lúc đó Tiết mới mười tám tuổi, danh tiếng vang dội cả quân.

Từ năm Thiên Thánh thứ nhất đến năm thứ chín, không thấy con của A Ngộ trở về.

Nguyên Hạo xâm phạm Phu Diên, quân lính Lân Phủ tiến đánh. Tiết làm Giáo luyện sứ theo Chiết Kế Mẫn đánh bại hai tộc Lạp Vượng, A Nhi, bắn chết mấy chục người, chém chủ tướng giặc là Ngạc Bác, nhờ công được bổ làm Hạ ban điện thị, Tam ban sai sứ. Lúc ấy, quân giặc cưỡi ngựa đang mạnh, quan trung sứ thúc giục ban áo giáp cho quân, đến Lân Châu, quân giặc cưỡi ngựa đông đúc, không thể tiến lên được. Khang Đức Dư quản câu quân mã ty sự, sai Tiết đem năm mươi kỵ binh đi hộ tống.

Đến Thanh Mi Lãng, gặp giặc giao chiến, tên bắn xuyên qua hai má, Tiết rút tên ra, đánh càng hăng, đoạt được mười hai con ngựa rồi trở về. Giặc vây Phủ Châu, tấn công rất gấp, góc tây nam thành thấp, giặc sắp trèo lên, mọi người la lên: “Thành vỡ rồi!” Tiết trèo lên thành hét lớn, sai hai người bắt một người lại, giặc vì thế hơi lùi, mọi người mới yên lòng. Tên bay trúng dưới mắt phải, thân bị ba vết thương, ngày đêm đốc thúc phòng thủ.

Lại dẫn quân cảm tử mở cửa quan, bảo vệ người trong châu lấy nước ở phía bắc sông[29], vòng vây được giải, trong thành không thiếu nước, nhờ công được thăng làm Hữu ban điện trực.

Tuy nhiên, quân du kích giặc thường qua lại trong vùng, cướp đoạt lương thực, lấy Tiết làm Tuần kiểm đạo lộ Lân, Phủ Châu. Đến Thâm Bách Ổ, gặp mấy ngàn quân giặc, chia quân đuổi đánh, chém được hơn trăm đầu, đoạt được vài trăm binh khí, ngựa. Ruộng dân gần ngoại ô, đến mùa thu chưa dám gặt, Tiết dùng kế can thiệp với Trương Kháng, được chín trăm lính bộ binh bảo vệ[30], đại phá quân giặc ở Long Môn Xuyên. Theo các tướng thông đường lương thực đến Lân Châu, đánh bại quân giặc ở Bách Tử Trại. Đổi làm Hữu ban điện trực.

Nội thị Tống Vĩnh Thành truyền chiếu đến dưới trại, Tiết hộ Vĩnh Thành, gặp giặc ở Tam Tùng Lĩnh. Giặc dùng kỵ binh tinh nhuệ khiêu chiến, tên bắn trúng cánh tay Tiết, nhưng ông vẫn nhảy lên ngựa, cưỡi ngựa bắn tên khắp hai bên, các tướng thừa thế tiến lên, giặc đều tan vỡ bỏ chạy. Đặc cách đổi làm Tây đầu cung phụng quan, vì cho rằng phần thưởng quá ít, lại thăng làm Nội điện sùng ban.

Giặc phá được Phong Châu, định chiếm cứ đất ấy, Tiết cùng các tướng một ngày đánh nhiều trận, phá được trại Tam Quý của Ngụy Dung Châu thứ sử Gia Bố Di Thủ, bắt sống được hàng vạn người. Thăng làm Lễ tân phó sứ.

Lại có Vương Cát, là quan Thông dẫn ở châu Lân. Châu bị vây gấp, Miêu Kế Tuyên chiêu mộ lại dân thông tin cầu viện, Cát ứng mộ. Kế Tuyên hỏi cần bao nhiêu người đi theo, Cát nói: “Nay quân địch kỵ binh trăm lớp, không cần dùng nhiều người.” Xin đổi y phục giả làm quân địch, mang cung tên, mang theo lương khô, giả làm quân địch. Đêm xuống dùng dây thòng xuống, gặp hỏi han thì dùng tiếng phiên trả lời. Hai ngày đêm, rồi ra ngoài trại địch, chạy đến phủ Châu báo cấp, phủ Châu sai tướng đem quân cứu viện[31]. Cát lại theo đường tắt vào thành, trong thành đều hô vạn tuế.

Đến khi vây giải, bổ Cát làm Phụng chức, Chỉ sử bản châu. Cát từng theo Vương Khải và trung quý nhân đem mấy ngàn quân, bất ngờ gặp mấy vạn kỵ binh địch, trung quý nhân hoảng sợ, lấy khăn tay tự thắt cổ. Cát nói: “Quan nhân lo gì không chết? Sao không để Cát đánh trước, nếu Cát không thắng, chết cũng chưa muộn.” Bèn sai mấy người tả hữu giữ trung quý nhân, nói: “Quý nhân đừng ngờ, sẽ chém hết bọn giặc.” Bèn đem bộ hạ xông lên trước, bắn chết tướng lớn của địch, quân địch tan chạy, quân châu thừa thế đánh[32], giặc rơi xuống vực chết[33] hơn vạn người.

Lại từng đánh nhau với địch, con trai là Văn Tuyên, mười tám tuổi, đi theo. Đánh xong không thấy Văn Tuyên, thuộc hạ xin vào trận địch tìm, Cát ngăn lại nói: “Đứa trẻ này là con Vương Cát, bị người bắt, còn tìm làm gì?” Một lát, Văn Tuyên cầm hai cái đầu về. Cát mừng nói: “Như thế mới thật là con ta.” Cát mỗi trận giết không quá một mũi tên, liền bỏ cung trần trụi xông vào[34], tay giết mấy người, rồi trở về, nói: “Đến lúc chúng giương cung nắm tên, xông thẳng vào ôm lấy, chúng vội vàng không kịp chống cự, thì bị bắt. Ta trước sau mấy chục trận, chưa từng bắn hai mũi tên.”

Cát cùng Trương Tiết nổi tiếng ngang nhau, cuối cùng đều không được phong đến chức quan cao.

[66] Ngày Quý Dậu, giáng chức Tịnh Đại phó bộ thự, Thông châu Đoàn luyện sứ Vương Nguyên làm Tả vệ tướng quân, Lăng châu Đoàn luyện sứ; Kiềm hạt, Đông nhiễm viện sứ, Đài châu Thứ sử Khang Đức Dư làm Đông nhiễm viện phó sứ; Kiềm hạt, Cung bị khố sứ Dương Hoài Chí làm Cung bị khố phó sứ. Trước đó, có bộ tộc người Phiên là Khiết La làm Điện thị, xin cấp áo gấm và lương thực trạm dịch, Đức Dư không cho, Khiết La bèn nói lời oán giận. Có người gièm pha rằng Khiết La thông đồng với giặc, khi chiến đấu thì bắn ngược lại người Hán, Khiết La không thể tự minh oan, bèn mưu tính theo giặc.

Chỉ huy sứ Trương Tiết nghe tin, liền mời Khiết La đến uống rượu, Khiết La khóc mà nói: “Tôi đâu phải kẻ theo giặc, chỉ là muốn trốn chết thôi!” Tiết báo với Đức Dư rằng: “Khiết La phản, đã rõ rồi, không thể không giết.” Lúc đó Nguyên Hạo thường xuyên xâm lấn, Đức Dư không nghe, nói: “Hôm nay đâu phải lúc giết người Phiên?” Tiết nói: “Kẻ phản chỉ là Khiết La, không phải ý của mọi người. Xin vì ngài mời hắn đến uống rượu, rồi đẩy xuống vực, nói là ngã ngựa chết, ai biết được người Hán giết hắn?” Đức Dư do dự không quyết, hỏi ý người thân cận, người thân cận ghét Tiết, bèn nói xấu Tiết, kế của Tiết không thành.

Chiết Kế Mẫn nghe tin giặc sắp đến, báo với Đức Dư, Đức Dư giận nói: “Ngươi không triệu hắn đến, sao biết hắn đến?” Quả nhiên giặc dùng Khiết La làm hướng đạo, từ sông Hậu xâm nhập đánh úp Phủ châu. Người Phiên và người Hán muốn vào thành, Đức Dư đóng cửa không cho vào, có kẻ đầu hàng giặc, có kẻ bị giặc giết, không kể xiết. Giặc vây Phủ châu, Đức Dư cùng Vương Nguyên và Hoài Chí án binh không ra đánh, chỉ gửi văn thư cho Chuyển vận ty điều lương thực. Chuyển vận phó sứ Văn Ngạn Bác bắt dân chở lương, đến biên giới chờ đợi, nhưng Đức Dư vẫn không dám ra.

Đến khi Phong châu thất thủ, mới ra đóng quân ngoài thành vài dặm, ba ngày sau lại rút về. Dân chúng trông thấy, tưởng giặc lại đến, đều bỏ đồ đạc chạy vào thành. Ngạn Bác tâu việc này lên, nên Đức Dư bị trách phạt. Tuy nhiên, chỉ bị kết tội không ra đánh, còn những việc khác thì triều đình không biết hết.

[67] Ngày Giáp Tuất, Tham tri chính sự Triều Tông Xác bị bãi chức khởi phục.

[68] Thái thường thừa, Trực tập hiền viện Điền Huống làm Hữu chánh ngôn.

[69] Ngày Ất Hợi, ban chiếu cho thiên hạ lập kho nghĩa thương. Từ đầu niên hiệu Càn Đức đã lập kho nghĩa thương, nhưng chẳng bao lâu thì bãi bỏ. Năm Minh Đạo thứ hai, ban chiếu bàn việc khôi phục, nhưng không thành. Trong niên hiệu Cảnh Hữu, Tập hiền hiệu lí Vương Kỳ dâng sớ, dẫn chuyện thời Tùy, Đường, xin khôi phục lại, nói: “Thời Trinh Quan nhà Đường, từ Vương công trở xuống, mỗi mẫu ruộng khai khẩn nộp thuế hai thăng, thực ra là quá nặng. Đến sau niên hiệu Vĩnh Huy, từ hộ trên trở xuống, tính theo hộ mà nộp thóc, cũng không đều. Nay nên lệnh cho các hộ từ ngũ đẳng trở lên, tính theo hai vụ hạ thu, riêng nộp một thăng, theo thuế mà nạp, nếu gặp lụt hạn giảm thuế thì được miễn nộp. Châu huyện chọn nơi thuận tiện lập kho riêng để chứa, do Chuyển vận sứ quản lí. Nay lấy một quận trung bình mà tính, thuế chính mỗi năm thu được mười vạn thạch, thì kho nghĩa thương mỗi năm được năm nghìn thạch, suy rộng ra, lợi ích rất lớn.”

Lại nói: “Thời Minh Đạo, đói kém nghiêm trọng, nhà nước muốn cứu đói dân thì lương thực quân đội không đủ, nên dân phải lưu lạc. Lúc đó, nhà giàu có nộp vài nghìn thạch thóc liền được bổ làm quan, há phải coi tước vị là nhẹ sao? Chỉ vì thương dân cứu vật, bất đắc dĩ mà làm thế thôi. Sao bằng nhân năm được mùa, thu được thặng dư, làm lợi ích vô cùng cho thiên hạ, há chẳng lớn sao! Hơn nữa, nhà giàu có chiếm nhiều ruộng, thì kho nghĩa thương thu được nhiều; nhà trung hạ chiếm ít ruộng, thì kho nghĩa thương thu được ít. Đến khi gặp lụt hạn cứu tế, nhà giàu có chưa chắc cần nhờ đó, còn dân trung hạ thực sự được hưởng lợi trước. Lấy của thừa bù vào chỗ thiếu, là lợi ích của thiên hạ.”

Việc giao xuống Hữu ty bàn, các ý kiến bất đồng nên dừng lại. Sau đó, Kỳ lại dâng nghị, Vua nghe theo. Nhưng rồi dư luận xôn xao, cho là bất tiện, nên ban chiếu chỉ lệnh cho các hộ từ tam đẳng trở lên nộp thóc, nhưng chẳng bao lâu lại bãi bỏ.

(Việc chỉ lệnh cho các hộ từ tam đẳng trở lên nộp kho nghĩa thương, là vào ngày Mậu Ngọ tháng giêng năm sau.)

[70] Tháng đó, lấy ty đúc tiền huyện Chu Dương, châu Quắc làm Chu Dương giám, lại lấy ty đúc tiền huyện Lạc Nam, châu Thương làm Phụ Dân giám.

(Chu Dương giám, sách 《Thực lục》 chép vào ngày Nhâm Thân tháng này, chỉ không có Phụ Dân giám, nay phụ chép vào đây.)


  1. Chữ 'đại' nguyên bản thiếu, theo bản Tống toát yếu và các bản khác bổ sung
  2. 'Năm thứ 2' nguyên bản ghi 'năm thứ 3', theo quyển 30 sách này, tháng 3 năm Đoan Củng thứ 2 trong danh sách tiến sĩ có Tăng Hội, hơn nữa Đoan Củng không có năm thứ 3, nên căn cứ vào các bản khác sửa lại.
  3. 'Núi phía tây đến Bạch Thảo Bình', chữ 'sơn' nguyên bản thiếu, căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác bổ sung.
  4. Chữ 'từng' trong câu 'từng chỉ huy một vạn quân ở Tịnh châu' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào bản Tống Toát Yếu và Tống Hội Yếu phương vực 21-6, cùng tập hạ biên quyển 13 trong truyện Văn Ngạn Bác của Uyển Diễm Tập để bổ sung.
  5. nếu có kẻ cầu xin quá đáng 'hoặc' nguyên là 'hậu', theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa lại.
  6. Áp quan 'Áp' trên nguyên có chữ 'giám', theo các bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 43 thiên mộ binh mà bỏ.
  7. 'Cường tráng', 'Cung thủ' hai chữ này nguyên bản bị thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và sách 《Trường biên kỷ sự bổn mạt》, 《Lạc toàn tập》 quyển 22, luận về việc sai sứ đi Thiểm Tây, Hà Đông chiêu mộ cường tráng sung quân bổ sung.
  8. 'Xăm bổ quân tịch', chữ 'xăm' nguyên bản viết là 'điểm', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và sách trên sửa lại.
  9. Người có tài năng đủ để đảm đương việc cũng không nhiều, chữ 'giả' nguyên bản không có, căn cứ theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 và 《Lạc toàn tập》 bổ sung.
  10. 'Khốn' nguyên văn là 'Nhân', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 43 về việc tuyển binh mà sửa.
  11. 'tranh' nguyên bản là 'tránh', căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và bản 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 sửa lại.
  12. 'thừa' nguyên bản là 'thừa', căn cứ theo các bản sửa lại.
  13. 'Phu Diên' nguyên bản là 'Phu Châu', căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và các bản sửa lại.
  14. Chữ 'khố' vốn không có, theo chức quan thời Tống bổ sung.
  15. Đến nỗi quân tan tướng chết: Chữ 'đến' nguyên bản không có, căn cứ theo 《Lạc Toàn tập》 quyển 21, việc xin bãi Thiểm Tây chiêu thảo kinh lược ty bổ sung.
  16. Người ta không biết theo ai, câu trên trong 《Lạc Toàn tập》 có bốn chữ 'văn hịch mâu thuẫn'.
  17. Chữ 'hoàn' trong 'hoàn lợi khí dụng' vốn bị thiếu, căn cứ vào bản Tống, bản Tóm tắt Tống và bản Lạc Toàn Tập bổ sung.
  18. Chữ 'phú' trong 'phú dư doanh hư' vốn là 'tặc', căn cứ vào bản Tóm tắt Tống, bản các và bản Lạc Toàn Tập sửa lại.
  19. Chữ 'văn thần' vốn là 'văn cử', căn cứ vào bản Tống, bản Tóm tắt Tống, bản các và bản Tống Hội Yếu Tuyển Cử 14-11 sửa lại.
  20. 'Mai phục' chữ 'phục' nguyên bản không có, căn cứ vào 《Trị tích thống loại》 quyển 7 'Khang Định Nguyên Hạo nhiễu biên' và 《Tống sử》 quyển 324 'Trương Kháng truyền' bổ sung.
  21. 'Trấn Xuyên' nguyên bản là 'Trấn Châu', căn cứ vào 《Tống sử》 quyển 292 'Minh Hạo truyền' sửa lại. 《Tống hội yếu》 phương vực 20-2, 《Vũ kinh tổng yếu》 tiền tập quyển 17, 《Cửu vực chí》 quyển 4, 《Tống sử》 quyển 86 'Địa lý chí' Lân Châu điều hạ đều có Trấn Xuyên Bảo, cũng có thể chứng minh.
  22. Chiếu giảm mỗi cân ba đồng hoặc hai đồng, chữ 'giảm' nguyên là 'diêm', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản và 《Tống sử》 quyển 182 《Thực hóa chí》 sửa.
  23. Viên Kháng nguyên chép là 'Viên Hàng', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 《Tống sử》 quyển 301 bản truyện sửa lại.
  24. Từ khi đến Thiểm Tây, chữ 'đến' nguyên bản không có, theo 《Hàn Ngụy công tập》 quyển 11 gia truyện bổ sung.
  25. Lại khi giặc Tây chưa kịp tập hợp 'chưa kịp', bản Tống, bản Tống toát yếu, sách Hàn Ngụy công tập chép là 'chưa phải', bản các chép là 'chưa từng'.
  26. Thì điều quân đến biên giới để ăn lương thảo 'quân' chữ nguyên không có, theo sách Hàn Ngụy công tập bổ sung.
  27. 'Luyện' trong bản Tống toát yếu và sách Hàn Ngụy công tập đều viết là 'Đông', theo sử liệu thời Tống, quân cấm vệ đóng ở Thiểm Tây gọi là Đông binh, chữ 'Luyện' chắc chắn là sai. 'Tráp' trong Hàn Ngụy công tập viết là 'Sáng'.
  28. Chữ 'cầu' trong 'Song Phong kiều' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào bản Tống, bản các và quyển 7 sách 《Trị tích thống loại》 phần Khang Định Nguyên Hạo nhiễu biên, cùng truyện Vương Khải trong quyển 255 《Tống sử》 để bổ sung.
  29. Lấy nước ở phía bắc sông, chữ 'ở' nguyên bản thiếu, căn cứ vào bản Tống toát yếu và sách 《Trị tích thống loại》 bổ sung.
  30. Bảo vệ, chữ 'bảo vệ' nguyên bản là 'gặt', căn cứ vào bản Tống toát yếu, các bản khác và sách 《Trị tích thống loại》, 《Tống sử》 quyển 326 truyện Trương Tiết sửa lại.
  31. Sai tướng đem quân cứu viện nguyên thiếu một chữ 'tướng', theo 《Trị tích thống loại》 bổ sung.
  32. Quân châu thừa thế đánh, chữ 'quân' nguyên là 'địch', theo bản Tống, bản các và 《Trị tích thống loại》 sửa.
  33. Giặc rơi xuống vực chết, chữ 'giặc' nguyên thiếu, theo bản các bổ sung.
  34. Liền bỏ cung trần trụi xông vào, chữ 'trần' nguyên là 'gian', theo 《Tục thủy kỷ văn》 quyển 12 sửa. 《Trị tích thống loại》 chép: 'Liền bỏ cung tên, trần trụi xông vào.'

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.