"

IV. TỐNG NHÂN TÔNG

QUYỂN 159: NĂM KHÁNH LỊCH THỨ 6 (BÍNH THÂN, 1046)

Bắt đầu từ tháng 7 năm Khánh Lịch thứ 6 đời Nhân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.

[1] Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Ngọ, Giám sát ngự sử Đường Tuân tâu: “Gần đây ở kinh sư có mưa đá và động đất, đó là điềm âm thịnh dương suy, man di xâm phạm Trung Quốc. Hiện nay triều đình vì hòa hoãn với phương Tây Bắc nên dần lơ là phòng bị hai biên giới, thần thường lo lắng thầm. Mong bệ hạ hạ chiếu, nghiêm khắc răn dạy các quan giữ biên giới, nếu ai dám lơ là phòng bị, xử theo quân pháp.” Vua nghe theo.

[2] Ngày Giáp Thân, ban thưởng cho Tiến sĩ Bối Nguyên ở Việt Châu và Tiến sĩ Tôn Chiếu ở Mi Châu lương thực và vải lụa, vì theo lời tâu của Chuyển vận sứ địa phương, họ được dân làng khen ngợi về hiếu hạnh.

[3] Tam ty sứ Vương Củng Thần tâu: “Thời Thái Tổ có 12 vạn quân, thời Thái Tông có 18 vạn, thời Chương Thánh có 40 vạn, nay đã tăng gấp đôi. Quân đội cần tinh nhuệ chứ không cần đông, binh lính nhàn rỗi ngồi ăn lương là không phải cách. Tam ty tuy quản lý đại kế tài chính, nhưng thực tế việc nằm ở ngoài, xin giao trách nhiệm cho các quan đứng đầu các đạo.”

[4] Ngày Ất Dậu, ban chiếu cho Phán Đại Danh phủ Hạ Tủng, Tri Tịnh Châu Trịnh Tiển, Tri Vĩnh Hưng quân Trình Lâm kiêm nhiệm việc chuẩn bị lương thảo ở địa phương, theo lời tâu của Vương Củng Thần.

[5] Sai Chủ khách viên ngoại lang Tống Tuyển đến Hà Đông, Điện trung thừa Trần Vinh Cổ đến Hà Bắc lộ, thu mua lương thực dự trữ cho quân đội. Tuyển là cháu của Thục.

[6] Ban chiếu: “Trẫm nghe nói dân chúng phạm tội nhẹ mà quan lại tự ý xăm chữ và đày sang châu khác, Trẫm rất thương xót. Từ nay, nếu không được phép xử lý ngoài pháp luật, không được tùy tiện xăm chữ và đày tội nhân.”

[7] Ban tiền đặc chi cho binh lính đồn trú ở Quảng Nam Đông lộ.

[8] Ngày Đinh Hợi, Tham tri chính sự Tống Tường dâng sách 《Kỷ Niên Thông Phổ》 do ông biên soạn. Tường lấy sử liệu của 17 đời và các tạp thuyết của trăm nhà, gom tất cả niên hiệu chính thống và ngụy tạo vào một cuốn sách. Chiếu giao sách cho Sử quán.

[9] Ngày Canh Dần, Kinh lược ty Hà Đông tâu rằng mưa lớn làm hư hỏng tường thành các châu Hãn, Đại.

[10] Cung bị khố phó sứ, kiêm Cáp môn thông sự xá nhân Lý Chương được làm Tây thượng Cáp môn phó sứ.

[11] Ngày Nhâm Thìn, xuống chiếu cho các lộ Chỉ huy sứ, Tam ban sứ thần, Điện thị và Tán trực đều giảm một phần ba, những người thuộc quân hiệu thì bãi chức, trở về bản bộ chỉ huy.

[12] Ngày Ất Mùi, Điền Cư Dụng, chủ trại Ninh Viễn ở châu Thi, Tây đầu Cung phụng quan, được làm Đông đầu Cung phụng quan, và ban thưởng 50 lạng bạc. Lúc đó, tiến sĩ Vương Cao ở Ích châu trốn tội chạy vào hang động, Cư Dụng dùng chiếc đai bạc đang đeo, sai người động là Điền Thừa Xương dụ dỗ và bắt được.

[13] Ngày Bính Thân, Dư Tĩnh, Hữu chánh ngôn, Tri chế cáo, Tri châu Cát, được làm Tướng tác thiếu giám, phân ty ở Nam Kinh, cho phép cư trú ở Thiều châu.

Trước đây, Tĩnh làm quan gián, từng hặc tấu Thái thường bác sĩ Như Hiếu Tiêu bất hiếu, giấu tang mẹ, bị phế truất. Tĩnh đã mất thế, Hiếu Tiêu nhân đó cùng Tri gián viện Tiền Minh Dật nói rằng Tĩnh từng du ngoạn ở Quảng châu[1], phạm pháp bị đánh, Minh Dật liền hặc tấu Tĩnh không nên ở gần Vua. Tĩnh nghe tin không yên lòng, xin về nuôi dưỡng cha mẹ. Khi triều đình sai người đến Quảng châu tra xét, biết được sự thật. Tĩnh tên ban đầu là Hi Cổ, thi đỗ tiến sĩ, chưa được giải ngạch, được chủ bạ Khúc Giang đối đãi tốt. Quan Tri châu Thiều ghét chủ bạ, tìm tội nhưng không được, chỉ thấy chủ bạ ngồi cùng Tĩnh. Chủ bạ bị cách chức vì vi phạm chiếu chỉ, còn Tĩnh sau khi bị đánh đổi tên, thi đỗ ở châu khác, hồ sơ còn đầy đủ, nên có mệnh lệnh này.

(Việc Tĩnh bị đánh, theo ghi chép của Tư Mã Quang.)

[14] Ngày Kỷ Hợi, An phủ sứ vùng biên giới phía bắc Hà Bắc xin ban cho một bản thệ thư của Bắc giới để ứng phó việc biên giới, được chấp thuận.

[15] Ngày Tân Sửu, chùa Hồng Phúc bị cháy, liền xuống chiếu ban toàn bộ trang sản và điếm của chùa cho gia đình Chương Ý hoàng thái hậu.

[16] Ngày Nhâm Dần, Vua nói với các quan tể tướng rằng: “Hôm trước phong cho con của Lý Dụng Hòa là Lý Chương làm Cáp môn phó sứ, nay người con thứ là Lý Tuân xin làm Thông sự xá nhân. Trẫm đã bảo rằng: ‘Tước lộc của triều đình là để ban cho thiên hạ. Nếu nhà ngoại thích mà anh em đều được thăng chức theo ý muốn, thì Trẫm sẽ đối đãi thế nào với các công thần cũ?'” Giả Xương Triều tâu rằng: “Nhà họ mẹ từ xưa vốn được nhiều ân huệ. Nay bệ hạ biết quý trọng tước lộc, không dễ dàng ban phát, không chỉ tỏ ra công bằng với thiên hạ, mà còn là phúc lành để bảo toàn cho ngoại thích.” Tháng tư năm sau, ngày Ất Sửu, Lý Tuân, chức Nội điện thừa chế, Cáp môn chi hậu, được làm Thông sự xá nhân.

[17] Ngày Quý Mão, Mã quân phó đô chỉ huy sứ, Toại Châu quan sát sứ Hứa Hoài Đức được bổ nhiệm làm An Tĩnh quân lưu hậu. Các quan ngôn sự liên tiếp dâng chương tấu bày tỏ ý kiến. Ngự sử trung thừa Trương Phương Bình tâu rằng:

“Việc bổ nhiệm Hoài Đức thực sự là không hợp lệ. Bởi vì Hoài Đức từ khi làm tướng lĩnh ở biên thành, vốn không có công lao gì đáng kể, so với các đồng liêu, lại càng không có tiếng tăm gì. Năm ngoái, từ chức Phòng ngự sứ được đổi làm Quan sát sứ, từ chức Điện tiền đô ngu hậu được thăng làm Mã quân phó đô chỉ huy sứ. Nay lại dựa vào thể lệ một cách tùy tiện, may mắn được xin xỏ, làm rối loạn quân chế, gây xáo trộn triều chính. Lại nghe nói Điện tiền phó đô chỉ huy sứ Lý Chiêu Lượng đến hai phủ trình bày, khiến mọi người đều kinh ngạc. Việc các tướng lĩnh không hòa hợp, sự thể không thuận lợi, cần phải ngăn chặn từ sớm, có cách xử lý thích đáng.

Lại được biết tiếp theo có lệnh truyền tuyên rằng những người có công lớn mà được thưởng ít ở ba vùng biên giới, hãy liệt kê rõ ràng để tâu lên. Từ khi có việc ở phương Tây, nhiều lần quân bại tướng chết, triều đình chưa từng thi hành pháp luật để trừng trị, chỉ khoan dung tha thứ mà thôi, việc luận công ban thưởng thì quá lạm dụng mà không bỏ sót ai. Xem xét như vậy, thì những người có công lớn mà được thưởng ít ở biên giới, chẳng có ai cả.

Lệnh này vừa ban ra, mọi người đều ngẩng đầu chờ đợi ban thưởng, nếu ban thưởng khắp nơi thì không có danh nghĩa, nếu ban thưởng thiên vị thì chỉ gây oán hận mà mọi người không phục. Đây là do việc thăng chức lạm dụng cho Hoài Đức, rồi lại lan rộng đến nhiều người khác. Nếu triều đình tu chỉnh kỷ cương, chấn chỉnh hiến chương, thì xin tước bỏ chức vụ quân sự của Hứa Hoài Đức, giao cho chức vụ hoàn vệ; hoặc bổ nhiệm làm thứ sử một quận, thì trong ngoài tự nhiên sẽ nghiêm túc, mà quân chính sẽ được thiết lập. Hoặc nếu triều đình cho rằng mệnh lệnh mới ban ra, e ngại việc thu hồi, thì xin đình chỉ việc truyền tuyên tiếp theo, để ngăn chặn sự lạm dụng lan rộng.”

Trước đó, Giám sát Ngự sử Bao Chửng tâu rằng: “Gần đây ban hành điều lệ, quy định các bề tôi lên điện không được xin ân huệ, và lệnh cho Cáp môn thông báo, nếu vi phạm, Ngự sử đài sẽ đàn hặc. Thần thấy các bề tôi không tuân theo quy định, thường lấy cớ tâu việc công để xin ân huệ. Gần đây, Binh bộ Lang trung Mã Giáng được bổ làm Tri châu Việt, nhân lên điện tâu việc, xin đổi chức.

Sau đó, Quần mục phán quan Lữ Xương Linh từ Hà Bắc trở về, lên điện cũng xin bổ nhiệm vào chức vụ trong tỉnh phủ. Dù có các quan đài gián đàn hặc, nhưng đều không bị xét phạt, dẫn đến việc Mã quân Phó đô chỉ huy sứ Hứa Hoài Đức lên điện xin chuyển làm Quan sát lưu hậu. Hoài Đức vừa được bổ làm Quan sát sứ, nhiều lần nhậm chức nhưng không có thành tích gì nổi bật, lại không coi trọng phép nước, dám xúc phạm thánh thượng, sự vô liêm sỉ của con người đã đến mức này.

Xin đặc biệt xét xử, và từ nay về sau, nếu bề tôi nào nhân tâu việc mà xin ân huệ, hoặc bị đàn hặc, xin đều theo quy định xét xử, nghiêm trị theo phép triều đình, để những kẻ xảo trá biết sợ.” Lời tâu của Bao Chửng không được chấp thuận, Hoài Đức vẫn được thăng làm Lưu hậu, Phương Bình lại tâu, nhưng cuối cùng cũng không được nghe theo. Tháng 5 nhuận năm thứ 5, Hoài Đức được bổ làm Quan sát sứ.

[18] Ngày Ất Tỵ, Hộ bộ phó sứ Hạ An Kỳ và các quan tâu rằng, cùng với Kinh lược sứ Phu Diên là Trầm Mạc đã giảm bãi 44 quan viên và sứ thần. (Sự việc ghi chép vào ngày Canh Dần tháng chín có thể tham khảo.)

[19] Ngày Bính Ngọ, giáng chức Đường hậu quan, Tán thiện đại phu Trương Dụng Hòa làm Đại Lý tự thừa, giám sát viện lương liệu Đàm Châu. Dụng Hòa từng vì việc can thiệp vào sự việc của chủ tăng chùa Từ Hiếu là Văn Đán, nhưng không được chấp thuận. Nhân dịp chiếu chỉ ban cho các chùa Phật có thờ thần vị của tổ tông được ban thêm áo cà sa màu tía vào tiết Càn Nguyên, nhưng Dụng Hòa lại không đưa chùa Từ Hiếu vào trong chiếu chỉ, nên bị giáng chức.

[20] Hiền phi của Chân Tông là Pháp Chính Ngộ Chân đại sư họ Đỗ qua đời. Ngày Mậu Thân tháng tám, truy tặng làm Quý phi. Thái thường lễ viện tâu rằng: “Theo lệnh, đối với nội mệnh phụ từ nhị phẩm trở lên, chỉ cử hành một lần tang lễ, nay Quý phi tuy là nhất phẩm, nhưng vì đã xuất gia, khó có thể dùng lễ nghi của Quý phi.” Chiếu chỉ bãi bỏ việc bãi triều và cử hành tang lễ, theo lệ của Minh Chân đại sư Chu Hiền phi, dùng nghi trượng nhất phẩm để an táng.

[21] Ngày Kỷ Mùi, Hình bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Vương Kỳ làm sứ sinh thần của quốc mẫu nước Khiết Đan, Lục trạch sứ, Gia Châu thứ sử Tiền Hối làm phó sứ. Hữu ty gián, Tri chế cáo Tiền Minh Dật làm sứ sinh thần nước Khiết Đan, Nội viên phó sứ, Cáp môn thông sự xá nhân Dương Tông Thuyết làm phó sứ. Hộ bộ phán quan, Thị ngự sử Vương Bình làm sứ chánh đán của quốc mẫu nước Khiết Đan, Tả ban điện trực, Cáp môn chi hậu Vương Đạo Cung làm phó sứ. Kim bộ lang trung, Phán tam ty câu viện Hứa Tông Thọ làm sứ chánh đán nước Khiết Đan, Nội điện thừa chế Hạ Nguyên Cát làm phó sứ.

[22] Chiếu chỉ rằng con cháu của các quan lại ỷ thế ấm mà không chịu tuân theo pháp luật, từng bị xử phạt thật sự, nếu tái phạm tội tư, thì không được dùng hình thức chuộc tội. Lúc đó, Thiệu Vũ quân tâu rằng cháu của Cung Thự, nguyên là Bí thư giám đã về hưu, nhiều lần phạm tội giết trâu, đáng lẽ được miễn tội nhờ ấm. Vua đặc cách ra lệnh xử phạt thật sự, và thêm điều luật này.

[23] Lại có chiếu chỉ cho Kinh lược ty Hà Đông, Thiểm Tây, những quan chức và chỉ huy sứ, sứ thần ở biên giới có nhiều chiến công, phải trình bày rõ xuất thân và các lần thăng chức nhờ công lao, trong quá trình làm quan có phạm tội tham nhũng hay không, gửi đến Xu mật viện để chuẩn bị tuyển chọn sứ giả.

[24] Ngày Nhâm Tuất, Vua ban chiếu cho các Kinh lược sứ Thiểm Tây, Hà Đông: “Người phương Tây tuy đã nộp lễ vật xưng thần, nhưng lòng dạ họ xảo quyệt khó tin. E rằng các lộ sau khi bãi binh, dần lơ là phòng bị biên giới, nên cần chăm lo luyện tập binh sĩ, tu bổ thành trì, luôn sẵn sàng như có giặc đến. Ai không tuân theo chiếu chỉ, phải lập tức báo tên lên.”

[25] Ngày Quý Hợi, Vua ngự điện Sùng Chính, ra đề thi sách vấn cho bậc hiền lương phương chính, có tài nói thẳng can gián là Thái thường bác sĩ Tiền Ngạn Viễn cùng các võ cử nhân. Ngạn Viễn đỗ sách vấn hạng tư, được thăng chức Từ bộ viên ngoại lang, tri châu Nhuận. Võ cử có hai người được bổ làm Tam ban phụng chức, mười bảy người được bổ làm tá chức, hai mươi bốn người được bổ làm Tam ban sai sứ điện thị. Ngạn Viễn là con của Tiền Dịch, anh của Tiền Minh Dật. Từ khi nhà Tống dựng nghiệp đến nay, cha con anh em cùng đỗ chế khoa, chỉ có nhà họ Tiền mà thôi.

[26] Tiền Ngạn Viễn đến Nhuận Châu, dâng sớ nói: “Bệ hạ lên ngôi đến nay, trong cung không có thú vui thanh sắc, ngoài triều không có niềm vui săn bắn. Nhưng năm trước động đất ở Hùng, Bá, Thương, Đăng, lan đến cả Kinh Hồ, phạm vi mấy nghìn dặm, dù là tai dị ở Định Tương ngày trước cũng không nghiêm trọng bằng. Nay lại gặp đại hạn, lòng người hoang mang, có lẽ trời cho rằng bệ hạ chưa có phương pháp phòng chống giặc cướp, quan lại cai trị dân chưa tốt, dân chúng trong thiên hạ chưa yên ổn, nên giáng tai ương để cảnh cáo. Nếu bệ hạ kính cẩn tuân theo lời răn của trời, tu dưỡng đức nghiệp, thì đó là phúc của tông miếu xã tắc.

Xưa kia, người Di Địch ngôn ngữ y phục khác với Trung Quốc, khi đến chỉ cướp bóc người già yếu, gia súc mà thôi. Nay Khiết Đan chiếm cứ các trấn phía sau núi, Nguyên Hạo cướp Linh, Vũ, Ngân, Hạ, y phục xe cộ, con gái ngọc bạch, không gì là không có[2]. Trước đây Nguyên Hạo xâm lược, kéo dài năm năm, thiên hạ rối loạn, đến khi nộp lễ xin hàng, các quan lại biên giới không còn được lựa chọn kỹ, đội mũ cao, mặc áo rộng[3], xấu hổ khi nói đến việc quân.

Một ngày nào đó Khiết Đan phụ ơn, thừa cơ xâm nhập, há chỉ như Nguyên Hạo sao? Man Lão ở Hồ, Quảng cướp bóc dân chúng, điều phát thu thuế[4], nhu cầu quân sự trăm thứ, ba năm nay chưa thấy hiệu quả gì.

Mong bệ hạ nghĩ đến tình hình cấp bách ở ba phương này, bàn kế lâu dài, để đáp lại lời răn của trời, thì thiên hạ may mắn lắm thay!”

[27] Ban cho các tể thần Giả Xương Triều và các quan tùy tùng thư pháp phi bạch, mỗi người một bức.

[28] Ngày Canh Ngọ, ra chiếu từ nay các quan viện y trong Hàn Lâm phạm tội, đều xử theo lệ thất phẩm để chuộc tội.

[29] Ngày Quý Dậu, Hữu gián nghị đại phu, Tham tri chính sự Ngô Dục được bổ nhiệm làm Xu mật phó sứ; Xu mật phó sứ, Công bộ Thị lang Đinh Độ được bổ nhiệm làm Tham tri chính sự.

Ngô Dục khi ở trong triều đình, gặp việc dám nói thẳng, thường cùng Tể tướng Giả Xương Triều tranh luận trước mặt Vua, khiến mọi người trong triều đều sợ hãi. Ngô Dục tranh luận không ngừng, rồi thưa: “Việc thần tranh luận là trách nhiệm của chức vụ, nhưng sức thần không đủ, xin bãi chức của thần.” Vì thế, ông được đổi chức với Đinh Độ.

Đinh Độ làm Xu mật phó sứ sau Bàng Tịch. Lúc đó, con gái của Bàng Tịch gả cho con trai của Tham tri chính sự Tống Tường[5]. Tống Tường nhân đó tâu lên Vua[6], vì có quan hệ thân thích nên không thể cùng làm việc, nên vượt cấp bổ nhiệm Đinh Độ.

Ban đầu, Giả Xương Triều tranh chấp với Ngô Dục, Vua muốn cách chức cả hai. Ngự sử trung thừa Trương Phương Bình chuẩn bị vào chầu, Giả Xương Triều sai người hẹn Phương Bình giúp mình, hứa sẽ để Phương Bình thay Ngô Dục. Phương Bình nổi giận, quát mắng người đó: “Lời này sao lại đến với ta!” Khi vào chầu, ông hết lời phân tích phải trái của hai người, nhưng cuối cùng Ngô Dục vẫn bị cách chức. Người đời đều cho rằng Phương Bình thực sự đã giúp Giả Xương Triều.

(Việc này căn cứ vào mộ chí của Phương Bình và bản truyện, nhưng mộ chí nói Ngô Dục bị cách chức, Cao Nhược Nột thay thế, là việc tháng 3 năm Khánh Lịch thứ 7[7], không phải lúc này.

Hơn nữa, Cao Nhược Nột thay Ngô Dục, thực là làm Xu mật phó sứ, không phải Tham tri chính sự. Mộ chí có vẻ uốn nắn để giấu giếm cho Phương Bình, nay không theo.)

[30] Ngày Giáp Tuất, Giám sát ngự sử Đường Tuân được bổ nhiệm làm Công bộ Lang trung, Trực sử quán, Tri Hồ Châu, cuối cùng vì có quan hệ thân thích với Tể tướng nên bị cách chức.

[31] Ngày Ất Hợi, chùa Thái Bình Hưng Quốc tu sửa xong điện Khai Tiên thờ thần vị Thái Tổ, Vua viết bảng chữ phi bạch, đón thần vị từ các Thiên Chương về an vị, sai Tể tướng Giả Xương Triều làm Lễ nghi sứ.

[32] Tháng 9, ngày Mậu Dần mùng một, đổi Quách Thừa Hữu, vừa nhận chức Tri châu Hình Châu, sang làm Tri châu Tương Châu. Tiền Minh Dật, Tri gián viện, tâu rằng Thừa Hữu trước đây từng làm Tri châu Hình Châu, bị dân chúng oán ghét[8], nay lại bổ nhiệm ông ta, thì dân châu không thể yên ổn. Vì thế đổi đi.

[33] Trịnh Tiển, Tri châu Tịnh Châu, tâu rằng hai châu Lân, Phủ có ruộng bỏ hoang gần biên ải, có thể chiêu mộ một hai vạn dân làm cung tiễn thủ, cấp ruộng theo đầu người, để phòng giữ biên cương. Vua nghe theo.

[34] Ngày Canh Dần, Hạ An Kỳ, Hộ bộ Phó sứ, Công bộ Lang trung, được bổ làm Thiên Chương các Đãi chế, Thiểm Tây Đô Chuyển vận sứ. An Kỳ cùng các lộ Kinh lược An phủ ty bàn việc giảm chi phí biên phòng, tâu xin bãi bỏ năm vạn quan lại và binh lính biên phòng không đủ sức làm việc.

(Việc ghi chép ngày Ất Tỵ tháng 8 có thể tham khảo.)

[35] Lúc này thường xảy ra tai dị, Hộ bộ viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Mai Chí dẫn sách 《Hồng Phạm》 để cảnh báo rằng: “Câu ‘Vương tỉnh duy tuế’ ý nói Vua quản lý các quan, như một năm gồm bốn mùa, nếu có điều gì không thuận thì xem xét lại chức trách của họ. Nay nhật thực vào mùa xuân, địa chấn vào mùa hạ, mưa lụt vào mùa thu, một năm mà tai biến xảy ra ở ba mùa, đó là ý trời muốn nhắc nhở bệ hạ rằng việc xem xét chức trách chưa chu toàn.

Sông Y, Lạc dâng cao, cuốn trôi nhà cửa, nước biển tràn vào Đài Châu, giết hại dân chúng, sông Chiết Giang vỡ đê, sông Hoàng Hà tràn bờ, đó là điều gọi là ‘thủy bất nhuận hạ’. Bệ hạ nên tự trách mình, tu dưỡng đức hạnh để đáp lại sự che chở của Thượng đế. Nếu âm không thắng được dương, thì tai dị sẽ giảm dần và đức lớn sẽ ngày càng thịnh vượng.”

Lại nói rằng quyền Thiểm Tây chuyển vận sứ Trương Nghiêu Tá không có tài năng, được tiến cử nhờ cung nữ, e rằng sẽ làm tổn hại đến đức độ của bệ hạ[9].

Lại tâu xin giảm bớt số lượng học sĩ điện Tư chính, triệu tập các quan đãi chế cùng bàn việc chính sự, khôi phục việc các quan luân phiên tâu bày.

Vua nói với các đại thần: “Mai Chí tâu việc rất hợp lẽ.” Bèn bổ nhiệm ông làm Hộ bộ phó sứ.

(Bản truyện chép việc Mai Chí tâu về tai dị là lúc ông giữ chức Điện trung thị ngự sử, đó là sai. Xét các tai dị đều xảy ra trong năm nay, nay nhân việc Mai Chí thăng chức mà chép kèm. Trương Nghiêu Tá làm quyền Thiểm Tây chuyển vận sứ, tháng này chính thức nhậm chức, lời tâu của Mai Chí chắc chắn cũng trong tháng này[10]. Chỉ có việc tâu xin giảm số lượng học sĩ điện Tư chính, thỉnh triệu tập các quan đãi chế bàn việc chính sự và khôi phục việc các quan luân phiên tâu bày, có lẽ xảy ra vào thời gian khác, cần xem xét thêm.)

[36] Ngày Tân Mão, Tri Thanh Châu Diệp Thanh Thần tâu rằng Đăng Châu động đất liên tục, xin tăng thêm quân cấm vệ để phòng biến loạn về binh đạo, Vua đồng ý.

[37] Hạ quốc chủ nói rằng trước đây đã dùng binh mã thu phục vùng đất phía tây phân thủy châu Thừa Bình, sau đó chia thưởng cho các tướng hiệu có công. Nay các quan biên giới lại tranh chấp, chưa thống nhất với nghị định nhiều năm trước. Ngày Giáp Ngọ, sai Viên ngoại lang Bộ Hình là Trương Tử Thích đến quân Bảo An để cùng người do Hạ quốc cử đến bàn bạc trực tiếp, đồng thời ban chiếu dụ Hạ quốc chủ.

[38] Ngày Nhâm Dần, đặt tên cho pháo đài mới xây ở Cao Bình, châu Diên là An Tắc Bảo.

[39] Ngày Giáp Thìn, châu Đăng báo cáo có hơn ba nghìn cây gỗ lớn trôi dạt từ biển vào.

[40] Ngày Ất Tỵ, Phán quan Bộ Hộ, Lang trung Bộ Từ là Thôi Dịch được cử làm Thể lượng An phủ lộ Kinh Hồ Nam. Lúc này người Man Dao chưa bình định nên đặc biệt sai Dịch đi bàn kế sách đánh dẹp và chiêu an. Dịch là người Trường An.

[41] Ban chiếu cho Nhập nội điện đầu Lý Kế Hòa vì có công lao trong việc phách hoạch khoán mã[11], được giảm bốn năm trong thời hạn chuyển quan, nhưng không tính vào thời gian nhập sĩ đủ ba mươi năm. Từ nay những ai được khen thưởng công lao đều theo lệ này.

(Việc này căn cứ theo 《Hội yếu》 tháng 9, không rõ ngày.)

[42] Mùa đông, tháng 10, ngày Đinh Mùi mùng một, ban chiếu: “Gần đây sai Trương Tử Thích đến châu Diên bàn việc biên giới với Hạ quốc. Đất châu Phong phải hoàn toàn thuộc về Hán giới. Nếu bàn chưa thống nhất, cho phép lấy vùng đất bị xâm canh bốn mươi dặm ngoài sông Hoành Dương làm đất cấm. Nếu họ vẫn cố chấp, thì lấy sông Hoành Dương làm biên giới.”

Trước đây, Hạ quốc đã dâng chín trại Ngọa Quý Bàng, Ngô Di, Dĩ Bố, lại nộp đất cũ châu Phong, muốn lấy các nơi như Một Ninh Lãng làm biên giới. Giao cho Kinh lược sứ Hà Đông là Trịnh Tiển xem xét. Tiển tâu rằng các nơi như Một Ninh Lãng đều ở phía nam châu Phong, ăn sâu vào vùng bụng châu Phủ. Nếu theo đề nghị của họ, thì hai châu Lân, Phủ khó giữ được, nên lấy sông Hoành Dương làm biên giới. Vua bèn giao bản đồ do Tiển dâng lên cho Tử Thích mang đi bàn bạc.

[43] Ngày Nhâm Tuất, ban chiếu rằng các quan lại coi giữ các đê sông Hoàng Hà nếu trải qua lũ lớn tràn bờ, khi mãn nhiệm kỳ đều được bổ nhiệm làm quan ở vùng xa.

[44] Chuyển vận sứ Hồ Nam là Chu Hãng tâu rằng, chỉ huy quân sĩ là Cảnh Hiền đã chiêu hàng được 56 hộ với 259 người thuộc bè lũ man tộc ở Đạo Châu. Triều đình ra chiếu phong chức tước cho các thủ lĩnh theo thứ bậc, và lệnh cho bộ phận đó thường xuyên quan tâm, chăm sóc họ.

[45] Ngày Quý Hợi, ban thưởng tiền đặc biệt cho quân sĩ tham gia đánh dẹp man tộc Dao ở Hồ Nam.

[46] Ngày Giáp Tý, ra chiếu cho Tam ty rằng, gần đây cử người được tuyển chọn giám sát các cửa thành mới ở kinh đô, nhưng nghe nói nhiều người được cử là do quyền thế và giàu có xin xỏ, không có ích gì cho việc, nên bãi bỏ việc này.

[47] Ban thưởng tiền đặc biệt cho quân sĩ đồn trú và tuần tra ở Diên Châu, Bảo An Quân và các nơi khác.

[48] Ngày Tân Mùi, Tri Quế Dương Giám là Tống Thủ Tín tâu rằng: “Giặc Dao là Đường Hòa Thượng tập hợp hơn nghìn người, cướp bóc đã năm sáu năm, nhưng cuối cùng không thể dẹp được, là do triều đình không cho phép truy đuổi tận gốc. Nay Giám Tửu Hoàng Sĩ Nguyên ở Hoành Châu khá am hiểu việc ở các khe động, xin được hai nghìn quân sĩ dũng cảm và hai trăm quân sĩ dẫn đường, cấp nhiều vàng lụa, để họ truy bắt, nhất định sẽ bắt được. Đồng thời lệnh cho Kiềm Hạt Cơ Uân ở bản lộ hợp lực tiến đánh. Khi chúng đã cùng đường, ắt sẽ quy phục.” Triều đình ra chiếu theo kế sách đó, bèn phát đại binh đánh dẹp.

[49] Ngày Nhâm Thân, ra chiếu cho Tri Quảng Châu là Ngụy Quán cùng Chuyển vận sứ bản lộ chuyên trách việc bắt và đánh dẹp man tộc Dao, nếu việc báo cáo không kịp, thì được tùy nghi hành sự.

[50] Ngày Giáp Tuất, Vua nói với các quan phụ tá rằng: “Sơn Đông liên tiếp nhiều năm động đất, lại có cây lớn nổi lên từ biển, nên phòng ngừa biến cố chưa xảy ra. Hạ lệnh cho Đăng Châu nghiêm chỉnh việc vũ bị, và báo cáo số lượng binh khí đang tích trữ.” Ngự sử trung thừa Trương Phương Bình tâu rằng:

“Thần thấy các lộ xảy ra động đất, từ Kinh Hồ, Xuyên Hạp, Sơn Đông, Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây cho đến Lĩnh Biểu, liên tiếp không dứt. Gần đây, châu Hãn xảy ra động đất, sau đó là nạn binh đao, đến nay vừa mới ổn định, lúc này lại có núi đá ở Đăng, Lai sụp đổ. Tai dị như vậy, e rằng không phải vô cớ.

Xét lại lời nói trong các sách xưa, đất chủ về âm, âm là đạo của bề tôi, của dân, của man di. Suy ra việc hiện nay, phàm những người giữ trọng trách trong ngoài, nếu không có bề tôi quyền thế, thì việc đáng lo hiện nay là phòng bị địch bên ngoài và vỗ về dân bên trong. Hai kẻ địch ở Tây Bắc, triều đình coi là mối lo lớn, nên việc phòng thủ vốn đã được chú trọng. Còn ở vùng Hồ, Tương, man di gây rối, một phương lầm than, bảy năm chưa giải quyết xong, gần đây sự xung đột đã lan đến Lĩnh Ngoại, nếu không sớm dẹp yên, việc này cũng không thể xem thường.

Hơn nữa, khí thế ở Hải Nam, Giao Chỉ ngày càng mạnh, đường thông với Ung, Dung, lại liên kết với các động, việc phương Nam cần phải được kinh lược. Xưa, thời thịnh trị của nhà Đường, nhiều lần gặp nạn ở Trung Nguyên, giặc Phiên Nhung hai lần vào kinh thành, nhưng triều đình sớm lại yên ổn. Đến thời Ý Tông, An Nam đô hộ Lý Trác không biết vỗ về, giặc man xâm nhiễu, dẫn đến việc dùng binh, độ chi khốn đốn vì cung cấp lương thực, phương trấn mệt mỏi vì thay phiên canh giữ, từ đó xảy ra biến loạn Bàng Huân ở Từ Châu nổi dậy, thiên hạ vì thế mà nguy loạn.

Như vậy có thể thấy, việc thường khởi phát từ chỗ nhỏ nhặt, họa thường thành từ chỗ xem thường.

Đến như hai lộ Kinh Đông và Kinh Tây, là gốc rễ của Trung Quốc, là bình phong của kinh đô, là nơi dựa vào lúc nguy cấp, thường cần phải yên ổn để trấn giữ thiên hạ. Nhưng thường lo ngại vì giặc cướp ẩn náu trong đó, may mắn là năm nào được mùa[12], nên chúng không thể liên kết lớn. Nếu vì biên cảnh mà thêm vào nạn đói kém, pháp luật không đủ trị bọn gian tà, thì loạn lạc ắt bắt đầu từ thôn xóm.

Vì sao nói vậy? Từ đầu niên hiệu Khánh Lịch, triều đình sai các quan chia nhau đến các lộ Kinh Đông, Kinh Tây, chiêu mộ những trai tráng khỏe mạnh làm lính cung thủ sung vào quân Tuyên Nghị, sau lại cho phép họ thuê người thay thế. Lúc đó, thần làm quan ở Viện Gián, đã cố tranh luận việc này, nhưng triều nghị đã quyết định, không dừng lại.

Nay sức dân kiệt quệ, quốc khố trống rỗng, đều do việc này mà ra. Các châu quân Tuyên Nghị đều tập hợp những kẻ lười biếng, không phải là những người có tài lực, kỹ năng được tuyển chọn. Vì giặc ở quân Quang Hóa nổi dậy, triều đình đã xử lý không đúng, nuông chiều quá mức, như nuôi con hư, khiến chúng sinh oán hận.

Khi thần ở Viện Thẩm Hình, các châu dâng lên văn án về binh sĩ Tuyên Nghị, ngày nào cũng có[13], lớn thì mưu giết quan lại, cướp kho tàng, nhỏ thì mưu cướp dân làng, vào rừng núi, nhiều thì ba năm mươi người, ít cũng một hai mươi người, vì phần thưởng tố cáo cao[14], nên có mưu đồ là bị tố cáo ngay. Dù có luyện tập, cũng như trò trẻ con, không ích gì cho quân quốc, chỉ làm hao tổn của công tư, không phải đi lính, không phải lao dịch, chỉ nghĩ đến loạn lạc, nếu có cơ hội, ắt sẽ hưởng ứng, đó là mầm loạn thứ nhất.

Lúc đầu tuyển chọn trai tráng, đã qua nhiều lần huấn luyện, đao thương cung nỏ đều từng tập luyện. Nhưng sau khi chiêu mộ, lại thuê người thay thế, còn bản thân những trai tráng này có sức khỏe, đều không chịu làm ruộng, thích lười biếng, quấy nhiễu làng xóm, ức hiếp kẻ yếu, đổ xô đến mỏ để kiếm lợi, buôn trà muối vi phạm pháp cấm. Nếu gặp năm mất mùa, chúng sẽ xúi giục dân lưu tán, kết thành giặc cướp, ắt sẽ bắt đầu từ những kẻ này, như Hoàng Sào, Lý Nhượng đời Đường, đó là mầm loạn thứ hai.

Lại nữa, dân hai lộ Kinh Đông, Kinh Tây phần nhiều tin theo yêu thuật, trong các thôn xóm nhỏ, thường lập đền thần, dân đen mê muội, tin vào họa phúc, thường tụ tập lại, theo nhau tán loạn, che giấu lẫn nhau, quan phủ không biết được, chỉ biết sợ thần, không còn sợ pháp luật, dần dà lan rộng, sợ rồi thành tục. Năm Trung Bình thứ nhất đời Hán, giặc Khăn Vàng nổi dậy khắp thiên hạ cùng một ngày, tổng cộng ba mươi sáu vạn người, đều có thủ lĩnh, do tích tụ yêu thuật mà thành, như Lư Tuần đời Tấn, đây là việc thường xảy ra qua các đời, đó là mầm loạn thứ ba.

Cái gọi là điềm địa chấn, nếu ứng vào dân và kẻ địch, đó là điều đáng lo nhất vậy!

Đàm Châu Lưu Quỳ là người thanh cao, nhưng e rằng không phải là nhân tài ứng phó việc lớn. Các quan lại trưởng ở Ung Châu, Quế Châu cần phải chọn lựa người có tài lược, tuyên dương kỷ luật, dần dần tìm cách giải tán binh lính dư thừa. Những dân đinh trước đây nằm trong sổ cường tráng, nếu vi phạm pháp luật, cần phải thiết lập biện pháp nghiêm ngặt riêng.

Nghe nói trong dân gian vẫn còn nhiều binh khí từ thời huấn luyện, cũng nên nghiêm cấm và thu hồi về quan. Các đền thờ thần ở thôn xóm, lệnh cho địa phương phá hủy, bí mật điều tra bắt giữ những người tập tục yêu thuật. Đây cũng là đại lược của việc phòng ngừa loạn lạc, mong được chấp nhận và thi hành.”

[51] Chiếu rằng những người được tuyển chọn trong quá trình khảo sát, nếu từng xử án sai dẫn đến tội chết mà chưa quyết định, đợi khi tái nhiệm có người tiến cử đủ tiêu chuẩn thì cho dẫn kiến. Nếu đã quyết định, phải ba lần mới tính. Nếu xử sai dẫn đến tội chết hai người trở lên, dù được chỉ cải quan, vẫn phải nhận chức kinh quan thứ đẳng, theo hội yếu tháng 10 năm thứ 6.

[52] Tháng 11, ngày Đinh Sửu, mùng một, chiếu rằng các nơi trong thiên hạ thiết lập tuần tra, những nơi không có tiền công sứ, từ nay lấy tiền tỉnh cấp phát.

[53] Ngày Kỷ Mão, sai Trứ tác tá lang Sở Kiến Trung đến Diên Châu cùng bàn việc phân định biên giới với nước Hạ, vì Trương Tử Thích bị bệnh mất dọc đường. Kiến Trung lúc đó đang quản câu Phu Diên Kinh lược tư cơ nghi văn tự, cùng người Hạ là Dương Thủ Tố bàn việc địa giới. Có đám đông ập đến, hai kỵ binh nhẹ xông lên trước, giương cung nhắm Kiến Trung. Kiến Trung vạch áo bảo họ bắn, nói: “Ta không sợ chết, chỉ sợ gây họa cho hai nước[15].” Mọi người đều phục khí lượng của ông. (Việc này căn cứ vào Thái Lăng lục phụ truyền, cần xem xét thêm.)

[54] Ngày Nhâm Ngọ, cách chức Phó sứ Lạc Uyển Lưu Hóa Cơ của quan phiên Diên Châu, giáng làm Phó suất Hữu Nội suất phủ của Thái tử, giám đương ở Kinh Tây. Trước đây, Hóa Cơ cướp đoạt phụ nữ và dê ngựa của bộ lạc Nguy Bố, lại dùng quan tiền đổi ngựa với bộ lạc, thu lãi 299.000 đồng, theo luật đáng tội chết, nhưng vì từng có chiến công, nên đặc cách tha tội.

[55] Ngày Quý Mùi, Ty Chuyển vận Quảng Đông tâu rằng, giặc người Dao ở Hồ Nam hơn nghìn người cướp phá vùng giáp giới hai châu Anh và Thiều. Triều đình đã dùng kế sách của Tống Thủ Tín, phát đại binh đi đánh giặc Dao. Giặc chạy trốn vào núi Hoàng Mãng thuộc châu Sâm, từ động Triệu chuyển sang vùng giáp giới hai châu Anh và Thiều, dựa vào núi để tự bảo vệ, thỉnh thoảng lại ra cướp bóc.

[56] Ngày Ất Dậu, xuống chiếu cho Diệp Thanh Thần, người đang giữ chức Tri Thanh Châu, lo việc phòng bị các châu quận ven biển để chống giặc, rồi tâu lên.

[57] Ngày Đinh Hợi, Vua nói với các quan phụ tá rằng: “Giặc Dao quấy nhiễu các châu huyện, quân lính phải chịu nhiều khổ cực, nên bí mật dụ bảo các chủ tướng phải hết lòng an ủi, chăm sóc họ.”

[58] Ngày Mậu Tý, Hàn lâm học sĩ kiêm Long đồ các học sĩ, quyền Tam ty sứ Vương Củng Thần được bổ làm Thị độc học sĩ kiêm Long đồ các học sĩ, Tri Bạc Châu, theo lời thỉnh cầu của Củng Thần. Hôm sau, có chỉ nội giáng lệnh cho Củng Thần ở lại hầu kinh diên, nhưng Trung thư chấp tấu không thi hành, Củng Thần bèn xin đổi làm Tri Trịnh Châu, Vua đồng ý. Thị ngự sử Cổ Tiệm, Giám sát ngự sử Hà Đàm đều dâng tấu hặc tội Củng Thần mưu cầu chỉ nội giáng, xin trị tội, nhưng không được trả lời.

(Việc Củng Thần từ chức Tam ty sứ ra làm Tri Bạc Châu và việc Trung thư chấp tấu, sử sách đều không ghi rõ. Đến tháng 7 năm Chí Hòa thứ 2, Triệu Biện hặc tội Củng Thần trước kia giữ chức Kế ty[16], vì tiến cử hào dân Trịnh Húc mà phạm tội bị cách chức[17], cần phải khảo cứu thêm. Việc Củng Thần đổi làm Tri Trịnh Châu là vào ngày Kỷ Dậu tháng 12, nay gộp chung vào đây. Hà Đàm trong bài tấu nghị có nói, Thị ngự sử Cổ Tiệm đã từng luận tội, nay phụ chép vào đây.)

Hữu Gián nghị đại phu, quyền Ngự sử trung thừa Trương Phương Bình được bổ làm Hàn lâm học sĩ, quyền Tam ty sứ. Việc muối ở Hà Bắc đặt tại hai châu Thương và Tân, châu Thương có ba sở, châu Tân có bốn sở, mỗi năm thu thuế 9.145 thạch để cung cấp cho một lộ, trước đây còn cung cấp cho ba châu Truy, Thanh, Tề ở Kinh Đông, nhưng sau khi ba châu này thông thương thì không cung cấp nữa. Từ niên hiệu Khai Bảo trở đi, muối ở Hà Bắc cho phép người dân buôn bán, nhà nước thu thuế, mỗi năm thu được 15 vạn quan tiền.

Có người dâng thư xin cấm buôn bán để thu lợi bị bỏ sót, lúc đó Dư Tĩnh đang làm Gián quan, liền tâu rằng: “Từ khi có việc quân sự năm ngoái, dân Hà Bắc bị tuyển chọn làm nghĩa dũng, cường tráng và các khoản thuế khóa khác, mấy năm qua chưa được nghỉ ngơi. Thần thường đau xót vì đất Yên Kỷ rơi vào tay địch đã gần trăm năm, mà dân quên đi lòng hướng về phương Nam, là do pháp luật ngoại vực đại thể đơn giản, muối và rượu đều rẻ, thuế khóa và dịch vụ không phiền hà.

Trước đây Thái Tổ hoàng đế đặc biệt ban ân huệ cho Hà Sóc, nên cho phép thông thương muối, chỉ thu thuế. Nay nếu đột nhiên cấm đoán, giá muối ắt sẽ tăng vọt, dân nếu oán hận thì hối hận sao kịp! Vả lại đất Hà Sóc nhiều mặn, dân nghèo đất thuế không trồng được ngũ cốc, chỉ có thể nạo muối mặn để nộp hai thứ thuế.

Nay nếu cấm, họ ắt sẽ bỏ trốn, giá muối cao thì kẻ phạm pháp sẽ nhiều, dân biên giới oán hận, chẳng phải là phúc của nước. Xin hãy cho tiếp tục thông thương như cũ, đừng tăng giá muối để kích động lòng oán của dân.” Bàn luận ấy bèn bị bỏ qua.

(Việc bàn cấm muối ở Hà Bắc, sách 《Thực lục》 không chép, chỉ còn bản tấu của Dư Tĩnh. Đến khi Vương Củng Thần tâu xin lập pháp cấm muối, lúc đó Dư Tĩnh đã bị cách chức lâu rồi. Trước đó đã có người đề xuất ý kiến này, Dư Tĩnh bàn là không thể làm, nên bỏ.

Sau đó Vương Củng Thần làm Tam ty sứ, lại bàn thi hành, nhưng bị quan chuyển vận Hà Bắc ngăn trở, mà quan chuyển vận Hà Bắc lại bàn tăng thuế, Vương Củng Thần lại lập pháp cấm muối, chưa ban hành thì Trương Phương Bình đã vội tâu xin bãi bỏ. Sách 《Thực lục》 và 《Quốc sử》 đều chép sơ lược, nay tham khảo bản tấu của Dư Tĩnh và 《Thực hóa chí》 cùng bia mộ của Trương Phương Bình để tu bổ vào.

Đến khi Củng Thần làm Tam ty sứ, Củng Thần năm đó tháng giêng ngày Mậu Tý, lấy chức Hàn lâm học sĩ kiêm Long đồ các học sĩ, quyền Tam ty sứ. Lại đề nghị đánh thuế muối ở hai châu, đưa ý kiến xuống địa phương, Đô chuyển vận sứ Ngư Chu Tuân cũng cho là không nên, sách gốc chép là Đô chuyển vận sứ Hạ Sơ, sai rồi. Tủng tháng tám năm thứ 5 làm Phán Tịnh châu, tháng hai năm thứ 6 đổi sang Đại Danh. Củng Thần tháng mười Một ngày Mậu Tý bãi chức Tam ty sứ, ra làm Tri châu Bạc, Trương Phương Bình thay thế. Khi Củng Thần ở Tam ty, Tủng không có lý do lại làm Đô chuyển vận sứ. Căn cứ vào tấu nghị của Hà Đàm, người làm Đô chuyển vận sứ là Ngư Chu Tuân[18].

Vương Nham Tẩu đầu năm Nguyên Hựu tấu nghị, cũng nhầm Ngư Chu Tuân là Hạ Tủng. Lại nói: “Thương nhân buôn muối, cùng lại thuộc các châu huyện đi qua thông đồng làm bậy, số thuế thu được chưa được hai ba phần. Xin ra lệnh cho các châu huyện thu thuế một phần mười, cho phép thương nhân đến châu huyện bán muối nộp thuế, mỗi năm có thể thu được hơn bảy mươi vạn quan tiền.”

Tam ty tấu xin dùng kế sách đó, Vua nói: “Khiến dân phải ăn muối đắt, há phải ý Trẫm sao!” Do đó Tam ty lại đặt ra phép đánh thuế nhưng chưa ban hành, Phương Bình vào yết kiến Vua, hỏi: “Hà Bắc lại đánh thuế muối, sao vậy?” Vua nói: “Mới bàn định lập pháp[19], không phải lại đánh thuế.”

Phương Bình nói: “Chu Thế Tông đánh thuế muối Hà Bắc, phạm tội thì xử tử. Thế Tông Bắc phạt, phụ lão chặn đường khóc kể, xin lấy tiền thuế muối chia đều vào hai khoản thuế mà bỏ lệnh cấm, Thế Tông đồng ý. Nay tiền thuế muối hai khoản thuế là vậy, há chẳng phải lại đánh thuế sao? Huống chi nay chưa đánh thuế, mà Khiết Đan thường buôn lậu không ngừng, nếu đánh thuế, thì muối đắt, muối địch càng bán được, ấy là ta gom oán mà khiến địch được phúc vậy[20]. Muối địch càng nhiều, không dùng binh thì không thể cấm, biên giới một khi xảy ra xung đột, số lợi từ muối thu được, có bù nổi chi phí dùng binh không?”

Vua chợt hiểu ra, nói: “Khanh bảo tể tướng lập tức bãi bỏ đi.”

Phương Bình nói: “Pháp tuy chưa ban hành, dân đã biết cả rồi[21], nên thẳng thắn dùng chiếu chỉ bãi bỏ, không thể để từ cơ quan ban ra.” Vua rất mừng, sai Phương Bình soạn thảo chiếu chỉ bí mật ban hành[22], phụ lão Hà Sóc cùng nhau đến Thiền châu bái nghênh, làm hội Phật Lão bảy ngày để báo ơn Vua, lại khắc chiếu chỉ ở Bắc Kinh. Sau đó phụ lão đi qua nơi có chiếu chỉ, đều cúi đầu khóc lóc.

(《Thực hóa chí》 chép: Tam ty tấu xin dùng kế sách đó, Nhân Tông nói: “Khiến dân phải ăn muối đắt, há phải ý Trẫm sao!” Hạ chiếu không cho phép. Nếu không cho phép yêu cầu của Tam ty, thì không cần hạ chiếu, nay đã hạ chiếu, ắt là đã lập pháp nhưng chưa thi hành. 《Mộ chí》 chắc là đúng sự thật, nay theo đó. 《Thực hóa chí》 không chép việc của Phương Bình, ấy là sơ lược vậy. Tháng sáu năm Hi Ninh thứ tám, Chương Đôn lại bàn đánh thuế muối.)

Giám sát ngự sử Hà Đàm cũng tâu rằng: “Thần trộm thấy các châu ở Hà Bắc sản xuất muối, từ năm Khai Bảo đời Thái Tổ đã ban chiếu bãi bỏ cấm buôn, chỉ thu thuế, đến nay đã nhiều năm, dân được hưởng lợi. Gần đây nghe các quan bàn kế, muốn độc quyền mua muối ở Thương, Tân nhập vào quan, chiêu mộ thương nhân đưa lương thảo lên biên giới để tính toán.

Nếu muốn độc quyền muối ở Thương, Tân, thì phải cấm các châu nhỏ làm muối, nếu không cấm thì sẽ xâm phạm lợi ích của quan, nếu cấm thì mười mấy châu quân từ đây dân sẽ chịu thiệt. Vì sao? Hà Bắc một lộ, ngoài Thương, Tân có muối, còn các châu như Thâm, Ký, Hình, Minh mười mấy châu, đất nhiều mặn chua, không thể canh tác, dân chỉ sống bằng nghề nấu muối nhỏ, y phục, thuế má đều từ đó mà ra. Nếu cấm đoán, một khi dân nghèo thất nghiệp, tản mát làm giặc, thì lo ngại không nhỏ.

Gần đây do triều đình chỉ thị, xuống lệnh cho Đô chuyển vận ty của lộ này xem xét, việc tuy chưa thi hành, nhưng lòng dân đã rất nghi ngờ. Huống chi các loại muối ở lộ này, quan đã lâu định mức thuế, mỗi năm thu được lợi ích cũng không ít, nay dù đổi sang phép độc quyền, hoặc thương nhân chưa tin, không đến tính toán, thì số thuế thu được chưa chắc đã tăng. Lại nghe Đô chuyển vận sứ Ngư Chu Tuân đã trình bày rõ lợi hại, cũng cho rằng phép độc quyền không thể thi hành, chỉ xin tăng thuế.

Thần nghĩ việc này đối với Hà Bắc lợi hại rất lớn, xin tạm ngừng việc độc quyền muối mà các quan xin. Nếu triều đình đã quyết định không thi hành, nhưng sợ dân ở đó chưa biết, cũng xin chỉ thị cho các châu quân ở lộ này, bảo cho dân biết triều đình nay vẫn dùng phép cũ, không thi hành cấm độc quyền, để dân một phương yên ổn làm ăn.”

[59] Ngày Quý Tỵ, vì giảng xong sách 《Thi》, mở tiệc ở điện Sùng Chính cho các quan cận thần, tông thất và các quan giảng đọc.

[60] Ngày Tân Sửu, Vua đi săn ở thôn Đông Hàn phía nam thành, từ vườn Ngọc Tân xuống xe lên ngựa, chia hàng nghìn kỵ sĩ làm hai cánh tả hữu, theo thứ tự cờ trống, vây bắt trong khu vực rộng hơn mười dặm, các đội quân phối hợp nhịp nhàng. Vua nắm cương ngựa đi giữa đường, tự tay cầm cung tên, bắn trúng nhiều con thú.

Lúc đó, dân cư ven đường có người nuôi cáo, thỏ, vịt trời, gà lôi, đuổi vào trong khu săn, Vua bèn nói với các quan phụ tá: “Săn bắn là để rèn luyện võ nghệ, không phải chỉ cốt bắt được thú.” Rồi ra lệnh thả hết chúng đi. Đến quán Cức, Vua vào trướng điện, triệu hỏi các bậc phụ lão và con cháu về số người được cung dưỡng, đất đai trồng trọt thích hợp, lại than thở về việc họ ăn mặc thô sơ mà được sống lâu, rồi ban lời an ủi.

Khi trở về, dừng chân ở ngoại thành, sai vệ sĩ biểu diễn võ nghệ trước xa giá, từng đôi đấu với nhau, giương cương múa giáo để phân thắng bại, Vua lại nói với các quan phụ tá: “Đây cũng là dịp để xem tài năng và dũng khí của binh sĩ.” Miễn thuế ruộng một năm cho dân ở những nơi đi qua trong khu săn.

Lúc đó, Lý Đức Chính ở Giao Chỉ vừa sai sứ là Thư ký thừa Đỗ Văn Uất dâng voi thuần, chưa được yết kiến, Vua đặc cách cho vào xem, ban áo tía, đai vàng.

[61] Tháng 12, ngày Bính Ngọ, mùng một, sai quan cầu tuyết.

[62] Ngày Kỷ Dậu, xuống chiếu cho chợ biên giới ở Bảo An quân và Trấn Nhung quân mỗi năm mua hai nghìn con ngựa, mua một vạn con dê.

[63] Ngày Nhâm Tý, tuyết rơi.

[64] Xuống chiếu cho các châu, thông phán, quan coi quân ở Kinh Đông lộ đều theo cách chọn người của ba lộ châu quân.

[65] Ngày Bính Thìn, sai Nội áp ban Trương Duy Cát sửa chữa điện thờ ba vị thánh ở cung Hồng Khánh, Nam Kinh.

[66] Ngày Kỷ Mùi, xuống chiếu: Các ngày Tam nguyên tiết, Hạ chí, Lạp nhật từ nay đều được nghỉ việc.

[67] Ngày Canh Thân, xuống chiếu: Người có kỹ thuật từ nay không được giữ chức Đô giám, Giám áp binh mã trong kinh.

[68] Ngày Bính Dần, người Man ở An Hóa châu là Mông Quang Tốc đến cống vật phẩm địa phương.

[69] Ngày Tân Mùi, mẹ Vua nước Khiết Đan sai Hoài Hóa quân Tiết độ sứ Gia Luật Động, Sùng Lộc khanh Thạch Hữu, Khiết Đan sai Chiêu Đức quân Lưu hậu Gia Luật Nghi, Thiếu phủ giám Hàn Vận đến chúc mừng ngày Chính đán.

[70] Ngày Nhâm Thân, đặt chức Đề cử Tuần kiểm, Tróc tặc mỗi chức một người ở hai lộ Kinh Đông, lấy các châu Nghi, Mật và quân Hoài Dương làm một lộ, các châu Đăng, Lai, Truy, Thanh, Duy làm một lộ.


  1. chữ 'du' nguyên là 'tại', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản và Tống sử toàn văn, Tống sử quyển 320, Dư Tĩnh truyện sửa lại.
  2. 'Có' nguyên là 'Dùng', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Tống sử》 quyển 317, truyện Tiền Ngạn Viễn sửa.
  3. 'Áo rộng' nguyên là 'váy', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống sửa.
  4. 'Thu thuế' nguyên là 'tài sản', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Tống sử》 quyển 317, truyện Tiền Ngạn Viễn sửa.
  5. Chữ 'thời' nguyên bản thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Biên niên lục》 quyển 5 bổ sung.
  6. Chữ 'nhân' nguyên bản viết 'cố', theo 《Biên niên lục》 sửa lại.
  7. Chữ 'thất' nguyên bản viết 'thử', xét 'thử niên' là năm Khánh Lịch thứ 6, không hợp với sự việc. Lại xét 《Tục tư trị thông giám trường biên》 quyển 160 và 《Tống sử》 quyển 11, 《Nhân Tông kỷ》 đều chép tháng 3 năm Khánh Lịch thứ 7, ngày Ất Mùi, bổ nhiệm Ngô Dục làm Cấp sự trung quy ban; ngày Đinh Dậu, bổ nhiệm Cao Nhược Nột làm Xu mật phó sứ, vậy chữ 'thử' thực là sai của chữ 'thất', nay theo đó sửa lại.
  8. theo 《Tống sử》 quyển 252, truyện Quách Thừa Hữu: 'Tiền Minh Dật tâu rằng Thừa Hữu không liêm khiết, dân Hình Châu vốn đã chán ghét khổ sở vì ông ta', khác với câu này.
  9. Chữ 'thượng' trong câu 'khủng thượng luỹ thánh đức' vốn bị thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 《Tống sử》 quyển 298, truyện Mai Chí bổ sung.
  10. Chữ 'tất' trong câu 'chí ngôn diệc tất tại thị nguyệt' vốn viết là 'tức', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và các bản khác sửa lại.
  11. Nhập nội điện đầu Lý Kế Hòa vì có công lao trong việc phách hoạch khoán mã, chữ 'tích' nguyên là 'tục', theo bản các và 《Tống hội yếu》 chức quan 36/1 sửa lại.
  12. 'Phong' nguyên là 'Nông', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Lạc Toàn Tập》 quyển 22, bài 'Luận địa chấn thỉnh bị khấu đạo sự' sửa lại.
  13. 'Nhật', trong 《Lạc Toàn Tập》 là 'Nguyệt'.
  14. 'Lợi', bản Tống và 《Lạc Toàn Tập》 là 'Khoa'.
  15. Sợ gây họa cho hai nước, 'hai' nguyên là 'tây', theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa.
  16. Chữ 'kế' nguyên bản viết là 'kí', xét thấy chữ 'kí' ở đây không hợp nghĩa, sách 《Tống sử》 quyển 318, truyện Vương Củng Thần chép rằng Củng Thần 'lại lấy chức Hàn lâm học sĩ quyền Tam ty sứ', Tam ty tức là Kế ty, nay căn cứ theo sách này quyển 180, ngày Mậu Thìn tháng 7 năm Chí Hòa thứ 2 mà sửa lại.
  17. Chữ 'hào' nguyên bản viết là 'bạc', căn cứ theo bản trong các bộ sách khác mà sửa lại, đoạn trên dẫn 《Tống sử》 truyện Vương Củng Thần chép câu này là 'vì tội tiến cử phú dân Trịnh Húc mà ra làm Tri Trịnh Châu', có thể làm chứng.
  18. Người làm Đô chuyển vận sứ là Ngư Chu Tuân, chữ 'Ngư' nguyên bản thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 45 bổ sung.
  19. Mới bàn định lập pháp, chữ 'Lập' nguyên bản thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 45 về việc đánh thuế muối Hà Bắc, 《Biên niên cương mục》 quyển 13, 《Tống sử》 quyển 181 phần 《Thực hóa chí》 bổ sung.
  20. Ấy là ta gom oán mà khiến địch được phúc vậy, chữ 'Phúc' nguyên bản là 'Lợi', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Tống sử》 quyển 181 phần 《Thực hóa chí》 sửa.
  21. Dân đã biết cả rồi, chữ 'Hộ' nguyên bản thiếu, theo các bản trên và sách trên bổ sung.
  22. Sai Phương Bình soạn thảo chiếu chỉ bí mật ban hành, chữ 'Mệnh' nguyên bản là 'Lệnh', theo các bản trên và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 45 về việc đánh thuế muối Hà Bắc, 《Biên niên cương mục》 quyển 13, 《Tống sử》 sửa.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.