IV. TỐNG NHÂN TÔNG
[BETA] QUYỂN 177: NĂM CHÍ HÒA THỨ NHẤT (GIÁP NGỌ, 1054)
Từ tháng 9 năm Chí Hòa thứ nhất đời Vua Nhân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.
[1] Tháng 9, ngày Tân Dậu mùng một, Dương Sát, quyền Tam ty sứ, Hàn lâm học sĩ, kiêm Đoan Minh điện học sĩ, Hàn lâm thị độc học sĩ, Lễ bộ Thị lang, Tri chế cáo, được bổ nhiệm làm Hộ bộ Thị lang, Đề cử Tập Hi Quan sự. Nội thị Dương Vĩnh Đức dâng tấu xin đặt trạm thủy dịch trên sông Thái, sông Biện. Dương Sát dâng sớ nêu rõ những bất tiện, việc này bị bãi bỏ, Vĩnh Đức bèn gièm pha Dương Sát với Vua. Tam ty có vụ án, lời khai có liên quan đến vệ sĩ, Hoàng thành ty không lập tức giải giao, mà có chiếu chuyển giao cho Khai Phong phủ thẩm vấn. Dương Sát do đó xin từ chức, Vua đồng ý.
Tri gián viện Phạm Trấn tâu: “Bên ngoài đều bàn tán rằng Sát gần đây vì điểm kiểm kho nội y tích trữ lụa là và kiến nghị việc trạm dịch đường thủy không tiện, lại nói kho nội tàng không nên mua giấy bạc, lại nói lại dịch ở trường hương nhận hối lộ, Hoàng thành ty chiếm giữ quan thân tòng không giao ra ngoài xét hỏi. Những việc này đều là những điều hại chính thương lý lớn, Tam Tư vốn nên bàn luận, nhưng bọn tiểu nhân gian tà đã dùng nhiều cách ngăn trở phá hoại, khiến ông ta xin từ chức, triều đình liền thuận theo lời xin, thần thật tiếc cho bệ hạ. Việc phân biệt tà chính là then chốt của trị loạn, không thể không xem xét kỹ.
Bệ hạ cho rằng những điều Sát trình bày là tà hay chính? Nếu cho là chính, thì nên để Sát tiếp tục đảm nhiệm việc lớn, để ngăn chặn con đường của kẻ gian; nếu cho là tà, thì không nên cải chức, để ông ta được nhàn hạ. Mấy ngày nay, mặt trời không sáng, trời u ám, muốn mưa mà không mưa, đó là điềm báo kẻ tà được dùng, mà tấm lòng trung lương không thông lên trên. Bệ hạ nên đem bốn việc Sát tranh luận, giao cho Trung thư, Xu mật đại thần xem xét rõ đúng sai, giao cho hữu ty thi hành theo công lý, khôi phục chức vụ của Sát, để trên ứng với thiên biến, dưới thỏa lòng người.”
Điện trung thị ngự sử Triệu Biện cũng tâu: “Nếu Sát có tội, thì không nên chuyển chức, nếu vốn không có tội, thì không nên vội bãi. Xin cho giữ nguyên chức vụ cũ, thu hồi mệnh lệnh mới.” Không được trả lời.
Biện là người Tây An. Biện làm ngự sử, đàn hặc không nể nang quyền thế, đương thời gọi là Thiết diện ngự sử.
[2] Trước đó, Diêm thiết phán quan, Tư phong viên ngoại lang Vương Đỉnh làm chức Phó sứ Chế trí phát vận Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ. Nội thị Dương Vĩnh Đức xin đặt các trạm dọc sông Biện để kéo thuyền chở lương, mỗi năm có thể tiết kiệm được sáu vạn lính. Vương Đỉnh bàn rằng không nên làm như vậy. Vĩnh Đức là người ngang ngược xảo quyệt, các quan chấp chính nể mặt không dám trái lời tâu của ông ta, bèn sai một viên Tam ty phán quan đưa Vĩnh Đức đến bàn với Vương Đỉnh. Vương Đỉnh nêu ra tám điều khó, Vĩnh Đức không thể đáp lại được. Vương Đỉnh nhân đó dâng sớ nói: “Bệ hạ may mắn dùng thần, không nên quá nghe lời kẻ tiểu nhân, vội vàng thay đổi, làm hỏng kế sách quốc gia.” Do đó, lời tâu của Vĩnh Đức không được dùng.
Sau hai năm, Vương Đỉnh được bổ làm Chế trí phát vận sứ. Vương Đỉnh làm Phó sứ Chế trí phát vận vào tháng tư ngày Tân Dậu, nay nhân việc Dương Sát bãi chức Tam ty, xin được ghi chép kèm theo. Các vị sứ giả trước đây thường mua bán các vật phẩm phương Nam, nhân dịp tâu việc lên kinh đô, đem biếu các quyền quý. Vương Đỉnh không mua bán gì cả, chỉ chuyên tâm lo việc quan, việc lớn nhỏ đều tự mình quyết định. Mỗi khi điều động quan lại, ông đều căn cứ vào khoảng cách xa gần của đường vận chuyển để quyết định thứ tự trước sau, lập thành quy định, nhờ đó công việc được phân bổ đều, quan lại không thể làm điều tư lợi.
Thuyền quan cấm chở hàng tư, binh thuyền không có gì để tự nuôi sống, bèn trộm gạo quan để làm việc xấu. Có người buôn bán để tự nuôi sống, người trong chợ bắt họ phải theo pháp luật, không chịu bồi thường số tiền nợ, Vương Đỉnh bèn chuyển việc này cho châu huyện đốc thúc họ bồi thường. Người trên thuyền có cách tự nuôi sống, không làm việc xấu, và số gạo vận chuyển chưa bao giờ thiếu.
[3] Điện trung thừa Vương An Thạch làm Quần mục phán quan. Vương An Thạch cố từ chối việc được triệu thí, có chiếu chỉ cho ông làm việc tại kinh đô. Khi được bổ làm Quần mục phán quan, Vương An Thạch vẫn cố từ chối, Âu Dương Tu khuyên bảo, ông mới nhận chức.
Quán các hiệu khám Trầm Khang đến gặp Tể tướng Trần Chấp Trung, tự nói rằng mình nhiều lần xin làm Quần mục phán quan mà không được, Vương An Thạch không giữ chức vụ gì, lại có thâm niên ít hơn Trầm Khang, Vương An Thạch đã không muốn làm, xin được làm thay. Trần Chấp Trung nói: “Vương An Thạch từ chối việc triệu thí, nên triều đình ưu ái cho ông ta làm việc, há lại so đo tính toán về thâm niên. Hơn nữa, triều đình lập Quán các để đãi ngộ hiền tài trong thiên hạ, cũng nên lấy tước vị làm trọng, mà lại tranh giành như thế, ông nhìn Vương An Thạch, mặt mũi sao mà dày vậy.” Trầm Khang xấu hổ bỏ đi.
[4] Chiếu cho Chuyển vận sứ lộ Tử Châu rằng: “Nghe nói các Tri châu Nhung, Lô mỗi khi gặp giặc Man xâm phạm, dẫn quân đi tuần biên, nhưng trên đường đi thường bắt dân cung cấp lương thực, thịt. Giặc chưa đến mà dân đã bị quấy nhiễu. Hãy nghiêm cấm việc này.”
[5] Ngày Quý Hợi, Khởi cư xá nhân, Tri chế cáo Lã Trân và Công bộ lang trung, Tri chế cáo kiêm Thị giảng, Sử quán tu soạn Vương Chu đều được bổ làm Hàn lâm học sĩ.
Theo lệ cũ, Hàn lâm học sĩ có 6 người. Lúc đó, Dương Sát, Triệu Khái, Dương Vĩ, Hồ Túc, Âu Dương Tu đều là Hàn lâm học sĩ. Vì vậy, Dương Sát được thăng làm Thừa chỉ, còn Lã Trân và Vương Chu lại cùng được bổ làm Hàn lâm học sĩ. Vương Chu là người thứ 7. Khi Ôn Thành hoàng hậu qua đời, Vương Chu đã tìm cách làm những việc trái lễ, ngầm hợp với Thạch Toàn Bân để phụ họa thời thế. Trần Chấp Trung và Lưu Hãng ở Trung thư vui mừng vì có người giúp mình, nên đã đặc cách thăng chức cho Vương Chu. Người đương thời bàn tán không đồng tình.
[6] Ngày Giáp Tý, Khởi cư xá nhân, Trực Tập hiền viện, Đồng tu Khởi cư chú Ngô Khuê được thăng làm Binh bộ viên ngoại lang; Thái tử trung doãn, Trực Tập hiền viện, Đồng tu Khởi cư chú Lưu Xưởng đều được bổ làm Tri chế cáo, và Lưu Xưởng được giữ chức Hữu chánh ngôn. Trần Chấp Trung tâu rằng Ngô Khuê và Lưu Xưởng mới tu soạn Khởi cư chú chưa đầy một tháng, không nên thăng chức vội. Vua không nghe, nói: “Việc này đâu phải tính toán ngày tháng quan chức!” Ngày tạ ơn, Vua dặn rằng: “Những việc bất tiện bên ngoài, nếu nghe được, hãy báo cho Trẫm biết.”
[7] Ngày Ất Sửu, ban chiếu rằng: “Gần đây nghe nói sai quan sửa chữa các công sở ở kinh sư, ban đầu thường tính toán công liệu quá nhiều, sau đó lại lấy số dư để xin thưởng, nên việc sửa chữa không được hoàn chỉnh, bền lâu. Từ nay phải tính toán công liệu thực tế, tâu lên Tam ty. Nếu trong vòng 7 năm bị hư hỏng, các quan lại giám sát và thợ thuyền đều bị xét tội và tâu lên.”
[8] Ngày Bính Dần, Hàn lâm học sĩ Vương Chu dâng lên 《Chu lễ khí đồ》[1]. Trước đó, Vương Chu đọc 《Chu lễ》, Vua sai vẽ hình chế độ xe cộ, y phục, mũ miện, biên đậu, phủ quỹ. Đến khi bức họa hoàn thành, Vương Chu dâng lên Vua.
[9] Xu mật phó sứ Vương Nghiêu Thần chuyên lo việc ngăn chặn những kẻ may mắn bất chính, bấy giờ có kẻ khắc sách nặc danh bày ra khắp kinh thành để làm lung lạc tình hình quân sự, nhưng hoàng đế không tin.
Ngày Đinh Mão, xuống chiếu cho Khai Phong phủ dán bảng chiêu mộ người tố cáo, thưởng hai ngàn quan tiền; ai muốn nhập quan thì cho làm Bình sự Đại Lý tự hoặc Thị cấm; người đã có quan chức hoặc thuộc quân tịch thì được ưu tiên thăng chuyển; kẻ đang bị tội mà tự tố cáo thì đặc biệt miễn tội, cũng được ban thưởng; tăng đạo mặc áo nâu thì được ban áo tía, người đã mặc áo tía thì được ban hiệu sư, người đã được ban hiệu sư thì được làm tăng quan[2], nếu muốn được ban biển hiệu viện hoặc muốn độ cho đồng tử cũng đều được chấp thuận.
[10] Ngày Mậu Thìn, Tam ty sứ Vương Củng Thần tâu: “Các môn đặt thần ở trên hàng Quan văn, Tư chính điện học sĩ[3]. Nay Cao Nhược Nột, Ngô Dục đều là cựu thần của nhị phủ, mong được theo lệ gần đây, cho thần đứng dưới họ ở ngoại điện.” Đế đồng ý.
[11] Chương Đức tiết độ sứ, kiêm Thị trung, Phụ mã đô úy Vương Di Vĩnh tâu: “Vâng chiếu cho phép vào triều vào ngày sóc vọng, ân lễ rất hậu. Nay chân bệnh đã đỡ, xin được năm ngày vào triều một lần.” Đế đồng ý.
[12] Ngày Kỷ Tỵ, ở Nhĩ Anh các giảng sách 《Chu Lễ》 câu “gặp năm đói kém lớn, dịch bệnh lớn thì giảm thuế khoan hình”, Dương An Quốc nói: “Cái gọi là khoan hình là đối với dân vì lỗi lầm mà phạm tội, gặp năm mất mùa thì tha cho họ, thương xót họ vì cùng khốn. Nay nhiều kẻ cầm vũ khí cướp lương thực, nếu khoan hồng hết thì e rằng không đủ để ngăn chặn kẻ gian.” Đế nói: “Không phải vậy, thiên hạ đều là con đỏ của ta. Gặp năm đói kém, châu huyện không thể cứu giúp, vì bị đói khát bức bách nên mới thành giặc, lại bắt giết họ, chẳng phải quá đáng sao!”
[13] Ngày Nhâm Thân, Thị ngự sử Phạm Sư Đạo tâu rằng, xin bổ nhiệm các quan chức ở Viện Gián quan và Tri tạp ngự sử, nếu được thăng chức, không kể thâm niên, đều cho làm Phó sứ Tam ty, sau khi trải qua ba bộ, mới được thăng làm Đãi chế. Chiếu rằng từ nay các quan Gián quan và Tri tạp ngự sử khi thăng chức đều phải xin chỉ dụ.
(Việc này theo 《Hội yếu》 là ngày 12 tháng 9, không phải ngày Nhâm Thân tháng 12, nay ghi chép thêm.)
[14] Ngày Quý Dậu, chiếu rằng các quan lại xin bổ nhiệm người thân, không được dùng văn chức để lấn sang võ chức.
[15] Ngày Giáp Tuất, việc thu thuế ruộng đều ở Châu Thương, dân cho là bất tiện, nên lệnh thu như cũ. Việc này chắc liên quan đến Điền Kinh, có thể tra cứu vào tháng 8 năm Hoàng Hựu thứ 4.
[16] Ngày Ất Hợi, Khiết Đan phái Trung chính Tiết độ sứ, Đồng bình chương sự Tiêu Đức, Hàn lâm học sĩ, Tả Gián nghị đại phu, Tri chế cáo, Sử quán tu soạn Ngô Trạm đến báo việc hòa bình với nước Hạ, và nói: “Đã giao hảo 50 năm, Khiết Đan chủ nhớ Hoàng đế Nam triều, không có dịp gặp mặt, từng sai Gia Luật Phòng đến sứ, lén vẽ dung mạo Hoàng đế, nhưng chưa được chân dung. Muốn trao đổi chân dung, để thỏa lòng huynh đệ.” Đức lại xin dâng rượu và thức ăn của nước mình, nhưng không được chấp thuận.
(Việc trao đổi chân dung, triều đình có nhiều bàn luận, Triệu Biện dâng sớ là một trong số đó. Tô Tụng viết trong 《Hành trạng của Tôn Biện》 rằng: Có người lo rằng địch có được chân dung Hoàng đế, sẽ dám làm chú trớ, Biện nói không phải vậy, cuối cùng được chấp thuận. Trương Đường Anh trong 《Chính yếu》 nói rằng sau khi địch có được chân dung Hoàng đế, bày nghi trượng bái lạy và kinh ngạc. Nay không chép.)
[17] Ngày Đinh Sửu, chiếu cho Khai Phong phủ, từ nay phàm xử tử tù nhân, đều phải tâu lại. Trước đây, Khai Phong phủ nhận được trát tử của Xu mật viện, quân nhân phạm tội chết không có gì nghi ngờ, không cần tâu, nhưng với dân thường thì chưa có quy định rõ. Vua coi trọng nhân mạng, nên đến nay quân nhân cũng phải tâu lại.
[18] Ngày Tân Tỵ, Tam ty sứ, Lại bộ Thị lang Vương Củng Thần làm sứ đi tạ ơn nước Khiết Đan, Đức châu Thứ sử Lý Tuân làm phó sứ. Củng Thần yết kiến Khiết Đan chủ ở sông Hỗn Đồng. Hàng năm vào mùa xuân nước sông dâng cao, nước Khiết Đan thường tổ chức yến tiệc câu cá trên sông, chỉ có quý tộc và cận thần mới được tham dự, đây là một lễ nghi long trọng. Mỗi khi câu được cá, Khiết Đan chủ đích thân rót rượu mời Củng Thần, lại tự tay gảy đàn tì bà để mời rượu. Khiết Đan chủ nói với Tể tướng Lưu Lục Phù rằng: “Trạng nguyên trẻ tuổi của Nam triều, vào Hàn lâm đã mười lăm năm, ta nên đối đãi hậu hĩnh.”
Quốc mẫu nước Khiết Đan yêu quý con trai út là Tông Nguyên (theo 《Liêu sử》 phần Đế kỷ và Hoàng tử biểu đều chép là Trọng Nguyên), muốn lập làm người kế vị, hỏi Vương Củng Thần rằng: “Thái Tổ và Thái Tông của Nam triều có quan hệ thế nào?” Củng Thần đáp: “Là anh em.” Quốc mẫu nói: “Tốt lắm, thật là nghĩa khí.” Khiết Đan chủ lại hỏi: “Thái Tông và Chân Tông có quan hệ thế nào?” Củng Thần đáp: “Là cha con.” Khiết Đan chủ nói: “Tốt lắm, thật là lễ nghĩa.” Sau đó, Khiết Đan chủ đuổi hết người hầu, nói với Củng Thần: “Ta có đứa em ngỗ ngược, ngày sau nếu nó lên ngôi, e rằng Nam triều sẽ không được yên ổn.”
(Năm Chí Hòa thứ nhất, theo 《Vương Củng Thần biệt lục》, Khiết Đan chủ lại nói: “Về việc Tây giới trước đây báo tin ngừng binh, từ đầu không tuân theo mệnh triều đình, gây ra lỗi lầm ở biên giới, nên ta đã tiến hành chinh phạt. Vì địa giới của Nguyên Hạo nằm ở khúc quanh sông Hoàng Hà, ta đã dẫn quân tiến thẳng vào, chiếm được Đường Long trấn. Hàn Quốc đại vương dẫn thuyền lương đi vòng qua, ta vốn định tiêu diệt hết, nhưng vì Hàn Quốc đại vương phòng bị sơ hở, bị quân Tây người phục kích chặn đánh thuyền lương, nên thất bại. Nay họ đã đến tạ tội, ta tạm thời cho hòa.” Củng Thần đáp: “Trước đây Nguyên Hạo khiêu khích Nam triều, sau đó lại không thuận phục Bắc triều, ban đầu Nam triều cũng muốn dốc toàn lực tiêu diệt, nhưng bệ hạ nhiều lần gửi thư xin giải cứu, nên tạm thời cho hòa. Từ khi nghe tin hoàng đế thất bại, Nam triều rất không vui.” Khiết Đan chủ nói: “Hai nước anh em, đương nhiên biết là không vui.”
Củng Thần lại nói: “Nam triều cũng biết rằng công chúa Bắc triều trước đây đã hứa gả cho Nguyên Hạo, nhưng ông ta không đối đãi tử tế, khiến công chúa u uất mà chết.” Khiết Đan chủ nói: “Đúng là chết trong hận thù, nhưng đó chỉ là con gái hoàng tộc.” Củng Thần nói: “Dù biết chỉ là tông nữ, nhưng cũng phải xưng là công chúa của bệ hạ hạ giá, sao có thể đối xử như vậy! Nay nếu bệ hạ lại kết thông gia với họ, e rằng quá tự hạ mình.” Khiết Đan chủ nói: “Còn kết thông gia gì nữa, đến nay ta cũng chưa từng phong sách cho họ.”
Củng Thần lo rằng nếu họ lại kết thông gia thì sẽ bất lợi cho Trung Quốc, nên nhân cơ hội này mà khuyên nhủ. Củng Thần lại nói: “Nay bệ hạ tạm thời bao dung, cũng là việc tốt. Bệ hạ dùng binh với Tây Khương nhiều năm, số người chết và thắng bại cũng tương đương. Cổ ngữ nói rằng tranh thành thì giết người đầy thành, tranh đất thì giết người đầy đồng, đó đâu phải là việc tốt của đế vương nhân đức!” Khiết Đan chủ nói: “Đúng lắm.”
Trong sách thệ ước của hai triều có ghi chép điều này. Nay dùng làm chú thích để đợi khảo cứu, hoặc sẽ sửa vào phần chính văn.)
[19] Ngày Nhâm Ngọ, đưa hai con voi thuần của nước Khiết Đan.
[20] Ngày Quý Mùi, Lễ viện tâu rằng nơi an táng của Ôn Thành hoàng hậu, xin gọi là Ôn Thành Hoàng Hậu Viên Lăng, Vua đồng ý.
[21] Ngày Ất Dậu, khai quật lăng mộ Ôn Thành hoàng hậu, Vua không ngự ở tiền điện và hậu điện, bá quan dâng tên để tỏ lòng chia buồn. Ngự sử trung thừa Tôn Biện dẫn đầu thuộc hạ tâu rằng Lưu Hãng đã là tể tướng, không nên kiêm nhiệm chức Giám hộ sứ của Ôn Thành hoàng hậu, và nói rằng việc lập miếu và xây lăng đều không hợp lễ. Tấu chương dâng lên nhiều lần nhưng không được trả lời. Do đó, họ cùng nhau xin được đối đáp, cố tranh luận nhưng không thành, Tôn Biện quỳ gối không dậy, Vua đổi sắc mặt rồi cho lui.
(Các quan đài can gián việc tể tướng lo việc tang lễ, sách thực lục chỉ chép về Tôn Biện cùng Thị ngự sử Phạm Sư Đạo và Vô Thục ba người. Xét thấy Triệu Biện lúc đó là Điện trung thị ngự sử, cũng cùng dâng tấu, nhưng sách thực lục tình cờ bỏ sót. Nay chỉ nói là dẫn đầu thuộc hạ, tức là các quan đài đều có mặt.)
[22] Ngày Đinh Hợi, đổi mệnh cho Lưu Hãng làm Giám hộ sứ viên lăng Ôn Thành hoàng hậu, Thạch Toàn Bân làm Đô giám viên lăng, Lưu Bảo Tín làm Đồng giám hộ đô giám viên lăng.
[23] Chiếu rằng các chùa ở Ngũ Đài Sơn, châu Đại, thu nhận đồng tử xuất gia, nếu không có người bảo lãnh, thì không được ghi vào sổ tịch. Lúc đó, châu Hùng tâu rằng Khiết Đan sai người từ các châu Uất, Ứng, Vũ, Sóc đến Ngũ Đài Sơn xuất gia để do thám biên sự, nên ban hành điều ước này.
[24] Lễ viện xin rằng số lượng đồ tế khí trong miếu Ôn Thành hoàng hậu theo như số lượng của một gian trong miếu hoàng hậu, Vua đồng ý.
[25] Ngày Kỷ Sửu, sao Thái Bạch xuất hiện ban ngày.
[26] Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Mão, mùng một, sao Thái Bạch xuất hiện ban ngày.
[27] Ngày Nhâm Thìn, chiếu rằng từ nay, những người từng làm thuê trong nhà sĩ thứ không được kết hôn với người thân cùng ở của chủ, nếu vi phạm sẽ bị ly dị.
[28] Ngày Giáp Ngọ, Lễ viện tâu rằng việc dâng lễ vật mới bốn mùa và ngày sóc vọng trong miếu Ôn Thành hoàng hậu đều theo như miếu hoàng hậu, lệnh quan Tông chính tự lo việc này, Vua đồng ý.
[29] Ngày Bính Thân, các quan tể tướng dẫn đầu bá quan đến chùa Phụng Tiên làm lễ tế điện Ôn Thành hoàng hậu, Vua không ngự ở các điện trước và sau.
[30] Ngày Đinh Dậu, chôn cất Ôn Thành hoàng hậu. Vua ngự ở lầu Tây, nhìn quan tài để tiễn đưa, tự làm bài văn tế. Tể tướng dẫn đầu bá quan dâng tên để an ủi. Tri gián viện Phạm Trấn tâu: “Thái thường bàn về lễ tang Ôn Thành hoàng hậu, trước gọi là vườn Ôn Thành, sau gọi là lăng viên; tể tướng Lưu Hãng trước làm Giám hộ sứ, sau làm Viên lăng sứ. Nghe nói những ý kiến này đều xuất phát từ các quan lễ, nếu trước đây họ đúng thì nay họ sai, nay họ đúng thì trước đây họ sai, ắt có một điều sai ở đây. Lễ điển vốn đã định sẵn, không thể tùy tiện thay đổi, mà bàn luận lại khác nhau như vậy, là vì các quan lễ tự ý thay đổi lễ nghi. Xưa có quan pháp lại tự ý thay đổi pháp luật, nay có quan lễ lại tự ý thay đổi lễ nghi. Nếu không tra xét, e rằng điển chương triều đình sẽ dần hư hỏng mà không thể cứu vãn. Xin hạ lệnh xét lại lời tâu của thần, xử tội các quan lễ vì đã có hành vi trái ngược trước sau, để làm sáng tỏ sự nghi ngờ trong và ngoài triều.” Vua không trả lời. Trấn lại xin bãi bỏ việc đốt và chôn cất gấm vóc, châu ngọc trong tang lễ Ôn Thành hoàng hậu để giảm bớt chi tiêu quốc khố, Vua đồng ý.
[31] Ngày Kỷ Hợi, Phạm Trấn lại tâu:
“Thần trước đây từng kiến nghị, hiện nay quan lại quá nhiều, binh lính quá đông, sức dân không chịu nổi, xin ban chiếu cho các đại thần Trung thư, Xu mật xem xét cắt giảm, nhưng đến nay đã mấy tháng vẫn chưa được trả lời. Thần tự nghĩ, việc cấp bách nhất hiện nay không gì bằng việc này, mà triều đình lại thản nhiên không cho là lạ, đó là điều thần không thể im lặng được. Việc gì mà lo liệu trước, chuẩn bị sẵn, thì khi xảy ra sẽ ứng phó một cách bình tĩnh và chu đáo; việc gì mà không lo liệu trước, không chuẩn bị sẵn, thì khi xảy ra sẽ ứng phó một cách vội vàng và sai lầm. Đại để những việc gần đây thường sai lầm vì vội vàng mà không bình tĩnh, là do không lo liệu trước, không chuẩn bị sẵn.
Trước đây, sứ giả Khiết Đan đến, lời nói hư ảo nhiều, triều đình tự xét thấy quốc dụng không đủ, sức dân suy kiệt, không có gì để đối phó. Các đại thần không biết tính kế ra sao, bèn xin tuyển thêm binh lính để tự đổ trách nhiệm, điều đó khác nào muốn chữa cháy mà lại thêm củi, làm cho dòng nước đục mà lại khuấy động nguồn nước.
Năm Cảnh Đức, Khiết Đan xâm lược, Linh Hạ không thần phục. Lúc đó quân số không đầy năm mươi vạn, phòng bị phía tây, chống giữ phía bắc, vẫn dư sức. Nay quân số đã gấp đôi mà vẫn như không đủ, thần không hiểu tại sao. Giặc chỉ phái một sứ giả nhỏ[4], mà số quân tăng thêm đã lên đến mấy vạn, đến khi họ đi rồi, trong ngoài đều mừng, cho là không có việc gì, nhưng không biết rằng chi phí cho quân mới đã hao tổn đến trăm vạn quan rồi. Chi phí đó không phải từ trời mà ra, không phải từ đất mà ra, không phải từ nhà người kiến nghị mà ra, mà hoàn toàn từ dân mà ra. Trong lúc dân đang khổ sở, lại bắt họ đóng góp nặng thêm, để làm kế phòng bị, thần chưa thấy có gì là khả thi. Đó chính là cái gọi là vội vàng mà sai lầm vậy.
Binh không cần nhiều, mà cần luyện tập và tướng lĩnh như thế nào. Nùng Trí Cao cướp phá Lĩnh Nam, trước sau sai tướng không biết bao nhiêu lần, sai quân không biết bao nhiêu vạn, chạy trốn tan tác, không thể kể xiết. Bệ hạ thân sai Địch Thanh, rồi cuối cùng có thể thắng được, chỉ nhờ vài trăm kỵ binh của phiên lạc. Đó là bằng chứng gần đây cho thấy binh không cần nhiều.
Bệ hạ sao không dùng lý lẽ này để chất vấn các đại thần muốn tăng thêm quân? Thần ngu nghĩ rằng để phòng bị Khiết Đan, không gì bằng khoan dung với dân Hà Bắc, Hà Đông; để phòng bị Linh Hạ, không gì bằng khoan dung với dân Quan Thiểm; để phòng bị Vân Nam, không gì bằng khoan dung với dân Lưỡng Xuyên, Hồ, Lĩnh; để phòng bị thiên hạ, không gì bằng khoan dung với dân thiên hạ. Dân được khoan dung thì biết tự yêu thương, dù có ngoại xâm, ai cũng có thể làm lính; dùng quân lính tự yêu thương để chống ngoại xâm, đi đâu mà không thắng, đánh đâu mà không phục? Người xưa nói rằng như tay chân bảo vệ đầu mắt, con cháu bảo vệ cha anh, chính là dùng loại quân này. Thần nói rằng lo trước, chuẩn bị trước, chính là như vậy.
Nay quan là để nuôi dân, binh là để bảo vệ dân. Nhưng nay kẻ nuôi dân bảo vệ dân lại làm hại dân, mà các đại thần không biết cứu. Thần e rằng nỗi lo của triều đình không phải ở biên cương, mà ở binh lính thừa thãi và dân chúng nghèo khổ. Những năm gần đây, đất đai nhiều lần rung chuyển, sông ngòi không theo quy luật, nhật nguyệt tinh tú hiện điềm xấu trên trời, đều là do dân cảm ứng. Thần xin kính cẩn tâu xin bệ hạ rõ ràng ra lệnh cho các đại thần, tìm cách làm yên dân để ứng phó với biến động của trời đất, vì kế sách của tông miếu xã tắc, thần vô cùng mong mỏi.”
(Các đại thần dùng việc chiêu mộ binh lính để đối phó, lúc đó là Vương Đức đang nắm quyền, xem tháng 12 năm Hoàng Hựu thứ nhất.)
[32] Ngày Canh Tý, ban cho đạo sĩ Động Uyên đại sư Lý Tư Thông ở cung Tường Phù, Châu Kiền, làm Huyền Diệu tiên sinh. Tư Thông dâng lên bức tranh 《Tuyền Tiêu Liệt Tượng Củng Cực Đồ》 do ông soạn.
[33] Trước đây, Đô quan viên ngoại lang Yến Độ kiến nghị rằng những người được tuyển chọn ở Xuyên Hạp nếu gặp tang cha mẹ, phải đợi người thay thế đến rồi mới được rời chức. Tri chế cáo, đồng phán Lưu nội tuyển Lưu Xưởng nói rằng điều này không phải là để bảo toàn lòng hiếu thảo của con cái. Ngày Tân Sửu, ban chiếu từ nay cho phép họ về chịu tang.
Lưu Xưởng từng kiến nghị: “Thần trộm thấy theo chế độ cũ, các quan từ Phó sứ Tam ty trở lên và các sứ thần Ban hàng, không kể cao thấp, nếu gặp tang cha mẹ, đều có lệ được công trừ 100 ngày[5]. Người con hiếu dù có lòng thương nhớ, nhưng bị ép bởi mệnh Vua, không thể thực hiện, điều này thực sự làm tổn hại giáo hóa và lễ nghĩa, không phù hợp với hiện tại. Thần nghĩ rằng tang chế ba năm là thông lệ trong thiên hạ. Dùng nghĩa để chế ngự ân tình, người xưa đã làm như vậy, tự cho rằng khi ở trong quân ngũ, thân mang giáp trụ, không dám vì việc riêng mà từ chối việc công. Đó vốn không phải là điều mà các bề tôi du đàm thị tòng thời thái bình nên làm, cũng không phải là điều mà các chức vụ thấp kém trong Ban hàng nên tham dự. Tập tục đã lâu, dần thành thói quen, người hiền thì lấy việc không được toại nguyện làm buồn, kẻ bất tiếu lại lấy việc đang tang mà mặc áo tang đen làm vinh[6]. Dùng điều đó để ban ơn, là làm tổn hại ân tình, dùng điều đó để giáo hóa dân chúng, là quên mất hiếu đạo.
Hiện nay trong thiên hạ thường có người nghe tin tang mà không báo, bỏ tang để mưu cầu quan chức, nguồn gốc từ đây mà ra, không thể không lo lắng. Truyện nói: ‘Quân tử không đoạt mất người thân của người khác, người ta cũng không thể đoạt mất người thân của mình.’ Thần trộm nghĩ chỉ có người trong quân ngũ mới có thể tạm theo lễ biến, còn chế độ cũ cho Phó sứ Tam ty trở lên và các sứ thần Ban hàng được công trừ 100 ngày là không hợp lễ nghĩa, nên cho phép họ để tang ba năm, để đề cao phong khí hiếu đễ.
Thần lại nghe nói, người xưa khi đại phu rời nước ba năm, sau đó mới thu lại ruộng đất, đó là để tỏ rõ ân nghĩa. Nay các bề tôi đang chịu tang, ngay lập tức cắt bổng lộc, cũng là quá khắc nghiệt[7], lẽ nào người đang hành lễ lại không bằng kẻ bị cách chức! Thần từng thấy người đang chịu tang nhà nghèo không có cơm ăn, phải đi xin ăn, sự vội vàng đó làm tổn thương lòng hiếu thảo, không phải là cách để giáo hóa dân chúng. Thần cho rằng đối với văn quan Lưỡng chế, võ quan từ Chư ty sứ trở lên, nên cấp đủ bổng lộc, còn lại các quan Kinh triều, sứ thần Ban hàng, nên cấp nửa bổng lộc, để tỏ rõ triều đình coi trọng lễ nghĩa và giáo hóa. Xin bề tôi gần gũi bàn bạc xem có thể thực hiện được không.”
Lại tâu: “Bệ hạ ban ơn cho các quan cận thần được để tang cha mẹ ba năm, lại không bắt bớ bổng lộc, để cứu giúp nỗi đau khổ của con cái, thật là nhân từ, huệ đức, không gì hơn được. Tuy nhiên, các quan thường tham triều, sứ thần đi lại vẫn không áp dụng lệnh này. Thần cho rằng danh vị tuy khác nhau, nhưng tôn kính cha mẹ thì như nhau. Nếu muốn cứu giúp kịp thời, không nên phân biệt. 《Thư》 viết: ‘Không thiên vị, không bè phái, đạo Vua rộng rãi. Không bè phái, không thiên vị, đạo Vua bằng phẳng.’ Xin bệ hạ lưu ý.”
(Tháng 7 năm Khánh Lịch thứ 3, cho phép các phó sứ Tam ty trở lên được để tang, vẫn tiếp tục hưởng bổng lộc; võ quan không ở biên giới cũng được phép. Tháng 9 năm Gia Hựu thứ 4 và tháng 9 năm thứ 7 có chiếu thư, cần xem xét.)
[34] Ngày Bính Ngọ, thần chủ của Ôn Thành hoàng hậu được đưa vào thái miếu. Vua không thiết triều, các quan dâng tên để an ủi.
[35] Ngày Đinh Mùi, chiếu cho các châu huyện bị thiên tai ở Thiểm Tây tạm ngừng thu nợ lương thực.
[36] Ngày Kỷ Dậu, chôn cất cha của Ôn Thành hoàng hậu là Thanh Hà quận vương Trương Nghiêu Phong và mẹ là Tề Quốc phu nhân họ Tào. Vua ngừng thiết triều. Khi lâm chung, hoàng hậu gặp Vua, nhờ Vua lo việc chôn cất cha mẹ. Vì vậy, Vua cho chôn cất ba đời của bà bên cạnh mộ.
[37] Ngày Tân Hợi, ban cho Hàn lâm thị giảng học sĩ Dương An Quốc 50 vạn tiền, và cho phép không phải vào chầu trong những ngày nóng lạnh. Lúc đó, An Quốc tự nhận mình già yếu, không đảm đương nổi việc giảng kinh, xin được về hưu, nên Vua ban thưởng.
[38] Ngày Quý Sửu, Khai Phong phủ suy quan, Từ bộ viên ngoại lang, Tập Hiền hiệu lý Điêu Ước được bổ làm Đề điểm tại kinh hình ngục. Trước đó, Ước thấy trong mộ của Ôn Thành hoàng hậu có nhiều đồ xa xỉ, bèn nói riêng với người khác, quan giám hộ trong cung bí mật tâu lên, nên bị điều đi. Gián quan Phạm Trấn tâu rằng Ước không có lỗi, không nên điều đi, xin công bố rõ tội trạng để giải tỏa nghi ngờ, nhưng không được trả lời.
[39] Ngày Ất Mão, chiếu cho Xu mật sứ Vương Đức Dụng tuổi cao, mỗi ngày vào chầu được miễn lạy.
[40] Ngày Bính Thìn, Thái thường thiếu khanh Chu Trạm, chức Trực Chiêu Văn quán, được bổ nhiệm làm Chế trí phát vận sứ các vùng Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ. Chu Trạm vào triều từ biệt, Vua dụ rằng: “Triều đình tuyển chọn chức vụ này, khanh không được bí mật gửi quà cáp đến kinh sư.” Chu Trạm hoảng sợ tâu rằng: “Thần được nghe lời dạy bảo của bệ hạ[8], không dám tùy tiện a dua với kẻ quyền thế để mưu cầu thăng tiến.”
(Lời dụ của Vua cho Chu Trạm là vào ngày Ất Tỵ tháng 11, nay ghi chung lại. Chu Trạm là người Nhương.)
[41] Ngày Mậu Ngọ, Vua đến trường bắn pháo ở phía bắc thành xem bắn pháo, rồi mở tiệc chiêu đãi các quan theo hầu, ban thưởng tiền cho các vệ sĩ.
[42] Tháng đó, có chiếu rằng: “Các đại tướng quân đã về hưu, nếu gặp dịp tế Nam Giao mà xin cho con cháu được bổ nhiệm vào hàng ban, nếu trước kia từng giữ chức Chính đoàn luyện sứ hoặc Dao quận phòng ngự sứ trở lên, từng giữ chức Đô tri ở hai tỉnh khi về hưu, thì mỗi lần gặp ân điển tế Giao được phép tiến cử một người; nếu từng giữ chức Chính thứ sử hoặc Áp ban ở hai tỉnh khi về hưu, sau khi gặp ân điển tế Giao, được phép tiến cử một người, theo lệ được bổ nhiệm vào hàng ban. Sau đó, qua hai lần tế Nam Giao, mới được phép tiến cử thêm một người nữa, nhưng phải xét lại lý lịch không có tội tham nhũng mới thi hành. Các quan về hưu ở các phân ty khác, không được phép xin bổ nhiệm.”
(Điều này căn cứ theo Hội yếu.)
[43] Ngày Canh Thân, mùng một tháng 11, Tri châu Tử, Lại bộ viên ngoại lang, Tu soạn tập hiền điện Hà Đàm được bổ nhiệm làm Thiên chương các đãi chế, lưu lại giữ chức cũ.
[44] Ngày Tân Dậu, giáng chức Đồng tri Thái thường lễ viện, Thái thường bác sĩ, Hiệu lý tập hiền điện Ngô Sung làm Tri quân Cao Bưu; Thái chúc Thái thường tự, Hiệu lý tập hiền điện Cúc Chân Khanh làm Tri quân Hoài Dương.
Theo lệ cũ của Lễ viện, thường chuẩn bị sẵn ấn trạng, liệt kê các chức vụ; hoặc khi có chỉ dụ của Vua hỏi về việc gì đó không kịp thời, không thể báo cáo đầy đủ với các quan Lễ, thì báo cáo với một người phụ trách việc phán quyết của tự viện, viết điền vào ấn trạng, rồi thông qua để thi hành[9]. Khi truy tặng cho Ôn Thành hoàng hậu, có chỉ dụ của Vua hỏi về điển lễ, quan phụ trách việc phán quyết của tự viện là Vương Chu, kiêm phụ trách Thiếu phủ giám[10], nơi làm việc gần nhất, nên các quan lại thường báo cáo việc với Chu. Chu thường mong muốn theo ý chỉ của Vua, tự ý quyết định, điền vào ấn trạng rồi dâng lên.
Việc đã được thi hành, nhưng những người bàn luận đều trách các quan Lễ, các quan Lễ không thể tự biện minh, bèn triệu tập quan Lễ trực và căn dặn rằng: “Từ nay về sau, nếu triều đình hỏi về điển lễ quan trọng, không được tùy tiện dùng ấn trạng để báo cáo, mà phải chịu trách nhiệm lấy ý kiến rõ ràng.”
Mấy ngày sau, có chiếu hỏi việc Ôn Thành hoàng hậu có nên dùng nhạc vũ như các miếu khác không, quan Lễ trực là Lý Thiện báo cáo việc này với Chu, Chu liền điền vào ấn trạng, tâu rằng nên dùng nhạc vũ. Việc này được chuyển xuống Lễ viện. Sung và Chân Khanh tức giận, liền gửi văn thư đưa Thiện đến Khai Phong phủ, yêu cầu xét tội. Chu ôm tập hồ sơ đến trình với quan tri phủ sự là Thái Tương rằng: “Ấn trạng đã được sử dụng từ lâu, quan Lễ trực có tội gì!” Tương lo lắng, bèn lại gửi văn thư đưa Thiện về Lễ viện. Sung và Chân Khanh lại gửi văn thư đưa về phủ. Cứ như vậy nhiều lần. Các quan lại Lễ viện đều bỏ trốn.
Lúc đầu, Chân Khanh thích lui tới các cửa đài gián, gặp lúc thần chủ của Ôn Thành hoàng hậu được hợp tế vào tân miếu, đều lấy hai chế nhiếp hiến quan, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Dương Sát nhiếp Thái úy, Điện trung thị ngự sử Triệu Biện giám tế, còn Sung giám lễ.
Vua lại sai nội thần đến xem, trong cung xuất ra khuê toản để tưới rượu. Sung nói với Sát rằng: “Theo lễ, nếu Vua thân hưởng tế Thái miếu thì dùng khuê toản; nếu quan hữu ty nhiếp sự thì dùng chương toản. Nay sai hữu ty tế miếu Ôn Thành mà dùng khuê toản, là coi nhẹ Thái miếu mà coi trọng cơ thiếp, việc này tổn hại thánh đức không nhỏ, xin tâu xin đổi lại.” Sát có vẻ khó xử, nói: “Trời đã tối rồi, ngày mai làm việc, nói làm sao kịp.” Nhưng nội thần giám sát việc tế đã nghe được, bí mật tâu lên, Vua liền hạ chiếu đổi dùng chương toản để tế.
Ngày hôm sau, Biện tâu rằng Thái Tương không xét trị tội lễ trực quan, nhút nhát do dự, do đó các quan chấp chính cho rằng Sung nhân việc tế bảo Biện tâu lên[11].
Lại có lễ trực quan ngày hôm đó ở nơi chôn cất Ôn Thành tố cáo với nội thần rằng, người muốn đưa lễ trực quan đến Khai Phong phủ là Sung và Chân Khanh. Ngày hôm sau, Vua hạ chiếu cho lễ trực quan và các lễ sinh bị giam giữ mỗi người chuộc tội bằng 8 cân đồng, Sung và Chân Khanh đều bị điều ra ngoài. Biện cùng các quan gián là Phạm Trần đều nói rằng Sung không có tội, không nên bãi chức, nhưng không được trả lời.
[45] Ngày Nhâm Tuất, miễn thuế ruộng cho đài quan Vân Linh ở Hoa Châu.
[46] Ngày Quý Hợi, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ, kiêm Đoan Minh điện học sĩ, Thị giảng học sĩ, Hộ bộ thị lang Dương Sát được quyền làm Tam ty sứ sự.
[47] Vua hạ chiếu cho Trung thư đề điểm ngũ phòng công sự từ nay dù không có xuất thân cũng được phép đeo ngư. Theo chế độ cũ, từ khi tuyển nhân vào làm đường hậu quan, thăng đến chức đề điểm ngũ phòng mới được đeo ngư. Đề điểm ngũ phòng Lữ Duy Hòa không phải là tuyển nhân, dẫn lệ của ngũ quan chính ở Ty thiên giám xin đeo ngư, được đặc cách cho phép.
[48] Tri phủ Khai Phong là Sái Tương tâu: “Ở chợ Nội Đông Môn, có những người bán hàng nhiều năm chưa được trả tiền. Xin từ nay tất cả đều giao cho Tạp Mãi Vụ, dùng tiền mặt để mua. Những vật phẩm, lụa vải được ban ra cũng nên định giá và cấp tiền từ kho Tả Tàng.” Được chấp thuận.
[49] Chiếu rằng: “Các quan ở các lộ khi được thay về, những người hộ tống công vụ, nghe nói đã thuê người thay thế, nhưng quan lại lại bắt họ phải làm việc, khiến dân rất khổ cực. Từ nay phải tính đủ ngày đường mới được gọi đi.”
[50] Ngày Giáp Tý, Ngự sử Trung thừa Tôn Biện tâu: “Tây Xuyên nhiều lần tấu rằng Nùng Trí Cao thu thập tàn quân, vào nước Đại Lý, mưu cướp hai châu Lê, Nhã. Xin hạ lệnh cho Trương Phương Bình ở Ích Châu lo liệu trước, để yên lòng dân Thục.” Được chấp thuận.
[51] Chiếu cho Tam ty, năm nay Hà Bắc được mùa lớn, hãy lệnh cho các châu quận biên giới mua gấp ba trăm vạn quân lương, ba trăm vạn thóc ngựa.
[52] Lại chiếu tu sửa đài trường pháo phía tây thành, và lệnh cho Bát Tác Ty vẽ đồ án trình lên.
[53] Trong cung ban ra các chương nhạc, khúc nhạc dùng trong tế lễ Đế Hợp, Thời Hưởng ở Thái Miếu và tế lễ ở miếu Ôn Thành Hoàng hậu, giao cho Thái Thường tập luyện.
[54] Ngày Ất Sửu, Thái thường Thừa, Trực Tập Hiền Viện, Phán Ma Khám Ty, Đồng Tu Khởi Cư Chú là Phùng Kinh bị cách chức Đồng Tu Khởi Cư Chú.
Lúc đó, các quan Đài Gián tranh nhau tâu rằng Ngô Sung, Cúc Chân Khanh không nên bổ nhiệm ra ngoài, Phùng Kinh dâng thư sau cùng, lời lẽ rất khẩn thiết. Tể tướng Lưu Hãng tức giận, xin đưa Phùng Kinh ra làm Tri châu Hào. Vua nói: “Phùng Kinh có tội gì!” Nhưng vẫn cách chức Tu Chú. Các quan Đài Gián lại tranh nhau tâu rằng Phùng Kinh không nên bị cách chức, xin khôi phục, nhưng không được trả lời.
[55] Ngày Bính Dần, dời Hứa Nguyên, chức Hoa Nam Giang Chiết Kinh Hồ chế trí phát vận sứ, Công bộ Lang trung, Thiên Chương các Đãi chế, đến nhậm chức Tri Dương châu. Nguyên ở Hoa Nam 13 năm, vội vã tiến thủ, tích trữ nhiều châu báu kỳ lạ để đút lót cho quyền quý ở kinh sư, đặc biệt được Vương Nghiêu Thần biết đến. Trị sở ở Chân châu, những người mặc áo mũ quan lại đến xin thuyền quan, mỗi ngày có đến mấy chục người. Nguyên nhìn thấy những gia đình quyền thế, lập tức đẩy thuyền lớn cho họ, còn những quan nhỏ cô độc, chờ đợi mấy tháng cũng không được. Người ta vì thế mà oán hận, nhưng Nguyên tự cho là đương nhiên, không chút áy náy.
[56] Viện Tam Ban xin hạ lệnh cho các lộ Chuyển vận ty, liệt kê số ruộng chức điền mà các sứ thần trong bộ thu được hàng năm, chia làm ba hạng thượng, trung, hạ, phàm sai phái không được liên tiếp vào hạng thượng, theo đó.
[57] Ngày Đinh Mão, Đường Tuân, chức Giang Nam Đông lộ Chuyển vận sứ, Hình bộ Viên ngoại lang, Trực Sử quán, được bổ làm Đồng Tu khởi cư chú. Ban đầu, Tuân đi sứ Giang Đông, nhân từ chức được đối đáp, nói rằng chấp chính chỉ lấy những người có khoa danh hiển hách để tu khởi cư chú, không phải là lệ cũ. Tuân đi mới vài tháng, mà Phùng Kinh bị bãi chức, bèn triệu Tuân vào bổ khuyết.
[58] Ngày Mậu Thìn, lệnh cho Lý Tham, chức Diêm Thiết phó sứ, Ty Phong Viên ngoại lang, và Vũ Kế Long, chức Hoàng thành sứ, Lăng châu Đoàn luyện sứ, Nội thị Áp ban, cùng xem xét đường cũ của sông Hoàng Hà.
[59] Ngày Kỷ Tỵ, ty Kinh lược an phủ Tần Phượng báo rằng việc xây thành ở trại Cổ Vị, châu Tần đã hoàn thành. Ban đầu, xây thành tốn một triệu quan tiền, sau đó để quân lại trấn thủ, mỗi năm tốn mười vạn quan.
[60] Ngày Mậu Dần, Thạch Toàn Bân, chức Nội viên sứ, Miên châu Phòng ngự sứ, Nhập nội Áp ban, được làm Cung uyển sứ, Lợi châu Quan sát sứ, vẫn được hưởng lương Lưỡng sứ Lưu hậu; Lưu Bảo Tín, chức Nhập nội Cung phụng quan, Quản câu Ngự dược, được làm Tây Nhiễm viện sứ, cho phép gửi tiền, đều vì có công giám hộ lăng viên của Ôn Thành hoàng hậu. Tri gián viện Phạm Trấn tâu rằng việc chôn cất ba hoàng thái hậu Chương Hiến, Chương Ý, Chương Huệ, ban ân đều không có như vậy, xin thu hồi cáo sắc của Toàn Bân, không được trả lời.
[61] Ngày Canh Thìn, sai quan cầu tuyết.
[62] Ban thưởng áo bông cho binh lính làm nhiệm vụ dọn dẹp cầu phao ở Hà Dương và Thiền Châu.
[63] Ngày Tân Tỵ, Lưu Hãng, con trai của Tể tướng, giữ chức Thái thường tự Thái chúc tên là Cấn, được lệnh triệu tập đến Học sĩ viện để thi tuyển vào chức quán. Sau khi Ôn Thành hoàng hậu được an táng, ban thưởng hàng trăm lượng vàng từ kho của hoàng hậu. Lưu Hãng từ chối mạnh mẽ, nhưng lại xin thay cho Cấn.
[64] Ngày Nhâm Ngọ, Thạch Toàn Bân, chức Nhập nội áp ban, được bổ nhiệm làm Nhập nội phó đô tri. Tri chế cáo Lưu Xưởng phản đối việc này, tấu rằng: “Toàn Bân vừa mới được chỉ dụ bổ nhiệm làm Cung uyển sứ, Lợi Châu quan sát sứ. Chưa đầy ba ngày, lại thay đổi mệnh lệnh này. Triều lệnh thay đổi liên tục, điều mà người xưa không chấp nhận. Nếu vì Toàn Bân tự trình bày, thăm dò ý không hài lòng của ông ta, chiều theo yêu cầu để làm vui lòng ông ta, thì sẽ khiến ân điển của triều đình không còn định chế, chỉ phụ thuộc vào hoạn quan tùy thời xin xỏ. Nếu việc này được công bố ra thiên hạ, chắc chắn sẽ gây hoang mang, truyền đến hậu thế, chắc chắn sẽ bị chê cười. Tại sao?
Bệ hạ thưởng phạt, phải đáng tin với thiên hạ, phải làm gương cho hậu thế. Không biết công lao của Toàn Bân có bao nhiêu? Trước đây, khi đi công cán ở Lĩnh Ngoại, ông ta đã được thưởng, nay lại được thưởng hậu hĩnh sau khi lo việc tang lễ Ôn Thành hoàng hậu, nhưng vẫn không biết đủ, lại càng đòi thăng tiến; triều đình cũng nên tiết kiệm sự thể, không nên dễ dàng thay đổi mệnh lệnh đã ban. Toàn Bân chỉ là một thần tử trong cung cấm, mà đã được nuông chiều như vậy, nếu sau này có người quyền thế hơn Toàn Bân, thì sẽ đối xử thế nào! Thần tuy thấp hèn[12], nhưng thực sự tiếc cho thể diện này, không dám soạn lời cáo từ.” Vua nghe theo.
Ba tháng sau, Toàn Bân vẫn được làm Nhập nội phó đô tri.
(Bản truyện của Lưu Xưởng không ghi chép việc này, nhưng bản truyện của Toàn Bân có ghi.)
[65] Ban chiếu cho Thiểm Tây chuyển vận ty, từ Vĩnh Hưng quân đến Ích Châu, binh lính làm nhiệm vụ trạm dịch[13], đang chịu cảnh giá rét mùa đông, vẫn không ngừng vận chuyển quân khí, ban thưởng tiền lụa theo mức độ khác nhau.
[66] Lại có chiếu chỉ rằng các huyện ở Hồ Nam giáp với các động ven khe, cho phép các ty An phủ, Chuyển vận của bản lộ tiến cử quan viên làm Tri huyện. Những người đã mãn nhiệm Kinh triều quan được miễn nhậm chức xa, còn những người được tuyển chọn thì được miễn tuyển.
[67] Ngày Quý Mùi, Tây Kinh Tác phường sứ, Cao Châu Thứ sử Vương Đạo Khanh được bổ làm Tây thượng các môn sứ. Ban đầu, Đạo Khanh nhờ ân điển của cha là Di Vĩnh từng giữ chức Xu mật sứ, hai năm sau được bổ làm các môn sứ. Đến lúc này, Đạo Khanh lại tự viện dẫn rằng con cháu của Đại trưởng công chúa phần nhiều đều trải qua chức hoành hành, nên dù chưa mãn nhiệm vẫn được đặc cách thăng chức.
[68] Ngày Giáp Thân, có tuyết rơi.
[69] Ty Chuyển vận sứ lộ Tử Châu xin dời chức Trú bạc tróc tặc sứ thần ở huyện Phú Thuận, châu Xương đến trại Nạp Khê, châu Lô, nửa năm thay đổi một lần, được chấp thuận.
[70] Ngày Ất Dậu, cử quan tạ tuyết.
[71] Văn Tư phó sứ Liễu Thiệp tâu rằng, từ nay các quan quân ở các lộ xin định rõ số lượng thân binh mà mình được lĩnh. Nếu ai để mất chủ tướng trong chiến trận, đều xử theo quân pháp, được chấp thuận.
[72] Ngày Bính Tuất, chiếu chỉ cho Tông chính tự rằng, theo lệ cũ, sổ tông tịch mười năm tu bổ một lần, nay tuy mới được tám năm nhưng tông chi đã phát triển nhiều, nên tăng cường tu bổ.
[73] Tri chế cáo Lưu Xưởng tâu: “Thần vừa nghe Ngô Sung bị cách chức, Phùng Kinh bị giáng chức, tưởng rằng những việc họ làm thực sự có sai trái, lời nói thực sự không thể chấp nhận, nên đã chạm đến ý chỉ của Thánh thượng, không được khoan dung. Đến khi tâu việc ở điện Diên Hòa, được nghe lời tuyên dụ, Sung thực ra là người tận tâm với chức vụ[14], ý của Kinh cũng không có gì khác, nhưng Trung thư lại ghét họ quá thẳng thắn, không chịu bao dung. Thần thấy kinh hãi, không kìm được sự phẫn nộ.
Từ xưa đến nay, chỉ có việc bậc quân chủ không thể chấp nhận lời nói thẳng, khiến bề tôi bị đày ải. Nay Bệ hạ từ ái thánh minh, ưa nghe can gián, khoan dung như vậy, không hiểu vì sao Trung thư lại không chịu thuận theo đức tốt của Thánh thượng, mà cứ muốn bài xích người dám nói! Hiện nay, người bốn phương không biết đầu đuôi, lại cho rằng Bệ hạ không chịu nghe lời can gián, miệng chê bai trong lòng oán hận, tổn hại không nhỏ. Vả lại, việc này Bệ hạ trong lòng không giận[15], nhưng Trung thư lại muốn nhất định thi hành, đó là che mắt quân vương, ngăn cản điều tốt của quân vương, xâm phạm quyền lực của quân vương, tăng thêm lỗi lầm của quân vương, ỷ thế làm oai, khiến triều đình chấn động[16].
Từ nay về sau, dù có việc bất công không thẳng thắn[17], người ta cũng không dám nói, để mưu lợi cho mình, lừa dối trên, Bệ hạ không thể không xem xét kỹ. Thần xét sử sách xưa, bề tôi che mắt quân vương, ngăn cản điều tốt của quân vương, xâm phạm quyền lực của quân vương, tăng thêm lỗi lầm của quân vương, đều là bất trung, phải chịu hình phạt.
Huống chi tình hình hiện nay xa không bằng thời xưa, nếu nghe Bệ hạ muốn làm điều tốt mà bị bề tôi ngăn cản, bề tôi muốn làm oai mà không sợ Bệ hạ, thì ắt sẽ cùng nhau bỏ công theo tư, chạy đến cửa quyền. Một khi phong khí này nổi lên, thế này mất đi, thì quân thần cùng nắm quốc gia, đó là điều tối kỵ của thánh nhân. Thời Lỗ Hi Công, liên tiếp xảy ra hạn hán, 《Xuân Thu》 cho rằng đó là do công tử Toại chuyên quyền. Còn 《Hồng Phạm Ngũ Hành》 nói: Tiếm quyền thì thường hạn, mờ tối thì thường gió, dưới xâm phạm trên thì núi lở, đất chấn, nhật nguyệt bị che. Nay việc này trái với luân thường, ắt sẽ khiến âm dương rối loạn, có thể dẫn đến hạn hán, gió mưa, núi lở, đất chấn, nhật nguyệt bị che, mong Bệ hạ lưu tâm, xem xét kỹ lời này. Thần tuy nông cạn, nhưng được Bệ hạ ban ơn sâu, không dám không nghĩ cách báo đáp, nhưng thầm hận việc này, gần đây chưa từng có, thần tuy nói ra, chưa thể diễn đạt hết, kính cẩn viết tay tâu lên.”
[74] Lại nói: “Thần trước đây bàn việc Ngô Sung, Phùng Kinh bị giáng chức, được nghe tuyên dụ rõ ràng, thần liền nói nếu như vậy, thì là đại thần che mắt Vua, chuyên quyền của Vua, mà tự ý làm oai phúc. Tất sẽ khiến âm dương xáo trộn, có động đất, nhật thực, gió sương là điều khác thường. Nay thần nghe nói quân Trấn Nhung có động đất, một đêm ba lần, cách lời thần nói chỉ trong năm ngày.
Lại thêm kinh sư sau tuyết mù mịt nhiều ngày, lại nhiều gió bụi, mặt trời vàng đục, đều là điềm biến dị đáng lo sợ. Thần biết trước chắc chắn có việc này, vì xét sách 《Ngũ hành chí》 nói ‘Việc của bề tôi dù đúng, chuyên quyền ắt sẽ động đất’, huống chi là không đúng! Lại sách 《Thượng thư – Hồng phạm》 nói ‘Mông, gió thường nổi’, mà 《Kinh Phòng Dịch truyền》 nói ‘Bề tôi che mắt Vua, thì khí mông nổi’. Thần lấy mấy điều này hợp lại, nên biết chắc có điềm lạ. Nhưng trời cao bảo hộ bệ hạ, rất sâu rất dày, nên tai dị ứng theo việc, mong bệ hạ thấy biến mà tự răn, mãi yên bốn phương, không thể không nghĩ, không thể không lo. Nay bệ hạ tin tưởng giao phó cho đại thần, mà đại thần ỷ thế làm oai, việc chính sự không công bằng, như thế rất nhiều, ở ngoài sợ hãi, đã không như thường lệ.
Bệ hạ nên xét kỹ ý trời đất[18], thu lại uy quyền, đừng để thông minh bị che lấp, pháp lệnh không thi hành, thì đủ để tiêu trừ tai dị. Thần trước đã tâu trình, lại kể điều nghe được[19], xin đặc biệt lưu lại trong cung, xem xét kỹ lưỡng.”
(Lấy ngày 11 tháng 11, ngày Canh Ngọ, tâu việc ở điện Diên Hòa, năm ngày sau, tức là ngày Giáp Tuất, ngày đông chí. Động đất ở Trấn Nhung, thực lục không chép, nhân đó ghi lời nói của Lấy vào cuối tháng 11, cần xem xét kỹ để sửa chữa.)
[75] Tháng 12, ngày Quý Tỵ, Thái thường thiếu khanh, Trực sử quán Trương Tử Hiến được bổ làm Quang lộc khanh. Tử Hiến đáng lẽ được thăng làm Gián nghị đại phu, nhưng Trung thư cho rằng Gián nghị đại phu không thể bổ nhiệm nhiều, nên bổ làm Quang lộc khanh. Theo lệ cũ, các chức đại khanh giám không được kiêm nhiệm chức vụ ở quán, nên ông bị bãi chức; bốn năm sau, ông cùng với Triệu Lương Quy được phục chức.
(Tử Hiến được phục chức vào tháng 3 năm Gia Hựu thứ 3.)
[76] Xuống chiếu cho Kinh lược ty Thiểm Tây, Hà Đông chế tạo áo da và áo lông để chuẩn bị cho việc quân.
[77] Ngày Giáp Ngọ, ban tiền cho quân sĩ Quảng Châu bắt giặc Lê.
[78] Ngày Đinh Dậu, ban hiệu Phổ Minh Từ Giác Truyền Phạn Đại sư cho Tam tạng đại sư Pháp Hộ ở Viện Truyền pháp dịch kinh. Pháp Hộ là tăng nhân Tây Thiên, có giới hạnh, đặc biệt ban cho hiệu sư gồm sáu chữ.
[79] Ngày Canh Tý, Hàn lâm học sĩ Vương Chu, Thái thường thiếu khanh, Trực tập hiền viện Chưởng Vũ Tích[20] dâng 《Hoàng Hựu Phương Vực Hội Đồ》.
[80] Tri Tịnh Châu Hàn Kỳ vì bệnh tâu xin Thái y Tề Sĩ Minh, nhưng Viện Hàn lâm y quan nói Sĩ Minh đang chẩn mạch cho Vua, không thể đi, Vua lập tức sai nội thị Đậu Chiêu đưa Sĩ Minh đến khám.
[81] Ngày Giáp Thìn, xuống chiếu cho Viện Thẩm quan, từ nay các quan trong ngoài có công lao được thăng chức, không được lại vào chỗ có công lao.
[82] Ngày Bính Ngọ, xuống chiếu cho các quan thiên văn toán thuật ở Ty Thiên giám, từ nay không được ra vào nhà các quan.
[83] Quần mục ty tâu: “Theo chế độ cũ, 17 châu quân ở Thiểm Tây, Hà Đông mua ngựa. Sau việc phía Tây, chỉ đặt trường mua ngựa ở Tần Châu. Nay các quân trong ngoài đều thiếu ngựa, xin cho Hoàn Khánh Châu, Bảo An Quân, Đức Thuận Quân tiếp tục mua ngựa như cũ.” Theo lời tâu.
[84] Ngày Đinh Mùi, Điện trung thừa, Trực bí các Tư Mã Quang dâng 《Cổ Văn Hiếu Kinh》, xuống chiếu giao cho Bí các.
[85] Ngày Kỷ Dậu, Như kinh sứ, Quả Châu đoàn luyện sứ, Nhập nội đô tri Trương Duy Cát mất, được truy tặng chức Bảo Thuận quân tiết độ sứ, thụy là Trung An. Duy Cát giữ chức vụ lâu năm, được tin dùng, nhưng lời nói không a dua. Khi lo việc tang lễ cho Ôn Thành ở điện Hoàng Nghi, Duy Cát tranh luận không được, thấy tể tướng đã xu nịnh, Duy Cát dậm chân khóc lóc.
[86] Ngày Nhâm Tý, xuống chiếu cho các chuyển vận sứ Hà Bắc, Kinh Đông cùng đến cửa biển trấn Đồng Thành thuộc Vận Châu, xem xét tình hình mực nước sông Hoàng Hà cao thấp. Nếu sau khi khởi công, nước thực sự thông chảy, thì trình bày rõ lợi hại lên triều đình. Việc bàn mở Đồng Thành, đắp đập Thương Hồ bắt đầu từ Quách Khuyến và các người khác, xem tháng 2 năm Hoàng Hựu thứ nhất. Ở Hà Bắc có Chu Hãng, Yến Độ; ở Kinh Đông có Trần Tông Cổ. Chu Hãng có bàn luận, sẽ chép vào lúc mở đập Lục Tháp.
[87] Ngày Quý Sửu, xuống chiếu từ nay nội thị truyền tuyên, trước hết phải báo cho đô tri làm tờ tráp, người nhận được phải tâu lại.
[88] Điện trung Thị ngự sử Triệu Biện tâu: (Theo 《Nam Đài tập》 của Triệu Biện, chương này được dâng lên vào ngày 24. Ngày 24 là ngày Quý Sửu.) “Thần nghe nói rằng tại nhà của Tể thần Trần Chấp Trung, có việc đánh đập nữ nô tên Nghênh Nhi đến chết, hiện Khai Phong phủ đang xem xét và xử lý. Việc này đang gây xôn xao trên đường phố, dư luận có nhiều ý kiến khác nhau. Một số người nói rằng Chấp Trung tự tay dùng gậy đánh chết, số khác lại nói rằng người thiếp yêu là A Trương tàn ác, dùng vật khác đánh chết.
Thần cho rằng nếu một trong hai điều này là sự thật, thì Chấp Trung không thể vô tội. Nếu nữ nô thực sự có lỗi, đáng lẽ phải đưa đến quan phủ xử lý, sao lại có thể tùy tiện dùng bạo lực như kẻ thường dân, làm mất thể diện của bậc đại thần, vi phạm pháp luật triều đình, lập uy quyền riêng trong nhà! Nếu nữ nô thực sự bị A Trương giết, đáng lẽ phải bắt giao cho cơ quan pháp luật để xử lý theo pháp luật, sao lại có thể không quan tâm đến dư luận, công khai che chở! Xưa nay có câu: ‘Chính gia thì thiên hạ yên ổn’. Nhà của Chấp Trung không thể chính đáng, lại còn làm hại người vô tội, muốn dùng cách này để giữ chức vụ quan trọng, Bệ hạ dựa vào ông ta mà mong thiên hạ thái bình, thì khác nào đi lùi mà muốn tiến lên, làm sao có thể được?
Trước đây, Yến Thù từng dùng hốt đánh rơi răng người hầu, Bệ hạ không vì Thù là người cũ của Đông cung mà coi thường pháp luật thiên hạ, nên lập tức cách chức Thù khỏi Xu mật viện, điều ra làm Tri phủ Ứng Thiên. Nay Chấp Trung liên tục xin nghỉ bệnh, kiên quyết xin từ chức, tiến thì không có lòng trung cần, lui thì đánh mất gia phong, kính mong Bệ hạ đặc biệt đoán xét, chấp thuận lời thỉnh cầu của ông ta, miễn chức Tể tướng. Chức vụ quan trọng như thế, nên chọn người có đức hạnh hiền tài để ngày đêm phò tá đại chính, như vậy Bệ hạ sẽ được thong dong, không còn lo lắng vất vả nữa.”
Ban đầu, trong nhà của Trần Chấp Trung có nữ nô chết, đưa đến Khai Phong phủ để khám nghiệm, thấy có vết thương, có lời đồn rằng người thiếp yêu là Trương thị đã đánh chết. Triệu Biện liền tâu lên, còn Trần Chấp Trung cũng tự xin mở án điều tra. Chiếu chỉ cho Thái thường thiếu khanh, Trực sử quán Tề Khuếch đến Gia Khánh viện xét việc này. Tề Khuếch không lâu sau bị bệnh, đổi mệnh cho Long đồ các trực học sĩ, Tả ty lang trung Trương Biện, rồi lại đổi mệnh cho Cấp sự trung Thôi Dịch.
Sau đó, khi truyền triệu nhân chứng, Trần Chấp Trung đều giữ lại không cho đi, Triệu Biện và Ngự sử trung thừa Tôn Biện cùng nhau hặc tội ông. Sau đó có chiếu chỉ bãi án, các quan trong đài đều nói không thể, Hàn lâm học sĩ Âu Dương Tu cũng lên tiếng. Đến khi Trần Chấp Trung bị cách chức, những người bàn tán mới dừng lại.
(Chiếu bãi án, không rõ thời gian, có thể là đầu tháng 2 năm sau, nay ghi chép kèm theo đây[21]. Trước tiên sai Tề Khuếch làm khám quan, tháng giêng năm sau, do Triệu Biện nói Tề Khuếch bị bệnh tâm phong, đổi sai Trương Biện, sau đó lại sai Thôi Dịch và Tào Quan. Trước sau tổng cộng bốn người, việc này căn cứ theo chương thứ hai trong bản hặc tội Trần Chấp Trung của Tôn Biện. Quốc sử chỉ chép về Thôi Dịch, không rõ vì sao Trương Biện cũng không hoàn thành vụ án này. Sau khi sai Thôi Dịch, lại sai Tào Quan, đều không rõ chi tiết, cần tra cứu thêm.)
Tôn Biện lúc đầu ở Hàn lâm, từng đến Trung thư trình báo công việc, đi giày bước lên Chính sự đường. Trần Chấp Trung thấy vậy không vui, lại trách các lại viên không báo trước. Biện nói: “Học sĩ gặp tể tướng theo lễ khách, vốn có tiền lệ, huống chi tôi vì công việc mà đến, nếu có việc riêng tư, thì cúi đầu khúm núm cũng không ngại.” Trần Chấp Trung không thể bình tĩnh được.
Khi được thăng làm Trung thừa, Trần Chấp Trung thực sự nắm quyền chính, mỗi khi xử lý việc lớn thường đưa ra ý kiến riêng, các quan đồng liêu không ai dám chống lại. Triệu Biện nhiều lần nói về sai lầm của ông ta, tâu rằng: “Xin bệ hạ đem chương tấu của thần cho Trần Chấp Trung xem, bảo ông ta phải bàn bạc kỹ với mọi người rồi mới tâu lên xin thi hành.” Chấp Trung xem chương tấu, càng không vui.
Một hôm, Vua ban yến ở đô đình dịch, chỗ ngồi gần nhau, trong lúc uống rượu, Chấp Trung khẽ nói với Biện: “Xem các chương tấu gần đây của Trung thừa, ý tứ hình như không dung được ta. Lão phu già rồi, sắp xin từ chức.” Rồi chỉ vào chỗ ngồi của mình nói: “Đây là chỗ của Trung thừa trong tương lai, mong đừng vội xâm phạm.” Biện cúi đầu không đáp, lui về nói với người khác: “Lời của Trần công ngọt ngào, nhưng tâm ý đã lộ rõ.”
[89] Ngày Giáp Dần, dân thường Trương Tung ở Ích Châu được bổ làm Trợ giáo bản châu. Tung là người Song Lưu, thông hiểu kinh thuật, giỏi văn chương. Tính tình đạm bạc, ẩn cư nơi rừng suối, chuyên tâm dưỡng sinh trị khí, đặc biệt tinh thông về 《Thái Huyền》, soạn ba thiên 《Phát Ẩn》 và bốn mươi lăm quyển 《Giảng Sơ》. Điền Huống dâng lên tác phẩm 《Phát Ẩn》 của ông, Vua đặc cách ghi nhận, nhưng Tung từ chối không nhận chức. Tháng 11 năm Gia Hựu thứ 4, Vua ban cho Tung hiệu Xử sĩ.
[90] Ngày Ất Mão, Quốc mẫu nước Khiết Đan phái Thủy Bình tiết độ sứ, Tả giám môn vệ Thượng tướng quân Gia Luật Xương Thế, Ninh Châu quan sát sứ Phùng Kiến Thiện; Khiết Đan phái Chương Thánh tiết độ sứ, Hữu giám môn vệ Thượng tướng quân Tiêu Phúc Diên, Sùng Lộc khanh (nguyên bản chép nhầm là Sùng Phúc khanh, nay căn cứ vào 《Liêu sử – Bách quan chí》 sửa lại) Lưu Cửu Ngôn sang chúc mừng năm mới.
[91] Ngày Bính Thìn, Mục Châu phòng ngự sứ Tông Ngạc dâng lên sách 《Thái Bình Bàn Duy Lục》 do mình soạn, Vua ban sắc khen ngợi.
[92] Đặt thêm một chỉ huy Phiên Lạc ở chín trại Cung Môn thuộc Tần Châu.
[93] Vua tuổi đã cao mà chưa có người nối dõi.
Cuối niên hiệu Hoàng Hựu, Thái thường bác sĩ Trương Thuật dâng thư nói: “Thần nghe chuyện người con gái nhà họ Tất, có lòng lo cho nước, dựa cột mà than thở. Thần làm quan trong triều đã hai mươi lăm năm, mà nỗi lo nhỏ nhoi này không thể sớm vì bệ hạ mà đề ra kế sách lâu dài, như thế thì còn không bằng người con gái nhà họ Tất, thần thật lấy làm xấu hổ. Sinh mệnh của dân chúng, hệ ở chỗ nặng nề của tông miếu xã tắc, mà lấy việc nối dõi làm gốc. Kẻ thường dân có của cải trăm vàng, còn có thể định kế gửi gắm tương lai, việc làm từ trước, huống chi là người có cả thiên hạ!
Bề tôi thời Kiến Long, Càn Đức, ai chẳng mong Thái Tổ hoàng đế sống lâu muôn tuổi, bề tôi thời Đoan Củng, Thiên Hi, lòng họ cũng không khác gì thế. Nhưng trời đất có vận hành, mặt trời mặt trăng có lúc đầy lúc khuyết, số của âm dương, có nhuận có chương, khí đến thì quay lại, vật cực thì biến đổi, đó là lẽ tất nhiên. Nghệ Tổ truyền ngôi báu cho Thái Tông, Thái Tông truyền cho Chân Tông, Chân Tông truyền cho bệ hạ. Bệ hạ nối nghiệp ba bậc thánh nhân, truyền lại cho muôn vạn năm, như thế là hiếu vậy.
Mà bệ hạ đã bốn mươi tư tuổi, việc nối dõi tông miếu xã tắc vẫn chưa có chỗ gửi gắm. Đó là điều khiến thần ngày đêm bồn chồn lo lắng. Bệ hạ biết điều này, mà vì hiềm nghi không quyết đoán, đó chẳng phải là hiếu. Quần thần biết điều này, mà vì kiêng kỵ không nói ra, đó chẳng phải là trung. Bệ hạ hưởng sự quý giá của thiên hạ mà không tự buông thả, có sự giàu có của thiên hạ mà không tự phóng túng, vượt xa cả Thành Khang, Văn Cảnh. Thần cho rằng nên âm thầm cầu khấn trời đất núi sông, chia sủng ái cho sáu cung, dùng tình yêu thương đồng đều. Nếu chưa đạt được, thì hãy chọn trong hàng tông thân người tài giỏi hiền đức, đãi ngộ khác biệt, thử thách bằng chức vụ, để trong ngoài biết lòng thánh đã có chỗ gửi gắm, thì đó là điều may lớn cho thiên hạ.”
Năm đó, ông lại dâng sớ nói: “Thần nghe rằng: ‘Minh lưỡng tác ly, đại nhân dĩ kế minh chiếu tứ phương.’ Ly là mặt trời[22], tượng trưng cho Vua. Hai mặt trời nối tiếp nhau, nên có thể chiếu sáng lâu dài, mọc đông lặn tây, một ngày một đêm, là lẽ thường.
Bệ hạ trị vì thiên hạ đã gần ba kỷ, đây là lúc mặt trời đứng bóng, nhưng chưa nghe lo lắng về việc nối tiếp ánh sáng, thần thật sự nghi ngờ. Nếu việc kế thừa không sớm định đoạt, sẽ có nỗi lo một sớm một chiều, để lại mối họa muôn đời.
Xem xét các đời trước, việc xảy ra đột ngột, thì hoặc là cung đình ra lệnh, hoặc là hoạn quan chủ mưu, hoặc là gian thần đề xuất, tham lam nuôi trẻ nhỏ để kéo dài quyền lực, mong mờ ám để chiếm đoạt quyền hành, cơ hội an nguy, phát sinh trong chốc lát, mà triều đình bàn luận thản nhiên không lo tính toán[23], há chẳng nguy hiểm sao!” Thuật trước sau bảy lần dâng sớ, lời lẽ sau cùng càng thêm khẩn thiết, văn chương nhiều nên không chép đủ, Vua cuối cùng không cho là tội.
Thuật là người Tiểu Khê.
(Năm Hoàng Hựu thứ 5, Nhân Tông 44 tuổi, sớ của Thuật dâng vào năm đó. Truyện chép là năm Hoàng Hựu, là sai.)
Thái thường bác sĩ, Thẩm hình viện Tường nghị quan Ngô Cập dâng sớ, bàn về việc hoạn quan và việc kế tự, nói: “Thần nghe rằng quan lại khuyên can nhau, thợ dùng nghề nghiệp để can gián. Thần may mắn được làm quan pháp luật, xét rõ gốc rễ của hình pháp[24], để bày tỏ lòng trung thành. Thần nghĩ rằng hình phạt thời xưa như chặt tay chân, khắc lên da thịt, khiến người ta đau đớn suốt đời. Hán Văn Đế cảm động bởi lời của Thái Oanh, đổi sang dùng roi vọt, nhưng người đã chết mà roi vẫn chưa dừng, bề ngoài là nhẹ hình phạt, nhưng thực chất là giết người.
Tổ tiên ta nhìn thấy tệ nạn của quá khứ, bỏ bớt những hình phạt khắc nghiệt, bắt đầu dùng phép đánh bằng gậy, làm mới tai mắt thiên hạ, đây là ân huệ mà thánh hiền đời trước chưa từng nghĩ đến[25].
Bệ hạ thương xót dân chúng, tự mình xét xử các vụ án. Trải qua các đời dùng hình phạt, không có triều đại nào khoan hồng như triều đại ta, lẽ ra trời phải ban điềm lành, nhưng đang lúc thịnh vượng, lại chưa có tin vui về việc kế tự, thần thật lấy làm lạ. Có lẽ là do hoạn quan quá nhiều, mà Bệ hạ chưa nhận ra. Tại sao vậy?
Trong năm hình phạt thời xưa, có hình phạt thiến, người xưa bỏ đi, vì coi trọng việc nối dõi. Nay những nhà hoạn quan lại tranh nhau nhận con nuôi, phá hủy đạo lý, mong cầu tước vị. Trẻ nhỏ có tội gì mà phải chịu đao kéo, rồi chết yểu, không thể đếm xuể. Người có bệnh mà chết, đời thịnh trị còn xấu hổ, huống chi là không có bệnh? Người có tội mà bị thiến, Vua xưa còn không nỡ, huống chi là người vô tội? Thần nghe rằng thời Hán Vĩnh Bình, chỉ có bốn Trung thường thị, mười Tiểu hoàng môn. Đường Thái Tông định chế, không được vượt quá trăm người.
Lại xét việc gần đây của tổ tiên, thời tổ tiên có bao nhiêu hoạn quan, nay có bao nhiêu[26]? Thần nghĩ rằng chim phượng hoàng không đến vì trứng bị hại, hoàng tử không sinh vì hoạn quan quá nhiều.
Kính mong Bệ hạ thuận theo mệnh lệnh sinh sôi nảy nở của mùa xuân[27], ban bố ân đức, đặt ra điều cấm rõ ràng. Việc tiến cử hoạn quan, tạm thời đình chỉ hết, kẻ nào tự ý thiến trẻ nhỏ, phải trị tội nặng. Nếu làm được như vậy, thì lòng trời cảm ứng, hoàng tử chắc chắn sẽ nhiều, đây là kế sách cầu phúc lành, yên ổn tông miếu, không gì hơn được.”
Sớ dâng lên, Vua khen ngợi lời nói của ông, muốn bổ nhiệm làm quan gián, nhưng Ngô Cập vì tang cha mà từ chức. Ngô Cập là người Tĩnh Hải.
(Sớ này có lẽ dâng vào năm Hoàng Hựu thứ 5. Năm đó tháng 7 nhuận, ngày Mậu Thân, chiếu Nội thị tỉnh, từ nay số lượng hoạn quan từ Cấm cung phụng quan đến Hoàng môn lấy 180 người làm mức. Có lẽ là do sớ của Ngô Cập, cần xét lại. Ngô Cập được bổ nhiệm làm quan gián vào tháng 2 năm Gia Hựu thứ 3.)
- 《Chu lễ khí đồ》 trong các bản và 《Tống hội yếu》 Sùng Nho 5-23 đều giống nhau. Bản Tống, 《Tống toát yếu》 chép là 《Chu lễ lễ khí đồ》, 《Biên niên cương mục》 quyển 15 chép là 《Lễ khí đồ》 ↵
- Chữ 'sư' trong câu 'người đã được ban hiệu sư thì được làm tăng quan' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào Tống bản và Tống toát yếu bản mà bổ sung. ↵
- Chữ 'dĩ' trong câu 'đặt thần ở trên hàng Quan văn, Tư chính điện học sĩ' vốn viết là 'tại', nay căn cứ vào Tống hội yếu, nghi chế tam chi nhị tam mà sửa. ↵
- Giặc chỉ phái một sứ giả nhỏ, sách 《Tống Thục Văn Tập Tồn》 quyển 8, 《Danh Thần Tấu Nghị》 quyển 219, 《Luận Ích Binh Sớ》, chữ 'sứ' có thêm chữ 'đến'. ↵
- Lệ đều có công trừ 100 ngày, chữ 'có' nguyên bản thiếu, theo bản Tống, Tống toát yếu và 《Lưu Xưởng công thị tập》 quyển 41 bổ sung. ↵
- Lấy việc đang tang mà mặc áo tang đen làm vinh, chữ 'toại' nguyên bản là 'tắc', theo sách trên đổi. ↵
- Quá khắc nghiệt, bản Tống, Tống toát yếu và 《Lưu Xưởng công thị tập》 đều chép là 'quá xác'. ↵
- Lời dạy bảo nguyên bản là 'Thánh dụ', căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống, bản Các và truyện Chu Trạm trong quyển 300 sách Tống sử sửa lại. ↵
- 'Thông tiến thi hành' nguyên bản là 'thông tấu thi hành', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống sử toàn văn quyển 9 sửa lại. ↵
- 'Phán tự Vương Chu kiêm phán Thiếu phủ giám', chữ 'tự' nguyên bản là 'ty'. Căn cứ theo Tống hội yếu chức quan 65/13 và Biên niên cương mục quyển 15 đều nói Vương Chu phụ trách Thái thường tự, nên sửa lại. ↵
- Cho rằng Sung nhân việc tế bảo Biện tâu lên, chữ 'vi' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống sử toàn văn quyển 9 bổ sung. ↵
- Bỉ tiện nguyên tác 'Bỉ thiển', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản và 《Công thị tập》 quyển 33, thượng Nhân Tông luận Thạch Toàn Bân không nên bổ nhiệm làm Nhập nội phó đô tri, sửa lại. ↵
- Từ Vĩnh Hưng quân đến Ích Châu, binh lính làm nhiệm vụ trạm dịch 'Quân' nguyên tác 'Châu', theo 《Tống hội yếu》 phương vực 10-22 sửa lại. ↵
- 'Tận chức' nguyên bản là 'Chấn chức', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Công thị tập》 quyển 32, 《Biên niên cương mục》 quyển 15, 《Tống sử toàn văn》 quyển 9 sửa lại. ↵
- 'Tâm sở bất nộ' trong 《Công thị tập》 viết là 'Tâm sở tất thứ'. ↵
- 'Ỷ thế làm oai, khiến triều đình chấn động' các bản đều giống nhau. Tống bản, Tống toát yếu bản viết là 'Cẩu yếu tác oai, kinh động triều chúng', 《Công thị tập》 cũng giống Tống bản, chỉ có chữ 'Chúng' viết thành 'Vọng'. ↵
- 'Từ nay về sau, dù có việc bất công không thẳng thắn' bốn chữ 'Từ nay về sau' nguyên bản thiếu, căn cứ Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Công thị tập》 bổ sung. ↵
- Nên xét kỹ ý trời đất 'Nên' nguyên là 'thả', theo 《Công thị tập》 sửa. ↵
- Lại kể điều nghe được câu trên bản Tống và 《Công thị tập》 đều có hai chữ 'Cố cảm', nghĩa hay hơn. ↵
- Chưởng Vũ Tích, chữ 'Chưởng' nguyên bản là 'Vương', theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa, Tống sử quyển 294 bản truyện cũng chép rằng từng tham gia tu sửa 《Hoàng Hựu Phương Vực Đồ Chí》 có thể chứng minh. ↵
- hoặc đầu tháng 2 năm sau nay ghi chép kèm theo đây, Tống bản, Tống toát yếu bản chép là 'nên ở năm sau nay ghi chép kèm theo đây'. ↵
- Ly là mặt trời, nguyên văn là 'phu nhật', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 cùng 《Tống sử》 quyển 303, truyện Trương Thuật sửa lại. ↵
- Triều nghị thản nhiên không lo tính toán, chữ 'điềm' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 bổ sung. 《Tống sử》 quyển 302, truyện Ngô Cập chép là 'triều nghị thản nhiên từng không lo tính toán'. ↵
- Xét rõ gốc rễ của hình pháp 'Xét' nguyên là 'Được', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách Tống sử sửa lại. ↵
- Ân huệ mà thánh hiền đời trước chưa từng nghĩ đến sách Tống sử chép là 'tư tưởng chưa từng nghĩ đến'. ↵
- Nay có bao nhiêu 'có' nguyên thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách Tống sử bổ sung. ↵
- Mệnh lệnh sinh sôi nảy nở bản Tống, bản Tống toát yếu chép là 'ý nghĩa sinh sôi nảy nở'. ↵