"

IV. TỐNG NHÂN TÔNG

[BETA] QUYỂN 188 NĂM GIA HỰU THỨ 3 (MẬU TUẤT, 1058)

Từ tháng 9 đến hết tháng 12 năm Gia Hựu thứ 3 đời Nhân Tông.

[1] Tháng 9, ngày Kỷ Tỵ, mùng một, Vua xuống chiếu cho Kinh lược sứ Hà Đông rằng: Người Tây Hạ bàn về địa giới sông Hoành Dương thuộc Phủ châu, e rằng Lân châu sẽ bị cô lập, hãy xem xét lợi hại rồi tâu lên.

(Sông Hoành Dương là địa giới của Phủ châu, việc này xảy ra vào ngày Nhâm Thân tháng 8 năm ngoái.)

[2] Ngày Tân Mùi, lấy Kinh Hồ Bắc lộ Chuyển vận sứ, Binh bộ Viên ngoại lang Vương Xước làm Công bộ Lang trung; Điện trung Thừa Lôi Giản Phu, người đi khảo sát tình hình trộm cướp ở Thần châu, Lễ châu, làm Quốc tử Bác sĩ, Thông phán Thần châu; Đô quan Viên ngoại lang Dư Tảo được thăng một chức và bổ nhiệm; Tây Kinh Tả tàng khố sứ, Kinh Hồ Bắc lộ Kiềm hạt kiêm Tri Thần châu Đậu Thuấn Khanh được lĩnh chức Khang châu Thứ sử; Lễ tân Phó sứ kiêm Các môn Thông sự Xá nhân, quyền Kinh Hồ Bắc lộ Kiềm hạt kiêm Tri Lễ châu Quách Quỳ được làm Lễ tân sứ. Thuấn Khanh và Quỳ đều được ban 20 vạn tiền, vì có công chiêu hàng Bành Sĩ Hi.

(《Quách Quỳ truyện》 chép: Quỳ sai biệt tướng Tôn Trí đánh chặn, phá được động La Thành của giặc, chiếm hơn 20 ải như Hạ Phủ, hạ được Tân châu. Hơn mười ngày sau đến châu Đào Hoa, Sĩ Hi bỏ thành chạy, quân đuổi theo đánh bại lớn. Phạm Tổ Vũ soạn văn bia mộ Quỳ chép: Sĩ Hi làm phản, Quỳ được thêm chức Đái ngự khí giới, sung chức Hồ Bắc Kiềm hạt kiêm Tri Lễ châu, bắt được thân tín của Sĩ Hi, cho ở bên cạnh, làm tiểu lại, đối đãi tử tế, lâu ngày họ kể hết địa hình sông núi, tình hình hư thực, cách dùng binh. Mùa xuân năm Gia Hựu thứ 3, dùng tiểu lại làm hướng đạo, đem quân bộ tiến đánh, phá động La Thành và hơn 20 ải như Hạ Phủ, chiếm được Tân châu. Lại ngậm tăm tiến đêm, hơn mười ngày đến châu Đào Hoa nơi Sĩ Hi ở, một trận phá được. Sĩ Hi bỏ thành chạy, hơn trăm thủ lĩnh người Man ngửa mặt xin hàng, Quỳ nhận hàng rồi tâu lên, được thưởng công, bái làm Bản ty sứ.

《Thực lục》, 《Hội yếu》 chép việc dẹp Man rất sơ lược[1], nay phụ chép.)

[3] Ban thưởng tiền cho những người lính tham gia đào sông ở Cát Gia Cảng.

[4] Lễ tạ ơn trời đất về vụ mùa, bắt đầu theo đề nghị của Tiết Hướng, bãi bỏ việc thu mua lương thực ở vùng biên giới, từ kinh đô chở tiền và lụa đến Hà Bắc, chỉ dùng tiền mặt để mua lương thực, riêng việc thua mua cỏ khô và đậu vẫn tính giá trị và trả bằng trà.

(Việc này chưa thực hiện được bao lâu, đề nghị của Tiết Hướng được đưa ra vào cuối tháng 10 năm Gia Hựu nguyên niên[2], sách chính chép rằng chưa thực hiện được mấy năm, e rằng không chính xác, nay xin lược bớt và sửa lại.)

Có người bàn rằng việc vận chuyển và tính toán phức tạp, gây phiền nhiễu cho dân chúng, hơn nữa số thương nhân nộp tiền mặt ít đi, giá cỏ khô và đậu ngày càng cao, giá trà ngày càng rẻ. Triều đình ban chiếu cho Hàn lâm học sĩ Hàn Giáng và Long đồ các trực học sĩ, tri gián viện Trần Húc đến Tam ty để xem xét.

Hàn Giáng và những người khác tâu rằng: “Từ khi cải cách pháp lệnh đến nay, lương thực ở biên giới đã có đủ, thương nhân đi lại thuận lợi, không nên thay đổi một cách vội vàng. Chỉ có chi phí vận chuyển nên ra lệnh cho các cơ quan liên quan đều do triều đình cấp, còn những người ở địa phương vốn nộp thuế bằng lụa thì không được đổi thành tiền mặt. Việc nhập khẩu cỏ khô và đậu, xin bãi bỏ việc trả bằng trà, tại địa phương nên định giá thị trường, đến kinh đô sẽ trả bằng bạc, lụa và lụa.” Triều đình đồng ý theo đề nghị này. Từ đó, pháp lệnh về trà không còn bị ảnh hưởng bởi việc mua lương thực ở biên giới, và ý kiến về thông thương bắt đầu nổi lên.

Ban đầu, triều đình đã độc quyền về trà, cấm dân tích trữ và buôn bán trái phép, đặc biệt là đối với lạp trà, hình phạt càng nặng, gấp đôi so với các loại trà khác. Những ai tố cáo hoặc bắt được kẻ buôn lậu trà đều được thưởng. Tuy nhiên, càng siết chặt quy định thì càng có nhiều người vi phạm, số vụ án báo cáo hàng năm không đếm xuể. Người trồng trà khốn đốn vì thuế má, quan lại lợi dụng để quấy nhiễu, khiến họ phạm tội, thậm chí phá sản và bỏ trốn, tình trạng này xảy ra liên tục hàng năm.

Hơn nữa, chính sách trà thay đổi nhiều lần, thuế thu hàng năm ngày càng giảm. Đến niên hiệu Chí Hòa, lượng trà mua hàng năm ở Hoài Nam chỉ còn 4.220.000 cân, Giang Nam 3.750.000 cân, Lưỡng Chiết 230.000 cân, Kinh Hồ 2.060.000 cân. Duy chỉ Phúc Kiến, từ cuối niên hiệu Thiên Thánh, tăng lên 500.000 cân, sau đó triều đình giảm xuống 50.000 cân, đến nay tăng lên 790.000 cân. Tính cả tiền bán và lãi suất hàng năm, chỉ đạt 1.672.000 quan. Trà của triều đình tích trữ khắp nơi, lợi nhuận thu được không đáng kể, nhiều người cho rằng nên nới lỏng lệnh cấm để thuận tiện hơn.

Trước đây, vào niên hiệu Thiên Thánh, có người dâng thư nói rằng thuế trà và muối bị thất thu. Hoàng đế nói với các quan chấp chính: “Trà và muối là thứ dân cần dùng, nhưng lại đặt ra luật lệ nghiêm ngặt để cấm đoán, khiến nhiều người phạm tội. Hiện nay chi phí nuôi quân còn lớn, chưa thể bãi bỏ lệnh cấm được.”

Đến niên hiệu Cảnh Hữu, Diệp Thanh Thần từng dâng sớ xin bãi bỏ lệnh cấm (sớ của Thanh Thần đã được ghi trong tháng 3 năm Cảnh Hữu thứ 3). Triều đình giao xuống Tam ty bàn bạc, nhưng đều cho rằng không thể thực hiện được. Đến lúc này, Trứ tác tá lang Hà Cách[3] và Tam ban phụng chức Vương Gia Lân lại dâng thư xin bãi bỏ việc cấp vốn cho trà, cho phép người trồng trà tự do buôn bán, còn quan phủ thu thuế và các khoản thuế khác tại địa phương, nộp về Khoa hóa vụ để bù đắp chi phí mua lương thực ở biên giới, nhằm khơi thông nguồn lợi và giảm bớt gánh nặng cho dân. Gia Lân dâng lên 10 quyển sách 《Đăng bình trí tụng》 và 2 quyển sách 《Long diễn thị thành sách》. Phó chuyển vận sứ Hoài Nam là Trầm Lập cũng tập hợp những lợi hại của pháp luật về trà thành 10 quyển, trình bày lợi ích của việc thông thương. Các tể tướng Phú Bật, Hàn Kỳ, Tăng Công Lượng quyết tâm ủng hộ việc này, ra sức thuyết phục hoàng đế.

Ngày Quý Dậu, lệnh cho Giáng, Húc cùng Tri tạp ngự sử Lữ Cảnh Sơ đến Tam ty lập cục bàn bạc việc này.

[5] Ngày Ất Hợi, Kinh lược ty Tần Phượng tâu rằng Tây Phiên Thổi Tư La kết thông gia với Khiết Đan.

Trước đó, bộ Nại La của Thổi Tư La là A Tác làm phản, quy thuận Hạ quốc. Lượng Tộ nhân cơ hội này dẫn quân đánh cướp biên giới. Thổi Tư La giao chiến và đánh bại họ, bắt được sáu tù trưởng, thu được nhiều lạc đà và chiến mã, nhân đó hàng phục ba tộc Lũng Bô, Lập Công và Mã Pha. Khi Khiết Đan sai sứ đưa con gái đến gả cho con trai út của Thổi Tư La là Đổng Chiên, Thổi Tư La liền rút quân về.

(Việc này theo bản truyền là sự kiện năm Gia Hựu thứ ba, nay ghi chép thêm.)

Khiết Đan sau khi kết thông gia với Thổi Tư La, nhiều lần sai sứ đi theo đường Hồi Cốt đến vùng Hà Hoàng, hẹn với Thổi Tư La cùng xuất binh đánh chiếm Hà Tây (tức Hạ quốc), muốn đưa Đổng Chiên đến Lương Châu để gần gũi hơn. Thổi Tư La từ chối, viện cớ đường xa khó hợp binh, nên việc này dừng lại.

(Việc này dựa theo 《Lũng Hữu Nhật Lục》 của Cao Vĩnh Niên và 《Thanh Đường Lục》 của Uông Tảo.)

Khi Khiết Đan gả con gái cho Đổng Chiên, sai sứ đưa đi, nhưng sứ giả ở lại lâu không về, lại ngầm mê hoặc vợ của Đổng Chiên. Đổng Chiên biết chuyện, giết sứ giả và cách ly vợ mình. Mẹ ông là Kiều thị khuyên Đổng Chiên nên vì tình thân với Khiết Đan mà đối xử tốt với vợ, nhưng Đổng Chiên không nghe.

(Việc này dựa theo 《Thanh Đường Lục》 của Uông Tảo, ghi chép thêm.)

[6] Ngày Bính Tý, Đồn điền Viên ngoại lang Lý Sư Trung được cử làm Đề điểm hình ngục Quảng Nam Tây lộ. Sư Trung kiến nghị: “Lĩnh Nam từ xưa không thích hợp cho việc đóng quân, xin lập thổ binh, chiêu mộ người dũng cảm, nhà nào có từ bốn đến năm đinh thì đăng ký một người. Chia làm năm phiên, châu lớn tập luyện, nếu không đủ năm trăm người thì chia làm bốn phiên; trang bị vũ khí tốt, huấn luyện vào lúc nông nhàn, cấm mọi việc dịch khác. Khi lên phiên thì cấp lương và miễn thuế, hiệu trưởng được miễn thuế cho hai đinh.” Nhờ đó, toàn lộ có hơn bốn vạn người[4]. Ông lại xin thông thương muối để tiện lợi cho dân, khôi phục chợ Hòa ở Ung Châu để củng cố biên giới, nhiều việc được thi hành.

[7] Quế Châu, huyện Hưng An có kênh Linh Cừ, phía bắc thông với sông hồ, phía nam chảy ra biển, từ thời Tần, Hán đã thông thuyền bè, nhưng đáy đều là đá, nông và hẹp, trong 18 dặm đặt 36 cửa đập, mỗi thuyền chở không quá 100 hộc, chỉ có thể đi được khi nước lên. Sư Trung chất củi đốt đá, chiêu mộ thợ đào, bỏ 26 cửa đập, làm trong 30 ngày thì xong, thuyền bè thông suốt.

[8] Ngày Tân Tỵ, Tiết độ sứ Thiên Bình, Tuyên Huy Nam Viện sứ Trương Nghiêu Tá mất, được tặng chức Thái Sư, cấp cho nhà ông 3.000 quan tiền thuê nhà mỗi ngày. Nghiêu Tá xuất thân từ kẻ sĩ nghèo, giữ mình cẩn thận, khá thông thạo việc quan, hiểu luật pháp, nhưng về già nhờ thân thích mà được tiến cử, nhanh chóng lên đến địa vị cao, luyến tiếc ân sủng, bị đời chê cười.

(Lã Đào trong 《Ký Văn》 chép: Đường Tử Phương khi làm quan ngôn luận, lấy trung nghĩa kết được lòng Vua, một hôm vào chầu, Nhân Tông thong thả nói chuyện về việc can gián, và bảo: “Người nói có lúc quá đáng, thường chỉ Trẫm dùng Trương Nghiêu Tá, ắt sẽ có họa như Minh Hoàng phải chạy loạn. Trẫm quả thật dùng một Nghiêu Tá, lẽ nào lại đến nỗi như Minh Hoàng phải chạy loạn sao?” Tử Phương đáp: “Dùng Nghiêu Tá chưa chắc đã phải chạy loạn, nhưng nếu bệ hạ mà phải chạy loạn, thì còn không bằng được Minh Hoàng. Vì Minh Hoàng có Túc Tông khôi phục xã tắc, bệ hạ làm sao có được Túc Tông?” Vua biến sắc, từ tốn nói: “Việc này đã bàn với Hàn Kỳ lâu rồi.” ý là muốn lập Anh Hoàng. Trương Sân Kỷ lúc ấy làm Đài Bạ biết chuyện, Sân nói với tôi. Đào chép việc này, xét ra chưa hợp.)

[9] Ngày Đinh Hợi, giáng chức Tri Đặng Châu, Lại bộ Lang trung, Thiên Chương các Đãi chế Lưu Nguyên Du làm Tri Tùy Châu, vì trước đây khi làm Tri Đàm Châu đã tự ý bổ nhiệm họa công Dịch Nguyên Cát làm Trợ giáo.

(《Hội Yếu》 chép vào tháng 9 năm thứ 2, nay theo 《Thực Lục》.)

[10] Đặt châu An Định cho người Man ở động Khê thuộc Thi Châu do Hướng Vĩnh Thắng cai quản.

[11] Ngày Kỷ Sửu, người Khiết Đan phái Trưởng Ninh tiết độ sứ Tiêu Chứ và Vệ úy khanh Quách Tủng đến tạ ơn và viếng mộ.

[12] Ngày Tân Mão, Đơn châu đoàn luyện sứ Lưu Vĩnh Niên được bổ nhiệm làm Tề châu phòng ngự sứ, Cao Dương quan bộ thự. Các quan đài gián nói rằng Vĩnh Niên được thăng tiến nhờ thân thích, chưa từng có quân công. Vì vậy, ông lại được phục chức Đơn châu đoàn luyện sứ, tri Kinh châu.

[13] Ngày Nhâm Thìn, ra chiếu chỉ cho các cơ quan kho vụ ở kinh thành, giám sát việc giao nhận và kiểm điểm tài sản công, sai phái các quan chức triều đình chưa được bổ nhiệm ngoại nhiệm, những người đã được bổ nhiệm ngoại nhiệm thì không được sai phái.

[14] Ngày Quý Tỵ, đặt tên sông mới khai ở Cát Gia Cương là Vĩnh Tế hà, tổng cộng huy động 630.000 nhân công, hoàn thành trong tháng chín.

[15] Mùa đông, tháng 10, ngày Tân Sửu, phong cho con trai của Tây Phiên Tưởng Châu Đoàn luyện sứ Hạt Chiên là Hạt Khi Đinh Mộc Chinh làm Hà Châu Thứ sử. Hạt Khi Đinh Mộc Chinh tức Triệu Tư Trung, được ban tên họ vào tháng 6 năm Hi Ninh thứ 7, đến ngày Bính Tuất tháng 7 năm Trị Bình nguyên niên, lại được bổ nhiệm làm Hà Châu. Hạt Khi Đinh Ngột Tiên làm Đô quân chủ của bộ tộc, không rõ sau này có được ban tên họ hay không. Hạt Chiên Sất làm Phó quân chủ. Hạt Chiên Sất tức Triệu Thiệu Trung.

(Bản truyện chép: Em cùng mẹ với Mộc Chinh là Hạt Chiên Sất ở núi Niếp Gia, Ngân Xuyên, năm Chí Hòa thứ 2 được bổ làm Phó quân chủ của bộ tộc, khác với ghi chép trong thực lục. Sách Hội yếu năm Chí Hòa thứ 2 cũng không ghi việc Hạt Chiên Sất được bổ làm Phó quân chủ, nên không lấy. Bản truyện còn ghi Hạt Chiên Sất là em cùng mẹ với Mộc Chinh, khác với sách 《Nguyên Phù Lũng Hữu Lục》 của Cao Vĩnh Niên và 《Thanh Đường Lục》 của Uông Tảo, cần xem xét kỹ. )

Hạt Chiên ở Kham Cốc, thường xuyên triều cống, ban đầu được phong làm Trừng Châu Đoàn luyện sứ, việc phong chức này vào tháng 4 năm Bảo Nguyên thứ 2. Việc ở Kham Cốc được ghi chi tiết ở cuối năm Cảnh Hữu thứ 3. Sau đó dời đến Tưởng Châu, không rõ thời gian. Sau khi sinh Mộc Chinh, Hạt Chiên đến Tần Châu, đi qua bộ lạc Phục Khương của Lý Đề Khắc Tinh, thấy con gái của Đề Khắc Tinh muốn lấy làm vợ. Đề Khắc Tinh nói: “Con gái ta đã có chồng, bỏ chồng về, nay lấy ngươi, chồng nó biết chắc sẽ oán hận, sợ rằng sẽ thù ta. Ngươi hãy về, mang quân đến cướp là được.” Hạt Chiên nghe theo, bèn mang quân đón con gái ấy về, sinh ra Hạt Trí và Hạt Chiên Sất.

(Việc này căn cứ theo 《Lũng Hữu Nhật Lục》 của Cao Vĩnh Niên và 《Thanh Đường Lục》 của Uông Tảo. Uông Tảo chép sinh Hạt Trí, Cao Vĩnh Niên chép sinh Hạt Chiên Sất, nay ghi cả hai. Hạt Chiên còn có con là Kết Chiên Na Chinh, sau này không được ban tên họ. Có người tên Kết Chiên Diên Chinh, sau được ban tên là Triệu Tế Trung. Hạt Chiên có tất cả năm con, theo 《Thanh Đường Lục》 của Uông Tảo.)

Sau khi Hạt Chiên chết, Mộc Chinh còn nhỏ không tự lập được, tộc trưởng Thanh Đường là Hạt Dược (Cao Vĩnh Niên chép Hạt Dược là anh của Bao Thuận ở Dân Châu), Kê La và tăng Lộc Tuân đón về ở Đào Châu, muốn lập làm thủ lĩnh để thống trị các bộ lạc Đào, Dân, Điệp, Đãng và Vũ Thắng quân (Cao Vĩnh Niên chép Vũ Thắng quân nay là Hi Châu). Tần Châu thấy gần biên giới, bèn đuổi đi, Mộc Chinh trở về Hà Châu.

(Việc này căn cứ theo bản truyện.

Lại theo 《Thanh Đường Lục》 của Uông Tảo: Hạt Dược, Kê La và tăng Lộc Tuân cùng đón Mộc Chinh, dời trại đến Đãng Châu, muốn lập phép tắc để thống trị các bộ lạc, Tần Châu sai người khuyên bảo, nhưng các bộ lạc không nghe. Mộc Chinh đuổi Hạt Dược, trở về Hà Châu. Uông Tảo chép dời trại đến Đãng Châu, lại chép đuổi Hạt Dược, khác với bản truyện, cần xem xét.

Lại theo Cao Vĩnh Niên: Cậu của Hạt Chiên là Lý Đô Khắc Chiếm tranh chức với Hạt Dược, Hạt Dược đem em gái gả cho Mộc Chinh, Mộc Chinh thiên vị Hạt Dược, Đô Khắc Chiếm tức giận nói: “Ngươi lấy vợ làm thân, lấy cha làm sơ sao?” Bèn mang quân đánh Mộc Chinh, Mộc Chinh dời đến An Hương thành, giả vờ hòa hoãn với Đô Khắc Chiếm, rồi giết chết Đô Khắc Chiếm.

Cao Vĩnh Niên chép việc dời đến An Hương thành, khác với bản truyện và 《Thanh Đường Lục》, lại không chép việc trở về Hà Châu[5], cần xem xét. Cao Vĩnh Niên chép Đô Khắc Chiếm là con của Lý Tuân, cháu của Lý Lận Chiên Nạp Chi, quan phiên ở Hi Châu, còn Uông Tảo lại chép Đô Khắc Chiếm là em của Kháp Lăng, mẹ của Hạt Trí, con của Đề Khắc Tinh, không rõ ai đúng.)

[16] Ngày Quý Mão, ban chiếu rằng các chức Khách tỉnh, Dẫn tiến, Tứ phương quán sứ, từ nay gặp khi có khuyết chức, phải đổi quan trên 4 năm mới được bổ nhiệm.

[17] Ngày Giáp Thìn, ban chiếu cho các lộ Hà Bắc, Thiểm Tây, Hà Đông chuyển vận sứ, các châu quân có công sứ tiền đều tạm ngừng việc buôn bán[6], cho phép dùng sản vật từ đất công và tiền thuê nhà không thuộc tỉnh để hỗ trợ chi phí hàng năm, nếu vẫn không đủ, thì dùng ruộng vô chủ và ruộng bỏ hoang, sai quan kiểm định số lợi thu được, căn cứ vào nhiều ít mà cấp cho. Đây là theo đề nghị của Bao Chửng.

[18] Ngày Ất Tỵ, xuất 10 vạn tấm lụa từ kho Nội tàng, giao cho Ty Chuyển vận Hà Đông[7], để hỗ trợ mua lương thực dự trữ cho quân đội.

[19] Ngày Bính Ngọ, ban thụy hiệu Diễn Pháp đại sư cho Pháp Hộ, người dịch kinh Tam tạng Thiên Trúc, chức Thí Quang lộc khanh. Pháp Hộ trước khi mất có di biểu xin độ 10 tăng, Hiệu lý Bí các là Trần Tương, khi phụ trách Từ bộ, đã tâu xin không thi hành. Trần Tương, đã từng xuất hiện khi Thái Tương làm Tri phủ Phúc Châu.

(Truyện của Trần Tương chép rằng Triệu Khải tâu xin độ đạo sĩ ở miếu Liệt Tử trong 3 năm, Trần Tương cũng tâu xin không thi hành, cần xem xét lại năm tháng.)

[20] Ngày Kỷ Mùi, giáng chức Nội thị phó đô tri, Chiêu tuyên sứ, Quả châu phòng ngự sứ Vũ Kế Long làm Đơn châu đô giám, sau đổi làm Hải châu đô giám, vì tội cố ý tha cho lại viên Nội thị tỉnh xâm nhập nơi Vua ở đáng tội chết, cùng tội tư dịch binh lính và thợ, tính tiền công đến 122 tấm lụa, cùng nhận hối lộ của tăng chùa Hồng Phúc, bị gián quan tố cáo.

(Việc này căn cứ theo 《Anh Tông thực lục》 ghi chép ngày Kế Long được phục chức Gia phòng vào tháng 7 năm thứ 8. 《Nhân Tông thực lục》 chỉ nói tội tư dịch binh lính sửa sang vườn tược, nhưng 《Anh Tông thực lục》 lại nói bị giáng làm Đơn châu đô giám, khác với 《Nhân Tông thực lục》. Có lẽ trước bị giáng làm Đơn châu đô giám, sau đổi làm Hải châu đô giám, có thể tra cứu trong 《Bách quan biểu》 và truyện Trần Húc.

Truyện Trần Húc chép: Kế Long tự ý sai binh lính và thợ sửa nhà vườn, lại viên Nội thị tỉnh xâm nhập nơi cấm, tội đáng chết, nhưng chỉ bị đánh trượng rồi tha, Húc tấu hặc, Kế Long bị tội truất quan làm Đơn châu đô giám. Đáng lẽ phải truất một chức và cách chức, nhưng được đặc miễn.)

[21] Hàn lâm học sĩ, kiêm Thị độc học sĩ Triệu Khải cùng Kế Long coi việc các kho. Kế Long bị hặc tội, Khải cũng bị ngự sử đàn hặc. Ngày Canh Thân, Khải bị phạt 30 cân đồng. Lúc đó Khải đã bị bãi chức Hàn lâm học sĩ, ra làm tri châu Vận Châu, nhưng chưa đi nhậm chức.

[22] Ngày Quý Hợi, xuống chiếu cho các châu quân ở Hà Bắc miễn thuế muối khô mà các khách hộ phường quách phải nộp do phường chính đòi bồi thường.

[23] Ngày Giáp Tý, Vương An Thạch, chức Đề điểm Giang Nam Đông Lộ hình ngục, Từ bộ Viên ngoại lang, được bổ nhiệm làm Độ chi phán quan. Vương An Thạch dâng lên vạn chữ sớ, trình bày hết mọi việc cấp thiết đương thời, đại ý rằng: “Ngày nay tài lực trong thiên hạ ngày càng kiệt quệ, phong tục ngày càng suy đồi, nguyên nhân là do không biết pháp độ.”

Lại nói: “Ngày nay cái sai lầm là không noi theo chính sách của tiên vương. Noi theo chính sách của tiên vương, chính là noi theo ý của họ mà thôi; noi theo ý của họ, thì những gì ta cải cách, thay đổi sẽ không đến mức làm chấn động tai mắt thiên hạ[8], không làm xôn xao dư luận, mà đã hợp với chính sách của tiên vương rồi.”

Lại nói: “Hiện nay nhân tài trong thiên hạ không đủ, há chẳng phải do việc đào tạo không đúng phương pháp mà nên thế sao?”

Lại nói: “Việc cấp thiết hiện nay là ở nhân tài mà thôi.”

Lại nói: “Nhân tài chưa từng không do bậc quân chủ đào tạo mà thành, cái gọi là đào tạo mà thành, chính là dạy dỗ, nuôi dưỡng, tuyển chọn, bổ nhiệm đúng phương pháp mà thôi.”

Lại nói: “Người dạy dỗ ngày nay không những không thể thành tựu nhân tài, mà còn làm khổ sở, hủy hoại họ, khiến họ không thể thành tài.”

Lại nói: “Dựa vào sức lực của thiên hạ để sinh ra của cải cho thiên hạ, lấy của cải của thiên hạ để cung ứng chi phí cho thiên hạ. Từ xưa đến nay, thời thịnh trị chưa từng lấy sự thiếu thốn làm mối lo chung của thiên hạ, cái lo là ở chỗ quản lý tài chính không đúng phương pháp mà thôi.”

Lại nói: “Nhân tài tại chức đã không đủ, mà trong dân gian, nơi thôn dã cũng thiếu người tài có thể dùng, thì không những không thể thi hành chính sách của tiên vương, mà việc gửi gắm xã tắc, giữ gìn biên cương, bệ hạ có thể mãi dựa vào may mắn trời ban, mà không lo lắng một ngày nào đó sao? Thần mong bệ hạ lấy bài học từ sự loạn vong của Hán, Đường, Ngũ đại, răn đe họa nhân nhượng, theo lối cũ của Tấn Vũ đế, hạ chiếu rõ ràng cho đại thần, suy nghĩ về cách đào tạo nhân tài cho thiên hạ, lo liệu bằng mưu kế, tính toán bằng con số, thực hiện từ từ, mong sao hợp với biến đổi của thời đại, mà không phụ ý của tiên vương, thì nhân tài trong thiên hạ sẽ dùng không hết.”

Lại nói: “Bệ hạ thực sự có ý thành tựu nhân tài cho thiên hạ, thì thần mong bệ hạ nỗ lực mà thôi, lại mong bệ hạ quyết đoán mà thôi.”

Lại nói: “Những điều thần trình bày, là những điều tục lệ không nói đến, mà người bàn luận ngày nay cho là xa vời và sáo rỗng, chỉ mong bệ hạ lưu tâm xem xét!”

[24] Chiếu cho Tôn Trường Khanh, chức Chế trí phát vận sứ Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ, xử lý theo thứ tự của Tam ty phó sứ, lệnh cho giữ chức lâu dài. Trường Khanh là người Dương Châu.

[25] Tháng đó, Vua xuống chiếu xây dựng điện thờ ảnh của Quách hoàng hậu tại cung Cảnh Linh. Hàn lâm học sĩ Âu Dương Tu tâu rằng: “Cung Cảnh Linh từ triều trước đến nay đã thờ phụng Thánh Tổ, bệ hạ lại xây dựng điện thờ của Chân Tông hoàng đế và Chương Ý thái hậu ở đó, thiên hạ đều biết ý bệ hạ muốn bày tỏ lòng hiếu thảo rộng lớn. Như vậy, cung này là nơi bệ hạ phụng thờ tổ tiên. Nay lại muốn xây điện thờ ảnh của hoàng hậu đã bị phế truất, đặt ngang hàng với tiên đế và thái hậu, như vậy là xúc phạm thần linh, trái với lễ nghi, không gì nghiêm trọng hơn. Xin bệ hạ đặc biệt bãi bỏ việc này để giữ gìn lễ nghi.”

Vua hạ chiếu giao cho Lễ viện xem xét quyết định. Lễ viện tâu: “Thần xem xét kỹ, việc các chùa quán xây dựng điện thờ thần linh vốn không phải là lễ nghi cổ xưa. Triều trước thờ phụng tiên đế và thái hậu để tỏ lòng hiếu thảo, cũng chỉ là noi theo điển tích miếu thờ nguyên tổ thời Tây Hán. Nay bàn việc xây điện thờ ảnh của Quách hoàng hậu, không có căn cứ lễ nghi, khó có thể thi hành.” Việc này bèn bị bãi bỏ.

(Theo 《Thái thường nhân cách lễ》, ngày 22 tháng 10 năm Gia Hựu thứ 3, có chiếu xây dựng điện thờ ảnh của Quách hoàng hậu tại cung Cảnh Linh, Âu Dương Tu và các quan tâu rằng việc này không nên, nhưng 《Thực lục》 không ghi chép. Tháng 8 năm thứ 2, 《Thực lục》 ghi chiếu xây dựng điện thờ ảnh của Quách hoàng hậu tại chùa Hồng Phúc, giao cho Thái thường lễ viện tham khảo điển lễ rồi tâu lên. Đến ngày Nhâm Thìn tháng 12 năm thứ 3, 《Thực lục》 lại ghi Lễ viện tâu rằng theo chiếu xây dựng điện thờ ảnh của Quách hoàng hậu tại chùa Hồng Phúc, nhưng xét chiếu thư truy phong năm Cảnh Hựu đã dừng việc ban thụy hiệu và thờ phụng trong miếu, việc xây điện thờ ảnh cũng không có căn cứ lễ nghi, xin bãi bỏ. Vua hạ chiếu cho hai chế cùng quan Lễ viện xem xét điển lễ thờ phụng trong miếu rồi tâu lên.

Theo 《Hội yếu》, việc xin xây điện thờ ảnh tại chùa Hồng Phúc là do Dương An Quốc đề xuất, xảy ra vào tháng 7 năm thứ 4, không rõ vì sao 《Thực lục》 lại ghi vào tháng 8 năm thứ 2 và tháng 12 năm thứ 3, nay không theo. 《Thực lục》 còn ghi vào tháng 8 năm thứ 4, Tri chế cáo Lưu Xưởng tâu rằng quan Lễ viện đề xuất thờ phụng Quách hoàng hậu trong miếu. Việc quan Lễ viện đề xuất thờ phụng trong miếu, 《Thực lục》 cũng không ghi rõ nguyên do.

Xét theo 《Nhân cách lễ》 thì sự việc có trình tự rõ ràng, đại để 《Thực lục》 ghi chép việc này quá sơ lược, nên lấy 《Nhân cách lễ》 làm chuẩn. 《Hội yếu》 chỉ ghi việc xây điện thờ ảnh tại chùa Hồng Phúc là do Dương An Quốc đề xuất, còn việc thờ phụng trong miếu chỉ ghi là theo chiếu thư, cũng chưa đầy đủ.

《Nhật ký của Tư Mã Quang》 ghi: Trước đó, Vua hạ chiếu xây dựng điện thờ ảnh của Quách hoàng hậu tại chùa quán, Đô quan viên ngoại lang, quyền phát khiển tu tạo án Trần Chiêu Tố cho rằng việc này tốn kém, bèn tâu rằng điện thờ thần linh không phải là lễ nghi cổ xưa, theo lễ nên thờ phụng cùng với tổ cô, xin thờ phụng Quách hoàng hậu trong miếu của Thục Đức hoàng hậu, Vua đồng ý.

Xét theo 《Nhân cách lễ》, việc bàn thờ phụng trong miếu thực ra là do quan Lễ viện đề xuất, không ghi chép về Trần Chiêu Tố. 《Nhật ký của Tư Mã Quang》 ghi chép việc đương thời không nên sai, nhưng quốc sử không ghi, nay cũng chỉ theo 《Nhân cách lễ》. 《Hành trạng của Tôn Biện》 và 《Truyện của Tô Tụng》 cần xem xét, đã phụ lục vào tháng 8 năm thứ 4.)

[26] Tháng 11, ngày Tân Mùi, Thái thường bác sĩ, Bí các hiệu lý, Tri châu Tân Châu là Vương Khởi, Trứ tác tá lang, Thiêm thư phán quan sảnh sự là Tống Định Quốc, đều bị truất một chức và bị cách chức.

Ban đầu, nha tiền của châu này là Lưu Ngọc tố cáo với Chuyển vận sứ Lý Tham rằng tàu tư nhân đã xâm chiếm lợi nhuận từ bến đò công. Vương Khởi và những người khác thường dùng tàu tư nhân để trao đổi muối công nhằm tăng lợi ích công, nên đã bênh vực chủ tàu tư nhân mà không công bằng với Lưu Ngọc. Khi Chuyển vận sứ điều tra việc này, họ liền dâng tấu biện minh. Đến lúc này, triều đình cử Chức phương viên ngoại lang Lý Chân Khanh đến châu mở án, và tất cả đều bị kết tội dâng tấu giả dối, không trung thực.

[27] Ngày Nhâm Thân, Tri gián viện Trần Húc tâu rằng các cơ quan xử án mà việc liên quan đến quyền thế thường được tha bổng do chỉ dụ từ trong cung, từ nay xin xét tội can thiệp xin xỏ, xử theo tội vi phạm chế độ. Triều đình đồng ý.

[28] Ngày Quý Dậu, lệnh cho Hàn lâm học sĩ Hàn Giáng, Gián quan Trần Húc, Ngự sử Lữ Cảnh Sơ cùng Tam ty xem xét và giảm bớt các khoản chi phí không cần thiết. Ban đầu, Xu mật phó sứ Trương Biện xin bãi bỏ các khoản thuế đánh vào dân và các việc xây dựng không cấp thiết, các vật phẩm thiếu hụt ở các kho trường, lệnh cho địa phương dùng tiền công để mua sắm. Từ đó, lập ra Ty giảm chi phí trong Tam ty, từ đó nhiều khoản chi được cắt giảm.

(Việc cắt giảm nhiều khoản chi được ghi trong bản chí.)

[29] Ngày Giáp Tuất, chiếu cho các lộ Chuyển vận và Khai Phong phủ giới Đề điểm ty xem xét việc nha tiền, nếu có gánh nặng gây hại cho dân, thì tâu lên, nếu có thể phân tích rõ ràng và loại bỏ được những phiền nhiễu, thì sẽ bàn thưởng. Việc này căn cứ theo bản chí, còn việc bàn thưởng thì trong hội yếu không thấy ghi.

[30] Ngày Ất Hợi, lệnh cho Nhập nội phó đô tri Đặng Bảo Cát đốc thúc việc sửa chữa các đồ tế khí ở Nam Giao và Thái Miếu.

[31] Ngày Kỷ Sửu, ban chiếu rằng: “Lợi hại của thiên hạ, liên quan sâu sắc đến việc trị thủy. Từ thời Vũ chế ngự lũ lụt, công lao ấy kéo dài đến ba đời. Đến thời Hán, dùng Bình Đằng coi việc đê điều, Lưu Hướng trông coi thủy lợi, đều là danh nho đương thời, phong thái đáng khen. Gần đây, quan coi thủy lợi thất chức, xét theo luật lệ, phẩm trật vẫn còn. Nay sông lớn nhiều lần vỡ đê, mất đi quy luật thường, trăm sông chảy xiết, có khi gây ra lũ lụt, tai hại đã đến, mà lợi ích lại bị bỏ qua. Việc này các quan bàn luận nên vì triều đình mà bàn bạc kế sách.

Trẫm nghĩ rằng việc đặt quan chức, phải tùy thời mà sắp xếp, cứu chữa tệ nạn, tìm cách thích hợp, không cố định chế độ. Nhưng nếu không chuyên trách chức vụ, thì không thể trách nhiệm được, nếu không chọn lựa người tài, thì không thể thành công được. Nên tu sửa chế độ cũ, để làm lợi cho dân.

Nay đặt lại Giám đô thủy ở kinh đô, mọi việc về sông ngòi trong ngoài đều giao phó cho cơ quan này. Các quan thuộc và điều lệ của bản ty, do Trung thư môn hạ xử lý rồi tâu lên. Bãi bỏ Ty Hà cừ của Tam ty, lấy Ngự sử tri tạp Lữ Cảnh Sơ làm Phán giám Diêm thiết phán quan, lĩnh việc Ty Hà cừ, Dương Tá làm Đồng phán, các viên Câu đương công sự Ty Hà cừ là Tôn Lâm, Vương Thúc Hạ làm Tri giám thừa sự.”

[32] [Các lộ] Giang [Nam], Hồ [Nam] cung cấp gạo, trước đây các chuyển vận sứ dùng thuyền của địa phương mình chở gạo đến các kho chuyển vận ở Chân, Sở, Tứ châu, rồi chở muối trở về, thuyền trở về quận, quân lính trở về nhà. Còn thuyền Biện đến kho chuyển vận chở gạo về kinh đô, mỗi năm vận chuyển bốn lần. Sông mùa đông cạn, quân lính cũng trở về doanh trại, đến mùa xuân lại tập hợp lại, gọi là “phóng đông”. Quân lính được nghỉ ngơi luân phiên, số đào ngũ ít, và thuyền Biện không đi qua đường sông, không có nạn chìm đắm do sóng gió.

Sau này, quyền lực của phát vận sứ càng nặng, sáu lộ cung cấp gạo tập hợp thuyền, không còn giao cho địa phương nữa, chỉ do phát vận sứ đảm nhiệm. Văn thư chồng chất, công việc nhiều, có khi không kiểm soát được, nên lại dịch có thể lợi dụng, người chèo thuyền hối lộ lại dịch, thường đến các quận giàu có mua rẻ bán đắt, rồi về kinh đô. Từ đó, thuyền Giang và Biện hỗn tạp, không phân biệt được, quân lính kéo thuyền có người cả đời không về nhà, già chết trên đường sông, sổ sách nhiều tên giả, việc vận chuyển hỏng nặng.

Năm Hoàng Hựu, phát vận sứ Hứa Nguyên tâu: “Những năm gần đây, các lộ làm theo thói cũ, phép vận chuyển gạo hỏng, khiến thuyền Biện đến mùa đông phải ra sông, vận chuyển cho các lộ khác, quân lính không được nghỉ ngơi. Nên ra lệnh cho các lộ tăng thuyền chở gạo, đưa đến kho chuyển vận để đủ dùng trong năm, như trước đây.” Những người bàn lợi phần nhiều cho lời Hứa Nguyên là đúng, triều đình hạ chiếu theo lời tâu của Nguyên, nhưng Nguyên đi rồi, việc không thành.

Sau đó, các lộ không tập hợp được thuyền, ngày Canh Dần, lại hạ chiếu trách cứ các cơ quan không thi hành chiếu chỉ, và phát vận sứ không thể tổng hợp các điều khoản, chuyển vận sứ không thể lo việc thu nhập hàng năm, ra lệnh cho Giang Hồ, Lưỡng Chiết chuyển vận ty, trong một năm phải đóng thuyền, bổ sung quân lính, tập hợp thuyền của địa phương mình, từ năm Gia Hựu thứ năm, thuyền Biện không được ra sông nữa.

[33] Tháng 12, ngày Nhâm Dần, Kinh Đông chuyển vận sứ Vương Cử Nguyên tâu: “Đảo Sa Môn thuộc Đăng Châu mỗi năm nhận khoảng hai ba trăm tội nhân, nhưng không có quần áo và lương thực, chỉ làm thuê cho hơn tám mươi hộ dân trên đảo. Nếu không dần dần giảm bớt, thì dân đảo khó lòng nuôi nổi. Hơn nữa, các châu quân không hiểu rõ điều luật, đều xăm mặt tội nhân rồi đày ra đảo, trong đó cũng có người tội không nặng. Nếu tính mỗi năm đày ra ba trăm người, thì mười năm sẽ có khoảng ba nghìn người, trừ đi một phần tử vong, còn lại hai nghìn người. Hiện nay chỉ còn một trăm tám mươi người, đủ thấy tệ nạn. Vì không có quần áo lương thực, nên phải dần dần giảm bớt, thật đáng thương. Mong nghiêm cấm các lộ châu quân, ngoài những người theo biên sắc phải đày ra đảo, còn lại không được đày đến đó. Cuối năm, Đăng Châu phải báo cáo chi tiết về tội nhân được đày đến đảo Sa Môn, nguyên nhân phạm tội, rồi tâu lên, giao cho Hình bộ kiểm tra. Nếu không thuộc biên sắc phải xăm mặt đày ra đảo[9], thì báo cáo rõ lý do.” Triều đình nghe theo.

(Việc này được thêm vào theo 《Hội yếu》, có thể tham khảo ngày 25 tháng 3 năm thứ 5, và tấu chương của Lý Khánh ngày 25 tháng 6 năm Trị Bình thứ 4.)

[34] Ngày Giáp Thìn, Xu mật viện dâng lên 60 quyển sách sắc lệnh từ thời Đoan Củng, một bản lưu lại trong cung, một bản gửi đến Long Đồ các. Trước đây, Hàn Kỳ làm Xu mật phó sứ, từng nhậm chức ở Hà Bắc, thấy các chiếu lệnh của tổ tông đều là việc võ bị phòng ngự khi chưa giảng hòa với Khiết Đan, nên xin biên soạn lại rồi dâng lên.

[35] Ngày Ất Tỵ, xuống chiếu cho Tam ty mỗi năm báo cáo số thuế của thiên hạ, từ nay cứ ba năm một lần báo cáo số thiếu hụt và dư thừa.[10]

[36] Lại dụ Ty chuyển vận Thiểm Tây rằng: “Quần áo lụa là, bông gòn của các quân ở bản lộ đều do Ích, Tử, Lợi lộ cung cấp. Nay biên sự đã yên lâu mà quân đồn trú không giảm, nên giảm nhẹ gánh nặng cho ba lộ. Nếu quân lính nhận quần áo mà muốn bán lại, quan phủ sẽ thu mua theo giá trung bình.”

(Điều này căn cứ theo ý kiến của Trương Phương Bình. Truyện chính của Dương Điền chép: Điền làm Hộ bộ phó sứ, Hà Bắc trước dùng lụa địa phương cấp cho quân trang, Tam ty sứ Trương Phương Bình đổi sang dùng lụa các châu khác. Điền đã cùng ký tên tâu lên, bên ngoài bàn tán xôn xao, lại bí mật tâu rằng việc này không thể làm. Việc này cần xem xét thêm.)

[37] Lưỡng Xuyên mua lụa để cấp cho quân đồn trú Thiểm Tây, nhưng người Thục khổ vì thuế nặng. Đô chuyển vận sứ Tào Dĩnh Thúc mỗi năm xuất 50 vạn quan tiền của bản lộ để mua phần dư quân trang, nhờ đó giảm bớt gánh nặng cho Lưỡng Xuyên. Từ niên hiệu Khánh Lịch đúc tiền sắt lớn lưu hành ở Thiểm Tây, dân gian đúc lậu không ngừng. Tam ty xin độc quyền sắt. (Dĩnh Thúc cho rằng tiền sắt nhẹ mà hàng hóa nặng, không thể lưu hành lâu dài, huống chi quan phủ độc quyền sắt?) Xin bãi bỏ việc đúc tiền sắt ở các châu, mà lấy ba đồng tiền sắt đổi một đồng tiền đồng, triều đình đồng ý.

(Điều này căn cứ theo truyện của Dĩnh Thúc, việc ba đồng tiền sắt đổi một đồng tiền đồng cần xem xét thêm, sẽ chép vào ngày Quý Mão tháng hai năm sau.)

[38] Ngày Kỷ Dậu, dụ Lại bộ Lưu nội tuyển rằng: “Từ nay các tuyển nhân khi khảo xét, không được kể công lao để xin cắt ngang thứ tự dẫn kiến. Nếu công lao lớn hơn việc thăng chức kinh quan[11], triều đình tự sẽ thăng thưởng.” Lúc đó quy chế thuyên bổ rườm rà, lại viên nhân đó mà làm bậy, mối manh rất nhiều. Văn bản và sổ sách có sai sót nhỏ như sợi tóc cũng lập tức bị bác bỏ[12], xét đi xét lại nhiều lần vẫn không buông, để đòi hối lộ. Vì vậy những người khảo xét phần nhiều phải chờ đợi ở các châu ngoài, hoặc đến Lại bộ hai ba năm mới được thăng chức, thường nhờ công lao nhỏ xin cắt ngang thứ tự dẫn kiến, nên ban chiếu này.

[39] Ngày Tân Hợi, Quang lộc khanh, Trực bí các Trương Tử Hiến làm Bí thư giám, bãi chức.

[40] Hàn lâm học sĩ Hàn Giáng tâu: “Trung thư môn hạ là chức vụ của tể tướng, nhưng lại để quan khác xử lý việc tỉnh, danh không xứng với thực, xin sửa đổi lại chế độ này. Các việc thường vụ của trăm ty[13], phần nhiều báo lên nhị phủ, xin xét kỹ việc nặng nhẹ, chuyển giao xuống dưới, để đại thần không bị vướng bận bởi việc nhỏ, có thể chuyên tâm bàn luận chính sự. Lại nữa, chương phục là để phân biệt tôn ty, nay lại điều với công khanh không khác, xin theo chế độ nhà Đường lấy phẩm số làm thứ bậc. Những người do niên khảo[14] và giai phẩm được mặc, phải là người chưa từng phạm tội đồ mới được cho phép. Lại nữa, đài các tỉnh tự là nơi xuất phát điển chương, nay chỉ còn lại sắc điều và văn án mà thôi. Cố sự triều ta, di phạm của danh thần, không được ghi chép truyền lại, xin theo 《Chu Lễ》, 《Đường Lục Điển》 soạn thành một bộ sách.” Chiếu cho Hàn lâm học sĩ Hồ Túc, Tri chế cáo Lưu Xưởng xem xét định ra rồi tâu lên.

(《Nhật lục》 của Vương An Thạch có thể tham khảo.)

Xưởng và các quan đã dâng sớ trình bày mười việc về cải chính, cắt giảm và làm rõ: “Theo chế độ nhà Đường, tuy lấy các chức Thượng thư, Môn hạ, Trung thư làm chức Tể tướng, nhưng danh hiệu Thượng thư, Trung thư vốn không phải là chức vụ thực sự của Tể tướng. Nếu muốn cải chính quan chế, cần phải lập riêng Chính sự phủ, như chức Thừa tướng. Chế độ nhà Đường không có Xu mật viện, từ thời Ngũ đại dùng binh, mới bắt đầu cùng với Trung thư nắm giữ việc cơ mật, danh thể không chính đáng, không gì hơn việc này.

Nếu muốn cải chính quan chế, nên bỏ tên viện, đưa việc các tào về Trung thư. Hai mươi tư ty của Thượng thư vốn là hư danh, nên quan lại nhiều, lãng phí tiền của, hại chính sự. Nếu muốn cải chính quan chế, nên bỏ Tam ty, khôi phục hai mươi tư ty và chức Cửu khanh, định rõ số lượng quan viên, các Lang quan không làm việc tại bản tỉnh, đều dùng tiền tư và tản quan để xử lý. Các chức Văn vũ tản quan, Kiểm hiệu, Kiêm quan, Huân, Tước, Thực phong, trước thời Khai Nguyên còn có thực quyền, nay chỉ còn tản quan còn xét phẩm phục, phân biệt nhẹ nặng, còn lại đều là hư danh, không có ích gì cho việc trị nước. Nếu muốn cải chính quan chế, nên bỏ các hành tỉnh, đó gọi là cải chính. Đại Lý tự xử án trong thiên hạ, Hình bộ xét lại, việc đã đủ, lại thêm Thẩm hình viện, thì là thừa thãi.

Nếu muốn cắt giảm quan chế, nên bỏ Thẩm hình viện. Lại bộ Thượng thư, Thị lang, Lang trung chia nhau quản lý việc thuyên chuyển, nên phân biệt thứ bậc nặng nhẹ, phân loại phẩm cấp, nay Thẩm quan viện quản lý việc khảo xét quan lại kinh triều, còn Thượng thư thuyên chỉ quản lý quan lại châu huyện và mạc liêu, thể chế không hợp lý. Nếu muốn cắt giảm quan chế, nên bỏ Thẩm quan viện, đưa việc của nó về Thượng thư thuyên. Các ty như Quần mục ty, Đề cử ty, Củ sát ty, xưa không có các chức này. Nếu muốn cắt giảm quan chế, nên bỏ hết, trả về Thượng thư Cửu khanh, đó gọi là cắt giảm.

Gián quan, Sử quan theo chế độ nhà Đường nên theo Tể tướng vào chầu dưới trướng, nay muốn làm rõ và khôi phục chế độ này. Trung thư ban hành chế sắc, theo chế độ nhà Đường phải qua Môn hạ xét lại, sau đó Thượng thư ban cáo thân, trải qua ba tỉnh, gần đây chỉ do Trung thư ban sắc, đặt hư danh ba tỉnh, nay muốn làm rõ và khôi phục chế độ này. Theo chế độ nhà Đường, Học sĩ không kiêm chức ngoài, để coi trọng việc cơ mật, Xá nhân phân xử việc sáu tào, để thận trọng chính lệnh, nay muốn làm rõ và khôi phục chế độ này. Đó gọi là làm rõ, chỉ nêu một phần, nếu có thể thực hiện, thì suy rộng ra để chính thức hóa.” Sau đó đều không thực hiện được.

(《Thực lục》 cho rằng Túc và các quan cho là không đủ để thực hiện, là sai, Túc và các quan đã từng liệt kê, có lẽ do bàn bạc không hợp nên bỏ, cần xem xét kỹ hơn.)

[41] Ngày Nhâm Tý, Vua ngự tại điện Sùng Chính, triệu tập các quan cận thần đến xem cỏ linh chi do phủ Hà Nam dâng tiến. Vua nói: “Hôm nay có tuyết tốt, rất có lợi cho lúa mạch, điềm lành này còn lớn hơn cả cỏ linh chi.” Liền ban yến tiệc mừng tuyết tại Trung thư.

[42] Ngày Quý Sửu, vì trời lạnh có tuyết, ban cho các quân đội củi và than.

[43] Ngày Giáp Dần, ra chiếu cho Đại Tông Chính Ty, lệnh cho các quan giáo thụ ở trạch Mục Thân báo cáo công khóa của các tông tử mà họ dạy dỗ.

[44] Ngày Đinh Tỵ, ra chiếu rằng: “Các lộ, mỗi châu quân có từ ba đến năm viên tuần kiểm, lại có hai ba châu đến ba năm châu, thậm chí tám chín châu có đô giám, đồng tuần kiểm, hoặc trú bạc tróc tặc. Số lượng quan viên quá nhiều, không chỉ làm phân tán lực lượng quân mã, mà khi gặp biến cố cũng khó bắt được giặc, chỉ có các huyện là dùng cung thủ quen biết chỗ giặc ẩn náu mà bắt được chúng. Vậy từ nay, mỗi châu quân chỉ giữ lại một viên tuần kiểm, vài châu giữ lại một viên đô tuần kiểm. Những nơi hiểm trở dọc sông, biển, sông Biện, nếu trước đây đã có tuần kiểm thì vẫn giữ lại. Tăng thêm cung thủ ở các huyện, giảm bớt tán tòng, thừa phù, cước lực, thay bằng thặng viên.”

[45] Ngày Kỷ Mùi, Ngự sử trung thừa Bao Chửng tâu: “Trước và sau tiết Đông chí và Hàn thực, dù không ngự điện, vẫn nên cho nhị phủ và trăm quan vào làm việc như thường. Nếu có hành hạnh hoặc yến hội, ngày hôm sau nghỉ ngơi, nếu không gặp ngày nghỉ thì không cần bố trí thêm ngày nghỉ. Khi xem sách hoặc duyệt lễ vật, không được về nhà riêng sớm.” Vua nghe theo.

[46] Ngày Tân Dậu, ra chiếu rằng: “Những người từ 70 tuổi trở lên đang làm quan mà phạm tội, hoặc vì không trị được mà bị cấp trên xem xét, hoặc bị thay thế mà chưa về hưu, thì không được ban ân huệ cho con cháu.”

[47] Ngày Quý Hợi, ban cho Bàng Tịch, Tri châu Định Châu, Quan Văn điện Đại học sĩ, Hộ bộ Thị lang, vật phẩm khi vào chầu từ biệt theo lệ của Tiết độ sứ. Ban đầu, Vua định phong Tịch làm Thượng thư Tả thừa, nhưng Tịch cố từ chối không nhận.

[48] Các quan ở Cáp môn tâu: “Theo lệ gần đây, các quan thuộc ban thượng điện, trừ Tam ty, Khai Phong phủ, Đài gián, nếu gặp lúc tiến thần bài thì không cách ngoại, còn lại đều phải đợi đến ngày hôm sau mới được vào chầu. Hoặc nếu có thêm các quan thuộc Tam ty, Khai Phong phủ và những người có chức vụ cao, cũng bị cách xuống sau thần bài, khiến các quan phải đợi lâu, điều này không tiện. Nay xin từ nay về sau, nếu chưa tiến thần bài thì vẫn theo lệ cũ mà dẫn vào, còn những người bị cách xuống sau thần bài, nếu đến ba lần, được chỉ cho phép đặc cách vào chầu, thì sẽ được dẫn vào sau những người vốn không bị cách.” Vua nghe theo.

(Việc này chép trong 《Hội yếu》 ngày 14 tháng 12 năm thứ 3, nay phụ vào cuối tháng).

[49] Tháng 12 nhuận, ngày Đinh Mão mùng một, Vua hạ chiếu: “Những người từng là lại nhân của Trung thư, Xu mật viện, các ty và những quan kỹ thuật được xuất chức, không được giữ chức Đề điểm hình ngục và Tri châu quân. Chỉ những người từ quân ban xuất thân đến chức Chính nhiệm, mới được làm Tri châu quân ở các châu biên giới trọng yếu.”

[50] Ngày Tân Mùi, người Man ở ba châu Thượng, Trung, Hạ thuộc An Hóa và trấn Bắc Hà đến cống phương vật.

[51] Ngày Bính Tý, Quốc tử bác sĩ, quyền Diêm thiết phán quan Lôi Giản Phu được thăng làm Đồn điền viên ngoại lang. Giản Phu vốn đáng được cải bổ làm Ngu bộ viên ngoại lang sau khi khảo khám, nhưng Tri thẩm quan viện Hàn Giáng tâu rằng ông từng có công chiêu hàng Bành Sĩ Hi, nên được thăng vượt cấp.

[52] Trước đó, triều đình bàn luận rằng khoa cử đã nhiều lần, nên số người đỗ cao tăng gấp bội, việc ban ân điển bổ nhiệm nên giảm bớt so với trước, chiếu cho Trung thư môn hạ xem xét.

Ngày Đinh Sửu, ban chiếu rằng: “Trẫm nghĩ rằng việc quốc gia chọn sĩ tử và sĩ tử chờ được tiến cử không thể bỏ trống và quá nhiều. Vì vậy, đặt ra kỳ hạn cách năm để khuyến khích sự siêng năng, giới hạn số lượng cống cử để tinh lọc sự tuyển chọn, định thành quy chế, ra lệnh cho các cơ quan, nhưng những người đỗ cao vẫn thường được bổ nhiệm không theo thứ tự[15], nếu cứ theo lệ cũ, cuối cùng sẽ dẫn đến việc quan chức quá nhiều, thật vô nghĩa.

Từ nay, người đỗ chế khoa hạng ba cùng với tiến sĩ hạng nhất, sẽ được bổ làm Đại Lý bình sự, ký thư hai chức mạc quan, khi trở về sẽ thăng làm thông phán, sau khi mãn nhiệm kỳ thứ hai sẽ thử thách ở quán chức. Người đỗ chế khoa hạng tư cùng với tiến sĩ hạng hai, hạng ba, sẽ được bổ làm hai chức mạc quan, khi trở về sẽ đổi làm kinh quan hạng thứ. Người đỗ chế khoa hạng tư thứ cùng với tiến sĩ hạng tư, hạng năm, sẽ được bổ làm tri huyện thử hàm, khi trở về sẽ thăng làm hai chức mạc quan. Người ở toà sảnh cũng theo quy định này. Còn những người tài cao hạnh lạ, có công trạng rõ ràng trong chính sự, sẽ được ban ân điển đặc biệt để bổ nhiệm[16].”

Từ đó, người được thăng tiến nhanh chóng ít đi, và nhân tài cùng phong cách của họ so với trước cũng dần suy yếu.

(Điều này căn cứ theo bản chí.

《Đông đô sự lược》 của Vương Xưng chép: Chiếu rằng: “Trẫm nghĩ rằng việc quốc gia chọn sĩ tử và sĩ tử chờ được tiến cử đều không thể kéo dài quá lâu, cũng không thể quá nhiều, quá nhiều thì việc khảo sát không kỹ, quá lâu thì người tài có thể bị trì trệ. Dùng kỳ hạn cách năm và giới hạn số lượng cống cử để tinh lọc sự tuyển chọn, định thành pháp luật, ra lệnh cho các cơ quan và phân định thứ bậc, trước đây thường được bổ nhiệm không theo thứ tự, nếu cứ theo lệ cũ, cuối cùng sẽ dẫn đến việc quan chức quá nhiều. Vì vậy, tăng trách nhiệm để phát huy tài năng, chậm thăng tiến để đạt hiệu quả, đây là điều mà sĩ tử trong thiên hạ đều mong muốn, và Trẫm quyết tâm thực hiện. Còn những người tài cao hạnh lạ, có công trạng rõ ràng trong chính sự, mưu lược trung thành[17], được thể hiện qua việc làm, đã qua thử thách, được mọi người suy tôn, ắt sẽ được ban ân điển đặc biệt, để thể hiện đạo lý công bằng, mong các sĩ tử hiểu ý Trẫm.”)

[53] Ngày Kỷ Mão, ban chiếu rằng năm sau vào ngày chính đán sẽ có nhật thực.

(Xét chiếu về nhật thực ngày chính đán trong 《Tống sử》 chép là ngày Canh Thìn, có chút khác biệt với điều này.)

Từ ngày Đinh Hợi, tránh chính điện, giảm bớt bữa ăn thường, yến tiệc tiếp đãi sứ Khiết Đan không cử nhạc.

Tri chế cáo Lưu Xưởng tâu: “Trời sáng tuy có đạo lý đáng sợ, nhưng cũng nên noi theo cổ nhân, tuân thủ lễ nghi, như vậy mới hợp lẽ. Xét điển chế ba đời, nhật thực không có việc tránh trước. 《Tả truyện》 chép rằng tránh di thời, Tăng Tử hỏi về việc chư hầu vào cửa không thể hành lễ, nhật thực là một trong những trường hợp đó, đều là thấy có biến cố mà cảnh giác[18], không phải là chuẩn bị sớm. Tiên vương chế định lễ nghi, người làm quá cũng như người làm không đủ. Pháp chế định trước thời gian cũng như không kịp thời, đều quý ở chỗ đạt được sự cân bằng. Thời Hán, Đường, mặc áo trắng, ngừng binh đao, bãi bỏ triều hội, không xem xét công việc, và cầu xin lời nói thẳng, đại thể đều vào ngày hợp sóc, chưa có việc làm trước mười ngày[19]. Lo lắng quá mức, bị 《Xuân Thu》 chê trách. Nay sứ địch vào triều, phương xa đến xem lễ, nếu hành động không đúng mực, có thể bị họ xem thường, xin hãy xem xét kỹ lưỡng điển cũ, điều chỉnh cho hợp lễ.”

[54] Lệnh cho Tỷ bộ viên ngoại lang Lý Ngôn Chi làm đề cử từ cửa Biện đến đê ngạn Tứ châu, nhập nội cung phụng quan Dương Chiêu Tích cùng làm đề cử. Những sứ thần, lệnh tá dọc sông không làm tròn chức trách, cho phép xem xét và tâu lên.

Ngôn Chi là cháu của Lý Địch.

[55] Ngày Nhâm Ngọ, ngự tại điện Sùng Chính xét tù nhân, những người phạm tội tử hình trở xuống đều giảm một bậc, tội đồ trở xuống được tha, lại sai sứ giải quyết việc ở Tam Kinh.

[56] Ngày Giáp Thân, Tông chính tự tâu rằng tường miếu thất của Chân Tông bị hư hỏng, chiếu cho quan tu ngọc điệp Lưu Xưởng xem xét, chọn ngày tu sửa.

[57] Ngày Ất Dậu, chiếu các châu không được tự ý sai bản thành đô giám, giám áp cùng quản lý quân mã trú bạc.

[58] Hữu thiên ngưu vệ tướng quân Khắc Nhan dâng 《Chu lễ đồ》, ban sắc khen thưởng.

[59] Ngày Kỷ Sửu, xuống chiếu cho Trung thư ngũ phòng biên soạn tổng lệ, theo lời thỉnh cầu của Hàn Kỳ.

(Hành trạng chép việc này có thể ghi riêng, nếu không thì đợi đến khi sách hoàn thành sẽ phụ chép vào.)

[60] Ngày Tân Mão, quốc mẫu nước Khiết Đan sai Lâm nha Thiên Đức tiết độ sứ Gia Luật Thông, Tả gián nghị đại phu Sử quán tu soạn Mã Hữu; Khiết Đan sai Bảo Tĩnh tiết độ sứ Gia Luật Duy Tân, Hữu gián nghị đại phu Sử quán tu soạn Vương Thực sang chúc mừng ngày Chính đán.

[61] Năm đó, toàn quốc có 6.948.470 hộ chính, 15.706.490 nhân khẩu; 3.877.110 hộ khách, 6.726.303 nhân khẩu.

[62] Bãi bỏ ty Cổ mã, lệnh cho quan ở ty Quần mục kiêm quản.

[63] Ứng Thiên phủ xử án nhầm dân thường phải tội chết, chưa thi hành án, Thông phán Tôn Thế Ninh xét lại và sửa chữa. Các lại phải chịu tội, nhưng Tri phủ Lưu Hãng bỏ qua không trị tội. Đề điểm hình ngục Hàn Tông Ngạn đến xét cử, Hãng lại ngăn cản. Tông Ngạn dâng sớ lên triều đình, cuối cùng các lại bị trị tội.

Tông Ngạn là con của Hàn Cương.

Vua tuổi đã cao mà chưa có người nối dõi. Tông Ngạn dâng sớ xin tu sửa lệnh “thai dưỡng” rằng: “Thần từng đọc chiếu của Hán Chương Đế rằng: ‘Những người đang mang thai, ban cho thóc nuôi dưỡng thai nhi, mỗi người ba hộc, miễn thuế cho chồng họ một năm, lập thành lệnh.’ Sử thần cho rằng đó là biểu hiện của lòng yêu thương sâu sắc đối với dân chúng, và là lệnh nuôi dưỡng thai nhi.

Thần tra cứu các đời, Chương Đế có tám người con, con trưởng là Hòa Đế, còn các hoàng đế như Chất Đế, An Đế về sau đều là dòng dõi của ông, nên sử thần lại nói, Chương Đế là bậc trưởng giả, việc làm theo đạo đức nhân hậu, nên con cháu nối tiếp nhà Hán đều là hậu duệ của ngài. Lòng nhân từ của Chương Đế, chuyên chú vào việc nuôi dưỡng dân chúng, mà phúc lộc thịnh vượng, truyền đến đời sau, thì đây là điều mà người trị quốc nên noi theo.

Trước đây, chiếu chỉ cấm bán ruộng đất của những hộ tuyệt tự, thu tô thuế, lập ra kho Quảng Huệ để cấp lương thực cho những người nghèo khó cô đơn, thần mừng thầm vì triều đình không lấy của cải của những hộ tuyệt tự làm lợi, mà đều trả lại cho dân.

Gần đây nghe trong hậu cung đã có hai người vào nội quán, thì điềm báo có con nối dõi hẳn là ở ngày nay, há chẳng phải do ý ‘Quảng Huệ cứu dân’ cảm ứng mà thành sao?

Tuy nhiên, từ khi chiếu chỉ ban ra, ruộng đất của những hộ tuyệt tự lại bán như cũ, thần lòng không vui, cho rằng nên lấy toàn bộ số tiền bán được, mua thêm thóc lúa, đồng thời tu sửa lệnh ‘thai dưỡng’. Nếu chưa thể thực hiện đầy đủ như chế độ thời Đông Hán, thì giảm bớt một ít, chỉ ban cho những hộ nghèo đang mang thai mà không thể tự nuôi sống được, như thế Bệ hạ không làm tổn hại kho tàng tích trữ, mà lại ban phát rộng rãi cho thiên hạ, lòng người vui vẻ thì ý trời cảm động, ý trời cảm động thì phúc lành sẽ đến theo loại. Vì bậc đế vương chuyên chú vào việc nuôi dưỡng dân chúng, thì trời cũng làm cho con cháu thịnh vượng, lẽ tất nhiên là vậy.”

(Sớ về việc “thai dưỡng” không rõ thời điểm, “trong hậu cung có hai người nhập cung ở nội quán”, tức là năm thứ tư Đổng thị và Chu thị đều sinh công chúa, nay phụ vào cuối năm thứ ba.)


  1. Chữ 'bất' trong 'cực bất tường' vốn bị khuyết, theo bản trong các khố mà bổ. 《Tống hội yếu》 phần Phiên di 5 chép việc dẹp Man rất sơ sài, có thể chứng minh.
  2. Chữ 'mạt' trong 'thập nguyệt mạt' ban đầu bị thiếu, theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và bản các bản khác bổ sung
  3. Chữ 'tá' trong 'Trứ tác tá lang Hà Cách' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản cùng 《Biên niên cương mục》 quyển 16 và 《Tống sử》 quyển 184, 《Thực hóa chí》 bổ sung.
  4. Toàn lộ có hơn bốn vạn người: chữ 'Nhất' nguyên là 'Tứ', theo 《Tục Thông Giám》 quyển 57 sửa lại. Văn trên nói rõ Lý Sư Trung là Đề điểm hình ngục Quảng Nam Tây lộ, sao lại có bốn lộ được? Chữ 'Tứ' có lẽ là sai của chữ 'Tây'.
  5. Theo văn trên, 《Lũng Hữu Nhật Lục》 của Cao Vĩnh Niên chép về các việc liên quan đến Mộc Chinh, khu vực hoạt động của Mộc Chinh ở vùng Hà Châu, mà Tống Hòa Châu thuộc Hoài Nam Tây Lộ, nghi ngờ chữ 'Hòa Châu' ở đây là nhầm với 'Hà Châu'.
  6. Công sứ tiền, chữ 'Công' nguyên là 'Công', xét thời Tống có công sứ tiền mà không có 'Công sứ tiền', nên sửa lại.
  7. Ty Chuyển vận Hà Đông, chữ 'Ty' nguyên là 'Sứ', căn cứ vào bản Tống và bản Tóm tắt sửa lại.
  8. 'không đến mức làm chấn động tai mắt thiên hạ' nguyên bản là 'vu', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 《Tống sử toàn văn》 quyển 9 hạ, 《Vương Lâm Xuyên tập》 quyển 39 thượng 《Thượng Nhân Tông hoàng đế ngôn sự thư》 mà sửa.
  9. 'xăm mặt' nguyên bản là 'sắc', theo 《Tống hội yếu》 Hình pháp 4-24 sửa
  10. 'số thiếu hụt và dư thừa' nguyên bản là 'cụ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản sửa
  11. 'kinh quan', Tống hội yếu chức quan 11-15 chép là 'kinh triều quan'.
  12. 'tỷ' nguyên bản chép là 'tiên', căn cứ Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác sửa.
  13. chữ 'Thường' vốn thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 30 phần Chính tích bổ sung.
  14. nguyên văn là 'Niên giả', căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống, bản Các và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 cùng 《Tống hội yếu》 Nghi chế 5-14 sửa lại.
  15. chữ 'nhật' trong câu 'nhật thường bất thứ nhi dụng' không có trong 《Tống sử》 quyển 155, phần 'Tuyển cử chí', 《Tống hội yếu》 phần 'Tuyển cử' quyển 3, tờ 36 viết là 'vãng'.
  16. chữ 'mậu' trong câu 'đương dĩ mậu ân trạc yên' trong 《Tống hội yếu》 viết là 'dị'.
  17. chữ 'gia' trong câu 'trung mô gia du' nguyên bản là 'gia', căn cứ theo 《Đông đô sự lược》 quyển 6, phần 'Nhân Tông kỷ', và 《Tống hội yếu》 sửa lại.
  18. Chữ 'giai' nguyên bản thiếu, theo 《Công thị tập》 quyển 31 bổ sung.
  19. Chữ 'hữu' nguyên bản là 'kiến', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Công thị tập》 sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.