IV. TỐNG NHÂN TÔNG
[BETA] QUYỂN 193: NĂM GIA HỰU THỨ 6 (TÂN SỬU, 1061)
Từ tháng giêng đến tháng 6 năm Gia Hựu thứ 6 đời Vua Nhân Tông.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Tân Mão, Phán Đại Tông chính sự Doãn Bật xin cho Giáo thụ Chu Mạnh Dương ở Vương cung Đàm cùng các người khác biên soạn các sắc chỉ, trát tử mà bản ty đã nhận được. Vua đồng ý.
Mạnh Dương là người Hải Lăng.
[2] Ngày Nhâm Thìn, Hàn lâm học sĩ Vương Khuê được cử quyền tri cống cử.
[3] Ngày Ất Mùi, Vua ra chiếu cho các quan chế tạo mũ áo dùng trong miếu thờ Nam Hải Quảng Lợi Hồng Thánh Chiêu Thuận Vương, cùng áo tế của Tam Hiến quan, Thái Chúc, Phụng Lễ, đồng thời bãi bỏ các khúc nhạc mà miếu này được ban trước đây. Trước đó, Giá bộ viên ngoại lang, Thông phán Quảng Châu Lã Cấu tâu rằng, khi tham gia tế lễ ở miếu Nam Hải Vương, tuy có đặt chuông trống và được ban nhạc khúc, nhưng nhạc công chưa từng tập luyện, hơn nữa nhạc khí và y phục không phù hợp với điển lễ tế tự, xin giao cho Lễ bộ xem xét kỹ. Lễ bộ tâu rằng, theo lệnh, miếu Nam Hải thuộc loại trung từ, nên như các miếu thờ núi sông, không dùng nhạc, đồng thời dâng lên quy chế về mũ áo và áo tế của các quan tế. Vua bèn ra chiếu cho chế tạo và ban cấp.
(Còn việc ai soạn các khúc nhạc[1], cần phải tra cứu thêm.)
[4] Quyền Ngự sử trung thừa Vương Trù tâu: “Mấy năm gần đây, các quan thuộc hai chế không được gặp các quan chấp chính và qua lại với các quan đài gián. Đó là quyết định nhất thời, vốn không có điển cố, ngay lúc đó đã có người cho là không đúng. Nay chấp chính và gián quan đã được nới lỏng lệnh cấm, nhưng đài quan vẫn còn bị ngăn cấm. Thần nghĩ rằng, đài quan chủ trì việc nghị luận, bổ sung kiến thức cho thiên tử, lẽ nào một hai người có thể biết hết mọi việc trong thiên hạ! Các quan thị tòng thuộc hai chế đều là người được chọn lựa trong nước, nay nếu có gặp nhau, lại tự nghi ngờ lẫn nhau, như thế không phải là cách thể hiện đại thể của triều đình. Xin từ nay cho phép các quan hai chế được gặp đài quan[2].” Vua đồng ý.
[5] Ghi chép việc con trai của Tống Sĩ Nghiêu, Đô tuần kiểm Ung Châu, Nội điện thừa chế[3] là Tự được bổ làm Hữu ban điện trực, Biện làm Tam ban phụng chức, vì Sĩ Nghiêu tử trận khi giao chiến với Giao Chỉ.
[6] Ngày Đinh Mùi, ban chiếu rằng các chức Phán Thượng thư khảo công, Từ bộ, Quan cáo viện từ nay trở đi đều giáng sắc sai người xét hợp lệ nhập tư cách, lại cấp thêm 10 nghìn tiền. Theo lệ cũ, các tào thuộc Thượng thư tỉnh, chỉ có Phán Hình bộ và Lại bộ Nam tào được phép xét tư cách, còn lại nếu có khuyết thì báo lên Trung thư. Trung thư phán giao cho quan nào đó, gọi là tống ấn. Lúc đó vì việc bổ nhiệm do đường quan quá nhiều, lại thêm ba tào đều có việc phải giữ, nên dùng sắc để sai phái.
[7] Ngày Mậu Thân, giáng chức của Dĩnh Châu phòng ngự sứ Tông Ý xuống làm Tín Châu đoàn luyện sứ. Tông Ý chôn cất cha là Bộc An Ý Vương, nhưng vì ngày bản mệnh của mình nên không đến huyệt. Lúc đó Nhậm Thủ Trung phụ trách việc tang lễ của vương, khinh miệt các con, nhận hối lộ gần một vạn quan mà lòng vẫn chưa thỏa. Tông Ý bị tội, thực ra là do Thủ Trung gây ra.
(Việc của Thủ Trung căn cứ theo sách 《Ký văn》.)
[8] Ngày Tân Hợi, Long đồ các trực học sĩ Phó Vĩnh và Tri chế cáo Tổ Vô Trạch cùng xét định việc khoan thứ sức dân.
[9] Ngày Quý Sửu, ban chiếu cho Khai Phong phủ: “Từ nay về sau, kẻ nào khắc chữ ngự thư để bán, sẽ bị xử phạt nặng.”
[10] Tháng 2, ngày Đinh Tỵ, ban chiếu rằng những người trong tông thất được ban tên và chức quan, phải đủ 15 tuổi mới được tính năm để thăng chức.
[11] Ngày Tân Dậu, đưa tượng của Minh Đức Chương Mục hoàng hậu vào thờ tại điện Trọng Huy của chùa Phổ An.
[12] Ngày Quý Hợi, ban chiếu: “Tông thất lên thăm lăng mộ, không được mang theo cần câu và ná bắn.”
[13] Ngày Ất Sửu, ban chiếu: “Nghe nói con em của lương dân có kẻ bị dụ dỗ vào quân ngũ, cha mẹ khóc lóc kêu oan mà không được về, Trẫm rất thương xót. Từ nay về sau, các cơ quan phải xét rõ nguồn gốc, nếu trong vòng 100 ngày cha mẹ kiện lên quan thì cho về.”
(Ghi chú: 100 ngày, sách 《Tống sử》 chép là 2 tháng, có chút khác biệt.)
[14] Ngày Bính Dần, Vua ngự tại điện Sùng Chính xét tù, những người phạm tội tử hình trở xuống đều được giảm một bậc.
[15] Ngày Mậu Thìn, ban chiếu cho Xu mật viện: Từ nay trở đi, những người từ chức Nội điện sùng ban trở lên phải đủ 20 tuổi mới được nhận nhiệm vụ.
[16] Ngày Tân Mùi, Vua ngự tại điện Sùng Chính để thi các tiến sĩ, các khoa và tiến sĩ, các khoa đặc cách do Lễ bộ tiến cử.
[17] Tháng 3, ngày Ất Dậu, triệu tập các quan phụ chính đến xem bảng chữ do Vua viết cho miếu thờ Văn Tuyên Vương tại Duyện Châu.
[18] Ngày Quý Tỵ, ban cho tiến sĩ Vương Tuấn Dân cùng 139 người đỗ đệ, 54 người đồng xuất thân; 102 người đỗ các khoa và đồng xuất thân; 43 người tiến sĩ, các khoa đặc cách được đồng xuất thân và các chức văn học, trưởng sử ở các châu.
Tuấn Dân là người huyện Dịch.
(Theo 《Tống sử》, tháng này ban cho 295 người đỗ tiến sĩ, các khoa và đồng xuất thân, không khớp với ghi chép này.)
[19] Ngày Mậu Tuất, người Khiết Đan quy thuận là Vũ Khuê được bổ làm Hạ ban điện thị, chỉ huy ty An phủ dọc biên giới Hà Bắc. Vũ Khuê vốn là người Trấn Châu, bị giặc bắt lâu năm, hiểu rõ tình hình địch, đến nay dâng lên bức vẽ cảnh Khiết Đan nhận lễ tại điện Quảng Bình, nên được đặc cách ghi chép.
[20] Ngày Kỷ Hợi, Tể tướng Phú Bật vì mẹ mất nên xin từ chức.
[21] Ngày Canh Tý, vì tang mẹ của Phú Bật, bãi bỏ yến tiệc lớn. Lúc đó, quan Đồng tri Lễ viện là Diêm Thành Dụ tâu rằng: “Nghĩa quân thần, vui buồn cùng nhau, xin bãi yến tiệc mùa xuân để tỏ lòng ưu ái đối với đại thần.” Vua ngay lập tức nghe theo. Thành Dụ là con của Diêm Thù, em vợ của Phú Bật. Có người bàn tán cho rằng việc này quá đáng.
(Việc bãi yến vì tang mẹ đại thần là đức lớn của Nhân Tông, nhưng 《Thực lục》 và 《Hội yếu》 lại chép rằng mọi người đều cho là không nên, điều này không đúng. Nói rằng Thành Dụ có quan hệ thân thích với Phú Bật, không nên dâng lời tâu xin, thì còn có thể chấp nhận. Nay lược bớt và chỉnh sửa đôi chút.)
[22] Ngày Tân Sửu, ban thưởng lương thực và vải lụa cho tiến sĩ Trình Nhữ Sĩ và Chu Dĩnh ở Cù Châu, vì chuyển vận sứ tâu rằng văn chương và đạo đức của họ được khen ngợi trong làng.
[23] Ngày Nhâm Dần, phong con gái thứ 11 của Vua làm Vĩnh Thọ Công Chúa, con gái thứ 12 làm Bảo Thọ Công Chúa. Bảo Thọ là con của Chu Hiền Phi, sau được phong làm Ký Quốc. Vĩnh Thọ là con của Đổng Thục Phi, sau được phong làm Bân Quốc.
[24] Ngày Giáp Thìn, Vua xuống chiếu cho Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Tống Kỳ, khi vào trực, được phép dùng một người lo việc thuốc thang. Tống Kỳ vì bệnh yếu nên xin như vậy.
[25] Ngày Mậu Thân, Vua ngự ra vườn sau thưởng hoa câu cá, rồi mở tiệc ở Thái Thanh lâu. Vua xuất bản một bài thơ ngự chế, sai các quan theo hầu họa thơ dâng lên.
[26] Vua xuống chiếu cho Lễ viện: “Phong người họ Sài làm Sùng Nghĩa công để phụng thờ nhà Chu. Sáu miếu của họ ở Tây Kinh, nhưng khi tế lễ hàng năm không có đủ đồ tế và phẩm phục, nên lệnh cho Hữu ty cấp một bộ phẩm phục tế tam phẩm, hai bộ phẩm phục tế tứ phẩm cùng các đồ tế khí cần dùng.”
[27] Ngày Canh Tuất, Vua xuống chiếu cho Đại Lý tự: “Nếu có quan viên không đáng bị ghi tội mà bị bới móc văn tự để kết tội, thì các quan lại ở nơi đó đều phải xét tội và tâu lên.” Đây là theo lời tấu của Điện trung Thị ngự sử Lý hành Trần Chu.
(Việc chính trị cần xét kỹ, không cần ghi đầy đủ.)
[28] Tháng 4 mùa hạ, ngày Mậu Ngọ, Hình bộ Lang trung, Trực Chiêu Văn quán Khấu Bình được bổ làm Tri châu Lộ Châu, vẫn giữ thứ tự Chuyển vận sứ. Thị ngự sử Trần Kinh tâu rằng, Khấu Bình trước làm Chuyển vận sứ Hoài Nam, mua vật phẩm không trả đủ giá, đã từng bị đàn hặc, xin bãi bỏ thứ tự đó. Vua chuẩn tấu.
[29] Ngày Canh Thân, Lý Sư Trung, Đề điểm hình ngục lộ Quảng Nam Tây, Đồn điền viên ngoại lang, được quyền làm Chuyển vận sứ của lộ này. Trước đó, Sư Trung đã hặc tội Tiêu Chú, Tri châu Ung Châu: “Trị Ung Châu tám năm, có hơn mười vạn binh động, nhưng không thể vỗ về và sử dụng họ. Lại vào các động buôn bán, bóc lột khiến mất lòng dân, cuối cùng dẫn đến việc tướng sĩ bại trận. Kinh lược sứ Tiêu Cố bố trí sai lầm, cùng Chuyển vận sứ Tống Hàm kết bè đảng.”
Tiêu Chú đã bị giáng làm Kinh Nam, Sư Trung lại tâu: “Tiêu Chú tham lam, cản trở uy quyền, dụ dỗ năm người dân bị Nùng Trí Cao thiến là La Trại làm nô lệ, lại tự ý phát động trai tráng trong các động khai thác vàng, không có sổ sách để kiểm tra, gây việc cho nước, theo pháp luật đáng bị chém. Nay chỉ giáng một chức, từ Đô giám làm Kiềm hạt, không biết đây là danh gì?” Chiếu sai Trung sứ Lý Nhược Ngu điều tra sự thật, Tiêu Chú cuối cùng bị giáng làm Thái Châu đoàn luyện phó sứ, an trí, còn Tiêu Cố và Tống Hàm đều bị truất quan, lệnh đình chỉ.
(Xét truyện Lý Sư Trung chép Tiêu Chú bị an trí ở Thái Châu, Tiêu Cố và Tống Hàm đều bị truất quan, lệnh đình chỉ. Truyện Tiêu Chú cũng chép làm Thái Châu đoàn luyện phó sứ, an trí, hợp với truyện Lý Sư Trung.
Thực lục thì vào ngày 17 tháng 7 chép: Tiêu Cố bị truất ba chức, giáng làm Kiểm hiệu Thủy bộ viên ngoại lang, Thái Châu đoàn luyện phó sứ; Tống Hàm bị truất một chức, lệnh đình chỉ. Hội yếu cũng giống Thực lục, chỉ không thấy chép Tiêu Chú bị tội gì, nghi rằng Thực lục, Hội yếu chép “Tiêu Cố bị truất ba chức” dưới đây chắc có chữ bị sót. Chép việc thụ chức Kiểm hiệu Thủy bộ viên ngoại lang, Thái Châu đoàn luyện sứ, là việc của Tiêu Chú.
Tập của Vương An Thạch có chế từ trách Tiêu Chú, chép quan vị thực hợp với truyện Lý Sư Trung và truyện Tiêu Chú. Nay theo truyện Lý Sư Trung và truyện Tiêu Chú, trước phụ chép tội phạt của Tiêu Chú cùng việc Tiêu Cố, Tống Hàm bị truất quan, lệnh đình chỉ sau khi Lý Sư Trung quyền làm Chuyển vận sứ. Việc Tiêu Cố, Tống Hàm bị tội, vẫn chép vào ngày 17 tháng 7, đợi sau khảo xét kỹ hơn.)
[30] Ngày Tân Dậu, quyền Tam ty sứ, Xu mật trực học sĩ, Hữu gián nghị đại phu Bao Chửng được bổ nhiệm làm Cấp sự trung, Tam ty sứ. Khi Bao Chửng ở Tam ty, tất cả các vật phẩm cung cấp cho triều đình từ các kho trước đây đều bắt các quận ngoài đóng góp, tích tụ gây khốn khổ cho dân. Bao Chửng đặc biệt lập trường hòa thị, dân chúng không bị quấy nhiễu. Các quan lại nợ tiền bạc, nhiều người bị bắt giam, có kẻ trốn đi, bị xiềng xích vợ con, đều được tha.
(Hai việc này nếu có ngày tháng riêng thì nên bỏ đi.)
[31] Chiếu rằng: Các quan lại ở Lĩnh Nam chết vì giặc Nông, gia đình lưu lạc chưa thể tự về, nơi nào cũng phải cấp lương thực và hộ tống về quê.
[32] Ngày Giáp Tý, quốc mẫu nước Khiết Đan sai Lâm nha, Tả uy vệ thượng tướng quân Tiêu Ỷ, Tứ phương quán sứ, Ninh châu phòng ngự sứ Hàn Di Tôn; Khiết Đan sai Thủy Bình tiết độ sứ Tiêu Lệ, Sùng lộc khanh Lý Dung đến chúc mừng tiết Càn Nguyên.
[33] Ngày Canh Ngọ, Hữu chánh ngôn Vương Đào được bổ nhiệm làm Tri châu Vệ. Lúc đó, các quan đài gián cùng nói rằng Trần Húc không nên làm Xu mật phó sứ, nhưng Vua không nghe. Vương Đào vừa cáo bệnh, lại xin từ chức trước, nên được chấp thuận.
[34] Ngày Quý Dậu, chiếu rằng: “Phàm những người nhập tịch làm lang đến chức thăng triều, đều được miễn thuế hộ. Quan kinh đô không được miễn nha tiền, còn lại chỉ miễn cho bản thân. Nếu sau khi nhậm chức mà tăng thêm ruộng đất trị giá trên năm mươi vạn, thì phải đóng thuế như cũ. Cho phép thuê người thay thế.”
[35] Ngày Bính Tý, Đại Lý tự thừa Quách Cố được giao biên hiệu sách binh pháp trong Bí các. Trước đây, đặt quan biên hiệu sách vở, nhưng sách binh pháp và thiên văn là sách bí mật, không được tham gia. Có đại thần nói Quách Cố hiểu binh pháp, nên giao cho ông. Tuy nhiên, sách binh pháp phần lớn bị thiếu sót, không thể bổ sung đầy đủ[4].
[36] Ngày Canh Thìn, Xu mật phó sứ, Hữu gián nghị đại phu Trần Húc được bổ nhiệm làm Tư chính điện học sĩ, tri Định châu; Tam ty sứ, Cấp sự trung Bao Chửng được bổ nhiệm làm Xu mật phó sứ; Lễ bộ lang trung, Thiên chương các đãi chế, tri Gián viện Đường Giới được bổ nhiệm làm tri Hồng châu; Hữu ty gián Triệu Biện[5] được bổ nhiệm làm tri Kiền châu; Binh bộ viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Phạm Sư Đạo giữ chức bản quan làm tri Phúc châu; Điện trung thị ngự sử Lã Hối được bổ nhiệm làm tri Giang châu.
Húc mới được bổ nhiệm làm Xu mật phó sứ, có người nói Húc ngầm kết giao với các hoạn quan là Sử Chí Thông, Vương Thế Ninh, nên mới có mệnh lệnh này. Giới và những người khác liền dâng tấu chương luận tội, và nói: “Húc trước làm quan gián, vì việc của Trương Ngạn Phương mà a dua quý thích, đã không được dư luận trong sạch chấp nhận. Đến khi làm Tri phủ Khai Phong, thường mua ngựa của dân giàu với giá rẻ, đưa em họ là Chân Ngang vào ở trong phủ, tự ý làm việc thỉnh thác.”
Vua đem tờ tấu cho Húc xem, Húc tâu: “Thần trước giữ chức ngôn quan, đã từng đàn hặc các nội thần, những kẻ gian xảo quyền thế như Dương Hoài Mẫn[6], Hà Thành Dụng, Vũ Kế Long, Lưu Khôi đều bị cách chức. Nay những người nói này lại dùng việc đó để bôi nhọ thần. Chí Thông, thần chưa từng gặp mặt; Thế Ninh là em rể của thần, lấy con gái mồ côi của cậu thần, đã lâu không qua lại. Nếu họ từng tiến cử thần, Bệ hạ hẳn nhớ lời họ. Xin giao cho quan lại xét hỏi.” Rồi xin về nhà xin từ chức. Vua dùng chiếu chỉ triệu ông ra, Giới và những người khác lại đóng cửa chờ tội, một lúc sau lại ra, như thế đến bốn lần. Vua nói với các phụ thần: “Phàm việc bổ nhiệm chức vụ trong nhị phủ, Trẫm há để cho nội thần tham gia bàn bạc sao!” Nhưng Giới và những người khác vẫn không ngừng dâng tấu, nên cả hai đều bị cách chức.
(Trần Húc, trong 《Chu sử truyện》 đã chép lời Húc tự biện[7], lại nói Nhân Tông biết lời tố cáo không đúng sự thật, dùng chiếu chỉ triệu Húc ra. Chép lời Húc tự biện là đúng, nay cũng ghi lại đầy đủ. Còn việc nói Nhân Tông biết lời tố cáo không đúng sự thật thì có phần tô vẽ, các sách khác đều không có việc này, nay không chép.
Đường Giới, trong 《Chu sử truyện》 chép: “Giới cùng Triệu Biện, Vương Đào luận tội Thăng là gian tà, kết giao với Diêm Sĩ Lương, lại kết thông gia với Ngự dược Vương Thế Ninh, không thể trọng dụng.” Việc kết thông gia với Vương Thế Ninh đã thấy trong tấu chương của Lã Hối và lời tự biện của Thăng, chỉ có việc kết giao với Diêm Sĩ Lương là không rõ ràng[8]. Tấu chương của Hối cũng nói đến Sử Chí Thông, có lẽ 《Chu sử》 nhầm Chí Thông với Sĩ Lương, cần xem xét thêm. Chí Thông vào tháng giêng năm Chí Hòa thứ nhất làm Nhập nội phó đô tri, tháng năm năm Gia Hựu thứ ba làm Nhập nội đô tri.
《Tống sử toàn văn》: Lã Trung nói: “Hoạn quan, cung nữ, tiện lợi cho tiểu nhân mà bất tiện cho quân tử. Đời sau, Vua bổ nhiệm đại thần, không hỏi ý ngoại triều mà hỏi ý nội triều, là sai lầm. Cho nên Thạch Hiển là chỗ dựa của Cống Vũ, Huyền Thành; Lương Ký là chỗ nhờ của Hồ Quảng, Triệu Giới; Cao Lực Sĩ là chỗ dựa của Dương Quốc Trung. Từ xưa, tiểu nhân chưa từng không kết hợp với hoạn quan, cung nữ, ngoại thích. Triều ta không có nạn nội triều, vì việc bổ nhiệm ngoại triều, nội đình không biết được; việc thỉnh cầu của nội đình, ngoại triều có thể ngăn chặn.”)
[37] Ban đầu, các lộ đôn đốc cử 23 người có hành nghĩa, văn học đến kinh sư, trong đó 16 người đã đến, đều được ở tại Thái học, và thi luận sách tại Xá nhân viện.
[38] Tháng 5, ngày Bính Tuất, ban cho Nhan Phục ở Từ Châu, Tiêu Thiên Chi ở Nhuận Châu, Trương Tự ở Thành Đô, Lạc Kinh ở Kinh Nam[9] cùng 7 người khác được ban tiến sĩ xuất thân, 4 người được đồng xuất thân, còn lại đều được bổ nhiệm làm thí hiệu thư lang. Nhan Phục là con của Thái Sơ; Trương Tự là con của Sát. Lúc đó, Lý Thực Đạo ở Bộc Châu đã mất, Cố Lập ở Nhạc Châu đang có tang, Chương Cổn ở Tử Châu, Trương Trung Lý ở Thục Châu, Ngô Diễn ở Xử Châu, Bồ Bá Minh ở Quảng An quân, Ngô Tư ở Việt Châu, 5 người này từ chối không đến dự thi. Sau khi Nhan Phục và những người khác được ban ân, cũng được bổ nhiệm làm thí tướng tác giám chủ bạ.
(Sách 《Chính yếu》 của Trương Đường Anh chép: Năm sau lại ban cho Cố Lập đồng tiến sĩ xuất thân, cần xem xét thêm.)
[39] Ngày Mậu Tý, Ty thiên tâu: “Ngày mùng một tháng 6, mặt trời sẽ bị che khuất sáu phần rưỡi.” Chiếu cho Lễ viện kiểm tra và tường thuật lại các điển cố về việc cứu nhật.
[40] Ngày Canh Dần, Lễ viện xin rằng hôm đó hoàng đế mặc áo trắng, không ngự ở chính điện, không xem việc triều chính. Các quan đình chỉ công việc để giữ chức vụ. Hai ngày trước ngày hợp sóc, Lệnh Giao xã cùng người giữ cửa canh giữ bốn cửa, tuần tra giám sát các cửa. Lệnh Cổ xúy dẫn các công nhân cầm cờ hiệu theo màu sắc phương vị, đặt ở dưới mái nhà bốn cửa. Trống Long Xà được đặt tùy theo vị trí: ở cửa Đông bên trái thì đặt ở phía bắc thục, hướng mặt về nam; cửa Nam thì đặt ở phía đông thục, hướng mặt về tây; cửa Tây thì đặt ở phía nam thục, hướng mặt về bắc; cửa Bắc thì đặt ở phía tây thục, hướng mặt về đông. Một đội chính cầm đao, dẫn năm vệ sĩ cầm năm loại binh khí, đứng ngoài trống: giáo ở phía đông, kích ở phía nam, rìu việt ở phía tây, thư ở phía bắc. Lệnh Giao xã đặt đèn sen trên đàn, bốn góc buộc dây tơ đỏ ba vòng. Lại đặt cờ hiệu màu vàng ở phía bắc, tiếp theo là một mặt trống Long Xà[10], tiếp theo là một cây cung và bốn mũi tên. Các binh sĩ và trống đứng yên, đợi quan Ty thiên nói “mặt trời có biến”, công nhân giơ cờ hiệu, cùng đánh trống, quan tế cáo tiến hành nghi lễ, Thái chúc đọc văn tế, lời văn mang ý trách âm giúp dương. Quan Ty thiên nói “dừng”, công nhân ngừng đánh trống. Nếu trời âm u, mặt trời không xuất hiện, thì không giơ cờ hiệu, không đánh trống. Được chấp thuận.
[41] Ngày Ất Mùi, Lại bộ Thị lang, Tập hiền viện Học sĩ Dư Tĩnh được bổ nhiệm làm Thượng thư Tả thừa, Kinh lược An phủ sứ Quảng Nam Đông lộ, kiêm Tri Quảng châu. Lúc này, vùng Lĩnh Hải vẫn chưa yên ổn. Dư Tĩnh từ chối hai lần rồi mới nhận chức, trong biểu tạ ơn viết: “Năm ngoái, biên giới Ung châu có sơ suất, dung nạp kẻ trốn chạy, người Động Lão cậy mạnh, gây nên xâm lấn. Quan quân thất bại tan rã, các quận nghe tin đều kinh hãi. Bệ hạ sai ngựa trạm triệu thần về, cho thần một mình đi xe đến nơi để truyền chỉ. Tuy người đảo nghe lệnh, nguyện giết kẻ cầm đầu, nhưng tướng trại tham công, chưa dứt được mối lo giao tranh. Thần đã cùng họ ước thúc, mỗi bên giữ cương giới, nếu lệnh bệ hạ được thi hành, thì biên giới của ta chắc chắn vững vàng. Nhưng vùng Lĩnh Nam ngoài biên, thông với đất Việt, nên bệ hạ sai thần đến châu này để lo việc biên phòng.”
(Việc thể lượng an phủ tháng 8 năm ngoái có thể ghi kèm vào đây.)
[42] Ngày Bính Tuất, ban chiếu cho các quan Tri châu, Tri quân và quan quân được phép nấu rượu, nhưng không được bán hoặc đổi lấy vật giá.
[43] Ngày Đinh Dậu, Thiên chương các Đãi chế, Tri gián viện Lữ Cảnh Sơ được cử cùng xét định việc quân thuế.
[44] Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ kiêm Đoan minh điện Học sĩ, Hàn lâm Thị độc học sĩ, Công bộ Thượng thư, Tri chế cáo, Tập hiền điện Tu soạn Tống Kỳ qua đời, được truy tặng chức Hình bộ Thượng thư.
Anh em Tống Kỳ đều nổi tiếng về Nho học, nhưng Tống Kỳ đặc biệt giỏi văn chương, thiện nghị luận. Tuy thanh nhã, trang trọng không bằng anh trai, nhưng người đời cho rằng Tống Kỳ không lên đến chức công phụ cũng vì lẽ đó. Tống Kỳ tự viết di biểu, nói: “Bệ hạ trị vì đã 40 năm, Đông cung vẫn trống, thiên hạ trông mong, lòng người lo lắng. Vì kế sâu xa của xã tắc, không gì bằng chọn người tài trong hoàng tộc, phong tước Thân vương, làm chủ tông miếu. Nếu lục cung có tin vui, thánh tự đông đúc, thì người trong tông thất sẽ giáng xuống làm Quận vương, để nhường chỗ cho chính đích. Đó là kế lớn để định lòng người, phòng họa hoạn.” Ông còn tự viết “Tả chí”, “Hữu chí” và “Trị giới” để dặn dò con cái. Con ông tuân theo lời dặn, không xin thụy hiệu. Sau này, Trương Phương Bình tâu rằng Tống Kỳ xứng đáng được thụy hiệu, nên được truy tặng thụy là Cảnh Văn.
(Việc truy thụy Cảnh Văn diễn ra năm Trị Bình thứ 3, nay ghi chung vào đây.)
[45] Ngày Kỷ Hợi, Mã quân phó đô chỉ huy sứ, Hoài Khang tiết độ sứ Trương Mậu Thực bị cách chức quản quân, nhận chức Tri châu Tào. Ban đầu, Triệu Khải thay Hàn Giáng làm Ngự sử trung thừa, cũng tâu rằng Mậu Thực không nên nắm giữ việc túc vệ, nhưng không được nghe theo. Đến khi Khải làm Xu mật phó sứ, lại tâu việc này. Các quan ngự sử cũng hặc tội Mậu Thực buôn bán lợi dụng công sứ, sai người đi giết người bên ngoài. Mậu Thực nhân đó lấy cớ tuổi già xin giải chức binh quyền, mới được lệnh ra ngoài giữ chức.
Hàn lâm Thị độc học sĩ Lưu Xưởng từng dâng sớ nói: “Đạo trị nước là phòng ngừa họa hoạn từ khi chưa xảy ra, tránh xa nghi ngờ dù chỉ một phần vạn, để yên lòng dân chúng, ngăn chặn mưu đồ xấu. Thần nghe nói Trương Mậu Thực vốn là con của bà vú nuôi Chu Vương, từng được nuôi dưỡng trong cung, nên trước đây dân chúng đã dùng lời lẽ điên cuồng kích động Mậu Thực, khiến dư luận xôn xao.
Gần đây, Hàn Giáng lại dùng lời gièm pha hãm hại tể tướng, làm lung lay lòng người. Như vậy, một thân Mậu Thực, xa thì bị tiểu nhân chỉ trỏ[11], gần thì bị quần thần nghi ngờ, e ngại. Dù thánh tâm rộng lượng, không nghi ngờ ai, nhưng e rằng không thể đến từng nhà giải thích để mọi người không hoang mang. Giả sử lòng Mậu Thực son sắt, không có ý đồ gì khác, cũng không thể đến từng nhà giải thích để mọi người không lo lắng. Như vậy, việc để ông ta nắm quyền chỉ huy cấm vệ, quản lý binh mã, chỉ càng khiến thiên hạ nghi ngờ, lo lắng, hoàn toàn không phải là kế sách trọng yếu để bảo vệ tông miếu, yên lòng thần dân, phòng ngừa vạn nhất.
Thần cho rằng cách tốt nhất hiện nay là nên giải trừ binh quyền của Mậu Thực, điều ông ta ra ngoại quận, như vậy Mậu Thực vẫn giữ được phú quý, mà triều đình cũng tránh được nghi ngờ, đây là kế sách tốt nhất. Xưa kia, Vương Lang tự xưng là Lưu Tử Dư, Lư Phương tự hiệu là Lưu Văn Bá, nhân lúc nghi ngờ mà giả mạo, chưa hẳn đều có ý phản nghịch, nhưng vì lời đồn thổi, lòng người hoang mang, khiến họ làm vậy mà thôi. Thần được ở gần bệ hạ, sắp đi xa, trong lòng nghi ngờ, không dám không nói hết. Xin bệ hạ đem lời thần bí mật giao cho chấp chính thương lượng.”
Lúc đó, Lưu Xưởng vừa nhận mệnh làm Tri Vĩnh Hưng. Sau một thời gian, Mậu Thực bị cách chức.
[46] Ngày Canh Tuất, Vua ngự tại điện Sùng Chính xét lại tù nhân, những người phạm tội tử hình trở xuống đều được giảm một bậc, tội đồ trở xuống được tha. Lại sai quan xét xử ba kinh.
[47] Ban chiếu rằng: Phàm tên phủ, tên chức quan trùng với tên cha ông mà không phải tên kỵ húy hoặc tên đôi, thì bất kể quan phẩm cao thấp, đều được phép xin đổi.
Ban đầu, Hàn lâm học sĩ, Tri thẩm quan viện Giả Ám tâu rằng: “Thần thấy Đại Lý tự thừa Lôi Tông Thần được bổ làm Thái tử trung xá, vì tên cha là Hiển Trung nên xin tránh chữ “Trung”, được chấp thuận. Thần xét theo 《Khúc Lễ》 nói: ‘Không kiêng tên gần giống, tên hai chữ không kiêng riêng một chữ.’ Giải thích rằng: ‘Tên gần giống là chỉ âm thanh tương tự, như Vũ với Vũ, Khâu với Khu. Kiêng riêng là chỉ tên hai chữ không kiêng từng chữ một.’ Theo luật, những ai giữ chức vụ có tên phạm húy tổ tiên, cha mà vẫn nhận thì bị phạt tội đồ một năm. Giải thích rằng: Phủ có tên chính, quan có tên gọi. Phủ hiệu là như cha tên ‘Vệ’ thì không được làm quan ở các vệ; hoặc tổ tên ‘An’ thì không được làm chức ở huyện Trường An. Quan xưng là như cha tên ‘Quân’ thì không được làm tướng quân; hoặc tổ tên ‘Khanh’ thì không được làm khanh. Lại nữa, những ai dâng sớ hoặc tâu việc mà phạm húy tổ miếu thì bị đánh tám mươi trượng, nếu là tên gần giống hoặc tên hai chữ chỉ phạm một chữ thì không bị tội. Nay xét Tông Thần cha tên Hiển Trung mà kiêng chữ ‘Trung’, theo lễ là tên gần giống. Thần cho rằng đã cho phép tránh, nếu lại có người không kiêng thì há có thể phạm luật mạo nhận chức vụ?
Như chuyện đời trước, đời Đông Tấn lấy Vương Thư làm Hội Kê nội sử, cha Thư tên Hội, xin đổi sang quận khác, bàn luận thời đó cho rằng chữ giống nhưng âm khác, theo lễ không phạm húy, lại đổi ‘Hội’ thành ‘Cối’, Thư bèn nhận chức. Sau lại lấy con Thư là Doãn Chi làm Hội Kê nội sử, Doãn Chi cũng xin đổi, chiếu rằng: ‘Húy tổ tiên sao bằng mệnh Vua quan trọng?’ Giao cho bát tòa bàn kỹ, Cấp sự trung Tiếu vương Vô Kị dẫn nghĩa 《Xuân Thu》 rằng: ‘Không lấy việc nhà từ chối việc Vua.’ Mệnh Vua quan trọng, không thể vì tư mà bỏ. Lại nữa, theo chuyện cũ, không có chế độ từ chối mệnh Vua vì húy tổ tiên. Đời Đường, Giả Tằng được bổ làm Trung thư xá nhân, cha tên Trung, cố từ chối, người bàn luận cho rằng ‘Trung’ là tên của cơ quan, lại cùng tên cha Tằng âm giống chữ khác, theo lễ không phạm húy.
Đến triều đại nhà Tống, dù trong niên hiệu Ung Hy từng ban chiếu rằng: “Phàm bổ nhiệm quan chức, nếu trong nhà có tên húy, trừ các chức ở Tam tỉnh, Ngự sử đài từ ngũ phẩm trở lên, văn ban từ tứ phẩm trở lên, cho phép dùng thức tấu xin đổi[12], còn lại không thuộc quy định này.” Tuy nhiên, xét từ đầu triều đến những năm gần đây, có khi tiểu quan được phép đổi, có khi đại thần không theo, có khi dù là tên kép hoặc tên kiêng kỵ mà vẫn được phép tránh, có khi chỉ phạm tên đơn mà lại không được phép.
Ví dụ như đầu niên hiệu Kiến Long, Mộ Dung Diên Chiêu được bổ làm Đồng bình chương sự, vì cha tên là Chương, nên đổi thành Đồng trung thư môn hạ nhị phẩm[13]; Ngô Đình Tộ[14] vì cha tên là Chương, nên đổi thành Đồng trung thư môn hạ nhị phẩm[15]; Triệu Diên Tiến được bổ làm Khởi phục Vân huy tướng quân, vì cha tên là Huy, nên đổi thụ chức Khởi phục Quang lộc đại phu; niên hiệu Thiên Thánh, Trứ tác tá lang Vương Truyền cha tên là Trứ, Phụng lễ lang Trương Tử Thích cha tên là Tông Lễ, nên đổi Vương Truyền làm Đại Lý tự thừa, Trương Tử Thích làm Thái chúc, đều là những trường hợp xin tránh tên húy và được chấp thuận.
Như niên hiệu Thuần Hóa, Tất Sĩ An cha tên là Nghĩa Lâm, được bổ làm Hàn lâm học sĩ; niên hiệu Thiên Thánh, Hàn Ức cha tên là Bảo Xu[16], được bổ làm Xu mật trực học sĩ; niên hiệu Cảnh Đức, Vương Kế Anh cha tên là Trung, được ban tước Suy trung công thần; niên hiệu Thiên Hi, Khấu Chuẩn cha tên là Tương, được bổ làm Tương châu Tiết độ sứ; niên hiệu Thiên Hi, Lưu Quân cha tên là Kế Long, được bổ làm Long đồ các học sĩ; những năm gần đây, Dương Vĩ cha tên là Tự Mục, làm Quần mục sứ, đều từng cố từ chối, đây lại là những trường hợp dù xin tránh tên húy nhưng không được chấp thuận[17]. Trước sau việc được phép hay không, đều tùy thuộc vào thời điểm, bởi chưa từng xem xét kỹ lưỡng lễ luật, đặt thành quy chế vĩnh viễn. Xin dựa theo chiếu thư niên hiệu Ung Hy, từ mấy phẩm quan trở lên, mỗi khi bổ nhiệm nếu phạm tên húy của cha ông, có người tấu trình, trước hết giao cho hữu ty xem xét quyết định. Nếu theo lễ luật cần phải tránh, xin đổi bổ nhiệm, còn lại không thuộc phạm vi phải tránh[18].“
Vua lệnh cho Thái thường lễ viện và Đại Lý tự cùng định đoạt và nói: “Tên của cha ông, là điều con cháu không nỡ nhắc đến. Không phân biệt quan phẩm cao thấp, đều cho phép tránh.” Vì vậy, dùng luật văn để làm rõ điều này.
[48] Chiếu cho Ty An phủ biên giới phía bắc Hà Bắc cấm người phương Bắc đánh cá ở sông Giới.
Ban đầu, sông Giới thuộc lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng người phương Bắc lén vào sông đánh cá và hái lau sậy. Châu Hùng gửi văn thư đến châu Trác để chất vấn, người Khiết Đan đuổi những kẻ phạm tội và dán bảng cấm ở biên giới. Năm Thống Hòa thứ 24 đời Long Tự, họ cũng tự quy ước. Lâu ngày, người phương Bắc có khi chở muối từ cửa biển vào sông Giới, đi qua Hùng, Bá, đến Trác, Dịch, quan lại biên giới làm ngơ không ngăn cản. Bấy giờ, Cung uyển sứ, Thứ sử Trung châu là Triệu Tư làm Tri châu Hùng, sai quân tuần tra bắt giết họ, phá hủy thuyền của họ, và khôi phục lệnh cấm đánh cá. Triệu Tư trước đây làm Cung uyển sứ, Tri châu Bảo, đến tháng 4 ngày Giáp Tuất được lĩnh chức Thứ sử Trung châu, Tri châu Hùng.
[49] Tháng 6 ngày Nhâm Tý mùng một, có nhật thực. Ban đầu, Ty Thiên báo rằng nhật thực sẽ che khuất sáu phần rưỡi. Hôm đó, vào giờ Mùi, mặt trời bị che khuất bốn phần từ phía tây, rồi mây đen kéo đến, sấm chớp, chốc lát sau mưa xuống. Hồn nghi sứ nói rằng không phải là tai họa.
Quyền Ngự sử trung thừa Vương Trù tâu: “Những năm gần đây, nhật thực vào tháng chính Dương, bệ hạ tránh điện, bỏ bữa, kính trời, kiềm chế bản thân. Khi nhật thực xảy ra, trời cũng âm u, nhưng giữa đám mây vẫn có thể nhìn thấy, nên không thể coi như không có nhật thực. Lúc đó, quan hữu ty lại nói rằng nhật thực không đáng kể, rồi các tể thần tập hợp chúc mừng, thật là làm mất ý kính sợ trời đất của bệ hạ. Hôm nay, lúc nhật thực mới bắt đầu, trời rất trong, nhưng sau đó bị mây đen che khuất, nên không thấy được, cũng không thể coi như không có nhật thực. Dù bệ hạ chí thành tu đức, ứng biến cảm động trời đất, chắc chắn không muốn lấy điềm lạ làm điềm lành, nhưng sợ rằng quan hữu ty có thể viện dẫn lệ gần đây để xin chúc mừng, nên thần xin được nói trước.”
Đồng phán Thượng thư Lễ bộ Tư Mã Quang tâu rằng: “Gần đây, mỗi khi có hiện tượng nhật thực, các quan làm lịch đều tâu trước ngày tháng, thời khắc và mức độ che khuất. Đến khi có mây che, hoặc nhật thực không đầy đủ, các công khanh và bá quan đều dâng biểu chúc mừng. Thần cho rằng ánh sáng mặt trời chiếu khắp nơi, bao trùm cả Hoa Hạ và Di Địch[19], còn mây che chỉ là hiện tượng cục bộ[20]. Dù kinh đô không thấy, nhưng các nơi khác chắc chắn có người thấy. Đây là lời cảnh báo sâu sắc của trời, không thể không xem xét. Vào tháng 9 năm Vĩnh Thủy nguyên niên đời Hán Thành Đế[21], có nhật thực, các nơi khác không thấy nhưng kinh đô thấy[22], Cốc Vĩnh cho rằng dân chúng bị oan ức, tai họa ở bên ngoài.
Thần ngu muội cho rằng lời của Cốc Vĩnh có vẻ không hợp với ý trời. Việc các nơi khác không thấy mà kinh đô thấy, tai họa còn nhẹ; còn các nơi khác thấy mà kinh đô không thấy, tai họa đã sâu. Mặt trời là biểu tượng của Vua, ý trời như muốn nói rằng Vua bị âm tà che lấp, tai họa rõ ràng, thiên hạ đều biết lo lắng, mà triều đình lại không biết. Do đó, người làm Vua càng phải tự răn mình, lo lắng cho xã tắc, mà quần thần lại muốn cùng nhau chúc mừng, há chẳng phải là trên dưới lừa dối nhau, bịp bợm lời trời sao! Hơn nữa, việc nhật thực không đầy đủ là do thuật số của quan làm lịch không tinh xảo, nên trị tội họ, chứ không phải là việc đáng chúc mừng. Thần giữ chức ở Lễ bộ, quản lý biểu chương chúc mừng của quần thần, không dám không nói.”
Do đó, Vua ra chiếu cấm bá quan không được chúc mừng.
(Hồ Túc xin tế Xã, có lẽ ghi chép việc này vào đây.)
[50] Ngày Canh Thân, ban cho Chương Hữu Trực, người ở ẩn, 100 lạng bạc và 100 tấm lụa, vì đã hoàn thành việc khắc chữ triện trên bia đá ở Quốc Tử Giám. Ông được bổ làm Chủ bạ Tướng tác giám, không tính vào hạn tuyển chọn, nhưng ông từ chối không nhận, nên mới có lễ ban thưởng này. Hữu Trực là người Kiến An, cùng họ với Đắc Tượng. Khi Đắc Tượng làm Tể tướng, từng muốn cho ông làm quan, nhưng Hữu Trực từ chối và rời đi, suốt đời không ra làm quan.
[51] Ngày Đinh Mão, điều Thôi Dịch, người đang giữ chức Tri phủ Phượng Tường, Thị lang Công bộ, Học sĩ Tập hiền viện, đến làm Tri phủ Hà Trung. Dịch là người tham nhũng, càng già càng tệ. Khi ở Phượng Tường, Chuyển vận sứ Tiết Hướng điều tra gấp, nên ông ta buộc phải chuyển đến Hà Trung. Không lâu sau, ông ta được cho về hưu với chức Thị lang Hình bộ.
[52] Ban chiếu trả lại ruộng đất và nhà cửa đã bị tịch thu của Tào Lợi Dụng. Sau khi Lợi Dụng được minh oan, gia đình ông nhiều lần xin triều đình, đến nay nhân dịp lễ Hiệp hưởng và ân xá nên trả lại hết.
[53] Ngày Quý Dậu, Xu mật viện tâu: Gần đây chọn 400 lính cấm dưới lương thấp để bổ sung vào lính cấm trên, các vật phẩm chuyển quân được chia làm ba phần, đặc biệt cấp một phần. Chiếu chỉ cấp một nửa[23].
(Việc này căn cứ theo 《Hội yếu》 là sự việc ngày 22 tháng 6, nên phụ vào ngày Quý Dậu.)
[54] Ngày Giáp Tuất, Phú Bật được khởi phục làm Thượng thư Lễ bộ, Bình chương sự, Đại học sĩ Chiêu văn quán, Giám tu Quốc sử, nhưng ông từ chối không nhận. Theo lệ cũ, các quan chấp chính gặp tang đều được khởi phục, nhưng Bật cho rằng việc thay đổi lễ nghi trong thời bình là không thể chấp nhận. Vua năm lần sai sứ đến triệu, nhưng cuối cùng ông vẫn không tuân mệnh.
Có người nói rằng Phú Bật ban đầu cùng Hàn Kỳ cùng làm việc trong hai phủ, tay trái nâng đỡ, tay phải dẫn dắt, cùng nhau mưu cầu thái bình, thiên hạ gọi là “Hàn, Phú”. Sau đó cả hai lại cùng làm tể tướng. Kỳ tính quyết đoán, Bật tính cẩn thận. Kỳ chất phác thẳng thắn, lời nói đôi khi có phần thô tục. Người đời gọi những người nói nhiều là “nhứ”. Khi bàn việc chính sự, Bật nhiều lần nghi ngờ khó khăn, Kỳ không vui, nói: “Lại nhứ à!” Bật đổi sắc mặt nói: “Nhứ là lời gì vậy?”
Lại có lần bàn về chuyện tể tướng khởi phục theo lệ cũ, Kỳ nói: “Đây không phải là điển lễ tốt đẹp của triều đình.” Do đó, Bật kiên quyết từ chối việc khởi phục, và nói: “Thần ở Trung thư, từng cùng Hàn Kỳ bàn về việc này. Nay Kỳ đang ở vào vị trí hiềm nghi, chắc chắn không dám vì thần mà tận tâm tâu bày, mong bệ hạ đừng hỏi thêm nữa, hãy tự quyết đoán, cho phép thần được để tang trọn vẹn.” Kỳ thấy vậy không vui. Từ đó, hai người dần có chút hiềm khích.
(Điều này căn cứ theo 《Tư Mã thị ký văn》[24] và 《Tô thị biệt chí》, lại tham khảo thêm tờ tấu của Bật. Tuy nhiên, nói rằng Bật và Kỳ từ đó có chút hiềm khích, e rằng chưa chắc đã như vậy, cần phải xem xét kỹ hơn.)
Vua đã cho phép Bật để tang trọn vẹn, Bật dâng biểu tạ ơn, nhân đó nói: “Thần nghe nói quan mới được bổ làm Điểm điểm ngân đồng trường, Chức phương viên ngoại lang Trương Thuật nhiều lần dâng sớ, xin lập Thái tử, lời lẽ quá đáng, có phần không đúng đạo lý. Việc nên nhẹ nhàng kín đáo, Thuật lại làm quá gấp gáp; lời nói nên giữ bí mật, Thuật lại làm ồn ào, truyền đi khắp nơi, khiến mọi người đều kinh hãi.
Trước đây Trương Thuật làm Tri châu Tứ Châu, chẳng có chính tích gì, khi thần còn ở Trung thư, cũng từng thấy những việc làm sai trái của ông ta. Ông ta chắc là sợ triều đình không dùng, nên mới cố làm việc này, tuy nói là tỏ lòng trung thành dâng lời thẳng thắn, nhưng thực chất là che đậy lỗi lầm để cầu danh. Nếu thực sự lo nước yêu Vua, sao lại dám làm ồn ào như vậy! Huống chi chức Điểm điểm ngân đồng trường, sau này thường được thăng lên chức ty, như Thuật là kẻ tiểu nhân, không đáng được thăng thưởng.
Thần rất lo rằng những kẻ ham tiến thân sẽ bắt chước nhau, dám bàn chuyện họa phúc, thường xuyên làm phiền Thánh thượng. Bệ hạ nếu quá lo lắng, nôn nóng cầu tự, thì đối với Thiên thính, lại thành bất tiện. Thần nay tuy không ở bên cạnh Bệ hạ, nhưng thực lòng ngày đêm lo lắng, ăn ngủ không yên.
Vả lại, từ xưa đến nay, đế vương nào cũng có lúc tùy hứng vui giận, giết hại bề tôi và dân chúng. Kính nghĩ Bệ hạ trị vì đã bốn mươi năm, chưa từng giận oan một ai, huống chi việc hình phạt, vốn không có chút sai lầm nào, chỉ có lòng nhân từ khoan dung, còn hơn cả cha mẹ thương con, thiên hạ được hưởng ân huệ lớn lao của Bệ hạ, thấm sâu vào xương tủy, Trời cao nhìn xuống, há chẳng có báo ứng sao!
Thần biết chắc rằng Thánh tự sẽ không lâu nữa sẽ giáng sinh, điều thần mong mỏi bây giờ, chỉ mong Bệ hạ ngoài việc chăm lo chính sự, còn phải giữ gìn mọi điều. Những thứ vui chơi trước mắt, nên tìm cách khống chế tâm ý; còn những thứ trong yến tiệc dễ làm động phong phát khí, cũng nên chọn lọc, không cho dùng. Hãy giữ tâm thần thanh tịnh, dùng thuốc bổ hòa hoãn, ắt sẽ hưởng phúc thọ vô cùng, mãi mãi làm chủ tông miếu. Việc Hoàng tự sinh muộn, không đáng lo ngại, đó là lẽ tất nhiên vậy.”
Phú Bật lại tâu: “Thần e rằng những người thân cận bên cạnh bệ hạ, biết bệ hạ mong mỏi có con trai nối dõi, nên một lòng xu nịnh, mong được sủng ái, ai cũng có ý muốn sinh con, mọi người đua nhau tiến cử, thì bệ hạ dù muốn kiềm chế lòng họ, cũng không thể được; dù muốn bảo toàn thân thể, cũng không thể được. Như vậy, thần thực sự lo lắng cho bệ hạ, lo lắng cho tông miếu xã tắc. Thần từng làm tể tướng, nghĩa vụ như tay chân, phải cùng quốc gia chia sẻ họa phúc, không thể không lo lắng đến việc này. Nếu bệ hạ không cho thần là cuồng vọng, xin hãy đem ý của thần tuyên dụ rõ ràng cho những người thân cận, thần tin rằng họ đều có lòng bảo vệ thân thể bệ hạ, ai nấy đều tỉnh ngộ, mà có thể giữ được phú quý lâu dài, như vậy đối với bệ hạ, tự nhiên không còn lo lắng, thực là phúc của thiên hạ, phúc của tông miếu xã tắc!
Việc có con nối dõi vốn do thiên mệnh, tự có thời cơ, không thể dùng sức người mà ép được. Thần nhận ân sâu của bệ hạ, xuất phát từ lòng thành khẩn, không ngờ lại nói đến việc này. Thần không dám tránh chết, nếu bệ hạ nghe theo, sau đó ban chết cho thần, thần cũng cam lòng.” Vua lại ban chiếu ưu đãi trả lời.
Theo《Thực lục》, tháng giêng năm sau, ngày Giáp Tuất, điều chức Phương viên ngoại lang Dư Tảo, đang làm Tri châu Minh, làm Đề điểm đúc tiền mỏ quặng các lộ Giang, Chiết. Lại theo《Anh Tông thực lục》, ngày Kỷ Tỵ tháng hai năm Trị Bình thứ nhất, Đề điểm đúc tiền mỏ quặng các lộ Giang, Chiết, Đồn điền lang trung Dư Tảo làm Đề điểm hình ngục Quảng Tây, Chức phương viên ngoại lang Trương Thuật làm Đề điểm đúc tiền mỏ quặng các lộ Giang, Chiết. Thuật thay thế Tảo, năm Gia Hựu thứ sáu chưa nhận mệnh, không rõ lúc Phú Bật dâng sớ, Thuật sao đã mang chức Đề điểm trường bạc đồng. Hoặc có lẽ Dư Tảo ở châu Minh, Trương Thuật đã được bổ làm Đề điểm trường bạc đồng trước, mà《Thực lục》không ghi rõ, hoặc do lời Phú Bật nên bãi chức Thuật, sau đó lại bổ nhiệm, cần xem xét thêm.
Trương Thuật tâu rằng: (Điều này căn cứ theo《Chính yếu》của Trương Đường Anh phụ lục, không rõ có phải là điều Phú Bật chỉ ra hay không, cần xem xét thêm.)
“Thần đọc sách làm nho, xem khắp kinh sử, làm quan ở châu huyện, chỉ có lòng trung nghĩa, thường hết sức tận tụy với chức nghiệp. Từ khi vào triều, thấy Hoàng tự chưa lập, trong ngoài đều lo lắng. Hơn mười năm qua, đã năm lần dâng sớ, những điều nói đều chỉ ra việc tông miếu xã tắc có thể yên có thể nguy. Tự biết thân phận thấp hèn, lời tâu xa vời, sợ lúc bận rộn xử lý công văn, không đủ lay động thánh thính, lại sợ lời lẽ quá khích, đụng chạm điều cấm kỵ, bị tả hữu che giấu. Thần nghĩ ba đời thánh nhân truyền ngôi cho Bệ hạ, Bệ hạ ở ngôi đã bốn mươi năm, chưa có người kế tự, không biết Bệ hạ đã từng suy nghĩ kỹ chưa? Nếu suy nghĩ kỹ, thì lo cho tông miếu xã tắc, để ngôi vị kế tự không bị đứt đoạn. Nếu chưa suy nghĩ kỹ, thì không nên theo thói quen, phó mặc cho thiên mệnh.
Một tổ hai tông truyền ngôi cho Bệ hạ, muốn tông miếu xã tắc đời đời nối tiếp không dứt, thì Bệ hạ mới là người có hiếu. Thần ngu dám dẫn lời Đỗ Thái Hậu, mong lay động lòng Bệ hạ. Đỗ Thái Hậu lúc lâm chung, nói rằng Nghệ Tổ được thiên hạ, vì không có Vua lớn tuổi, nên Nghệ Tổ mới được. Nghệ Tổ nghe lời Đỗ Thái Hậu, nên không nỡ truyền ngôi cho con, mà truyền cho Thái Tông. Giả sử Thế Tông ở ngôi thêm mười mấy năm, Thiếu Đế lên ngôi, thì Nghệ Tổ làm sao có việc ứng thiên thuận nhân được! Bệ hạ nên suy nghĩ điều này.
Bệ hạ trước đây sinh dục Dự Vương, nếu ý trời thuận với bệ hạ, thì nay đã thành lập rồi. Gần đây nghe nói trong một năm sinh được bốn Công Chúa, nếu ý trời thuận với bệ hạ, thì trong đó có hoàng tử vậy. Ý trời như thế, bệ hạ nên tỉnh ngộ. Bệ hạ tại vị bốn mươi năm, lúc an ninh vạn tuế, nên xét chọn con cháu hiền tài của Nghệ Tổ, Thái Tông, tạm lập làm hoàng tử, chỉ tạm đổi tước vị, giao chức vụ chính sự, để thỏa lòng mong mỏi của thiên hạ, bệ hạ nên xem xét kỹ người có đức hiền có thể truyền ngôi, thì lập làm thái tử, để cẩn trọng việc lớn, khiến tông miếu xã tắc có chủ. Huống chi trời đất rộng lớn, ngũ hành hưng vong, đều có số mệnh trong trời đất, vốn không thể tránh khỏi số mệnh. Một khi có việc bất ngờ không thể tránh, lúc hoảng hốt, trong cơn nguy cấp, ngôi báu thần khí muốn để cung vi, tả hữu, trung quan, hai phủ đưa nhau nhìn ngó mà bàn tính, há phải lòng bệ hạ coi nhẹ cơ nghiệp tông miếu dễ dàng như thế sao!
Lúc bệ hạ an khang, không thể kỹ lưỡng chọn lựa, đến lúc hoảng hốt mới bảo tả hữu tùy tiện bàn tính, đó là bệ hạ không cẩn trọng với cơ nghiệp của ba bậc thánh, coi như việc thường vậy. Kẻ kế tự có người hiền có kẻ không hiền, thì triều chính có trị có loạn, xã tắc tông miếu có an có nguy, lòng bệ hạ vốn cũng biết vậy.
Nay Bệ hạ tại vị đã lâu, chính sự muôn việc đều đã nghe quen thấy rõ, chỉ muốn tĩnh tâm trầm mặc, ngồi yên mà thành tựu. Uy phúc thưởng phạt, tuy nói là xuất phát từ triều đình, nhưng Bệ hạ không còn chuyên quyền nữa. Thưởng phạt không chuyên vào mình, mà uy phúc dần chuyển xuống dưới, thần ngu thật lo lắng. 《Thư》viết: ‘Chỉ có Vua mới tạo phúc.’ Ý nghĩa của sự dần dần thật lớn lao thay! ‘Đi trên sương cứng như băng’, ý nói sự dần dần không ngừng, thì họa suy vong của Đông Hán sẽ lại xuất hiện ngày nay. Thần ngu sống không thể có ích cho thánh thế, nên dám bộc bạch gan ruột, phạm điều cấm kỵ, nói lời cuồng ngôn vượt phép, mong có thể cảm ngộ được lòng Bệ hạ. Nếu có chút cảm ngộ, mà có thể chọn người kế tự, nối dõi tông miếu xã tắc, khiến đời đời tế hưởng không dứt, thần dù có phải chịu nồi vạc, ngày chết vạn lần, cũng như ngày còn sống, mà danh tiếng không hủ, được liệt vào hàng trung nghĩa, thì nguyện vọng đã đạt vậy.”
(《Tống triều yếu lục》 chép: Đồng tu khởi cư chú Tư Mã Quang đồng tri gián viện[25].)
[55] Ngày Đinh Sửu, sai Hàn lâm học sĩ Ngô Khuê, Vương Khuê cùng xét định phép trà.
(《Thực lục》 chép: Tháng giêng năm sau ngày Đinh Sửu mới sai Vương Khuê. Nay theo 《Hội yếu》.)
[56] Ngày Mậu Dần, Độ chi phán quan, Hình bộ viên ngoại lang, Trực tập hiền viện, Đồng tu khởi cư chú Vương An Thạch làm Tri chế cáo. Ban đầu, An Thạch từ chối chức Khởi cư chú, đã được chấp thuận, lại có lệnh bổ nhiệm, An Thạch lại từ chối đến bảy tám lần mới nhận[26]. Do đó được thăng thẳng làm Tri chế cáo, An Thạch bèn không từ chối chức quan nữa. Trước đây có chiếu, lệnh rằng từ nay Xá nhân viện không được xin sửa đổi văn tự. An Thạch cùng đồng liêu nói:
“Thần trộm nghĩ rằng chức Xá nhân là cận thần của bệ hạ, có nhiệm vụ soạn thảo và quản lý các chiếu chỉ, nên cần tham gia xem xét. Nếu những việc được phê duyệt trong bản thảo không đầy đủ mà không được trình bày thêm, thì Xá nhân không còn thực hiện chức trách của mình, mọi việc không được bàn bạc, chỉ nghe theo quyết định của các quan chấp chính. Nếu không phải vì các đại thần chấp chính muốn thiên vị vì tư lợi, thì pháp luật không nên quy định như vậy.
Những ngày trước, thần đã trình bày đầy đủ, mong bệ hạ xem xét, nhưng đến nay vẫn chưa nhận được chỉ thị. Thần không biết bệ hạ cho rằng điều đó đúng nên không thay đổi, hay không nhất thiết cho là đúng, mà chỉ vì xuất phát từ đề xuất của các đại thần chấp chính nên không thay đổi? Hay bệ hạ xem xét tấu chương của thần mà không có ý kiến, còn các đại thần chấp chính tự giữ ý kiến của mình và không muốn thay đổi?
Nếu cho là đúng mà không thay đổi, thì thần tra cứu sử sách từ xưa đến nay, chưa từng thấy thời đại nào muốn trị vì mà lại đặt ra pháp luật ngăn cản cận thần bàn luận như vậy. Nếu không nhất thiết cho là đúng, mà chỉ vì xuất phát từ đề xuất của các đại thần chấp chính nên không thay đổi, thì đó là bệ hạ không còn xem xét đúng sai về nghĩa lý, mà chỉ tùy tiện nghe theo những gì các đại thần chấp chính làm mà thôi. Nếu bệ hạ xem xét tấu chương của thần mà không có ý kiến, còn các đại thần chấp chính tự giữ ý kiến của mình và không muốn thay đổi, thì chính sự đã không xuất phát từ nhà Vua, mà ý kiến của thiên hạ cũng bị bỏ qua. Đó là lý do thần không thể không trình bày hết lòng này.
Thần trộm thấy từ mấy năm gần đây, bệ hạ đem mọi việc trong thiên hạ giao cho bảy tám đại thần. Ban đầu, thiên hạ đều vui mừng, mong họ có thể cứu vãn mọi tệ nạn. Nhưng hiện nay, những đại thần yếu kém thì không dám giữ phép tắc để trái ý gián quan, ngự sử, mà chỉ lo mưu cầu bảo vệ bổng lộc và địa vị; còn những đại thần mạnh mẽ thì dựa vào thánh chỉ để tạo ra pháp lệnh, tự ý hành động, không phân biệt đúng sai[27], mà gián quan, ngự sử cũng không dám trái ý họ. Bệ hạ lại càng im lặng sâu xa, để mặc họ làm mà không hỏi han gì. Làm sao có thể kéo dài tình trạng triều đình như thế mà không sinh loạn được?
Từ xưa đến nay, loạn lạc sinh ra không nhất thiết là do Vua tôi làm điều ác lớn, mà chỉ vì không có lòng thành thực sự mong muốn trị an, không xem xét kỹ lợi hại, không sớm phân biệt đúng sai, coi những sai lầm nhỏ là không đáng kể nên không sửa, coi những việc thiện nhỏ là vô ích nên không làm, lấy việc nịnh hót thuận theo ý mình làm vui và dùng lời nói ấy, lấy việc thẳng thắn trái ý mình làm điều cấm kỵ và bỏ lời nói ấy, tích tụ nhiều việc không đúng khiến mất lòng người, đó chính là nguyên nhân sinh loạn.
Nếu bệ hạ cho rằng lời thần nói là đúng, thì nên lấy lòng thành thực mong muốn trị an, lo lắng về loạn lạc để xem xét đại thần, sửa đổi chính sự, thì Xá nhân viện không được phép xin sửa đổi văn tự chỉ huy là không đúng, nên sửa đổi trước. Nếu bệ hạ cho rằng lời thần nói là sai, thì thần là kẻ cuồng dại không biết thể chế trị nước mà vu cáo chính sự triều đình, nên bị biếm trích rõ ràng[28], để trừng phạt tội nói bậy. Sau đó, hãy chọn người tài năng thông đạt để bổ nhiệm vào chức vụ. Thần được bệ hạ ban lộc, giữ chức vụ trong triều, không làm tròn trách nhiệm, thì nghĩa lý không thể không nói. Mà triều đình cho là sai, thì nghĩa lý không dám từ chối việc bị biếm trích. Kính mong xem xét kỹ, sớm ban chỉ dụ.”
Vương An Thạch từ đó bất hòa với các quan chấp chính.
( Sách 《Đông Hiên Tạp Ký》 của Ngụy Thái chép: Vương An Thạch vốn bất đồng ý kiến với Hàn Kỳ. Cuối niên hiệu Gia Hựu, Hàn Kỳ làm tể tướng, Vương An Thạch giữ chức Tri chế cáo, nhân bàn về việc giáng chức Tiêu Chú, bèn dâng sớ tranh luận về chức phận của Viện Xá nhân, lời lẽ trong sớ có phần xúc phạm đến các quan chấp chính. Sớ mà Ngụy Thái nhắc đến chắc chắn là chỉ sớ này. Việc này được chép trong tập của Vương An Thạch, còn việc Tiêu Chú bị giáng chức đã chép kèm vào ngày Canh Thân tháng 4, nhân việc Vương An Thạch giữ chức Tri chế cáo, nên chép kèm sớ này vào đây.)
[57] Ngày Canh Thìn, Tô An Tĩnh, Kiềm hạt phủ Thái Nguyên, châu Đại, chức Cung bị khố sứ, Thứ sử châu Trung, dâng lên bản đồ về ranh giới sông Khuất Dã ở châu Lân.
Từ sau khi Quách Ân thất bại, quân địch càng lấn chiếm đất phía tây sông, không còn kiêng sợ gì. Lý Tư Đạo, Tôn Triệu lần lượt đến đàm phán nhưng đều không thành. Đến lúc này, An Tĩnh cùng người nước họ là Triếp Di Lã Ninh, Duệ Lãng Lão Lê mới bàn định xong. Từ đống xương Hoa Tuyền, trang Mai Lãng, bãi Xà Vĩ, dọc theo dải đất đông tây sông Hoành Dương thuộc phủ châu, xây 9 hòm canh; từ bãi Xà Vĩ dọc theo bờ đông sông Hoành Dương đến các trạm canh bộ binh phía tây, xây 12 hòm canh; từ phía nam sông Hoành Dương thẳng đến phong Mai Tỉnh, xây 6 hòm canh; từ phong Mai Tỉnh về phía tây nam thẳng đến doanh trại quân Nga Chi thuộc địa giới châu Lân, xây 3 hòm canh; từ doanh trại quân Nga Chi về phía nam đến sông Đại Hoành, khe Nhiễm Chi, phong Tứ Hậu, khe Xích Kiền, ổ Chưởng Dã Li, đối diện với các trạm canh bộ binh phía tây, xây 12 hòm canh.
Ở núi Du Bình và đầu thung lũng Thanh Thủy có hai trại Xa Nga của giới Tây, từ phía bắc núi Ngoa Dã có một trại, phía nam có một trại Ma Dã Khất, mỗi trại cách núi Du Bình bốn dặm; ở Đại Hòa Phách Toàn có bốn trại Xa Nga của giới Tây, từ phía bắc có một trại Ngoa Bàng Ngộ Thắng, phía nam có một trại Ngô Di Việt Bố, tiếp theo phía nam có một trại Ma Dã Ngật Đa Ngoa, rồi phía nam có một trại Ma Dã Ngộ Nhai, mỗi trại cách Đại Hòa Phách Toàn năm dặm; ở Hồng Nhai Ổ có ba trại Xa Nga của giới Tây, từ phía bắc có một trại Cương Việt Nhai, cách Hồng Nhai Ổ hai dặm, phía nam có hai trại Ngoa Dã Thành Bố, mỗi trại cách Hồng Nhai Ổ một dặm; ở Đạo Quang Đô Cách có hai trại Xa Nga của giới Tây, đều là trại Ngoa Dã Thành Bố, nằm trên Đạo Quang Đô Cách.
Mười một trại này đều được giữ nguyên như cũ. Phía đông và tây của các trại, cách bốn dặm, đều có các phố chiếu vọng của bộ quân giới Tây, cũng xây mười hai đài quan sát.
Bèn quy ước từ nay dân cư biên giới phía tây không được vượt qua phía đông các hốt đã xây để canh tác. Những trại cũ của người Hán ngoài Phong Châu và trại cũ của người Phiên ở biên giới Phủ Châu là Xa Nga, đều được tu sửa lại. Ở Phủ Châu, dọc biên giới có 33 trại Xa Nga cũ[29], không xây thêm nữa. Dân cư ở biên giới Lân Châu không được canh tác phía tây sông Khuất Dã. Những vùng đất không canh tác ở Lân Châu và Phủ Châu, cũng cho phép dân cư hai bên biên giới đến gần để kiếm củi và chăn thả, nhưng không được cắm cọc làm chuồng, dựng nhà tranh. Người vi phạm sẽ bị bắt giải lên quan và cấm buôn bán. Nhân viên tuần tra hai bên biên giới, mỗi người không được mang quá 30 người và ngựa với áo giáp và vũ khí.
(Sách “Hạ Quốc truyền” chép việc này rất sơ lược, chỉ nói rằng yên tĩnh như vậy, hịch gửi Hạ Quốc, được Lã Ninh và Duệ Lãng Lão Lê đến hợp nghị, yên tĩnh bèn xây 36 hốt, đổi mới lệnh cấm biên giới, đe dọa nếu vi phạm sẽ đình chỉ buôn bán, biên giới mới ổn định. Nay dùng toàn bộ văn bản thực lục. Xem tập thứ bảy trong “Lã Hối tấu nghị”, bản tấu về địa giới Lân Châu có viết: “Gần đây cách chức Kiềm hạt Tô Yên Tĩnh, thực là đúng đắn. Cử riêng chức Phương viên ngoại lang Lý Tư Đạo đến đó, triều đình trao cho kế sách, việc gì cũng thành.” Nay Yên Tĩnh dâng bản đồ địa giới, tức là Yên Tĩnh đã giải quyết xong địa giới, không phải do Tư Đạo. Không rõ Lã Hối nói cách chức Yên Tĩnh vào tháng năm nào, cần tra cứu thêm.)
[58] Mùa hạ năm đó[30], Xu mật phó sứ Âu Dương Tu nói:
“Thần tài năng kém cỏi, tầm thường trong đám đông. Bệ hạ không ngần ngại bổ nhiệm, đặt vào chức vụ trọng yếu, đối với việc báo đáp, tự nhiên phải làm sao? Từ khi nhậm chức đến nay đã hơn nửa năm, mọi việc liên quan đến đại thể đều phải dựa vào sự đồng thuận của mọi người; còn những việc hàng ngày trình lên đều là công việc thường lệ của các cơ quan. Đến như việc mưu kế, khuyên răn, thần hoàn toàn không có gì đóng góp, trên phụ lòng thánh ân, dưới thẹn với dư luận, dù người khác chưa trách cứ, nhưng sao dám tự an lòng? Vì vậy, ngày đêm suy nghĩ, mong dốc hết sức mọn, nếu có gì đáng tham khảo, hy vọng giúp ích được phần nào.
Thần gần đây thấy các quan gián quan Đường Giới, đài quan Phạm Sư Đạo vì dâng lời về việc của Trần Húc mà bị tội, hoặc bị điều đến quận nhỏ, hoặc bị đày đến nơi xa. Từ khi Bệ hạ lên ngôi đến nay, đã trọng dụng những bề tôi dám can gián, mở rộng đường ngôn luận, dù lời nói có lúc đúng lúc sai, nhưng thánh từ luôn khoan dung. Một ngày kia, các quan đài gián liên tiếp bị đuổi đi khắp nơi, lệnh ban ra khiến trong ngoài đều kinh ngạc và nghi ngờ.
Thần tuy không biết lời nói của các quan đài gián đúng sai thế nào, nhưng thấy Đường Giới, Phạm Sư Đạo đều đã lâu giữ chức vụ gián quan, họ đứng trong triều đều có gốc gác, trước sau dâng lời đều mang lại lợi ích rất nhiều, lẽ nào đến lúc này đột nhiên thay đổi tiết tháo, cố ý lừa dối, làm mờ mắt thánh thượng? Xét về tình người, không nên có chuyện như vậy.
Thần nghĩ rằng từ xưa đến nay, bề tôi can gián Vua có khó có dễ, tùy theo thời thế mà thôi. Nếu gặp Vua tàn bạo, hay nghi ngờ, không muốn nghe lỗi của mình, mà thích nghe lỗi của bề tôi; Vua trên thì hay xét nét, đa nghi, bề tôi dưới thì lo sợ, tích tụ lỗi lầm, lúc này can gián Vua thì khó, mà nói về bề tôi thì dễ. Nếu gặp Vua nhân từ, cung kiệm, hành động tuân theo lễ pháp, tự biết lỗi của mình, thì nghe lời can gián như nước chảy; nghe lỗi của bề tôi thì cố gắng khoan dung để bảo toàn họ; còn bề tôi thì nắm quyền ngoài triều, trong lại có sự giúp đỡ của tả hữu, người dâng lời chưa kịp được nghe mà đã kết oán thù với họ. Vì vậy, lúc này can gián Vua thì dễ, mà nói về bề tôi thì khó. Điều này không thể không xem xét kỹ.
Từ xưa, việc nghe lời nói của bậc quân chủ cũng có khó có dễ, điều quan trọng là biết được phương pháp mà thôi. Khi lời trung và lời tà cùng xuất hiện trước mặt, và lời bàn công cùng lời riêng tư đều lọt vào tai, đó là điều khó trong việc nghe. Nếu biết được người nào trung hay tà, phân biệt được lời nào là công hay tư, thì việc nghe sẽ dễ dàng.
Những lời nói vụng về mà thẳng thắn, trái tai nghịch ý, nghe lần đầu có vẻ đáng ghét, đó là lời của bề tôi trung thành. Lời nói khéo léo mà thuận theo, hợp ý vừa lòng, nghe lần đầu có vẻ đáng mừng, đó là lời của kẻ bề tôi gian tà. Đến như các quan chức phụ trách việc tâu bày, mỗi người đều thi hành chức trách của mình, hoặc đứng trước triều đình nghiêm nghị nói thẳng với các quan, hoặc dâng sớ liên tiếp bàn về việc gì đó, lời nói vừa đưa ra thì muôn miệng tranh nhau truyền tụng, muôn mắt cùng nhìn vào, dù muốn giấu giếm cũng không thể được.
Vì vậy, những lời nói công khai, không sợ người biết, đều là lời công. Nếu không phải là chức trách của mình, lại không dám nói thẳng, hoặc dâng mật tấu xin giữ lại trong cung, hoặc nói riêng xin nhà Vua quyết định, không muốn người khác biết ai là người chủ xướng, thì đó là lời nói có ý gian tà, sợ bị đàn hặc. Vì vậy, những lời tâu bày kín đáo mà sợ người biết, đều là lời nói vụ lợi riêng tư. Từ xưa, bậc quân chủ nào biết dùng phương pháp này để hiểu rõ tình hình bề tôi, thì việc nghe lời sẽ dễ dàng.
Kính nghĩ Bệ hạ nhân từ thánh minh, khoan dung nhân ái, thân hành cần kiệm, vui nghe lời can gián, dung nạp lời nói thẳng, đối với các đại thần lại càng ưu đãi, thường muốn bảo toàn trọn vẹn từ đầu đến cuối, nghĩ đến việc yêu quý danh tiết của bề tôi, đặc biệt thận trọng trong việc thăng giáng. Vì thế, thần cho rằng hiện nay những người dâng lời can gián, khuyên răn bậc quân chủ thì dễ, nhưng muốn nói về các đại thần thì khó.
Thần từ khi vào triều, những điều mắt thấy tai nghe, vào niên hiệu Cảnh Hữu, Phạm Trọng Yêm can gián tể tướng Lữ Di Giản, bị giáng làm Tri châu Nhiêu Châu[31]; vào niên hiệu Hoàng Hựu, Đường Giới can gián tể tướng Văn Ngạn Bác, bị giáng làm Biệt giá Xuân Châu; đầu niên hiệu Chí Hòa, Ngô Trung Phục, Lữ Cảnh Sơ, Mã Tuân can gián tể tướng Lương Thích, đều bị cách chức đuổi ra ngoài; sau đó Triệu Biện, Phạm Sư Đạo can gián tể tướng Lưu Hãng, cũng bị cách chức đuổi ra ngoài; năm trước Hàn Giáng can gián Phú Bật, bị giáng làm Tri châu Thái Châu[32]; nay lại có Đường Giới và năm người khác can gián Trần Húc mà bị tội. Từ khi Phạm Trọng Yêm bị giáng làm Tri châu Nhiêu Châu đến nay, trong vòng hai mươi năm, những người giữ chức Đài Gián rất nhiều, nhưng chưa từng nghe ai vì can gián bậc quân chủ mà bị tội. Vì thế, thần cho rằng hiện nay can gián bậc quân chủ thì dễ, nhưng nói về các đại thần thì khó. Bệ hạ suy xét điều này để xem xét lời của Đường Giới và những người khác, thì có thể biết được tâm ý của họ.
Những người trong đài gián bị bãi chức trước đây gồm năm người, chỉ có Lã Hối là người mới tiến cử, vào đài chưa lâu, còn bốn người khác thì xuất xứ và quá trình đều rõ ràng, có thể kể ra được. Đường Giới trước đây vì dám nói về Văn Ngạn Bác mà bị đày đến vùng Quảng Tây xa xôi, nơi đầy lam chướng, nhờ ơn nhân từ thương xót của bệ hạ mà được dời đến Hồ Nam, mới giữ được tính mạng.
Phạm Sư Đạo và Triệu Biện đều vì dám nói về Lưu Hãng mà bị cách chức trong đài, phải giữ chức ở ngoại quận, kéo dài nhiều năm, sau đó mới được trở lại. Nay ba người này lại vì dám nói về việc xu thần mà bị bãi chức, nhưng Đường Giới không sợ vì trước đây đã từng đối mặt với cái chết, Phạm Sư Đạo và Triệu Biện không lấy việc bị trì hoãn tiến cử nhiều năm làm điều răn, gặp việc thì nhất định phải nói, phạm tội cũng không hối hận, đúng là những bậc sĩ phu tiến thoái một mực, trước sau không thay đổi. Còn như Vương Đào, vốn xuất thân từ cảnh nghèo khó, chỉ nhờ Hàn Giáng tiến cử mới được làm quan trong đài.
Đến khi Hàn Giáng làm Trung thừa, Vương Đào không dám vì tình riêng mà tranh luận với ông ta, cuối cùng Hàn Giáng bị tội. Việc vướng bận tình riêng là chuyện thường tình của con người, nhưng dứt bỏ ân tình vì nghĩa lớn thì không phải người hiểu nghĩa không thể làm được, từ đó mà nói, Vương Đào có thể gọi là bề tôi vì công diệt tư vậy. Bốn người này, xuất xứ và quá trình đều như vậy, có thể biết được tính cách của họ. Dù lời nói có không trúng, thì tấm lòng của họ cũng không có gì khác.
Có người bàn rằng các quan giữ việc can gián thích kết bè đảng, làm lung lay các đại thần để tạo uy quyền. Hàn Giáng nói rằng vào thời Phú Bật, Đường Giới và Phạm Sư Đạo không theo Giáng để kết đảng, mà cùng các quan đài gián bàn luận Giáng là sai. Như vậy thì rõ ràng họ không kết bè đảng, cũng không muốn làm lung lay các đại thần.
Thần cho rằng không nên vì thế mà nghi ngờ các quan giữ việc can gián. Huống chi Đường Giới và những người khác lúc này tuy bị giáng chức, nhưng may mắn được bệ hạ khoan dung, mỗi người đều được làm quan ở quận, chưa đến mức mất chỗ. Điều đáng tiếc là việc đuổi các quan can gián không phải là việc tốt của triều đình, làm tắc nghẽn đường ngôn luận, không có lợi cho quốc gia, mà Đường Giới và những người khác hết lòng trung thành giữ tiết, lại chưa được xem xét thương xót. Thần mong bệ hạ đặc biệt triệu hồi Đường Giới và những người khác, đặt họ vào triều đình, để khuyến khích những người giữ tiết dám nói, thì thiên hạ may mắn lắm.”
(Tấu sớ của Âu Dương Tu không rõ thời gian, Đường Giới và những người khác bị đuổi vào ngày 27 tháng 4. Tu nói rằng ở Xu phủ đã hơn nửa năm[33], xét Tu được bổ nhiệm làm Xu phó vào ngày 16 tháng 11 năm ngoái, thì tấu sớ này nên vào khoảng tháng 5, tháng 6, nay phụ vào cuối mùa hạ. Ngày 9 tháng 3 năm thứ 7, triệu Vương Đào và Phạm Sư Đạo.)
- 'soạn', các bản khác chép là 'ban' ↵
- 'đài' dưới nguyên có chữ 'gián', căn cứ vào các bản khác và ý nghĩa của văn bản mà bỏ đi ↵
- Chữ 'thừa' trong Nội điện thừa chế nguyên bản là 'vĩnh', căn cứ theo bản trong các kho lưu trữ và quyển 194 của sách này sửa lại. ↵
- 'Biến' nguyên là 'Biên', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác sửa. ↵
- Triệu Biện, chữ 'Biện' nguyên bản viết là 'Biện', căn cứ theo ba bản trên và 《Tống sử toàn văn》 quyển 9 hạ, 《Tống sử》 quyển 316, truyện Triệu Biện sửa lại. Chú thích tương tự. ↵
- Dương Hoài Mẫn, chữ 'Dương' nguyên bản viết là 'Dương', theo bản Tống toát yếu, các bản khác và sách 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 40 《Đường Giới đàn hặc Trần Húc》, 《Vĩnh lạc đại điển》 quyển 12428 sửa lại. ↵
- Chữ 'ngữ' nguyên bản viết là 'Minh', theo các bản khác và đoạn văn dưới sửa lại. ↵
- Câu này thiếu sót, nghi có chỗ thiếu. ↵
- Chữ 'Lạc' trong 'Lạc Kinh' nguyên bản là 'Dược', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Vĩnh Lạc đại điển quyển 12428, Tống sử quyển 331 truyện Lạc Kinh sửa lại. ↵
- chữ 'xà' trong 'long xà cổ' ban đầu bị thiếu, căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 121, phần Lễ chí bổ sung. ↵
- xa thì bị tiểu nhân chỉ trỏ, chữ 'tắc' nguyên bản thiếu, theo bản Tống Toát Yếu, các bản khác và 《Lưu Xưởng Công Thị Tập》 quyển 31 bổ sung. ↵
- 'Đổi' chữ này nguyên bản thiếu, căn cứ theo hai bản trên và 《Tống hội yếu》 Nghi chế 13/21, 《Tống sử》 quyển 302, truyện Giả Ám bổ sung. ↵
- 'Nhị' nguyên bản là 'tam', căn cứ theo quyển 1 sách này và 《Tống hội yếu》, 《Đông đô sự lược》 quyển 20, truyện Mộ Dung Diên Chiêu sửa lại. ↵
- 'Đình' nguyên bản là 'Diên', căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 257, truyện Ngô Đình Tộ sửa lại. ↵
- 'Nhị' nguyên bản là 'tam', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống hội yếu》 Nghi chế 13/21, 《Tống sử》 quyển 257, truyện Ngô Đình Tộ sửa lại. ↵
- 'Xu' chữ này nguyên bản thiếu, căn cứ theo hai bản trên và 《Tống hội yếu》 bổ sung. ↵
- 'Giả' chữ này nguyên bản thiếu, căn cứ theo hai bản trên và 《Tống hội yếu》 bổ sung. ↵
- 'Tránh' và 'miễn' hai chữ này nguyên bản đảo ngược, căn cứ theo bản Tống toát yếu, bản các và 《Tống hội yếu》 sửa lại. ↵
- 'Chu biến hoa di' nguyên văn là 'Dụng biến hoa di', theo bản Tống, Tống toát yếu và 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 quyển 18, 《Tống Sử Toàn Văn》 quyển 9 hạ, 《Vĩnh Lạc Đại Điển》 quyển 12428 sửa lại. ↵
- Trong 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 có thêm câu: 'Nếu mặt trời thực sự bị che khuất mà có mây mù che phủ'. ↵
- 'Vĩnh Thủy nguyên niên' nguyên văn là 'Vĩnh Thủy lục niên', theo 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 và 《Tư Trị Thông Giám》 quyển 31 sửa lại. ↵
- Trong 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 có thêm câu: 'Cốc Vĩnh cho rằng do say sưa rượu chè, tai họa ở bên trong. Năm thứ hai tháng 2 có nhật thực, các nơi khác thấy nhưng kinh đô không thấy'. ↵
- Chữ 'Chi' trong 'Chiếu chi nhất bán' vốn bị thiếu, căn cứ vào các bản và 《Vĩnh Lạc đại điển》 quyển 12428 bổ sung ↵
- 《Tư Mã thị ký văn》 chữ 'văn' dưới nguyên có thêm chữ 'lục', căn cứ theo bản Tống toát yếu, các bản khác và sách trên đã xóa. ↵
- 《Tống triều yếu lục》 chép: Đồng tu khởi cư chú Tư Mã Quang đồng tri gián viện, Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản đều không có lời chú này. ↵
- An Thạch lại từ chối đến bảy tám lần mới nhận, chữ 'bát' dưới nguyên có chữ 'nguyệt', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Biên niên cương mục》 quyển 16, 《Tống sử toàn văn》 quyển 9 hạ mà bỏ. ↵
- Theo ý nghĩa của văn bản và đoạn trên, nghi ngờ chữ 'nghĩa' thiếu chữ 'lý'. ↵
- Chữ 'minh' vốn thiếu, theo bản Tống và bản Tống toát yếu bổ sung. ↵
- '33 trại Xa Nga cũ', trong 'Tống hội yếu' binh 27-44 chép là '32'. ↵
- 'Mùa hạ' nguyên bản chép là 'tháng', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 'Vĩnh Lạc đại điển' quyển 12428, cùng lời chú ở sau 'Bản tấu này chắc là vào khoảng tháng 5, tháng 6, nay phụ vào cuối mùa hạ' mà sửa lại. ↵
- Chữ 'tri' trong 'biếm tri Nhiêu Châu' nguyên bản là 'chi', căn cứ vào bản Tống, bản Tống Toát Yếu và 《Vĩnh Lạc Đại Điển》 quyển 12428, 《Tống Sử Toàn Văn》 quyển 9 hạ, 《Âu Dương Văn Trung Công Văn Tập》 quyển 113 bài 'Luận Đài Gián Quan Đường Giới Đẳng Nghi Tảo Khiên Phục Trát Tử' mà sửa ↵
- Chữ 'tri' trong 'biếm tri Thái Châu' nguyên bản là 'chi', căn cứ vào hai bản trên và ba sách trên mà sửa ↵
- Tu nói rằng ở Xu phủ đã hơn nửa năm, chữ 'tại' nguyên bản là 'chủ', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và dẫn theo 《Vĩnh Lạc đại điển》 mà sửa. ↵