"

IV. TỐNG NHÂN TÔNG

[BETA] QUYỂN 196: NĂM GIA HỰU THỨ 7 (NHÂM DẦN, 1062)

Từ tháng giêng năm Gia Hựu thứ 7 đến tháng 6 cùng năm.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Kỷ Dậu mùng một, Vua ngự ở điện Đại Khánh để nhận lễ chầu mừng.

[2] Ngày Ất Mão, Lý Kế Hòa, chức Văn Tư sứ kiêm Đái Ngự Khí Giới, được bổ làm Nội Thị Áp Ban. Các chức Đô Tri và Áp Ban của hai tỉnh đều chọn người từ 50 tuổi trở lên và có công trấn giữ biên cương để bổ dụng. Năm trước, Kế Hòa đáng lẽ được bổ nhiệm, nhưng mới 49 tuổi, đến lúc này mới được bổ nhiệm.

[3] Ngự Sử Trung Thừa Vương Trù và các quan tâu: “Nghe nói Ty Củ Sát Tại Kinh Hình Ngục từng tấu rằng: ‘Phủ Ty và hai quân Tuần đều thuộc quyền quản lý của tỉnh phủ. Khi ghi chép các vụ án tử hình có sự thay đổi, xin giao xuống Ngự Sử Đài xét lại.’ Thần nghĩ rằng, chính sự của phủ huyện đều do các cơ quan phụ trách, việc của đài cục cũng có quy định riêng. Nếu mỗi lần có tù nhân thay đổi lời khai lại dùng Ngự Sử Đài để xét hỏi, thì chức trách của phong hiến sẽ trở thành cùng với Phủ Ty và quân Tuần xử lý các vụ án ở kinh thành, e rằng không nên thực hiện ngay.” Vua đồng ý. Lưu Xưởng từng kiến nghị xin cử quan khác xét hỏi các vụ án tử hình có sự thay đổi lời khai của hai quân Tuần.

(Việc Vương Trù tranh luận có lẽ là do điều này. Tấu chương của Lưu Xưởng đã được ghi kèm vào cuối tháng 7 năm thứ 4.)

[4] Ngày Nhâm Tuất, Vua ngự ở cửa Tuyên Đức xem đèn, quay lại nói với các quan theo hầu: “Đây là dịp cùng trăm họ vui chơi theo thời tiết, chứ không phải riêng Trẫm thích ngắm cảnh.” Trước đó, các quan Gián Quan là Dương Điền và Tư Mã Quang vì năm ngoái có lũ lụt, xin bỏ việc xem đèn vào dịp Thượng Nguyên, nên Vua đặc biệt tuyên dụ như vậy.

[5] Ngày Ất Hợi, Vua ban chiếu cho Thái Thường Lễ Viện rằng từ nay về sau, khi tế Nam Giao sẽ lấy Thái Tổ Hoàng Đế làm chủ tế, đổi miếu của Ôn Thành Hoàng Hậu thành Từ Điện, hàng năm sai quan trong cung dùng lễ vật thường để cúng tế.

Ban đầu, quan gián quan Dương Điền dâng sớ nói: “Sách 《Hồng Phạm Ngũ Hành Truyện》 viết: ‘Giản lược tông miếu thì nước không thấm xuống.’ Lại nói: ‘Nghe mà không thông suốt, hình phạt thường là nước lũ.’ Năm ngoái vào khoảng cuối hè đầu thu, mưa dài ngày làm hại mùa màng, sông ở Châu Điền vỡ đê, các vùng phía đông nam bị lụt lớn gây tai họa. Từ khi bệ hạ lên ngôi đến nay, luôn tiếp nhận lời can gián thẳng thắn, không phải là nghe mà không thông suốt; lấy hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ, không phải là giản lược tông miếu. Tuy nhiên, tai dị liên tiếp xảy ra, thần ngu muội cho rằng việc nghe muôn việc ắt có chỗ sai lầm; việc tế tự bảy miếu ắt có chỗ không thuận. Mong bệ hạ suy nghĩ kỹ và sửa chữa.” Do đó, Vua xuống chiếu cho

Thái thường lễ viện kiểm tra những việc tế tự giao miếu chưa thuận. Thái thường lễ viện tâu: “Theo 《Hiếu Kinh》 nói: ‘Tế giao Hậu Tắc để phối hưởng với trời.’ 《Xuân Thu》 nói: ‘Từ bên ngoài đến, không có chủ thì không dừng.’ Như vậy, lý của trời đất ắt có chỗ phối hưởng, đều là ý tôn thờ thần linh làm chủ. Hơn nữa, tổ chỉ có một, là người đầu tiên nhận mệnh trời; tông thì không định trước, đợi người có đức. Từ tông trở xuống, công đức hiển hách, tự nhiên có thể tôn sùng chế độ miếu thạch, trăm đời không thay đổi, truyền mãi không dứt. Còn đối với việc tế tự trời đất, thì thần không có hai chủ, để phụng thờ tôn nghiêm của Thượng đế, tỏ ra không dám khinh nhờn.

Thời Đường, niên hiệu Thùy Củng, bắt đầu dùng ba tổ cùng phối hưởng, đến năm Khai Nguyên thứ 11 thì bãi bỏ khi tế tự Minh đường. Chiếu thư năm Hoàng Hựu thứ 5 viết: ‘Nay tế Nam giao tạm thờ ba thánh cùng phối hưởng, sau đó lại luân phiên phối hưởng theo lễ cũ.’ Không lâu sau, lại xuống chiếu: ‘Ba thánh cùng phối hưởng là định chế.’ Tuy xuất phát từ lòng hiếu thảo, nhưng việc này khá trái với kinh lễ. Lại nữa, miếu của Hoàng hậu Ôn Thành được lập ở phía nam thành, bốn mùa tế điện, do quan đãi chế, xá nhân đảm nhiệm, dâng ngọc lụa, tế rượu, hát ca, bày nhạc, đều giống như lễ Thái miếu, đó là do quan hữu ty lúc bấy giờ không xem xét kỹ. Xưa Cao Tông gặp biến, tự sửa mình nghĩ đến lỗi lầm, Tổ Kỉ khuyên rằng tế tự không nên quá nhiều với người thân, huống chi đem người được sủng ái đặt vào hàng lễ nghi, không phải là cách để hưởng lòng trời, phụng thờ tổ tông.”

Vua lại xuống chiếu cho hai chế bàn luận, và Hàn lâm học sĩ Vương Khuê cùng các quan tâu rằng: “Tôn kính người đáng tôn để tế trời, là nghĩa tột cùng; thân với người thân để tế tổ tiên, là nhân tột bậc. Tôn kính không thể khinh nhờn, nên tế giao không có hai chủ; thân thích không thể vượt quá, nên miếu chỉ thờ tổ tiên. Nay ba hậu cùng phối hưởng, vốn muốn tỏ lòng hiếu thảo, nhưng lại thành ra khinh nhờn việc tế trời; hậu cung có miếu, vốn muốn mở rộng ân huệ, nhưng lại thành ra khinh nhờn việc tế tổ[1]. Xin theo lời bàn của quan lễ.” Do đó, Vua xuống chiếu này.

[6] Tháng hai, ngày Tân Tỵ, (Xét từ ngày Kỷ Dậu đầu tháng giêng đến ngày Tân Tỵ đã là 33 ngày, vậy đoạn này phải ghi là tháng hai, nguyên bản có chỗ sai sót.) Tri châu Kỳ, Viên ngoại lang Đồn điền Trương Điền được bổ làm Đề cử Hình ngục lộ Kinh Hồ Nam. Gián quan Tư Mã Quang dâng sớ lần thứ hai nói rằng Trương Điền là kẻ xảo trá, bất chính, không thể giao chức Giám ty, sau đó đổi làm Tri châu Hồ.

Trước đây, muối do các lộ Giang, Hồ chở về vừa kém chất lượng, lại bán giá cao, nên dân chúng thích dùng muối lậu. Dân vùng biển sống bằng nghề đánh cá và làm muối, ít tốn công mà lợi nhuận cao, do đó số người buôn lậu muối ngày càng đông. Hơn nữa, những kẻ buôn lậu đều là hạng bất lương, vô lại, nếu bắt gấp thì chúng nổi lên làm giặc cướp. Ngay cả những kẻ sĩ ở vùng Giang, Hoài, vì ham lợi lớn, cũng có người tham gia buôn lậu muối. Ở Giang Tây, châu Kiền giáp với Quảng Nam, còn châu Đinh của Phúc Kiến cũng tiếp giáp với Kiền. Muối ở đây vốn kém chất lượng, châu Đinh lại không sản xuất muối, nên dân hai châu thường buôn lậu muối Quảng Nam để kiếm lời.

Mỗi năm vào mùa thu đông, khi việc đồng áng đã xong, họ thường tụ tập thành từng nhóm hàng chục, hàng trăm người, mang vũ khí, cờ trống, đi lại giữa các châu Kiền, Đinh, Chương, Triều[2], Tuần, Mai, Huệ, Quảng, tổng cộng tám châu. Đến đâu chúng cũng cướp bóc lương thực, vải vóc, bắt cóc phụ nữ, đánh nhau với quan quân tuần tra, thậm chí giết hại quan quân, rồi nổi lên làm giặc, chiếm cứ nơi hiểm yếu, khiến quan quân không thể bắt được, có khi phải tha tội để chiêu dụ chúng. Tình hình này kéo dài ngày càng nghiêm trọng. Trong khi đó, lượng muối do châu Kiền bán ra mỗi năm chỉ được khoảng một triệu cân[3], triều đình lấy làm lo ngại.

Từ năm Khánh Lịch, Quảng Đông chuyển vận sứ Lý Phu, Vương Dao xin vận chuyển muối Quảng Châu đến Nam Hùng Châu để cung cấp cho Kiền Châu, Cát Châu[4]. Phu và các quan liền vận chuyển hơn bốn triệu cân muối đến Nam Hùng Châu, nhưng Giang Nam chuyển vận sứ ban đầu cho rằng việc này không tiện, nên không đến lấy. Sau đó, Hộ bộ phán quan Chu Trạm cùng bảy người khác lại xin vận chuyển muối Quảng Châu vào Kiền Châu, Giang Tây cũng xin tự chuẩn bị vốn để lấy muối. Năm Hoàng Hựu thứ 5, bắt đầu xuống chiếu cho Đồn điền viên ngoại lang Thi Nguyên Trường[5]đi ngựa trạm hội họp với Giang Tây, Quảng Đông chuyển vận sứ ty bàn việc lợi hại. Đầu năm Chí Hòa, Nguyên Trường cùng chuyển vận sứ Diêm Tuân[6], Nguyên Cương đều xin theo ý kiến của Trạm và các quan, nhưng phát vận sứ Hứa Nguyên cho rằng không nên, Tam ty đồng ý với lời của Nguyên, nên việc này dừng lại.

Trong niên hiệu Gia Hựu, Tri Liên châu là Tăng Phụng Tiên xin cho thương nhân buôn bán muối Quảng Nam vào các châu Kiền, Đinh, các châu huyện mà muối đi qua đều thu thuế. Tri Đinh châu là Lâm Đông Kiều xin cho thông thương muối ở bảy châu Kiền, Đinh, Chương, Tuần, Mai, Triều, Huệ. Thông phán Chân châu là Nguyễn Sĩ Long xin không vận chuyển muối từ ngoài Lĩnh vào châu Kiền, mà mỗi năm chỉ vận chuyển bảy triệu cân muối Hoài Nam đến châu Kiền, hai vạn cân[7] đến châu Đinh, để dân chúng đủ muối dùng, giặc cướp tự nhiên sẽ yên. Viên ngoại lang bộ Ngu là Chu Bí xin lệnh cho châu Kiền tăng thêm tiền muối tằm. Tri Triều châu là Lã Thục, Tri Mai châu là Vương Thúc cũng đều bàn về lợi hại của việc này. Có người lại xin quan phủ tự lập các phố[8], sai binh lính vận chuyển muối Quảng Nam, Phúc Kiến đến châu Kiền. Có người xin định giá muối quan ở châu Kiền để điều hòa giá cả. Các ý kiến bàn luận không thống nhất.

Triều đình từng sai Chức phương viên ngoại lang Hoàng Bỉnh đi ngựa trạm họp với các Giám ty thuộc quyền cùng các Tri châu quân, Thông phán để bàn bạc. Bấy giờ, Bỉnh và mọi người cùng bàn, cho rằng châu Kiền đã dùng muối Hoài Nam từ lâu, không thể thay đổi. Chỉ nên giảm giá quan định tăng thêm những năm gần đây, mỗi cân là 40 đồng, lấy 10 huyện thuộc 5 hạng hộ, theo tỷ lệ 100 đồng thuế hạ thì mua 2 cân muối, nộp tiền theo thuế hạ để trả cho quan.

Sau đó lại sai Đề điểm chú tiền Trầm Phù xem xét lại xem có được không. Phù cùng các Chuyển vận sứ Giang Tây, Phúc Kiến, Quảng Đông, cùng quan lại châu Kiền, lại xin chọn thuyền tải của Giang Tây, hợp thành 10 cương, do các sứ thần Tam ban quản lý, đi thẳng đến các kho muối lớn ở Thông, Thái, Sở. Lại sai Tỷ bộ viên ngoại lang Tăng Khải đến Quảng Nam, cùng các Giám ty bàn lại việc thông thương muối Quảng Nam, còn Chuyển vận phán quan Trần Tòng Ích[9] xin lập 5 kho lớn chứa muối ở Huệ, Tuần, Mai, Triều, sai châu Kiền chiêu mộ các hộ buôn muối nộp tiền cho hai châu, đến 5 kho nhận muối, rồi về ba châu buôn bán. Đó gọi là biến muối tư thành muối quan, đổi giặc cướp thành thương nhân. Triều đình cho là khó, cuối cùng dùng kế sách của Bỉnh, Phù, nhưng mỗi năm chỉ tăng thêm được hơn 60 vạn cân muối bán ra[10].

Trước đây, Đồn điền viên ngoại lang Thái Đĩnh làm Tri quân Nam An, thường dâng sớ trình bày lợi hại. Đến lúc này, được thăng làm Quyền đề điểm Giang Tây hình ngục, giao cho việc chế trí. Thái Đĩnh ra lệnh cho dân nộp các loại vũ khí tư nhân để cấp cho lại tốt tuần tra. Lệnh cho những người buôn bán cá vàng, mang theo muối không quá 20 cân[11], hoặc đi không quá 5 người, không mang theo vũ khí, chỉ phải nộp thuế, không bắt giữ.

Ở Hoài Nam, sau khi tổ chức lại việc vận chuyển muối, Thái Đĩnh tăng lên thành 12 đoàn, mỗi đoàn 25 thuyền, khóa chặt đến châu rồi mới phát đi. Nộp cho quan xong, phần còn lại chia cho lại tốt thuyền vận chuyển, quan lại mua lại một nửa với giá rẻ. Nhờ đó giảm được tình trạng ăn cắp, muối trở nên tốt hơn. Lại giảm giá bán, thuế muối hàng năm so với mức cũ tăng lên hơn 3 triệu cân, bãi bỏ khoản tiền mua muối mà Phù và những người khác phải nộp[12].

Trước đây, người Đinh Châu muốn buôn muối, thường đánh trống trong núi, triệu tập những người muốn đi cùng và hẹn ngày, thường có vài trăm người cùng đi. Đến lúc này[13], châu huyện ra lệnh cho kỳ bảo, hễ có người đánh trống thì bắt ngay, những kẻ buôn lậu dần dần sợ hãi. Triều đình cho rằng Thái Đĩnh có tài, lưu lại Giang Tây, mấy năm sau mới chuyển đi. Lâu ngày[14], muối ở Giang Tây đều được tổ chức vận chuyển như ở Kiền Châu.

Thái Đĩnh vào tháng 2 ngày Tân Tỵ được làm Quyền Hiến Giang Tây, tháng 9 ngày Bính Dần bỏ chữ “quyền”; năm Trị Bình thứ nhất tháng 4 ngày Canh Dần, xếp vào thứ tự Chuyển vận sứ; năm thứ 2 tháng 3 ngày Bính Dần, đổi làm Thiểm Tây vận phó. Tháng 7 năm Hi Ninh thứ 3, Trương Giáp bàn về việc Thái Đĩnh xử lý, có chỗ hơi khác, nay để cả hai. Xét 《Tống sử》 chép tháng 2 ngày Kỷ Mão, đổi pháp chế muối Giang Tây, không hợp với chỗ này.

[7] Ngày Quý Mão, ban chiếu cho Công chúa Duyễn Quốc vào trong cung, An Châu quan sát sứ, Phò mã đô úy Lý Vĩ nhận chức Tri Vệ Châu, mẹ đẻ của Vĩ là Dương thị trở về với anh trai là Chương, nhũ mẫu của công chúa là Hàn thị ra ở ngoài, nội thần phụ trách nhà công chúa là Lương Hoài Cát trở về tiền tỉnh, các người hầu hạ đều bị giải tán.

Vĩ dung mạo xấu xí, tính tình chất phác, Công chúa thường coi như nô bộc, họ Hàn lại thường xuyên ly gián. Công chúa từng uống rượu với Hoài Cát, họ Dương nhìn thấy, Công chúa nổi giận, đánh họ Dương, ban đêm mở cửa cấm, đến chỗ Hoàng đế kêu oan. Những người nói đều trách Công chúa. Hoài Cát bị trị tội, Công chúa oán hận, muốn tự vẫn, hoặc phóng hỏa đốt phủ đệ, để buộc Hoàng đế phải triệu Hoài Cát trở lại. Hoàng đế bất đắc dĩ, cũng phải triệu họ về.

Các quan gián là Dương Điền, Tư Mã Quang, Cung Đỉnh Thần đều ra sức can gián, Hoàng đế không nghe. Quang lại nói: “Thời Thái Tông, Diêu Thản làm phụ đạo cho Duyễn vương, có lỗi ắt can. Tả hữu dạy vương giả bệnh, hơn một tháng, Thái Tông triệu mẹ nuôi của vương vào, hỏi tình hình, mẹ nuôi nói: ‘Vương không bệnh, vì Diêu Thản nên lo lắng thành bệnh.’ Thái Tông nổi giận nói: ‘Vương còn trẻ, không biết làm thế, các ngươi dạy vương.’ Đánh mẹ nuôi mấy chục roi, triệu Thản đến an ủi khuyên nhủ. Tề quốc Hiến Mục Đại Trưởng Công chúa, con Thái Tông, em gái Chân Tông, cô của Bệ hạ, mà khiêm cung giữ lễ, thiên hạ khen ngợi hiền đức. Mong Bệ hạ dạy con theo gương Thái Tông, Công chúa thờ chồng theo gương Hiến Mục.”

Nhưng Công chúa vẫn ghét Vĩ, không chịu vào trung các, trạng thái như điên loạn, nhiều lần muốn tự vẫn. Miêu Hiền phi cùng Du Sung Nghi bàn bạc, sai nội thần Vương Vụ Tư quản lý phủ phò mã, để dò xét lỗi của Vĩ. Vĩ vốn cẩn thận, Vụ Tư không tìm được lỗi, bèn báo với Miêu, Du rằng: “Chỉ cần có chỉ của Hoàng đế, Vụ Tư xin dùng chén rượu kết liễu hắn.” Miêu, Du tâu lên, Hoàng đế không trả lời.

Một lát sau, Hoàng đế cùng Hoàng hậu ngồi, Du lại tâu, Hoàng hậu nói: “Bệ hạ nhớ đến Chương Ý Hoàng hậu, nên Vĩ mới được làm phò mã. Nay sao lại muốn làm thế!” Đô tri Nhậm Thủ Trung đứng bên nói: “Hoàng hậu nói phải.” Kế hoạch của Vụ Tư không thực hiện được, sau đó có lệnh này.

(Việc này căn cứ theo 《Tư Mã thị ký văn》 và tấu nghị. Hoài Cát trước phối đến Tây Kinh làm việc quét dọn, vào ngày Canh Thân tháng 10 năm thứ 5. Việc triệu hồi không rõ thời gian.)

[8] Quyền Thiểm Tây chuyển vận phó sứ Tiết Hướng tâu: “Quân đội Thiểm Tây gồm quân Sương và quân Cấm tổng cộng hai mươi lăm vạn người. Trong đó, số lính già yếu, bệnh tật và thợ kỹ thuật chiếm quá nửa. Xin hạ lệnh cho các lộ, xét bỏ những người không đủ sức đi đánh trận, còn ai dám chiếm dụng thợ kỹ thuật thì xử theo pháp luật.” Triều đình đồng ý.

[9] Học sĩ viện tâu: “Khi bề tôi dâng biểu và trát tử trình bày việc xin, chỉ có Tể thần, Thân vương và Xu mật sứ mới được ban thủ chiếu, thủ thư. Từ chức Tham tri chính sự, Xu mật phó sứ trở xuống thì không có thể lệ này. Tháng ba năm ngoái, do Xu mật phó sứ Trần Húc xin về quận, trong phê lệnh ban thủ chiếu không cho phép. Đương trực học sĩ Hồ Túc tâu luận, cho rằng thủ chiếu là thể thức quan trọng, xin theo lệ cũ, nhưng không được chấp thuận. Thần sợ rằng sẽ thành lệ, làm hỏng điển cũ. Xin từ nay trở đi, trừ Tể tướng, Thân vương và Xu mật sứ có việc trình bày, theo lệ có thể ban thủ chiếu, thủ thư, còn các bề tôi khác không ban thủ chiếu, thủ thư nữa, cho phép Học sĩ viện giữ lại và tâu lên.” Triều đình đồng ý.

(Việc này được thêm vào theo 《Hội yếu》. Việc Vua dùng thủ chiếu triệu Trần Húc, xem tháng tư năm ngoái ngày Canh Thìn.)

[10] Tháng ba, ngày Tân Hợi (án: Theo 《Tống sử bản kỷ》, ngày Tân Hợi thuộc tháng ba, bản này có lẽ bị thiếu sót, nay thêm vào), chiếu cho Lễ bộ tổ chức khoa cử.

[11] Ngày Nhâm Tý, công chúa Duyễn quốc bị giáng phong làm công chúa Nghi quốc, An châu quan sát sứ Lý Vĩ bị giáng làm Kiến châu quan sát sứ, bị tước chức Phụ mã đô uý.

Từ khi công chúa vào cung, anh của Vĩ là Lý Chương dâng sớ nói: “Vĩ ngu ngốc, không đủ để nhận ơn trời, xin ban cho việc ly hôn.” Vua định đồng ý, Tư Mã Quang lại tâu: “Bệ hạ ban đầu nhớ đến Thái hậu Chương Ý, nên mới cho Vĩ lấy công chúa, muốn củng cố mối quan hệ thân thích, khiến gia đình họ được vinh hiển. Nay mẹ con Vĩ ly tán, gia đình tan nát, lớn bé đều lo buồn, gần như không còn đường sống, đâu phải là ý ban đầu của bệ hạ! Gần đây vào ngày giỗ Thái hậu Chương Ý, bệ hạ xem lại những vật cũ trong rương, nhớ đến nơi ở ngày xưa, lẽ nào lại không cảm thấy buồn thương, xót xa sao! Vĩ đã bị trách phạt, công chúa cũng không thể vô tội.” Vua cảm động, bèn trách phạt cả công chúa, nhưng vẫn đối đãi ân lễ với họ Lý không suy giảm, lại ban cho Vĩ 200 lạng vàng, nói rằng: “Người ta giàu sang, cũng không nhất thiết phải làm rể hoàng gia.”

(Việc này cũng căn cứ theo ghi chép của Tư Mã Quang.)

[12] Ngày Quý Sửu, Đại tông chính ty tâu rằng Hữu vệ đại tướng quân[15], Nhạc châu đoàn luyện sứ Tông Thực xin trả lại cáo sắc của chức Thái châu phòng ngự sứ, Tri tông chính tự. Vua không cho.

[13] Ngày Ất Mão, Lễ bộ thị lang, Tham tri chính sự Tôn Biện được bổ làm Quan văn điện học sĩ kiêm Hàn lâm thị độc học sĩ, Đồng quần mục chế trí sứ.

Biện ở hai phủ, tuổi càng già, lười biếng không có ý kiến gì, lại hay quên, lời nói cử chỉ nhiều điều đáng cười, người thích chuyện đến mức truyền tụng làm chuyện đàm tiếu. Tính không quen cưỡi ngựa, có khi sợ hãi, dù ở đường lớn cũng xuống ngựa mà đi bộ.

Lúc đó, Xu mật sứ Trương Biện xin về hưu, triều đình bàn rằng Biện sẽ thay thế, nhưng chắc không đảm đương nổi. Điện trung thị ngự sử Hàn Chẩn nhân dịp vào chầu, hết lời nói Biện bất tài, tuy không có lỗi lớn, nhưng chỉ biết giữ mình hưởng lộc, thực là kẻ gian lớn, xin đưa về chức nhàn. Giám sát ngự sử lý hành Phó Nghiêu Dũ cũng nói: “Biện danh tiếng và thực tài đều kém, chỉ nhờ đỗ cao, lâu ngày ở chức thanh nhàn. Đã trải qua hai phủ, tích lũy nhiều năm, đương đầu với việc lớn, không giúp được gì. Lời nói lẩm cẩm, ngày càng lan truyền, làm trò cười cho dân chúng, khiến ngoại bang coi thường. Mỗi lần vào chầu, trăm quan đều nhìn, khiến bề tôi làm việc mệt nhọc thấy nản lòng. Nên cho nghỉ việc, để giảm bớt tham lam may mắn.”

Mấy ngày sau, các quan đại thần tan chầu, Hàn Kỳ, Tăng Công Lượng ở lại, Biện xuống điện nói với Âu Dương Tu: “Thừa tướng ở lại làm gì vậy?” Tu nói: “Chẳng phải là tâu việc ông sao?” Biện nói: “Biện có việc gì?” Tu nói: “Ngự sử Hàn nói ông, ông không biết sao?” Biện liền dậm chân vỗ tai nói: “Thật không biết!” Rồi xin nghỉ bệnh, Vua đồng ý.

[14] Xu mật phó sứ, Lễ bộ thị lang Triệu Khái làm Tham tri chính sự, Hàn lâm học sĩ, Hữu ty lang trung, Tri chế cáo, Quyền tri Khai Phong phủ Ngô Khuê làm Hữu gián nghị đại phu, Xu mật phó sứ.

[15] Ngày Bính Thìn, triệu Hữu chánh ngôn, Tri Thái Châu Vương Đào về Viện Gián làm việc. Đào nói: “Thần cùng Đường Giới, Phạm Sư Đạo, Lã Hối, Triệu Biện cùng ra làm quận, nay chỉ triệu thần và Sư Đạo, không đúng. Xin cho Giới và những người khác trở lại chức vụ.” Lúc đó, Sư Đạo cũng từ Phúc Châu được triệu làm Diêm thiết phó sứ, còn Hối, Biện và Giới đều chưa được thăng chức.

[16] Ngày Đinh Tỵ, ban chiếu cho Thẩm quan viện[16] tâu bổ nhiệm các quan viên triều đình ở kinh thành lần đầu tiên phải qua khảo xét, từ nay phải có một người tiến cử mới được nghe theo để thay đổi chức vụ.

[17] Ngày Canh Thân, Long Đồ các trực học sĩ, Tả ty lang trung kiêm Thị giảng Tiền Tượng Tiên được bổ làm Hữu gián nghị đại phu, tri châu Thái Châu.

Tượng Tiên giỏi giảng giải, lời nói ngắn gọn mà ý nghĩa rõ ràng. Khi Vua có hỏi điều gì, ông đều dựa vào kinh điển để trả lời, nhân đó khuyên răn việc chính sự, bàn đến thời vụ, có ích lợi khai sáng, được khen là người hiểu rõ kinh thuật. Ông ở lại kinh diên trước sau 15 năm, thường được hưởng ân lễ. Theo lệ cũ, các quan giảng thay phiên nhau giảng mỗi ngày. Tượng Tiên đã xin được bổ nhiệm ra ngoài, Vua nói: “Đại phu sắp đi, có thể giảng hết một lượt.”[17] Do đó, các quan cùng chức đều ngừng giảng trong 10 ngày.

[18] Hình bộ lang trung, Thiên Chương các Thị giảng, Sùng Văn viện Kiểm thảo Lữ Công Trước được bổ làm Thiên Chương các Đãi chế kiêm Thị giảng. Công Trước lúc đầu được triệu đến thi ở Trung thư, sắp được bổ làm Tri chế cáo, nhưng ông ba lần từ chối không nhận, nên có mệnh lệnh này.

[19] Ngày Tân Dậu, Tham tri chính sự Âu Dương Tu được cử làm người đứng đầu việc sao chép và hiệu đính sách vở ở Tam quán và Bí các.

[20] Ngày Nhâm Thân[18], châu Từ Châu tâu rằng ở hương Bạch Hạc, huyện Bành Thành có đất sinh ra bột, khoảng hơn 10 khoảnh, dân đều lấy ăn. Vua sai nội thị Đậu Thừa Tú đến xem. Chiêm nghiệm nói: “Đất sinh bột, dân sắp đói kém.” Sau đó, châu Hào cũng tâu rằng ở huyện Chung Ly có đất sinh bột, dân lấy ăn.

[21] Ngày Đinh Hợi, xét tháng 3 đã có ngày Tân Hợi, đây không nên có thêm ngày Đinh Hợi, chắc chắn có sai sót. Xây dựng điện Ngưng Cơ trong cung.

[22] Mùa hạ, tháng 4 (theo sử liệu, tháng 4 thiếu ghi ngày Can Chi, tra 《Tống sử》 thì ngày ban bố biên soạn sắc lệnh là ngày Nhâm Ngọ). Tể tướng Hàn Kỳ và các quan dâng lên bộ 《Gia Hựu Biên Sắc》 đã biên soạn, bắt đầu từ năm Khánh Lịch thứ 4 đến năm Gia Hựu thứ 3, gồm 12 quyển. Những sắc lệnh ban ra trước đây chỉ quy định về việc ràng buộc mà không đặt ra hình phạt, lại được tách ra làm phần phụ lục, tổng cộng 5 quyển. So với sắc lệnh thời Khánh Lịch, tội tử hình tăng thêm 6 điều, tội lưu đày giảm 50 điều, tội đồ tăng 61 điều, tội trượng tăng 73 điều, tội xuy tăng 38 điều, tội phối lưu tăng 30 điều, từ tội tử hình trở xuống phải tâu lên để xin chỉ dụ tăng 45 điều.

[23] Ngày Nhâm Thân (theo 《Tống sử》, tháng 5 bắt đầu từ ngày Đinh Mùi, ngày Nhâm Thân cách ngày Đinh Mùi 36 ngày, không thể thuộc tháng 4, chỗ này cũng sai). Đổi mệnh cho Khởi cư xá nhân, Tri chế cáo kiêm Thị giảng Tư Mã Quang làm Thiên Chương các Đãi chế. Trước đây, Tư Mã Quang và Lữ Công Trước cùng được triệu đến thi ở Trung thư, Quang đã thi còn Công Trước từ chối đến cùng. Khi được bổ nhiệm làm Tri chế cáo[19], Quang bèn tự nói: “Tôi vụng về về văn từ, vốn nên từ chối khi được triệu, ban đầu nghi rằng triều đình không cho phép, nên miễn cưỡng nhận mệnh. Sau nghe tin Công Trước từ chối được chấp thuận, tôi mới hối hận vì trước đây không từ chối[20], mà lại ngờ vực rằng triều đình quyết không cho phép.” Dâng chín tờ tâu, cuối cùng được đổi sang chức khác.

[24] Ngày Kỷ Sửu, Hạ quốc chủ Lượng Tộ dâng biểu xin bản thảo thơ ngự chế của Thái Tông, bản khắc chữ lệ[21], muốn xây thư các để cất giữ, lại dâng 50 con ngựa, xin 《Cửu kinh》, 《Đường sử》, 《Sách phủ nguyên quy》 và nghi thức chúc mừng ngày chính chí của triều đình. Triều đình ban cho 《Cửu kinh》, trả lại ngựa. Lượng Tộ lại xin cầu hôn công chúa, chiếu đáp rằng trước đây đã từng ban họ, nên không cho phép.

[25] Tháng 5, ngày Đinh Mùi mùng một, sai Khởi cư xá nhân, Thiên Chương các đãi chế kiêm Thị giảng Tư Mã Quang vẫn coi việc ở Gián viện.

Quang dâng sớ nói:

“Thần là người tài hèn, lại được làm Gián quan, mang ơn bệ hạ ban cho bổng lộc hậu hĩ, giao phó trách nhiệm nặng nề, ngày đêm lo sợ, không dám yên lòng. Mỗi khi nghĩ đến việc dốc hết lòng trung để báo đáp muôn một, nhưng những việc vụn vặt đều không đáng làm phiền đến thánh thính.

Thần nghĩ rằng sự thịnh trị hay loạn lạc của quốc gia đều bắt nguồn từ lễ, còn phong tục tốt hay xấu đều do thói quen. Tiếng khóc của trẻ sơ sinh, dù ở đâu cũng giống nhau. Nhưng khi lớn lên, thì ngôn ngữ không thông, ăn uống khác nhau, có người đến chết cũng không thể hiểu nhau. Đó không phải do gì khác, mà là do thói quen khác nhau.

Đến như xưa nay cũng vậy. Nếu mặc y phục cổ ở thời nay, thì sẽ bị chê cười trong làng xóm; nếu mặc y phục nay ở thời cổ, thì sẽ bị quan lại trừng phạt. Y phục đâu có đúng sai gì? Chỉ là quen hay không quen mà thôi. Dân chúng ngày ngày thấy quen, lòng họ yên ổn, cho rằng việc thiên hạ đúng là phải như vậy, một khi bắt họ bỏ cái này theo cái kia, thì không ai không lo lắng nghi ngờ mà chịu nghe theo.

Xưa Tần bỏ chế độ tỉnh điền, dân oán hận; Vương Mãng khôi phục tỉnh điền, dân cũng oán hận. Triệu Vũ Linh Vương thay đổi phong tục Hoa, bắt chước y phục Hồ, bề tôi không vui[22]; Hậu Ngụy Hiếu Văn Đế thay đổi y phục Hồ, bắt chước phong tục Hoa, bề tôi cũng không vui. Xem đó thì biết, tình thế tục là quen cái đã quen, sợ cái chưa thấy, vốn là lẽ thường.

Vì thế, trên làm dưới bắt chước gọi là phong, thấm nhuần dần dần gọi là hóa, đắm chìm buông thả gọi là lưu, lòng dân yên ổn gọi là tục. Đến khi phong hóa đã mất, lưu tục đã thành, thì dù có người biện luận thông minh cũng không thể thuyết phục, người cương nghị cũng không thể ngăn cản, ban thưởng hậu cũng không thể khuyến khích, hình phạt nghiêm cũng không thể ngăn chặn, nếu không phải bậc thánh nhân lên ngôi trị vì, tích lũy công lao trăm năm, thì không thể thay đổi được.

《Chu Dịch》quẻ Lí có tượng nói: “Quân tử dùng để phân biệt trên dưới, định chí dân.” Vì vậy, mệnh lệnh của thiên tử tất phải được thi hành đến thứ dân, khiến cho thế lực trong thiên hạ như thân thể điều khiển cánh tay, cánh tay điều khiển ngón tay, không ai không tuân theo. Kinh Thi nói: “Vua ta siêng năng, giữ vững kỷ cương bốn phương.” Đó là gốc của lễ vậy.

Xưa các Vua ba đời đều dùng lễ để giáo hóa dân, nên con cháu hưởng phúc trời hàng trăm năm. Đến khi suy yếu, dù có nước Tấn, Sở, Tề, Tần hùng mạnh, cũng không dám khinh nhờn vương thất, há phải vì sức lực không đủ sao? Là vì biết thiên hạ không còn thuộc về mình nữa. Vì thế, họ ủng hộ mệnh Vua để uy hiếp và thu phục chư hầu, khiến chư hầu không ai dám không tuân theo. Lý do là vì phong tục của tiên vương vẫn còn lưu lại trong dân chúng. Về sau ngày càng suy yếu, dưới lấn trên, trên đổi dưới.

Đời Tấn Bình Công, Lỗ Tử Phục Hồi đi Tấn, về nói với Quý Tôn Ý Như rằng: “Công thất nước Tấn sắp suy yếu rồi. Sáu khanh mạnh mà kiêu ngạo, sẽ nhân đó mà tập quen. Tập quen thành thói thường, há không suy yếu sao!” Về sau, họ Triệu, Ngụy, Hàn cuối cùng chia cắt nước Tấn, là do tập quen về sự phân biệt quân thần không rõ ràng vậy.

Đến thời nhà Hán, tuy không thể như các Vua thịnh thời ba đời, nhưng vẫn tôn quân hạ thần, coi trọng danh tiết, dùng nghĩa để chọn người tài, dùng Nho thuật để giáo hóa dân. Vì thế, khi loạn Vương Mãng, dân chúng nhớ nhà Lưu mà cuối cùng khôi phục lại. Xích Mi tuy là bọn cướp, vẫn lập người tông thất để thuận lòng dân; Vương Lang giả mạo danh nghĩa, mà Yên, Triệu hưởng ứng. Loạn Đổng Trác, Viên Thiệu lấy danh nghĩa diệt Trác, các châu quận tụ họp như mây. Tào Tháo nắm Hiến Đế để sai khiến chư hầu, thiên hạ không ai địch nổi. Lòng Tào Tháo há chẳng muốn phế Hán tự lập sao! Nhưng đến chết không dám làm, là vì sợ người trong thiên hạ oán ghét vậy.

Từ thời Ngụy, Tấn trở về sau, các bậc Vua chúa bắt đầu coi trọng người có tài năng toàn diện mà coi thường người giữ gìn tiết tháo, bề tôi bắt đầu chuộng sự phù hoa mà xem nhẹ Nho thuật, lấy lễ nghi của tiên vương làm đồ bỏ đi mà không thi hành, lấy kẻ sĩ thuần thành làm thô lỗ mà không dùng. Do đó, phong tục ngày càng suy đồi, rơi vào cảnh trộm cắp, phản bội Vua không coi là điều đáng xấu hổ, phạm thượng không coi là điều sai trái, chỉ biết theo đuổi lợi ích, không quan tâm đến danh tiết.

Đến khi nhà Đường suy yếu, kẻ dưới trướng có kẻ giết chết và đuổi tướng soái, triều đình không thể trừng trị, lại nhân đó mà vỗ về, đề bạt từ hàng ngũ lính tráng, trao cho quyền bính. Ban đầu, chỉ là để tạm thời yên ổn, nhưng lâu dần, dân chúng quen với những điều tai nghe mắt thấy, cho rằng đó là lẽ thường tình, không coi là trái lễ, không coi là vô nghĩa. Vì thế, kẻ ở trên thì lo sợ kẻ dưới, kẻ ở dưới thì rình rập kẻ trên. Khi bình thường thì dùng rượu thịt, vàng lụa, lời ngon ngọt, thân thể cúi lạy để làm vui lòng nhau; khi có cơ hội thì dùng gươm sắc, mưu kế xảo quyệt để giết hại lẫn nhau. Kẻ thành công được coi là hiền, kẻ thất bại bị coi là ngu, không còn bàn đến thứ bậc tôn ti, đúng sai.

Đến thời Ngũ Đại, thiên hạ hỗn loạn, không còn biết lễ nghĩa là gì. Vì thế, vận nước không dài, xa thì hơn mười năm, gần thì bốn năm năm[23], liên tiếp thất bại và diệt vong, dân chúng lầm than.

Đến khi nhà Đại Tông thụ mệnh, Thái Tổ và Thái Tông biết rằng tai họa của thiên hạ sinh ra từ sự vô lễ, nên dùng thần vũ thông minh, tự mình chăm chỉ xử lý vạn việc, việc chinh phạt, hình phạt, ban thưởng đều do ý chí của bậc thánh quyết định. Từ đó, uy thế của nhà Vua được tăng cường, quần thần đều kính sợ và phục tùng.

Sau đó, cắt giảm quyền lực của các phiên trấn, áp dụng pháp luật nghiêm minh, chọn các quan văn làm phụ tá, tước đoạt quyền sinh sát, nắm giữ tài sản vàng bạc; tuyển chọn những binh sĩ tinh nhuệ dưới quyền, tập trung ở kinh đô để làm nhiệm vụ túc vệ, kiểm soát tâm phúc, loại bỏ nanh vuốt, khiến họ không thể ngang ngược. Từ đó, phân biệt rõ ràng giữa thiên tử và chư hầu, ngăn chặn nguồn gốc của sự phản loạn. Quyền lực của Tiết độ sứ được chuyển về các châu, quyền lực của Trấn tướng được chuyển về các huyện.

Lại chia thiên hạ thành hơn mười lộ, mỗi lộ đặt một Chuyển vận sứ để giám sát việc tốt xấu của trăm quan ở châu huyện, khôi phục chức vụ Bộ thứ sử thời Hán, khiến mệnh lệnh của triều đình nhất định được thi hành qua Chuyển vận sứ, mệnh lệnh của Chuyển vận sứ nhất định được thi hành ở châu, mệnh lệnh của châu nhất định được thi hành ở huyện, mệnh lệnh của huyện nhất định được thi hành với quan lại và dân chúng. Từ đó, trật tự trên dưới được chỉnh đốn[24], kỷ cương được thiết lập.

Sau đó, ban bố quân pháp rõ ràng, từ chức Áp quan trở lên, mỗi người đều có cấp bậc để kiểm soát lẫn nhau, chỉ cần vi phạm nhỏ cũng đều bị xử tử. Từ đó, kỷ luật quân đội nghiêm minh, binh sĩ tuân lệnh. Đây đều là những quy tắc lớn của lễ, nên có thể bốn phương chinh phạt, không ai không phục tùng, quét sạch chín châu, theo dấu chân của Vua Vũ.

Đến thời Chân Tông, lại thêm đức sáng, kế thừa chí hướng của hai bậc thánh, ngày đêm chăm chỉ, tuyên dương giáo hóa tốt đẹp, tiêu trừ phong tục xấu, đến nay đã trị bình trăm năm, dân ngoan cố tiêu diệt, lòng người đều yên ổn. Đây là sự nghiệp khó thành hiếm có qua nhiều đời, bệ hạ nên run sợ, giữ gìn mà không để mất.

Thần trộm thấy bệ hạ có sự nghiêm cung như Trung Tông, sự cẩn thận như Văn Vương, nhưng việc chính sự lớn nhỏ phần nhiều nhường nhịn không quyết đoán, giao phó cho bề tôi. Nếu người được giao phó thường là người trung hiền thì còn được, nhưng nếu chẳng may có kẻ gian tà xen vào, há chẳng phải rất nguy hiểm sao! Người xưa nói việc giao phó trách nhiệm và yêu cầu thành công là chọn người rồi trao chức vụ, còn những việc vụn vặt thì không tự mình làm. Đến như việc phế bỏ hay ban tước lộc, quyết định sinh sát, ban cho hay tước đoạt, nếu không do mình quyết định thì không được. 《Hồng Phạm》 nói: “Chỉ có Vua mới có quyền uy, chỉ có Vua mới ban phúc. Nếu bề tôi có quyền uy và ban phúc, sẽ hại đến nhà Vua, nguy đến quốc gia.” Quyền uy và ban phúc nếu để mất vào tay người khác, rồi thành thói quen, thì không thể thu hồi lại được. Đó là điều mà bậc minh chủ phải thận trọng.

Lại nữa, gần đây vì việc dùng binh ở biên giới phía tây, tạm đặt chức Kinh lược An phủ sứ, binh lính một lộ được tùy nghi hành sự. Đến khi việc phía tây đã yên, vẫn không bãi bỏ chức này, như ở lộ Hà Đông[25], tổng cộng 22 châu, quân, quyền hạn của Tiết độ sứ trước đây không thể so sánh được. Nhà Đường lúc đầu đặt tám Tiết độ sứ ở biên giới, cũng chỉ như vậy, vì quyền hạn quá lớn, nên đời sau mới có những bề tôi lộng quyền. 《Lạc Cáo》 nói: “Đừng để lửa mới cháy lan rộng, nếu để nó thiêu đốt, sẽ không thể dập tắt được.” Ý nói phải thận trọng ngay từ những việc nhỏ.

Lại nữa, các tướng tương đại thần cai quản các châu, phần nhiều tự cho mình là quý hiển, Chuyển vận sứ muốn thực hiện chức trách, thường bị cố tình chống đối mà không chịu tuân theo. Khi tướng tương đại thần ở triều đình, thì danh vị của Chuyển vận sứ vốn đã cách xa. Nhưng khi ra ngoài làm Tri châu, thì Chuyển vận sứ là người thống lĩnh chức vụ các châu, sao có thể vì thân phận quý hiển của một người mà bao che việc một châu, khiến Chuyển vận sứ không thể hỏi đến được! Thời Hán, Thứ sử là quan 600 thạch lại giám sát quan 2000 thạch, há phải vì danh vị quý tiện sao!

Lại từ niên hiệu Cảnh Hữu trở lại đây, triều đình lơ là vì thời gian dài được yên ổn, thích làm theo lối cũ và cốt sao cho đỡ phiền phức, các quan chấp chính thi hành chính sách khoan dung quá mức. Do đó, bọn lại dịch ồn ào mà đuổi việc Ngự sử trung thừa, bọn quan hầu cận đánh xe ngỗ ngược mà bãi chức tể tướng. Bọn vệ sĩ hung hãn phản nghịch, việc xét xử không truy cứu hết tội ác, lại còn ban ơn cho chúng nhiều hơn trước. Quân lính chửi mắng Tam ty sứ, mà quan tòa cho rằng không phạm vào kỷ cấp, nghi ngờ về việc áp dụng pháp luật, triều đình tuy đặc biệt xử tử người đó, nhưng lại thu nhận nuôi dưỡng những tên lính đã bị cách chức. Còn những việc khác như có kẻ tung tin đồn nhảm ngoài đường, mà triều đình vì thế thay đổi mệnh lệnh, ban ơn thì nhiều lắm.

Những việc như thế đều không phải là cách rèn luyện dân chúng theo đúng trật tự trên dưới. Triều đình là khuôn mẫu cho bốn phương. Chính sách của triều đình như thế, thì bốn phương tất nhiên còn tệ hơn nữa. Do đó, nguyên soái sợ thiên tướng, thiên tướng sợ tướng hiệu, tướng hiệu sợ quân lính. Bọn gian thần hèn nhát, đến mức giảm bớt việc huấn luyện, khiến quân lính trở nên kiêu căng lười biếng; bao che cho bọn già yếu, khiến quân ngũ trở nên cồng kềnh; bẻ cong phép tắc, khiến quân lính buông thả; chê bai lương thực vải vóc, khiến quân lính oán hận; dùng lời ngon ngọt nịnh hót, không việc gì không làm. Do đó, quân lính đồng loạt khen ngợi chúng, mà oán hận triều đình. Chúng đã làm thế, thì người khác bắt chước; dưới đã nói thế, thì trên nghe theo; trước đã làm thế, thì sau noi theo. Nếu chúng làm mà người khác không bắt chước, dưới nói mà trên không nghe, trước làm mà sau không noi theo, thì oán giận sẽ dồn vào thân chúng, mà họa loạn sẽ nảy sinh. Cứ kéo dài mãi như thế, ngày càng thêm nhiều, tai mắt dân chúng quen đi mà thấy là bình thường, như thế khác gì thời mạt Đường?

Thời Bắc Ngụy Hiếu Minh đế, Trương Di con là Trọng Vũ dâng sớ, muốn hạn chế bọn võ tướng, không cho dự vào hàng thanh liêm, bọn Vũ lâm, Hổ bôn hơn nghìn người đốt nhà Trương Di, giết cha con Trương Di, triều đình bắt giết tám tên hung ác nhất, còn lại đều tha tội để yên lòng dân. Cao Hoan người trấn Hoài Sóc, lúc ấy đang đi sứ đến Lạc Dương, thấy việc ấy, về nhà liền bán hết gia tài để kết giao với khách, nói rằng: “Triều chính như thế, việc đời đã rõ rồi.” Từ đó nảy sinh chí lớn.

Xem như thế thì biết, kỷ cương không được thiết lập, thì bọn gian hùng sẽ nảy sinh ý đồ. Tổ tiên khổ công lo lắng, để thay đổi tục xấu thời Đường suy, mà bệ hạ ngồi yên nhìn, để hình thành phong khí thời Bắc Ngụy, đó là điều khiến thần đau lòng vì bệ hạ.

Thần ngu muội cho rằng Bệ hạ nên phấn chấn chí khí cương kiện, tuyên dương đức sáng của thần linh. Phàm các việc tấu trình của quần thần, đều phải xem xét sự tà chính, phân biệt tốt xấu, hỏi kỹ suy nghĩ sâu, tìm cách hợp với đạo lý, sau đó mới thưởng phạt, thăng giáng, quyết đoán rồi thi hành. Như vậy, thiên hạ ai chẳng vui mừng!

Kinh Thi nói: “Quân tử mà nổi giận, loạn lạc sẽ chóng ngừng; quân tử mà ban phúc, loạn lạc sẽ chóng dứt.” Đó là nói việc không phân biệt tốt xấu sẽ gây họa lớn. Chức Kinh lược an phủ sứ, khi có việc chinh phạt thì đặt ra, không có việc thì nên bãi bỏ. Nếu chưa thể bãi bỏ, thì khi quân sự cấp bách, không kịp tấu trình, có thể để họ tự quyết. Các việc dân sự còn lại, đều giao cho châu huyện, xử lý theo pháp luật. Nếu pháp luật nặng mà tình cảm nhẹ, hoặc tình cảm nặng mà pháp luật nhẹ, có thể giết, có thể đày, có thể tha, có thể xá, đều do châu đó tấu trình, triều đình quyết định, sao cần phải qua Kinh lược an phủ sứ?

Chức Chuyển vận sứ quy hoạch hiệu lệnh, ban hành xuống các châu, nếu có châu nào vi phạm không tuân theo, triều đình nên phân biệt đúng sai. Nếu việc thực sự có thể thi hành, mà tướng châu cậy thế quyền cố tình vi phạm, thì nên trị tội tướng châu, đừng trị tội Chuyển vận sứ.

Đối với tướng hiệu, sĩ tốt ở châu huyện và các quan cai quản hoặc công khanh đại thần, nếu có kẻ ngạo mạn vô lễ, nên quy định rõ phép tắc cấp bậc[26], để người xử đoán không nghi ngờ. Các quan tướng súy, nếu phế bỏ pháp luật, trái đạo lý để lấy lòng cấp dưới, đổ oán lên cấp trên, thì tùy mức độ nặng nhẹ mà xử tử, đày ải, cách chức. Những người công chính vô tư, quản lý nghiêm chỉnh, nên xét tài năng mà thăng chức, ban thưởng. Như vậy thì cấp trên khó lay động mà cấp dưới tuân lệnh. Cấp trên khó lay động, cấp dưới tuân lệnh, đó là cách tôn trọng triều đình.

Trên dưới đã rõ, kỷ cương đã định, sau đó tu dưỡng Nho thuật, đề cao giáo hóa, tiến cử người trung hậu, loại bỏ kẻ phù hoa, khiến lễ nghĩa hưng thịnh, phong tục thuần mỹ, thì quốc gia sẽ có phúc lành vạn đời, như dựa vào núi Nam, ngồi trên đồng bằng.”

Lại dâng sớ bàn về tài lợi rằng:

“Các bậc vương giả thời xưa, của cải đều cất giữ trong dân. Khi không thể làm được như vậy, mới cất giữ vào kho lẫm, phủ khố. Vì thế, trên không đủ thì lấy từ dưới, dưới không đủ thì nhờ cậy từ trên, đó là cách để trên dưới cùng bảo vệ lẫn nhau. Nay dân đã khốn khổ, mà kho lẫm, phủ khố lại trống rỗng. Nếu bệ hạ không thực sự lo lắng và sớm tìm cách giải quyết, thần e rằng mối lo của quốc gia trong tương lai không nằm ở đâu khác, mà chính là ở sự kiệt quệ tài lực mà thôi.

Hiện nay, triều đình không theo gốc rễ mà chỉ cứu vớt ngọn ngành[27], đặt ra các chức quan lo việc khoan dung, thương xót sức dân[28], sai phái sứ giả đi khắp nơi, tranh nhau đề xuất những biện pháp tiện lợi, thay đổi chế độ cũ. Những việc nhỏ nhặt như gạo muối, đều không phải là việc triều đình nên can thiệp, nhưng lại đặt ra nhiều điều khoản, không thể kể hết. Có những việc không như cũ, càng gây hại cho dân; có những việc thay đổi liên tục, đảo lộn trái phải. Trong đó, những gì thực sự có lợi cho dân, chẳng qua chỉ là phân phát tài sản của quan lại cho dân mà thôi. Đó tuy là việc giảm bớt của cải trên để giúp dân dưới, là chính sách nhân từ của bậc vương giả, nhưng thần nghe rằng các bậc thánh vương thời xưa, nuôi dưỡng dân có đạo, sử dụng của cải có chừng mực, trên có dư thừa rồi mới ban cho dân, vì thế trên dưới đều đủ đầy, và tiếng ca ngợi vang lên.

Nay của cải thu vào ngày càng ít, chi tiêu ngày càng nhiều, đó chính là bịt nguồn mà mở rộng dòng chảy, sự kiệt quệ có thể thấy trước được. Nhà nước đã kiệt quệ, nếu không lấy từ dân, thì lấy từ đâu? Đó chỉ là cái danh lợi dân, mà không có thực chất lợi dân, rốt cuộc có ích gì! Khoan dung, thương xót sức dân, nằm ở việc chọn người, chứ không phải ở việc đặt ra luật pháp.

Nếu quan lại địa phương là người tài, thì dù không muốn khoan dung, cũng không thể được. Quan lại không phải là người tài, mà chỉ đặt ra luật pháp hà khắc, chỉ càng làm phiền nhiễu dân mà thôi. Từ khi đặt ra chức quan này đến nay, đã nhiều năm, thần hỏi thăm trong dân gian, chưa thấy tình hình khốn khổ của dân được cải thiện chút nào so với trước. Vậy thì phương sách hiện nay là gì? Đó là: tùy tài mà dùng người và giữ chức lâu dài, nuôi dưỡng gốc rễ và từ từ thu lấy, giảm bớt những thứ phù phiếm và tiết kiệm chi tiêu.

Thế nào là dùng người tùy theo tài năng và giữ lâu ở chức vụ? Tài năng và tính cách của mỗi người đều có chỗ thích hợp, dù là tài năng như Chu Công, Khổng Tử cũng không thể làm hết mọi việc của người khác, huống chi là người tầm thường! Vì vậy, nên dựa vào sở trường của họ mà sử dụng.

Hiện nay, triều đình dùng người thì không như vậy, chỉ xem xuất thân và thứ bậc của họ ra sao, chứ không hỏi xem tài năng của họ có đáp ứng được không. Vì thế, ở hai cấm đình, thì muốn họ trở thành Nghiêm Trợ, Tư Mã Tương Như; khi làm tướng soái, thì muốn họ trở thành Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh; quản lý châu quận[29], thì muốn họ trở thành Cung Toại, Hoàng Bá; làm quan ở kinh đô, thì muốn họ trở thành Trương Xưởng, Triệu Quảng Hán; quản lý tài chính, thì muốn họ trở thành Khổng Cận, Tang Hoành Dương, nhưng trên đời làm gì có người như vậy!

Vì thế, lý do khiến tài chính thiếu hụt[30], là do triều đình không chọn người am hiểu tiền tệ, lương thực để đảm nhiệm. Lúc đầu, chức Tam ty sứ có khi do các tướng quân vệ, các ty sứ đảm nhiệm, còn chức phán quan thì các quan trong triều am hiểu tiền tệ, lương thực đều có thể đảm nhiệm, không nhất thiết phải dùng người giỏi văn chương. Triều trước dùng người theo nhiều hướng, người giỏi văn chương thì bố trí vào quán các, người am hiểu tiền tệ, lương thực thì làm phán quan Tam ty, người am hiểu hình ngục thì làm suy quan, phán quan ở Khai Phong phủ, ba loại người này chức nghiệp khác nhau, hướng đi khác nhau, không liên quan gì đến nhau.

Sau đó, nhà Vua thỉnh thoảng triệu kiến, hỏi han để xem xét, sai khiến để thử thách, lâu ngày để quan sát, xét xem thật giả, phân biệt tốt xấu, đánh giá công hiệu, rồi mới thăng chức hay giáng chức. Không nhất thiết người nào đã từng giữ chức vụ đều phải được thăng tiến, không thể bị giáng chức. Vì thế, quần thần đều phát huy được tài năng, và mọi việc đều được thực hiện. Làm quan lâu ở một chức vụ thì mới hiểu rõ, làm việc lâu thì mới thành công. Vì vậy, thời xưa, chức quan được cha truyền con nối, lấy đó làm họ tên.

Triều trước, Trần Thứ giữ chức Tam ty sứ hơn mười năm, đến nay vẫn được coi là người giỏi quản lý tài chính, đứng đầu là Trần Thứ. Chẳng lẽ tài trí của Trần Thứ khác người sao[31]? Chỉ là vì ông được làm lâu ở chức vụ đó mà thôi. Còn như phó sứ, phán quan, người nào đủ năng lực, cũng không thay đổi nhiều. Vì thế, tiên đế nhiều lần tổ chức đại lễ, đông phong tây tự, xây dựng nhiều cung điện, mà tài chính vẫn dư dả, là do dùng người chuyên và giữ lâu ở chức vụ.

Gần đây, chức Tam ty sứ, phó sứ, phán quan, phần lớn dùng người giỏi văn chương, coi đó là con đường thăng tiến, không hỏi xem họ có am hiểu tiền tệ, lương thực hay không. Những người giỏi văn chương, có người am hiểu tiền tệ, lương thực, nhưng không chuyên. Vì thế, có người coi sổ sách là phiền phức mà không xem, coi tiền tệ, lương thực là thô tục mà không hỏi. Hơn nữa, người làm quan thay đổi chức vụ như khách trọ, có khi chưa kịp nhớ mặt lại viên, biết rõ công việc mình phụ trách, đã rời đi rồi.

Thần trước đây làm phán quan ở Độ chi câu viện mới ba năm[32], từ Tam ty sứ trở xuống đến kiểm pháp quan, đều thay đổi hết, thậm chí có chức vụ thay đổi đến mấy người. Dù có người cần mẫn, ngày đêm hết lòng làm việc, hiểu rõ tình hình, xây dựng được cương kỷ, thì cũng bỏ đi. Người đến sau ý kiến khác nhau, thì những việc làm trước đây đều bị bỏ dở. Huống chi những kẻ lười biếng, làm việc qua loa, chỉ nghĩ đến lợi ích cá nhân, không lo cho việc chung! Như thế mà mong kho thóc đầy ắp, kho tiền chất đống, thần không biết có được không[33].

Phàm các quan chức trong các cơ quan đều mong muốn được giữ chức vụ lâu dài, nhất là những người phụ trách về lương thực và tài chính. Tại sao vậy? Vì phải mất hai mươi bảy năm canh tác mới có đủ lương thực cho chín năm. Nay những người đang giữ chức không đầy ba năm, làm sao có được hiệu quả như hai mươi bảy năm?

Thần nghĩ rằng triều đình nên chọn lựa kỹ càng những quan chức trong triều am hiểu về tiền tệ và lương thực, không cần biết họ được tiến cử bằng cách nào, dù là tiến sĩ, các khoa thi khác, hay nhờ ơn cha ông, trước hết hãy để họ xử lý những việc nhỏ về tiền tệ và lương thực. Nếu có công lao thì cho họ quyền tạm thời làm phán quan của Tam ty. Sau ba năm xem xét, nếu thực sự có hiệu quả rõ rệt thì mới cho quyền chính thức làm phán quan của Tam ty. Lại sau ba năm nữa, nếu tiếp tục có hiệu quả thì mới được làm chính thức phán quan của Tam ty. Những người không có hiệu quả thì đều phải trở về chức vụ thường, không được tiếp tục sử dụng.

Các chuyển vận sứ ở các lộ cũng không nên để họ đè nén lẫn nhau, mà nên để họ giữ chức lâu dài. Những người có hiệu quả thì có thể từ quyền chính thức lên làm chuyển vận sứ, từ chuyển vận phó sứ lên làm chuyển vận sứ. Những người không có hiệu quả cũng phải trở về chức vụ thường, không được tiếp tục sử dụng. Mỗi khi có chức phó sứ của Tam ty khuyết, thì chọn những phán quan của Tam ty và các chuyển vận sứ ở các lộ có công hiệu nổi bật để bổ nhiệm. Khi chức sứ của Tam ty khuyết, cũng chọn từ các phó sứ để bổ nhiệm.

Những người giữ chức sứ của Tam ty lâu dài, có thể làm cho ngân sách dồi dào, công tư đều giàu có, thì tăng bậc lương, cho ngang hàng với hai phủ, nhưng không thay đổi chức vụ. Như vậy thì sau này việc thịnh suy của tài chính sẽ không rời khỏi tay họ, không thể đổ lỗi cho người khác, ắt sẽ cố gắng xây dựng quy chế lâu dài. Còn những người giỏi văn chương thì đã có con đường riêng, không cần bắt họ làm quan về tiền tệ và lương thực để coi thường họ.

Thế nào là nuôi dưỡng gốc rễ mà từ từ thu lấy? Người giỏi quản lý tài chính là nuôi dưỡng nguồn gốc của nó, rồi thu lấy phần dư thừa, nên sử dụng không bao giờ cạn kiệt, mà trên dưới đều đủ đầy[34]. Người không giỏi quản lý tài chính thì ngược lại. Nông dân, thợ thủ công, thương nhân là nguồn gốc của tài chính. Nông dân ra sức làm việc, thì ruộng tốt thu hoạch nhiều và lúa thừa. Thợ thủ công tinh xảo, thì đồ dùng bền chắc và có dư. Thương nhân lưu thông hàng hóa, thì trao đổi có không và hàng hóa dư thừa. Họ có dư mà ta thu lấy, dù nhiều cũng không hại.

Nay những quan chức tự cho là giỏi quản lý tài chính, thần thấy họ là những kẻ làm dân đói rét mà tích trữ của cải, quét đất để mua chức tước mà không nghĩ đến hậu thế, nhặt nhạnh vụn vặt mà đánh mất núi đồi, tiết kiệm một đồng mà phí phạm vạn vàng, không cầm gươm mà làm cướp, dùng mưu mẹo sổ sách để lừa dối Vua trên. Nếu bảo rằng nuôi dưỡng nguồn gốc và thu lấy phần dư thừa, thì người nghe sẽ cười nhạo. Khiến người làm ruộng được giàu có vui vẻ, còn kẻ lười biếng phải chịu khổ cực, thì nông dân sẽ ra sức làm việc. Đồ dùng bền chắc tiện lợi được lợi, còn đồ giả dối xa xỉ không bán được[35], thì thợ thủ công sẽ tinh xảo.

Lợi ích của nhà nước, bỏ cái nhỏ mà lấy cái lớn, phân tán gần mà thu lấy xa, thì thương nhân sẽ lưu thông. Nông dân, thợ thủ công, thương nhân đều vui vẻ với nghề nghiệp và yên ổn với sự giàu có, thì nhà nước còn gì mà không đạt được?

Nông nghiệp là việc quan trọng bậc nhất trong thiên hạ, được người xưa coi trọng nhưng người nay lại xem nhẹ[36]. Không chỉ xem nhẹ, mà còn khiến họ chịu khổ cực hơn ai hết! Tại sao lại nói vậy?

Người nông dân vất vả thân thể, lao lực, mặc vải thô, ăn gạo xấu, trăm thứ thuế má của quan phủ đều đổ lên họ, trăm thứ dịch vụ cũng đều quy về họ. Năm được mùa thì giá lúa rẻ, họ phải bán lúa để đáp ứng yêu cầu của quan và tư nhân; năm mất mùa thì họ phải lưu lạc, đói rét, chết trước mọi người, lấp đầy khe suối. Như thế mà mong người sống nhờ vào nghề khác chuyển sang làm ruộng thì thật khó! Họ chỉ biết sống mà không biết niềm vui nơi chợ búa, nếu có biết thì sẽ bỏ đi mà không quay lại. Vì thế, xét dân trong thiên hạ hiện nay, người làm nông không quá hai ba phần, còn người sống nhờ vào nghề khác thường chiếm bảy tám phần. Muốn kho đụn đầy đủ, làm sao được?

Thần ngu nghĩ rằng, ngoài thuế má, người nông dân không nên phải gánh thêm gì nữa, việc nha tiền nên mướn người làm, dùng ưu đãi để bù đắp, nếu không đủ thì dùng hộ giàu ở phường quách. Người ở phường quách, việc vận chuyển hàng hóa, quản lý kho tàng, chỉ tốn hai ba phần, còn người nông dân thường tốn tám chín phần. Tại sao vậy? Vì tính khôn vặt và ngốc nghếch khác nhau. Còn những việc nhẹ nhàng khác thì giao cho nông dân. Năm được mùa, quan phủ nên mua lúa với giá bình ổn để lúa có nơi tiêu thụ; năm mất mùa thì trước hết căn cứ vào sổ sách để cứu tế nông dân, sau đó mới đến người sống nhờ vào nghề khác. Dân nào tự cày cấy, tích trữ được nhiều lúa[37], không tính vào tài sản gia đình. Như thế thì lúa sẽ quý và nông dân sẽ được khuyến khích.

Còn thợ thuyền thì lấy thời thế làm lòng. Thời thế quý đồ dùng mà rẻ đồ giả dối, thì thợ thuyền sẽ thay đổi theo. Thời thế thì lấy người trên làm lòng. Người trên thích giản dị mà ghét xa xỉ, thì thời thế sẽ thay đổi theo. Thợ thuyền làm việc cho quan phủ cũng nên chọn người giám sát, lấy tinh xảo làm đầu, hoa mỹ làm thứ yếu, khắc tên thợ lên vật phẩm, xét kỹ tốt xấu mà thưởng phạt, lấy chất lượng chứ không lấy số lượng, thì đồ dùng sẽ không gì là không tinh xảo[38].

Còn thương nhân thì chỉ chú trọng lợi nhuận mà thôi. Nay quan huyện thường dùng biện pháp nhất thời, thay đổi pháp lệnh, bỏ chữ tín mà cướp đoạt, họ không có lợi thì bỏ nghề mà theo nghề khác, quan huyện sao ngăn được! Vì thế, trà muối bị bỏ phế, thuế má hao hụt, đều do nguyên nhân này. Như thế thì quan huyện làm sao có lợi được! Người giỏi quản lý tài chính thì không như vậy, muốn lấy thì trước hết phải cho, muốn thu thì trước hết phải chi, vì thế nói rằng tính toán thì không đủ, nhưng tính cả năm thì dư.

Đây là điều mà Bạch Quỷ, Y Đốn đều biết, lẽ nào quốc gia chọn người hiền tài để quản lý tài chính, mà trí tuệ lại không bằng Bạch Quỷ, Y Đốn sao? Chỉ tại quốc gia dùng người không lâu, chỉ trách nhiệm gần mà bỏ mưu kế xa vậy.

Người đốn củi, chặt cành nhánh, nuôi dưỡng gốc rễ, thì củi sẽ không bao giờ hết. Nếu đốn cả gốc rễ, thì há chẳng được nhiều củi sao? Nhưng sau này sẽ không còn gì để đốn nữa. Đạo lý này không khó hiểu. Thế nhưng, các quan lại không làm như vậy, vì trong lòng họ nghĩ: “Ta làm quan chẳng bao lâu sẽ được thăng chức, nếu không lập công trước mắt để tự tỏ rõ, lại cứ tích trữ của cải để lại cho người sau làm công, thì ta có lợi gì?” Đây không chỉ là lỗi của các quan lại, mà cũng là do pháp luật dùng người của triều đình khiến họ phải làm như vậy.

Thế nào là giảm bớt sự phù phiếm và tiết kiệm chi tiêu? Khi Thái Tổ của ta mới giành được thiên hạ[39], chỉ có 111 châu mà thôi, những vùng đất giàu có như Giang Nam, Lưỡng Chiết, Tây Xuyên đều thuộc về nước khác, lại thừa hưởng từ thời loạn lạc Ngũ Đại, kho tàng trống rỗng, hào kiệt phân bố khắp trong nước, rợ Địch nhòm ngó nơi biên giới, xe chiến năm nào cũng ra trận, bốn phương nhiều lo lắng. Lúc đó, trong thì cung cấp cho trăm quan, ngoài thì phụng sự quân đội, trừ diệt kẻ tiếm ngụy, ban thưởng hàng vạn, chưa từng nghe nói tài chính thiếu hụt như ngày nay.

Bệ hạ kế thừa sự nghiệp của tổ tông, có hơn 400 châu, thiên hạ thống nhất, rợ Địch quy phục, những vùng đất giàu có, cống phẩm liên tục, thái bình lâu dài, trăm họ no ấm, lẽ ra tài chính phải dư dật, gấp trăm lần trước. Tại sao lại cạn kiệt kho tàng tích trữ, vơ vét hết của cải trong nước, khi thiên hạ không có việc gì, lại vội vã lo lắng chuyên chú vào việc cứu vãn kinh phí mà vẫn không đủ? Nếu chẳng may có tai họa không lường trước được[40], thì lấy gì để đối phó?

Lúc đầu dựng nước, đất nước chật hẹp, khó khăn, tài chính lẽ ra thiếu hụt nhưng lại dư thừa; ngày nay đất nước rộng lớn, yên ổn, tài chính lẽ ra dư thừa nhưng lại thiếu hụt, bệ hạ đã từng suy nghĩ kỹ về lý do tại sao chưa? Há chẳng phải là vì những người Thái Tổ nuôi dưỡng đều là người có công có ích, còn những người bệ hạ nuôi dưỡng chưa chắc đều có công có ích sao?

Thần trộm thấy bệ hạ tính trời cung kiệm, không thích xa xỉ, cung điện vườn tược đều theo quy chế cũ của tổ tông, không xây dựng thêm gì, hoặc có chỗ đổ nát hoang phế cũng không tu sửa, đồ ăn thức uống, quần áo, đồ dùng, màn trướng đều vừa đủ dùng, không cầu kỳ tinh xảo, hoặc có thứ xấu hỏng rách nát cũng không thay đổi. Dù là bậc thềm đất ba thước, mái tranh không cắt tỉa của thời Đường, Ngu cũng không hơn được.

Thế nhưng những kẻ hầu hạ bên cạnh, nhà cửa của tông thất quý thần, vườn tược, đồ ăn thức uống, đồ dùng đều dùng những thứ quý lạ nhất trong thiên hạ, tươi đẹp nhất một thời, muốn gì được nấy, không có giới hạn, lấy sự xa hoa làm sang, chê bai sự giản dị, ghét cái cũ thích cái mới, tháng khác năm khác. Vì thế chi phí không đủ thì xin xỏ không chán, vay mượn không biết xấu hổ. Thậm chí có kẻ dựa vào chiếu chỉ để lấy của cải trong kho, mượn tiếng cung phụng để tiêu xài của công, thật giả không phân biệt được, nhiều ít không kiểm soát. Bệ hạ độ lượng khoan dung, không muốn ngăn cấm; ghét nghe lỗi người, không tra xét hỏi han. Đến như ban thưởng cho bề ngoài, cũng đều vượt quá mức thường, không theo quy chế cũ.

Như trước đây khi hoàng nữ mới sinh, việc ban phát bánh bao[41], chi phí không kể xiết. Thần từng nghe các bậc lão thành nói, công chúa đời trước ở trong cung, lương bổng mỗi tháng không quá năm nghìn, các cung nhân khác cũng tương tự. Không phải lúc thì chưa từng ban thưởng bừa bãi[42], ban thưởng cũng không quá nhiều. Thần nghe nói gần đây lương bổng ban thưởng so với đời trước không chỉ gấp mười lần. Hán Minh Đế nói: “Con ta há lại bằng con của tiên đế sao!” Bằng còn không được, huống chi hơn!

Vì thế của cải tích lũy của tổ tông hao hết vì ban thưởng, khốn khổ vì chi tiêu phung phí, thần không biết rõ chi tiết, nhưng ước lượng bên ngoài thì mất đi bảy tám phần mười rồi, kho nội phủ đã trống rỗng, mà còn lấn sang kho tả tạng. Kho tàng là nơi tích trữ của cải trong thiên hạ để dùng cho dân, chứ không phải để phụng dưỡng riêng một người. Tổ tông đặt ra kho nội phủ là để phòng khi đói kém, binh đao, chứ không phải để cung cấp cho bệ hạ phụng dưỡng ban thưởng. Nay kho nội phủ chỉ do nội thần quản lý, không thuộc về tam ty, số lượng xuất nhập, tích trữ thực hư, sổ sách đúng sai, các cơ quan không được biết. Nếu đều dùng vào việc phụng dưỡng ban thưởng mà hết đi, một khi có việc đói kém binh đao, tam ty không đủ kinh phí, kho nội phủ lại không có gì để dựa vào, thu thuế của dân thì dân đã cùng khốn, há chẳng lúng túng không chống đỡ nổi sao? Đó là điều thần ngày đêm lo sợ.

Nay Bệ hạ có đức của Vua Đường, Vua Ngu mà không có nền trị vì của Vua Đường, Vua Ngu, là do lỗi ở chỗ không nỡ lòng và thích ban thưởng. Không nỡ lòng thì không trừng phạt kẻ có tội, thích ban thưởng thì không đợi người có công. Không trừng phạt kẻ có tội thì gian tà lừa dối mà không kiêng sợ; không đợi người có công thì tham lam nịnh hót cầu may mà không biết chán. Đạo trị quốc không thấu đến trên dưới, đều là vì thế.

Xưa Hàn Chiêu hầu có cái quần cũ, sai cất đi, người hầu nói: “Nhà Vua cũng không nhân từ! Không ban cho tả hữu mà lại cất đi.” Chiêu hầu nói: “Ta nghe nói minh chủ quý từng cái nhíu mày, từng nụ cười, nhíu mày có lý do nhíu mày, cười có lý do cười. Nay cái quần này há chỉ là nhíu mày, cười sao! Ta nhất định phải đợi người có công.” Vị chư hầu nước nhỏ kia còn có thể trọng thưởng như vậy, mà nước được giàu mạnh, huống chi là chủ tể bốn biển, không ban thưởng vô công cầu may, ngăn chặn lời xin ngọt ngào nịnh hót, thì nền trị vì của Vua Đường, Vua Ngu, có xa gì đâu!

Kho tàng vàng bạc, đều là mồ hôi máu của dân, quan lại châu huyện đánh đập trai tráng, để già yếu đói rét, từng chút từng chút mà tích cóp. Nay lấy của cải tích lũy cả năm của châu lớn giàu có, chuyển về kinh đô, chỉ đủ để cung cấp cho Bệ hạ một lần ban ơn, một ngày tiệc tùng của quý thần, Bệ hạ sao chỉ không nỡ lòng với quần thần trước mắt, mà lại nỡ lòng với trăm họ thiên hạ! Với đức cần kiệm của Bệ hạ, sánh với Vua Đường, Vua Ngu, mà nỗi khốn cùng của trăm họ, ngang với đời Tần, Hán. Tần, Hán vắt kiệt sức thiên hạ để phụng sự một người, Bệ hạ vắt kiệt sức thiên hạ để cung phụng nhiều người, dụng tâm tuy khác, mà hại dân thì như nhau. Đó là điều khiến thần đặc biệt lo lắng.

Lại nữa, cung cấm là nguồn gốc của phong tục; những người quyền quý gần gũi là khuôn mẫu cho dân chúng. Vì vậy, những gì cung cấm ưa chuộng thì bên ngoài tất sẽ làm theo; những gì người quyền quý thích thì kẻ dưới tất sẽ bắt chước, đó là lẽ tự nhiên. Do đó, từ các sĩ đại phu trong kinh thành đến người dân ở phương xa, từ binh lính trong quân đội đến nông dân ngoài đồng ruộng, quần áo, thức ăn, đồ dùng của họ so với vài chục năm trước đều xa hoa mà không thực tế. Những thứ trước kia có, người nay nhìn thấy đều cho là thô kệch mà chê cười. Sản vật của trời đất có hạn mà dân số ngày càng đông, người làm ruộng ngày càng ít mà kẻ nhàn rỗi ngày càng nhiều, ham muốn vô độ mà phong tục ngày càng xa xỉ, muốn tiền của không hao tổn, làm sao được?

Lại nữa, những người thuộc hàng phủ sử, tư đồ, ở không có bổng lộc, tiến thân không có hy vọng vinh hiển, đều lấy việc bòn rút dân làm kế sinh nhai. Từ các quan lại ở công phủ, tỉnh tự, các lộ giám ty, châu huyện, làng xã, kho tàng, đến những việc kiện tụng, thu thuế, lao dịch, thu chi, kế toán, hễ có việc gì qua tay họ, nếu không đút lót thì không xong. Vì vậy, dân chúng phá sản, không chỉ do thuế má, lao dịch của triều đình, mà phần lớn là do bọn lại nhũng. Đó là lý do khiến dân chúng càng thêm khốn khổ.

Lại nữa, chính sách của triều đình gần đây quá khoan dung, trăm chức quan đều bỏ bê, người trên kiêu ngạo không chịu xem xét, kẻ dưới tham nhũng làm bậy. Vì vậy, mỗi khi xây dựng hay mua bán, chi phí gấp mười lần trước mà lợi ích thu được chưa được một hai phần. Đó là lý do khiến quốc khố càng thêm thiếu hụt.

Lại nữa, từ xưa các chức quan đều có số người nhất định, nhưng phép khảo xét của triều đình, hết năm thì thăng chức, ngày càng tăng thêm, không có giới hạn, vì vậy một chức quan có đến mấy trăm người, bổng lộc chỉ tăng mà không giảm.

Lại nữa, gần đây nuôi quân chỉ cốt nhiều chứ không cốt tinh, quân nhiều mà không tinh thì sức mạnh ít mà lương thực tốn kém, lương thực tốn kém thì kho tàng hao hụt, kho tàng hao hụt thì ban thưởng ít. Vì vậy, không chỉ dân chúng thiếu thốn, mà quân lính cũng nghèo khó. Sai lầm trong chính sách, không gì lớn hơn thế. Tất cả những điều này đều là nguyên nhân làm kiệt quệ tài sản của dân chúng. Bệ hạ sao có thể thản nhiên nhìn mà không thay đổi?

Thần ngu muội kính mong bệ hạ xem xét những tệ nạn hiện nay, suy nghĩ về những mối lo trong tương lai, tự hạn chế sâu sắc, bắt đầu từ những việc gần gũi. Phàm là tông thất, ngoại thích, hậu cung, nội thần, cho đến các quan trong triều, bổng lộc ban thưởng, đều phải tuân theo quy chế cũ của tổ tông, không được dựa vào những lệ may mắn gần đây. Những kẻ vượt quá phận thường, cầu xin bừa bãi, đều phải chặn đứng, không cho một chút nào. Nếu có kẻ nào cầu xin không ngừng, nên nghiêm khắc trừng phạt để cảnh cáo những người khác.

Phàm những vật kỳ lạ, quý giá, chơi bời từ Văn Tư viện, Hậu Uyển tác sở, không cần thiết và vô dụng, đều phải bãi bỏ. Từ trong cung phi, ra đến tông thất, nhà quan lại, dân thường, ai dám dùng vật xa xỉ để khoe khoang, hoặc dâng cống, hối lộ để lấy lòng, cũng phải trị tội rõ ràng, và đốt hủy những vật đó ở ngã tư đường. Chuyên dùng sự giản dị để làm gương cho thiên hạ, sửa đổi phong tục, sau đó bổ nhiệm người liêm khiết, trừng trị kẻ tham tàn, bảo vệ người công chính, diệt trừ kẻ gian ác, làm trong sạch quan lại, tuyển chọn và luyện tập binh sĩ, không ban thưởng cho kẻ vô công, không nuôi dưỡng kẻ vô dụng.

Nếu làm như vậy lâu dài mà không lơi lỏng, thần thấy rằng của cải trong ngự phủ sẽ mục nát mà không chỗ chứa, lương thực trong thái thương sẽ tràn đầy mà không thể đậy kín, nông dân bỏ lúa ngoài đồng, thương nhân nhường của cải trên đường! Sao bằng ngày nay vội vã đáp ứng nhu cầu trước mắt, lo lắng về cảnh khốn khó trong tương lai!

Việc lương thực và tiền tệ là vấn đề cấp bách của thiên hạ, nay tình cảnh nghèo khó như vậy mà tể tướng không lấy làm lo, có lẽ cho rằng đó không phải là trách nhiệm của mình. Thần xin khôi phục lại chức Tổng kế sứ, để tể tướng đảm nhiệm, quản lý tất cả vàng bạc, tiền tệ, lương thực trong thiên hạ, dù thuộc Tam ty hay không thuộc Tam ty như nội tàng, phụng thần khố[43], Tổng kế sứ đều thống lĩnh. Việc nhỏ thì quan trưởng tự quyết, việc lớn thì bàn bạc với Tổng kế sứ rồi mới thi hành, cuối năm báo cáo số thu chi lên Tổng kế sứ, căn cứ vào thu để quyết định chi. Nếu thu ít mà chi nhiều, Tổng kế sứ phải xem xét nguyên nhân, tìm cách giảm bớt chi tiêu có thể tiết kiệm được rồi tâu lên để cắt giảm, nhất định phải để dư một phần ba mỗi năm làm dự trữ, phòng bị bất trắc. Tất cả các chức Tam ty sứ, Phó sứ, Phán quan, Chuyển vận sứ và các quan quản lý nội tàng, phụng thần khố, đều giao cho Tổng kế sứ xem xét năng lực, khảo sát công trạng để tâu lên mà thưởng phạt. Nếu Tổng kế sứ thử lâu mà không hiệu quả, xin bệ hạ cách chức người đó, thay người khác.

Có người bàn rằng tể tướng bàn đạo trị nước, điều hòa âm dương, không nên đảm nhiệm việc tiền tệ, đó là lời của kẻ ngu dốt không hiểu thể chế trị nước. Xưa Vua Thuấn dùng tám hiền tài, giao cho họ quản lý đất đai, lo việc lương thực, buôn bán trao đổi, đất trời yên ổn, chín công việc đều được sắp xếp; theo 《Chu Lễ》, chức Trủng tể dùng chín chức, chín phú, chín thức, chín cống để quản lý tài chính; chế độ nhà Đường để tể tướng quản lý diêm thiết, độ chi, hộ bộ; đầu triều ta cũng để tể tướng đảm nhiệm chức Đô đề Tam ty, Thủy lục phát vận sứ. Như vậy, việc tiền tệ từ xưa đến nay vốn là trách nhiệm của tể tướng.

Nay việc dịch kinh nhuận văn còn để tể tướng đảm nhiệm, há lại có chuyện lương thực tiền tệ là việc lớn của quốc gia mà lại cho rằng không phải việc của tể tướng sao! Nếu kho tàng trống rỗng, dân chúng khốn khổ, dân chúng khắp nơi lưu lạc chết chóc, mà nói rằng ta có thể bàn đạo trị nước, điều hòa âm dương, thì đó không phải là điều mà thần ngu muội này có thể hiểu được.”

(Tháng 12 năm Trị Bình thứ nhất, sửa đổi pháp lệnh về nhiệm kỳ dài của Phán quan Tam ty, có lẽ là do bản tấu này của Quang.)

[26] Ngày Kỷ Dậu, Long Đồ các Trực học sĩ, Lại bộ Viên ngoại lang kiêm Thị giảng, Tri gián viện Dương Điền mất, được tặng chức Hữu Gián nghị đại phu.

Điền vốn cẩn trọng, mỗi khi tâu việc, nhất định phải mở phong bì nhiều lần rồi mới dâng lên. Khi mất, nhà không còn của cải gì. Đặc biệt ban tặng 200 lạng vàng. Đến ngày Đoan Ngọ, ban cho các quan giảng đọc quạt có chữ thảo của Vua, cũng sai sứ đặc biệt ban tặng, đặt ở nơi linh cữu.

[27] Ngày Kỷ Mùi, Tri Kinh Nam phủ, Công bộ Thị lang Lý Tham được làm Quần mục sứ. Lúc đầu, các quan chấp chính bàn định dùng Tham làm Tam ty sứ, nhưng Tôn Biện một mình không đồng ý, nói: “Người này nếu chủ trì việc kế toán, các nha môn bên ngoài sẽ noi theo mà khắc nghiệt, thiên hạ sẽ càng thêm khốn khổ.” Vì thế không dùng.

[28] Ngày Canh Thân, Đại Tông chính ty tâu rằng, Hữu Vệ Đại tướng quân, Nhạc Châu Đoàn luyện sứ Tông Thực xin trả lại sắc cáo chức Thái Châu Phòng ngự sứ, Tri tông chính sự. Chiếu không cho phép.

[29] Ngày Canh Ngọ, Xu mật phó sứ, Cấp sự trung Bao Chửng mất, được tặng chức Lễ bộ Thượng thư, thụy hiệu là Hiếu Túc.

Chửng tính cương trực, nhưng tấu nghị công bằng, thường ghét thói quan lại tầm thường hà khắc, cố gắng làm việc đôn hậu. Dù ghét kẻ ác đến mức người thường không làm được, nhưng vẫn lấy lòng trung thứ mà đối xử. Không cẩu thả hợp tác, chưa từng dùng lời nói giả dối để làm vui lòng người. Không viết thư riêng, đến việc xin xỏ, cắt đứt hết với bạn bè thân thích. Ở nhà sống giản dị, quần áo, đồ dùng, ăn uống dù sang trọng, vẫn như lúc mới làm quan.

[30] Tháng 6, ngày Quý Mùi, Đơn Châu Đoàn luyện sứ Lưu Vĩnh Niên được làm Nhữ Châu Đoàn luyện sứ, Tri Đại Châu.

Khiết Đan chặt gỗ trên núi, chất thành đống dài hơn mười dặm, xe chở nối đuôi nhau trên đường. Viên quan trấn thủ trước sợ sinh chuyện, không dám ngăn cản. Vĩnh Niên nói: “Khiết Đan chặt gỗ trong địa phận ta mà không trị tội, ngày sau sẽ không thể kiềm chế được nữa.” Bèn sai người phóng hỏa, một đêm thiêu sạch. Tâu việc lên, Vua khen ngợi.

Khiết Đan gửi văn thư đến châu Đại, đòi bắt kẻ phóng hỏa trộm cướp. Vĩnh Niên trả lời: “Kẻ trộm đương nhiên có tội, nhưng ở trong địa phận ta, can hệ gì đến các ngươi!” Khiết Đan không dám nói gì nữa.

[31] Kinh lược ty Phu Diên tâu: “Nhận được công văn của châu Hựu, nước Hạ đổi Giám quân ty Tây Thị thành quân Bảo Thái, Giám quân ty Uy Châu thành quân Tĩnh Tắc, Giám quân ty Tuy Châu thành quân Tường Hữu, Giám quân ty Tả Sương thành quân Thần Dũng.” Lại tâu: “Những hành động của Lượng Tộ gần đây phần nhiều không tuân theo quy chế cũ, e rằng sẽ còn tiếm dụng danh hiệu triều đình, không thể để phát triển thêm. Xin chọn một bề tôi có tài, ban chiếu chất vấn để ngăn chặn mầm mống gian tà.” Vua nghe theo.

Bấy giờ, sai Cung bị khố phó sứ Trương Tông Đạo[44] ban tặng lễ vật mừng sinh thần cho Lượng Tộ.

Khi Tông Đạo vừa vào địa giới, người đón tiếp đến, muốn đi trước ngựa của Tông Đạo, đến khi ngồi xuống, lại muốn ngồi phía đông, Tông Đạo kiên quyết tranh luận. Người đón tiếp nói: “Chủ nhân ngồi bên trái là lễ thường, sứ giả của thiên tử còn nghi ngờ gì nữa?” Tông Đạo đáp: “Tông Đạo cùng với chúa Hạ ngang vai phụng sự thiên tử, nếu chúa Hạ tự đến, sẽ là khách chủ. Ngươi là bồi thần, sao có thể làm chủ nhân! Nên theo lệ cũ, Tông Đạo ngồi vị trí trên.”

Tranh cãi lâu không quyết, người đón tiếp nói: “Ngài có mấy cái đầu, dám làm như vậy!” Tông Đạo cười lớn nói: “Tông Đạo chỉ có một cái đầu thôi, ngày mai đã từ biệt gia nhân. Hôm nay muốn lấy đầu Tông Đạo thì cứ lấy, cái chết của Tông Đạo là xứng đáng! Chỉ là nước Hạ chắc không dám đâu.” Người đón tiếp nói: “Phiên dịch sai lời, tôi chỉ nói là không có hai đầu thôi.” Tông Đạo nói: “Phiên dịch sai lời, sao không chém đầu phiên dịch?” Rồi đi trước Tông Đạo. Người đón tiếp nói: “Hai nước vui vẻ, như cá với nước.” Tông Đạo đáp: “Đúng vậy. Thiên triều là nước; nước Hạ là cá. Nước có thể không có cá, nhưng cá không thể không có nước.”

[32] Ngày Đinh Hợi, Bí các dâng lên sách bổ sung và sao chép sách ngự lãm.

Trước đó, Âu Dương Tu nói: “Bí các vốn là nơi Thái Tông tàng trữ sách, đều được bọc bằng lụa vàng, gọi là bản Thái Thanh. Sau này vì việc tuyên chỉ lấy vào trong cung, phần lớn để lại trong cấm cung, nên sách không còn đầy đủ. Xin hạ lệnh lấy bản cũ, sai người sao chép bổ sung.” Bèn hạ chiếu cho các quan nội thần quản lý Long Đồ, Thiên Chương, Bảo Văn các và Thái Thanh lâu, kiểm tra sách còn thiếu và ghi chép lại[45], rồi sai người bổ sung sao chép tại Môn hạ tỉnh[46]. Đến nay dâng lên, ban thưởng cho Phán Bí các Phạm Trấn và các quan quản lý việc sao chép bổ sung lượng bạc lụa khác nhau.


  1. mà lại thành ra khinh nhờn việc tế tổ, chữ 'hồ' nguyên bản thiếu, theo hai bản trên, các bản khác và 《Thái Thường Nhân Cách Lễ》 quyển 9 của Âu Dương Tu mà bổ sung
  2. Chữ 'Triều' nguyên bản viết là 'Hồ', căn cứ theo đoạn dưới và các bản Tống bản, Tống toát yếu bản, Trường biên kỷ sự bản mạt quyển 45 cấp muối châu Kiền, Tống sử quyển 182 chí Thực hóa mà sửa lại.
  3. Chữ 'vạn' nguyên bản thiếu, căn cứ theo các sách đã dẫn mà bổ sung.
  4. Theo 《Tống sử》 quyển 182, phần Thực hóa chí, câu này có thêm hai chữ 'vị báo', có lẽ là đúng
  5. Chữ 'lang' nguyên bản thiếu, theo các bản khác và 《Tống sử》, 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 45, phần Dịch Đông Nam diêm bổ sung
  6. Nguyên bản viết 'Diêm Từ', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》, 《Tống sử》 quyển 333, truyện Diêm Tuân, 《Trị tích thống loại》 quyển 29, phần Tổ tông dụng độ tổn ích sửa lại
  7. Hai vạn cân, trong 《Tống sử》 quyển 182, phần Thực hóa chí viết là 'hai trăm vạn cân', có lẽ đúng.
  8. Có người lại xin quan phủ tự lập các phố, chữ 'phố' nguyên bản viết là 'bộ', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 45, phần Dịch đông nam diêm mà sửa lại.
  9. Chữ 'Ích' trong 'Trần Tòng Ích' vốn bị thiếu, theo bản Tống toát yếu và sách trên mà bổ sung.
  10. Chữ 'thiếu' trong 'tăng thiếu' vốn là 'địch', theo các bản khác và sách trên, cùng với 《Tống sử》 quyển 182, 《Thực hóa chí》 mà sửa.
  11. lệnh buôn cá vàng mang theo muối không quá 20 cân, 'lung' nguyên là 'long', 'hiệp' nguyên là 'phi', theo 《Tống hội yếu》 thiên Thực hóa 24-1, 《Biên niên cương mục》 quyển 16, 《Tống sử toàn văn》 quyển 9 hạ sửa lại.
  12. bãi bỏ khoản tiền mua muối mà Phù và những người khác phải nộp, chữ 'tiền' nguyên bản thiếu, theo 《Tống sử》 quyển 182, thiên Thực hóa chí bổ sung.
  13. đến lúc này, chữ 'thị' nguyên bản thiếu, theo bản 《Tống toát yếu》 và sách trên, 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 45, thiên Dịch Đông Nam diêm bổ sung.
  14. lâu ngày, chữ 'chi' nguyên là 'nhi', theo bản Tống, bản 《Tống toát yếu》, các bản khác và hai sách trên, 《Tống sử toàn văn》 quyển 9 hạ sửa lại.
  15. Hữu vệ đại tướng quân nguyên bản là 'Hữu đồn vệ đại tướng quân', căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 12, bản kỷ Nhân Tông, và 《Tống hội yếu》 đế hệ 4 chi 13 sửa lại.
  16. Thẩm quan viện nguyên bản là 'Thẩm hình viện', theo 《Tống hội yếu》 chức quan 11-4 sửa lại.
  17. 'Có thể giảng hết một lượt', 《Tống sử》 quyển 330 truyện Tiền Tượng Tiên chép là 'Nên giảng hết một biên', nghi ngờ chữ 'trật' ở đây nên là 'trật'.
  18. Ngày Nhâm Thân nguyên bản là 'Nhâm Thìn', theo bản Tống, bản tóm tắt 《Tống hội yếu》, bản các và 《Tống sử》 quyển 12 kỷ Nhân Tông sửa lại.
  19. 'Trừ' nguyên là 'giáng', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Biên niên cương mục》 quyển 16, 《Tống sử toàn văn》 quyển 9 sửa lại
  20. Bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và 《Tống sử toàn văn》 dẫn trên, chữ 'hướng' có thêm chữ 'giả'.
  21. 'Thảo' nguyên là 'chương', theo ba bản trên sửa lại
  22. mà bề tôi không vui, chữ 'hạ' nguyên bản thiếu, theo bản Tống, Tống toát yếu và 《Tư Mã Quang Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 quyển 22, 《Cẩn Tập Sớ》 bổ sung.
  23. Bốn năm năm, bản Tống, bản Tống toát yếu và các sách khác cùng 《Biên niên cương mục》 quyển 16 đều chép là 'bốn ba năm'.
  24. Trật tự trên dưới được chỉnh đốn 'Chỉnh đốn' hai chữ nguyên bản đảo ngược, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và hai sách trên mà sửa lại.
  25. lộ Hà Đông 'nhất' nguyên bản là 'trí', căn cứ theo ba bản khác và hai sách kia mà sửa
  26. 'Giai' nguyên là 'Bệ', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và bản dẫn trên từ 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 mà sửa.
  27. 'Cứu' nguyên văn là 'đầu', theo 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 quyển 23, bài 'Luận Tài Lợi Sớ' sửa lại
  28. 'Thố' trong nguyên văn, sách trên viết là 'Đặc'
  29. Chữ 'châu' trong 'điển châu quận' ban đầu bị thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách trên mà bổ sung.
  30. Nguyên văn 'dĩ quỹ phạp' viết ngược thành 'phạp dĩ quỹ', căn cứ theo hai bản Tống, bản các và sách trên mà sửa lại.
  31. Chữ 'khải' ban đầu bị thiếu, chữ 'tài' viết nhầm thành 'tài', căn cứ theo ba bản Tống và sách trên mà bổ sung, sửa lại.
  32. Chữ 'tam' trong 'phủ tam niên' trong sách trên viết là 'nhị'.
  33. Bản Tống, bản Tống toát yếu viết: 'Thần không biết có thể mong được không'.
  34. mà trên dưới đều đủ đầy, chữ 'đủ' nguyên bản là 'định', căn cứ theo hai bản trên, bản các và sách 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 quyển 23, bài 'Luận Tài Lợi Sớ' mà sửa
  35. đồ giả dối xa xỉ không bán được, chữ 'xa xỉ' nguyên bản là 'xâm', căn cứ theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và sách trên mà sửa
  36. 'người' trong 'người nay lại xem nhẹ' nguyên bản thiếu, căn cứ theo hai bản khác và sách trên bổ sung.
  37. 'có' trong 'dân nào tự cày cấy, tích trữ được nhiều lúa' nguyên bản là 'cũng', căn cứ theo hai bản khác và sách trên sửa lại.
  38. 'đồ dùng' trong 'thì đồ dùng sẽ không gì là không tinh xảo' nguyên bản là 'thợ', căn cứ theo bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và sách trên sửa lại.
  39. Khi Thái Tổ của ta mới giành được thiên hạ, chữ 'ta' trong bản Tống, bản Tống toát yếu và sách trên viết là 'xưa'.
  40. Nếu chẳng may có tai họa không lường trước được, chữ 'nhất' vốn thiếu, căn cứ vào hai bản trên và sách trên để bổ sung.
  41. 'Bao' nguyên là 'Sắc', theo hai bản trên và sách trên sửa lại.
  42. 'Chưa từng' nguyên là 'Không nên', theo sách trên sửa lại.
  43. 'Và không thuộc Tam ty' năm chữ này nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách trên bổ sung
  44. 'Khố' nguyên bản là 'Quân', căn cứ theo bản Tống toát yếu sửa lại.
  45. Chữ 'khuyết' trong 'kiểm sở khuyết thư lục thượng' nguyên bản là 'duyệt', theo bản Tống, Tống Toát Yếu và Tống Hội Yếu Sùng Nho 4-9 sửa lại.
  46. Chữ 'tỉnh' trong 'ư môn hạ tỉnh bổ tả' nguyên bản là 'giả', theo hai bản trên sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.