"

V. TỐNG ANH TÔNG

[BETA] QUYỂN 207: NĂM TRỊ BÌNH THỨ 3 (BÍNH NGỌ, 1066)

Từ tháng giêng đến tháng 3 năm Trị Bình thứ 3 đời Anh Tông.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Nhâm Thân, Hàn lâm học sĩ, Cấp sự trung, Tri chế cáo Phạm Trấn được bổ làm Hàn lâm thị độc học sĩ, Tập hiền điện tu soạn, Tri châu Trần.

(Xét theo 《Tống sử》, Trấn vì soạn chế sai nên bị đổi làm Thị độc học sĩ, năm sau thăng làm Hàn lâm, ra ngoài làm Tri châu Trần. Việc đổi làm Tập hiền điện tu soạn, Tri chế cáo, thì ở thời Nhân Tông, lúc này Trấn cũng không kiêm chức Cấp sự trung. Việc này có sự khác biệt.)

Ban đầu, Trấn soạn chế văn thăng chức cho Hàn Kỳ, có dẫn chuyện Chu Công, Hoắc Quang[1], Gián quan Lã Hối bác bỏ. Do đó, Kỳ dâng biểu xin từ chức, Trấn phê đáp rằng: “Chu Công không về Lỗ, muốn thiên hạ quy về một mối với nhà Chu.” Vua cho rằng Trấn không nên dùng thánh nhân để so sánh với tể tướng, [mà] ý [Trấn] nói rằng nếu Kỳ từ chức thì lời ca ngợi và việc kiện tụng sẽ không quy về kinh đô, [nên Vua] muốn bãi chức nội các của Trấn. Chấp chính nhân đó khuyên Trấn tự xin ra ngoài, nên có mệnh lệnh này.

Có người nói Trấn với Âu Dương Tu vốn thân thiết, đến khi bàn việc truy tôn vương hiệu cho Bộc vương, Trấn trái ý Tu[2], Tu nhân cơ hội tâu với Vua: “Trấn lấy Chu Công đối đãi Kỳ, tức là lấy đứa trẻ đối đãi bệ hạ.” Trấn vì thế bị điều ra ngoài.

(Trấn năm đầu tháng Nhuận tháng năm bãi chức Học sĩ, làm Thị độc. Năm thứ hai tháng ba ngày Bính Dần, lại làm Học sĩ. Năm thứ ba tháng giêng ngày Nhâm Thân, mới ra ngoài. Trong Tôn Thăng hặc Đặng Ôn Bá chương có nói: “Phạm Trấn soạn chế văn cho Hàn Kỳ rằng ‘Sử xưng Hoắc Quang, nghĩa hình vu chủ’, đã lấy Hàn Kỳ so sánh với Hoắc Quang, thì trên phải là Chiêu Đế rồi. Anh Tông rất không hài lòng. Trấn vốn không có ác ý, chỉ vì so sánh Kỳ không đúng, nên bị bãi chức Học sĩ, ra ngoài làm Tri châu Trần.” Việc này khác với trên. Nên xem xét.

《Trấn tập》 95 quyển có phê đáp biểu xin từ chức lần thứ ba của Hàn Kỳ, thực sự có dẫn Chu Công, e rằng Thăng nhầm. Dẫn Hoắc Quang là chế văn thăng chức Hữu quỹ tháng Nhuận tháng năm năm đầu. Xét việc hặc Đặng Ôn Bá có lẽ là Tôn Thăng.)

Thượng thường tự xem xét các chiếu chỉ, nếu có điều gì không hợp lý, nhất định bắt sửa lại. Từng nói với các quan chấp chính rằng: “Đây là lời huấn dụ của bậc quân vương, há có thể khen chê sai sự thật được sao?”

Trước đó, Tri chế cáo Hàn Duy tâu việc ở điện Tiện, từng nói: “Việc yêu ghét của bậc quân vương, nên rõ ràng trong thưởng phạt để làm gương cho thiên hạ, khiến người ta biết điều nên tránh và nên theo, thì phong tục có thể thay đổi.” Lại nói: “Suy nghĩ của bậc thánh hiền cũng không thể hoàn toàn không có sai lầm, giả như bệ hạ lỡ có quyết định sai, sửa lại thì đủ để làm rõ cái đẹp của việc tiếp thu lời can gián.”

Đến khi Trấn bị điều ra ngoài, Duy nói: “Nếu Trấn thực sự có tội, tự có thể xử phạt theo pháp luật, nhưng nếu lỗi của ông ấy chỉ ở văn từ, nên khoan dung để giữ thể diện cho bề tôi gần gũi. Trước đây bệ hạ cách chức Tiền Công Phụ, trong ngoài đều cho là quá nặng, nay lại đuổi Trấn, mà mọi người không biết vì sao. Thần e rằng từ đây mọi người sẽ nghi ngờ sợ hãi, không dám hết lòng trung với bệ hạ nữa!”

[2] Ngày Quý Dậu, Khiết Đan đổi quốc hiệu là Đại Liêu. (Theo 《Tục tư trị thông giám trường biên》 và 《Tống sử》 đều không có chữ “Đại”).

[3] Ngày Ất Hợi, Tuyên huy Nam viện sứ, Vũ An tiết độ sứ Trình Kham qua đời[3].

Trình Kham giữ chức ở Diên Châu tổng cộng sáu năm, so với đồng liêu thì nổi tiếng là người am hiểu công việc, nhưng không có tài năng hay mưu lược gì đặc biệt, nên không được các quan ngôn sự ủng hộ. Ban đầu, các quan chức người phiên theo lệ không được thăng chức, nhưng nhờ tấu chương của Trình Kham, họ mới bắt đầu được thăng tiến. Ông cũng tâu rằng: “Các thủ lĩnh bộ tộc, quân sĩ phòng thủ, và các nhân viên cung tiễn thủ đều không được ban thưởng. Xưa kia, loạn lạc có khi bắt đầu từ một bát canh dê, đây là điều đáng cảnh giác! Những thủ lĩnh có tài võ nghệ và lập được chiến công, xin được triệu kiến và bổ nhiệm làm quan chức phiên.”

Diên Châu có hai thành nằm hai bên sông, tường thành thấp và mỏng, từng bị quân Hạ bao vây, chúng leo lên đài Cửu Châu để nhìn xuống thành. Trình Kham điều động binh lính và dân phu xây dựng lại, sau này thành này trở nên kiên cố. Các thủ lĩnh vùng Hoành Sơn oán hận Lượng Tộ, muốn dẫn theo thuộc hạ làm phản[4], chiếm lấy Linh Châu và Hạ Châu, đến xin quân tiếp viện. Trình Kham tâu: “Chó sói và hổ không tự đánh nhau thì khó mà bắt được, ung nhọt không tự vỡ thì khó mà chữa được. Lượng Tộ đã lâu ngạo mạn, đáng bị trừng phạt, nên nhân cơ hội này mà chấp thuận, đó chính là dùng man di đánh man di, có lợi cho Trung Quốc.” Nhưng lúc đó hoàng đế bệnh nặng, các đại thần sợ sinh sự nên việc này bị bỏ qua, không được trả lời.

Trình Kham tự biết mình đã quá 70 tuổi, dâng lên hơn mười tờ biểu xin về hưu, nhưng hoàng đế không đồng ý, sai trung sứ mang chiếu thư đến hỏi thăm và ban tặng trà, thuốc cùng vàng. Ông lại dâng biểu nói: “Thần đã già, bệnh tình ngày càng nặng! Cao Nô là nơi đóng quân hùng mạnh, là vị trí trọng yếu, đâu phải nơi dưỡng bệnh?” Ông được triệu về kinh, đến Trừng Thành[5] thì qua đời, được truy tặng chức Thái uý, thụy hiệu Khang Mục.

Có người nói rằng Trình Kham đã hạ mình kết giao với hoạn quan Diêm Sĩ Lương, thậm chí còn để vợ mình ra tiếp kiến.

[4] Ngày Bính Tý, Xu mật phó sứ Lữ Công Bật tâu xin dùng ân điển phong tặng ba đời trong lễ Nam Giao để truy tặng một chức quan cho con trai đã mất là Hi Nhân. Vua đồng ý. 《Thực lục》 chép là hai trai một gái, nay theo 《Hội yếu》. Dùng ân điển ba đời để ban cho con trai con gái[6], việc này trước đây chưa từng có. (Cần xem xét thêm.)

[5] Thí Tướng tác giám chủ bạ Kỳ Nguyên Chấn mất.

Nguyên Chấn người Tiêu, con của Thái thường thiếu khanh Kỳ Cách, nhờ ơn cha được bổ làm thí hàm, nhưng không chịu ra làm quan[7]. Ông tích trữ sách đến hơn vạn quyển, đọc rộng nhớ nhiều, đến cả sách thuốc và sách âm dương cũng thường hiểu biết. Tính liêm khiết, ít ham muốn, được người trong làng yêu mến và tin cậy. Các châu tướng trước sau nhiều người tiến cử, đặc cách bổ làm Thủ hiệu thư lang rồi cho về hưu. Nguyên Chấn từ chối và xin truy phong cho mẹ, chiếu phong mẹ là Đinh thị làm Chiêu Đức huyện Thái quân.

Khi mất, Chấn 74 tuổi, người trong làng xin ban thụy hiệu, châu Bạc lại tâu lên tiết hạnh của ông, xin ban tặng hiệu Tiên sinh. Không được trả lời.

[6] Ngày Tân Tỵ, Đoan minh điện học sĩ kiêm Long đồ các học sĩ, Tri Từ châu Trương Phương Bình được bổ làm Hàn lâm học sĩ thừa chỉ.

Ban đầu, Vua nói với các quan chấp chính rằng trong số các học sĩ, chỉ có Vương Khuê là có thể soạn chiếu chỉ, còn lại đa phần không xứng chức. Nhân đó, Vua hỏi về văn học của Trương Phương Bình như thế nào. Âu Dương Tu trả lời: “Phương Bình cũng có văn học, nhưng tính tà vạy, không ngay thẳng.” Tăng Công Lượng cho rằng không nghe nói ông ta tà vạy, Triệu Khái lại cho rằng không có bằng chứng. Vì vậy, cuối cùng Vua vẫn bổ nhiệm ông ta.

Vua từng hỏi về cốt lõi của đạo trị nước, Phương Bình đáp rằng cần giản dị, thành thật và sáng suốt. Vua không khỏi tiến gần hơn và nói: “Trẫm trước đây khi tham dự triều đình, nhìn các đại thần thị tòng, tưởng rằng họ đều là người tài trong thiên hạ, nhưng nay thì không phải vậy. Nghe lời của học sĩ, Trẫm mới biết rằng vẫn còn có người tài.”

Ngự sử Lã Đại Phòng tâu: “Thần nghe nói rằng Tham tri chính sự Triệu Khái tiến cử Trương Phương Bình và Tiền Minh Dật, xin được bổ nhiệm vượt cấp[8]. Khi tin này lan truyền, thực sự khiến mọi người kinh ngạc. Phương Bình và Minh Dật đều đỗ khoa chế sách, sớm giữ chức thị tòng, nhưng không nghe nói có công trạng hay kế sách gì nổi bật được thời luận ca ngợi, mà khi ra ngoài nhận chức, nơi nào đến cũng không trị được. Làm sao đủ để bàn mưu kế trong miếu đường, kinh luân việc thiên hạ? Thần cho rằng Khái giữ chức phụ thần, cùng với quốc gia là một thể, không thể công khai bàn luận, tiến cử người hiền, loại bỏ kẻ bất tài, lại vì tình riêng mà tiến cử người không xứng đáng, làm mất đạo lo nước giúp Vua của bậc đại thần. Kính mong bệ hạ xuống chiếu đưa tờ tâu này của thần cho Khái, hỏi rõ tình hình, để trừng phạt sự bất kính.” (Lã Đại Phòng hặc tội Triệu Khái, không rõ thời điểm, nhân việc Trương Phương Bình được triệu làm Hàn lâm, nên phụ chép vào đây.)

[7] Hàn lâm học sĩ Phùng Kinh tu soạn 《Nhân Tông thực lục》.

[8] Ngày Nhâm Ngọ, bãi bỏ chức quan Suy khám của Tam ty. Ban đầu, Vua xuống chiếu cho Tam ty tiến cử một viên quan kinh triều để chuyên trách việc suy khám, đến lúc này Tam ty tâu rằng việc này bất tiện, nên bãi bỏ. Tuy nhiên, những người bàn luận không cho rằng việc bãi bỏ là thuận tiện. (Chức này được đặt ra vào năm Gia Hựu thứ 5.)

[9] Công bộ viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Lã Hối trước sau dâng mười một bản tấu, xin theo nghị của Vương Khuê và các quan, sớm định lễ truy tôn cho Bộc An Ý vương, nhưng đều không được trả lời. Ông xin miễn chức ở đài, cũng không được trả lời.

Tháng này, ngày Nhâm Tuất (Xét tháng này không có ngày Nhâm Tuất, đây là việc ghi chép lại sự việc của tháng trước, các ngày Can Chi sau đều liên quan đến việc này, vì việc cách chức Lã Hối là vào ngày Nhâm Ngọ, nên ghi chép vào cuối tháng này). Lã Hối cùng Thị ngự sử Phạm Thuần Nhân, Thái thường bác sĩ Giám sát ngự sử lý hành Lã Đại Phòng hợp tấu rằng:

“Sài lang đang chắn đường, nên đánh đuổi trước; gian tà ở triều đình, dám không tố cáo? Thần thấy Tham tri chính sự Âu Dương Tu mở đầu tà thuyết, dẫn kinh điển sai lệch, dùng đạo lý sai trái để làm vui lòng Vua, dùng lợi ích gần để phụ lòng tiên đế, muốn gán cho Bộc vương danh hiệu không chính đáng, khiến bệ hạ bị chê trách. Triều đình kinh ngạc, thiên hạ thất vọng. Điển chính không tha, người thần cùng bỏ. Lỗi của Ai Đế, Hoàn Đế khó áp dụng vào thánh triều, gian tà của Bao Tự, Do Tự khó tránh khỏi công luận, nên giao cho quan lại bàn luận để yên lòng dân.

Còn như tể thần Hàn Kỳ, ban đầu không suy nghĩ kỹ, cố che đậy lỗi lầm, phụ họa lời nói, làm Vua nghe lầm. Đến khi các nho thần họp bàn, lễ viện thảo luận, nghĩa kinh rất rõ, lời nói không khuất. Tự biết mình sai, không chịu trình bày, đại thần phụng sự Vua, há nên như vậy? Công Lượng và Khái, giữ chức trong triều đình, hưởng ơn nước sâu, cẩu thả do dự, chưa từng biện chính, việc này không trách, ai sẽ chịu tội? Chúng thần đảm nhiệm chức ngôn quan, tình thế không thể im lặng. Xin gươm thượng phương, tuy việc khó với người xưa; dùng hình phạt của nước, huống chi điển chương còn đó. Xin giao Tu cho pháp luật xét xử, và trị tội Kỳ, để tạ lỗi với trong ngoài.

Vả lại, nghị luận đã không thống nhất, lý lẽ khó cùng tồn tại. Xưa thuyết của Sư Đan được thi hành, thì Đổng Hoành bị tội; luận của Đổng Hoành thắng thế, thì Sư Đan bị bãi chức ở nhà. Chúng thần và Tu, há có thể cùng tiến? Lời nói không đủ dùng, xin chịu tội lưu đày, trên không phụ sự sai khiến của bệ hạ, dưới không bỏ bê chức nghiệp triều đình, chí nguyện của chúng thần thế là đủ.”

Ngày Mậu Thìn, lại tấu rằng: “Từ xưa đến nay, bậc nhân quân trị vì thiên hạ, chưa từng không lấy lòng dân làm gốc. Được lòng dân thì người tài trung bình cũng có thể tránh được nguy loạn, mất lòng dân thì dù hiền tài trí tuệ cũng không thể giữ được sự yên ổn. Cho nên nói rằng dân như nước, có thể chở thuyền, cũng có thể lật thuyền. Việc được mất lòng dân, há chẳng nên thận trọng sao? Há lại có kẻ đại thần giữ chức vị, cùng nước chung một thể, lại xu nịnh ý Vua, mưu cầu tư lợi, đổ lỗi cho nhân quân, làm mất lòng tin của thiên hạ? Tội ác của bề tôi, còn gì nặng hơn thế!

Kính nghĩ Bệ hạ kế thừa đại thống, xưng tôn ngự trị, ơn sinh dưỡng, lẽ nên đền đáp sâu nặng. Nhưng nên đợi đến khi tang lễ Tiên đế hoàn tất, đức trạch của Bệ hạ đã thấm nhuần, sau đó mới bàn đến điển lễ, tôn vinh thân thuộc. Huống chi Tu là người học rộng hiểu sâu cổ kim, tinh thông văn sử, rõ biết nghị luận của Sư Đan là chính đạo, thuyết của Đổng Hoằng là tà thuyết, thế mà lại để lợi dụ dỗ lòng mình, thần linh cướp mất sự sáng suốt, bỏ nghĩa ‘ba năm không đổi’, quên tiết tháo ‘chết thì chết, không hai lòng’. Linh cữu của Nhân Tông vừa mới hợp táng, đất lăng chưa khô, mà đã vội mở lời trái lễ, muốn theo vết xe đổ của thời suy vi, khiến Bệ hạ ngoài thì mất lòng bề tôi bốn biển, trong thì trái với nghị luận của khanh sĩ tả hữu. Tội của Tu, sao có thể tha thứ được!

Bệ hạ từ khi lên ngôi đến nay, chăm chỉ trị vì, gặp tai ương thì lo sợ, có phong thái của Chu Tuyên Vương, chí thành cảm động thần linh, noi theo đức hạnh của Ngu Thuấn. Đến như việc từ chối các tôn hiệu được tấn phong, đều là tiết tháo khó làm của các đời trước, chính sự đáng ghi của triều đại thịnh trị, nếu suy rộng ra thì khí hòa có thể đạt được. Thế mà trong ngoài nhân tình xôn xao không yên, thực là do tà thuyết gây chấn động, đại nghị chưa quyết định. Nay nếu không sửa đúng lễ của Bộc Vương thì không thể yên lòng dân chúng, không trị tội kẻ bề tôi đầu sỏ thì không thể làm trong sạch triều chính.”

Ngày Quý Dậu, lại tấu rằng: “Thần tuân thủ chức vụ trong triều đình, không thể dùng thuật trị nước của các bậc tiên triết thời xưa để mở rộng ý chí của bệ hạ, ban hành mệnh lệnh hợp lòng dân, khiến muôn dân vui mừng, cảm hóa thần kỳ. Lại vì muốn lấy lòng bệ hạ, đưa ra những lời tà thuyết, vi phạm lễ nghi, làm rối loạn pháp luật, không nghĩ đến đại nghĩa, khiến bệ hạ rơi vào chỗ sai lầm, mà bản thân lại tự đắc, cho mình là trung thần.

Đến khi các đại thần họp bàn, quan Lễ bộ thảo luận, kéo dài thời gian mà không quyết định được. Lại còn dẫn chứng những việc sai trái thời suy vi trước đây để biện minh cho lời lẽ gian trá, ngăn cản lời bàn chính đáng, lừa dối bệ hạ, tâm địa thực sự không trung thành. Làm bề tôi như vậy, sao có thể tham gia bàn việc nước được? Kỳ bao che cái ác, dung túng sai lầm, ngăn cản ý kiến công chúng. Công Lượng và Khái thì lấp lửng giữa hai bên, không hề biện minh chính đáng, cũng không phải là phong cách của bậc đại thần phò tá.

Kính mong bệ hạ quyết đoán, đem các chương sớ của thần trình lên trước sau, giao cho bên ngoài thi hành, để phân biệt chính tà, khiến thiên hạ tâm phục.”

[Lã] Hối và những người khác vẫn không ngừng bàn luận, còn Trung thư cũng dùng tráp tâu tự biện với bệ hạ rằng: “Thần trộm thấy triều đình bàn về điển lễ của Bộc An Ý vương, hai chế và quan Lễ bộ xin gọi là Hoàng bá. Trung thư bàn rằng việc này rất quan trọng, cần phải thận trọng, phải hợp với điển cố mới có thể thi hành. Còn danh xưng Hoàng bá, tra cứu trong kinh sử đều không có căn cứ. Vừa định giao cho Tam tỉnh và bá quan tham khảo ý kiến rộng rãi để tìm ra cách thích hợp. Bệ hạ đã hạ chiếu tạm dừng. Nhưng các ý kiến vẫn tranh cãi không ngừng. Thần cho rằng dù ý kiến nhiều, nhưng không ngoài ba điểm: Một là nên gọi là Hoàng bá, đó là lời nói vô căn cứ; Hai là giản lược tông miếu dẫn đến thiên tai, đó là lời vu khống trời người; Ba là không nên dùng Hán Tuyên Đế và Hán Ai Đế làm gương để làm rối loạn kỷ cương, đó là lời bàn không rõ đầu đuôi. Thần xin trình bày rõ từng điểm để bệ hạ phân biệt.

– Cẩn xét sách 《Nghi lễ tang phục ký》 viết: ‘Người làm con thừa tự, phải báo đáp cha mẹ mình[9].’ Báo đáp nghĩa là để tang cha mẹ một năm, gọi là hàng phục. Để tỏ rằng tang phục có thể giảm bớt, nhưng danh hiệu cha mẹ thì không thể thay đổi. Lại xét sách 《Khai Nguyên lễ》, 《Khai Bảo lễ》, 《Ngũ phục niên nguyệt》 và 《Tang phục lệnh》 của triều đình đều nói: ‘Người làm con thừa tự[10], để tang cha đẻ một năm, không dùng gậy’, bởi vì ân tình không gì nặng bằng cha mẹ đẻ, nên danh hiệu cha mẹ không thể thay đổi; nghĩa không gì nặng bằng việc kế thừa, nên phải giảm bớt tang phục. Đó là lễ do thánh nhân chế định, ghi trong sáu kinh, làm khuôn phép cho muôn đời, là căn cứ để Trung thư nghị bàn. Còn như việc gọi là Hoàng bá, xét trong sáu kinh không có, trong điển lễ và luật lệnh hiện hành của triều đình cũng không có, từ sau thời Tam đại, Tần, Hán đến nay, các Vua từ phủ đệ vào nối ngôi cũng đều không có, có thể nói là lời bàn vu vơ không căn cứ.

《Nghi lễ》 là văn trong sáu kinh của thánh nhân, 《Khai Nguyên lễ》 là lễ dùng trong ba trăm năm nhà Đường, 《Khai Bảo thông lễ》 là lễ dùng trong trăm năm nhà Tống, 《Ngũ phục niên nguyệt》 và 《Tang phục lệnh》 cũng đều do các triều Vua trước định ra, là chế độ hiện hành trong thiên hạ. Nay những người bàn nghị đều bỏ không dùng, chỉ muốn dùng lời bàn vu vơ không căn cứ của mình, đó là lý do không thể thi hành được.

– Điều thứ hai nói rằng việc giản lược tông miếu dẫn đến thủy tai. Thần trộm nghĩ rằng tai họa trời giáng đều là do việc của con người[11], nên từ xưa các bậc thánh vương[12], khi gặp tai họa đều lo sợ, thường tìm kiếm những thiếu sót trong chính sự để sửa chữa, hoặc tự biết lỗi lầm mà ăn năn sửa đổi, mong rằng có thể ngăn chặn sự trách phạt của trời.

Tuy nhiên, tất cả đều phải dựa vào việc con người đã làm rõ ở dưới, thì sự trách phạt của trời mới hiện ra ở trên. Nay việc bàn về Bộc Vương, vốn là do hai chế và các quan Lễ bộ vi phạm kinh điển, bỏ qua lễ nghi, dùng những lời suy đoán không có căn cứ, muốn định danh xưng Hoàng Bá. Trung thư nghi ngờ việc này chưa thể thi hành, bèn tra cứu điển lễ xưa nay, tuy có bằng chứng rõ ràng, nhưng cũng chưa dám tự tin mà quyết định, lại đưa ra ngoài triều để bàn rộng, nhưng bệ hạ lại vội ban chiếu dừng lại, muốn để các quan có trách nhiệm từ từ tìm hiểu điển lễ.

Như vậy, bề tôi thận trọng như thế, bậc quân chủ khiêm nhường như thế, quân thần không dám khinh suất bàn bạc và hành động bừa bãi, mà trời lại vội nổi giận giết hại người và vật, đó là điều thần cho rằng đã vu khống trời một cách nặng nề. Việc bàn cãi chưa quyết định, lại dừng không bàn nữa, mà vội cho rằng hai ngôi Vua và hai cha dẫn đến thiên tai, đó là vu khống con người một cách nặng nề.

– Thứ ba, việc dẫn chuyện Hán Tuyên Đế và Hán Ai Đế, thần xét theo 《Hán thư》, cha của Hán Tuyên Đế là Điệu Hoàng Khảo, ban đầu gọi là Thân, thụy là Điệu, chỉ đặt phụng ấp và lăng viên mà thôi. Sau đó đổi thành Hoàng Khảo[13], rồi lập miếu ở kinh sư. Hoàng Khảo là tên gọi khác của Thân, đều là cách con gọi cha. Các Nho gia thời Hán ban đầu không cho là sai. Từ thời Hán Nguyên Đế về sau, Cống Vũ, Vi Huyền Thành mới đề xuất ý kiến phá bỏ miếu thờ, trong mấy chục năm, việc phá bỏ và lập lại không thống nhất.

Đến thời Hán Ai Đế, Đại Tư đồ Bình Yến cùng 147 người dâng tấu nói: ‘Thân thụy là Điệu, chỉ đặt phụng ấp, đều hợp với kinh nghĩa.’ Điều này không phản đối việc Hán Tuyên Đế gọi Sử Hoàng Tôn là Thân. Việc hợp với kinh nghĩa, tức là 《Nghi lễ》 nói: ‘Người làm con thừa tự phải báo đáp cha mẹ.’ Chỉ vì việc lập miếu ở kinh sư làm loạn chiêu mục tổ tông nhà Hán, nên Bình Yến cho rằng hai dòng thống trị và hai cha là trái lễ, nên phá bỏ. Định Đào Cộng Vương ban đầu chỉ hiệu là Cộng Hoàng, lập miếu ở nước mình, Sư Đan cũng không bàn gì, đến sau lập miếu ở kinh sư, muốn bỏ chữ Định Đào, không gắn với nước, có ý tiến dần vào dòng thống trị nhà Hán, nên bị phản đối mạnh mẽ. Do đó, Sư Đan bàn rằng: ‘Thụy hiệu Định Đào Cộng Hoàng đã định trước, nghị không đổi nữa.’ Chỉ bàn việc lập miếu ở kinh sư là không thể.

Nay những người bàn việc không xét kỹ nghị luận ban đầu của triều đình, không tìm hiểu việc các quan thời Hán phản đối là gì, đó là điều thần gọi là không xét đến gốc ngọn. Nghị luận của Trung thư vốn cho rằng việc gọi Hoàng Bá là không có căn cứ, mà kinh lễ có nghĩa không đổi cha mẹ, danh hiệu chưa định, nên lễ tôn sùng đều chưa bàn đến, mà những người bàn việc đã dẫn chuyện nhà Hán bỏ quốc hiệu Định Đào lập miếu ở kinh sư, vu cáo triều đình, cho rằng can loạn đại thống, sao lại quá lời như vậy. Việc bỏ quốc hiệu mà lập miếu ở kinh sư, làm loạn chiêu mục tổ tông, đúng là việc đáng phản đối. Nếu quả thật có nghị luận này, đáng chỉ trích bọn thần là bề tôi gian tà, mà bậc quân chủ có sai lầm trong việc cử động.

Nhưng ý của bệ hạ chưa từng nghĩ đến điều này, mà Trung thư cũng chưa từng có nghị luận này, những người bàn việc không xét gốc ngọn, dẫn chuyện đáng phản đối thời Hán để làm lý lẽ, mà các quan bên ngoài cũng chưa biết ý định ban đầu của triều đình thế nào, chỉ thấy những người bàn việc nói lung tung[14], liền cho rằng muốn thêm việc trái lễ can loạn thống kỷ[15], tin là thật, nên mọi người đều nói một lời, tranh cãi không ngừng. Những người bàn việc muốn nhất định thực hiện thuyết Hoàng Bá vô căn cứ, dẫn đến thiên tai, hù dọa bậc quân chủ, mà nghị luận giữ kinh giữ lễ của Trung thư lại bị chỉ trích là lời gian tà.

Triều đình đối với các quan bàn việc, lẽ nên khoan dung, không muốn tranh biện với họ, mà các luận bàn bên ngoài cũng không thể đến từng nhà từng hộ để giải thích, lẽ phải trái không phân biệt, tình trên dưới không thông, đó là lý do tranh cãi không ngừng.

Người làm con thừa tự, đã coi người mình thừa tự là cha, thánh nhân lại giữ lại cha mẹ đẻ của mình, không phải là ý nghĩa uốn cong, mà từ khi có trời đất đến nay, chưa từng có đứa con nào sinh ra mà không có cha. Đã có cha mà sinh ra, thì không thể giấu đi nguồn gốc sinh ra mình. Người không có con có thể lấy con của tông thất làm thừa tự, đó là điều lễ cho phép, nhưng làm sao có thể có đứa con sinh ra không có cha để làm thừa tự? Đó là lý do thánh nhân không giấu việc người không có con lấy con người khác làm thừa tự, cũng không giấu việc người làm thừa tự có cha mà sinh ra, vì không lừa dối trời, không lừa dối người.

Vì vậy, người làm thừa tự, gánh vác trọng trách của tông tộc, đảm nhận việc của con cái, mà không trở về bản tông, cha mẹ đẻ của họ cũng không được tham gia vào việc đó. Đến việc tang phục, giảm bớt và hạn chế, có thể dùng nghĩa để quyết định. Chỉ có danh xưng cha mẹ là không thể thay đổi, vì lý lẽ không thể thay đổi, thay đổi là lừa dối trời và lừa dối người. Con cái mặc tang phục cho cha mẹ, gọi là chính phục.

Người xuất thân làm thừa tự, mặc tang phục tề suy một năm cho cha mẹ đẻ[16], gọi là hàng phục. Lại mặc tang phục trảm thôi ba năm cho cha thừa tự, gọi là nghĩa phục. Nay nếu coi cha đẻ là hoàng bá[17], thì Bộc An Ý Vương là ông nội bên ngoại, ngược lại chỉ mặc tiểu công, còn phu nhân của Bộc An Ý Vương, là mẹ đẻ chính thức, ngược lại mặc nghĩa phục. Từ Tông Ý trở xuống, anh em đẻ, theo lễ tuy giảm bớt, vẫn mặc đại công. Như vậy, lễ tề suy một năm, nay ngược lại thành tiểu công, lễ chính phục, nay ngược lại thành nghĩa phục, đối với cha đẻ chỉ mặc tiểu công, đối với anh em Tông Ý lại mặc đại công. Đó là lý do từ xưa đến nay không gọi cha đẻ là bá thúc, vì gọi như vậy thì điển lễ sẽ trái ngược, nhân luân sẽ hỗn loạn như thế.

Kính nghĩ Bệ hạ thông minh sáng suốt, lẽ nào không thấu hiểu. Nay ý kiến của mọi người như thế, ý kiến của Trung thư như thế, há sẽ theo ý mọi người sao? Nhưng ý kiến của mọi người không thấy có gì đúng; muốn trái ý mọi người sao? Thì từ xưa đến nay trị nước chưa từng có ai trái ý mọi người mà có thể làm nên việc. Thần mong Bệ hạ rộng lượng ban chiếu[18], công bố rõ ràng trong ngoài, rằng xưng Hoàng bá là không có căn cứ, quyết không thể gọi, mà điều muốn quyết định hiện nay chỉ là chính danh hiệu mà thôi. Đến việc lập miếu ở kinh sư, can thiệp vào kỷ cương, đều không phải là ý kiến ban đầu của triều đình, mong rằng mọi nghi ngờ sẽ được giải tỏa. Nếu biết như vậy mà vẫn cứ phải xưng Hoàng bá, thì dù Khổng Tử, Mạnh Tử sống lại cũng không thể biện giải được.”

Tờ tấu của Trung thư cần ghi chép đầy đủ, sau đó mới có thể thấy được lý do tại sao trên không nghe theo lời can gián của đài quan.

Ý Vua không thể không nghiêng về Trung thư, nhưng chưa vội ban chiếu. Các quan chấp chính bèn bí mật bàn bạc với nhau[19], muốn nhờ Hoàng thái hậu ban thư tôn Bộc An Ý vương làm Hoàng, phu nhân làm Hậu, hoàng đế xưng Thân; lại nhờ Vua ban chiếu khiêm nhường không nhận tôn hiệu, chỉ xưng Thân, lập miếu ngay tại vườn, để tỏ rằng đó không phải ý của Vua, và muốn làm bước đầu để ngày sau suy tôn.

[10] Ngày Bính Tý, Trung thư tấu sự tại điện Thùy Củng, lúc đó Hàn Kỳ đang trai giới vì việc tế tự, Vua đặc biệt sai trung sứ triệu đến để cùng bàn bạc. Sau khi lui ra, bên ngoài đồn rằng việc tôn hiệu cho Bộc vương đã được quyết định, Âu Dương Tu tự tay soạn hai bản chiếu thảo, một bản dâng lên Vua.

Giữa trưa, Thái hậu quả nhiên sai trung sứ mang văn thư phong kín đến Trung thư, các quan chấp chính nhìn nhau cười. Lữ Hối và những người khác nghe tin liền tấu: “Thần đây từ mùa thu năm ngoái đến nay, liên tiếp dâng sớ luận bàn việc Trung thư không nên đề nghị tôn hiệu bất hợp lễ cho Bộc vương, nhưng không được chấp nhận. Gần đây lại ba lần đàn hặc Âu Dương Tu là người khởi xướng tà thuyết, dẫn dụ Vua vào đường nịnh hót, cùng với Hàn Kỳ, Tăng Công Lượng, Triệu Khái đều do dự theo đuôi, không sớm biện chính, xin giao xuống hữu ty bàn tội, nhưng cũng chưa được thi hành. Đó là do thần đây tài cán nông cạn, không thể khai ngộ thánh tâm, sớm chấn chỉnh điển lễ. Lại không thể trừ khử gian ác, chỉnh đốn triều cương. Khiến cho đại nghị kéo dài không quyết, trong ngoài bàn tán xôn xao. Nếu cứ an nhiên hưởng lộc, không tự nhận tội, thì trên làm tổn hại đức của bệ hạ, dưới làm hỏng chức nghiệp của thần đây.” Bèn nộp lại cáo sắc của ngự sử, ở nhà chờ tội, xin sớm bị cách chức.

[11] Vua dùng ấn ngự bảo phong cáo sắc, sai nội thị Trần Thủ Thanh đến thúc giục Lữ Hối và những người khác trở lại đài làm việc. Lữ Hối và những người khác cho rằng lời tấu của mình không được dùng, tuy nhận cáo sắc nhưng vẫn ở nhà chờ tội.

[12] Ngày Đinh Sửu, Trung thư tấu sự, Vua lại sai trung sứ triệu Hàn Kỳ cùng bàn bạc. Liền ban sắc chỉ nói rằng theo thư tay của Hoàng thái hậu: “Ta nghe quần thần bàn xin hoàng đế phong tôn Bộc An Ý vương, đến nay chưa thấy thi hành. Ta xem lại sử cũ, mới biết đã có tiền lệ. Bộc An Ý vương, Tiếu Quốc Thái phu nhân Vương thị, Tương Quốc Thái phu nhân Hàn thị, Tiên Du huyện quân Nhậm thị, có thể cho hoàng đế xưng là thân, đồng thời tôn Bộc An Ý vương làm Bộc An Ý hoàng, Tiếu Quốc, Tương Quốc, Tiên Du đều xưng là hậu.”

Lại ban sắc chỉ nói rằng theo chiếu chỉ của Vua: “Trẫm được nghe lời dạy từ bi của Hoàng thái hậu, đã ban thư tay như trước. Trẫm vừa kế thừa đại thống, lo đức không đủ, lễ xưng thân, kính cẩn tuân theo lời dạy từ bi, còn lễ truy tôn, há dễ dàng đảm đương. Vả lại muốn lấy phần mộ làm vườn, ngay vườn lập miếu, để con cháu vương chủ trì việc thờ cúng, Hoàng thái hậu thấy lòng thành khẩn này, liền ban cho theo lời xin.”

Lại chiếu cho con của Bộc An Ý vương là Doanh Châu phòng ngự sứ Kỳ Quốc công Tông Phác, đợi khi mãn tang sẽ bổ làm Tiết độ quan sát lưu hậu, cải phong làm Bộc Quốc công, chủ trì việc thờ cúng Bộc vương.

Trước đó, Long Đồ các trực học sĩ kiêm Thị giảng Tư Mã Quang dâng lời tâu:

“Thần nghe nhiều lời đồn đại, chưa biết thực hư thế nào. Có người nói triều đình muốn truy tôn Bộc An Ý Vương làm An Ý Hoàng, nếu quả thật như vậy, thần e rằng không nên.

Bệ hạ đã là con thừa tự của Nhân Tông, theo lễ không được quay lại lo cho thân nhân riêng. Thần trước đây đã nhiều lần trình bày, không dám làm phiền thánh thính. Nay thần không biết ý của bệ hạ, nếu quả thật muốn truy tôn Bộc Vương, thì là để làm vinh hiển chăng? Để làm lợi ích chăng? Hay để có ích gì cho Bộc Vương chăng? Đời trước có trường hợp người thuộc chi thứ vào nối ngôi rồi truy tôn cha mình làm Hoàng, bắt đầu từ Hán Ai Đế. Sau đó, An Đế, Hoàn Đế, Linh Đế cũng làm như vậy. Ai Đế truy tôn cha là Định Đào Cung Vương làm Cung Hoàng, nay nếu truy tôn Bộc An Ý Vương làm An Ý Hoàng, thì chính là dùng phép của Ai Đế vậy. Bệ hạ có Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang không theo, lại theo bọn hôn chúa nhà Hán, há đủ làm vinh hiển sao? Ân trạch của Nhân Tông thấm sâu vào lòng người, lòng dân trong thiên hạ quy phụ bệ hạ, là vì bệ hạ được Nhân Tông chọn làm con nối dõi.

Nay bệ hạ đã được thiên hạ, lại gia tôn hiệu cho Bộc Vương, thiên hạ nghe thấy, ai chẳng chán nản, há đủ làm lợi ích sao? Ơn sinh dưỡng to lớn như trời, ai có thể quên được? Bệ hạ không quên ơn Bộc Vương, là ở trong lòng bệ hạ, không phải ở cái hư danh bề ngoài này. Con hiếu yêu cha mẹ thì nên tế lễ đúng lễ. Nay lấy cái hư danh phi lễ gia cho Bộc Vương mà tế lễ[20], thì đối với Bộc Vương quả thật có ích gì? Ba điều trên đều không đáng làm, mà bệ hạ lại làm, ấy là vì một hai đại thần trong triều đình tự biết trước kia đề nghị sai lầm, đã mang trọng trách với thiên hạ, nên muốn che đậy lỗi lầm, không nghĩ đến việc làm tổn hại đức của bệ hạ. Bệ hạ nghe theo, thần cho là sai lầm.

Thần lại nghe triều đình bàn định, muốn mượn tay thư của Hoàng thái hậu, và không xưng là “khảo” mà xưng là “thân“, dù có khéo léo che đậy trăm phương, rốt cuộc vẫn là phụ ơn tiên đế, tổn nghĩa của bệ hạ, trái lễ thánh nhân, mất lòng thiên hạ. Bề tôi trong triều đình chỉ có thể tự lừa dối mình, sao có thể lừa dối Hoàng thiên thượng đế và người trong thiên hạ được? Thần mong bệ hạ gấp bãi bỏ nghị định này, đừng để lời đồn lan truyền khắp nơi, thì thiên hạ may mắn lắm!

Thần nay tuy không làm Gián quan, nhưng trước đây đã từng tâu trình, thân là cận thần, gặp việc lớn được mất của quốc gia, không dám không nói.”

Đến khi chiếu chỉ ban xuống, Phán Thái thường tự Lữ Công Trước tâu rằng: “Thần trộm nghĩ, việc xưng ‘thân’ là do thời Hán Tuyên, các quan tâu xin theo lệ cũ của Sử Hoàng Tôn. Xét Hoàng Tôn chính là cha đẻ của Tuyên Đế, Tuyên Đế là người kế vị Chiêu Đế, nên lấy cháu của anh để kế thừa tổ tông[21], đối với nhà Hán không có sự nghi ngờ về hai đời. Sử Hoàng Tôn ban đầu không có tước hiệu, các quan tâu xin, nên tạm gọi là ‘thân’, sau đó đã định thuỵ hiệu, chỉ gọi là Điệu Viên. Như vậy, chữ ‘thân’ không phải là cách xưng hô thích hợp. Hơn nữa, bệ hạ với đức thánh minh, được Nhân Tông chọn từ dòng dõi bên ngoài, lên kế vị đại thống, dù là trẻ con ba thước trong thiên hạ cũng đều biết bệ hạ là con của Bộc Vương. Nay chỉ cần xây dựng vườn miếu, để con của vương thừa tự, như vậy đối với Bộc An Ý Vương không có nghĩa cắt đứt cha, đối với Nhân Tông không có sự nghi ngờ về hai đời, có thể nói là đạt được cả hai. Chữ ‘thân’ vừa khó xưng hô, lại không hợp nghĩa lý, thần xin bãi bỏ.” Không được trả lời.

Chiếu cho bách quan bàn việc truy tôn điển lễ, Thị giảng chư vương phủ Tôn Cố nói: “Lễ có thể thay đổi, nhưng thiên tính không thể thay đổi. Vương nên xưng là ‘thân’.” Bàn chưa xong, có chiếu bãi bỏ việc bàn luận. Ý kiến của Tôn Cố căn cứ vào bia thần đạo của nhà họ Phùng và minh văn trên mộ của Phó Nghiêu Dũ. Hoàng thái hậu viết tay, vì Trung thư dùng ý kiến của Tôn Cố.

[13] Ngày Mậu Dần, Lã Hối và các quan lại tấu rằng: “Thần trộm nghĩ, trước đây có chiếu chỉ cho ba tỉnh họp bàn, nhưng vì Hoàng thái hậu viết thư trách mắng các đại thần, nên việc họp bàn bị bãi bỏ. Nay lại có mệnh lệnh này, đầu đuôi trái ngược, khiến lòng người chấn động, càng thêm nghi ngờ. Nếu như ý Hoàng thái hậu muốn phong cha của Bệ hạ là Bộc vương làm Hoàng, làm Hậu, thì Bệ hạ nên xem xét việc đó có hợp lý hay không, dựa vào điển lễ mà các quan đã bàn, để quy chính sự việc. Sao có thể tuyên bố ra ngoài, rồi mới tỏ ra khiêm nhường? Như thế không chỉ làm lộ rõ sự sai lầm của chiếu thư, mà còn tổn hại đến đức yêu thương cha mẹ của Bệ hạ.

Nghe nói trước đây Ngự sử Phạm Thuần Nhân đến Trung thư, Tăng Công Lượng, Âu Dương Tu, Triệu Khải đều nói rằng trong cung đã bàn bạc, nhất định phải làm sao để việc này có thể thực hiện lâu dài. Nay thấy mệnh lệnh ban xuống, thật sự biết rằng các đại thần đã có mưu tính từ trước. Người đầu tiên đề xuất ý kiến muốn thay đổi việc này, từ bên ngoài áp đặt vào trong, chỉ để tránh bị trách phạt nặng, khiến thiên hạ oán trách đổ lên đầu nhà Vua, nay lại đẩy sang Hoàng thái hậu, như thế có thể gọi là trung thành sao?

Huống chi Bộc vương đã được phong đất lớn, nhưng điển lễ vẫn còn thiếu sót, trước có chiếu chỉ tạm bãi, sau lại có lời nói muốn thực hiện, truyền ra bốn phương, ai dám tin? Việc lập miếu ở vườn[22], đều không thích hợp, con nối dõi được tập phong, mới là hợp lễ.

Thần kính xin Bệ hạ nghĩ đến, thuận theo lòng người, lại ban xuống chỉ dụ để bàn bạc thêm, nhằm đạt được sự thỏa đáng[23]. Nếu không quy tội cho người đầu tiên đề xuất ý kiến, thì thiên hạ sẽ càng nghi ngờ, không thể giải tỏa được, tấm lòng chí công của Bệ hạ cũng không thể tỏ rõ. Thần đóng cửa chờ tội, lo sợ bàng hoàng, chỉ mong Bệ hạ sớm ban xuống quyết định sáng suốt.”

[Phạm] Thuần Nhân lại dâng tấu riêng: “Hoàng thái hậu từ khi rút màn nhiếp chính, đã ở sâu trong cung cấm, chưa từng can dự vào chính sự bên ngoài, há lại nên ban chiếu lệnh, có những sắp đặt gì? Đó là do các quan trong triều đình chỉ muốn che đậy lỗi lầm, không nghĩ đến nguồn gốc của loạn lạc trong triều đình.

Hơn nữa, từ thời Tam đại đến nay, chưa từng có chiếu lệnh của mẫu hậu ban ra trong triều đình. Từ thời Tần, Hán về sau, mẫu hậu mới tham gia vào chính sự của Vua trẻ. Từ đó, các quyền thần muốn làm những việc phi thường, ắt phải mượn chiếu lệnh của mẫu hậu để thực hiện ý đồ của mình, thường là do bị ép buộc, mà thiên hạ cuối cùng không biết việc là do quyền thần chủ trương.

Nay bệ hạ là bậc quân chủ trưởng thành, trị vì đã bốn năm, mọi việc lớn nhỏ đều nên do bệ hạ quyết đoán. Trong cung, chỉ nên hết lòng hiếu kính, lo đủ sự nuôi dưỡng khắp bốn biển mà thôi. Há lại cần phiền đến mệnh lệnh từ hậu cung, làm rối loạn quốc chương? Một khi mở đầu việc này, tệ hại sẽ rất lớn. Ngày sau, nếu có kẻ quyền thần giả mạo mệnh lệnh, đó chẳng phải là kế sách an toàn cho bậc quân chủ.

Kính mong bệ hạ xem xét kỹ lời thần, thu hồi chiếu lệnh trước. Phàm những việc liên quan đến điển lễ của Bộc vương, bệ hạ tự có thể chọn lấy ý kiến chung mà thi hành, cần gì phải dùng mệnh lệnh của mẫu hậu, ban ra trong triều đình của bậc quân chủ trưởng thành?”

Hàn Kỳ thấy tấu của Thuần Nhân, nói với các đồng liêu: “Kỳ với Hi Văn, ân tình như anh em, xem Thuần Nhân như con cháu, sao lại nỡ công kích nhau như thế?”

Hôm đó, Cáp môn hai lần truyền chiếu dụ Hối và các quan đến đài nhận chức, Hối và các quan lại tấu rằng: “Thần gần đây đã dâng tấu đàn hặc các phụ thần, xin chính đại nghị để rửa tiếng xấu cho Vua cha, muốn trừ bọn gian thần bên cạnh. Lòng trung ngu muội phẫn uất, sa vào tội tiếm việt, đến nỗi dâng trả cáo mệnh, tự ý rời bỏ chức vụ, tình tuy yêu Vua, nhưng tội thực là vi pháp. Kính mong bệ hạ tha thứ tội lỗi, dụ lệnh nhận chức, thần chỉ mang ơn bệ hạ khoan dung, chưa thấy pháp chế triều đình được chính đáng. Nay lễ điển của Bộc vương tuy bỏ tên hiệu đặc biệt, nhưng kẻ khởi xướng tà nghị vẫn chưa bị trách phạt rõ ràng, trong ngoài vẫn còn nghi ngờ, thần sao dám tự dừng lại? Kính xin xét lại tấu chương trước, trị tội kẻ cầm đầu để yên lòng công luận. Nếu thần tự ý nộp cáo mệnh bỏ chức, cũng mong thi hành, cam chịu cùng tội nhân bị trừng trị, hổ thẹn cùng gian thần tiến thân.”

Ngày Kỷ Mão, [Lã Hối và các quan] lại tấu rằng: “Việc ngày nay khác với thời Hán Tuyên, lúc đó Thái tử và Hoàng tôn đều chết ở ngoài, nên chôn cất tại nơi đó, vì thế gọi là Điệu viên. Sau khi Hán Tuyên Đế lên ngôi được tám năm, Hữu ty tâu rằng cha là kẻ sĩ, con là Thiên tử, nên tế tự theo lễ Thiên tử, Điệu viên nên được tôn hiệu là Hoàng khảo, dựng miếu, lấy vườn làm lăng. Sau đó, các nghị viên cho rằng cha là kẻ sĩ, con là Thiên tử, tế tự theo lễ Thiên tử, là chỉ các vị Vua như Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Chu Văn, Hán Cao nhận mệnh trời, chứ không phải là người kế thừa ngôi vị, miếu Hoàng khảo Điệu viên nên phá bỏ, không tu sửa, và được chấp thuận.

Nay Bộc vương được chôn cất cùng Hi Lăng, xếp theo thứ tự con cháu, phụng ấp và thủ vệ đều đã chuẩn bị đầy đủ. Nếu phải dựng thêm vườn lăng, mở rộng quy chế, thì cần phải xem lại, thay đổi nơi an táng. Không chỉ Hi Lăng bị cách biệt, mà cũng không khác gì Nhuận vương, xét về điển lễ, e rằng chưa ổn. Hán Điệu hoàng chỉ có một con là Hán Tuyên Đế, tuy kế thừa đại tông, nhưng không đoạn tuyệt việc thờ cúng tiểu tông, nên dựng miếu lăng, không phải là quá đáng. Các nghị viên vẫn nói rằng miếu Hoàng khảo Điệu viên nên phá bỏ, không tu sửa. Bởi lễ không vượt quá phép tắc, mà phải chuyên tâm vào Chiêu Đế.

Huống chi Bộc vương có nhiều con cháu, việc thờ cúng vốn đã đủ, sao lại thiếu? Bệ hạ chuyên tâm vào Nhân miếu, lại để ý đến thân nhân riêng, cho thiên hạ thấy, thì công luận sẽ nghĩ sao! Thần nghĩ ý của hai chiếu chỉ đều xuất phát từ các quan đầu tiên đề nghị, hoàn toàn bắt chước việc Định Đào, rồi theo dấu vết của Ai Đế. Trước nói ‘tạm ngưng’, mọi người đều cười thầm, nay lại nói ‘muốn thế’, ai sẽ tin? Lòng thành tiếp đãi còn có thể bị phản bội, huống chi dùng mưu mẹo để đối xử với người, sao có thể lâu dài được!

Bệ hạ không nghĩ đến ân đức của Tiên đế, uy linh của Thất miếu, thăng giáng tại triều, là nơi liên quan đến họa phúc. Thần tuy ngu dốt, nhưng trong lòng thực sự lo lắng. Kính mong Thánh từ trước hết đề cao hiếu đạo, đừng mê hoặc bởi tà thuyết, làm rối loạn điển chương. Hãy thuận theo lòng dân, đáp lại ý trời, chỉ đạo về viên miếu nên đặc biệt thu hồi, các quan đầu tiên đề nghị không thể tha thứ. An ủi trong ngoài, đây là việc cấp bách. Tội của thần không dám trốn tránh, mong sớm bị cách chức.”

Ngày Canh Thìn, [Lã Hối và các quan] lại tâu rằng: “Bọn thần vốn thấy Âu Dương Tu là người đầu tiên khởi xướng tà thuyết, làm mê muội thánh tâm, Hàn Kỳ cùng những người khác lại do dự không chịu phản bác, không sớm biện chính, nhiều lần dâng tấu xin thi hành triều điển.

Gần đây thấy thư tay của Hoàng thái hậu, việc truy tôn đã dùng lễ nghi của thời Ai Đế, Hoàn Đế, thời suy vi, lại trùng hợp với nghị bàn trước đây của triều đình. Các luận bàn trong ngoài đều cho rằng Hàn Kỳ đã bí mật giao kết với trung quan Tô Lợi Thiệp[24], Cao Cư Giản, làm mê hoặc mẫu hậu, nên mới có chỉ dụ này. Đó là muốn đổ lỗi cho bậc chí tôn, tự che đậy tội ác của mình. Dấu vết lộ liễu, càng muốn che đậy càng lộ rõ, dám lừa dối Vua, phụ bạc nước nhà như vậy. Bệ hạ biết việc đó không thể được, vội hạ chiếu tay, tuy bỏ tôn hiệu, nhưng vẫn cho phép xưng thân. Tội của kẻ đề xuất ý kiến chưa bị trừng phạt.

Bệ hạ dù cho rằng các phụ thần cùng bàn luận, khó có thể hoàn toàn trách cứ, nhưng Tu là kẻ đầu sỏ, sao có thể khoan dung? Phàm bề tôi phạm tội với Vua, còn có thể tha thứ, nhưng Tu phạm tội với tổ tông, nên không có lý do để tha. Từ trước đến nay, đại thần phạm lỗi, bị Hiến ty hặc tấu, thường đều lo sợ, dâng chương nhận tội, vì là bề tôi có quyền thế, lẽ ra phải như vậy. Nay Tu vẫn ngạo nghễ, ra vào như cũ, lại còn giả vờ gian trá, mê hoặc trong ngoài. Bệ hạ thánh giám sáng suốt, xem xét hành vi của Tu, nếu buông lỏng kiềm chế, còn gì không dám làm?

Kính mong bệ hạ đặc biệt ra quyết đoán, cách chức trách phạt Tu. Bọn thần cũng có tội không hợp lệ khi nhận cáo từ bỏ chức, cũng xin cùng một lúc thi hành, bọn thần dù chết cũng như sống. Bọn thần với Tu, lý không thể cùng tồn tại, Tu nếu không bị cách chức, thần rốt cuộc không có lý do để nhậm chức.”

Lại tâu: “Người ngoài đều nói Hàn Kỳ sai Cao Cư Giản, Tô Lợi Thiệp làm mê hoặc Thái hậu mà ban thư tay, Bệ hạ biết việc ấy không thể, vội ban chiếu tay. Việc ấy đúng hay không thì không thể biết được, nhưng Kỳ cùng bọn nội thần bên trong bên ngoài giả mạo, để mê hoặc trong ngoài, làm bề tôi bất trung, không gì lớn hơn thế. Thần cho rằng bề tôi trung với Tiên đế, ắt sẽ trung với Bệ hạ, như Kỳ cùng Tu, phụ bạc Tiên đế, mờ ám Thái hậu, há có thể hết lòng trung với Bệ hạ? Nên suy xét kỹ càng, minh sát, đừng để hối hận về sau. Xin đem chương tấu này của thần xuống cho bá quan cùng bàn tội của Âu Dương Tu là kẻ đứng đầu, Hàn Kỳ sai Cao Cư Giản làm mê hoặc Thái hậu. Nếu không, sự nghi ngờ trong thiên hạ không thể giải tỏa, lời gièm pha của quân phụ không thể biện bạch.”

Ngày Tân Tỵ, [Lã Hối và các quan] lại tấu rằng: “Chiếu chỉ viết: ‘Lễ xưng thân, cẩn tuân theo lời dạy của mẹ hiền, lễ truy tôn, há dễ dàng chấp nhận.’ Vốn đã thấy bệ hạ giữ nghĩa vì công, thận trọng đến cùng cực. Nhưng lễ xưng thân, thật là chưa ổn, lời bàn tán xôn xao, không thể không than thở phẫn nộ.

Thần trộm nghĩ, ý của Thái hậu trong chiếu chỉ ‘xưng thân’, là dùng theo tích xưa của Hán Tuyên Đế, muốn áp dụng vào hiện tại, điều này lại trùng hợp với việc Trung thư trước đây đề nghị tôn Hoàng khảo, đại thể tương đồng, như thế không tránh khỏi sai lầm về hai hệ thống và hai cha. Vì thế, những người bàn luận xôn xao, đều cho rằng thư tay của mẹ hiền không phải là ý muốn thật sự của Từ Thọ, mà đều là do các quan đề nghị mê hoặc, kết hợp với nhau, thực hiện mưu kế, muốn che đậy tội lỗi của mình, và bịt miệng những người nói thẳng.

Bệ hạ lúc mới kế thừa, khác với tích xưa của Hán Tuyên Đế. Thời Hán Tuyên Đế, còn có quan lại tấu trình, lễ làm con của người khác, xin hãy xem việc làm của Hiếu Chiêu Đế, chưa từng có việc bảo mẹ đẻ của dòng chính thống đại tông lại truy tôn mẹ đẻ của tiểu tông làm thân. Làm rối loạn lễ pháp, mất đi ý nghĩa ban đầu. Nếu muốn theo tích xưa của Hán Tuyên Đế, lấy Bộc Vương làm thân, thì Tương Quốc đã giáng xuống, tự nhiên phải làm mẹ, như thế Hoàng Thái hậu sao có thể yên ổn được! Kính nghĩ bệ hạ thân nhận chiếu mệnh của Nhân Tông mà làm con, nên di chiếu của Tiên đế, tuyên bố khắp thiên hạ, gọi bệ hạ là Hoàng thái tử, lên ngôi Hoàng đế, bốn phương và Trung Nguyên, không ai là không nghe. Nay lại xưng Bộc Vương là thân, thì chiếu mệnh trị vì của Tiên đế không còn hiệu lực, mà nghĩa kế thừa của bệ hạ cũng không thống nhất.

Huống chi Thái hậu cùng các đại thần trong triều đình, đều nhận sự ủy thác của Tiên đế, lời nói còn văng vẳng bên tai. Đất lăng Vĩnh Chiêu chưa khô, chỉ vì mưu kế của một hai kẻ gian thần, mà quên đi không đoái hoài, đẩy hai cung vào chỗ có lỗi, khiến bốn phương nghi ngờ di chiếu của Tiên đế, nghi ngờ hành động sai trái của bệ hạ. Chuyển lòng ca ngợi vui mừng thành khí phẫn bất bình, há chẳng đau lòng sao! Nếu như kẻ địch xảo quyệt, dân gian gian ác, lấy di chiếu của Tiên đế để chất vấn, thì các đại thần chấp chính sẽ lấy lời gì để đối đáp? Như vậy, lễ xưng thân há nên dùng nhẹ? Những kẻ đầu tiên đề nghị sao có thể không bị trừng phạt?

Thần đang chịu tội ở nhà, nhiều lần được chiếu chỉ thúc giục đến nhậm chức, nhưng vẫn e dè chưa dám nhận mệnh, vì lý do này. Nếu nhất định bắt thần đến nhậm chức, thì sẽ hợp sức tranh luận ở triều, để cứu vãn sai lầm của triều đình. Dù bệ hạ bao dung lời nói thẳng, được thiên hạ biết đến, nhưng tội của thần không thể sớm tỉnh ngộ trước minh chủ, càng thêm nặng nề, há có thể lại giữ chức vụ giám sát, làm quan tai mắt được sao? Lòng thành khẩn, dù chết cũng không thay đổi, mong bệ hạ lưu tâm nghe theo.”

Vua sai Trung thư ban trát tử thúc giục đến Đài nhậm chức, nhưng Hối cùng mọi người trả lại trát tử, cùng với chín bản tấu trước sau gửi lên Trung thư, kiên quyết từ chối chức vụ ở Đài.

[14] Hôm đó, Vua ban chiếu lệnh kiêng húy một chữ trong tên của Bộc An Ý Vương; đặt chức Viên lệnh của Bộc An Ý Vương một người, lấy Đại sứ thần làm chức này; chiêu mộ 200 binh lính, lấy tên “Phụng Viên” làm biên chế; lại lệnh cho Hà Nam đặt 50 hộ trồng cây bách; sai Đái ngự khí giới Vương Thế Ninh tạm quyền Phát khiển Hộ bộ Phán quan Trương Huy đo đạc địa đồ miếu vườn của Bộc An Ý Vương. Tất cả đều theo lời tâu của Trung thư.

Lữ Công Trước tâu: “Xét theo lễ văn, chữ húy của bảy miếu, dù không phải là Vua thiên hạ, cũng đều ban cáo thiên hạ. Lại xét việc bàn về chữ húy của cha mẹ đẻ của Thượng thư nhà Tấn là Vương Bưu Chi, bề tôi không nên kiêng húy, lúc đó cho rằng ý kiến của Bưu Chi là đúng. Nay các phụ tá tâu xin, có lẽ là do lòng bề tôi thấy bệ hạ chưa có lời lẽ khiêm tốn, sợ rằng bốn phương và hậu thế sẽ không tránh khỏi chê cười. Thần ngu muốn xin đặc biệt ban chiếu chỉ, chữ dưới tên Bộc An Ý Vương, chỉ những người dâng sớ tâu việc mới được đổi, còn các văn tự công tư khác không cần kiêng húy, để có chút khác biệt với chữ húy của bảy miếu tổ tông. Đối với bề tôi trong thiên hạ, cũng không dám phạm.” Vua không nghe theo.

[15] Ngày Nhâm Ngọ, Vua xuống chiếu bãi bỏ việc Thượng thư tỉnh tập hợp bàn về điển lễ của Bộc An Ý vương. Trung thư dâng lên tờ tấu của Lã Hối và những người khác, Vua hỏi các quan chấp chính nên làm thế nào, Hàn Kỳ đáp: “Bọn thần trung hay tà, bệ hạ đều biết.” Âu Dương Tu nói: “Ngự sử cho rằng lý khó cùng tồn tại, nếu cho bọn thần là có tội thì nên giữ lại ngự sử, nếu cho bọn thần là vô tội thì xin tuân theo thánh chỉ.”

Vua do dự hồi lâu, rồi hạ lệnh cách chức ngự sử. Sau đó nói: “Không nên trách phạt quá nặng.” Lã Hối bị cách chức Thị ngự sử tri tạp sự, giáng làm Công bộ viên ngoại lang, nhậm chức Tri châu Kỳ; Thuần Nhân giữ chức Thị ngự sử, thông phán châu An; Đại Phòng bị cách chức Giám sát ngự sử lý hành, giáng làm Thái thường bác sĩ, nhậm chức Tri huyện Hưu Ninh.

Theo lệ cũ, khi chức Tri tạp ngự sử bị cách, đều có cáo từ, lúc đó Tri chế cáo Hàn Duy đang trực, lại kiêm lĩnh chức Thông tiến ngân đài ty, Môn hạ phong bác sự, các quan chấp chính sợ Duy từ chối việc soạn cáo từ và phong bác sắc mệnh, bèn trực tiếp đưa sắc lệnh đến nhà Lã Hối và những người khác, lấy lý do họ nhiều lần không tuân theo thánh chỉ đến đài làm việc để kết tội Hối.

[Hàn] Duy tâu: “Việc cách chức ngự sử liên quan đến chính thể, mà không để các cơ quan hữu quan biết trước, sự sai lầm về kỷ cương không gì lớn hơn thế. Nên thu hồi sắc lệnh cách chức Hối, thông qua Ngân đài ty, để thần được trình bày ý kiến nhằm chấn chỉnh quan pháp.”

Lại tâu: “Hối là người trung thành của nước, xét lòng họ, chỉ muốn bệ hạ tuân theo phép tắc của tiên vương mà thôi! Sĩ đại phu tham lam lợi lộc, dù có thưởng hậu phạt nặng cũng sợ phong khí không thay đổi, mà lại còn nghe theo tà thuyết, bài xích người chính trực, từ đây tai mắt bệ hạ càng bị che lấp.”

Lại xin được đối đáp, bàn kỹ về sai lầm đó, xin thu hồi sắc lệnh trước, lệnh cho trăm quan bàn kỹ để thỏa lòng dân, lại triệu Hối về giữ chức cũ để giữ vững chính thể. Vua đều không nghe.

(Xét 《Tống sử》, khi Hối bị cách chức, Duy đã dâng lời can gián như vậy, nên các quan chấp chính sợ ông không chịu soạn cáo từ, xét tình hình thì có vẻ đúng sự thật.)

[16] Ngày đó, Vua xuống chiếu cho các chức Hàn lâm học sĩ, Tri chế cáo, Ngự sử trung thừa, Tri tạp, mỗi người tiến cử hai người làm Ngự sử, và lấy Khởi cư xá nhân, Đồng tri gián viện Phó Nghiêu Dũ kiêm chức Thị ngự sử tri tạp sự.

Tư Mã Quang tâu rằng: “Vua lo không nghe được lỗi lầm của mình, bề tôi lo không thể hết lòng trung thành, vì thế bề tôi trung trực dám nói thẳng là báu vật quý giá nhất của quốc gia. Với địa vị tôn quý của bậc quân vương, xuống đối với quần thần, giữ nét mặt hòa nhã để cầu lời can gián, trọng thưởng tước lộc để khuyến khích người, thế mà quần thần vẫn e dè không dám tiến cử, huống chi nếu dùng uy thế để làm họ sợ, dùng hình phạt để trừng trị, thì lời hay từ đâu mà đến?

Thần nghe nói Thị ngự sử tri tạp sự Lã Hối, Thị ngự sử Phạm Thuần Nhân, Giám sát ngự sử lý hành Lã Đại Phòng vì bàn việc lễ nghi của Bộc vương mà đều bị khiển trách giáng chức, trong ngoài nghe tin đều kinh ngạc. Thần xem ba người này, trung thành sáng suốt, cương trực, lo việc công quên việc nhà, tìm trong quần thần hiếm có ai sánh được. Nay một sớm một chiều vì nói việc quá thẳng thắn mà đều bị đày đi xa, thần thật tiếc cho triều đình.

Thần nghe nói điều khiến bậc quân vương được yên vinh, không gì lớn hơn là được lòng dân. Nay bệ hạ chiều theo tình cảm của một hai người trong triều đình, trái với công luận của cả triều, tôn sùng Bộc vương vượt quá lễ chế. Người trong thiên hạ đã biết bệ hạ là con cháu của Nhân Tông, nhưng chí hướng không chuyên nhất, nên đều thất vọng. Nay lại bắt những bề tôi dám nói thẳng, đuổi đi hàng loạt, thần e rằng sẽ làm tổn hại đến đức lớn của bệ hạ, thiệt hại không nhỏ. Trong dân gian, nhiều người đã lén lút chê trách, than thở.

Huống chi Thuần Nhân, Đại Phòng đều là người bệ hạ chọn lựa từ trong đám đông, giao cho chức vụ làm tai mắt, vì muốn lấy sự trung trực của họ, chứ không phải sự nịnh hót. Thuần Nhân, Đại Phòng cũng muốn hết lòng trung thành để báo đáp sự tin dùng của bệ hạ, nên không dám a dua theo triều đình, thẳng thắn bàn luận chính sự, nay lại vì thế mà bị tội, thì bệ hạ trong quần thần còn thân cận với ai? Nếu để người ngay thẳng ngày càng bị bài xích, kẻ nịnh hót ngày càng được tiến cử, thì bệ hạ làm sao biết được thiện ác của bề tôi, được mất của chính sự? Như thế, e rằng không phải là phúc của quốc gia!

Thần mong bệ hạ hãy nhanh chóng cho Lã Hối và những người khác trở lại làm việc, thì thiên hạ sẽ đồng lòng ca ngợi sự sáng suốt của bệ hạ, dù là Vua Vũ thích nghe lời hay, Vua Thang sửa lỗi không ngại, cũng không hơn được[25]. Nếu không, thì hãy đổi cho họ một chức quan gần hơn, cũng có thể phần nào an ủi lòng người bên ngoài.”

Lữ Công Trước tâu rằng: “Lã Hối và những người khác vì bàn việc quá mức mà đều bị giáng chức. Từ khi nghe tin, dư luận xôn xao, đều nói rằng từ khi bệ hạ lên ngôi đến nay, phong khí tiếp thu lời hay, nghe lời can gián chưa thể hiện ra thiên hạ, nay Lã Hối và những người khác lại bị đuổi hết khỏi đài quan, thần e rằng người có nghĩa sẽ ngậm miệng, bề tôi trung thành sẽ tan rã. Vả lại từ xưa đến nay, bậc quân vương nghe lời can gián thì hưng thịnh, từ chối lời can gián thì suy vong, cơ hưng vong không thể không xem xét kỹ.

Thần mong bệ hạ lấy lượng cả như trời đất, bao dung mọi điều, đặc biệt thu hồi chiếu chỉ giáng chức của Lã Hối và những người khác, cho họ tiếp tục giữ chức vụ cũ, thì thiên hạ thật may mắn!”

[17] Tháng hai, ngày mùng một Ất Dậu, có hiện tượng bạch hồng xuyên qua mặt trời.

[18] Điện trung thừa Tô Thức được bổ nhiệm làm Trực sử quán. Khi còn ở phủ đệ, Vua đã nghe danh Tô Thức, muốn theo lệ cũ đời Đường triệu vào Hàn lâm, liền trao chức Tri chế cáo. Hàn Kỳ nói: “Tô Thức là người có tài năng lớn, ngày sau tự nhiên sẽ được dùng trong thiên hạ. Nên để ông ở triều đình để bồi dưỡng, khiến các sĩ tử trong thiên hạ đều kính phục, sau đó mới dùng, thì mọi người sẽ không còn dị nghị. Nay vội dùng, e rằng các sĩ tử trong thiên hạ chưa chắc đều đồng tình, chỉ làm hại ông mà thôi.”

Vua hỏi: “Nếu chưa thể trao chức Tri chế cáo, thì chức Tu khởi cư chú có được không?” Kỳ đáp: “Chức Ký chú gần với chức Chế cáo, chưa thể trao ngay. Chi bằng chọn một chức gần với chức cao trong quán các mà trao, và theo lệ gần đây nên triệu để khảo hạch.”

Vua nói: “Chưa biết khả năng của ông nên mới khảo hạch. Như Tô Thức mà không làm được sao?” Kỳ nói “Không thể”, rồi khảo hạch và bổ nhiệm.

Sau này, Âu Dương Tu kể lại chuyện này với Tô Thức, Thức nói: “Cách đối đãi của Hàn công với tôi, chính là điều mà người xưa gọi là quân tử yêu người bằng đức vậy.”

[19] Ngày Canh Dần, theo lời thỉnh cầu của Tri Khai Phong phủ Thẩm Cấu, tăng thêm một chức Phán quan, lấy Từ bộ viên ngoại lang, Bí các hiệu lý Tôn Thản làm chức này, chuyên quản lý các công việc ở sứ viện. Khai Phong phủ có hai chức Suy và Phán quan, mỗi chức hai người, ngày thường chỉ xử lý các vụ kiện tụng của hai quân. Các vụ án thường bị đình trệ, dễ sinh gian lận. Sau khi tăng thêm chức Phán quan, mọi người đều thấy thuận tiện. Thản nhân đó soạn ra bốn mươi chín điều làm thành quy tắc về sau. Thản là người Khai Phong.

[20] Ngày Bính Thân, Tri chế cáo Hàn Duy tâu: “Theo chiếu cử Ngự sử, nhưng vì thần gần đây nhiều lần tấu xin truy phục cho Lã Hối, nên chưa dám nhận chiếu cử Ngự sử.” Vua hạ chiếu cho các môn nạp chiếu vào Trung thư.

[21] Ngày Ất Tỵ, Thiệu Kháng, chức Dực Thiện của phủ Dĩnh Vương, tấu rằng: “Hoàng tử Dĩnh Vương, thiên tư sớm tỏ rạng, đã đến tuổi kết hôn. Đây là lúc bệ hạ mới lên ngôi, mà người con trưởng cũng đã đến tuổi thành gia, xét về lễ nghi, không gì quan trọng hơn việc này. Thần thấy rằng trong triều đình, việc thân vương kết hôn, tuy trong 《Khai Bảo Thông Lễ》 có quy định cũ, nhưng chưa từng được thực hiện, thậm chí có những tục lệ như dê rượu đặt trước cửa, tiền bạc đặt trong tủ, đều là chuyện tầm thường nơi thôn dã, không phải là điều mà bậc sĩ đại phu nên nói đến, nay lại xuất hiện trong thánh triều, thần thấy không ổn. Xin hạ lệnh cho Thái Thường Lễ Viện nghiên cứu kỹ các điển lệ cũ, soạn thảo nghi thức kết hôn cho Dĩnh Vương, những tục lệ không phù hợp với lễ nghi, xin bãi bỏ hết.” Vua hạ chiếu cho Lễ Viện xem xét kỹ.

Lễ Viện tấu: “Trong 《Khai Bảo Thông Lễ》 có quy định về việc thân vương kết hôn, bao gồm các lễ: Nạp Thái, Vấn Danh, Nạp Cát, Nạp Thành, Thỉnh Kỳ, Thân Nghênh, Đồng Lao, nhưng triều đình chưa từng áp dụng. Nay kiểm tra lại 《Hội Yếu》 của triều đình, thấy có quy định về số lượng lễ vật trong hôn lễ của hoàng thân, xin theo như 《Hội Yếu》.” Vua đồng ý.

[22] Tháng ba, ngày Đinh Tỵ, Vua ban yến cho quần thần tại các vườn thượng uyển.

[23] Ngày Kỷ Mùi, sao chổi xuất hiện vào buổi sáng ở phương Bích[26], dài khoảng bảy thước. (《Bản Kỷ》 chép vào ngày Canh Thân, nay theo 《Thực Lục》 và 《Bản Chí》. Xét 《Tống Sử》 chép là sao chổi xuất hiện vào buổi sáng ở phương Thất.)

[24] Ngày Tân Dậu, Khởi cư xá nhân kiêm Đồng tri Gián viện Phó Nghiêu Dũ, Thị ngự sử Triệu Đỉnh, Triệu Chiêm từ sứ mệnh Khiết Đan trở về, vì trước đây từng cùng Lã Hối bàn việc Bộc vương, nên đều ở nhà chờ tội. Phó Nghiêu Dũ từ chối nhận cáo điệp bổ nhiệm chức Thị ngự sử Tri tạp sự mới, dập đầu trước mặt Vua tâu: “Thần trước đây đã dâng lời khuyên can trước Lã Hối, nay Lã Hối bị đuổi mà thần lại được thăng chức, thần không dám nhận chức.”

Vua nhiều lần dụ giữ Phó Nghiêu Dũ lại, nhưng Phó Nghiêu Dũ vẫn cố xin từ chức. Vua bèn bổ nhiệm Phó Nghiêu Dũ làm Tri châu Hòa Châu, Triệu Đỉnh làm Thông phán Truy Châu, Triệu Chiêm làm Thông phán Phần Châu. Trước đó, Triệu Chiêm nhận lệnh tiếp sứ Khiết Đan tại điện Diên Hòa, tâu với Vua: “Bệ hạ là con của Nhân Tông, mà lại xưng Bộc vương là Hoàng khảo, không hợp lễ chế.”

Vua hỏi: “Khanh từng thấy Trẫm muốn lấy việc Hoàng khảo thờ Bộc vương chưa?” Triệu Chiêm đáp: “Đó là ý kiến của các đại thần, bệ hạ chưa từng tự nói.” Vua nói: “Đó là do Trung thư bàn quá mà thôi!” Triệu Chiêm bèn xin Vua tuyên dụ Trung thư, Vua đáp: “Ý Trẫm đã quyết, không cần tuyên dụ nữa.”

(Việc xin tuyên dụ Trung thư được ghi trong 《Mộ chí》 và 《Thần đạo bi》 của Triệu Chiêm do Phó Nghiêu Dũ và Phạm Tổ Vũ soạn.)

[25] Tư Mã Quang nói: “Gần đây được ơn thánh, tuyên dụ việc Bộc vương xưng ‘thân’ rằng: ‘Chữ này Trẫm vốn không muốn xưng[27], giả sử chỉ xưng Bộc vương và Tiên Du huyện quân, có gì không được?’ Thần mới biết bệ hạ rất công bằng, ban đầu không có ý quá thiên vị người thân, chỉ vì triều đình làm sai[28], khiến bên ngoài bàn tán xôn xao, tất cho rằng sớm chiều sẽ hạ chiếu bỏ tên thân[29], những người đã ra khỏi đài quan, sẽ có sự thay đổi khác, những người hiện tại trong đài quan cũng được ưu đãi khuyên bảo, khiến họ nhận chức.

Nay bỗng nghe Phó Nghiêu Dũ ba người lần lượt đều ra ngoài, người trong ngoài không ai không kinh ngạc. Đây là do triều đình muốn bịt miệng người sau, khiến họ đều không dám nói, rồi sau đó nắm quyền lớn, thỏa mãn ý riêng. Thần nghĩ bệ hạ tuổi còn trẻ, tính thánh sáng suốt, mà nay lại mang tiếng cự tuyệt lời can, chịu tiếng xấu cô ân[30], trái với mong đợi của thiên hạ, mất quyền của bậc chủ, chỉ để thỏa mãn ý riêng của mấy người trong triều đình. Không biết bệ hạ có lợi gì mà làm vậy? Thần không kìm được lòng, rất đau xót cho bệ hạ.

Mong bệ hạ đừng hỏi triều đình nữa, hãy đặc biệt quyết đoán, triệu hồi Nghiêu Dũ về, hạ chiếu không xưng thân nữa, như vậy có thể lập tức khiến khí uất ức của thiên hạ hóa thành vui mừng, lời phỉ báng trở thành ca ngợi.” Không nghe theo. Quang bèn tâu xin cùng Nghiêu Dũ chịu tội, và ở nhà chờ tội. Lại tâu: “Năm bệ hạ lên ngôi, thần đã từng dâng sớ cảnh báo việc truy tôn. Đến khi qua đại tang của Nhân Tông, thần cùng Nghiêu Dũ đến triều đình, trình bày rằng người làm con thừa tự không được để ý đến người thân.

Khi hai chế và quan lễ cùng bàn định[31], thần lại một mình soạn tấu chương cho mọi người[32]. Nếu trị tội, thần đứng đầu. Còn Lã Hối là người sau bàn luận, đã bị đuổi, như thần đây há có thể dung thứ[33]? Dù bệ hạ rất nhân từ, đặc biệt bảo vệ, thần há không thẹn lòng sao?”

Có chiếu thúc Quang đến kinh diên làm việc. Quang lại tâu: “Thần cùng Phó Nghiêu Dũ bảy người cùng làm đài gián quan, cùng bàn điển lễ, những gì Nghiêu Dũ phạm, thần đại khái đều từng phạm[34]. Nay Nghiêu Dũ sáu người đều đã ra ngoài, chỉ còn thần một người ở lại, khiến người thiên hạ đều nói thần ban đầu dẫn dắt mọi người, cùng bàn luận chính đáng, cuối cùng lại tiếc bổng lộc, trốn tránh hình pháp.

Thần dù rất ngu, cũng tiếc danh tiết, chịu sự chỉ trích này, làm sao làm người? Không chỉ vậy, lại khiến người ta chê trách trên, nói rằng nước nhà thi hành pháp luật có thiên vị[35].

Thần vì thế ngày quên ăn, đêm quên ngủ, vào triều thẹn với sĩ phu, ra đường xấu hổ với người đi đường, một thân cô độc, không biết đặt chân vào đâu. Mong bệ hạ thương xét, theo lời tâu trước của thần, sớm giáng chức.” Tâu bốn lần, cuối cùng không nghe theo.

[26] Ngự sử trung thừa Bành Tư Vĩnh dâng sớ xin chấn chỉnh điển lễ, triệu hồi những người dâng lời can gián, đồng thời tự xin từ chức. Vua không cho. Tư Vĩnh từ tháng 10 năm ngoái giữ chức Trung thừa, khi Lã Hối và những người khác tranh luận về điển lễ, Tư Vĩnh không nên im lặng. Hối và những người khác đã bị đuổi đi, mà Tư Vĩnh vẫn giữ nguyên chức vụ như cũ, thì dù Tư Vĩnh có nói, chắc cũng không hết lời.

(Bản truyện chép: Tư Vĩnh xin triệu hồi sáu người bị đuổi và tự xin từ chức[36], nay tạm ghi lại, cần xem xét thêm.

Lại sách 《Ngự sử đài ký》 chép: Các quan trong đài vì việc Bộc nghị đều bị cách chức[37], Tư Vĩnh nhu nhược, không một lời cứu giúp, người bàn tán chê cười. Xét 《Tống sử》 chép Tư Vĩnh dâng sớ bàn kỹ về việc xưng thân của Bộc vương, Anh Tông cảm động vì lời lẽ thiết tha, định thi hành, nhưng triều đình cố giữ ý kiến, cuối cùng không thành. Theo đó, thì không thể nói là nhu nhược không một lời.)

[27] Ngày Nhâm Tuất, Đồn điền viên ngoại lang, Thiêm thư Giang Ninh tiết độ phán quan sự Tôn Xương Linh được bổ nhiệm làm Điện trung thị ngự sử, Thái thường bác sĩ, Giám Vĩnh Phong thương Quách Nguyên Minh được bổ nhiệm làm Giám sát ngự sử lý hành.

Ngày Giáp Tý, Đô quan viên ngoại lang Hoàng Chiếu được bổ nhiệm làm Thị ngự sử, Thái thường bác sĩ Tưởng Chi Kỳ được bổ nhiệm làm Giám sát ngự sử lý hành. Ban đầu, Vua sai Vương Khuê và các quan tiến cử người tài, đã bổ nhiệm Xương Linh và Nguyên Minh, nhưng vẫn còn thiếu hai người. Trung thư dâng danh sách bảy người do Vương Khuê tiến cử trước đó, gồm Đô quan viên ngoại lang Khổng Tông Hàn và các người khác, trong đó Hoàng Chiếu được chọn.

Vua lại đặc cách phê chuẩn Tưởng Chi Kỳ vào chức Ngự sử. Âu Dương Tu vốn quý mến Chi Kỳ, trước đây Chi Kỳ dự thi chế sách không đỗ, từng đến gặp Tu khen ngợi việc truy tôn Bộc vương là đúng, và phê phán kịch liệt bài thi của Phạm Bách Lộc, vì thế Tu hết lòng tiến cử Chi Kỳ. Sau khi Chi Kỳ và Chiếu cùng được bổ nhiệm, Chi Kỳ vào chầu, Vua dặn rằng: “Trẫm từng xem bài thi của khanh, thấy rất hay, nhưng quan chấm thi đã bỏ sót, nên Trẫm đặc cách bổ nhiệm khanh.”

Xương Linh là người Tấn Lăng. Chiếu là người Giang Lăng. Nguyên Minh là con của Khuyến. Chi Kỳ là người Nghi Hưng, cháu của Đường. Tông Hàn là con của Đạo Phụ.

[28] Cùng ngày, Vua nạp cháu gái của cố tể tướng Hướng Mẫn Trung làm vợ cho hoàng tử Dĩnh vương, phong làm An Quốc phu nhân. Trước đó, trong cung sai sứ đi khắp nhà các đại thần để chọn vợ cho vương. Ký thất Hàn Duy tâu rằng: “Vương hiếu thuận, thông minh, mọi hành động đều đúng phép tắc, đang chuyên tâm học kinh sách để thành đức lớn. Nay chọn vợ cho vương là việc hệ trọng, nên chọn kỹ từ các gia đình có công lao, danh vọng, tìm người con gái hiền thục, thông tuệ, theo đúng lễ nghi cổ xưa về việc nạp thái, vấn danh, để hoàn thành hôn lễ, không nên chỉ chọn vì sắc đẹp.” (Việc phong An Quốc phu nhân diễn ra vào ngày Tân Mùi, nay ghi chung vào đây.)

[29] Ngày Canh Ngọ, vì sao chổi xuất hiện, Vua tránh ra khỏi chính điện, giảm bớt bữa ăn thường ngày. Vua bàn với các quan xu mật về việc lo lắng vì sao chổi, Hồ Túc xin phòng bị biên cương. Lữ Công Bật nói: “Sao chổi không phải là điềm nhỏ, không thể không lo sợ. Bệ hạ nên sửa mình, tu đức để ứng phó với lời cảnh báo của trời, thần e rằng mối lo không phải ở biên cương.” (Theo truyện của Công Bật).

[30] Quách Nguyên Minh, vừa được bổ nhiệm làm Giám sát ngự sử lý hành, dâng tấu xin miễn bãi mệnh lệnh, yêu cầu truy hoàn lại chức vụ cho Lã Hối và những người khác. Chiếu chỉ đồng ý cho Nguyên Minh được miễn, và giao nộp văn thư cáo điệp

[31] Ngày Tân Mùi, Vua ban chiếu rằng: “Trẫm gần đây vâng theo ý chỉ từ ái của Hoàng thái hậu, Bộc vương bảo Trẫm xưng là thân, lại có mệnh truy tôn. Trẫm xét sử Hán, Tuyên Đế gọi cha đẻ là thân, lại đặt thụy là Điệu, cắt đặt phụng ấp, đều hợp với kinh nghĩa, đã có điển cố, bèn tuân theo lời dạy từ ái, mà không dám nhận lễ truy tôn. Trẫm lại vì trên nối trọng trách miếu xã của tiên đế, nghĩa không thể kiêm phụng tư thân, nên chỉ lập miếu tại vườn, để con cháu Bộc vương đời đời nối ngôi nước Bộc, tự chủ việc tế tự. Xa lánh hiềm nghi để phân biệt, là muốn làm khuôn phép muôn đời, há phải đều là biện pháp tạm thời sao?

Thế mà các quan ngự sử như Lã Hối, ban đầu chuyên chấp nghĩa phải xưng là Hoàng bá và truy phong đại quốc, Trẫm lấy cha đẻ mà đổi xưng Hoàng bá, xét các đời trước, đều không có điển cứ, truy phong đại quốc thì lại là đạo lễ không có việc gia tước. Từ khi bãi bỏ nghị luận, Hối vẫn dâng sớ thúc giục không thôi, giận vì chưa thi hành, bèn dẫn việc Hán Ai Đế bỏ hiệu Cung Hoàng Định Đào, lập miếu ở kinh sư, can nhiễu chính thống, đều là những việc triều đình chưa từng bàn đến, lại nhiều lần vu cáo, tự ví mình như Sư Đan, ý muốn lay động lòng người, mê hoặc tai mắt mọi người, đến nỗi trả lại cáo sắc, tự tiện không đến đài, dâng sớ lưu trung lên Trung thư, sao chép văn bôi nhọ Vua truyền khắp kinh đô. Đến khi chiếu chỉ ban ra, Hối lại cho rằng xưng thân lập miếu đều không đúng.

Trẫm xem sớ trước của Hối, cũng nói ơn sinh dưỡng, lễ nên truy tôn, đợi tang lễ xong, sẽ bàn cứu điển lễ, tôn vinh cha đẻ. Nay lại lấy việc xưng thân là không đúng, lời nói trước sau tự mâu thuẫn. Phó Nghiêu Dư không kể nghĩa lý, cùng nhau xướng họa, vừa làm rối quyền để tỏ với mọi người, lại đổ lỗi để cầu danh. Trẫm tạm nhẫn nhục, chịu khuất phép nước, chỉ sai mỗi người lấy chức cũ bổ ra ngoài.

Còn lo rằng giữa hàng quan lại, trong dân chúng, không rõ đầu đuôi, chỉ nghe lời đồn, muốn giải nghi ngờ, nên ra lời dụ. Nên lệnh cho Trung thư Môn hạ bảo Ngự sử đào dán bảng ở triều đường, và Tiến tấu viện gửi văn thư báo khắp, để mọi người biết ý Trẫm.”

[32] Hạ lệnh cho Tả gián nghị đại phu, Thiên Chương các đãi chế kiêm Thị giảng Lý Thụ đến Viện Gián nhận chức.

[33] Ngày Quý Dậu, ban chiếu rằng: “Từ mùa thu năm ngoái đến nay, mưa lụt gây tai họa, việc cứu tế và an ủi dân chúng vừa mới đạt được sự ổn định. Nay các vì sao biến đổi, điềm xấu hiện rõ, Trẫm tự xét mình, lo lắng như bệnh. Thiên uy chấn động, lời răn dành cho kẻ nhỏ bé này, Trẫm phải tự sửa mình, bắt đầu từ chính Trẫm. Vì vậy, Trẫm tránh điện, bỏ bữa, ngày đêm cẩn trọng. Trẫm nghĩ đến trong bốn biển, việc ngục tụng oan khuất, việc điều động lao dịch liên miên, cùng với những người góa bụa, cô đơn, chết đói, nghèo khổ, thật đáng thương. Các Chuyển vận sứ, Đề điểm hình ngục hãy đi khắp nơi xem xét và thương xót họ, những việc lợi hại lớn đều phải tâu lên. Mong rằng lòng nhân từ sẽ đến khắp nơi, để đáp ứng tấm lòng kính sợ của Trẫm.”

[34] Ngày Tân Tỵ, sao chổi xuất hiện ở phương Mão, sáng như sao Thái Bạch, dài một trượng năm thước.

(Theo 《Tống sử》, ghi là sao chổi xuất hiện vào buổi sáng ở phương Mão.)

[35] Ngày Nhâm Ngọ, sao chổi xuất hiện ở phương Tất, sáng như mặt trăng. Vũ Khang tiết độ sứ, Tri Tương châu Lý Đoan Nguyện dâng sớ bàn việc chính sự, được triệu về kinh để đối đáp. Đoan Nguyện nói: “Sao chổi là điềm báo trừ cũ đổi mới, nay quan lại nhiều mà kẻ sĩ giả dối, chi phí lớn mà binh lính kiêu ngạo, nếu không có sự thay đổi lớn thì không thể ngăn chặn được điềm lạ. Nếu không làm như vậy, làm sao biết sẽ không có sự thanh trừng lớn?”


  1. 'Hoắc Quang' hai chữ nguyên bản thiếu, căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tống sử toàn văn》 quyển 10 bổ sung
  2. 'ý' chữ nguyên bản thiếu, căn cứ vào hai bản trên và 《Biên niên cương mục bị yếu》 quyển 17 bổ sung
  3. Theo 《Lạc Toàn tập》 quyển 36, 'Thần đạo bi minh của Trình Kham' và 《Tống sử》 quyển 292, 'Truyện Trình Kham', chức 'Vũ An tiết độ sứ' đều ghi là 'An Vũ'. Tuy nhiên, 《Tống sử》 quyển 88, 'Địa lý chí' và quyển 168, 'Chức quan chí' đều ghi là 'Vũ An', nên có lẽ bản gốc là chính xác.
  4. Chữ 'phản' dưới nguyên bản có thêm chữ 'giả', theo bản Tống, 《Tống toát yếu》 và 《Tống sử》 quyển 292, 'Truyện Trình Kham' đã bỏ chữ này.
  5. Nguyên bản ghi là 'Đặng Thành', theo 《Lạc Toàn tập》 quyển 36, 'Thần đạo bi minh của Trình Kham' đã sửa lại.
  6. Dùng ân điển ba đời để ban cho con trai con gái, nghi ngờ chữ 'hồi' là chữ 'nhân' viết nhầm.
  7. Không chịu ra làm quan, chữ 'sĩ' nguyên bản là 'nhiệm', theo Tống bản và Tống toát yếu bản sửa lại.
  8. 'Siêu' trong 'khất gia siêu dụng', bản Tống và bản tóm tắt đều ghi là 'Hiển'.
  9. Chữ 'báo' nguyên là 'phục', căn cứ vào sách 《Nghi lễ tang phục》 và tập văn của Âu Dương Văn Trung công, quyển 123, tờ tâu thứ nhất mà sửa lại
  10. Bốn chữ này nguyên bản thiếu, căn cứ vào bản Tống, bản Tóm tắt đời Tống và tờ tâu nói trên mà bổ sung
  11. 'Do việc của con người' nguyên văn là 'do việc của người chủ', căn cứ theo tờ tấu trên để sửa lại.
  12. 'Thánh vương' nguyên văn là 'thánh nhân', căn cứ theo tờ tấu trên để sửa lại.
  13. Sau đó đổi thành Hoàng Khảo: Theo bản Tống, bản Tóm tắt Tống và tờ tấu trên, dưới chữ 'đổi' đều có hai chữ 'thân xưng'.
  14. Những người bàn việc nói lung tung: Chữ 'giả' nguyên bản thiếu, theo tờ tấu trên mà bổ sung.
  15. Liền cho rằng muốn thêm việc trái lễ can loạn thống kỷ: Hai chữ 'dục gia' nguyên bản thiếu, theo hai bản trên và tờ tấu trên mà bổ sung.
  16. chữ 'kì' trong 'tề suy kì' ban đầu bị thiếu, căn cứ theo tờ tấu trên và văn dưới bổ sung.
  17. chữ 'mẫu' dưới chữ 'phụ' ban đầu bị thừa, căn cứ theo tờ tấu trên và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 55 'Bộc nghị' mà bỏ.
  18. Thần mong Bệ hạ rộng lượng ban chiếu 'Bái' nguyên là 'Hoán', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và tờ tấu trên mà sửa.
  19. Các quan chấp chính bèn bí mật bàn bạc với nhau 'Mật' nguyên là 'Thẩm', căn cứ theo hai bản trên và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 55 Bộc nghị, 《Tống sử toàn văn》 quyển 10 thượng mà sửa.
  20. Gia cho Bộc Vương mà tế lễ, chữ 'mà' nguyên bản thiếu, căn cứ theo hai bản trên và 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 quyển 35 bài 《Luận An Ý Hoàng Trát Tử》 bổ sung.
  21. Lấy cháu của anh để kế thừa tổ tông, chữ 'dao' nguyên là 'hoàn', căn cứ theo hai bản trên và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 55, phần Bộc nghị sửa lại.
  22. Tức viên lập miếu 'Viên' nguyên tác 'Quốc' , cứ Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản và Biên niên cương mục bị yếu quyển 17 sửa.
  23. Dĩ kì chí đương 'kì' nguyên tác 'Minh' , cứ Tống bản, Tống toát yếu bản và sách trên sửa.
  24. Tô Lợi Thiệp, chữ 'Thiệp' nguyên bản viết là 'Trắc', căn cứ theo hai bản trên và truyện Tô Lợi Thiệp trong 《Tống sử》 quyển 468 sửa lại. Dưới đây cũng vậy.
  25. 'Thị' trong 'bất thị quá hỷ', hai bản trên và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 55 phần Bộc nghị, 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công văn tập》 quyển 35 phần Lưu Lã Hối đẳng trát tử đều chép là 'túc'.
  26. Sao chổi xuất hiện vào buổi sáng ở phương Bích, chữ 'Bích' nguyên bản là 'Bích', căn cứ theo bản Tống Toát Yếu, các bản khác và 《Tống Sử Toàn Văn》 quyển 10, phần trên, sửa lại.
  27. Chữ này Trẫm vốn không muốn xưng 'vốn' chữ nguyên thiếu, theo bản Tống toát yếu và sách 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 55 phần Bộc nghị, cùng 《Ôn quốc văn chính Tư Mã công văn tập》 quyển 35 phần Lưu Phó Nghiêu Dũ đẳng tráp tử bổ sung.
  28. chỉ vì triều đình làm sai 'chỉ' nguyên là 'thật', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và hai sách trên sửa.
  29. tất cho rằng sớm chiều sẽ hạ chiếu bỏ tên thân 'cho' nguyên là 'muốn', theo hai bản trên và hai sách trên sửa.
  30. chịu tiếng xấu cô ân 'cô' nguyên là 'tội', theo hai bản trên và 《Ôn quốc văn chính Tư Mã công văn tập》 quyển 35 phần Lưu Phó Nghiêu Dũ đẳng tráp tử sửa.
  31. khi hai chế và quan lễ cùng bàn định 'định' chữ nguyên thiếu, theo hai bản trên và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 55 phần Bộc nghị, cùng 《Ôn quốc văn chính Tư Mã công văn tập》 quyển 35 phần Ở nhà thứ ba tráp tử bổ sung.
  32. thần lại một mình soạn tấu chương cho mọi người 'chương', bản Tống toát yếu, bản các và hai sách trên đều là 'thảo'.
  33. như thần đây há có thể dung thứ 'có thể', bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và hai sách trên đều là 'nên'.
  34. thần đại khái đều từng phạm 'đều' nguyên là 'xưa', theo 《Ôn quốc văn chính Tư Mã công văn tập》 quyển 35 phần Ở nhà thứ tư tráp tử sửa.
  35. nói rằng nước nhà thi hành pháp luật có thiên vị 'thi hành' nguyên là 'hình', theo bản Tống toát yếu, bản các và sách trên sửa.
  36. Tư Vĩnh xin triệu hồi sáu người bị đuổi và tự xin từ chức, chữ 'triệu' nguyên bản thiếu, theo bản Tống, bản tóm tắt của Tống và sách 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 55 phần Bộc nghị bổ sung
  37. Các quan trong đài vì việc Bộc nghị đều bị cách chức, chữ 'dĩ' nguyên bản thiếu, theo hai bản trên và sách trên bổ sung

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.