V. TỐNG ANH TÔNG
[BETA] QUYỂN 208: NĂM TRỊ BÌNH THỨ 3 (BÍNH NGỌ, 1066)
Từ tháng 4 năm Trị Bình thứ 3 đời Vua Anh Tông đến hết tháng 12 cùng năm.
[1] Mùa hạ, tháng 4, ngày Giáp Thân mùng một, Quan văn điện học sĩ, Hộ bộ Thị lang Tôn Miễn từ chức ở Hoàn Khánh được điều làm tướng trấn thủ Phu Diên, chưa đến nơi thì mất trên đường đi. Được truy tặng chức Binh bộ Thượng thư, thụy hiệu là Uy Mẫn. Miễn làm quan nổi tiếng về tài năng và sức lực, cương trực, ít khi sợ hãi. Tuy nhiên, ông thích ăn chơi và ham mê nữ sắc, nên giữa chừng bị cách chức. Vợ ông là Biên thị, cháu gái của Túc, nổi tiếng về tính hung hăng và ghen tuông. (Việc ban thụy hiệu được xem xét vào thời điểm nào, tháng 5 năm ngoái mới bắt đầu từ Hà Trung chuyển đến Khánh Châu.)
[2] Ngày Bính Tuất, Lễ viện tâu: “Miếu thờ Bộc An Ý Vương đã xây xong, cần làm lễ tế cáo, nhưng Tông Phác chưa hết tang. Xin tạm để các em trong cung thay mặt làm lễ, còn bài chúc văn thì giao cho Giáo thụ soạn.” Ban đầu, Vua sai Hàn lâm học sĩ Phùng Kinh soạn bài chúc văn, Kinh tâu rằng viện chưa có thể thức, xin giao xuống Lễ viện bàn bạc. Lễ viện bàn rằng: “Hoàng đế mỗ cẩn thận sai quan đến tế cáo trước miếu thân phụ Bộc An Ý Vương.” Sau đó, Vua ban chiếu cho con cháu của vương lo việc thờ cúng, nên đổi lại nghị định này.
[3] Vua từng hỏi ý nghĩa của việc xưng “thân” với Thiên chương các Đãi chế kiêm Thị giảng Vương Lạp, Lạp cho rằng không nên. Vua nói: “Vương từng đối đãi với khanh rất hậu, cũng nên như vậy chăng?” Lạp đáp: “Thần được vương ban ơn hậu, nên không dám dùng danh hiệu trái lễ để gọi vương, đó là cách báo đáp vậy.” (Việc này cần xem lại vào ngày Nhâm Tý tháng 10 năm Hi Ninh thứ 2.)
[4] Mật Châu Quan sát sứ Tông Đán được bổ làm Đồng tri Đại tông chính ty sự. Tông Đán đang để tang mẹ đẻ, nổi tiếng hiếu thảo, xin chọn đất riêng để chôn cất và cúng tế hàng năm, sau này được ghi thành pháp lệnh. (Việc hoàng thất chọn đất riêng chôn mẹ đẻ sẽ có ngày tháng cụ thể, nay ghi chép kèm theo.)
[5] Ngày Kỷ Sửu, ban cho Công bộ Thị lang đã về hưu Hoàng Phủ Bí 100 tấm lụa. Bí dâng sách 《Chu Dịch Tinh Nghĩa》 và các sách khác, Vua nói: “Bí già mà không bỏ học, nghèo mà giữ tiết tháo, đáng khen.” Vì thế có lệnh ban thưởng này.
[6] Ban tặng áo tía cho nhà sư Hoài Bính ở phủ Chân Định. Trước đây, cầu phao ở phủ Hà Trung dùng tám con trâu sắt để giữ, mỗi con trâu nặng đến mấy vạn cân. Sau đó, nước lũ dâng cao làm đứt cầu, trâu sắt chìm xuống sông. Triều đình chiêu mộ người có thể vớt lên được, Hoài Bính dùng hai chiếc thuyền lớn chở đầy đất, kẹp con trâu vào giữa, dùng cây lớn làm đòn bẩy, móc vào con trâu, từ từ bỏ đất ra[1], thuyền nổi lên và con trâu được vớt lên. Chuyển vận sứ Trương Đào tâu lên, nên có lệnh ban thưởng này.
[7] Công bộ Lang trung, Thiên Chương các Đãi chế, Tập Hiền Tu soạn Lục Sân được bổ nhiệm làm Binh bộ Lang trung, Đô Tổng quản Phu Diên lộ, Kinh lược An phủ sứ kiêm Tri Diên châu.
[8] Truy tặng chức Đức châu Thứ sử cho Cao Sĩ Lâm, em trai của Hoàng hậu, giữ chức Nội điện Sùng ban. Sĩ Lâm là con nhà tướng, nhưng chỉ thích học hành. Hoàng đế từng dạy bảo ông bốn chữ “Cẩn thủ pháp luật” và nói: “Làm được như vậy thì sẽ là một vị quan tốt.” Mỗi lần muốn thăng chức cho ông, Hoàng hậu đều từ chối. Sau khi ông qua đời, mới truy tặng. Năm sau lại truy tặng chức Tiết độ sứ.
[9] Ngày Ất Mùi, Thiệu Kháng, giữ chức Dực thiện phủ Dĩnh vương, Đồng tu Khởi cư chú, được bổ nhiệm làm Tri chế cáo, Tri Gián viện kiêm Phán Tư Nông tự. Khi đó, Hoàng đế nói với Dĩnh vương: “Dực thiện là người ngay thẳng, chân chất, đã được thăng làm Gián quan.” Dĩnh vương lạy tạ.
[10] Kim bộ Viên ngoại lang, Trực Long đồ các, Thiên Chương các Thị giảng Phó Biện được bổ nhiệm làm Khởi cư Xá nhân, Đồng tri Gián viện. Phó Biện bàn về điển lễ của Bộc vương, hợp ý với các quan chấp chính, nên được thăng chức nhanh chóng. Bản truyện của Phó Biện chép rằng, ông dâng sớ nói: “Nỗi lo bên ngoài có thể phòng ngừa trước, nhưng gian tà không có hình dạng, cần phải xem xét kỹ lưỡng. Phú Bật có khí chất của bậc đại thần, không nên để ở ngoài.” (Cần xem xét thêm.)
[11] Độ chi Lang trung Vương Tắc Thần được bổ nhiệm làm Trực Tập Hiền viện, sung chức Dực thiện phủ Dĩnh vương, lệnh cho ông làm việc tại hai vị trí của Hoàng tử.
[12] Ngày Tân Sửu, Vua sai Long Đồ các Trực học sĩ kiêm Thị giảng Tư Mã Quang biên soạn sách ghi chép sự tích các bậc quân thần qua các đời.
Tư Mã Quang bèn dâng tấu rằng: “Từ nhỏ đến nay, thần đã đọc qua các sách sử, thấy rằng thể kỷ truyện chữ nghĩa quá nhiều, dù là những người chuyên học ở nơi hẻo lánh cũng thường không đọc hết được, huống chi bệ hạ mỗi ngày có vạn việc, nếu muốn biết hết được mọi thành bại của đời trước thì thật là khó.
Thần tự lượng sức mình, thường muốn biên soạn một bộ sách từ thời Chiến Quốc đến đời Ngũ Đại, ngoài chính sử còn tham khảo thêm các sách khác, ghi chép những việc liên quan đến sự thịnh suy của quốc gia, vui buồn của dân chúng, điều thiện có thể làm gương, điều ác có thể răn dạy, những điều bậc đế vương nên biết, theo thể biên niên như 《Tả thị Xuân Thu truyện》, đặt tên là 《Thông Chí》, còn những lời văn rườm rà khác đều bỏ hết, để việc xem đọc được nhẹ nhàng mà kiến thức thu nhận được lại rộng rãi. Thần chỉ là kẻ tầm thường, sức lực không đủ, chỉ có chí mà chưa làm được.
Trước đây thần từng dâng lên 8 quyển viết về thời Chiến Quốc, may mắn được bệ hạ xem qua. Nay tiếp chiếu chỉ, không rõ là bệ hạ muốn thần tiếp tục biên soạn bộ sách này, hay biên soạn bộ sách khác? Nếu tiếp tục biên soạn bộ sách này, thần xin vẫn lấy tên là 《Thông Chí》. Bộ sách này xuyên suốt hơn ngàn năm, thần đâu dám một mình đảm đương. Thần thấy Ông Nguyên huyện lệnh, Quảng Nam Tây lộ Kinh lược An phủ ty Câu đương công sự Lưu Thứ, Tướng tác Giám Chủ bạ Triệu Quân Tích đều giỏi sử học, được mọi người suy tôn, mong bệ hạ đặc cách sai hai người này cùng thần biên soạn, để sớm hoàn thành bộ sách, không đến nỗi sơ sót.”
Vua nghe theo, sai tiếp tục biên soạn 8 quyển sách đã dâng trước, đợi khi sách hoàn thành sẽ ban tên. Sau đó, Quân Tích vì cha mất nên không nhận mệnh, Vua bèn sai Thái thường Bác sĩ, Quốc tử Giám Trực giảng Lưu Ban thay thế.
Lưu Thứ là người Quân Châu, Quân Tích là con của Lương Quy, Lưu Ban là em của Lưu Sưởng.
[13] Tư không trí sĩ Tống Hường, tước Trịnh Quốc công, qua đời. Vua đang vì tai dị mà tránh chính điện, quan hữu ty tâu nhầm rằng không nên đến viếng tang, bèn làm hai bài văn tế ban cho, truy tặng Thái úy kiêm Thị trung, thụy hiệu là Nguyên Hiến. Vua tự tay viết chữ triện trên bia mộ ông là “Trung Quy Đức Phạm Chi Bi”.
Tống Hường từ khi ứng cử, đã cùng em là Tống Kỳ nổi tiếng văn học khắp thiên hạ, đặc biệt giỏi thơ phú, các tiến sĩ đương thời đều học theo. Ông rất yêu quý em mình, sống giản dị, không ham thanh sắc, đọc sách đến già không mệt mỏi. Ông rất coi trọng pháp luật, khi ở Dương Châu sai thợ lát đường trong phủ, lấy một chén rượu cho họ, sau biết là lấy nhầm rượu công, lập tức bồi thường, còn người lấy rượu đều bị phạt. Khi làm tướng, ông nho nhã, am hiểu chuyện cũ, từ lúc mới nắm quyền, gặp việc liền phân biệt đúng sai, nên bị cách chức. Đến khi được dùng lại, ông sống an phận.
Tuy nhiên, ông vốn tính trung hậu, thường nói: “Dùng mưu mẹo để lừa dối, ỷ vào tài năng để hại người, ta suốt đời không làm.” Thẩm Mạc từng làm Kinh Đông chuyển vận sứ, nhiều lần gây khó dễ cho Tống Hường. Khi Tống Hường ở Lạc Dương, con Thẩm Mạc bị thuộc hạ trong phủ ghét, muốn trị tội nặng, nhưng Tống Hường không đồng ý, nói: “Việc này đâu đáng tội?” Mọi người càng khen ông là bậc trưởng giả.
[14] Ngày Mậu Thân, Ngô Sung, Hà Đông chuyển vận sứ, Tập Hiền hiệu lý, Công bộ lang trung, được bổ làm Diêm thiết phó sứ. Vua vốn biết tiếng Ngô Sung, trước đó nhiều lần hỏi thăm ông ở đâu, nhân dịp ông vào chầu, Vua nhắc chuyện lúc dạy học, khen ngợi ông. Ông ở Hà Đông mới nửa năm đã được triệu về kinh.
[15] Xu mật phó sứ, Lễ bộ thị lang Hồ Túc nhiều lần xin nghỉ hưu. Ngày Canh Tuất, ông được miễn chức, giữ chức Lại bộ thị lang, Quan Văn điện học sĩ, tri Hàng Châu.
[16] Điện tiền đô ngu hầu, Dung Châu quan sát sứ Quách Quỳ được kiểm hiệu Thái bảo, đồng thiêm thư xu mật viện sự. Chức đồng thiêm thư xu mật viện sự bắt đầu từ Quách Quỳ. Khi ấy, Tri chế cáo Thiệu Tất đương chế, soạn thảo văn từ dâng lên, nói rằng Quách Quỳ là người võ lực, không thể đặt ở miếu đường, mong giữ lại cáo sắc để cùng chấp chính bàn bạc kỹ. Vua không nghe.
Quách Quỳ vào Tây phủ, nhiều người không phục, có người trách Hàn Kỳ, Kỳ nói: “Ta không phải không biết Quách Quỳ danh vọng còn nhẹ, nhưng theo lệ cũ, Tây phủ nên dùng một võ thần, Vua muốn dùng Lý Đoan Nguyện, ta biết Đoan Nguyện gian tà, nên dùng Quách Quỳ thay thế.” Có người nói Vua vốn muốn dùng Trương Phương Bình, Kỳ biết Phương Bình không phụ thuộc mình, bèn nói rằng Tây phủ lâu không dùng võ thần, nên khôi phục lệ cũ. Vua gấp hỏi người, không ai trả lời, bèn vội dùng Quách Quỳ.
Tri gián viện Thiệu Kháng, Ngự sử Ngô Thân, Lã Cảnh dâng tấu chương bàn rằng triều đình tổ tông dùng võ thần trong xu phủ[2], như Tào Bân cha con, Mã Tri Tiết, Vương Đức Dụng, Địch Thanh, công lao được thiên hạ khen ngợi thì được, còn Quách Quỳ chỉ là kẻ tiểu tài xảo trá, sao đáng đại dụng. Vua không trả lời. (Xét việc này 《Tục cương mục》 chép vào tháng 3, 《Tống sử》 chép là việc năm thứ 2[3], đều không hợp với chỗ này.)
[17] Ngày Nhâm Tý, ban chiếu cho Lưu nội tuyển: “Những người được tuyển chọn qua khảo hạch, nếu nguyện nhận chức quan, thì cho phép xét theo thứ bậc mà bổ nhiệm, yêu cầu trong thời gian tại chức không phạm tội tham nhũng hoặc tư lợi[4], cùng những người phạm tội tư hình từ trượng trở xuống mà tình tiết nhẹ, nếu có ba người tiến cử cũ hoặc hai người tiến cử mới, thì cho phép khảo hạch và dẫn vào yết kiến. Những người được tiến cử hàng năm để bổ nhiệm làm quan kinh đô[5], từ nay trở đi, lấy một phần ba số người được tiến cử để bổ nhiệm làm Lệnh, Lục, Phán, Ty, Bạ, Úy vào các chức quan; nếu có đủ ba người tiến cử, trong thời gian tại chức không phạm tội tham nhũng hoặc tư lợi, hoặc phạm tội tư hình từ trượng trở xuống mà tình tiết nhẹ, thì Phán, Ty, Bạ, Úy nếu có học vị thì qua ba kỳ khảo hạch, không có học vị thì qua bốn kỳ khảo hạch, sẽ được bổ nhiệm vào chức quan tương ứng[6]; nếu được bổ nhiệm làm Huyện lệnh thì phải qua một kỳ khảo hạch tại chức mới được tiến cử.” (Việc này nhằm giảm bớt số lượng người được tiến cử, để tiết kiệm số quan chức kinh đô. Đây là lời ghi trong bản chí. Tháng 8 năm Gia Hựu thứ 5, những người có ba người tiến cử làm quan kinh đô sẽ được bổ nhiệm làm chức ty, từ đó trở thành quy định.)
[18] Ty thiên giám tấu rằng sao chổi đã dần mờ nhạt, quần thần đến Cáp môn dâng biểu xin hoàng đế ngự tại chính điện và khôi phục chế độ ăn uống bình thường, nhưng không được chấp thuận. Sau ba lần dâng biểu, mới được chấp thuận.
[19] Tháng 5, ngày Giáp Tý, Đồng phán Lưu nội tuyển Thái Khang tâu rằng: “Thần thấy số người được cử để chờ khảo hạch và dẫn đối là 250 người[7], mỗi năm dẫn kiến không quá 100 người, tính ra phải hai năm rưỡi mới xong. Xét lại biên sắc, các văn thần tại triều từ Tri tạp Ngự sử trở lên, vũ thần từ Quan sát sứ trở lên, đều được phép cử người ngoại nhiệm sung vào chức kinh quan; các chức An phủ, Phát vận, Chuyển vận sứ phó, Đề điểm hình ngục, Tri châu quân, Thông phán, đều được cử người trong hạt sung vào chức kinh quan huyện lệnh.
Nay xét số cử trạng của Nam Tào hàng năm, khoảng 1.900 người. Số người được cử đã nhiều, nên số người chờ khảo hạch càng đông, triều đình tuy trong lúc dẫn đối có hạn chế thứ bậc, nhưng số lượng cử quan trong ngoài chưa từng giảm bớt, nguồn gốc chưa ngăn chặn, chỉ hạn chế dòng chảy, nên số người chờ tuyển ngày càng tăng.
Hơn nữa, số lại viên trong thiên hạ có hạn, mỗi chức khuyết, người mới nhận, người đã thay và người đương nhiệm thường là ba người, nên việc bổ nhiệm càng khó, người có năng lực và không có năng lực đều bị trì trệ, nếu không sớm thay đổi, e rằng lâu ngày sẽ không chịu nổi tệ hại.
Xin tạm ngừng việc các văn thần tại triều từ Tri tạp Ngự sử trở lên, vũ thần từ Quan sát sứ trở lên mỗi năm cử kinh quan. Các chức An phủ sứ trở xuống đến Thông phán ở ngoài mỗi năm cử kinh quan huyện lệnh, tùy theo số lại viên tại chỗ nhiều ít, trong số cũ mười phần giảm ba đến năm phần, đợi khi số người ít thì theo lệ cũ.
Thần nghĩ triều đình thay đổi pháp chế, hạn chế tệ hại quá mức, vì người có tài không lo bị bỏ sót, kẻ may mắn thì không muốn, huống chi nay chỉ giảm số người được cử của thần liêu, không tăng thêm khảo đệ và cử chủ của người chờ tuyển, trong lòng người cũng không có gì oán hận. Xin giao cho cận thần tham khảo thi hành.”
Chiếu rằng các văn thần tại triều từ Tri tạp Ngự sử trở lên, vũ thần từ Quan sát sứ trở lên mỗi năm cử Mạc chức, Châu huyện quan sung vào chức Kinh triều quan hai người, từ nay đều bãi bỏ. (Sớ của Thái Khang có thể thấy số người được cử cải quan và dẫn đối khảo hạch hàng năm, bản chí lược bỏ rất nhiều, nay theo 《Hội yếu》.)
[20] Ngày Ất Sửu, ban chiếu rằng: “Quân chiến đấu ở Hà Bắc có 30 vạn 1 nghìn người, quân chiến đấu ở Thiểm Tây có 45 vạn 900 người, cùng với nghĩa dũng, lệnh cho đô tổng quản của bản lộ thường xuyên huấn luyện, không được chiếm dụng làm việc khác.” Lúc đó, các quan biên thần có người tâu xin tăng quân, triều đình cho rằng số quân không ít, nên ban chiếu này.
[21] Cùng ngày, sao chổi đi đến chòm sao Trương rồi biến mất. Khi sao chổi chưa biến mất, nhiều người bàn tán lo lắng. Có người báo với Hàn Kỳ, Kỳ nói: “Giả sử có một ngôi sao khác xuất hiện, thì muốn làm gì đây?” (Điều này căn cứ theo nhật ký.)
[22] Ngày Mậu Thìn, Vua nói với các tể thần: “Trẫm ngày ngày gặp gỡ các khanh, mỗi lần muốn thong thả bàn luận về đạo trị nước, nhưng lo rằng việc trình bày văn bản quá nhiều, thường không có thời gian. Những việc thường vụ của Trung thư có thể giao cho các cơ quan, thì hãy giao hết cho họ.” Từ đó, những việc nhỏ của Trung thư chỉ trình bản thục trạng, còn những việc đã có quy định thì giao cho các cơ quan, Trung thư chỉ ban sắc mà thôi.
[23] Ngày Canh Ngọ, ban chiếu cho Trung thư và Xu mật viện, từ nay về sau cứ mỗi ngày mùng một và rằm họp tại Nam sảnh.
[24] Lại bộ Lưu nội tuyển dâng lên 14 quyển sách biên soạn các quy chế và sắc lệnh của Thuyên tào, ban chiếu thi hành.
[25] Hữu Vũ vệ Đại tướng quân, Quả Châu Thứ sử Thúc Bao được lĩnh chức Văn Châu Đoàn luyện sứ. Theo quy chế ban đầu, các tông thất vào học từ 15 tuổi trở lên, thông thạo hai kinh, thì Đại tông chính tâu lên, Vua sai quan khảo sát luận và đại nghĩa, người đỗ thì tùy mức độ cao thấp mà ban cho xuất thân hoặc thăng chức. Đến lúc này, Thúc Bao thi đỗ, nên có lệnh này. Thúc Bao là chắt của Đức Cung.
[26] Ngày Đinh Sửu, con trai của Đồn điền Viên ngoại lang Vương Khắc Thần là Hiếu Trang được làm Hữu Đồn vệ Tướng quân, Phò mã Đô uý, ban tên là Sư Ước, vì lấy công chúa Đức Ninh. Ban đầu, Vua nhiều lần khen ngợi các công chúa nhà Đường khi xuất giá thường lấy những người nổi tiếng, đến khi chọn được Sư Ước, là chắt của Thừa Diễn, cha con đều theo nghiệp tiến sĩ. Vua sai đến phủ tể tướng, thi thơ và dâng lên một tập phú, rồi triệu vào điện Thanh Cư gặp mặt, lại dặn dò không được bỏ học. Sau đó lại ban cho kinh sách cùng giấy bút nghiên mực.
[27] Tháng sáu, ngày Ất Dậu, Lại bộ lang trung, Tri châu Từ là Lý Điền được bổ làm Giám Diêm tửu thuế vụ ở Châu Truy. Năm Gia Hựu thứ 6, bắt đầu đặt ra phép khảo khóa, đến nay Khảo khóa viện tâu rằng Lý Điền hai lần khảo xét đều ở hạng kém, nên có mệnh lệnh này. Việc bị giáng chức do khảo xét hạng kém bắt đầu từ Lý Điền.
[28] Ngày Đinh Hợi, miễn cho Lục Sân vào chầu chính điện, cho vào yết kiến. Vua hỏi thăm rằng: “Khanh ở Lĩnh Ngoại xử lý mọi việc đều hợp lý, Phu Diên là nơi đối mặt với địch, nên Trẫm chọn dùng khanh. Nay khanh định làm gì?” Lục Sân đáp: “Việc biên cương khó lường từ xa, còn chưa rõ ý bệ hạ muốn giữ yên ổn hay muốn thị uy?”
Vua nói: “Đại để việc biên cương nên lấy yên ổn làm đầu. Trước đây Trẫm thấy Vương Tố nói triều đình và các tướng thường muốn không có việc gì, còn các tướng hiệu khác đều muốn sinh sự để lập công. Khanh thấy lời ấy thế nào?” Lục Sân đáp: “Lời Vương Tố nói rất đúng. Bệ hạ có thể giao trách nhiệm cho tướng soái, khiến biên cương không có việc gì, đó là điều may lớn cho thiên hạ!” Vua khen hay, khuyên nhủ ông.
[29] Ngày Tân Mão, Thái thường bác sĩ Lưu Tường được bổ làm Giám sát ngự sử lý hành. Lưu Tường bàn riêng việc Bộc vương hợp ý với chấp chính, nên được bổ nhiệm chức vụ ngôn quan.
[30] Ngày Nhâm Thìn, xuống chiếu cho Tư nông tự đặt thêm một chức Chủ bạ.
[31] Truy tặng chức Quang lộc tự thừa cho Tô Tuân, nguyên là Chủ bạ huyện Văn An, châu Bá, người biên soạn sách lễ ở Thái thường lễ viện. Sách vừa dâng lên chưa được phúc đáp thì Tô Tuân mất, ban cho nhà ông 100 lạng bạc và 100 tấm lụa. Con ông là Điện trung thừa, Trực sử quán Tô Thức từ chối phần ban thưởng, xin truy tặng chức quan. Được chấp thuận, lại đặc cách sai quan loại thuyền chở tang vật về đất Thục.
Những năm đầu [niên hiệu] Gia Hựu, Vương An Thạch nổi tiếng, bạn bè khen ngợi khắp nơi, Âu Dương Tu cũng khen, khuyên Tô Tuân kết giao với An Thạch, An Thạch cũng muốn kết bạn với Tuân. Tuân nói: “Ta biết người này rồi.” Khi mẹ An Thạch mất, các quan đều đến viếng, duy Tuân không đi.
Tuân viết bài 《Biện Gian》, nội dung như sau:
“Việc có điều tất đến, lý có điều vốn vậy, chỉ người tĩnh lặng trong thiên hạ mới có thể thấy cái nhỏ mà biết cái lớn. Trăng có quầng thì gió, nền nhà ẩm ướt thì mưa, ai cũng biết điều đó. Sự biến đổi của nhân sự, lý thế tương tác, cái thưa thớt khó biết, biến hóa khôn lường, sao so được với việc âm dương của trời đất, mà bậc hiền tài còn có điều không biết, nguyên nhân là gì? Là do lòng ham muốn và ghét bỏ làm rối loạn bên trong, lợi hại cướp đoạt bên ngoài.
Năm xưa, Dương Thúc Tử thấy Vương Diễn nói: ‘Kẻ làm lầm lạc thiên hạ thương sinh, chắc chắn là người này.’ Quách Phần Dương thấy Lư Kỷ nói: ‘Người này mà đắc chí, con cháu ta sẽ không còn ai sót lại.’ Nay mà nói, lý lẽ ấy vốn có thể thấy được. Theo ta xét, Vương Diễn là người, dung mạo ngôn ngữ vốn có thể lừa dối thế gian để trộm danh, nhưng không ganh ghét, không tham cầu, cùng vật nổi chìm, nếu nhà Tấn không có Huệ Đế, chỉ có vị Vua tầm trung, dù có trăm ngàn Vương Diễn, làm sao có thể làm loạn thiên hạ được? Lư Kỷ gian trá, đủ để làm hại nước, nhưng không học không văn, dung mạo không đủ lay động người, ngôn ngữ không đủ mê hoặc thế gian, nếu không phải Đức Tông ngu muội tối tăm, làm sao có thể dùng được? Từ đó mà nói, lời dự đoán của hai vị ấy, cũng có thể chưa hẳn đúng.
Nay có người miệng đọc lời Khổng, Lão, thân làm việc Di, Tề, chiêu tập kẻ hiếu danh, người bất đắc chí, cùng nhau tạo ra ngôn ngữ, tự đặt tên hiệu, cho là Nhan Uyên, Mạnh Kha tái thế, nhưng trong lòng độc ác hiểm độc, khác hẳn người khác, đó là Vương Diễn, Lư Kỷ hợp thành một người, tai họa ấy làm sao kể xiết! Mặt dơ không quên rửa, áo dơ không quên giặt, đó là tình người chí thiết. Nay thì không thế, mặc áo rợ Di, ăn đồ chó lợn, đầu tóc rối bù, mặt mày tang tóc, mà bàn luận 《Thi》, 《Thư》, đó há phải là tình người sao?
Phàm việc gì không gần với tình người, ít có kẻ không phải là đại gian ác, Thu Điêu, Dịch Nha, Khai Phương là vậy. Lấy danh tiếng lừng lẫy mà giúp cái họa chưa hình thành, dù là vị Vua muốn trị, tướng yêu hiền, cũng sẽ tiến cử dùng họ, thì cái họa ấy cho thiên hạ tất nhiên không nghi ngờ gì, không chỉ so với hai người kia.
Tôn Tử nói: ‘Người giỏi dùng binh, không có công lao hiển hách.’ Nếu người ấy không được dùng, thì lời ta là quá đáng, mà người ấy có tiếng than không gặp thời, ai biết tai họa đến thế này! Nếu không, thiên hạ sẽ bị tai họa ấy, mà ta được tiếng biết nói. Đau đớn thay!”
[32] Sau khi Tô Tuân mất, ba năm sau Vương An Thạch lên nắm quyền, lời nói của ông mới được tin tưởng. Trương Phương Bình từng bàn về Tô Tuân rằng: “Định đoạt việc tốt xấu trong thiên hạ, chỉ một người mà thôi.” (Vương An Thạch để tang cha từ tháng 8 năm Gia Hựu thứ 8.)
[33] Ngày Mậu Thân, lại theo lời tâu của Tam ty sứ Hàn Giáng, đặt chức Quản câu Tam ty sứ sảnh Đô tri Tạp ty Công sự Văn bạ một người, lệnh cho Đồn điền viên ngoại lang Lương Đoan đảm nhiệm. Mấy ngày sau, Vua nói với các tể thần: “Gần đây dùng Lương Đoan quản câu công việc Tam ty sứ sảnh, phó sứ và phán quan có thể thống nhiếp không?” Các tể thần đáp: “Đây chỉ là thuộc quan của phán sứ mà thôi.” Vua nói: “Quyền của Tam ty sứ rất lớn, dùng tiểu quan mà dự vào việc của sứ, ắt sẽ nhờ thế làm điều gian, có thể truyền lệnh bãi bỏ sắc lệnh trước.” Các tể thần cho rằng Tam ty sứ rất quan trọng, cử một quan mà không theo, e rằng không phải là thể cách của sự ủy thác. Vua nói: “Không phải vậy. Nhà Vua có sai lầm, bề tôi nên sửa chữa, há lại bề tôi có lỗi mà nhà Vua không thể sửa đổi sao?” Cuối cùng bãi bỏ chức vụ đó. (Việc này căn cứ theo 《Tam triều sử chí》, ngày tháng căn cứ theo 《Hội yếu》.)
[34] Ngày Kỷ Dậu, Vua ngự tại điện Sùng Chính, xét xử các tù nhân bị giam ở kinh thành.
[35] Ngày Nhâm Tý, đổi tên điện Thanh Cư thành Khâm Minh, triệu Trực tập hiền viện Vương Quảng Uyên viết chương 《Hồng Phạm》 lên bình phong. Vua nói với Quảng Uyên: “Tiên đế trị vì bốn mươi năm, thiên hạ thái bình, được yên ổn vô sự. Trẫm đang gặp nhiều việc, há dám tự nhàn hạ, nên đổi tên điện này.” Nhân đó hỏi Quảng Uyên về những điều được mất của các tiên nho khi bàn về 《Hồng Phạm》, Quảng Uyên đáp rằng Trương Cảnh hiểu sâu nhất. Bèn dâng lên bảy thiên luận của Trương Cảnh.
Hôm sau, lại triệu vào điện Diên Hòa đối đáp, Vua nói với Quảng Uyên: “Những điều Trương Cảnh nói vượt xa các tiên nho. Lấy tam đức làm cán để điều khiển bề tôi, thật là luận bàn hay. Trẫm đối đãi bề tôi thường giữ sự khiêm nhu, nhưng khi nghe và tiếp nhận thì tự mình quyết đoán rõ ràng. Bình phong này đặt bên phải chỗ ngồi, há chỉ là lời răn về sự không nhàn hạ.”
[36] Mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Dần, Đồn điền viên ngoại lang Ngô Thân được bổ làm Điện trung thị ngự sử. Trước đây, Lưu Tường tiến cử Ngô Thân thay mình, Vua nói: “Trẫm vốn đã biết Ngô Thân.” Bèn cất nhắc dùng. Lưu Tường là môn khách của Ngô Thân, từ khi Phó Biện bàn việc Bộc vương hợp ý Vua, Lưu Tường và Ngô Thân bàn riêng đều phù hợp với Phó Biện, nên lần lượt cùng giữ chức ngôn quan.
[37] Ngày Ất Sửu, Phụng quốc lưu hậu, Quắc quốc công Tông Ngạc được làm Bảo Tĩnh tiết độ sứ.
Khi ấy, con cháu Bộc vương và cháu Lỗ vương đều được thăng một bậc, tổng cộng có 20 người được thăng. Khi Vua còn là hoàng tử, từ chối vì bệnh không chịu vào cung, chiếu cho người lớn tuổi nhất trong dòng họ thúc giục, Tông Ngạc là người lớn tuổi nhất, lúc đó khuyên Vua vào cung.
Đến khi Vua lên ngôi, Tông Ngạc dâng hơn 10 chương luận công, Vua bất đắc dĩ, đặc cách thăng làm Phụng quốc lưu hậu. Trung thư chiếu cho Tri chế cáo Hàn Dụy soạn mệnh từ, dặn đi dặn lại rằng: “Lời lẽ đừng quá sâu sắc.”
Tông Ngạc ở phiên trấn, vốn ghen ghét Vua. Tông Ngạc có người đầu bếp giỏi làm món thịt dê, Vua sai làm hai đĩa, Tông Ngạc thấy hỏi, người đầu bếp trả lời: “Là món thịt dê của Thập tam sứ.” Tông Ngạc nổi giận, đập vỡ đồ đựng, đổ thịt, đánh người đầu bếp. Tông Ngạc tính tình âm hiểm, những tỳ thiếp mà ông ta ghét thường bị đầu độc chết.
[38] Tháng 8, ngày Kỷ Hợi[8], Long đồ các trực học sĩ kiêm Thị giảng, Sùng văn viện Kiểm thảo Lữ Công Trước được làm Tri Thái châu. Lữ Công Trước từng nói Bộc An Ý vương không nên xưng là thân và ban húy khắp thiên hạ, lại xin truy hoàn Lữ Hối, đều không được chấp thuận, bèn cáo bệnh xin bổ làm quan ngoài. Vua nói: “Học sĩ là chức trọng của Trẫm, sao có thể dễ dàng rời triều đình?” Lữ Công Trước ở nhà hơn trăm ngày, Vua sai nội thị Dương An Đạo đến nhà khuyên nhủ, và dặn An Đạo rằng: “Công Trước cương trực, nên từ từ khai mở, lời lẽ đừng quá gấp gáp.” Lại nhiều lần sai anh của Công Trước là Lữ Công Bật khuyên nhủ, Công Trước mới trở lại nhận chức, nhưng chỉ vài tháng sau lại dâng chương xin ra ngoài. Và có mệnh lệnh này.
[39] Ngày Kỷ Dậu, Tri chế cáo, phán Quốc tử giám Thái Khang tâu: “Thần gần đây nhiều lần nhận chỉ dụ triều đình, lệnh cử người làm giáo thụ đại tiểu học ở các cung viện. Xin từ nay về sau, nếu các cung viện thiếu giáo thụ, xin giao cho hai chế luân phiên cử người, để mỗi người cử người mình biết, nhằm tận dụng nhân tài trong thiên hạ.” Chiếu rằng từ nay về sau, nếu các cung viện thiếu giáo thụ đại tiểu học, giao Quốc tử giám cùng học sĩ, xá nhân luân phiên cử người. (Việc này căn cứ theo 《Hội yếu》 ngày 15 tháng 8. Năm Hi Ninh thứ nhất, tháng 5, ngày Canh Thìn có chiếu.)
[40] Tháng 9, ngày Quý Sửu, Tri chế cáo, Sử quán tu soạn Thái Khang được bổ làm Long đồ các trực học sĩ, Tập hiền điện tu soạn, nhậm chức Tri Định châu. Vua bảo Khang rằng: “Cứ đi, rồi sẽ triệu khanh về!” Quân sĩ thay phiên đi trấn thú, phụ nữ đi chơi bên ngoài, khi trở về đều tự thú và được tha. Khang ra lệnh không được tha, nhất định phải xử theo pháp luật. Quân lính trấn thú cảm động vì điều đó.
[41] Ngày Giáp Dần, đổi chức Thiêm thư Xu mật viện sự Quách Quỳ, cha ông được tặng chức Tả Thần Vũ quân Thượng tướng quân Bân thành Tả Kiêu vệ Thượng tướng quân. Trước đây, triều đình bổ nhiệm chức Hoàn vệ, nhầm lẫn lấy Lục thống quân làm Thượng tướng quân, đến nay sửa lại.
[42] Ngày Ất Mão, lệnh Tri chế cáo Tống Mẫn Cầu đề tên miếu chủ của Bộc An Ý vương và ba phu nhân trong vườn.
[43] Ngày Bính Thìn, Vua đến Thiên Chương, Bảo Văn các, lệnh hai phủ xem bia khắc thơ ngự chế của Nhân Tông do Hàn lâm học sĩ kiêm Thị độc học sĩ Vương Khuê viết. Trước đây, Nhân Tông lập Vua làm hoàng tử, Khuê xin được đối đáp rồi mới soạn chiếu, sau có người gièm pha Khuê.
Hôm đó, Vua ngự tại Nhuỵ Châu điện triệu Khuê, đặt ghế hoa tím cho ngồi, hỏi han lâu, chiếu Trung thư phong Khuê kiêm chức Đoan Minh điện học sĩ, và dụ rằng: “Khi nào có khuyết chức Chấp chính, sẽ bổ khanh.” Hôm sau, lại ban cho một cái chậu vàng chạm rồng, Khuê hoảng sợ tạ ơn, Vua bảo: “Trẫm biết khanh trung thành thuần hậu, giữ mình, trước đây có lời gièm pha, nay Trẫm đã hiểu rõ không còn nghi ngờ, nên có ban thưởng này.” Khuê cúi đầu nói: “Nếu không nhờ bệ hạ bảo vệ, làm sao được đến thế!”
[44] Hoàng đế muốn loại bỏ nạn quan lại thừa thãi, những người dâng lời đều cho rằng cứ ba năm một lần xét duyệt, việc thăng tiến có vẻ quá gấp, chỉ cần thăng chức một chút đã đến chức vị cao, nên số người được hưởng ân phong rất nhiều. Hoàng đế ban chiếu cho hai chế xem xét quyết định. [Lời tâu sau] Ban đầu, đã bỏ đi tên họ[9].
Lời tâu rằng: “Thần thấy ở Viện Thẩm quan, các quan kinh triều trở lên được xét duyệt để thăng chuyển, mỗi năm có khoảng hơn nghìn người, còn những người được thăng do chức vụ thì chưa kể đến.
Xét theo 《Quốc triều hội yếu》, năm xưa Chân Tông nghe lời tâu của Gián quan Tôn Hà, bãi bỏ chế độ thăng tiến theo thứ tự trong lễ tế giao, sai các cơ quan xét công trạng, rồi đích thân Vua đối diện, thăng giáng. Lại sai Viện Thẩm quan xét các quan kinh triều, làm đủ năm năm mới được xét, nếu không phạm tội tham nhũng thì báo tên lên, bàn việc thăng chức. Lại quy định các quan trong kinh đã qua ba năm xét duyệt, sau khi thăng chuyển vẫn giữ nguyên công việc, đợi khi mãn nhiệm thêm ba năm nữa mới được xét lại. Lúc đó quy chế tuy có thay đổi, nhưng đại thể không hạn định ba năm, cũng không phải cứ tại chức hay mãn nhiệm là được xét duyệt.
Nay từ chức Chủ bạ trở lên, thường ba năm được thăng, quan ngoại nhiệm không cần đợi mãn nhiệm mới về[10], quan trong kinh cũng không có quy định riêng về thời gian xét duyệt. Thậm chí có người đợi bổ nhiệm ở nhà, thời gian kéo dài, không có việc gì làm mà vẫn hưởng bổng lộc, chỉ cần đủ ba năm lại được xét duyệt.
Thần cho rằng tệ nạn trong việc khảo khóa, không gì nghiêm trọng hơn hiện nay, và cũng không gì nhanh chóng hơn hiện nay. Xin triều đình xem xét lại chế độ cũ, đối với việc xét duyệt các quan kinh triều trong ngoài và các quan hai chế trở lên hiện nay, đặt ra quy chế mới, tuy chưa thể hoàn toàn như điển chế ba lần khảo xét thăng giáng của Vua Thuấn, nhưng khôi phục chế độ của tổ tông, cũng có thể hạn chế được tệ nạn may rủi.”
Quyền Ngự sử Trung thừa Bành Tư Vĩnh tiếp tục tâu: “Xin từ nay về sau, các quan Chính lang trước hành khi được xét duyệt, theo lệ thăng lên Đại khanh giám, phải đủ bốn năm mới được thi hành. Và từ khi làm Chính lang trở đi, phải có năm người tiến cử, trong đó có ba người là Đề, Chuyển của bản lộ và Đại lưỡng tỉnh, mới được thăng lên Thiếu khanh giám.”
Trực Long đồ các kiêm Thiên chương các Thị giảng, Đồng tri Gián viện Phó Biện tâu: “Xin từ nay về sau, các quan kinh triều đến Viên ngoại lang, vẫn theo thời hạn cũ xét duyệt, còn Viên ngoại lang trước hành lên Chính lang, đều hạn định bốn năm. Đến Chính lang trước hành, không được xét duyệt nữa. Các quan hai chế từ Đãi chế trở lên, xin xét duyệt năm năm một lần. Đến Gián nghị đại phu, không được xét duyệt nữa.”
Điện trung Thị ngự sử Ngô Thân tâu: “Xin từ nay về sau, nếu có Chính lang trước hành hợp lệ thăng lên Thiếu khanh giám, hãy tạm dừng, trước hết định ra số lượng, đợi khi có khuyết thì lần lượt bổ nhiệm. Và những người làm quan lâu năm, không phạm tội tham nhũng, hoặc từng giữ chức vụ quan trọng không bị giáng chức, hoặc làm quan trước sau đều đáng khen, cùng những người có văn hạnh, được ưu tiên thăng chuyển. Viên ngoại lang trước hành hợp lệ thăng lên Chính lang, cùng Thái thường, Quốc tử Bác sĩ hợp lệ thăng lên Viên ngoại lang, cũng tạm dừng, trước hết định ra số lượng, đợi khi có khuyết thì lần lượt bổ nhiệm.”
Giám sát Ngự sử Lý hành Lưu Tường tâu: “Xin rằng[11] những người Thiếu khanh giám hợp lệ xét duyệt thăng lên Đại khanh giám, nếu đã trên bảy mươi tuổi, không được xét duyệt nữa.”
Giám sát Ngự sử Lý hành Tưởng Chi Kỳ tâu: “Các quan hai chế trở lên đều bốn năm thăng hai chức, so với quan kinh là hai năm thăng một chức, xin các quan hai chế cũng theo lệ quan kinh triều[12], năm năm xét duyệt thăng một chức, đến Chính lang trước hành, thêm một chức Tả ty Lang trung.”
Khi đó, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Trương Phương Bình và các quan tấu rằng: “Xét lại chế độ quan chức thời tổ tông, trong ngoài đều không đặt ra quy định về thời hạn thăng chuyển. Đến năm Đại Trung Tường Phù thứ 8, mới ban chiếu cho các quan kinh triều, sau ba năm làm việc, do Viện Thẩm quan xét duyệt, dẫn vào triều đối đáp rồi thăng chức. Lúc đó đường làm quan còn trong sạch, số lượng quan viên ít, nhưng từ đó đến nay hơn năm mươi năm, ước tính số quan viên đã tăng gấp mười lần so với đầu niên hiệu Tường Phù. Vì thế, quan viên nhiều mà chức vụ ít, ngồi không hưởng bổng lộc, tài năng không được phân biệt, việc bổ nhiệm không thực hiện được. Pháp luật khảo khóa khó có thể áp dụng, tệ nạn trong chế độ quan chức không gì nghiêm trọng hơn thế này.
Nay xin định lại, từ quan kinh triều trở lên, thời hạn xét duyệt đều kéo dài thêm một năm. Quan thăng triều đến chức Hậu hành lang trung, không cần xét duyệt nữa. Những người có tài năng, công lao, hoặc được giao nhiệm vụ khó khăn, sẽ do triều đình lựa chọn thăng chức. Những người đã lên đến chức Chính lang, được tấu xin ấm phong cho con cháu, tuân thủ pháp luật, tự nhiên sẽ được bổ nhiệm làm trưởng quan châu quận.
Như vậy, xử lý theo lệ thường đã là ưu đãi. Các quan Đãi chế trở lên, đã ở vị trí cao, xin tuân theo lệ cũ của tổ tông, không cần xét duyệt nữa. Nếu có công lao, hoặc được giao nhiệm vụ quan trọng, sẽ do triều đình ban ân thăng chức, tùy theo chức vụ hiện tại mà dừng lại. Các điều lệ khác vẫn giữ nguyên. Những người giữ chức Khanh, Giám chưa từng được bổ nhiệm qua các chức vụ, chỉ được thăng chức từ quan thường tham, sẽ được giao cho Viện Thẩm quan bổ nhiệm theo lệ. Những người già hoặc bệnh xin ở lại đài, cung quan, giám đương, không cần xét duyệt nữa.
Như vậy, quyền lực sẽ thuộc về nhà Vua, khuyến khích và ngăn chặn sẽ được thực hiện trong triều đình, nhân tài sẽ được phân biệt, những nơi khó khăn, phức tạp có thể sử dụng người tài, việc quản lý sẽ công bằng, đơn giản và dễ thực hiện, so với chế độ của tổ tông[13], vẫn là ưu việt hơn.”
Ngày Quý Hợi, ban chiếu rằng: “Trẫm nghĩ rằng cái gốc của việc trị nước ắt phải bắt đầu từ quan lại, phương pháp đặt quan cũng cần phải chọn lựa. Quốc gia kế thừa cơ nghiệp của các bậc thánh nhân, đạt đến thời thái bình, đã mượn quan chức ở các cơ quan để xử lý công việc, lại cho phép sau ba năm được thăng chức một lần.
Thời gian đã lâu, số lượng quan lại ngày càng đông. Dù lãnh thổ rộng lớn, thợ thuyền đông đúc, nhưng lấy quan chức để quản lý người thì số lượng đã tăng gấp bội. Vì thế, các đài các đã nhiều lần trình bày tình hình, nay dùng rộng rãi ý kiến, xem xét tìm phương lược tốt. Các tấu chương liên tiếp dâng lên, xin thay đổi chế độ. Trẫm vui mừng cùng các khanh sĩ bàn bạc để tìm ra phương án hợp lý, mong rằng những tệ nạn sẽ được chấm dứt.
Từ nay, các chức quan từ Đãi chế trở lên, sau khi thăng chức sáu năm mà không phạm lỗi thì được thăng tiếp; nếu có lỗi thì kéo dài thời gian, đến chức Gián nghị đại phu thì dừng. Các chức từ Đãi chức trở lên, sáu năm thăng chức một lần, đến Gián nghị đại phu thì dừng, không rõ năm nào đổi lại chế độ này, cần xem xét. Quan Kinh triều bốn năm xét duyệt một lần, đến chức Tiền hành lang trung thì dừng. Thiếu khanh giám vẫn lấy 70 người làm định viên[14], nếu có khuyết thì xét duyệt những người đã thăng chức Tiền hành lang trung và đủ bốn năm trở lên, so sánh thời gian lâu hơn, lần lượt bổ nhiệm. Các chức từ Thiếu khanh giám trở lên thăng chức phải nghe chỉ. Nếu có công lao đặc biệt, hoặc vì nhiệm vụ trọng yếu, được đặc chỉ ban ân thì không theo quy định này.”
(Điều này căn cứ theo 《Hội yếu》 và sách điều lệ ban hành thời đó, nay 《Thực lục》 và 《Chính sử》 chỉ ghi lại chiếu thư, còn lại đều bỏ qua, thật đáng tiếc, nên ghi lại. Người đầu tiên dâng lời, cần tra cứu tên họ.
《Phù hưu tiểu sử》 của Trương Thuấn Dân chép: Quan Kinh triều bốn năm xét duyệt, vốn không có thành lệnh, thời Hi Ninh, Viện Thẩm quan thực hiện, đến nay thành quy định thường. Xét chiếu thư này và lời thỉnh cầu của thần liêu rất đầy đủ, sao có thể nói là không có thành lệnh, có lẽ Trương Thuấn Dân chưa xem xét kỹ chăng?)
[45] Ngày Ất Sửu, Hàn lâm học sĩ Thừa chỉ Trương Phương Bình tâu: “Thần trộm thấy năm Gia Hựu thứ 5, Trần Húc tâu rằng ở Viện Tam Ban, từ chức Cung phụng quan trở xuống có hơn 8.800 người, xin cắt giảm những người thừa và lạm dụng, đặt ra điều lệ. Lúc đó bàn định việc này, xử lý khá hợp lý. Trần Húc ban đầu nói có hơn 8.800 viên, đến nay đã thêm 5 năm, số lượng ắt tăng gấp đôi, sự lạm dụng như vậy mà không nói đến biện pháp cứu chữa, thì làm sao có thể thiết lập hiến pháp, xây dựng công cuộc trị quốc? Xin hạ lệnh cho hai phủ xem xét lại nghị quyết trước đây, sớm quyết định ban hành, cũng là một biện pháp để chấn hưng những điều suy đồi.” Chiếu giao cho Xu mật viện, nhưng tính ra ở Tam Ban hiện có 6.534 Sứ thần, nên không có gì thay đổi.
[46] Thái thường Bác sĩ, Giám sát Ngự sử Lí hành Mã Mặc giữ nguyên chức Thông phán Hoài Châu.
Trước đó, Mặc đàn hặc rằng Tế Châu Phòng ngự sứ Lý Tuân phạm tội tiêu kim, cùng thợ đều giao cho Khai Phong phủ, nhưng quan lại không xử tội được; lại nói rằng nữ sứ của Tông Huệ nên xét hỏi theo pháp luật, và xin từ nay những người ngoài phạm tội liên quan đến tông thất, án tử hình đều phải xét hỏi rồi mới chém[15]; lại nói rằng Quốc tử giám Trực giảng Lưu Ban khinh bạc vô hạnh, kết giao nhiều với các cử nhân giàu có, không thể làm quan coi thi ở Khai Phong; lại nói rằng Vạn Cập và những người khác làm hư hỏng 18 vạn thạch gạo trong kho, nên trị tội vì để gạo ẩm mốc, đồng thời hặc tội Đề điểm Trường kho Lý Hi Dật vì không phát hiện. Nhưng thực ra Vạn Cập và những người khác bị phát giác là do Hi Dật.
Khi Mặc được bổ làm Ngự sử, Ban có lời nói đùa, Mặc vì thế tức giận nên vu cáo Ban. Mặc lại nhiều lần tâu rằng Bộc Vương không nên xưng là thân, Vua cho là sai lầm nên cách chức. Ngự sử Lưu Tường tâu xin giữ Mặc, nhưng không được chấp thuận. (Bản truyện của Mặc chép rằng dâng sớ hặc tội Âu Dương Tu, Quách Quỳ, không nói đến việc xin giữ Ngự sử, nay theo《Thực lục》.)
[47] Hoàng thành ty từng bắt giữ người mặc áo thêu vàng đưa đến Khai Phong phủ, quan Thôi quan Đậu Biện lên điện xin xét xử vụ án. Khi ấy có người nhắc đến việc trong nội đình, Vua nghi ngờ. Biện nói: “Chân Tông cấm thêu vàng bắt đầu từ cung cấm, nay không xử đúng pháp luật thì không thể làm gương cho thiên hạ[16], hơn nữa cũng trái với ý nghĩa lập pháp cấm đoán của tổ tông[17].” Vua nói: “Đúng vậy. Văn Vương nói ‘Hình phạt từ vợ nhỏ, đến anh em, để trị quốc gia’, chính là nói về việc này.” Vua ban chiếu làm theo lời xin của Biện. (Việc này không cùng thời với Lý Tuân, nay ghi chép phụ sau khi Mã Mặc bãi chức Ngự sử, nên lưu lại để tham khảo.)
[48] Ngày Canh Thìn, quan Tri gián viện Phó Biện tâu: “Nghe đồn quý thích tâu xin ân trạch, chưa được giảm định, hoặc mượn danh thân thích, lạm dụng đến cả những kẻ buôn bán giàu có.” Vua ban chiếu: “Từ nay phi tần, công chúa trở xuống, nếu không phải là người thân có tang phục hoặc chồng của người thân có tang phục, thì không được tâu xin.”
[49] Tháng đó, Hạ quốc chủ Lượng Tộ đem quân xâm phạm Đại Thuận thành, tiến đánh Nhu Viễn trại, đốt ba làng Khuất Khất, đóng quân ở Đoạn Mộc Lĩnh.
Ban đầu, Kinh lược An phủ sứ Hoàn Khánh là Thái Đĩnh cho quân do thám nghiêm ngặt, biết Lượng Tộ sắp xâm lược, liền sai các tướng chia nhau đóng giữ nơi hiểm yếu. Vì Đại Thuận thành kiên cố, dù bị tấn công cũng không thể phá được, nên không tăng thêm quân; còn Nhu Viễn thành yếu kém, bèn lệnh cho Phó Đô Tổng quản Trương Ngọc đem quân mạnh đến giữ. Lại ra lệnh cho các hộ dân gần biên giới vào thành lánh nạn, cấm các trại không được giao chiến.
Lượng Tộ đem mấy vạn quân bộ và kỵ bao vây Đại Thuận thành ba ngày, Phiên quan Triệu Minh cùng quân triều đình hợp lực đánh lui. Lượng Tộ mặc áo giáp bạc, đội mũ nỉ để chỉ huy chiến đấu[18]. Thái Đĩnh trước đó đã chọn cung thủ mạnh bố trí ngoài hào, bắn tên xuống, xuyên thủng cả áo giáp nặng, Lượng Tộ trúng tên bỏ chạy. Quân Hạ chuyển sang đánh Nhu Viễn, Trương Ngọc chiêu mộ ba nghìn dũng sĩ đêm ra quấy rối doanh trại địch, quân địch kinh hãi tan vỡ. Vua sai Trung sứ mang chiếu thư ban cho Thái Đĩnh để khen ngợi.
Lượng Tộ rút về đóng ở Kim Thang, huyênh hoang sẽ tăng thêm quân bộ và kỵ, lại dùng lời lẽ xấc xược, đòi phải được cấp lễ vật hàng năm rồi mới lại tấn công Đại Thuận thành.
Kinh lược An phủ sứ Phu Diên là Lục Sân tâu: “Triều đình quen thói nhu nhược, nên giặc mới dám ngang ngược. Nếu không trách phạt đôi chút, thì uy quốc gia không thể lập được.” Bèn ngừng cấp bạc lụa hàng năm, gửi văn thư đến Hựu Châu hỏi lý do.
Vua vui mừng nói: “Vốn biết người này có thể trông cậy được.” Xuống chiếu cho Lục Sân báo cáo đầy đủ khi nhận được tin từ Hựu Châu. Quả nhiên Lượng Tộ rất hoang mang, lảng vảng ngoài biên giới, cướp lương thực rồi rút về, cuối cùng không dám xâm phạm nữa. Lại vì năm đó mất mùa, tham của cải ban tặng, nên báo rằng quan lại biên giới tự ý động binh, sắp trị tội họ. (《Tục Cương Mục》 ghi việc này xảy ra vào giữa tháng tư.)
[50] Mùa đông, tháng mười, ngày Nhâm Ngọ mùng một, lấy khu mộ của huyện quân Tiên Du là Nhâm thị làm vườn, theo lời tâu của Lễ viện.
[51] Ngày Quý Mùi, sai Tây Kinh Tả tàng khố phó sứ Hà Thứ Công mang chiếu ban cho Hạ quốc chủ Lượng Tộ, hỏi lý do xâm phạm, đồng thời ngừng cấp bạc lụa hàng năm. Lục Sân tâu: “Giặc đã có phần thuận rồi, chi bằng ban cho y phục theo mùa, nhân đó ban chiếu hỏi han, chúng ắt cảm động và sợ hãi. Nay đặc biệt sai Thứ Công đi, giặc nhiều mưu mẹo, hoặc nghi ngờ triều đình sợ mình, thì chưa chịu khuất phục ngay.” Không nghe theo.
[52] Ngày Giáp Thân, Hộ bộ phán quan, Trực tập hiền viện Vương Quảng Uyên được bổ làm Trực long đồ các kiêm Thị độc, Tập hiền điện tu soạn Chu Mạnh Dương kiêm Thị giảng. Vua không khỏe, Quảng Uyên lo lắng quên ăn mất ngủ, Vua tự viết chiếu an ủi rằng: “Trẫm bệnh đã đỡ nhiều rồi.”
[53] Ngày Ất Dậu, xuống chiếu hai ngày một lần đến Nhĩ Anh giảng đọc. Lúc này Vua đã không khỏe, nhưng các quan gần gũi chưa biết, do đó hoàng tử Dĩnh Vương dẫn chuyện cũ của Nhân Tông để thỉnh cầu, Vua đồng ý.
[54] Ngày Đinh Hợi, xuống chiếu rằng: “Tiên đế thấy sĩ tử lâu không được tiến cử thì lười học, mà người tài giỏi không được tiến cử kịp thời, nên ban lệnh thi hai năm một lần, mong được người tài. Nhưng từ khi thay đổi phép thi, tệ nạn ngày càng nhiều, tại sao? Danh sách tuyển chọn ở làng vẫn như cũ, mà số người được chọn ở các quận nước giảm một nửa, danh sách thi hội nhiều lần dâng lên, mà đường sá vất vả. Trẫm rất thương xót. Nay lệnh cho Lễ bộ ba năm một lần tổ chức thi, số người được chọn trong thi hương, so với trước khi thi hai năm một lần, lấy ba phần trong bốn phần.” Lễ bộ tâu danh sách tiến sĩ[19] lấy 300 người làm mức, các khoa minh kinh không được vượt quá số tiến sĩ. Bản chí chép: Từ đó ân điển không tăng mà việc thi cử chậm lại, sĩ tử được nghỉ ngơi, quan lại cũng đỡ phiền hà. Nay bỏ đi.
[55] Đồng thiêm thư Xu mật viện sự Quách Quỳ được bổ nhiệm làm Tuyên phủ sứ bốn lộ Thiểm Tây duyên biên kiêm quyền phán Vị châu. Quỳ khẩn thiết từ chối chức thiêm thư, Vua nói: “Ban đầu muốn phong khanh làm Tuyên huy sứ, nhưng sợ người ngoài cho là bãi chức, nên chỉ nhận chức Xu mật.” Việc cử người ra trấn nhậm với quyền hạn lớn, từ Lữ Dư Khánh lấy chức Tham tri chính sự quyền tri Thành Đô phủ, về sau các chấp chính đương nhiệm không ai ra trấn nhậm phiên trấn, đến Quỳ mới bắt đầu lấy chức Đồng thiêm thư Xu mật viện sự ra trấn nhậm.
[56] Ngày Giáp Ngọ, Vua xuống chiếu cho các tể thần và tham tri chính sự mỗi người tiến cử năm người có tài đức để thử làm việc ở các chức quán các.
Trước đó, Vua nói với trung thư rằng: “Lụt lội gây tai họa, nhiều người nói là không tiến cử người hiền tài, tại sao vậy?” Âu Dương Tu trả lời: “Những năm gần đây, con đường tiến cử người hiền tài quá hẹp, đúng là điều đáng lo ngại hiện nay. Thần thường bàn luận với Hàn Kỳ nhưng chưa thống nhất.”
Vua hỏi: “Thế nào là con đường tiến cử người hiền tài hẹp? Những người mà trung thư từng tiến cử thì họ như thế nào?” Âu Dương Tu đáp: “Từ khi Phú Bật và Hàn Kỳ nắm quyền, trong hơn mười năm, từ các giám ty bên ngoài đến các quan trong tỉnh phủ, việc tuyển chọn rất tinh tế, thường cũng được người tài, so với những năm trước hoàn toàn khác. Tuy nhiên, đều là những viên lại giỏi về tiền lương, hình pháp, đó là dùng người có tài. Còn như thần nói con đường tiến cử người hiền tài hẹp, là nói về chức quán các.”
Vua hỏi: “Thế nào?” Âu Dương Tu trả lời: “Phép dùng người của triều đình, từ hai chế tuyển lên hai phủ, từ ba quán tuyển lên hai chế. Như vậy, ba quán là nơi nuôi dưỡng nhân tài để làm phụ tá. Trước đây, vào ba quán có ba con đường, nay bịt mất hai, đó là điều thần nói là quá hẹp.”
Vua hỏi: “Ba con đường là gì?” Âu Dương Tu đáp: “Một là đỗ cao trong khoa thi tiến sĩ; hai là được đại thần tiến cử; ba là nhờ vào việc sai phái mà được bổ nhiệm. Trước đây, những người đỗ tiến sĩ từ hạng năm trở lên đều được thử làm việc ở quán các, người đỗ đầu chỉ không quá mười năm đã làm đến chức phụ tá. Nay người đỗ đầu, hai nhiệm kỳ mười năm mới được thử làm việc ở quán các, còn từ hạng hai trở xuống không được thử nữa, đó là con đường đỗ cao đã bị bịt. Trước đây, được đại thần tiến cử thì lập tức được triệu thử, nay chỉ cho ghi tên, đợi khi quán các thiếu người mới được thử, mà quán các vốn không có số người cố định, không bao giờ thiếu, nên những người được ghi tên sẽ không bao giờ có ngày thử, đó là con đường tiến cử lại bị bịt. Chỉ còn con đường nhờ vào việc sai phái mà được bổ nhiệm, một nửa là những người già yếu. Đó là điều thần nói là con đường tiến cử người hiền tài quá hẹp. Theo quy chế mới, đặt tám chức biên hiệu quan, đều dùng người được tuyển, qua bảy năm mới từ hiệu khám được bổ làm hiệu lí, ngoài ra chưa từng được thăng chức. Thần cho rằng tám chức này nên giữ nguyên, còn các chức khác nếu thiếu thì nên để trung thư chọn người tiến cử, như vậy sẽ không bỏ sót người hiền tài.”
Vua khen ngợi và chấp nhận, nên có chiếu này.
Vua lại nói với các phụ thần: “Quán các là nơi nuôi dưỡng nhân tài, trước đây muốn chọn vài người đi sứ nhưng không có ai, các khanh hãy vì Trẫm mà tìm kiếm, dù là thân thích của chấp chính hay con nhà danh gia cũng không cần tránh, Trẫm sẽ tự xem xét có được không[20].”
Do đó, Hàn Kỳ, Tăng Công Lượng, Âu Dương Tu, Triệu Khái tiến cử Thái Diên Khánh, Hạ Ỷ (đã gặp năm Gia Hựu thứ hai), Vương Phần, Diệp Quân, Lưu Ban (đã gặp năm Gia Hựu thứ tám), Chương Đôn, Hồ Tông Dũ, Vương Tồn, Lý Thường, Trương Công Dụ, Vương Giới (đã gặp năm Gia Hựu thứ sáu), Tô Chuyết, An Đào (đã gặp năm Gia Hựu thứ tám), Bồ Tông Mạnh, Trần Đồng, Trần Mục, Lý Thanh Thần (đã gặp năm Trị Bình thứ tư), Chu Sơ Bình, Hoàng Lí, Lưu Chí, tổng cộng hai mươi người, Vua đều cho triệu thử.
Hàn Kỳ cho rằng nhiều người quá khó, Vua nói: “Đã giao cho các khanh tiến cử, nếu là người hiền tài thì lo gì nhiều?” Bèn lệnh trước triệu Thái Diên Khánh, quyền đề điểm Thiểm Tây hình ngục, độ chi viên ngoại lang, cùng mười người khác, còn lại đợi sau thử.
Diên Khánh là con của Thái Tề; Phần là chắt của Vũ Xứng; Quân là con của Thanh Thần[21]; Đôn là cháu họ của Đức Tượng; Tông Dũ là em của Hồ Túc; Tồn là người Đan Dương; Thường là người Nam Khang; Công Dụ là người Giang Nguyên; Chuyết là em của Tô Tụng; Đào là người Khai Phong; Tông Mạnh là người Tân Tỉnh; Đồng là người Phủ Điền; Mục là em của Trần Đồng; Sơ Bình là cháu của Chu Ngang; Lí là người Thiệu Vũ; Chí là người Bột Hải.
(《Chu sử》 truyện Âu Dương Tu chép: Chiếu cho Hàn Kỳ, Tăng Công Lượng mỗi người tiến cử sáu người, Âu Dương Tu, Triệu Khái mỗi người tiến cử năm người. Không khớp với 《Mặc sử》 và chỗ này nói hai mươi người, cần xem xét lại. Lưu Ban viết minh chí cho mộ Trần Đồng nói: Văn Ngạn Bác tiến cử Đồng nên ở quán các, triệu thử, nhưng Phú Bật giữ chức Thứ sử Nhữ Châu, xin Đồng làm tòng sự, đợi khi khảo hạch xong sẽ triệu thử. Khi Phú Bật về, chấp chính lập tức triệu thử[22], bổ làm hiệu khám quán các. Không rõ lúc đó ai là người tiến cử Trần Đồng.)
[57] Ngày Bính Ngọ, quần thần nhân dịp hội nghị đầu năm sau, dâng biểu tôn hiệu là Thể Can Ưng Lịch Văn Vũ Thánh Hiếu Hoàng đế[23], Vua xuống chiếu không cho, nhưng sau năm lần dâng biểu mới chấp thuận.
[58] Tháng 11, ngày Giáp Dần, Triệu Minh, chức Đô Tuần kiểm sứ của quan phiên châu Khánh, Nội tàng khố sứ, được phong làm Thứ sử châu Thuận, vì có công đánh người Hạ ở thành Đại Thuận. Bấy giờ, các tướng sĩ và quan phiên có công đều được ban thưởng tùy theo mức độ.
Ban đầu, người Hạ tấn công vây hãm thành Đại Thuận, Vua triệu Tây thượng các môn sứ Lưu Kỷ đến hỏi, Kỷ nói: “Thành Đại Thuận là nơi hiểm yếu của trời, quân địch không thể đến gần, chỉ sợ người Hạ và Triệu Minh mưu mẹo mà thôi!” Vua nói: “Con của Triệu Minh phi ngựa vào thành, suýt bị bắt, khanh đoán địch thật là thần kỳ.”
[59] Ngày Mậu Ngọ, Vua không khỏe.
[60] Ngày Kỷ Tỵ, đưa công chúa Từ Quốc về nhà họ Vương, hoàng hậu và hoàng tử Dĩnh Vương, Đông Dương quận vương đưa đến tận nơi, chiếu cho hoàng hậu ngày hôm sau mới trở về.
[61] Tư Mã Quang tấu: “Thần nghe rằng bậc vương giả coi trời là cha, đất là mẹ, nuôi dưỡng muôn dân, kính cẩn với quỷ thần, lo sợ tai dị, nên mới có thể giữ yên đất nước, hưởng nhiều phúc lành. Đó là đạo lý không thay đổi từ khi có loài người đến nay. Trời tuy cao xa, nhưng tai mắt rất gần, sớm tối không rời bên cạnh bậc vương giả, thuận theo thì lành, nghịch lại thì dữ, ứng nghiệm như bóng theo hình, tiếng vang theo tiếng. Điều này đã được ghi chép trong 《Thi》, 《Thư》, và lời nói của thánh nhân, há có thể nói là mờ mịt không biết[24], mà coi thường không để ý sao?
Thần thấy từ khi bệ hạ lên ngôi đến nay, mặt trời có sắc u ám, trong đó có điểm đen; gió lớn ban ngày tối sầm; mùa đông ấm không có băng; năm nào cũng lụt lớn, nhà cửa ruộng đồng bị cuốn trôi. Đến năm nay, tai dị càng nghiêm trọng, sao chổi xuất hiện rõ ràng, ánh sáng rực rỡ[25], sáng hướng đông, chiều hướng tây, liên tục mấy tháng mới tắt; châu chấu bay phá hoại mùa màng; mặt trời bị che khuất. Thêm vào đó, Thiểm Tây, Hà Đông mùa hè thu thiếu mưa, lúa không thu hoạch được, lúa mạch chưa gieo trồng, phụ nữ trẻ con lo sợ, lưu lạc đầy đường; giặc Tây Nhung xâm phạm trong nước, biên giới chưa yên.
Trong lúc này, quần thần nên khuyên bảo bệ hạ kính sợ thiên mệnh, thương xót dân chúng, kiềm chế bản thân, khiêm tốn giản dị, tìm kiếm lời hay, để tiêu trừ tai họa, kéo dài điềm lành[26]. Thế mà triều đình vẫn thản nhiên, không hề để ý, có người cho rằng đó là lẽ thường, không liên quan đến việc người, có người lại cho rằng sao cảnh tinh là điềm lành, sẽ còn có phúc. Nay lại có kẻ nịnh thần dâng lời, xin tôn thêm hiệu, đó là lừa dối trời cao, bịp bợm bốn biển[27], còn gì tệ hơn thế nữa! Khiến thượng đế quỷ thần tức giận, không vui. Từ khi dâng biểu đến nay, bệ hạ mắc bệnh này, lâu ngày chưa khỏi, đó đều là tội của quần thần xu nịnh, bệ hạ há không tỉnh ngộ mà suy nghĩ sâu xa sao?
Thần không kìm được lòng, liều chết dâng lời, mong bệ hạ tự ý ngăn các chương biểu của quần thần, từ chối tôn hiệu mà không nhận, lại hạ chiếu tự trách mình. Tham khảo ý kiến bốn phương, mở rộng đường ngôn luận, tìm cách thờ trời nuôi dân, chuyển họa thành phúc. Đợi khi thánh thể khỏe mạnh, chính sách thông suốt, mùa màng tốt tươi, lòng người vui vẻ, rồi mới tôn xưng hiệu đẹp, có muộn gì đâu? Như vậy may ra thượng đế nguôi giận, phúc lộc đến nhiều, thánh thể khỏe mạnh, không cần thuốc mà khỏi, quần thần trăm họ, ai chẳng vui mừng. Huống chi trước đây bệ hạ trước lễ giao, từ chối tôn hiệu, thiên hạ khen ngợi đức lớn, đến nay chưa thôi. Như vậy là bỏ hư danh mà được thực danh, bỏ hư mỹ mà lấy thực mỹ, có hại gì cho bệ hạ đâu.
Thần mang ơn nước lớn, đảm nhiệm chức vụ bên cạnh, thấy gần đây quần thần đều kiêng nói, vào thì cúi đầu vái lạy, xin thêm hiệu lớn, ra thì đứng tụm năm tụm ba, trong bụng chê cười, cuối cùng không có một người nào dám nói thẳng với bệ hạ rằng việc đó không nên[28], thần rất đau lòng. Vì vậy dám liều mạng dâng lời ngu muội, mong bậc thánh minh xem xét.” Không nghe theo.
[62] Ban đầu, người Hạ cướp phá Đại Thuận, Vua hỏi hai phủ kế sách sẽ làm thế nào. Tể tướng Hàn Kỳ xin tạm giữ lại lễ vật hàng năm, sai sứ mang chiếu thư đến trách hỏi. Xu mật sứ Văn Ngạn Bác và các quan nói: “Như vậy thì mối họa biên giới sẽ lớn lắm.” Rồi dẫn chuyện thất bại ở Bảo Nguyên, Khang Định để lay động ý Vua. Kỳ nói: “Nhà binh phải xét tình hình đôi bên, việc phòng thủ biên giới ngày nay hơn hẳn ngày xưa. Huống chi Lượng Tộ là đứa trẻ ngông cuồng, sao có thể so với Nguyên Hạo được? Hỏi tội nó ắt nó phải phục.”
Vua nghe theo kế của Hàn Kỳ, sai Hà Thứ Công đi sứ. Tan triều, hai phủ vì bàn luận khác nhau, đều bàn riêng với nhau. Ngạn Bác nói với đồng đảng: “Hắn tự nói là biết địch, hãy xem hắn biết thế nào.”
Hơn một tháng sau, Thứ Công về, dâng biểu của Lượng Tộ. Vua đang ốm nằm, các quan vào thăm hỏi xong, Kỳ gõ vào long sàng hỏi: “Lượng Tộ đã chịu tội chưa?” Vua gắng gượng nhìn Kỳ nói: “Đúng như lời khanh đoán.”
Biểu của Lượng Tộ tuy nói “được ban ơn nhiều đời, dám trái lời thề trước”, nhưng vẫn còn nhiều lời lẽ quanh co, đổ lỗi cho quan lại biên giới của nó. Bèn lại ban chiếu trách hỏi, bảo phải cử sứ riêng dâng biểu thề, nói rõ từ nay về sau nghiêm cấm các tù trưởng biên giới, mỗi người giữ cương giới của mình, không được tập hợp quân lính, xâm phạm lẫn nhau; các vùng Phu Diên, Hoàn Khánh, Kinh Nguyên, Tần Phượng từ lâu thuộc về nhà Hán, cùng các bộ lạc Tây Phiên thuận theo nhà Hán, không được cướp bóc và ép buộc họ quy phục; những kẻ phản nghịch bỏ trốn trong cõi nhà Hán cũng không được chiêu nạp, nếu trái ước này[29], tức là tuyệt giao, còn lại thì tuân theo chiếu thệ trước đây. Ân lễ của triều đình vẫn như cũ.
[63] Tháng 12, trước đó, Vua đã uống thuốc lâu ngày, Giám sát Ngự sử Lý hành Lưu Tường dâng tấu xin lập Hoàng thái tử, Vua không vui, bỏ qua tờ tấu. Một hôm, tể tướng Hàn Kỳ và các quan vào chầu hỏi thăm sức khỏe rồi lui ra, Dĩnh vương bước ra khỏi cửa phòng ngủ, vẻ mặt lo lắng, quay lại hỏi Hàn Kỳ: “Làm sao đây?” Hàn Kỳ đáp: “Xin Đại vương sớm tối đừng rời xa bên cạnh bệ hạ.” Dĩnh vương nói: “Đó là bổn phận của người con.” Hàn Kỳ nói: “Không phải vì việc đó.” Dĩnh vương chợt hiểu rồi đi. Vua từ khi mắc bệnh không thể nói được, mọi việc đều viết ra giấy.
[64] Ngày Tân Sửu, bệnh Vua càng nặng, các quan phụ chính vào chầu hỏi thăm xong, Hàn Kỳ lại tâu: “Bệ hạ đã lâu không ra triều, trong ngoài đều lo lắng, nên sớm lập Hoàng thái tử để yên lòng mọi người.” Vua gật đầu, Hàn Kỳ xin Vua tự tay viết chỉ dụ, Vua bèn viết: “Lập Đại vương làm Hoàng thái tử.” Hàn Kỳ nói: “Chắc chắn là Dĩnh vương, xin bệ hạ tự tay viết thêm.” Vua lại viết thêm phía sau: “Dĩnh vương Húc.” Hàn Kỳ liền triệu Nội thị Cao Cư Giản trao tờ chiếu, sai Hàn lâm học sĩ soạn chiếu.
Học sĩ Thừa chỉ Trương Phương Bình đến trước giường nhận mệnh, Vua dựa vào bàn viết vài chữ, Phương Bình không hiểu, Vua lấy tay chỉ lên bàn, Phương Bình bèn xin đưa bút để Vua viết lệnh, Vua viết: “Ngày mai ban chiếu, lập mỗ làm Hoàng thái tử” mười chữ, tên viết không rõ, Phương Bình lại xin đưa bút, Vua viết thêm hai chữ “Dĩnh vương”, rồi viết ba chữ “Đại Đại vương”, Phương Bình lui ra soạn chiếu.
[65] Ngày Nhâm Dần, lập hoàng tử Dĩnh vương Húc làm Hoàng thái tử. Vua đã theo lời bàn của các phụ thần mà lập Hoàng thái tử[30], nhân đó rơi lệ[31]. Văn Ngạn Bác lui ra nói với Hàn Kỳ rằng: “Ngài có thấy sắc mặt của bệ hạ không? Đến lúc này trong đời, dù là cha con cũng không thể không xúc động.” Kỳ đáp: “Việc nước phải như vậy, biết làm sao được!” Hoàng tử lần đầu nghe mệnh, từ chối trước giường lâu lắm.
[66] Ngày Quý Mão, đại xá, ban thưởng cho con trai của các quan văn vũ là người kế thừa cha một tước huân.
[67] Ngày Ất Tỵ, chiếu rằng sang năm vào ngày 19 tháng giêng sẽ làm lễ sách phong Hoàng thái tử[32], Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Trương Phương Bình làm Lễ nghi sứ, Hàn lâm học sĩ Vương Khuê soạn văn sách, Tiền Minh Dật viết sách, Tri chế cáo Tống Mẫn Cầu viết bảo.
[68] Năm đó, số hộ là 1.291.721, số đinh là 2.909.185. Thuế hạ thu là 2.042.170 thạch, vì thiên tai mà miễn thuế 2.102.746 thạch. Xử tử hình 1.832 người.
- Từ từ bỏ đất ra, chữ 'kỳ' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống và bản Tống toát yếu bổ sung ↵
- Tổ tông triều xu phủ tham dụng võ thần 'Xu phủ' nguyên tác 'Xu mật phủ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản và 《Tống tể phụ biên niên lục》 quyển 6 sửa. ↵
- 《Tống sử》 chép là việc năm thứ 2 'Tống' nguyên tác 'Chu', các bản chép 'Tống', 《Tống sử》 quyển 290 truyện Quách Quỳ chép việc này vào năm Trị Bình thứ 2, nên sửa lại. ↵
- chữ 'lệnh' trong câu 'lệnh nhiệm hoàn vô tang tư tội', các bản Tống, Tống toát yếu, các bản khác và 《Tống hội yếu》 quyển 28, mục 3 đều ghi là 'kim'. ↵
- chữ 'cử' trong câu 'tuế cử tuyển nhân sung kinh quan giả' vốn bị thiếu, căn cứ vào bản Tống, Tống toát yếu và sách trên để bổ sung. ↵
- chữ 'quan' trong câu 'dữ chú hợp nhập chức quan' vốn bị thiếu, căn cứ vào hai bản trên và sách trên để bổ sung. ↵
- Chữ 'nhân' trong 'hậu thứ dẫn đối tuyển nhân nhị bách ngũ thập nhân' nguyên bản thiếu, căn cứ theo hai bản khác bổ sung. ↵
- Tháng 8 ngày Kỷ Hợi, chữ 'Kỷ' nguyên là chữ 'Ất', xét tháng này ngày Quý Mùi là ngày mùng một, không có ngày Ất Hợi. Căn cứ theo hai bản trên, các bản khác và 《Tống sử toàn văn》 quyển 10 phần trên mà sửa. ↵
- Ban đầu bỏ đi tên họ sáu chữ này, bản Tống và bản Tống toát yếu đều viết chữ lớn thành một dòng riêng. ↵
- Quan ngoại nhiệm không cần đợi mãn nhiệm mới về: chữ 'không' nguyên bản là 'dĩ', theo Tống bản, Các bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 56 'Khử nhũng quan', 《Tống hội yếu》 Chức quan 11-16 sửa lại. ↵
- Xin rằng: chữ 'xin' nguyên bản là 'kính', theo Tống bản và hai sách trên sửa lại. ↵
- Xin các quan hai chế cũng theo lệ quan kinh triều: chữ 'lệ' nguyên bản là 'chế', theo Tống bản và hai sách trên sửa lại. ↵
- so với chế độ của tổ tông 'so' nguyên văn là 'thử', theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 56 về việc bỏ quan nhũng, 《Tống hội yếu》 chức quan 11-17 sửa lại. ↵
- chữ 'viên' trong 'định viên' vốn bị thiếu, căn cứ theo bản Tống và hai sách trên để bổ sung. ↵
- án tử hình đều phải xét hỏi rồi mới chém 'chém', bản Tống chép là 'đoạn'. ↵
- Không thể làm gương cho thiên hạ, chữ 'thị' nguyên là chữ 'pháp', theo bản Tống, bản các và 《Tống sử》 quyển 330, truyện Đậu Biện sửa lại. ↵
- Hơn nữa cũng trái với ý nghĩa lập pháp cấm đoán của tổ tông, bản Tống chữ 'cấm' có thêm chữ 'dân'. ↵
- 'Khoả' nguyên là 'trung', theo 《Thái Bình Trị Tích Thống Loại》 quyển 11, phần 'Trị Bình Tây Hạ Nhiễu Biên' sửa lại ↵
- Lễ bộ tấu danh tiến sĩ 'danh' nguyên là 'triệu', theo Tống bản, các bản khác sửa. ↵
- Trẫm sẽ tự xem xét có được không, chữ 'tự' nguyên bản thiếu, theo bản Tống bổ sung. ↵
- Con của Thanh Thần, chữ 'thanh' nguyên bản viết 'Thanh', theo bản Tống và 《Tống sử》 quyển 295, truyện Diệp Thanh Thần sửa lại. ↵
- Chấp chính lập tức triệu thử, hai chữ 'chấp chính' nguyên bản thiếu, theo bản Tống bổ sung. ↵
- Thể Can Ưng Lịch Văn Vũ Thánh Hiếu Hoàng đế, chữ 'Ưng' nguyên bản là 'Ứng', căn cứ theo bản Tống, bản các và 《Tống sử》 quyển 13, kỷ Anh Tông sửa lại. ↵
- há có thể nói là mờ mịt không biết: chữ 'nhiên' dưới nguyên có thêm chữ 'nhi', theo bản Tống và 《Tư Mã Quang Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 quyển 35, 《Thỉnh Bất Thụ Tôn Hiệu Trát Tử》 mà bỏ. ↵
- ánh sáng rực rỡ: nguyên là 'thiên tai', theo bản Tống và sách trên mà sửa. ↵
- để tiêu trừ tai họa, kéo dài điềm lành: bản Tống và sách trên đều viết 'để tiêu trừ tai họa, kéo dài điềm lành'. ↵
- bịp bợm bốn biển: 'bốn biển', bản Tống và sách trên đều viết 'trong nước'. ↵
- cuối cùng không có một người nào dám nói thẳng với bệ hạ rằng việc đó không nên: chữ 'kỳ' nguyên thiếu, theo bản Tống và sách trên mà thêm. ↵
- Nếu trái ước này 'trái' nguyên là 'chìm', theo Tống bản, các bản sửa. ↵
- Vua đã theo lời bàn của các phụ thần mà lập Hoàng thái tử, chữ 'nghị' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 cùng 《Tống sử toàn văn》 bổ sung. ↵
- Nhân đó rơi lệ, chữ 'nhân' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 bổ sung. ↵
- Hoàng thái tử, chữ 'thái' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống và sách trên bổ sung. ↵