"

VI. TỐNG THẦN TÔNG

[BETA] QUYỂN 210: NĂM HI NINH THỨ 3 (CANH TUẤT, 1070)

Bắt đầu từ tháng 4 năm Hi Ninh thứ 3 đời Thần Tông đến hết tháng đó.

[1] Tháng 4 mùa hạ, ngày Quý Hợi, Vua ngự đến Kim Minh Trì xem trò chơi dưới nước, rồi yến tiệc và bắn cung ở vườn Quỳnh Lâm. (Sách kỷ cũ chép việc Vua đến Tây Trì và vườn Quỳnh Lâm, còn sách kỷ mới không chép.)

[2] Ngày Ất Sửu, sai Tri chế cáo Tống Mẫn Cầu, Khán tường giảm tỉnh văn tự của Ngân Đài Ty, Đô quan viên ngoại lang Vương Đình Quân, Thái thường bác sĩ, Tập hiền hiệu lý Lưu Cẩn, Điện trung thừa Tống Ôn Kỳ, Trứ tác tá lang Tiền Trường Khanh, Tăng Bố, cựu Huyện lệnh Hà Tây là Đỗ Thuần, đều làm Biên sắc san định quan. Đình Quân từng dâng sớ ca ngợi hình danh về tội mưu sát do Vương An Thạch định ra, còn Ôn Kỳ vốn là người kiểm pháp của Vương An Thạch, ủng hộ việc này. (Việc này căn cứ theo nhật ký của Tư Mã Quang. Ôn Kỳ người Giới Hưu.)

Tăng Bố là em của Tăng Củng. Đỗ Thuần người Chân Thành. Đình Quân, Trường Khanh không rõ lai lịch. (Tăng Bố vào ngày 23 tháng 8 được biên vào Trung thư lệ.)

[3] Cấp 500 độ điệp cho Tần Phượng lộ. Kinh lược sứ Lý Sư Trung tâu rằng việc chiêu nạp các bộ tộc phiên và chiêu mộ dũng sĩ cần có vàng lụa để chi phí. Tam ty xin ban thưởng 5.000 lượng bạc và 5.000 tấm lụa. Vua phê rằng bạc và lụa chắc chắn sẽ bị phân tán cho dân phường quách, nên ban độ điệp thay thế.

[4] Ngày Bính Dần, Vua Liêu sai Vĩnh Châu quan sát sứ Gia Luật Khoan, Vệ úy thiếu khanh Trình Ký, mẹ Vua Liêu sai Hoài Đức quân tiết độ sứ Tiêu Hi, Thái thường thiếu khanh Trương Ký đến chúc mừng lễ Đồng Thiên.

[5] Ngày Đinh Mão, phong tân khoa Tiến sĩ Diệp Tổ Hợp làm Đại Lý bình sự, Thượng Quan Quân, Lục Điền làm Lưỡng sứ chức quan, Trương Trung, Trình Nghiêu Tá làm Sơ đẳng chức quan, từ người thứ 6 trở xuống làm Phán, Ty, Chủ bạ hoặc Úy, những người đỗ Giáp thứ 3 và các khoa đồng xuất thân đều được giữ chức, lại sai Hàn lâm học sĩ Phạm Trấn, Long đồ các trực học sĩ Trương Diễm cùng Lại bộ Lưu nội tuyển chú nghĩ (ND: phụ trách việc định ra chức vụ và đề cử).

Trương Trung người Khai Phong. Trình Nghiêu Tá người Đan Lăng.

[6] Bãi bỏ việc cống tre trúc hàng năm của Toàn châu.

[7] Cấp năm trăm độ điệp cho tăng nhân, giao cho Lưỡng Chiết Chuyển vận ty, phân phát cho các châu quân bị thiên tai lũ lụt và mất mùa, kêu gọi người dân nộp gạo hoặc tiền để cứu tế dân đói.

[8] Quốc tín sở tâu: “Sứ giả Liêu đến dịch trạm Lâm Thanh để chúc mừng lễ Đồng Thiên tiết, có người Khiết Đan tên là Địch Liệt Tử Di Ly Căn đêm đến đâm chết bốn người Khiết Đan cùng ở, làm bị thương mười hai người. Ngoài việc ban tiền và lụa để lo việc tang, còn lại chưa dám chiếu cấp.” Chiếu rằng: “Những người bị thương hoặc chết được cấp thêm quần áo và lễ vật khi triều kiến và từ biệt, theo lệ như người chết vì bệnh. Người Khiết Đan tên là Địch Liệt Tử Di Ly Căn cũng được cấp theo lệ này, nếu chết cũng được ban tiền và lụa để lo việc tang.”

[9] Ngày Mậu Thìn, chiếu rằng: “Ngự sử trung thừa Lữ Công Trước, vì các đại thần dâng sớ chống đối, nhân lúc ngồi đối đáp, đã vu cáo phương trấn có âm mưu trừ ác, làm trái sự thật, khiến Trẫm kinh hãi. Có thể giáng làm Hàn lâm thị độc học sĩ, nhậm chức Tri Dĩnh châu; Quyền Tri Khai Phong phủ, Hàn lâm học sĩ kiêm Thị độc Hàn Duy được cử làm Quyền Ngự sử trung thừa; Tri Thái Nguyên phủ, Đoan Minh điện học sĩ kiêm Hàn lâm thị độc học sĩ Phùng Kinh được bổ làm Hàn lâm học sĩ kiêm Đoan Minh điện học sĩ, nhậm chức Tri Khai Phong phủ.”

Lữ Công Trước đang giữ chức ngôn quan, nhiều lần dâng sớ xin bãi bỏ Ty chế trí tam ty điều lệ và chức quan đề cử thường bình.

Trong tấu chương cuối cùng, ông viết: “Tổ tiên chúng ta kế thừa thời loạn lạc Ngũ đại, pháp độ mới được xây dựng, tuy chưa hoàn thiện như thời cổ đại, nhưng cách trị dân giản dị, cai trị khoan dung, lòng nhân từ yêu thương dân chúng đã thấm sâu vào lòng người, đến mức thời thịnh trị của Hán, Đường cũng không thể vượt qua.

Vì vậy, đất nước đã tồn tại trăm năm, lòng dân vui mừng ủng hộ, dù gặp năm đói kém, dân chúng lưu lạc đến chết cũng không có lòng phản nghịch, chính là nhờ ân đức sâu dày đã kết chặt lòng người. Chỉ vì thời gian đã lâu, việc chính sự có chỗ tệ hại, nên bệ hạ mới hăng hái lâm triều, muốn sửa đổi. Tuy nhiên, việc thi hành chính sách chưa đúng phương pháp, chỉ mới làm một hai việc nhỏ nhặt đã khiến lòng dân bất mãn, trong ngoài chia rẽ, ai nấy đều lo sợ.

Thần nghĩ rằng từ thời tổ tiên đến nay, lý do sâu xa khiến lòng dân quy phục là nhờ sự tích lũy gian khổ, không phải một sớm một chiều. Nay há có thể vì một hai việc nhỏ nhặt mà làm mất lòng dân? Lòng dân một khi đã dao động thì khó lấy lại, sau này dù có chính sách tốt cũng khó thi hành. Huống chi trong lúc trên dưới nghi ngờ, khó yên mà dễ động, đó là điều khiến thần lo lắng.

Kính mong bệ hạ ngẫm nghĩ công lao tiên liệt, xem xét tình hình thực tế, mọi việc làm đều phải lấy nhân hậu làm gốc, không nên quá gấp gáp mà gây thêm oán hận, như vậy lòng dân sẽ vui vẻ và ý trời cũng thuận theo.”

Ông lại viết: “Danh không chính thì lời nói không thuận, lời nói không thuận thì việc không thành. Nay Ty chế trí, trên không liên quan đến triều đình, dưới không ủy thác cho các cơ quan, nên từ khi mới thành lập, lòng người đã nghi ngờ hoang mang, đến khi thấy việc làm, dư luận càng thêm xôn xao.

Việc lớn của triều đình đều do hai phủ quyết định, chỉ riêng việc chế định điều lệ liên quan đến an nguy quốc gia, họa phúc dân chúng, mà tể tướng lại không được tham dự. Nếu tể tướng cho là đúng, nên cùng bàn bạc; nếu cho là sai, cũng không nên ngồi nhìn thành bại, chỉ ký tên ở cuối chiếu thư mà thôi. Còn những việc nhỏ nhặt như kho tàng, trường ốc, khố sở, e rằng không cần đợi đại thần chấp chính mới làm được.

Thần lại nghe nói, chính sách của thánh nhân quý ở chỗ hiển lộ nhân từ mà giấu kín dụng ý. Quản Trọng chỉ là bề tôi giúp bá chủ, nhưng khi ban hành lệnh còn nói rằng pháp luật thành tựu mà nước láng giềng không biết. Nay triều đình thi hành chính sách chưa thực sự có lợi cho dân, nhưng trước hết lại lập một ty, khiến thiên hạ nghi ngờ oán hận, đến nay vẫn chưa yên, e rằng không phải là kế sách hay. Xin bệ hạ xem xét lại tấu chương trước của thần mà thi hành.”

Đều không được nghe theo. Ông bèn xin từ chức, về nhà chờ mệnh.

Tháng này, ngày Ất Sửu, xuống chiếu phục chức cũ cho Lữ Công Trước, kiêm chức Đồng đề cử chư ty khố vụ, Hàn Duy làm Trung thừa[1], Lý Trung Sư quyền tri Khai Phong phủ.

Mệnh vừa ban xuống, lại giữ lại. Đến lúc này mới cách chức Lữ Công Trước, và dùng Phùng Kinh thay Lý Trung Sư.

(Vương An Thạch viết sách 《Thời chính ký》, chép rằng: “Lữ Công Trước nhiều lần tâu việc không đúng sự thật, lại xin được vào yết kiến, nói rằng: ‘Triều đình ban bố ý nghĩa của phép Thường bình, làm mất lòng thiên hạ. Nếu như Hàn Kỳ nhân lòng dân như Triệu Ưởng cử binh để trừ kẻ ác bên cạnh Vua, không biết bệ hạ sẽ đối đãi thế nào?’ Rồi khóc lóc tâu bày, cho rằng việc này liên quan đến sự an nguy tồn vong của xã tắc tông miếu, lại nhiều lần xin từ chức ngôn quan. Vua thấy rõ ông ta là kẻ gian, nên cách chức.

Ban đầu, Vua muốn nói rõ tội trạng của Công Trước, sai Tăng Công Lượng và các quan truyền chỉ cho các xá nhân soạn chiếu. Công Lượng bảo Tống Mẫn Cầu soạn chiếu chỉ nói rằng ‘dẫn nghĩa chưa ổn’ mà thôi. An Thạch nói: ‘Thánh chỉ bảo phải nói rõ tội trạng, nếu chỉ nói dẫn nghĩa chưa ổn thì không đúng chỉ.’ Mẫn Cầu soạn chiếu theo lời Công Lượng dạy. Hôm sau lại xin chỉ, Công Lượng, Trần Thăng Chi, Triệu Biện đều tranh luận cho là không nên.

Vua nói: ‘Công Trước có hư danh xa gần, nếu không nói rõ tội trạng thì người ta sao biết vì sao ông ta bị cách chức, ắt sẽ lại xôn xao.’ Công Lượng và các quan cho rằng, làm như vậy thì bốn phương sẽ đồn đại rằng có đại thần muốn cử binh, không tiện; và Hàn Kỳ cũng sẽ bất an. Vua nói: ‘Đã cách chức Công Trước, nói rõ lời ông ta là bịa đặt, thì Hàn Kỳ không có lý do gì bất an; dù bốn phương có đồn đại, thì cũng có gì không tiện?’ Công Lượng và các quan vẫn cố tranh luận, đến tối, Vua vẫn không đồng ý, và bảo Thăng Chi sửa lại lời chiếu rồi ban hành.” An Thạch chép như vậy.

Sau đó, Công Trước lại được triệu dùng, đến khi Triết Tông lên ngôi, đảm nhiệm việc biên soạn thực lục, tâu rằng: “Thần trước đây giữ chức Ngự sử trung thừa, nhiều lần xin bãi bỏ Ty chế trí tam ty điều lệ, tâu rằng việc sai quan phát tiền Thanh miêu là không đúng, nhưng không được thi hành, năm lần xin bị giáng chức ra ngoài. Thần cũng từng vào chầu tâu bày trực tiếp, được Thần Tông ân cần khuyên bảo, ý chỉ của thánh thượng rất ôn hậu, hoàn toàn không có ý trách phạt.

Ngày mồng 5 tháng 4, nghe tin thần được bổ làm Hàn lâm học sĩ kiêm Thị giảng học sĩ, Bảo văn các học sĩ, Tri thẩm quan viện, thần đến ngày mồng 6[2] lại tâu, vì việc tâu bày không hiệu quả, xin bị giáng chức, đến ngày mồng 7, nghe tin có chỉ cách chức hai học sĩ, bị đuổi đi làm Tri châu Dĩnh.

Lúc đó Vương An Thạch đang muốn chủ trương thi hành tân pháp, tức giận vì ý kiến bất đồng, bèn lấy bản thảo chiếu của xá nhân đã soạn, tự ý sửa chữa, thêm vào mấy câu, vu cáo thần từng nhân lúc vào chầu tâu bày về Hàn Kỳ vì việc tâu bày không được dùng, sẽ có mưu đồ trừ kẻ tiểu nhân bên cạnh Vua. Thực ra thần nhiều lần tâu bày, chưa từng nhắc đến Hàn Kỳ một chữ, đang định nhân lúc vào từ biệt để tự biện bạch, thì lúc đó đã qua giờ chầu, bỗng có chỉ cho thần khỏi phải vào từ biệt, lệnh phải lập tức lên đường nhậm chức.

Đến năm Nguyên Phong, thần lại vào chầu triều đình, Tiên đế đối đãi thần rất hậu, chẳng bao lâu, bèn bổ nhiệm thần vào chức vụ trọng yếu, và từng ban cho thần thủ chiếu, đại ý nói rằng: ‘Trong các bề tôi trong triều, có thể giao phó trọng trách tâm phúc trong ngoài, cùng chia sẻ nỗi vui buồn của hoàng gia, không ai hơn được khanh.’ Việc bị vu cáo và đuổi đi hoàn toàn không phải do ý chỉ của thánh thượng, chỉ là Vương An Thạch tức giận vì thần có ý kiến khác, Lữ Huệ Khanh gây chuyện.

Thời gian đã lâu, thần vốn không muốn tự biện bạch. Nay nhân đang giữ chức tể tướng, phụ trách việc biên soạn thực lục, nếu thực lục cứ theo lời vu cáo của An Thạch mà chép, thì vì thần đang phụ trách việc tu soạn và tiến trình, nên sẽ thành sự thật, về sau những người viết sử thẳng thắn dù muốn biện chính cũng không được. Mong rằng lời tâu của thần được giao cho Viện thực lục, cho phép ghi chép sự thật, để lấy được lòng tin của hậu thế.”

Vua phê trong tờ tâu: “Theo lời tâu mà thi hành.” Lúc đó là năm Nguyên Hựu thứ 2.

Tư Mã Quang ghi lại lời nghe được từ Triệu Biện rằng: “Thượng dụ bảo các quan chấp chính rằng, Lữ Công Trước từ Viện Cống ra, lên điện tâu rằng triều đình đã đẩy Hàn Kỳ vào thế khó quá mức, sắp dấy binh Tấn Dương để trừ kẻ ác bên cạnh Vua. Vương An Thạch oán Lữ Công Trước phản bội mình, nên lấy đó làm tội của ông. Khi Trung thư trình lời cáo trách quan chức của Lữ Công Trước, Tống Mẫn Cầu chỉ nói: ‘Trình bày không đúng sự thật, dẫn chứng không phù hợp.’

Vương An Thạch nổi giận, xin ghi rõ tội trạng. Trần Thăng Chi không đồng ý, nói: ‘Như vậy, khiến Hàn Kỳ sao yên được?’ Vương An Thạch đáp: ‘Lữ Công Trước vu cáo Hàn Kỳ, thì Hàn Kỳ có tổn hại gì? Như trước đây các quan gián nghị nói Trần Thăng Chi nịnh nội thần để cầu chức Lưỡng phủ, triều đình đâu vì thế mà phế bỏ ông?’ Mọi người đều cúi đầu không dám đối đáp. Thượng nghe theo lời sửa của Vương An Thạch, và nói: ‘Nếu không thế, thì việc nhỏ như Thanh Miêu sao đủ để cách chức Trung thừa?'”

Tư Mã Quang lại nói: “Lữ Công Trước vốn cẩn trọng, ban đầu không có lời tâu này, có người nói Tôn Giác từng tâu với Thượng: ‘Nay các đại thần phiên trấn bàn luận như vậy mà bị nhục, nếu vào thời Đường mạt, Ngũ đại, ắt sẽ có người dấy binh Tấn Dương để trừ kẻ ác bên cạnh Vua.’ Thượng nhớ nhầm cho là lời của Lữ Công Trước.”

Gia truyền của Lữ Công Trước chép: Ngày 11 tháng 3, Nhâm Dần, quan gián nghị Tôn Giác vào chầu bàn việc Thanh Miêu, và nói rằng việc Ty Điều lệ bác bỏ tấu chương của Hàn Kỳ rồi khắc bản ban hành là không phải ý của bệ hạ đối với bậc huân cựu đại thần. May Hàn Kỳ chất phác trung thành, nên không lo ngại gì, nhưng nếu vào thời Đường mạt, Ngũ đại khi phiên trấn cường thịnh, há chẳng sinh sự cho nước sao?

Hai ngày sau, [ngày] Giáp Thìn, Lữ Công Trước vào chầu, lại cực lực bàn việc Thanh Miêu, nhưng không nhắc đến Hàn Kỳ. Sau đó, Thượng bảo các quan chấp chính: “Lữ Công Trước, Tôn Giác đều cực lực nói việc Thanh Miêu không tiện, và rằng việc bác bỏ Hàn Kỳ là không đúng.” Nhân đó trách Vương An Thạch, Hàn Giáng không nên khắc bản, ban đầu không có ý trị tội Tôn Giác. Khi Tôn Giác bị cách chức, các quan chấp chính bèn lấy lời của ông gán cho Lữ Công Trước.

Đến khi Lữ Công Trước bị cách, Tôn Giác còn đỗ thuyền ở phía đông thành, chưa đến Quảng Đức, bèn nói với mọi người: “Việc Hàn Kỳ chỉ có Tôn Giác từng nói đến thôi.” Từ đó mọi người biết Lữ Công Trước chưa từng nói về Hàn Kỳ. Lại nói: “Lữ Công Trước có hai cháu gái gả cho con trai Hàn Kỳ, nên ông ắt không thể vu cáo Hàn Kỳ.”

Lữ Công Trước từ ngày 13 tháng 3 trở đi không vào chầu nữa, tổng cộng 22 ngày sau mới bị cách chức Trung thừa. Nếu quả thật Lữ Công Trước vu cáo Hàn Kỳ mà Thượng cho là tội, thì đáng lẽ phải trách phạt ngay, không nên để lâu như vậy, lại càng không nên trước tiên bãi chức Tam học sĩ. Gia truyền chép như thế, nay chỉ theo lời ghi của Tư Mã Quang, không dám dùng gia truyền để chứng minh quốc sử. Nhưng Tư Mã Quang ghi việc này cũng không khác gì gia truyền.

《Nguyên Hựu thực lục》 chép 《Thời chính ký》 của Vương An Thạch và tấu chương của Lữ Công Trước, cách viết rất đúng đắn.

Chu bản nói: Thực lục của Tiên đế không nên chép các văn tự thời Nguyên Hựu, nên xóa bỏ hết, chỉ dùng Nhật lục của An Thạch, nay vẫn giữ lại bản cũ thời Nguyên Hựu, và kèm theo những gì Tư Mã Quang đã ghi chép.

Sách 《Đông Hiên Lục》 của Ngụy Thái chép: Vào đầu niên hiệu Hi Ninh, triều đình mới lập ra Ty Điều Lệ, các lộ đều đặt chức Đề cử Thường bình quan, và phát tiền Thường bình, thu lãi hai phần. Lúc đó, Hàn Ngụy công đang trấn thủ Bắc đô, dâng sớ bàn việc này, xin bãi bỏ chức Đề cử quan ở các lộ, phép Thường bình vẫn giữ như cũ, không thu lãi hai phần. Ngụy công rất giỏi về biểu chương, lời lẽ ôn hòa, chi tiết, không có gì xúc phạm. Viên Hoàng thành sứ là Thẩm Duy Cung, bèn sai môn khách là Tôn Phỉ giả mạo làm biểu của Ngụy công, nói rằng: “Muốn dấy binh Tấn Dương để trừ kẻ gian bên cạnh Vua.” Biểu viết xong, Duy Cung đưa cho Cáp môn sứ Lý Bình xem, Bình cướp lấy biểu dâng lên Vua. Vua rất kinh hãi, bèn bắt Duy Cung và Tôn Phỉ giao cho Hữu ty xét xử.

Khi ấy, Ngự sử trung thừa Lữ Công Trước nhân dịp ngồi hầu bên cạnh tâu việc, vẫn cho rằng lời của Phỉ là thật. Vua bèn đưa biểu chương của Ngụy công gửi đến Ty Điều Lệ. Duy Cung bị đày ra biển, Tôn Phỉ bị đánh bằng gậy đến chết ở chợ, Công Trước bị cách chức Trung thừa, ra làm Tri Dĩnh châu. Chiếu viết: “Gần đây, đại thần dâng sớ can gián, nhân dịp ngồi hầu bên cạnh mà đối đáp, lại vu cáo phương trấn có mưu đồ trừ ác, khiến Trẫm rất kinh hãi, trái với sự thật.” Chính là chỉ việc này.

Xét sách chép của Tư Mã Quang về việc Tôn Phỉ cũng rất chi tiết, ban đầu không nói là giả mạo biểu của Ngụy công, e rằng Thái nói sai[3]. Cựu kỷ chép: Ngự sử trung thừa Lữ Công Trước nói Vương An Thạch làm việc không đúng, bị giáng làm Hàn lâm thị độc học sĩ, Tri Dĩnh châu. Tân kỷ không chép, nên theo Cựu kỷ.)

[10] Ngày Nhâm Thân, Âu Dương Tu, Tri Thanh Châu, Quan Văn Điện Học Sĩ, Binh Bộ Thượng Thư, được bổ nhiệm làm Tuyên Huy Nam Viện Sứ, kiêm Phán Thái Nguyên Phủ. Từ năm Hoàng Hựu thứ ba, quy định Tuyên Huy Sứ không được quá hai người. Sau đó, Phú Bật được bổ nhiệm làm Tuyên Huy Sứ kiêm Phán Tịnh Châu, lúc đó đã có hai người, nhưng vì nhiệm vụ biên cương nên tạm thời tăng thêm một người.

Đến lúc này, Quách Quỳ và Vương Củng Thần đã là Tuyên Huy Sứ, cùng với Âu Dương Tu thành ba người, theo lệ của Phú Bật. Thái Nguyên thiếu người trấn thủ, ban đầu Vua định dùng Đằng Phủ, nhưng bàn bạc không hợp, nên dùng Âu Dương Tu. Vua ban đầu nghi ngờ Âu Dương Tu vì bệnh không chịu đi, Vương An Thạch nói: “Thử khuyên nhủ và ban thêm chút ân lễ, ắt sẽ chịu đi.” Vì thế, Vua ban chức Tuyên Huy Sứ, nhưng Âu Dương Tu từ chối.

Đến ngày 3 tháng 7, Vua mới chấp nhận cho ông từ chối. Ngày 21 tháng 5, Âu Dương Tu chỉ thực hiện hạn chế việc phát thanh miêu, được đặc xá tội[4].

[11] Ngày Quý Dậu, tổ chức đại yến ở điện Tập Anh.

[12] Ngày Đinh Sửu, Hàn Duy được cử làm Quyền tri Khai Phong phủ, Bằng Kinh làm Quyền Ngự sử Trung thừa. Vương An Thạch đã tiến cử Hàn Giáng cùng phụ trách chế trí tam ty điều lệ, lại tiến cử Hàn Duy thay thế Lữ Công Trước, muốn anh em họ Hàn giúp mình. Tăng Công Lượng và các quan đều cho rằng làm như vậy ắt sẽ gây ra lời bàn tán, Hàn Giáng cũng nói rằng em trai mình chắc chắn không dám nhận.

Mệnh lệnh vừa ban xuống, Trần Tương đã nói việc này không thể, Hàn Duy cũng kiên quyết nói: “Anh Thần là Hàn Giáng đang giữ chức Xu mật phó sứ kiêm điều lệ ty, bàn luận đến nhiều việc. Ngự sử Trung thừa đối với những thiếu sót của triều đình không gì là không nên nói, không nói thì bỏ qua công luận, nói ra thì mất ân tư. Hơn nữa, Lữ Công Trước vì bàn việc thanh miêu mà bị cách chức, thần thay thế ông ấy, tự xét thấy không tránh khỏi hiềm nghi, và cũng không thể làm khuất phục ý kiến của sĩ đại phu.” Ông lại nhiều lần đối diện với Vua, dẫn lý lẽ kiên quyết, cuối cùng đổi chức với Bằng Kinh.

Ban đầu, Lý Trung Sư[5] được cử làm Quyền tri Khai Phong, nhưng sau đó vì Lý Trung Sư không được lòng dân, bị cách chức. Tăng Công Lượng và các quan ban đầu đề nghị triệu Ngô Trung Phục làm Ngự sử Trung thừa. Vương An Thạch nói: “Ngô Trung Phục xét vụ Lý Tham, mọi người đều cho rằng ông ta xu phụ Văn Ngạn Bác, e rằng không phải là người chính trực, bệ hạ nên tự xem xét.” Vì vậy, việc triệu hồi không thành.

Khi cách chức Lý Trung Sư, lại muốn triệu Ngô Trung Phục làm Doãn Kinh. Vương An Thạch nói: “Thần trước đây tấu việc Ngô Trung Phục xu phụ Văn Ngạn Bác, không có chứng cứ, e khó tin. Như việc trước đây không cho phép chỉ sử do đề cử quan sai xuống huyện, nếu không tâu lên, nên báo lên điều lệ ty, việc này có liên quan gì đến Hàn Kỳ? Ngô Trung Phục lại báo lên Hàn Kỳ, việc ông ta uốn mình nịnh Hàn Kỳ như vậy cũng đủ biết nhân phẩm của ông ta.” Cuối cùng, việc triệu hồi bị bãi bỏ.

[13] Chiếu cho Bí thư thừa Trâu Hà lệnh cho Thẩm quan viện xét và sắp xếp chức vụ trước. Trâu Hà tiến cử làm Ngự sử, sau khi triệu kiến, bị bãi chức.

[14] Ngày Mậu Dần, Bí thư thừa, Tập hiền hiệu lý, Đồng tri Gián viện Hồ Tông Dũ được cử làm Đồng phán Tư nông tự.

[15] Chiếu cho Đô kiềm hạt Tần Phượng lộ là Hướng Bảo kiêm chức Đề cử các bộ tộc vùng biên giới phía tây Tần châu, Vương Thiều được gia chức cùng làm việc. Bảo trước đây giữ chức Quản câu, sau đó được lệnh cho Thiều làm Đề cử, Vua cho rằng như vậy là không cân xứng, nên sửa lại; lệnh cho Trương Thủ Ước vẫn giữ chuyên trách Quản câu các bộ tộc phía đông, sau đó đều bãi bỏ.

Ban đầu, Văn Ngạn Bác và Trần Thăng Chi đều cho rằng Bảo nên làm Đề cử, sau đó Vương An Thạch một mình tâu rằng: “Hướng Bảo vốn làm hỏng việc của Vương Thiều, Thiều nói có hai tộc không thể chiêu phủ được là do Bảo cản trở việc của ông ấy. Nay lại lệnh cho ông ấy cùng làm việc với Thiều, lại ở trên Thiều, thì việc của Thiều e rằng không thành.” Trần Thăng Chi nói: “Bảo tuy mang danh này, nhưng chỉ ở trong thành, thì có hại gì?” An Thạch nói: “Bảo đã là quan trưởng, thì các thuộc hạ đều sợ ông ấy, thế lực đủ để cản trở việc, sao lại nói là không hại? Hơn nữa, nếu vì việc biên giới mà ra khỏi thành, thì lại càng đủ để làm rối việc của Thiều.”

Lúc đó, Lý Trung Sư có tấu, nói: “Dùng Thiều làm Đề cử, nếu không cho Bảo làm Đô đại đề cử, thì sẽ mất lòng Bảo, ông ấy sẽ không hết lòng.” Do đó, Thăng Chi cũng cho rằng lời ấy đúng. An Thạch nói: “Triều đình dùng một Vương Thiều, thì Bảo có thiệt hại gì mà lại không hết lòng? Như Hán Cao Tổ dùng Trần Bình từ kẻ tù binh, liền lệnh cho ông ấy trông coi các tướng, các tướng nào có không hết sức?”

Vua cùng Xu mật viện bàn lại, Văn Ngạn Bác kiên trì ý kiến trước, Vua bèn lệnh bãi bỏ mệnh lệnh cho Bảo, dùng cấp cước đệ để đuổi về. Sau đó lại bãi bỏ, chiếu này căn cứ theo bản Chu, bản mới bèn bỏ đi, không rõ thực sự là ngày nào.

[16] Ngày Kỷ Mão, Hữu gián nghị đại phu, Tham tri chính sự Triệu Biện được bổ nhiệm làm Tư chính điện học sĩ, nhậm chức Tri Hàng Châu. Vương An Thạch thay đổi chính sự, Biện nhiều lần nói rằng việc này bất tiện. Khi Vương An Thạch xin từ chức về nhà, Vua dụ các quan chấp chính bãi bỏ phép Thanh Miêu, nhưng Biện lại muốn đợi Vương An Thạch trở lại triều, vì thế tân pháp không bị bãi bỏ.

Biện hối hận, lại dâng sớ nói:

“Thần gần đây thấy Ty Chế trí điều lệ phái hơn bốn mươi sứ giả đi khắp thiên hạ, khiến nhân tình kinh động, dư luận xôn xao. Thần đã nhiều lần tâu trình, cùng các tể thần nhiều lần tâu xin bãi bỏ các chức đề cử ở các lộ, việc thường bình và các việc khác đều giao cho các giám ty, thưởng phạt rõ ràng, ai dám coi thường?

Nhưng Vương An Thạch cố chấp, tự ý hành động, thường nổi giận tranh cãi, coi công luận của thiên hạ là lời đồn thổi tầm thường, che đậy lỗi lầm, trái ý dân. Gần đây, Ty Chế trí điều lệ sai các quan như Trương Thứ Sơn, Ngô Sư Mạnh, Phạm Thế Kinh… bảy tám người, đều xin từ chức, chỉ sợ không được chấp thuận. Chức vụ quan trọng, ai cũng muốn, nhưng họ không muốn nhận, vì biết việc làm trái ngược, không dám đảm đương.

Hôm qua, Vương An Thạch lại cử bốn viên đề cử ở Tây Xuyên và Phúc Kiến, cố chấp như vậy mà muốn ngăn lời đồn, chẳng khác nào ghét say lại ép uống rượu. Các cận thần, thị tòng, đài gián quan đều mạnh mẽ nói Ty Chế trí điều lệ bất tiện. Tư Mã Quang vì thế bị bãi chức Xu mật phó sứ, khiến trong ngoài đều kinh ngạc. Lý Thường về nhà chờ tội nhiều ngày. Tôn Giác, Trương Tiển, Trình Hạo ba người đều tranh luận với Vương An Thạch ở Trung thư, lại nhiều lần lên điện xin từ chức.

Hôm nay, Lữ Công Trước và Phạm Trấn đều xin về quận. Việc triều đình có nặng nhẹ, thể chế có lớn nhỏ. Nói về tài lợi thì việc nhẹ, nhưng lòng dân thiên hạ mất được là việc nặng; nói về chức đề cử thì thể chế nhỏ, nhưng việc dùng bỏ các cận thần và quan nghe ngóng là việc lớn. Nay không bãi bỏ tài lợi mà mất lòng dân thiên hạ, là bỏ nặng lấy nhẹ; không bãi bỏ chức đề cử mà bỏ các cận thần và quan nghe ngóng, là mất lớn được nhỏ. Nay trong ngoài nhân tình xôn xao như vậy, xin cân nhắc việc nặng, tiếc thể chế lớn, bãi bỏ việc nhẹ nhỏ, biến họa thành phúc, dễ như trở bàn tay.”

Vì thế, Biện nhiều lần dâng sớ xin từ chức, nên được lệnh ra nhậm chức ở Hàng Châu. Hàng Châu vốn nhiều trộm cướp, nghe tin Biện tính khoan hòa, dân nghèo càng tụ tập làm trộm. Biện bắt những kẻ tình tiết nặng đày đi châu khác, bọn chúng liền tan rã, trong hạt được yên ổn.

[17] Thị lang Lại bộ, Xu mật phó sứ Hàn Giáng được bổ nhiệm làm Tham tri chính sự. Giáng thường cùng Vương An Thạch tâu việc ở Ty Điều lệ, từng khen ngợi Vua rằng: “Thần thấy những điều Vương An Thạch trình bày không phải là một, đều là lời lẽ đúng đắn có thể dùng được, xin bệ hạ nên xem xét kỹ.” Vì thế An Thạch càng thêm cảm kích ông. (Lời này căn cứ theo sách lục của Vương An Thạch ngày 5 tháng 5.)

Thị ngự sử tri tạp sự Trần Tương tâu: “Thần nghe nói đã có chiếu chỉ bổ nhiệm Hàn Giáng làm Xu mật phó sứ kiêm Tham tri chính sự, Giáng với tài năng và danh vọng được thăng tiến, vốn không có gì quá đáng. Nhưng ý của triều đình khi dùng Giáng, dường như không được chu đáo.

Bệ hạ ban đầu dùng Vương An Thạch tham dự chính sự lớn, trước hết là vì mưu đồ lợi ích, cùng với Tri Xu mật viện sự Trần Thăng Chi cùng quản lý Ty Chế trí tam ty điều lệ, chẳng bao lâu, Thăng Chi được trọng dụng thăng làm Thừa tướng, rồi Giáng lại tiếp quản[6]. Chưa đầy vài tháng, nay lại dùng Giáng tham dự chính sự, như vậy là việc tuyển chọn đại thần trong Trung thư, đều vì lợi mà tiến cử, từ xưa đến nay trong triều đại thịnh trị, chưa từng có việc như vậy. Thần xin bãi chức Tham tri chính sự của Giáng.

Từ nay về sau, Trung thư tuyển chọn đại thần, phải tìm người hiền tài đạo đức kinh thuật để bổ nhiệm, chứ không được vì lợi mà tiến cử. Nếu bệ hạ không muốn thu hồi mệnh lệnh đã ban, thì xin hãy giao Ty Chế trí điều lệ và pháp lệnh bổ trợ thanh miêu về cho Tam ty, và giao trách nhiệm cho các quan thủ lệnh xem xét thi hành, như vậy mới không làm hại đến chính sự của vương triều, và đủ để giữ trọn tiết tháo của đại thần vậy.”

[18] Cựu quan Quân sự phán quan châu Tú là Lý Định được bổ làm Thái tử Trung doãn, quyền Giám sát ngự sử lí hành. (Xét: 《Tống sử》 chép việc Lý Định được bổ làm Ngự sử lí hành vào ngày Quý Mùi, không rõ đâu là đúng.)

Lý Định vốn thân thiết với Vương An Thạch, Tôn Giác từ Hoài Nam trở về, hết lời tiến cử Lý Định, nhân đó được triệu về kinh sư. Lý Định vừa đến, yết kiến Lý Thường, Lý Thường hỏi dân phương Nam nghĩ sao về phép Thanh miêu, Lý Định nói đều thuận tiện, không có gì không tốt. Lý Thường bảo: “Nay triều đình đang tranh cãi về việc này, ngài gặp người khác chớ nên nói như vậy.”

Lý Định ngay hôm đó đến gặp Vương An Thạch kể lại sự việc, nói: “Tôi chỉ biết nói đúng sự thật, không biết ở kinh sư không được nói phép Thanh miêu là thuận tiện.” Vương An Thạch rất vui, bèn tâu xin cho Lý Định biên soạn sổ kế toán hàng năm của Tam ty và nghi thức Nam Giao, lại bí mật tiến cử với Vua, xin được triệu vào đối đáp; bảo Lý Định rằng: “Ngài lên điện hãy tâu rõ với bệ hạ về việc này.” Khi vào yết kiến, Vua quả nhiên hỏi về phép Thường bình mới, Lý Định đối đáp như lời Vương An Thạch dạy. Vua vui lòng, phê giao cho Trung thư, muốn dùng Lý Định làm Tri gián viện, Tăng Công Lượng và Trần Thăng Chi cho rằng trước đây không có lệ này, cố sức tranh luận, bèn đổi mệnh lệnh. (Việc biên soạn nghi thức là vào ngày mồng 3 tháng 12 năm thứ 2.)

[19] Thái tử Trung doãn, quyền Giám sát ngự sử lý hành Trình Hạo, quyền phát khiển Kinh Tây lộ đề điểm hình ngục.

Trước đó, Hạo dâng sớ nói: “Thần nghe rằng lý lẽ của thiên hạ vốn đơn giản, nếu thuận theo đạo lý mà làm thì việc gì cũng thành. Vì vậy, người trí giả như Vũ trị thủy, làm việc mà không cần can thiệp nhiều. Nếu bỏ đạo lý mà đi vào chỗ hiểm trở, thì không đáng gọi là trí giả. Từ xưa đến nay, việc trị nước dù có người chuyên quyền, độc đoán mà thành công[7], nhưng chưa từng nghe việc các đại thần phụ tá ai nấy một lòng, bất đồng ý kiến, khiến chính sự quốc gia rối loạn, danh phận không rõ ràng, trong ngoài đều cho là không thể, mà vẫn có thể làm nên việc lớn.

Huống chi lại bày đặt ngăn cản, phá hoại công luận, một vài tiểu thần tham gia vào việc lớn, dùng kẻ thấp hèn lấn át người quyền quý, lấy tà đạo cản trở chính đạo! Những việc như thế đều không hợp lý, và người trí giả không làm. Giả sử may mắn mà thành công chút ít, thì bọn thần chuyên lo việc lợi lộc ngày càng được trọng dụng, phong khí coi trọng đức hạnh ngày càng suy tàn, đó không phải là phúc của triều đình.

Huống hồ thiên thời chưa thuận, địa chấn liên tiếp nhiều năm, lòng người bốn phương ngày càng dao động, đó đều là những điều Bệ hạ nên suy xét từ ý trời, xem xét từ lòng người. Thần kém cỏi trong chức vụ, lời bàn không có ích gì, mong Bệ hạ chấp thuận lời tâu trước, sớm ban lệnh giáng trách.”

Vì thế, Hạo bị cách chức.

(Bản Chu bỏ đi phần sớ của Hạo, nói rằng: 《Thời chính ký》 không ghi chép. Hạo bị trách phạt không phải vì tờ sớ này, sử quan đời trước ghi chép sai. Sửa lại rằng: Vì nhiều lần nói về phép “thường bình” mới, xin bị giáng chức, nên có mệnh lệnh này. Xét: Tờ sớ của Hạo chẳng phải là nói về phép mới sao? Sử quan đời Thiệu Thánh vì kiêng kỵ Vương An Thách, nên muốn che giấu lời bàn chính đáng, tự ý sửa đổi, nay vẫn theo bản mới đời Nguyên Hựu.

《Lữ Bản Trung tạp thuyết》: Chính Thúc từng nói rằng phép mới được thi hành, chính vì các sĩ phu trong phe ta công kích quá mạnh, khiến mỗi bên hình thành phe phái, không thể phá vỡ. Ví như việc “thanh miêu”, bỏ qua thì có hại gì? Bá Thuần làm Gián quan, bàn về phép mới, Vua sai đến Trung thư bàn bạc. Bá Thuần gặp Giới Phủ, phân tích đạo lý, khí sắc rất hòa nhã, nói: “Thiên hạ vốn có đạo lý thuận theo lòng người, Tham chính sao cứ phải làm như thế?” Giới Phủ liên tục cảm ơn Bá Thuần: “Thật rất cảm kích tấm lòng thành của ngài, thật rất cảm kích tấm lòng thành của ngài.” Lúc đó, Giới Phủ cũng không còn ý kiên định nữa. Nhưng vì hôm đó Trương Thiên Kỳ đến Trung thư tranh luận kịch liệt, Giới Phủ không chịu nổi, từ đó hai bên chia rẽ.)

[20] Ngày Tân Tỵ, Kỳ quốc trưởng công chúa được tiến phong làm Vệ quốc trưởng công chúa.

[21] Hoài Nam chuyển vận sứ, Đồn điền lang trung Tạ Cảnh Ôn được bổ làm Công bộ lang trung kiêm Thị ngự sử tri tạp sự. Cảnh Ôn vốn thân thiện với An Thạch, lại có thông gia với em An Thạch là An Quốc. Khi Lữ Công Trước làm Trung thừa, người ta đều cho rằng Cảnh Ôn sẽ được tiến cử làm Ngự sử trước, nhưng khi Công Trước bị bãi chức, Cảnh Ôn mới được bổ nhiệm này.

Trước đó, An Thạch một mình đối đáp với Vua, hỏi rằng: “Bệ hạ có biết vì sao ngày nay mọi việc rối ren không?” Vua đáp: “Đó là do Trẫm bổ nhiệm Đài gián không đúng người.” An Thạch nói: “Bệ hạ đối xử với quần thần không có phương pháp, nhiều lần để mất cơ hội, nếu lại đặt riêng chức Đài gián quan, e rằng dù có sắp xếp như ngày nay, cũng không thể tránh được sự rối ren.” (Đây là lời An Thạch đối đáp với Vua vào ngày 16 tháng 3.) Từ đó, Cảnh Ôn được trọng dụng.

(Theo nhật ký của Tư Mã Quang, từ đó không còn đặt chức Trung thừa nữa. Xét rằng lúc này đã bổ nhiệm Phùng Kinh làm Trung thừa, nhưng chưa đến nhậm chức, Trần Tiến tạm quyền xử lý công việc Đài. Không rõ nhật ký vì sao lại ghi như vậy, có lẽ là nhầm lẫn.)

[22] Tri châu Tô Châu, Chức phương lang trung Hướng Tông Đạo được cử làm Đô đại thôi khiển Quảng Tế hà liễn vận. Trước đó, Trương Thứ Sơn kịch liệt phản đối tân pháp, từ chối không nhận chức Đề cử thường bình thương. Khi Quảng Tế thiếu người điều hành vận chuyển, Tăng Công Lượng đang bệnh cáo, An Thạch tạm quyền lo việc tế tự. Thứ Sơn có quan hệ thân thiết với Trần Thăng Chi, Thăng Chi liền tiến cử Thứ Sơn có thể dùng. Mệnh lệnh vừa ban xuống, nhưng chỉ dụ của Vua cho rằng Thứ Sơn còn non kinh nghiệm, nên giao lại cho Tông Đạo. Thực ra là An Thạch ghét Thứ Sơn không cùng ý kiến với mình, nên tâu với Vua để bãi chức ông ta.

[23] Hữu gián nghị đại phu, Tri chế cáo Tống Mẫn Cầu tâu: “Trung thư giao từ đầu bổ nhiệm Lý Định làm Quyền giám sát ngự sử lí hành. Thần cho rằng chức Ngự sử theo chế độ cũ phải là Thái thường bác sĩ đã qua hai nhiệm Thông phán mới được tiến cử. Đầu niên hiệu Cảnh Hựu, vì người đủ tư cách ít, mới cho phép tiến cử những người chưa mãn nhiệm Thông phán. Năm ngoái đột nhiên dùng quan kinh, nay lại cho quan mạc chức lên triều đình, đảm nhiệm chức vụ giám sát. Thần e rằng không theo chế độ cũ, chưa thể làm yên lòng mọi người, nên chưa dám soạn từ đầu.” Ông cũng lấy cớ bệnh từ chối chức Tri chế cáo.

Ngày Nhâm Ngọ, Tống Mẫn Cầu bị bãi chức Tri chế cáo, vì Vua phê rằng Mẫn Cầu “văn tự thô kệch, bỏ bê chức vụ, không làm được thì thôi, theo nghĩa là có thể đồng ý”. Vương An Thạch nói: “Mẫn Cầu soạn chế thư cho Lữ Công Trước, thần đã truyền thánh chỉ, bảo phải ghi rõ tội trạng, nhưng hắn lại dùng lời của Tăng Công Lượng, chỉ viết ‘dẫn chứng không thích hợp’ mà thôi. Đây là tự ý trái thánh chỉ, đáng lẽ đã may mắn vì triều đình không truy cứu, nay lại còn xin từ chức.” Vua bèn đồng ý cho Mẫn Cầu xin bãi chức.

Khi trình lên bản cáo từ của Mẫn Cầu, Vua lại bảo phải ghi rõ tội bỏ bê chức vụ trước đây của hắn. Tăng Công Lượng cho rằng không có tội gì để ghi.

Vua nói: “Khi bảo soạn chế thư cho Công Trước, ban đầu không tuân theo thánh chỉ nói rõ tội trạng, lại còn tuyên bố ra ngoài rằng triều đình sửa chế thư thì phải xin miễn chức Tri chế cáo. Sửa chế thư vốn là việc thường, sao lại đến mức như vậy? Đây là hành vi gian trá, thấy triều đình trước đây không trị tội nên nay mới dám làm như thế.” An Thạch nói: “Mẫn Cầu soạn chế thư cho Công Trước, Tăng Công Lượng tuy nói ‘chỉ cần nói dẫn chứng không thích hợp’, nhưng thần đã truyền thánh chỉ bảo phải ghi rõ tội trạng. Mẫn Cầu không dùng lời thần truyền thánh chỉ mà lại theo lời Công Lượng, như thế há không có tội sao?” Công Lượng nói: “Xá nhân là thuộc quan của Trung thư, chỉ nên nghe theo phân xử của tể tướng.” An Thạch nói: “Xá nhân là người thi hành thánh chỉ, há phải thi hành phân xử của tể tướng sao?”

Vua nói: “Nếu chỉ một người truyền lệnh thì được, nhưng Vương An Thạch cũng truyền thánh chỉ, đã truyền lệnh khác nhau thì phải tâu lại, sao lại soạn chế thư ngay?” Công Lượng không chịu nghe theo.

Vua nói: “Chỉ cần nói ‘văn tự thô kệch, bỏ bê chức vụ’ rồi bãi chức là được.” Công Lượng nói: “Nếu bỏ bê chức vụ, tức là do thần khiến hắn như vậy.” Lúc đó trời đã tối, An Thạch nói: “Sửa thành ‘bỏ bê chức vụ’ cũng được.” Vua đồng ý. Công Lượng bèn xin tội, Vua nói: “Không cần.” Công Lượng nói: “Không dám dâng chương nữa.” Lạy tạ trước mặt Vua rồi lui ra.

(Bản mực chép rằng Vua phê mười sáu chữ. Bản chu chép rằng vốn không có lời phê của Vua, chỉ là Tư Mã ghi chép sự việc nói có lời này, không thể coi là lời phê của Vua, nên sửa thành Xá nhân viện soạn chế thư. Bản mới lại dùng bản mực, nay theo đó. Bản kỷ cũ chép Tống Mẫn Cầu bàn việc Lý Định từ Chức quan quân sự được làm Ngự sử là trái với chế độ cũ, nên bãi chức Tri chế cáo. Bản kỷ mới không chép, nên theo bản kỷ cũ.)

Ngày 14 tháng 12, Mẫn Cầu được làm Tu soạn.

[24] Hữu chánh ngôn, Bí các hiệu lí Lý Thường bị cách chức, giáng làm Thái thường bác sĩ, thông phán Hoạt châu.

Lý Thường từng nói: “Việc phát tiền Thường bình gây hại khắp nơi, lại có châu huyện chưa từng xuất tiền mà chỉ bắt dân nộp lãi.” Vua ra lệnh liệt kê tên các quan lại châu huyện đến năm sáu lần, nhưng Lý Thường vẫn không chịu liệt kê, lại xin từ chức, nên bị giáng.

Trước đó, Vua nói với các quan chấp chính: “Lý Thường mãi không chịu phân tích, Trẫm đã nhiều lần dụ rằng đây chỉ là để xử lý những quan lại vi pháp, nhưng Lý Thường vẫn kiên quyết nói rằng thể chế không hợp để phân tích.” Tăng Công Lượng nói: “Quan đài gián từ trước vẫn được phép nghe ngóng mà tâu việc, khó mà bắt họ phân tích.”

Vua nói: “Muốn bảo họ nói rõ là ai nói, hoặc lấy tội nói không thật mà trị tội quan gián, thì sẽ bịt kín đường ngôn luận. Nay chỉ bảo họ nói rõ quan lại vi pháp là ai, sao lại không chịu?” Vương An Thạch nói: “Cho phép nghe ngóng mà tâu việc, là không hỏi lời nói từ đâu, cũng không bắt buộc lời nói phải đúng sự thật. Nếu người khác nói không thật, thì sẽ bị tội vu cáo và tội dâng thư giả dối, nhưng quan gián, ngự sử dù nói sai cũng không bị tội, đó là cho phép nghe ngóng mà tâu việc. Nay chỉ bảo họ phân tích, chỉ để xử lý quan lại, sao lại cản trở việc nghe ngóng?”

Đến lúc này, Vua ra lệnh đổi chức Chánh ngôn của Lý Thường thành Bác sĩ, và nêu rõ tội của Lý Thường: “Tâu việc trái ngược, chuyên mạo nhạo lừa dối.”

Hôm đó, lại trình lên tờ sớ của Lý Thường, trong có câu: “Bệ hạ một cung điện tốn hơn trăm vạn, một bữa yến tiệc du ngoạn tốn hơn mười vạn, lại bảo đại thần bóc lột xương tủy, vơ vét của dân.” Vua cười nói: “Gần đây nghe người ta chê trách như vậy, hóa ra là lời trong sớ của Lý Thường.” Vương An Thạch nói: “Bệ hạ lên ngôi, chưa từng xây dựng hay du ngoạn gì, chỉ tu sửa hai cung của Thái hoàng thái hậu và Hoàng thái hậu mà thôi, thế mà Lý Thường dám vu khống bệ hạ như vậy!”

[25] Thượng phê: “Giám sát ngự sử lý hành Trương Tiển xâm phạm bề tôi, vu cáo sự thật; Vương Tử Thiều bên ngoài giả vờ giữ đạo chính, bên trong ẩn chứa ý đồ gian tà, các chương sớ dâng lên cùng với việc tâu bày trước mặt đều trái ngược nhau.” Cả hai đều bị cách chức, giáng làm tri huyện: Tiển làm tri huyện Công An, phủ Giang Lăng; Tử Thiều làm tri huyện Thượng Nguyên, phủ Giang Ninh.

Tiển nhiều lần tâu rằng phép Thanh Miêu không tiện, cuối cùng dâng sớ nói: “Gần đây xin bãi bỏ Ty Chế Trí và các sứ giả các lộ, cùng nói việc phát tiền thu lợi là có hại; cùng với việc An Thạch xử lý công việc sai lầm, chuyên lo tích trữ, thích thắng bỏ qua lỗi lầm, ngày càng cứng đầu; Lữ Huệ Khanh xảo quyệt gian ác, vẫn còn ở bên cạnh bệ hạ; còn Tăng Công Lượng, Trần Thăng Chi, Triệu Biện v.v., trong lòng biết là sai nhưng do dự không quyết đoán, nhìn người khác rồi mới làm theo, sợ hãi tránh né [8], nguy cơ đổ vỡ không ai cứu vãn, cùng với việc không biết nhìn xa, lời nói sai lầm làm lầm lạc chủ, đều là có tội, xin trị tội nghiêm khắc v.v., nhưng đều chưa được thi hành. Nay kẻ ác lớn chưa bị trừ, thuế má nặng nề chưa bãi bỏ, cơ quan không chính đáng vẫn còn tồn tại, sứ giả vô danh vẫn đang gây rối, thần từ nay không dám đến đài làm việc, xin ở nhà chờ tội.”

Tiển Lại nói: “Hàn Giáng thay Trần Thăng Chi lãnh Ty Điều Lệ, tả hữu đều nghe theo An Thạch, cùng nhau làm đảng chết, rồi tham gia chính quyền. Lý Định gian nịnh, từ chức mạc quan được thăng lên chức đài quan. Bệ hạ chỉ tin An Thạch, nay lại phụ giúp thêm Giáng là kẻ xảo quyệt, đài thần lại có Lý Định làm đồng minh, tiếp tục kéo đến, mầm mống dần dần lớn mạnh, thần há dám tiếc chết mà không nói sao?”

(Lời bàn của Tiển về Hàn Giáng, Lý Định, theo phụ truyền của Tiển mà thêm vào. Xét: Giáng được bổ làm Tham chính, Định làm Ngự sử, đều vào ngày 19 tháng 4, Tiển bị trách vào ngày 22.

Bản mực chép: “Thần từ ngày 12 tháng này trở đi không dám đến đài làm việc.” Đó là ngày 22, bản mực tình cờ thiếu chữ “nhị”. Nếu từ ngày 12 trở đi đã không đến đài làm việc, thì không nên bàn về Giáng, Định, nay phụ vào ngày tháng này. Tiển ngày 23 ở nhà chờ tội, ngày đó liền bị trách, cũng có thể thấy tình thế lúc đó vậy.)

Tử Thiều từng xin truy phục mệnh lệnh giáng chức của Tôn Giác, Lữ Công Trước, cùng với việc tâu rằng đài gián đang bàn về Thanh Miêu, xin bãi chức Quản Câu Kinh Đông Thường Bình của anh trai là Tử Uyên [9].

Trước đó, Thượng nói với chấp chính: “Vương Tử Thiều nói ‘Phép Thanh Miêu thực sự không tiện, nhưng thần trước đã tham gia bàn luận việc này, không dám tâu bày’. Kẻ tiểu nhân hai mặt, nên cách chức.” Tri tạp Trần Tương cũng tâu rằng Tử Thiều xảo quyệt tráo trở, ngầm tiến cử Tử Uyên làm Thường Bình sứ, xin bãi chức ngôn quan của ông ta.

(Bản Chu bỏ lời bàn của Trần Tương về Tử Thiều, cho rằng 《Thời chính ký》 không có, nay theo sử mới khôi phục lại. Lại theo tấu chương của Tương thêm việc tiến cử Tử Uyên.)

Tiển và Tử Thiều đều từ chức tri huyện được bổ làm Ngự sử, đến lúc này, Tăng Công Lượng xin cho cả hai làm Thông phán, Vương An Thạch không đồng ý, Vua nghe theo ý kiến của An Thạch. Tiển đã dâng sớ, lại đến Trung thư tranh luận kịch liệt, lời lẽ rất gay gắt. Công Lượng cúi đầu không trả lời, An Thạch lấy quạt che mặt cười. Tiển tức giận nói: “Tham chính cười Tiển, Tiển cũng cười việc làm của Tham chính. Há chỉ Tiển cười, thiên hạ ai không cười?” Trần Thăng Chi giải hòa nói: “Sát viện không cần như vậy.” Tiển quay lại nói: “Chỉ có tướng công là không có lỗi sao?” Lui về liền ở nhà chờ tội, ngày hôm đó cùng với Tử Thiều đều bị cách chức.

[26] Chiếu rằng: “Đã nhiều lần răn dạy các Kinh lược ty ở Hà Đông, Thiểm Tây các lộ, cấm dân biên giới giao dịch với giặc Tây, nghe nói lệnh cấm không được thi hành. Từ nay ai vi phạm, Kinh lược ty cùng các quan lại liên quan sẽ bị xét tội xử nặng; ai tố cáo bắt được sẽ được thưởng hậu. Giao cho Chuyển vận ty giám sát.”

[27] Ngày Quý Mùi, Ngu bộ viên ngoại lang Tô Chuyết, Bí thư thừa Trần Mục cùng được làm Bí các hiệu lý, Bí thư lang Lý Thanh Thần làm Tập hiền hiệu lý, Giang Ninh phủ suy quan Lưu Chí làm Quán các hiệu khám, Đại Lý tự thừa Lạc Hàm làm Thái tử trung xá. Chuyết và những người khác trước đây được chỉ triệu tập thi, đến nay thi đỗ, riêng Hàm luận đỗ hạng tư thượng, sách hạng tư hạ. (Chuyết, Mục, Chí đã được nhắc đến vào tháng 11 năm Trị Bình thứ 3, còn Hàm chưa rõ.)

[28] Hình bộ Lang trung, Thị ngự sử tri tạp sự Trần Tương cùng tu sửa sách khởi cư chú, bị bãi chức tri tạp sự. Tương nhiều lần dâng tấu xin bãi bỏ phép Thanh Miêu, trong tấu thứ ba viết:

“Bệ hạ thánh tính thông minh, vốn đã hiểu rõ và giác ngộ, nhưng vì Vương An Thạch kiên trì ý kiến không thay đổi, nên trọng tình cảm của ông ta, khiến dư luận xôn xao, mà Bệ hạ không xem xét kỹ. Việc gì có thể làm thì để đó không hỏi, còn việc gì không thể làm thì lại thi hành không ngừng. Há chẳng phải là những quan chức điều lệ vì muốn giữ yên thân mình, khéo léo bịa đặt lời lẽ, lừa dối thánh thượng sao?

Gần đây Hàn Kỳ dâng tấu, nói rằng ở Hà Bắc phát tiền Thanh Miêu, ấn định số tiền, chia đều cho các hộ theo thứ bậc, so với các nơi khác, chỉ lấy lãi ba phần, rõ ràng là các quan đề cử vi phạm điều lệ, ép buộc phân phối, mà triều đình không hề trách phạt. Lời tấu của Kỳ đủ chứng minh phép này là bất tiện, nhưng lại đặc biệt bỏ qua không thi hành. Lã Cảnh cho rằng dân ở các huyện gần kinh thành còn nợ quan vật hơn năm mươi vạn, không nên cho họ vay trước, thực sự lo lắng sẽ làm hao hụt vốn quan, nhưng lại bị bắt phải xét hỏi.

Vì thế, thần trước đây đã tấu rằng: ‘Phép này một khi thi hành, sẽ gây xáo trộn cả thiên hạ.’ Chính là nói về việc này. Bệ hạ gần đây đã bổ nhiệm Tư Mã Quang làm Xu mật phó sứ, trong ngoài đều vui mừng, cho rằng Bệ hạ đã nhận ra lời nói của Quang là đúng, và nhận ra việc làm của Chế trí ty là sai. Nay lại đột ngột bãi chức ông ấy, há chẳng phải lại cho rằng lời Quang là sai sao? Chắc hẳn là vì ông ấy từ chối không nhận chức. Nhưng lý do Quang từ chối là vì Bệ hạ không thi hành lời nói của ông ấy. Nếu muốn dùng ông ấy, chỉ cần thi hành lời nói của ông ấy mà thôi, có gì phải tiếc mà không làm! Việc thăng giáng các đại thần một cách nhẹ dạ, làm mất lòng tin của thiên hạ, không phải là ý nghĩa của việc mệnh lệnh đã ban ra thì không thể thu hồi.

Lý Thường giữ chức Gián quan, đã nghe thấy dư luận trong ngoài, không dám không nói, việc tuy không đúng sự thật, nhưng cũng là do nghe từ dư luận. Huống chi theo chế độ cũ của triều đình, vốn cho phép nghe ngóng dư luận mà tâu việc, nếu bắt phải phân tích rõ ràng, thì là muốn bắt họ phải từ chức, nhằm bịt miệng những người dám nói, e rằng không phải là cách đối xử với bề tôi can gián, và mở rộng con đường ngôn luận. Tất cả những việc này, tuy là do Bệ hạ suy xét nhất thời mà sai lầm, nhưng há chẳng phải là do nghe xét không kỹ sao!

Kinh Lễ nói: ‘Có điều gì giận dữ, thì không thể giữ được sự ngay thẳng; có điều gì yêu thích, thì không thể giữ được sự ngay thẳng.’ Cũng là nhờ Bệ hạ suy xét lại mà sửa chữa.

Kinh Thư nói ‘Sửa lỗi không tiếc’, đó là đức của Vua Thang. Từ khi Bệ hạ lên ngôi trị vì, việc gì cũng không có sai lầm, chỉ vì dùng Vương An Thạch, sau đó mới có những việc làm gấp gáp, dẫn đến những sai lầm trong việc mưu cầu lợi ích. Thánh nhân hành xử, vốn có phép tắc, việc gì không hợp đạo thì bỏ đi. Dùng tài năng của cả thiên hạ, thu nhận ý kiến chung của thiên hạ, thì nền trị vì của Nghiêu, Thuấn, Tam Vương có thể đạt được trong tầm tay, cần gì phải theo ý kiến thiên lệch của một người, để gây họa cho dân chúng! Tất cả những việc làm của Chế trí điều lệ ty nếu có thể thi hành, xin chỉ giao cho Tam ty xem xét rồi thi hành. Phép Thanh Miêu, xin sớm ban lệnh dừng lại, thì thiên hạ sẽ vô cùng may mắn.”

Tương lại tấu: “Thần xem xét các mệnh lệnh của Ty Chế trí ban ra, đều dẫn kinh điển để nói, nhưng thực chất là cho dân vay để lấy lợi, việc làm suy yếu, bị thiên hạ chê cười. Đó chỉ là thuật của Quản Trọng, Thương Quân, không phải là điều bệ hạ nên làm. Thần mong bệ hạ làm Vua như Nghiêu, Thuấn, lấy nghĩa trị thiên hạ, không mong bệ hạ làm bá chủ.

Bệ hạ giàu có Trung Quốc, đất đai rộng lớn, trong không có loạn thần họ mạnh, ngoài không có nạn xâm lấn. Thuế má khắp bốn biển chín châu đủ cung ứng cho nhu cầu của ta, không phải là không đủ. Bệ hạ không nhân lúc này cùng bề tôi trong triều ngồi bàn đạo lý, thi hành chính sách vương đạo, mà lại bận tâm đến việc quân thâu cho vay, thần thật tiếc cho bệ hạ! Tệ nạn ngày nay là do quốc gia theo lối cũ, chế độ chưa lập, mà chi tiêu ngày càng phung phí. Bệ hạ chỉ cần chọn kẻ giỏi tính toán, trao quyền lợi, lấy sổ thuế má trong thiên hạ, tính toán số điều độ của quan huyện, cân đối mọi chi tiêu, quy về mức độ hợp lý, thì chi phí phù phiếm sẽ giảm mà tài chính đủ dùng.

Giảm nhẹ lao dịch, thuế má, nới lỏng thuế chợ búa, bãi bỏ cấm đoán núi rừng, tu sửa giáo dục trường học, khuyên dạy trung, tín, hiếu, đễ, tôn trọng người hiền, dùng người tài, người giỏi được tiến cử, kẻ bất tài bị loại bỏ. Nông dân có của dư, dân chúng nghe theo giáo hóa, quan lại làm tốt chức trách, như thế mà nước không giàu, chính trị không vương đạo thì chưa từng có.”

Lại tâu: “Bệ hạ lấy lòng nhân từ tột bậc để cầu trị, phàm muốn thay đổi pháp độ đều vì dân, há lại lấy mỡ máu của dân để làm lãi vay, mà bảo là phép thái bình của Chu Công đã thử nghiệm hay sao! Lòng Bệ hạ chắc chẳng làm thế, nhưng người trong thiên hạ đều biết kẻ làm lầm Bệ hạ là Vương An Thạch, kẻ làm lầm An Thạch là Lữ Huệ Khanh. Lấy sự thông minh của Bệ hạ, xem xét luận bàn của thiên hạ, thì cái lợi hại của pháp chế vốn đã rõ ràng có thể biết.

Nào ngờ An Thạch cậy tài biện luận mạnh mẽ để mê hoặc trước mặt, Huệ Khanh vẽ mưu kế quỷ quyệt để ngầm giúp đỡ phía sau, thêm vào đó bọn tiểu nhân phản phúc kết bè kéo cánh tùy thời quan sát, bình thường bàn luận công khai thì đều biết pháp ấy là sai, một khi bị lợi lộc cám dỗ thì lại nói pháp ấy là đúng. Điều này dù Bệ hạ là bậc chí thánh cũng không thể không mê hoặc, dù bọn thần là kẻ chí trung cũng không khỏi bị chỉ là bè đảng.

Gần đây, gián quan Lý Thường vì việc tâu bày mà chịu tội, còn bắt phân tích; Tôn Giác vì tâu đối phản phúc mà bị cách chức điều đi nơi khác; Ngự sử trung thừa Lữ Công Trước trở xuống, đều vì không làm tròn chức trách mà bị tâu xin trị tội. Riêng thần còn chần chừ chưa dám xin, vẫn mong lòng thành khuyển mã, một lần làm Bệ hạ tỉnh ngộ, cho đem phép thanh miêu xuống bàn bạc với trăm quan. Nếu lời thần sai, xin cam chịu đày xa để răn kẻ nói bậy; nếu lời thần đúng, thì xin đặc biệt giáng chức An Thạch, Huệ Khanh để tạ lỗi với thiên hạ.”

Sau đó có chiếu chỉ triệu Tương đến Trung thư thí tri chế cáo, Tương cho rằng lời nói không được thực hiện, từ chối không đến dự thi, xin được bổ nhiệm ra ngoài. Vương An Thạch xin dùng ông làm Tu soạn ở Tập Hiền điện, Chuyển vận sứ Thiểm Tây. Mệnh lệnh chưa ban xuống, Vua phê riêng để tiến trình, rồi đổi mệnh lệnh này.

Khi ấy, Vua nói với Vương An Thạch: “Kinh diên rất thiếu người.” An Thạch nói: “Cần nhiều làm gì?” Vua nói: “Ngô Thân hoàn toàn không thể giảng, muốn đợi Tương nhận chức, giữ lại ở Kinh diên, Trẫm thấy Tương mỗi lần dẫn kinh cũng tạm được.”

(Tương dâng năm tấu, theo tập của Tương.

《Tư Mã Quang nhật ký》[10] chép: Tương tuy bàn về phép Thường Bình mới, nhưng lời lẽ ôn hòa, nên được bổ nhiệm riêng một chức tốt. Hẳn lúc đó đã bàn luận về Tương như vậy.)

Tháng 5, ngày Tân Mão, Tương được bổ nhiệm làm Trực Xá nhân viện kiêm Thị giảng, cuối cùng từ chối.

[29] Thái tử Trung doãn, đồng đề điểm Kinh Tây hình ngục Trình Hạo, ký thư Trấn Ninh tiết độ phán quan sự. Hạo vừa bị bãi chức Ngự sử, nên khẩn thiết xin từ chức ở Kinh Tây.

Vua nói với Vương An Thạch: “Nhân tình rối ren như vậy, biết làm sao?”

An Thạch đáp: “Vua Nghiêu trị dân bằng khoan dung, nhưng vẫn đày Cộng Công, phóng thích Hoan Đâu. Hoan Đâu chỉ là kẻ a dua bè phái, Cộng Công chỉ là ‘nói ngọt mà làm trái, bề ngoài tỏ ra thuận theo’. Như Lữ Công Trước thật đúng là ‘nói ngọt mà làm trái, bề ngoài tỏ ra thuận theo’.

Bệ hạ đã thấy rõ việc này không phải một lần, cũng không phải một ngày, nhưng vẫn chưa xử trí, đợi đến khi việc làm của Công Trước đã quá lộ liễu, tự thân không thể an vị, lại bổ nhiệm làm Tam học sĩ, lệnh ở Kinh diên, nhưng ông ta vẫn không chịu ở lại, cuối cùng mới bổ nhiệm làm Thị độc, tri Dĩnh châu. Trong cáo từ[11] ban đầu cực kỳ khen ngợi tài năng và đức hạnh của ông ta, giữa dùng vài chữ nói về tội lỗi, cuối cùng lại lệnh cho ông ta mang chức Thị độc học sĩ. Làm như vậy để cho thiên hạ thấy, thiên hạ đều biết triều đình không có kỷ cương, tiểu nhân sao có thể lui về nghe theo?

Trần Tương, Trình Hạo chuyên bè phái theo Lữ Công Trước, hoàn toàn không giúp gì cho việc trị nước của bệ hạ. Hiện nay việc thiên hạ không đúng lý rất nhiều, bề tôi làm điều gian trá cũng rất đông, Trần Tương và Trình Hạo đã từng nói một lời nào về việc đó chưa?

Chuyên giúp Lữ Công Trước nói về phép Thường bình, đó chính là đồ đảng của Hoan Đâu. Mà bệ hạ trong lúc tà thuyết rối ren, Trương Tiễn và đồng bọn chưa xuất hiện, đã khen thưởng và sử dụng Trần Tương làm Tri chế cáo, Trình Hạo làm Đề điểm hình ngục, lại khen ngợi họ là bình thực. Những kẻ tiểu nhân này nếu theo Lữ Công Trước, được thực hiện chí hướng của mình, thì lợi lộc thiên hạ đều về tay họ; nếu không đạt được chí hướng, lại không mất đi sự khen thưởng và sử dụng của bệ hạ, sao họ có thể lui về nghe theo mà không làm điều gian trá?

Thần ngu muội e rằng bệ hạ không phải không biết tình hình của Trần Tương và đồng bọn, chỉ lo rằng nếu đuổi nhiều người, nên dùng lời lẽ khoan dung, tạm để họ an vị. Điều này rất không đúng, họ không cho rằng bệ hạ khoan dung, mà cho rằng bệ hạ vẫn có thể bị lừa dối, nên mới rối ren không dứt.”

[30] Long Đồ các Trực học sĩ Trần Tiễn quyền phát khiển Ngự sử đài sự, Tây Kinh Tả tàng khố Phó sứ, Cáp môn Thông sự Xá nhân Cao Tuân Dụ đề cử Tần châu Tây lộ Phiên bộ. (《Nhật lục》 liên quan đến Vương Thiều, ngày 18 tháng 4 và ngày 7 tháng 6 nên tham khảo.)

[31] Ngày Giáp Thân, Hàn lâm học sĩ Tư Mã Quang đọc sách 《Tư trị thông giám》 đến đoạn Giả Sơn đời Hán dâng sớ, nói rằng: “Tần hoàng đế ở trong cảnh diệt vong mà không tự biết”, nhân đó bàn về cái đẹp của việc nghe can gián và cái họa của việc chối từ can gián: Yến Tử nói: ‘Hòa và đồng khác nhau, nước với lửa, giấm với muối, muối với mơ đều là những thứ trái ngược nhau, người đầu bếp điều hòa chỗ thiếu để giảm bớt chỗ thừa, nếu canh đã mặn lại thêm muối; đã chua lại thêm mơ, thì làm sao ăn được?’ Y Doãn răn Thái Giáp có câu: ‘Trái với lòng ngươi, ắt phải tìm về đạo.’

Tình người, ai chẳng muốn thuận theo mình mà ghét kẻ trái ý, chỉ có bậc thánh hiền mới biết cái hại của sự thuận theo và cái lợi của sự trái ý. Ví như rượu ngọt tuy hợp khẩu mà làm say người, thuốc đắng tuy khó uống mà trừ được bệnh.

Vì thế, bề tôi đối với Vua, cứng rắn thì hòa dịu, mềm yếu thì nâng đỡ, sáng suốt thì làm cho khuất tất, khuất tất thì làm cho sáng suốt. Không phải cố ý trái ngược, mà muốn cắt bớt chỗ thừa, bù đắp chỗ thiếu, để đạt đến mức hoàn hảo mà thôi. Nếu kẻ trái ý liền bị giáng chức, kẻ thuận theo liền được thăng quan không theo thứ tự, thì nịnh hót ngày càng lộng hành, trung chính ngày càng xa cách, đó không phải là phúc của xã tắc vậy.

Vua nói: “Vua Thuấn ‘dứt bỏ lời gièm pha và hành vi tàn ác’. Nếu đài gián lừa dối mà gièm pha, sao không bãi chức được!” Quang nói: “Thần nhân đọc sách mà nhắc đến việc ấy thôi, việc thời sự thần không dám bàn hết.”

Khi lui ra, Vua giữ Tư Mã Quang lại, nói: “Lữ Công Trước nói rằng các phiên trấn muốn dấy binh ở Tấn Dương, há chẳng phải là lời gièm pha, hành vi độc ác sao?” Quang đáp: “Công Trước lúc bình thường nói chuyện với bạn bè còn phải suy nghĩ ba lần mới nói, cớ sao trước mặt bệ hạ lại nói nhẹ nhàng như vậy? Người ngoài đa phần nghi ngờ điều đó không đúng.”

Vua nói: “Đây chính là câu ‘lời nói bình tĩnh mà hành vi trái ngược’ vậy.” Quang nói: “Công Trước thật có tội, nhưng không phải ở việc hôm nay. Trước đây triều đình giao cho Công Trước chuyên cử quan đài, Công Trước lại cử toàn người của Ty Điều Lệ, cùng Ty Điều Lệ hỗ trợ lẫn nhau, khiến cho việc này càng thêm rầm rộ. Bị dư luận bức bách, mới nói ra cái sai của họ, đó mới là tội của Công Trước. Công Trước thân với Hàn Kỳ, cớ sao lại dùng lời lẽ hiểm độc để gièm pha ông ấy?”

Vua nói: “Không phải gièm pha Hàn Kỳ, mà nhắm vào người bên cạnh Trẫm đó thôi.” Quang nói: “Căn cứ vào lời cáo từ[12] thì chính là gièm pha Hàn Kỳ. Công Trước có tội hay không là ở sự thật, không phải ở lời cáo từ. Lời cáo từ tuy nói như vậy, nhưng người ngoài đều nói Công Trước bị tội vì xin bãi Ty Điều Lệ và nói Lữ Huệ Khanh gian tà, chứ không nói là vì tội gièm pha.”

Vua nói: “Vương An Thạch không ham chức tước và tự nuôi dưỡng bản thân, có thể gọi là người hiền.” Quang nói: “An Thạch thật là người hiền, nhưng tính không hiểu việc mà lại cố chấp, đó là điểm yếu của ông ấy. Lại không nên tin dùng Lữ Huệ Khanh, Huệ Khanh gian tà, mà lại làm mưu chủ cho An Thạch, An Thạch vì thế mà ra sức thực hiện, nên thiên hạ đều chỉ trích An Thạch là gian tà.” Vua cười.

Quang nói: “Lý Định có tài năng gì đặc biệt mà được bổ dụng không theo thứ tự?” Vua nói: “Tôn Giác tiến cử, Thiệu Kháng cũng nói Định có học vấn, tính tình điềm đạm. Trẫm triệu đến nói chuyện, thật có kinh thuật, nên muốn thử ông ấy ở chức vụ ngôn quan.”

Quang nói: “Tống Mẫn Cầu từ chối lời cáo từ của Định, sao đến nỗi bị cách chức?” Vua nói: “Mẫn Cầu không phải vì tội của Định. Trẫm sai soạn lời cáo từ cho Lữ Công Trước, nói rằng dấy binh ở Tấn Dương, trừ kẻ ác bên cạnh Vua. Vương An Thạch đem lời ấy bảo Mẫn Cầu, nhưng Tăng Công Lượng cho là không được, Mẫn Cầu không tuân theo thánh chỉ, mà nghe theo lời Công Lượng, chỉ nói rằng viện dẫn không đúng sự thật mà thôi.”

Quang nói: “Công Trước thật có nói như vậy, cũng chỉ muốn triều đình nghe theo lời Kỳ mà bãi bỏ phép Thanh Miêu thôi. Lời nói tuy có quá đáng, nhưng xét tình cảnh cũng có thể tha thứ được. Nay ghi rõ trong lời cáo từ, công khai trong ngoài, ‘Vua không giữ kín thì mất lòng bề tôi’, lời nói thầm kín nếu đều bị công khai để định tội, từ nay quần thần ai còn dám hết lòng nói với bệ hạ? Thần cho rằng Mẫn Cầu giấu giếm lời ấy, cũng chưa phải là thất lễ. Huống chi Mẫn Cầu không trực tiếp nhận thánh chỉ, chỉ căn cứ vào lời Tăng Công Lượng mà làm thôi.” Vua nói: “Công Lượng, An Thạch truyền thánh chỉ khác nhau, cũng nên tâu lên Trẫm.”

Vua nói: “Lý Thường không phải người tốt, trước đây An Thạch ở nhà, Thường xin được yết kiến, hết lời khen ngợi ông ấy, cho rằng ‘triều đình không thể một ngày không có ông ấy, vì thần có ý kiến khác về phép Thanh Miêu, nên đuổi thần chứ không thể bãi chức An Thạch’. Khi lui ra, lại sai người đem lời ấy báo cho An Thạch để mua chuộc ân huệ.” Quang nói: “Nếu vậy, thật là kẻ có tội.”

Vua nói: “Có kẻ giả mạo thư vu cáo, làm lung lay lòng quân, lại nói ‘trời không phù hộ bệ hạ, khiến cho hoàng tử không được nuôi dưỡng’. Có người nói là khanh đã dâng thư.” Quang nói: “Những thư thần dâng, bệ hạ đều đã xem, mà thần chưa từng đem bản thảo cho ai xem.”

Vua nói: “Những điều khanh nói, người ngoài không ai biết; còn những điều đài gián nói, Trẫm chưa biết, người ngoài đã biết hết rồi.”

Vua nói: “Nay thiên hạ xôn xao, chính là điều Tôn Thúc Ngao nói ‘nước có điều ấy, là điều mọi người ghét’ vậy.” Quang nói: “Đúng vậy. Bệ hạ nên xét rõ phải trái, rồi mới giữ vững. Nay những việc Ty Điều Lệ làm, chỉ có An Thạch, Hàn Giáng, Lữ Huệ Khanh cho là đúng, còn thiên hạ đều cho là sai. Bệ hạ há có thể chỉ cùng ba người ấy làm chủ thiên hạ sao?”

[32] Chiếu cho các lộ, châu, quân gặp các tiết chính, chí, hàn thực, đoan ngọ, trùng dương, không được dùng rượu để tặng nhau. Ban đầu, Tri châu Vị Châu là Thái Đĩnh tâu rằng ở Thiểm Tây có tiền công sứ cho phép nấu rượu, mỗi năm vào năm tiết thường dùng rượu để tặng nhau, phải đi qua hai mươi trạm dịch, vận chuyển đi lại, đường sá vất vả, xin cấm chỉ. Triều đình đồng ý. Đến lúc này, Đô quan lang trung là Trầm Hoành lại tâu rằng Tri châu Mạc Châu là Sài Di Phạm gửi rượu cho châu khác đến hơn chín trăm bình, phải huy động binh phu đến hơn hai trăm người, việc vi phạm pháp luật và làm khổ dân là rõ ràng. Vì vậy, triều đình cấm chỉ việc này trên toàn các lộ.

[33] Ngày Ất Dậu, Ty Điều lệ tâu: “Tiền Thanh miêu chia làm hai phần, một nửa dùng cho vụ hè, một nửa dùng cho vụ thu[13], để kho tàng không bị trống rỗng, phòng khi có việc bất thường. Tuy nhiên, hiện nay thời vụ nông nghiệp các lộ sớm muộn khác nhau, sản lượng vụ hè và vụ thu nhiều ít khác nhau, cùng với nhu cầu cấp bách hay không của dân chúng cũng khác nhau, e rằng không thể áp dụng một quy định cứng nhắc. Xin cho các cơ quan tùy theo nhu cầu cấp bách của dân chúng, cân nhắc thu chi, tùy thời mà làm, không bị ràng buộc bởi con số cụ thể.” Chiếu cho các lộ Chuyển vận, Khai Phong phủ giới Đề điểm, Đề cử Thường bình thương ty, ước định số tiền Thanh miêu có thể thực tế phân phát mỗi năm, tâu lên triều đình.

[34] Chiếu cho Quán các Hiệu khám là Lưu Ban ra nhậm chức ngoại nhiệm. Ban trước đây khi khảo thí ở Khai Phong, tranh cãi với Vương Giới, bị Đài gián hặc tấu, đã bị phạt tiền đồng, lại bị cách chức Khảo công và Cổ viện, đến nay xin ra ngoại nhiệm, Vương An Thạch nhân đó đuổi luôn Ban. (Việc này theo 《Nhật ký》 của Tư Mã Quang. Uông Ứng Thần nói: e rằng chỉ là Ngự sử hặc tấu Ban.)

[35] Ngày Bính Tuất, cấp tiền đặc biệt cho binh lính sửa đê đông lưu sông lớn[14] và nạo vét sông Ngự, số tiền có khác nhau.

[36] Ngày Đinh Hợi, Bí thư thừa, Tập hiền Hiệu lý là Tôn Chu, kiêm chức Sử quán Kiểm thảo.

[37] Đại Lý tự thừa, Phu Diên kinh lược ty câu đương công sự Tiết Xương Triều được bổ làm Thái tử trung doãn, quyền Giám sát ngự sử lí hành. Vương An Thạch nói Xương Triều là người có thể dùng. (An Thạch muốn dùng Xương Triều, việc này căn cứ theo 《Nhật lục》.)

[38] Tri huyện Lạc Ôn, châu Phù là Chung Tuấn được bổ làm Trứ tác tá lang. Vì Khảo khóa viện nói Tuấn có thành tích trị lý thuộc loại ưu tú.

[39] Tư Mã Quang đọc 《Tư trị thông giám》, bàn về việc Trương Thích Chi luận về sắc phu lợi khẩu, Quang nói: “Khổng Tử nói: ‘Ghét kẻ lợi khẩu làm đổ nát quốc gia.’ Lợi khẩu sao đến mức làm đổ nát quốc gia? Vì người đó có thể biến đúng thành sai, biến sai thành đúng, biến người hiền thành kẻ bất tiếu, biến kẻ bất tiếu thành người hiền. Nếu nhà Vua lấy đúng làm sai, lấy sai làm đúng, lấy người hiền làm kẻ bất tiếu, lấy kẻ bất tiếu làm người hiền, thì việc quốc gia đổ nát thật không khó.” Lúc đó Lữ Huệ Khanh đang ngồi, lời Quang nói chính là ám chỉ Huệ Khanh. (Việc này căn cứ theo 《Nhật ký》.)

[40] Trần Thăng Chi vì mẹ già xin về hưu, Vua không cho phép. (Việc này căn cứ theo 《Nhật lục》.)

[41] Ngày Mậu Tý, Trung thư tâu: “Tông thất Lệnh Yến và những người khác trình bày, những người thân thuộc từ hàng đản miễn trở xuống nếu ra làm quan và ở ngoài, việc tiến cử và tiếp khách đều đã có pháp luật quy định. Việc văn thư biểu tấu cũng xin được làm như ngoại quan.” Vua phê: “Lệnh Yến tuy thuộc hàng đản miễn, nhưng chỉ là được pháp luật cho phép ở ngoài, không phải là người được đổi quan hay ra làm quan, không thể áp dụng hoàn toàn như ngoại quan. Cần xem xét lại, sao cho các việc được cân xứng, không để tình trạng thân sơ nặng nhẹ không đều.”

Do đó, Trung thư định lại: “Những người từ hàng Tướng quân đản miễn trở xuống nếu muốn ra làm quan, giao cho người tôn trưởng cùng Giáo thụ bảo đảm, Tông chính ty xem xét rồi tâu lên. Những người đang làm quan ngoài nếu tiến cử con cháu, theo pháp luật ngoại quan. Nếu tổ tiên từ hàng đản miễn trở xuống đã có quan chức, mà cha ông đều đã mất, không muốn ra làm quan, muốn ra ngoài ở, thì cho phép mua ruộng đất nhà cửa; nếu muốn ra làm quan, thì mua ruộng đất nhà cửa theo pháp luật ngoại quan.” Vua đồng ý.

[42] Hàn Kỳ xin về Từ Châu dưỡng bệnh. Vua nói: “Hàn Kỳ ắt là vì việc của Lữ Công Trước.” Tăng Công Lượng nói: “Hàn Kỳ đáng lẽ xin về Tương Châu, nay lại xin về Từ Châu, ý có lẽ là ở đây.”

Vua hỏi: “Vì sao?” Công Lượng đáp: “Tương Châu thực là nơi đóng trọng binh.” Vương An Thạch nói: “Ý của Hàn Kỳ chưa hẳn là thế.”

Vua nói: “Cần phải khai dụ để ông ấy không tự nghi ngờ.” An Thạch nói: “Ông ấy vốn không có ý đó, cần gì phải khai dụ, chỉ cần phê đáp như thường là được. Đợi khi Hàn Kỳ lấy lời người ta làm cớ, lúc đó khai dụ cũng chưa muộn.” Vua nghe theo.

Hàn Kỳ dâng sớ bốn lần, Vua cuối cùng sai nội thị Lý Thuấn Cử đến khai dụ, Hàn Kỳ mới thôi.


  1. 'Hàn Duy' nguyên bản viết 'Hàn Giáng'. Theo 《Tống sử》 quyển 15 Thần Tông kỷ, quyển 211 Tể phụ biểu đều chép Hàn Giáng vào tháng 4 năm Hi Ninh thứ 3 làm Tham tri chính sự, còn quyển 315 Hàn Giáng truyện không ghi chép việc ông làm Trung thừa thời Hi Ninh; đoạn trên chép 'Quyền tri Khai Phong phủ, Hàn Lâm học sĩ kiêm Thị độc Hàn Duy quyền Ngự sử Trung thừa', đoạn dưới ngày Đinh Sửu chép Vương An Thạch tiến cử Hàn Duy thay Lữ Công Trước, Duy lấy cớ anh là Giáng đang ở Xu phủ nên từ chối, đều phù hợp với 《Tống sử》 quyển 315 Hàn Duy truyện. Chữ 'Giáng' ở đây chắc là nhầm với chữ 'Duy', nên sửa lại.
  2. Ngày mồng 6: Các bản gốc và bản in đều giống nhau. Căn cứ vào văn cảnh, có lẽ là 'ngày mồng 6' bị sai.
  3. e rằng Thái nói sai 'Thái' nguyên là 'Thái', theo các bản khác sửa lại.
  4. 'Tội' nguyên bản là 'bãi', theo các bản và quyển 211, ngày Canh Tuất tháng 5 năm nay sửa lại.
  5. Lý Trung Sư nguyên bản là 'Lý Sư Trung', theo các bản khác và văn cảnh sửa lại.
  6. Chẳng bao lâu Thăng Chi được trọng dụng thăng làm Thừa tướng rồi Giáng lại tiếp quản, bản hoạt tự giống nhau, bản các bản chữ 'Sự' viết thành 'Thị'. 《Tục thông giám》 quyển 67 viết 'Chẳng bao lâu, Thăng Chi được dùng làm tướng rồi Giáng kế nhiệm'. Nghi ngờ bản các bản là đúng.
  7. Chữ 'tựu' trong 'chuyên nhiệm độc quyết năng tựu sự công giả' vốn bị thiếu, theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 69, phần 'Thanh miêu pháp hạ' bổ sung.
  8. Quan vọng úy tị, 'úy' (畏): Chữ 'úy' (畏 - sợ hãi) trong bản gốc được viết là 'tư' (思 - suy nghĩ). Nó đã được sửa lại dựa theo các sách 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 63 và 'Trị tích thống loại' quyển 14 (ghi chép về việc các đại thần đời Thần Tông bàn luận Tân Pháp).
  9. Chữ 'bình' nguyên bản thiếu, theo 《Tống hội yếu》 Thực hóa 5-6, 《Biên niên cương mục》 quyển 18 bổ sung
  10. Chữ 'nhật' trong 'Tư Mã Quang nhật ký' vốn bị thiếu, căn cứ vào 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 69, phần Hạ Thanh Miêu pháp bổ sung.
  11. Cáo từ nguyên là 'cáo từ', căn cứ vào văn bản trước sau và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 61, 62, 69 có liên quan sửa đổi.
  12. Cáo từ nguyên là 'ngữ từ', theo văn trên dưới mà sửa.
  13. Tiền Thanh miêu chia làm hai phần, một nửa dùng cho vụ hè, một nửa dùng cho vụ thu, hai chữ 'liệu' nguyên bản đều viết là 'khoa', theo bản các và 《Tống hội yếu》 Thực hóa 5-6, Chức quan 5-4 sửa lại.
  14. Đê tảo, chữ 'tảo' nguyên bản viết là 'tảo', theo nghĩa văn sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.