VI. TỐNG THẦN TÔNG
[BETA] QUYỂN 232: NĂM HI NINH THỨ 5 (NHÂM TÝ, 1072)
Bắt đầu từ tháng 4 năm Hi Ninh thứ 5 đời Thần Tông đến hết tháng đó.
[1] Tháng 4 mùa hạ, ngày Canh Tuất (mùng 1), xuống chiếu cho Điện tiền tư và các quân Mã bộ, lệnh cho các sứ thần tuần giáo chia nhau vào mùa xuân và mùa thu để kiểm tra, thi bắn cung, cấp bạc đĩa cho những người đạt loại ưu, và lệnh cho quan kiểm tường của Binh phòng lập sổ để khảo sát, dựa vào số lượng nhiều ít để định thứ hạng cao thấp và trình lên xin chỉ dụ. Theo chế độ cũ, khi các quân tập luyện, mỗi chỉ huy được cấp một đĩa bạc một lạng, nếu bắn trúng thì chia đều, phần được quá ít, không đủ để khích lệ, nên ra lệnh ban thưởng rộng rãi để khuyến khích, đồng thời định thứ hạng cao thấp. (《Tân kỷ》 chép: Đặt ra phép định thứ hạng cao thấp trong việc kiểm tra, thi bắn cung của quân Điện tiền Mã bộ vào mùa xuân và mùa thu.)
[2] Ngày Tân Hợi (mùng 2), Quang lộc tự thừa, quan kiểm dụng điều lệ của Khố tuyên sắc thuộc Xu mật viện là Đỗ Thuần được cử đến Tần châu để xét việc của Vương Thiều. Vua triệu vào đối đáp rồi sai đi.
[3] Ngày Nhâm Tý (mùng 3), xuống chiếu cho Tam ty xuất ra một triệu tấm lụa giao cho Kinh lược ty của bốn lộ Thiểm Tây để đổi lấy vật dụng phòng biên. Vua nói với Vương An Thạch: “Muốn dùng riêng số này để hỗ trợ các hộ thục (người dân đã quy thuận) làm thủ lĩnh cung tiễn.” An Thạch nói: “Như vậy rất tốt.” Phùng Kinh nói: “Các hộ thục nghèo, ban nhiều e năm mất mùa khó đòi lại.” An Thạch nói: “Việc này tùy thuộc vào cách sắp xếp của người làm thôi. Nay cứ năm năm thì thu lãi gấp đôi, dùng số lãi đó để chuyên cứu tế năm mất mùa, năm mất mùa có thể khiến các hộ thục giữ được ruộng đất[1], không bị các họ lớn thôn tính, lại cảm phục ân đức của triều đình, việc này hoàn toàn không có hại mà chỉ có lợi.” Vua cho là phải.
[4] Lại có chiếu cho Hoàn Khánh lộ Câu đương công sự, Độ chi phán quan Trương Mục Chi điều tra việc năm ngoái ở Thiểm Tây mua lương thảo so với số tiền nguyên được cấp từ Tam ty thiếu hơn 272 vạn quan, cùng việc ruộng muối năm ngoái thiếu hụt hơn 55 vạn quan, lệnh cho Chuyển vận ty và Chế trí Giải diêm ty trình bày rõ ràng để tâu lên. Vua nói: “Pháp luật về muối và rượu hiện chưa thể nới lỏng, cần phải nghiêm cấm.” Vương An Thạch nói: “Bệ hạ dù trị nước như thời Đường, Ngu, pháp luật về muối và rượu cũng không cần nới lỏng. Nếu muốn ban lợi cho dân, chỉ cần chú trọng nông nghiệp mà thôi[2]. Nếu không nghiêm cấm nghề phụ, sẽ càng hại đến nông nghiệp, đó không phải là chính sách của Nghiêu, Thuấn vậy.”
[5] Vương An Thạch lại tâu với Vua rằng: “Việc biên cương sắp yên ổn, chính là lúc nên bàn luận kế sách lớn. Như những vùng đất nhỏ nơi biên giới, không đáng để tranh chấp, cần phải có cách để kiểm soát cả các dân tộc ngoại bang, mới xứng với ý trời giao phó cho bệ hạ. Nay Trung Quốc đất rộng dân đông, không có mối lo nhỏ nào, bốn phương đều suy yếu. Bệ hạ thông minh thánh triết, lo lắng siêng năng, cung kính tiết kiệm, muốn thống nhất thiên hạ và kiểm soát các dân tộc ngoại bang, rất không khó, chỉ cần bàn luận kế sách lớn mà thôi.”
Vua nói: “Đúng vậy. Các dân tộc ngoại bang không khó kiểm soát, chỉ là việc triều đình chưa có thứ tự, nay muốn thu phục các dân tộc ngoại bang, thì lương thực không đủ, quân lính cũng không đủ, lại không có tướng soái.”
Vương An Thạch nói: “Đây đều không phải là mối lo hiện nay. Bệ hạ hãy nghĩ đến thời Sài Thế Tông và Thái Tổ, quân biên giới lúc đó nhiều hơn bây giờ, lương thực nhiều hơn bây giờ? Nay lương thực không đủ, chỉ vì chưa cấp bách mà thôi; nếu cần gấp lương thực, chuyển nhiều tiền bạc mua với giá cao, lo gì lương thực không đủ. Quân lính đã nhiều, dân chúng lại đông, sao lại lo quân ít?
Từ xưa các bậc vương giả hưng thịnh, đều khởi đầu từ cảnh nghèo khó yếu đuối mà làm nên giàu mạnh đông đúc, nếu đợi giàu mạnh đông đúc rồi mới làm được việc, thì xưa nay không có bậc vương giả hưng thịnh.
Mối lo hiện nay, không phải là quân lính ít, cũng không phải là không có tướng soái. Nếu bệ hạ có thể xem xét tình hình, khiến người quân tử tự nguyện hết sức, kẻ tiểu nhân thay đổi không dám lừa dối, thì bệ hạ không làm gì mà không thành, thống nhất thiên hạ và kiểm soát các dân tộc ngoại bang, có gì khó!” Vua rất vui.
(Ngày mùng 4 tháng 3 và ngày 22 tháng này, việc biên cương phía tây có thể xem xét.)
[6] Trước đó, Trung thư tâu: “Theo chiếu tháng 3 nhuận năm Trị Bình thứ 4, dời bài vị của Hi Tổ vào nhà phụ trong miếu. Thần nghe rằng vạn vật đều có gốc từ trời, con người có gốc từ tổ tiên, nên chế độ tế tự của tiên vương có xa mà không dứt, có xa mà không bỏ.
Các Vua Thương, Chu bắt đầu từ Khế, Tắc; từ Tắc trở xuống không phải là cắt đứt từ Khốc trở lên mà bỏ đi, vì họ đã có dòng dõi kế thừa. Còn như vị trí tôn ti, thứ tự trước sau, thì dù con cháu có tài đức, công lao cũng không thể vượt lên trên tổ tiên, đó là đạo lý muôn đời của thiên hạ. Thần nghĩ rằng triều ta từ Hi Tổ trở lên không thể biết được thế thứ, nên Hi Tổ có miếu, cũng như Khế, Tắc, không có gì khác.
Nay phá miếu mà cất bài vị vào nhà phụ, hạ thấp địa vị của tổ tiên mà gán vào con cháu, e rằng không phải là cách thuận theo lòng hiếu của tổ tông, thờ người đã khuất như còn sống[3].
Xét các điển chế trước đây, tuy có như vậy, nhưng xét hợp với kinh điển thì không có thành lệ, tùy tình mà chế lễ, thực là việc của thánh triều. Kính nghĩ Hoàng đế bệ hạ nhân từ hiếu thảo, thông minh, nối trời xét xưa, cử chỉ hành động đều theo đạo, việc trọng đại của tông miếu nên xét kỹ. Xin giao việc này cho hai chế bàn bạc kỹ, chọn lấy điều thích hợp.”
Chiếu đáp rằng: “Thứ tự tông miếu, vốn có điển chế, để trên nối tiên vương, dưới làm khuôn phép cho đời sau. Trẫm nối ngôi lớn, được thờ tông miếu, mà thế thứ dời đổi, lễ có chỗ chưa yên. Bàn luận kinh điển, nhờ các bậc hiền phụ giúp Trẫm những điều chưa kịp, để trên thuận lòng hiếu của tổ tông, Trẫm xem thấy kinh ngạc, đâu dám không kính cẩn tuân theo, nên theo lời xin mà thi hành.”
(Trung thư tâu ngày Mậu Tý mùng 8 tháng 2, chiếu đáp ngày Nhâm Tý mùng 3 tháng 4, nay đều ghi vào ngày Nhâm Tý.
Chu bản, Tân bản đến ngày Mậu Thìn 23 tháng 11 mới chép việc này và chiếu, tuy liên kết làm một chỗ dễ tra cứu, nhưng trong đó như kiến nghị của Triệu Ngạn Nhược lại đặc biệt nêu ra, khó hiểu, nên vẫn theo cách biên niên ghi việc theo ngày, chép việc này trước.
Ngày Tân Hợi mùng 7 tháng giêng năm thứ 6, Cựu kỷ chép: Trung thư tâu “Vạn vật đều có gốc từ trời” đến “thờ người đã khuất như còn sống”, liền nói tôn Hi Tổ làm thủy tổ Thái miếu, dời Thuận Tổ vào nhà phụ, tháng giêng tế Cảm sinh đế[4], lấy Hi Tổ phối hưởng.
Xét lời tâu của Trung thư là ngày Mậu Tý mùng 8 tháng 3 năm thứ 5, không nên chép vào ngày Tân Hợi mùng 7 tháng giêng năm thứ 6, Tân kỷ đã bỏ lời tâu của Trung thư, văn cũng không đủ, nay tham khảo ngày tháng để chép riêng.)
[7] Ngày Giáp Dần, xem xét việc chuyển đổi chức vụ của các quân trong ba ngày.
[8] Ngày Ất Mão, chúa nước Liêu sai Quy Châu quan sát sứ Gia Luật Thích, Vệ úy thiếu khanh Trương Ái; mẹ chúa nước Liêu sai An Viễn quân tiết độ sứ Tiêu Lợi Dân, Thái thường thiếu khanh Vương Kinh đến chúc mừng tiết Đồng Thiên.
[9] Tri châu Đặng, Quan văn điện học sĩ, Lại bộ thị lang Hàn Giáng được bổ làm Tri châu Hứa. Giáng đã dâng mười tờ tấu xin về quê giữ gìn mồ mả, Vương An Thạch cũng vì ông mà nói, nên có mệnh lệnh này. Khánh Châu trú bạc đô giám, Cung phụng quan Phùng Thích được làm Cáp môn chi hậu, vì có công giữ thành trong lúc binh biến ở Khánh Châu. (《Nhật lục》 ngày 25 tháng 3 chép: Thích khuyên bảo những binh sĩ định làm phản, khác với ghi chép trong 《Thực lục》, nay theo 《Thực lục》.)
Đô quan lang trung Lương Ngạn Minh được quyền phát khiển Khai Phong phủ phán quan, Tỷ bộ viên ngoại lang Thẩm Hi Nhan, Đô quan viên ngoại lang Lưu Minh Viễn đều được thăng một chức, vì họ là những người đầu tiên đề xuất thực hiện phép thương. Binh bộ lang trung, Tập hiền hiệu lí Vương Quán, Hình bộ lang trung, Bí các hiệu lí Lý Diên, Hình bộ viên ngoại lang, Tập hiền hiệu lí Lục Kinh đều được làm Đồng phán Thái thường tự, vẫn được hưởng bổng lộc của Tam ty phán quan. (Cần xem xét lại việc cấp bổng lộc cho tỉnh phán, nếu không sẽ bị bãi bỏ.)
[10] Ngày Bính Thìn, Vua phê: “Hôm trước bàn việc thiết lập Thị dịch vụ, văn tự của Ngụy Kế Tông có thể lấy ra xem xét.” Bản Chu chép rằng không có lý do gì, chỉ là lấy xem, không cần ghi lại. Nay theo bản mới mà giữ lại. (Kế Tông đã đến vào ngày 26 tháng 3.)
[11] Ngày Kỷ Mùi, Triệu Tiết, quyền phát khiển Diên Châu, xin cử Thông phán Phạm Tử Nghi cùng Cơ nghi quan Ngụy Chương, Tả Văn Thông đi khảo sát ruộng bỏ hoang và đề cử việc chiêu mộ dân làm cung tiễn thủ, được chấp thuận. Trước đây, Tiết quản câu bản lộ cơ nghi văn tự, dâng tấu về việc khai khẩn ruộng đất rằng: “Xưa Triệu Sung Quốc mở đồn điền để phá Tiên Linh. Tể tướng nhà Đường là Lâu Sư Đức từng làm Kiểm hiệu Doanh điền sứ, mà vùng Hà Tây, Lũng Hữu có 360 đồn, mỗi năm thu được hơn 60 vạn thạch. Nay Thiểm Tây tuy có đất bỏ hoang nhưng chưa được canh tác, triều đình không thể bỏ việc đồn thú, mà phương xa lại phải vận chuyển lương thực vất vả. Xin lấy ruộng bỏ hoang chiêu mộ dân canh tác để giảm bớt nỗi lo phía tây.” Chiếu đưa việc này xuống Kinh lược An phủ sứ Quách Quỳ, Quỳ tâu: “Nay đất mới thu được ở Hoài Ninh rộng trăm dặm, đã chiêu mộ hộ Hán và Phiên làm cung tiễn thủ, thực sự không còn ruộng bỏ hoang để chiêu mộ dân canh tác.” Đến nay, Tiết lại xin khảo sát ruộng bỏ hoang.
(《Ngự tập》 quyển 21: Ngày 16 tháng 3 năm Hi Ninh thứ 5, dâng tấu của Tiết lên, bị bác bỏ[5], nay mới thi hành.
《Thực hóa chí》 chép: Tiết lại tâu việc này, bèn khảo sát được hơn 15.000 khoảnh đất, chiêu mộ gần 5.000 binh Hán và Phiên, lập thành 10 chỉ huy. Chiếu thăng chức cho Tiết, ban thêm vàng lụa.
Xét lời chí chép, ắt có ngày tháng riêng, tạm ghi ở đây. Chí lại chép: Phàm nói về việc thực biên, khai khẩn ruộng đất là do Triệu Tiết, quan trang là do Hoắc Tường. Việc của Tường ghi vào ngày 6 tháng 2 năm thứ 10.)
[12] Ngày Canh Thân, Ty An phủ vùng biên giới phía bắc Hà Bắc tâu: “Người phương Bắc đánh cá ở sông Giới và cướp thuyền phía tây sông Giới, đồng thời bắn bị thương binh lính. Mặc dù đã chỉ huy Đô đồng Tuần kiểm để ngăn chặn một cách ôn hòa[6], nhưng lo rằng nước họ không biết rằng quan biên thần không coi trọng quan hệ hữu hảo, tin tưởng và dung túng tiểu dân, dần dần mở ra mâu thuẫn biên giới.” Chiếu rằng sứ giả Tống Thiên Tiết là Triều Đoan Ngạn và những người khác hãy thông báo với sứ giả phương Bắc rằng triều đình luôn coi trọng lời thề tin cậy, chưa từng khơi mào sự việc, xin hãy báo cáo về triều đình của họ, nghiêm khắc răn đe.
[13] Ngày Quý Hợi, Cáp môn tâu: “Sổ sách ghi chép quan chức từ Đô ty sứ trở xuống, trước đây chỉ có một cuốn, xin chia thành hai cuốn riêng biệt cho Đông ban và Tây ban.” Triều đình đồng ý.
[14] Ngày Bính Dần, Mã Trọng Phủ, chức Đãi chế Thiên Chương các, xem xét và quyết định việc xóa nợ.
[15] Trước đó, Tạ Cảnh Ôn, quyền Đô chuyển vận sứ Thiểm Tây, tâu: “Trước đây ban thưởng tiền mặt cho các quân đội vùng biên giới, nhưng 5.000 binh lính huấn luyện ở Châu Bân[7]cùng ở một nơi mà không được nhận, điều này không công bằng.” Chiếu rằng các lộ biên giới sau này nếu có tình huống tương tự tăng quân mã, đợi khi có chỉ dụ ban thưởng tiền đặc biệt cho các lộ thì mới thi hành.
[16] Dương Trí, chức Tam ban Tá chức, Quản câu Kinh lược ty văn tự Lộ Kinh Nguyên, được bổ nhiệm làm Thư lệnh sử Xu mật viện[8]. Ban đầu, Vua thấy các văn thư của các phòng Xu mật viện quá nhiều, lại do các lại dịch cha anh bảo lãnh, nhiều người không đủ năng lực, nên ra lệnh cho Đô thừa chỉ Lý Bình lập pháp, tuyển chọn người từ dân thường và các chức Tam ban Sứ thần. Ban đầu dùng Mạc Uyên, Trần Tông Đạo làm việc ở phòng Hình, phụ trách pháp lệnh, đến nay lại dùng Dương Trí, vốn là quan biên thần có kinh nghiệm, cho làm việc ở phòng Hà Tây.
[17] Chiếu cho Triệu Tiết đến khu vực thành Tuy Đức xem xét, chọn nơi thuận tiện có nguồn nước để xây dựng đồn trại. Trước đó, Tiết muốn nhân lúc người Hạ không đề phòng, chiếm đất hoang xây đồn trại, Vua hỏi các quan chấp chính ý kiến thế nào, mọi người đều cho rằng Tiết không dám làm bừa, nên theo lời xin của ông. Vương An Thạch nói: “Nay nếu muốn đoạn tuyệt với người Hạ thì nên đoạn tuyệt rõ ràng, muốn hòa thì phải giữ lời thề. Đã hẹn với họ bàn về địa giới, bỗng nhiên chiếm đất hoang khiến họ không kịp đề phòng, không phải là kế hay. Hơn nữa, cách chúng ta đối đãi với rợ không nằm ở vài dặm đất, vài dặm đất này không đáng kể có hay không.”
Vua nói: “Trẫm cũng nghi ngờ kế này chưa ổn.” Bèn sai Tiết trình bày rõ lợi hại để nghe. (Việc này căn cứ theo sách lục ngày 19 tháng 3.) Tiết xin xây đồn trại trong địa giới, nên ban chiếu này.
An Thạch lại nói: “Nay một lộ Thiểm Tây có số hộ khẩu có thể sánh với cả nước Hạ, lấy bốn nước Hạ đối phó một nước Hạ, lại dùng tài lực thiên hạ giúp sức, thế lực muốn quét sạch cũng rất dễ, nhưng cuối cùng không thể khiến nước Hạ sợ phục, vì Vua tôi họ mạnh mẽ. Nay Vua họ còn nhỏ yếu, bề tôi chỉ là những kẻ thân cận hèn kém, nhưng cuối cùng vẫn không thể kiểm soát họ, ắt có lý do, tướng súy chưa chịu dốc sức vì bệ hạ làm việc, dù muốn dốc sức làm việc cũng sợ không dám đắc chí.”
Vua nói: “Người có trí lực thật ít.” An Thạch nói: “Người có trí lực đâu cần nhiều? Chỉ cần mọi người hết lòng tuân theo hiệu lệnh triều đình. Người bàn bạc ra hiệu lệnh cũng đâu cần nhiều? Chỉ cần phân biệt rõ tốt xấu đúng sai là được.”
[18] Xu mật phó sứ Thái Đĩnh tâu: “Gần đây sáp nhập các quân tự túc lương thực, trong đó có nhiều quân viên vượt quá định ngạch, xin hạ lệnh cho Điện tiền Mã bộ quân, các lộ Tổng quản ty, theo thứ tự chức vụ sáp nhập, cùng một loại quân ở một châu, nếu trong châu không đủ người thì cho phép sắp xếp sang châu lân cận.” Vua đồng ý.
[19] Vương Thiều tâu: “Chiêu nạp hơn nghìn người bộ lạc Thổ Phồn ở vùng Đào, Hà, Vũ Thắng quân là Ngạc Đặc Lăng, xin bổ làm Đô ngu hậu, Chỉ huy sứ, và cấp bổng lộc theo thứ bậc.” Vua đồng ý.
[20] Chiếu rằng Trứ tác tá lang, Tân Thiểm Tây chuyển vận câu đương công sự Trần Đại Thuận phạt 6 cân đồng, bị thay thế, vì bị tra xét báo cáo lên không đúng sự thật, gặp lúc được giảm tội. Chúc Tư lại hặc tội Đại Thuận, nắm được đầy đủ lời lẽ quanh co của hắn. Lý Định cũng vì báo cáo không đúng sự thật mà bị phạt 5 cân đồng, được tha tội. Vương An Thạch ra sức biện hộ cho Lý Định, nhiều lần nói rằng khi Lý Định ban đầu đối chất với Xu mật viện, đã nói rằng chứng cứ đầy đủ, nhưng Xu mật viện vu cáo, Lý Định không đáng bị tội, nên chiếu tha phạt cho Lý Định. Lại chiếu rằng quan khám trước của Ngự sử đài là Diêu Nguyên Cổ xử án cẩu thả, dù đã thôi chức, vẫn giao cho Hoài Nam chuyển vận ty hặc tội tâu lên. (Nguyên Cổ lại xem ngày Quý Mùi tháng 10.)
[21] Ngày Đinh Mão, Thái tử trung doãn, Tập hiền hiệu lý, Đồng tri Thẩm quan tây viện Trương Hổ được phục chức Tri gián viện, Đồng tu khởi cư chú, Trực xá nhân viện, vì Chế khám viện nói rằng Hổ với tư cách gián quan bàn việc không có tội để hặc. Tháng 2 ngày Quý Sửu bãi chức.
[22] Chiếu rằng các chức chuyển viên của các ban trực, từ Thừa chỉ Xu mật viện trở xuống được ban tiền khác nhau, quan kiểm dụng không được ban, vì sĩ nhân không thể ngang hàng với tiểu lại.
[23] Chiếu rằng Triệu Tiết đợi khi phân chia địa giới xong thì nộp lại mệnh lệnh tiện nghi hành sự trước đây. Ban đầu, các suý thần Thiểm Tây, Hà Đông, chỉ có Quách Quỳ, Triệu Tiết từng xin được tiện nghi hành sự. Sau đó, Vua cho rằng các lộ biên sự, Kinh lược sứ tự phải tùy nghi xử lý, lại thêm việc biên giới dần yên ổn, nên bãi bỏ.
[24] Bí thư thừa, Bí các hiệu lý Chương Đôn áp tải người Tây Hạ, không đến dịch trạm nghỉ, đặc biệt phạt 8 cân đồng, tha tội. (Việc này căn cứ theo 《Mật ký》.)
[25] Ngày Canh Ngọ, đúc các ấn đồng chu ký[9] cấp cho các lộ Tẩu mã thừa thụ, đồng thời thu lại ấn Phụng sứ đã ban. Theo lệ cũ, các lộ Tẩu mã thừa thụ đều ghi chức hàm là “Mỗ lộ Đô tổng quản ty Tẩu mã thừa thụ công sự”, nhưng người nhậm chức ghét bị lệ thuộc, nên trong chức hàm lén bỏ chữ “Đô tổng quản ty”, mong nắm quyền riêng. Đến nay, mới sửa lại, và đúc thành ấn đồng chu ký.
[26] Tây Kinh Tả tàng khố phó sứ, Tri Lợi châu Chu Vĩnh ý tham bạo bất pháp, Chuyển vận phó sứ Tiên Vu Sân bắt được tang chứng, liền sai lại đến Ngự sử Trương Thương Anh tâu: “Vĩnh ý khi tại nhiệm, Chuyển vận sứ Lý Du, Đề điểm hình ngục Chu Ước đều dâng sớ tiến cử, Vĩnh ý ỷ vào sự giúp đỡ của Du và Ước, nên bán xử kiện tụng, nhận hối lộ, không kiêng sợ gì, không thể không trị tội.” Chiếu đợi án của Vĩnh ý đến sẽ lấy chỉ. Sau, Vĩnh ý bị biên quản ở Hoành châu, Du, Ước và Đồng Đề điểm hình ngục La Cư Trung đều bị đoạt một chức. (Việc Du, Ước, Cư Trung bị đoạt chức, theo 《Hội yếu》 là vào ngày 3 tháng 7 nhuận, nay phụ chép ở đây. Du, vào ngày 9 tháng 10 năm thứ 4 vì phép dịch cũng đáng bãi chức, nhưng sau lại được khôi phục như cũ.)
[27] Ngày Tân Mùi, Đô đại đề cử tu sửa đê ngăn chặn sông vỡ ở đệ ngũ tảo Bắc Kinh, Nhập nội phó đô tri Trương Mậu Tắc tâu: “Đã ngăn được đệ ngũ tảo, cho nước sông chảy vào sông Nhị Cổ mới khai thông[10].” Chiếu ban yến cho Mậu Tắc và những người dưới quyền ở Đại Danh phủ, lại sai Hữu gián nghị đại phu, Tập hiền viện học sĩ Tống Mẫn Cầu đến nơi sông vỡ làm lễ tế. (Cả 《Tân kỷ》 và 《Cựu kỷ》 đều chép ngày Tân Mùi ngăn sông vỡ ở Bắc Kinh.)
[28] Vương An Thạch tâu với Vua rằng: “Trình Phưởng cử quan, không dám cử bừa, như Hoắc Thuấn và Vương Giám, hai người này đều là người giỏi việc, những người khác mà ông cử cũng đều là người giỏi việc. Nếu Phưởng không làm như vậy, thì sẽ làm hỏng việc đào sông.
Thế mà những kẻ gièm pha lại cho rằng Phưởng cử người vì tư lợi. Phưởng làm xong việc sông, trong triều thì các đại thần chấp chính, ngoài biên thì các đại thần trấn thủ, trong ngoài cùng công kích, không chỉ một lần, cho rằng ông ăn gạo sống, lại cho rằng không có chỗ để đặt vật liệu. Những kẻ phe cánh của các đại thần trong ngoài, lại cùng nhau gièm pha, rình rập lỗi lầm của ông.
Chuyển vận sứ thì không chịu cung cấp tiền mua cỏ, lại cho rằng không có chỗ đặt vật liệu, Đô thủy giám Lý Lập Chi lại nhiều lần ngăn trở việc cung cấp vật liệu, điều động binh sĩ, trước sau xin đến sáu bảy lần, mới được điều động. Xem thấy mọi người rình rập hãm hại như vậy, nếu Phưởng có tội, thì làm sao mà mọi người dung thứ được?
Kẻ gièm pha lại nói rằng Phưởng ỷ lại vào thần, được thần tin tưởng nên ngang ngược. Bệ hạ cho rằng người ta công kích Phưởng là vì sao? Chủ yếu là vì thần. Nay thần có tội, vốn không thể tự che giấu[11], huống chi là Phưởng?
Bệ hạ mỗi việc đều muốn làm cho công bằng, thần xem thấy gần đây việc bổ nhiệm, có những người rất giỏi xin cử người không xứng đáng, thần thường cảm thấy đau lòng, nhưng ai là người nói rõ tình hình cho Bệ hạ? Những kẻ làm việc gian tư, thì Bệ hạ vốn chưa từng biết; những người trung thành, ít người giúp đỡ, lại bị người ta trăm phương ngăn trở.
Bệ hạ chỉ thấy người trung thành bị người ta gièm pha, liền muốn xét tội họ, như vậy thì ai còn dám trung thành? Thần trộm nghĩ rằng nếu là người trung thành, dù có tội cũng nên được khoan thứ, huống chi lại vô tội, Bệ hạ e rằng cần phải xem xét kỹ.”
Vua cho là phải, và nói: “Gần đây những kẻ thay đổi bộ mặt cũng đã nhiều.” An Thạch nói: “Bệ hạ có thể dùng đạo lý để xử lý việc, thì lo gì người ta không thay đổi? Nếu Bệ hạ chưa thể dùng đạo lý để xử lý việc, thì những kẻ chưa thay đổi sẽ ngày đêm rình rập ý Bệ hạ, thừa cơ làm việc gian tư, thần không thể đảm bảo họ không làm loạn chính sự. Bệ hạ đối với việc hình danh, độ số, sổ sách, có thể nói là rất tường tận, nhưng việc chính của bậc quân chủ là phải hiểu rõ đạo thuật, để ứng phó với những biến hóa vô cùng của tình người, việc hình danh, độ số, sổ sách, không đủ để giải quyết việc này.”
Vua nói: “Dùng người thì cần phải trách nhiệm hoàn thành.”
Một hôm, An Thạch lại tâu với Vua rằng: “Trước đây, Trình Phưởng khi làm việc ở phủ giới, đề hạt việc khai khẩn ruộng bùn, cứu hộ cống đập Khổng Cố Loan, thực sự có công lao. Từ các quan chức cấp thấp đến các trại lính, sau này đều được ban ân, chỉ có Phưởng là không được ban thưởng gì. Bệ hạ vừa hỏi về việc đê Đệ Ngũ Tảo bị vỡ, sao không bắt tội Phưởng? Việc này Trung thư đã biết, không cần phải giao xuống Hà Bắc tra xét, vì bọn tiểu nhân đang cho rằng Trung thư bao che Phưởng, nếu lại giao xuống Hà Bắc khám xét, triều đình xử lý chính sự như vậy, chỉ sợ người ta không chịu ra sức làm việc thực chất.”
Vua cười nói: “Trình Phưởng thực sự có khí lực, nhưng làm việc quá đáng, nên hạn chế bớt. Gần đây Lý Nhược Ngu bị bệnh, lại tâu cử nội thần Trần Thuấn Thần thay Nhược Ngu quản lý đầm Đường.” An Thạch nói: “Việc như thế này thực sự là tiếm quyền, không phải là che mắt bệ hạ, nhưng đối với việc nước có hại gì? Còn như kẻ gian tà, trong ngoài cấu kết, che mắt bệ hạ, bệ hạ không tỉnh ngộ, thì mới đáng trừng trị nghiêm khắc. Hán Nguyên Đế, Đường Văn Tông nguy hiểm xã tắc, tông miếu, chính là vì những hạng người này. Bệ hạ không trừng trị bọn họ, mà chỉ muốn hạn chế Phưởng, chưa phải là kế sách hay. Nếu Phưởng có tội, tự nhiên sẽ không được mọi người dung thứ, bệ hạ cũng không cần phải tra xét sâu xa.”
Vua nói: “Phưởng bị Hàn Kỳ ghét, người ghét Phưởng cũng nhiều, chính là vì tự làm quá đáng.”
[29] Chiếu cho các lộ biên giới Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây, mỗi nơi thêm hai ấn Kiềm hạt và hai ấn Lộ phân Đô giám. Trước đây, các quan võ biên giới đều có ấn, từ niên hiệu Khang Định trở đi, số lượng phó tướng tăng lên gấp bội, đều dùng ấn tạm, nên không thể kiểm tra được gian ngụy, đến nay mới sửa đổi lại.
[30] Tri Khánh châu Vương Quảng Uyên tâu: “Xin dời Lãng Oát, Tạng Nguy cùng những người khác vào vùng đất của người Hán gần biên giới, cho họ mua đất để ở và canh tác. Những người phải di dời sẽ được chia làm ba hạng để cấp tiền tu sửa nhà cửa, đồng thời giao cho Kinh lược ty tính toán số lượng người để cấp lương thực, thường xuyên quan tâm giúp đỡ.” Triều đình đồng ý.
Quảng Uyên lại tâu: “Đất của Lãng Oát và Tạng Nguy hiện nay tuy đang được canh tác và chăn nuôi, nhưng trước đây có văn thư báo rằng nước Hạ chưa từng canh tác, nên trong tương lai chắc chắn sẽ tranh chấp.”
Vương An Thạch nói: “Nước Hạ trong tấu chương nói rằng lấy ranh giới theo nơi đang canh tác, nên về lý mà nói họ không thể tranh chấp.” Vua cho rằng chắc chắn sẽ tranh chấp, An Thạch nói: “Vua nước Hạ còn nhỏ tuổi, người cầm quyền lo sợ bị quy trách nhiệm trong tương lai, nên chắc chắn sẽ tranh chấp. Đến khi bất đắc dĩ, mọi người đều muốn nhượng bộ, lúc đó họ mới dám đồng ý với ta, nhằm giảm bớt trách nhiệm trong tương lai. Nếu họ dám chống cự, thì e rằng không có chuyện đó. Triều đình nên hiểu ý này, không cần phải vội vàng đối phó.”
Sau đó, Quảng Uyên lại tâu: “Quan phủ đã mua đất cho Lãng Oát và Tạng Nguy, ban đầu không hề xâm phạm canh tác vào đất của nước Hạ, chỉ do Tuyên phủ ty chỉ huy, sau đó có hơn 70 hộ xâm canh hơn 100 khoảnh đất hoang, xin lệnh cho Tiên Vu Sư Trung điều tra.” Văn Ngạn Bác nói: “Quảng Uyên làm tướng, sao lại đẩy việc điều tra cho Sư Trung?”
An Thạch nói: “Quảng Uyên chỉ sợ triều đình không tin, nên muốn triều đình hỏi ý kiến Sư Trung, chứ không phải để tránh việc.” Lại nói với Ngô Sung: “Triều đình cũng không cần tiếc mảnh đất nhỏ này.” Sung nói: “Chỉ sợ vi phạm chỉ thị trước đây.” An Thạch nói: “Nếu đòi hỏi ngoài chỉ thị thì khó, nhưng nếu trong chỉ thị tự có sự điều chỉnh, sao lại không được?”
Văn Ngạn Bác, Phùng Kinh và Ngô Sung hỏi ý kiến Thái Đĩnh, Đĩnh nói: “Đất đã được canh tác hết, những đất mua trước đây đều không thể trồng trọt, chỉ có danh nghĩa mà thôi.”
Vua hỏi: “Thế nào?” Ngạn Bác nói: “Chắc chắn đã canh tác hết, đất của người Tây không chỉ hơn 100 khoảnh.”
Vua nói: “Thái Đĩnh chắc chắn biết rõ chi tiết.” Đĩnh nói: “Thần rời Khánh châu sau đó, mới chiêu mộ được Lãng Oát và những người khác, nghe nói đất quan mua không thể canh tác, sau đó canh tác hết đất của người Phiên.” An Thạch nói: “Đĩnh cũng chỉ nghe đồn, việc này có thể kiểm tra, lệnh cho Tiên Vu Sư Trung kiểm tra xem đã canh tác hết hay chưa và số khoảnh đất canh tác, đều có thể xác minh rõ ràng.”
Vua hỏi: “Nếu chuyên tâm muốn trả lại đất, thì xử lý Tạng Nguy và những người khác thế nào?” An Thạch nói: “Trước đây chỉ dùng 2000 quan tiền mua đất, một khoảnh chỉ hơn 10 quan, nên đất không tốt. Nay nếu vì Tạng Nguy và những người khác quy phụ, cần ưu đãi, thì bỏ ra vài vạn quan mua đất cấp cho họ[12], chắc chắn sẽ không để họ lâm vào cảnh khốn cùng.” Mọi người đều cho rằng không có đất để mua.
Vua nói: “Lại sợ rằng nếu mua đất, dân địa phương sẽ không có chỗ an cư.” An Thạch nói: “Dân địa phương cũng có người mua bán ruộng đất, quan phủ dùng giá tốt mua đất của họ, người bán đất không lo mất chỗ ở, cũng không lo không có đất để mua.”
Vua nói: “Chỉ sợ người Khương Di tính tham lam, nếu tỏ ra yếu thế thì họ sẽ càng không biết đủ.” An Thạch nói: “Người Khương Di thật không thể nuông chiều, nhưng cũng phải tính toán tình thế. Nếu mạnh yếu tương đương, thì nuông chiều họ sẽ càng xâm lấn không ngừng; nếu họ đang yếu thế, yếu thế mà tỏ ra mạnh, thì ta hơi nhượng bộ để lấy lợi, sẽ dễ dàng thu phục họ hơn. Hơn nữa, việc biên giới phải tính toán đại cục, chứ mảnh đất nhỏ này chưa đáng kể, lẽ nào họ vì mảnh đất nhỏ mà đoạn tuyệt hòa hảo[13]? Dù ta cố tranh không cho, họ cũng chỉ dọa dẫm bằng cách tụ tập quân, chứ cuối cùng chưa dám tiến sâu vào. Tuy nhiên, chút lợi nhỏ này e rằng không cần tranh.” Đĩnh nói: “Nếu xem xét việc mua đất, phải đợi việc thương lượng biên giới xong. Trong lúc chưa định, nếu họ biết ta mua đất, thì sẽ khó thương lượng.”
Vua nói: “Việc xem xét đất đai, phải bảo Kinh lược ty giữ bí mật.” An Thạch nói: “Việc này không cần giữ bí mật. Nếu họ biết ta mua đất, ắt sẽ càng trì hoãn để đợi ta. Nếu ta có đất để mua, tự nhiên có thể trả lại đất cho họ; nếu ta không có đất để mua, thì phải đòi đất của họ, họ cũng biết ta lấy đất là bất đắc dĩ, chỉ sợ các nơi khác cũng có đất xâm lấn, vì thế càng khó thương lượng.” Đĩnh cho rằng đất đai các nơi khác không giống chỗ này, chỗ này có mấy trại núi, biên giới rõ ràng, nên tất phải tranh. An Thạch nói: “Bệ hạ lúc đầu bàn việc biên giới, cũng đã dự đoán chỗ này khó thương lượng, tức là biết nơi khác không giống chỗ này.”
Vua nói: “Quảng Uyên làm tướng, phải giao việc này cho Quảng Uyên lo liệu.” An Thạch nói: “Việc kiểm tra đất đai không cần phải có Tiên Vu Sư Trung.” Vua nghe theo lời An Thạch, lệnh cho Quảng Uyên xem xét rồi tâu lên.
Do đó, trả lại đất cho nước Hạ, dời Tạng Nguy… Quảng Uyên nói rằng quân Khánh vẫn còn dao động, chưa thể dùng, không nên có việc tranh chấp biên giới.
(Việc này dùng 《Nhật lục》 ngày 4 và 26 tháng 3 biên soạn phụ lục[14], sau khi dời Tạng Nguy…, cần xem xét kỹ, chọn lấy phần quan trọng, vẫn phải tham khảo với việc Náo Ngoa Bảo, Cương Thạch Trại ngày 4 tháng 3. Quảng Uyên ngày 4 tháng 4 tâu việc đất Tạng Nguy…, tức là liên quan đến việc Náo Ngoa Bảo, Cương Thạch Trại trong 《Thực lục》, hoặc Náo Ngoa, Cương Thạch chính là đất Tạng Nguy…[15]. Tháng 7 năm thứ 6, Tạng Nguy… đầu hàng phương Tây, cần tham khảo. Tiên Vu Sư Trung, ngày 4 tháng 12 năm ngoái được phái đi lập phong câu.)
Quách Hóa, chức Thần Châu đoàn luyện sứ đã về hưu, tâu: “Thần về hưu, theo lệ được một ân điển cho con, xin theo lệ giáng tư phân cho hai con.” Chiếu chỉ chỉ cho một người làm Hữu ban điện trực[16]. Theo lệ cũ, tấu tiến ân điển, cho phép giáng tư phân, nhưng Vua cho rằng đây là ân điển đặc biệt của triều đình, việc ban thưởng bên ngoài không phải là cổ lệ, lại dễ sinh ra sự may rủi, nên bãi bỏ.
[31] Ngày Nhâm Thân, ban chiếu rằng: “Các quan viên được thay đổi chức vụ, đều phải tuân theo phép thi của những người được bổ nhiệm làm quan. Những người được thay đổi chức vụ phải dưới 40 tuổi, tự viết lý lịch, bắn cung ngựa sáu đấu, bắn cung bộ tám đấu, giương nỏ hai thạch năm đấu, mỗi loại mười mũi tên trúng hai mũi trở lên, trừ những người thuộc dòng ngoại. Những người tiến nạp và những người từng phạm tội tham nhũng cùng tội tư nặng không được thay đổi, còn lại đều được nghe theo.”
[32] Ngày Giáp Tuất, sai quan Nhập nội Đông đầu Cung phụng Lý Hiến đến ty An phủ biên giới phía bắc Hà Bắc để xử lý công việc.
[33] Trước đó, quyền phát khiển Khai Phong phủ Thôi quan Triều Đoan Ngạn tâu rằng: “Kho Tạp cung hàng năm chi khoảng chín nghìn quan, đã cắt giảm một phần ba. Xin hạ lệnh cho kho Tả tàng mượn tiền làm vốn, theo cách cổ là tiền công giải và nay kho Kiểm hiệu cho người vay mượn sinh lãi, đợi khi có dư sẽ hoàn trả.” Chiếu cho kho Tả tàng chi tiền vốn bảy vạn quan, sai đồng Câu đương Ty lục ty Kiểm hiệu khố Ngô An Trì cùng bản ty Hộ tào Tôn Địch chuyên trách việc quản lý tiền lãi và chi trả.
Hôm đó, Vua phê hỏi Trung thư: “Trước đây chi kho Tả tàng bảy vạn quan cho Khai Phong phủ, cho người tình nguyện vay mượn, theo lãi suất thường bình, để làm tiền thưởng bắt giặc. Nghe nói bản phủ vi phạm pháp luật, không cho người tình nguyện nhận, lại bắt các loại người hành nghề đóng góp theo thứ bậc.” Vương An Thạch tâu với Vua: “Việc này do con rể thần phụ trách, chắc chắn không có chuyện đó, có thể lệnh cho Phùng Kinh lấy văn tự tra xét, việc rất rõ ràng, chưa từng bắt đóng góp.”
(Việc này căn cứ theo 《Hội yếu》 và 《Ngự tập》 cùng 《Nhật lục》. Lời phê của Vua là ngày 25.)
[34] Ngày Ất Hợi, Bí thư thừa, Tập hiền Hiệu lý, Kiểm chính Trung thư Hộ phòng công sự Chương Đôn sửa đổi điều lệ của dịch trạm Đô đình Tây. Người Hạ lâu ngày không triều cống, nên điều lệ của dịch trạm Tây phức tạp rối ren, người thi hành không biết theo đâu, đến nay lại triều cống, nên có lệnh này.
[35] Tri châu Hùng Châu là Trương Lợi Nhất tâu: “Ở biên giới phía bắc có khoảng bảy tám nghìn kỵ binh vượt qua sông Cự Mã đến phía nam, hai bên cùng đưa quân đến các thôn như Bắc Tiệm. Sau đó, lệnh cho các quan huyện Quy Tín và Dung Thành cùng huyện úy dẫn quân đến đó, thì quân địch lập tức vượt qua sông về phía bắc, và trong dịch trạm phía bắc sông còn có khoảng hơn một nghìn quân.” Triều đình hạ chiếu cho An phủ ty điều tra nguyên nhân và tâu lên. Dân huyện Dung Thành và Quy Tín tuy thuộc cả hai bên, nhưng trước đây phía bắc chưa từng phái quân tuần tra.
[36] Vua cùng Vương An Thạch bàn về nỗi lo các tướng soái không đồng lòng, An Thạch nói: “Bệ hạ dùng tâm nhất quán, thì triều đình sẽ nhất quán, triều đình nhất quán thì mới có thể thống nhất các tướng soái.” Vua nói: “Sau khi việc phương Tây ổn định, nên kinh lược như thế nào?” An Thạch đáp: “Chẳng qua là tổ chức dân chúng thành đội ngũ, huấn luyện binh lính, tích trữ lương thực. Nhưng điều cốt yếu là phải kiểm soát được các tướng soái, khiến họ tuân theo chính lệnh của triều đình.”
Vua lại nói rằng các tướng soái phần nhiều không tuân theo ý chỉ của triều đình, An Thạch nói: “Bệ hạ nếu có thể phân biệt được trung tín và dối trá, không bị người khác che mắt lừa dối, thì họ không dám không tuân theo ý chỉ của triều đình. Nay nếu đối diện mà làm việc gian trá mà không bị trừng phạt, thì sau lưng làm việc gian trá còn sợ gì nữa?
Khi có hình tích rõ ràng mà làm việc gièm pha mà không bị ngăn cấm, thì khi không có hình tích rõ ràng mà làm việc gièm pha còn gì mà không dám làm? Gian trá và gièm pha không bị ngăn cấm như vậy, mà muốn đạo trị nước phát triển, phong tục thay đổi, thì không có lý nào như thế.
Bệ hạ không phải không lo lắng chăm chỉ, không phải không sáng suốt, nhưng ở những chỗ then chốt của sự việc, sự hiểu biết và mưu lược vẫn còn chưa đủ, đó là lý do khiến đại nghiệp khó thành.
Bệ hạ muốn yên dân, trước hết phải biết người, biết người mới có thể kiểm soát được bề tôi, thì kẻ gian trá tự nhiên sẽ hóa thành trung lương, tả hữu trước sau đều là trung lương, thì bệ hạ còn gì mà không được, còn gì mà không thành? Điều bệ hạ nên lo là tả hữu trước sau có ít bề tôi trung lương có mưu lược, người có thể khai sáng trí tuệ cho bệ hạ hầu như chưa thấy.”
Vua nói: “Tìm người có trí lược hơn người, thật khó mà được trung lương.” An Thạch nói: “Muốn bề tôi trung lương, chỉ cần bệ hạ nghe xét phân minh mà thôi[17].”
[37] Trước đó, Ngự sử Trương Thương Anh nói về tội của Tiết Hướng, Vương An Thạch tâu với Vua rằng: “Thần về việc áp tải ở nha môn, mỗi việc đều hỏi han, rất cảm kích Tiết Hướng đã chiếu cố không để trì trệ, đến khi Thương Anh tấu trình, Hướng mang văn bản đến biện giải, mới biết những điều nghe được không sai. Hướng làm Tam ty sứ, trọng trách đã lớn, lại tận lực trong việc này, ngược lại bị xâm phạm và sỉ nhục như vậy, làm sao có thể khiến ông ấy yên lòng? Bệ hạ gặp Thương Anh nên khuyên răn ông ta.”
Vua nói: “Thương Anh cũng không có ý gì khác.” An Thạch nói: “Thương Anh tuy không có ý gì khác, nhưng làm sao để Tiết Hướng chịu được? Thần cho rằng nếu Bệ hạ gặp Tiết Hướng, cũng nên an ủi ông ấy, để ông biết rằng Bệ hạ hiểu ông đã tận lực mà không có lỗi lầm gì.” Vua cho là phải. (Đoạn này căn cứ theo 《Nhật lục》. Vẫn chưa rõ ràng, cần xem xét thêm.)
[38] Ngày Bính Tý, chiếu rằng các sứ thần được thăng chức nhờ chiến công mà được giảm năm khảo hạch, không cần đợi khảo hạch mà được sử dụng ngay, vì theo chế độ cũ của Tam ban viện, những người được giảm năm phải qua khảo hạch lại mới được dùng.
[39] Phó Đô tri Nhập nội Trương Mậu Tắc tâu: “Sông Nhị Cổ trước có đền thờ Long Nữ, cầu đảo đều linh ứng, xin ban tên hiệu cho đền.” Chiếu ban tên hiệu là “Bình Hà” [18], ban hiệu Thần Tế phu nhân.
[40] Bãi chức Kiểm dụng quan của Xu mật viện là Đỗ Thuần, cho về Biên sắc sở. Trước đó, các điều lệ của các phòng đều do Kiểm tường quan kiểm tra, đến khi Đô thừa chỉ Lý Bình kiến nghị, mới đặt riêng chức Kiểm dụng quan để phụ trách việc này, nhưng mỗi khi dùng điều lệ lại phải lấy từ các phòng, chỉ khiến việc báo cáo qua lại thêm rườm rà, nên bãi bỏ. Ngày 17 tháng 3, Thuần mới được bổ làm Kiểm dụng điều lệ quan của Xu mật viện. (《Ngự tập》: Ngày 6 tháng 5 năm thứ 5, lại sai Chủ bạ Thẩm quan Tây viện Hồ Tông Sư tạm quyền Kiểm dụng quan. Cần xem xét kỹ.)
[41] Ty Tương độ các ban trực và quân mục địa tâu: “Xin theo tờ trình của Câu đương quan Đổng Việt, chia ruộng mục bị lấn chiếm làm ba hạng để thu tô.” Vua đồng ý.
[42] Chiếu: “Tri châu Kinh châu, Kỳ Kỵ sứ Vương Lâm, Thông phán, Quốc tử bác sĩ Biện Chương, đều bị thay thế. Chương vẫn được bổ nhiệm làm giám đương ở nơi xa nhỏ. Tiết độ suy quan Tô Duy Diễn, Chi sứ Thôi Thế Hiền đều bị cách chức. Tư pháp tham quân Huề Tòng Chu bị truất một chức quan, cách chức. Ban đầu, quân lính Kinh châu mưu làm loạn, nhân việc tố cáo biến loạn nên bị giết, nhưng Lâm và những người khác bàn luận về pháp luật liên quan đến thân nhân của kẻ phạm tội, đã quá khắc nghiệt nên bị xử lý.”
Sau đó, Hà Bắc đô chuyển vận sứ Hàn Chẩn tâu: “Lâm nhân lúc quân Khánh châu hoành hành, cố gắng ngăn chặn, không phải là lỗi lớn, huống chi công lao của Lâm trong việc trừng trị bọn cuồng binh chưa được khen thưởng, xin bãi bỏ việc thay thế chức vụ của ông.” Do đó, Lâm được bổ nhiệm làm Kiềm hạt Hà Dương.
[43] Trước đó, Tam ty dâng lên xin ban hành 13 điều về thị dịch, trong đó có điều nói rằng: “Những nhà kiêm tính, so sánh cố định để thu lợi, gây hại cho tân pháp, lệnh cho Thị dịch vụ phát giác và báo lên Tam ty, xử lý theo pháp luật.”
Vua phê: “Bỏ điều này, các điều còn lại đều chấp nhận.” Ngự sử Lưu Hiếu Tôn nói: “Qua đây thấy được lòng nhân từ yêu dân sâu sắc của bệ hạ.” Nhân đó nói nên ràng buộc Thị dịch vụ.
Vương An Thạch nói: “Hiếu Tôn ca ngợi việc này, cho là chính sách thánh thiện. Thần ngu muội cho rằng đây chính là khiếm khuyết của chính sách thánh thiện. Trời ban cho bệ hạ chín châu bốn biển, chắc chắn là để bệ hạ kiềm chế kẻ mạnh, nâng đỡ kẻ yếu, khiến người nghèo kẻ giàu đều được hưởng lợi, chứ không phải là phải sợ hãi không dám làm gì. Pháp luật so sánh cố định đã có từ lâu, nay chỉ cần làm rõ để đạt được sự công bằng, công bằng thì không có nghèo khó, đó là lời của Khổng Tử, có hại gì cho chính sách thánh thiện? Bệ hạ không muốn thực hiện điều này, đó là vì những nhà kiêm tính đã nhìn thấy bệ hạ không dám kiềm chế kẻ mạnh, nên bên trong liên kết với những kẻ thân cận, bên ngoài làm mê hoặc các quan ngôn sự, khiến họ buông lời.”
Vua cười nói: “Đã có luật, tự khắc có thể thi hành, nên không cần lập thêm điều.” An Thạch nói: “Dù có luật nhưng chưa từng thi hành, lại chưa từng giao cho quan ty thực hiện, cần phải làm rõ trước, để những nhà kiêm tính biết mà tránh.”
Vua nói: “Nếu chỉ đặt ra pháp luật để đè bẹp họ, thì những nhà kiêm tính tự khắc không thể gây hại.” An Thạch nói: “Nếu không dám minh bạch lập pháp luật, chỉ đặt ra pháp luật để đè bẹp nhau, thì đó là việc làm của nhà họ Tôn bán giấy. Họ Tôn là dân thường, không thể kiểm soát dân thường, chỉ có thể làm như vậy, lẽ nào thiên tử cũng làm như nhà họ Tôn sao?”
Vua lại nói: “Tân pháp thi hành, nên dầu đắt.” An Thạch nói: “Theo lý mà nói, chắc chắn không có chuyện đó. Chắc là người buôn chưa hiểu mà thôi.”
An Thạch lui về, lấy sổ sách của chợ và sổ riêng của các cửa hàng dầu xem xét. Hôm sau, vội tâu lên Vua: “Dầu chưa từng tăng giá.” Lại nói: “Những người buôn trà lồng đã trình bày rằng tân pháp tiện lợi cho dân. Có người môi giới dụ dỗ người khác đến Tam ty khiếu nại để thử xem quan ty xử lý thế nào, không thể không đuổi đi. Những người buôn trà lồng đã hiểu điều này, triều đình lẽ nào không hiểu được?”
(Trần Quán bàn rằng: Lữ Gia Vấn xin lập thêm một điều về thị dịch so sánh cố định ngoài luật, Thần Tông cho rằng đã có luật, không cần lập thêm điều.
Lúc đó Lưu Hiếu Tôn ca ngợi lời dạy của Vua, nói: “Đây là ý nhân hậu yêu dân.”
An Thạch tâu: “Lời của Hiếu Tôn không đúng, việc này chính là khiếm khuyết của chính sách thánh thiện. Bệ hạ không muốn thực hiện điều này, đó là vì những nhà kiêm tính đã nhìn thấy bệ hạ không dám kiềm chế kẻ mạnh, nên bên trong liên kết với những kẻ thân cận, bên ngoài làm mê hoặc các quan ngôn sự, khiến họ buông lời.” Thần cho rằng Thần Tông không muốn lập thêm điều so sánh cố định ngoài luật, có thể nói là ý nhân hậu yêu dân, Lưu Hiếu Tôn thuận theo cái đẹp của thánh nhân không phải là quá đáng.
Trong 《Nhật lục》, chỉ để tôn vinh Gia Vấn[19], nên không cho lời phê của Vua là đúng, không cho Hiếu Tôn là phải. Do đó, đặt ra lời của Thần Tông rằng: “Nếu đặt ra pháp luật để đè bẹp họ, thì những nhà kiêm tính không thể gây hại.”
Lại soạn lời đối đáp với Vua rằng: “Nếu không thể minh bạch lập pháp luật, chỉ đặt ra pháp luật để đè bẹp nhau, thì đó là việc làm của nhà họ Tôn bán giấy. Nhà họ Tôn bán giấy là dân thường, không thể kiểm soát dân thường, nên chỉ có thể làm như vậy, lẽ nào thiên tử cũng chỉ làm như nhà họ Tôn sao? Sao có thể gọi là thiên tử[20]!”
Than ôi, lời nói đặt ra pháp luật để đè bẹp nhau, có thể nói là không vu khống sao? Lời nói về nhà họ Tôn bán giấy, có thể nói là không chê bai sao? Thần Tông yêu dân tuân pháp mà lại chỉ trích là chính sách khiếm khuyết, hết lòng ủng hộ Gia Vấn, cuối cùng đến mức khinh bạc Vua cha, chẳng phải là trái đạo sao?)
[44] Ngày Mậu Dần, Tả Long Vũ đại tướng quân, Ninh Châu phòng ngự sứ Tông Hối được bổ làm Đăng Châu phòng ngự sứ, vì Vua phê rằng: “Di tấu của Tương vương Doãn Bật xin ban ơn cho các con, nhưng vì trái điều lệ nên không thi hành. Nay đã mãn tang, Tông Hối là con trưởng, có thể đặc cách thăng một chức.”
[45] Ban chiếu rằng: “Các vật phẩm do phiên quốc tiến cống, Tam Ty ước định giá trị ban đầu thường không đúng giá, ắt phải ước định lại để tăng giá, sau đó mới ban thưởng. Giá ngựa cũng như vậy. Từ nay về sau, ngay từ lần ước định đầu tiên phải định giá thực, và giá ngựa cũng lấy tiền tăng thêm ngầm để làm phần thưởng tăng thêm.”
[46] Tháng này, bãi bỏ Châu Tập, đổi thành huyện Nan Giang, thuộc Châu Ba.
[47] Nước Vật Tuần và Chiêm Thành phái sứ giả đến triều cống.
- Năm mất mùa có thể khiến các hộ thục giữ được ruộng đất, bản các bản có thêm chữ 'tức' (tức thì), tốt hơn. ↵
- chỉ cần chú trọng nông nghiệp mà thôi, các bản 'chính' chép là 'Duy'. ↵
- Hạ thấp địa vị của tổ tiên mà gán vào con cháu e rằng không phải là cách thuận theo lòng hiếu của tổ tông, thờ người đã khuất như còn sống. 'Hạ' nguyên là 'bất', 'tông' nguyên là 'khảo', theo 《Thông khảo》 quyển 94, 《Tống sử》 quyển 106 《Lễ chí》 sửa. ↵
- Tháng giêng tế Cảm sinh đế. 'Xuân' nguyên là 'hạ', theo 《Thông khảo》 và 《Tống sử》 quyển 100 《Lễ chí》 sửa. ↵
- Chữ 'tẩm' nguyên là 'thỉnh', theo các bản và bản hoạt tự sửa lại. ↵
- Mặc dù đã chỉ huy Đô đồng Tuần kiểm để ngăn chặn một cách ôn hòa, bản hoạt tự giống nhau, bản các chữ 'tiện' làm 'lí'. ↵
- Huấn luyện nguyên bản là 'Huấn gián', theo bản các sửa lại. ↵
- Quản câu Kinh lược ty văn tự Lộ Kinh Nguyên Dương Trí làm Thư lệnh sử Xu mật viện, nguyên bản thiếu 'Kinh Nguyên lộ' ba chữ, 'Sử' nguyên bản là 'Lại', theo 《Tống hội yếu》 chức quan 6.7 bổ sung sửa lại. ↵
- Chữ 'đồng chu' nguyên bản đảo ngược, căn cứ theo các bản và 《Tống hội yếu》 chức quan 41-123 sửa lại. Văn dưới tương tự. ↵
- Cho nước sông chảy vào sông Nhị Cổ mới khai thông, chữ 'lệnh' nguyên bản là 'toàn', theo 《Tống hội yếu》 phương vực 14-23 sửa lại ↵
- Vốn không thể tự che giấu, chữ 'tự' vốn thiếu, theo các bản khác bổ sung. ↵
- Tức bỏ ra vài vạn quan mua đất cấp cho họ 'Đất' chữ này nguyên bản thiếu, theo bản khác bổ sung. ↵
- Lẽ nào họ vì mảnh đất nhỏ mà đoạn tuyệt hòa hảo, chữ 'tiện' nguyên bản thiếu, theo bản khác bổ sung. ↵
- Việc này dùng 《Nhật lục》 ngày 4 tháng 3, ngày 3 và 26 tháng 4 biên soạn phụ lục, theo bản khác. ↵
- Hoặc Náo Ngoa, Cương Thạch chính là đất Tạng Nguy..., chữ 'địa' nguyên bản thiếu, theo bản khác bổ sung. ↵
- Chiếu chỉ chỉ cho một người làm Hữu ban điện trực, chữ 'dữ' nguyên bản thiếu, theo bản khác bổ sung. ↵
- Ở bệ hạ nghe xét phân minh mà thôi, 'nghe' nguyên bản là 'thông', theo các bản khác sửa lại. ↵
- Các bản 'Bình Hà' và bản chữ hoạt đều ghi là 'Hà Bình'. ↵
- chỉ để tôn vinh Gia Vấn, 'tôn' nguyên là 'ức', theo 《Tống sử toàn văn》 quyển 12, 《Tục thông giám》 quyển 69 sửa. ↵
- Sao có thể gọi là thiên tử, nguyên bản thiếu chữ 'nhân', theo sách trên bổ sung. ↵