"

VI. TỐNG THẦN TÔNG

[BETA] QUYỂN 249: NĂM HI NINH THỨ 7 (GIÁP DẦN, 1074)

Từ tháng giêng năm Hi Ninh thứ 7 đời Thần Tông đến hết tháng đó.

[1] Tháng giêng, mùa xuân, ngày Kỷ Hợi, mùng một, không nhận triều.

[2] Xuống chiếu cho các châu từ trước đến nay không nấu rượu được phép dùng tiền công sứ để nấu, mỗi 100 quan tiền được nấu 10 thạch, nếu nấu vượt định mức sẽ bị xử theo tội vi phạm chế độ.

(Xem 《Hội yếu》 ngày mùng một tháng giêng năm thứ 7.)

[3] Ban hành danh sách các quân cấm vệ và các ban trực.

(《Hội yếu》 ghi đầy đủ danh sách và thứ bậc, có thể tham khảo thêm.)

[4] Ngày Quý Mão, định việc huấn luyện các quân, phương pháp chiến đấu mới được sáng tạo, giao cho chủ tướng tùy theo địa hình mà thi hành.

[5] Ngày Giáp Thìn, Vương Hạ, chức Chủ bạ Tướng tác giám, người viết văn thư cơ mật của Kinh lược ty Lộ Hi Hà, được thăng làm Đại Lý tự thừa, ban cho áo mặc màu đỏ. Vương Hạ dẫn đầu các thủ lĩnh tộc người thiểu số là Hạt Ngô Sất và mang biểu chúc mừng đến triều đình, Vua đặc biệt cho vào chầu, nên có mệnh lệnh này.

[6] Ngày Ất Tỵ, xuống chiếu cho các lộ, những châu quân bị thiên tai nặng nề, giao cho Chuyển vận ty xem xét giảm hoặc miễn thuế xuân phu rồi tâu lên.

[7] Ngày Đinh Mùi, Ty Nông tự tâu rằng, các lộ nghĩa dũng và bảo giáp, lệnh cho các châu quan phụ trách thường bình kiêm quản việc điểm kiểm, Vua đồng ý.

[8] Xuống chiếu cho Tiêu Sĩ Nguyên, Tri châu Hãn Châu, và Lữ Đại Trung, Bí thư thừa, cùng với người do Bắc giới cử đến bàn định địa giới quân Khả Lam. Vua phê: “Sứ giả Bắc giới là Gia Luật Động ở dịch quán nhiều lần gây sự, có thể lệnh cho Tăng Hiếu Khoan và những người khác soạn văn thư gửi đi để răn đe.” Do đó, sao chép đầy đủ văn thư của quán bạn gửi xuống Hùng Châu để chuyển đến Trác Châu. Tiêu Sĩ Nguyên bị phạt đồng vào ngày mùng một tháng 2 năm thứ 6, lúc đó đang giữ chức Đô giám Thái Nguyên, Đại Châu.

(Gia Luật Động là sứ giả chúc mừng ngày Chánh đán, tháng 12 năm ngoái, trong 《Thực lục》 ba bản đều thiếu đoạn này, nay đã bổ sung xong.)

[9] Ngày Canh Tuất, Lý Thừa Chi, quan Sát phóng lộ Vĩnh Hưng, Tần Phượng tâu: “Trung thư hạ lệnh Dương Bàn tấu rằng các huyện đều không có dân chúng đến Sát phóng ty tố cáo về việc thu thuế và phụ thu tiền không đều. Thần vừa vào địa phận, thấy có hơn một nghìn tám trăm người dân đến ty Đề điểm hình ngục tố cáo, liền báo lên ty Nông tự. Gần đây lại qua Hoa châu, lại có hơn bảy trăm người dân huyện Trịnh đến ty này tố cáo, đều là do Bàn gian dối không thật.”

Chiếu lệnh ty An phủ lộ Vĩnh Hưng quân đưa vụ việc đến ty Suy khám. Bàn trước đây giữ chức Đồng quản câu chế trí giải diêm Thiểm Tây kiêm thường bình đẳng sự, được thăng làm Chuyển vận phán quan lộ Vĩnh Hưng quân. Tháng 11 năm thứ 5, Bàn được quyền làm Chuyển vận phán quan. Thừa Chi đi sứ, liền xét việc Bàn phạm pháp, chiếu lệnh bãi chức Chuyển vận phán quan của Bàn, giao cho ty An phủ xét việc. Bàn nhiều lần tự biện bạch, Vương An Thạch lại bênh vực, cuối cùng được miễn các trách nhiệm khác.

(Việc Bàn bị xét và bãi chức không rõ chi tiết. Bản truyện của Thừa Chi chép: Bàn ỷ thế phạm pháp. Cái gọi là “thế” chính là chỉ Vương An Thạch. Ngày 26 tháng 12 năm thứ 6 chép, An Thạch nói: “Trước đây Dương Bàn không đợi bị hặc mà đã bị bãi chức.” Vậy việc Bàn bị bãi chức Chuyển vận phán quan hẳn là vào mùa đông năm thứ 6, nay phụ chép. Sử Chu bỏ đoạn này, dán thẻ ghi: “Chỉ đưa đến ty Chế viện[1], không có biện pháp gì khác.” Có lẽ Bàn cuối cùng được miễn trách nhiệm nặng, nên cần tra cứu thêm 《Nhật lục》. Ngày 5, 23 tháng 9 năm thứ 6; ngày 1, 7 tháng 11; ngày 9, 22 tháng 12; ngày 28 tháng giêng năm thứ 7; ngày 9 tháng 2, tổng cộng tám chỗ, 《Nhật lục》 đều có chép việc Dương Bàn.)

[10] Quyền Giám quân khí Lữ Huệ Khanh và các quan dâng lên mẫu thương đao do trong ngoài hiến tặng đã được xét định. Triều đình ra chiếu đưa đến Điện tiền và Mã bộ quân ty để quyết định. Lại dâng lên sách biên soạn về cách thức làm cung. Trước đây, việc chế tạo vũ khí ở kinh đô và các lộ thường lẫn lộn và kém chất lượng, đặc biệt là ở Hà Bắc. Đến lúc này, các loại binh khí chế tạo đều tinh xảo và sắc bén. Sau đó, triều đình ra chiếu đưa các loại vũ khí mới chế tạo đến các tác viện ở các lộ làm mẫu, và cử quan đi khắp nơi để giải thích.

Sau đó, Huệ Khanh tâu: “Triều đình chắc hẳn cho rằng võ quan quen dùng khí giới, nên mới bàn đến việc ở các ty Điện tiền và Mã bộ quân. Tuy nhiên, thần đã tìm hiểu và biết rằng mỗi khi các ty này nhận được chỉ dụ của triều đình để xử lý các việc, họ chỉ thu thập văn bản từ các quân hiệu rồi tâu lên, không chỉ cố chấp giữ ý kiến cũ mà không chịu thay đổi, mà còn có thể họ không hiểu được ý nghĩa của việc chế tạo khí giới. Vì vậy, những ý kiến do người ngoài đưa ra mà không phải do họ nghĩ ra, họ ít khi chấp nhận, và triều đình cũng chưa từng xem xét xem ý kiến đó có hợp lý hay không, rồi cứ thế bỏ qua.

Tuân Khanh cho rằng thợ giỏi về chế tạo khí giới, nhưng không thể làm thầy dạy. Có người không giỏi kỹ năng này, nhưng có thể quản lý được việc quan, chỉ có người thông thạo đạo lý mới làm được. Nay bệ hạ lập Giám để chế tạo khí giới, không giao cho các võ quan mặc giáp trụ hay thợ khéo tay, mà lại giao cho thần và các quan khác phụ trách, chẳng lẽ vì thần từng biết kỹ năng này nên giao cho? Có lẽ là vì thần hiểu biết đạo lý nên có thể quản lý việc quan. Thần từ chối không được, nên đành nhận chức, nếu tự thấy không đủ khả năng hoàn thành việc, thì cũng không dám nhận. Vì vậy, khí giới phải xem xét kỹ những gì trong và ngoài nước đang có, pháp độ phải nghiên cứu kỹ những gì cổ kim đã nói, chế tác phải tìm hiểu kỹ những gì thợ giỏi đã làm, việc sử dụng phải hỏi ý kiến của các quan biên giới, và thần cũng cho rằng hợp lý, rồi mới tâu lên.

Nhưng triều đình lại giao việc này cho các ty bàn bạc, như nghe nói trước đây việc định ra cung tên, họ vẫn giữ thói quen cũ, chỉ tập hợp các quân hiệu và tào ty, giữ ý kiến cũ, không biết có đúng không. Nay mẫu khí giới lại do Giám đưa đến các ty quyết định, tức là để thần và các quan lo việc, nhưng việc đúng sai lại do các ty quyết, không chỉ bàn bạc mà thôi. Thần là quan tham gia quản lý Giám, đối với bệ hạ là bề tôi bàn luận và mưu kế, nếu một ngày triều đình có việc bốn phương, may mắn được sai khiến trước mặt, thì nên để các ty này chạy vạy nghe lệnh. Nay lại để họ bàn luận xem việc của thần và các quan có hợp lý hay không, trong thời gian ngắn ngủi này, thần không dám tự ái, nhưng sợ rằng các võ quan và binh lính sẽ nhìn thấu được tâm tư của triều đình, rằng quyết định là do thần.

Xét về lý, thần e rằng điều này là đảo ngược. Vì các ty này phần lớn xuất thân từ hàng ngũ, nên mức độ hiểu biết của họ, cấp dưới đều biết rõ. Còn thần và các quan tuy không giỏi, nhưng nhờ bệ hạ tin dùng, nên vẫn được kính nể. Nay lại để họ nhìn thấu, thì không chỉ làm nhẹ thể diện triều đình, mà còn không phải là cách để tôn trọng uy thế của triều đình. Bệ hạ lo việc bốn phương, chưa thể bỏ văn quan mà dùng các ty này, thì danh phận của họ há có thể không rõ ràng? Dù các quan lo việc chính sự không nghĩ đến điều này, nhưng bệ hạ há không tự trọng quốc thể sao? Thần vì mệnh lệnh đã ban của triều đình, không dám nói thay đổi, xin theo lời tâu của Giám, xin cùng một ty bàn bạc.”

Vua bèn sai Quản quân Hác Chất đến Giám quyết định, đều cho là tiện lợi rồi thi hành.

(Việc này được thêm vào theo gia truyền của Huệ Khanh. Ngày 2 tháng 4 năm thứ 9 cần xem xét lại.

Ngày 17 tháng 5, Vệ Đoan Chi bị tội, gia truyền của Huệ Khanh cho rằng việc sai Hác Chất đến Giám[2] xảy ra sau khi Đoan Chi bị tội, cần xem xét lại.)

[11] Chiếu cho các quân từ Thập tướng trở xuống đến Trưởng hành, nếu gặp lúc có công hay trình diễn thử võ nghệ mà đáng được chuyển cấp bậc nhưng không muốn chuyển, thì mỗi một cấp bậc, người có công được thưởng 15 tấm lụa, người trình diễn thử võ nghệ được thưởng 10 tấm.

[12] Ngày Tân Hợi, ban thưởng công lao thu phục các châu Đào, Mân, v.v. Tây Kinh Tả tàng khố sứ Tang Thục cùng 8 người khác đều được thăng 3 cấp bậc, quan người Phiên là Lý Lận Chiên Nột Chi, Ôn Vương cùng 11 người khác đều được thăng 2 cấp bậc, tăng người Phiên là Mã Tuân cùng 9 người được cấp lương từ Phụng chức đến Chỉ huy sứ, những người còn lại được bổ làm Hạ ban Điện thị đến Thừa cục, cùng với việc giảm năm khảo xét, ban thưởng đều có sai biệt. Sau đó, chỉ có Thục từ chối việc thăng chức, nói: “Người Khương sợ uy linh của nước nhà, không đánh mà hàng, thần có công gì mà được thăng chức?” Chấp chính nói: “Mọi người đều nhận, chỉ có ông không nhận, là sao?” Thục đáp: “Mọi người đều nhận, ắt là có công, thần tự biết mình không có công, nên không nhận.” Cuối cùng từ chối, người đương thời kính trọng ông vì biết liêm sỉ.

Thục là con của Dịch.

(Sách 《Tư Mã Ký Văn》 chép: Vương Thiều khai phá Hi Hà, các tướng đều được thăng chức, chỉ có Hoàng thành sứ, Tri châu Nguyên Châu là Tang Thục không nhận. Nay phụ chép việc này vào đây. Việc Thục làm Tri châu Nguyên Châu và Hoàng thành sứ, chưa thấy ghi chép ngày tháng bổ nhiệm, cần khảo cứu thêm.)

[13] Ty Nông tự xin hạ lệnh cho Quảng Tây An phủ ty theo như năm lộ Kinh Nguyên, v.v. mà thiết lập Thường bình thương, được chấp thuận.

[14] Chiếu rằng: “Các cơ quan Sát phỏng, Chuyển vận, Đề điểm hình ngục, Đề cử ở hai tỉnh Chiết Đông và Chiết Tây cùng nhau bàn bạc, xét thấy hộ thuộc đệ ngũ đẳng nộp tiền dịch rất ít, nay nếu giảm bớt, dùng tiền khoan thặng để bù đắp, nếu chi dụng đủ thì miễn hết[3]. Những nơi dựa vào gia sản hoặc thuế tiền để phân bổ mà không chia đẳng hộ, thì cắt từ mức bao nhiêu quan tiền trở xuống mà miễn, tâu lên.”

(Thư Thiện truyền rằng việc này dễ dàng, nên xét lại. Đã chép vào ngày 25 tháng 8 năm thứ 5, ngày 2 tháng 4 năm thứ 4, ngày 16 tháng 5, và ngày 9 tháng 10. Tháng 12 năm ngoái, Trần Xu có nói[4], nên xét lại.)

[15] Ngày Ất Mão, hoàng tử thứ ba là Tuấn được phong làm Tiết độ sứ quân Chương Tín, tước Vĩnh Quốc công.

[16] Ngày Bính Thìn, Long đồ các trực học sĩ, Đồng đề cử tại kinh chư ty khố vụ, kiêm Đồng phán Thái thường tự Trương Đào được bổ nhiệm làm Tri phủ Hà Trung, sau đó đổi làm Tri châu Đặng.

(Việc này có lẽ là do lời tâu của Lưu Quý Tôn vào ngày Tân Dậu tháng 3 năm ngoái.)

[17] Chiếu rằng từ nay các châu phải báo cáo lượng mưa, tuyết của các huyện thuộc quyền lên Ty Đề điểm hình ngục, Ty này tập hợp lại rồi báo lên Ty Nông tự, Ty Nông tự tập hợp theo tháng rồi tâu lên, nếu có chậm trễ thì xử lý. Trước đây, tình hình mưa tuyết các châu tâu thẳng lên, triều đình cho là phiền phức, nên đổi pháp lệnh, Ty Nông tự biên soạn rồi nộp lên, nhưng Ty Nông tự cũng cho rằng việc xem xét quá mệt mỏi, nên theo lời xin mà ban chiếu này.

[18] Ty Kinh lược và Đô chuyển vận ở Hà Đông tâu rằng, sau khi cùng nhau bàn bạc, xin bãi bỏ việc lập đồn Ngô Bảo, còn chợ Ninh Tinh và Hòa Thị vẫn mở như cũ, triều đình đồng ý.

[19] Ngày Đinh Tỵ, chiếu rằng các hộ hai địa phương cung nộp ở Hà Bắc Tây lộ, trước đây có các tổ chức như Cung tiễn xã, Cường tráng, Nghĩa dũng, vẫn giữ lại, không cần biên chế vào Bảo giáp nữa.

(Việc này đã chép vào ngày 26 tháng 12 năm ngoái.)

[20] Lại có chiếu cho Chương Đôn, quan sát sứ lộ Kinh Hồ, trình bày cụ thể về địa giới bốn phía của châu Kiến Ý, số hộ khẩu quản lý, thứ tự bố trí quan lại và đóng quân để tâu lên. Lúc đó, Chương Đôn tâu rằng các châu động Nam Giang đều đã được bình định, xin lập châu huyện, thành trại. Ngày 19 tháng 4, lập châu Nguyên.

[21] Hàn Giáng, tri phủ Đại Danh, tâu rằng: “Ty An phủ sứ của bản lộ nhiều năm đã niêm phong lụa là, có thể bị hư hỏng, xin hạ lệnh cho Ty Chuyển vận dùng lụa là mới hoặc tiền bạc để đổi lấy, hoặc theo pháp lệnh Thị dịch, cho dân hộ cầm cố để sinh lãi. Những vật phẩm niêm phong khác của Ty Kinh lược An phủ sứ cũng xin làm theo cách này.” Triều đình đồng ý.

[22] Ngày Kỷ Mùi, Lý Thừa Chi, quan sát sứ các lộ Vĩnh Hưng, Tần Phượng, tâu rằng: “Quân Thông Viễn là nơi phát nguyên của sông Vị, tức là châu Vị xưa; quân Trấn Nhung vốn là quận Cao Bình, tức là châu Nguyên xưa. Vì trước đây bị mất, nên lấy tên châu đặt ở quận khác. Dân gian gọi châu Nguyên hiện nay là Để Nguyên châu, gọi quân Trấn Nhung là Cố Nguyên châu, đó là vì không quên gốc. Nay cương thổ đã như cũ, nên sửa lại cho đúng. Xin trả lại tên châu Nguyên, châu Vị cho quân Trấn Nhung, quân Thông Viễn, còn hai châu kia thì ban tên mới.” Triều đình không trả lời.

[23] Ngày Canh Thân, có chiếu cho Triệu Dụng, người bị cách chức, được phục chức Tả Tạng khố phó sứ, tăng thêm chức Đô giám châu Hoài. Dụng trước làm Tuần kiểm sông Giới Hà ở Hùng, Bá, có uy danh, người phương Bắc gọi là Triệu Hổ Đầu. Vì phạm lỗi nên bị cách chức, đến nay được phục chức để biểu dương tài năng.

(Dụng bị cách chức vào ngày Canh Thân tháng 7 nhuận năm thứ 5.)

[24] Ty Chuyển vận lộ Phúc Kiến tâu rằng: “Huyện Chương Phố, châu Chương giáp biển, tiếp giáp châu Triều, trên núi có đàn voi gây hại cho dân, xin theo cách thưởng bắt hổ, cho phép người dân bắt giết, bán ngà voi nộp quan.” Triều đình đồng ý.

[25] Ngày Tân Dậu, Ty An phủ sứ lộ Hi Hà xin cấp 2000 khoảnh đất, thu hoạch để làm việc công, triều đình đồng ý.

[26] Có chiếu cho Nghĩa dũng, Bảo giáp lộ Hà Bắc Đông lệnh sắp xếp xong trước kỳ nông nhàn, ban thưởng mỗi lộ 15 vạn quan tiền.

[27] Kinh Đông lộ sát phỏng Đặng Nhuận Phủ và các quan tâu rằng: “Sơn Đông là vùng ven biển, đất đai rộng lớn, mỗi khi được mùa thì giá lúa rất rẻ, có thể ở các châu quận ven biển, chiêu mộ người làm việc vận chuyển đường biển, như vậy lúa của Sơn Đông có thể chuyển đến Hà Sóc để giúp quân lương.” Triều đình hạ chiếu cho Kinh Đông, Hà Bắc lộ chuyển vận ty xem xét tâu lên, nhưng rốt cuộc không thực hiện.

[28] Triều đình hạ chiếu đã cử Lý Hiến làm câu đương công sự ở Hi Hà lộ kinh lược an phủ ty, nay tiếp tục cử kiêm chức câu đương công sự ở Tần Phượng lộ kinh lược an phủ ty.

(Sách 《Nhật lục》 ngày 23 tháng 2 có ghi chép về việc bàn luận này, nay phụ lục vào ngày đó.)

[29] Ngày Nhâm Tuất, sai Lễ tân sứ, Văn Châu thứ sử, Đái ngự khí giới Vương Trung Chánh đến Hi Hà lộ, dùng đất đai để chiêu mộ dân làm cung tiễn thủ, nếu đất còn dư thì gọi người đến cày cấy. Những việc sắp xếp và tiền bạc cần dùng, đều giao cho kinh lược ty lo liệu. Việc chiêu mộ không phân biệt xa gần, không theo lệ thường, cử quan đi chiêu mộ, và tự thân đề cử. Khi đến các châu quân khác, tiền bạc cần dùng sẽ mượn từ chuyển vận ty, Tam ty sẽ hoàn trả sau.

[30] Ban sắc thư khen ngợi cho Tri Phượng Tường phủ Tô Thái, Tri Lũng Châu Địch Vịnh, và mỗi người được ban 100 tấm lụa. Trần Hoành, nguyên là Thông phán Tần Châu, nay đã mãn nhiệm Tri Khai Phong huyện, được bổ làm Suy phán quan ở Tam ty và Khai Phong phủ; Lưu Tông Kiệt, Thông phán Hi Châu, được bổ làm Chuyển vận phán quan Tần Phượng lộ. Tô Thái và các quan khác đều được Kinh lược sứ Hi Hà lộ Vương Thiều tâu là có công trong việc lo liệu quân nhu.

(Lưu Tông Kiệt làm Thông phán Hi Châu, sách 《Thực lục》 thiếu hai chữ “Hi Châu”. Ngày 1 tháng 2, từ Thông phán Hi Châu được bổ làm Chuyển vận phán quan Tần Phượng lộ, nay thêm vào.)

[31] Lý Thừa Chi, sát phỏng Vĩnh Hưng, Tần Phượng đẳng lộ tâu rằng: “Vào các năm Khánh Lịch, Hoàng Hựu, Tần Châu dùng diêm sao và xuyên giao tử bắt dân gian mua bán, đến nay vẫn còn nợ hơn vạn quan tiền, xin đặc cách miễn trừ để giảm bớt gánh nặng cho dân biên giới.” Triều đình đồng ý.

[32] Ngày Quý Hợi, sai Lý Kỷ, Công sự câu đương của Tam ty, đi khảo sát lợi hại của việc thiết lập Ty thị dịch ở phủ Thành Đô. Trước đó đã sai Bồ Tông Mẫn và Trầm Quỳ, nay lại sai Lý Kỷ.

Sau đó, Vua bàn với các quan phụ chính về việc thị dịch, Phùng Kinh nói: “Trước đây, vùng Tây Xuyên vì việc mua bán độc quyền mà dẫn đến loạn Vương Tiểu Ba, nên nay nhiều người bàn về việc thị dịch. Thần tra cứu thực lục, thực sự có ghi chép như vậy.” Vương An Thạch nói: “Vương Tiểu Ba tự thấy dân đói khổ mà quan phủ không cứu giúp, nên tụ tập làm giặc, còn sử quan lại đổ lỗi cho việc vận chuyển nhiều vật phẩm từ Thục để cung ứng triều đình. Không biết rằng việc vận chuyển vật phẩm từ kho phủ của họ Mạnh để cung ứng, có liên quan gì đến dân đói!”

Vua hỏi: “Lý Kỷ đã đi chưa?” An Thạch đáp: “Chưa. Nhưng xin bệ hạ đừng nghi ngờ, thần bảo đảm việc thị dịch chắc chắn không thể khiến người Thục làm loạn.”

(Phùng Kinh nói thêm, xem 《Nhật lục》 ngày 23 tháng 2, nhưng 《Chu sử》 lại ghi chép nhầm vào ngày 24 tháng 12 năm trước. Đến ngày 16 tháng 3 và ngày 5 tháng 4 thì bãi bỏ việc khảo sát.)

[33] Chiếu rằng: “Các châu huyện về việc thường bình, nông điền, thủy lợi, sai dịch đều chia làm hai án, lại nhân không theo thứ tự tuyển sai, mỗi án ba người, huyện không quá hai người, mỗi tháng cấp tiền ăn không quá bảy nghìn, châu không quá mười nghìn. Nếu vì công việc mà thu tiền, thì theo pháp của Ty chuyển vận, Ty đề điểm hình ngục.” Theo lời tâu của Ty Nông tự.

[34] Chiếu cho phủ Khai Phong tổ chức thi thí bảo giáp, miễn phu dịch cho bản thân.

[35] Ngày Giáp Tý, Hùng Bản, quan sát việc thường bình đẳng ở lộ Tử Châu, kiêm kinh chế việc dân tộc thiểu số, tâu rằng: “Từ ngày Ất Mão tháng 11, thân chinh dẫn quân bản bộ và quân Đông, chiêu mộ dân địa phương tổng cộng 5.000 người, tiến vào địa giới dân tộc thiểu số, đánh dẹp 46 thôn lớn nhỏ dọc đường thủy, bình định vùng đất đó. Những kẻ nộp trống đồng, khiên gỗ xin hàng, liền lập tức chiêu an. Ngay trong vùng đất chiếm được, đặt hai trại ở cửa khe nhỏ và phía tây trại Ninh Viễn, đặt bốn đồn Trác Vọng ở Tam Hào Diện, Lệ Chi Khích, san bằng chỗ hiểm yếu, mở đường sá, xây cầu cống, dựng cột mốc, tất cả đều hoàn tất. Dân tộc thiểu số ở huyện Kha Âm, châu Yến từng giúp dân tộc thiểu số dọc đường thủy chống lại quân triều đình, cũng bị đánh dẹp, đến trước quân doanh thề sẽ không xâm phạm đất đai của triều đình nữa.

Tổng cộng thu được 240 dặm đất do dân tộc thiểu số dâng, đã chiêu mộ người khai khẩn[5], những người dân tộc thiểu số thuộc quyền đều đã liên kết thành bảo giáp. Thần cùng Chuyển vận sứ Trần Thầm, Đề điểm hình ngục Phạm Bách Lộc vào ngày Tân Dậu tháng này, dẫn toàn bộ quân mã đến huyện Giang An, đã phái quân chia nhau đóng đồn và xét công trạng trước quân, sẽ tiếp tục tâu lên.”

(Ngày Ất Mão tháng 11 là ngày 16. Ngày Tân Dậu tháng này là ngày 23 tháng giêng năm thứ 7. Xét bài đề danh “Dục Tỉnh hưởng sĩ” trong tập của Hùng Bản, Bản từ tháng 5 năm thứ 6, từ chức Đông phủ viên ngoại lang đến xem xét việc dân tộc thiểu số phía nam Lô Châu, ngày mùng một tháng giêng năm thứ 7 từ Giang An đến Ninh Viễn, ngày 20 tháng 2 năm Mậu Tý, cùng Trần Thầm, Phạm Bách Lộc đến Dục Tỉnh hưởng sĩ. Chỗ nói “ngày Tân Dậu tháng này” chắc chắn là ngày 23, nhưng không lý nào đến ngày 26 đã tâu lên, e rằng thực lục chép nhầm vào đây, tạm theo đó.)

[36] Trước đó, quan Đề cử thường bình đẳng sự lộ Hà Bắc là Hàn Tông Sư đã hặc tội Trình Phưởng dẫn nước sông Hô Đà để bồi đắp ruộng, nhưng đê vỡ nước tràn, gây hại lớn cho mùa màng của dân, và phạm mười sáu tội lừa dối. Triều đình ban chiếu yêu cầu Trình Phưởng giải trình.

(Sách 《Hà cừ chí》 chép rằng Tông Sư nói Phưởng phạm mười sáu tội vào tháng 12 năm thứ 6.)

Khi tiến trình lên, đọc đến phần Tông Sư nói: “Phưởng tâu rằng dân xin bồi đắp ruộng, nhưng thần tra xét thì dân chúng trước đây chưa từng xin bồi đắp ruộng. Phưởng giải trình, căn cứ vào các quan được cử đi kiểm tra đã lấy được tờ trình xin bồi đắp ruộng của các huyện, nhưng không lấy được tờ trình của từng hộ.”

Vua nói: “Cũng không có tờ trình của từng hộ sao?” Vương An Thạch nói: “Việc bồi đắp ruộng đã có tờ trình của quan được cử đi và các quan lại các huyện là đủ, cần gì phải lấy tờ trình của từng hộ? Trình Phưởng tâu xin bồi đắp ruộng mà không có tờ trình, thì khó xác định thực hư, nhưng ông ấy đã vì triều đình mà ra sức bồi đắp được hơn bốn nghìn khoảnh ruộng. Giả sử trong tờ tâu có một câu nói dân xin bồi đắp ruộng là không đúng sự thật, cũng không có lý do để trị tội. Bệ hạ đối với những kẻ tiểu nhân gièm pha còn có thể bao dung, sao đối với người vì nước ra sức lại không ghi nhận công lao, chỉ tìm một hai lời lẽ sai sót để cho là có tội?”

Vua nói: “Nếu quả thật bồi đắp ruộng có lợi thực sự, thì những sai sót nhỏ nhặt kia đâu đáng trị tội? Chỉ không biết việc bồi đắp ruộng thế nào thôi.” An Thạch nói: “Trình Phưởng bồi đắp ruộng, vì bị Hàn Tông Sư tâu hặc, nên đã sai một quan, lại sai Kinh Đông chuyển vận ty cử một quan cùng kiểm tra xác định. Hàn Tông Sư không theo thường lệ, chỉ cử một viên quan giám đương đi kiểm tra, quyết không có lý do bao che cho Trình Phưởng. Nay kiểm tra xác định được hơn một vạn khoảnh ruộng tốt, lại bồi đắp được hơn bốn nghìn khoảnh ruộng tốt, thế mà Bệ hạ vẫn cho là không biết việc bồi đắp ruộng thế nào, thần thực không hiểu ý Bệ hạ muốn nói gì.”

Vua nói: “Trình Phưởng trước đây tu sửa sông Chương, nghe nói sông Chương năm nào cũng vỡ đê; tu sửa sông Hô Đà, lại không có hạ du.”

An Thạch nói: “Tu sửa sông Chương đã giải phóng ruộng đất của dân ba huyện, dân chúng kéo đến kinh đô, qua sân Đãi Lậu ra đầu, tạ ơn triều đình đã cử Trình Phưởng khai sông, giải trừ tai họa cho dân trong hai ba mươi năm.

(Sách 《Lâm Hi dã sử》 chép: Dân các huyện Nguyên Vũ vì ruộng bồi làm ngập nhà cửa, mồ mả[6], lại cản trở việc gieo trồng mùa thu, cùng nhau đến cửa khuyết kêu oan. Sứ giả nghe tin, vội trách quan huyện bắt gọi, định đánh trượng, dân liền nói dối: ‘Đến cửa khuyết để tạ ơn thôi.’ Sứ giả bèn thay dân làm biểu tạ ơn về ruộng bồi, sai lại đến viện Cổ nộp, trong danh sách có hơn hai trăm người, nhưng chỉ có hai lại đến nộp. An Thạch rất mừng, Vua cũng không biết là dối trá. Nay chú thích việc này, cần xem xét thêm. Tháng 9 năm thứ 6, ngày Bính Thìn, ban ruộng cho Hầu Thúc Hiến, có thể tham khảo thêm. )

Ban đầu bàn rằng bờ tây sông Chương cách núi không xa, không cần đắp đê, đã không đắp đê thì nước lớn ắt sẽ tràn bờ, xét lại mấy năm tràn bờ, chỉ xâm phạm khoảng năm mươi khoảnh đất, trong đó lại có đất mặn nhờ bồi đắp mà thành ruộng tốt, giả sử năm nào cũng làm hư năm mươi khoảnh đất, thì tính toán lợi hại của ba huyện, cũng không nên nói là có tội mà không có công. Như sông Hô Đà việc liên quan đến đầm hồ, nên bàn với Viện Mật, ban đầu chưa từng nói không thể khởi công, đã khởi công đến khi tháo nước, mới nói sông Hô Đà không nên đổ vào đầm hồ. Thần cho rằng sông Hô Đà trước đổ vào Biên Ngô Điện, cũng là đầm hồ, nay đổ vào Hồng Thành Điện, cũng là đầm hồ, nếu đều là đầm hồ, thì bồi lấp đầm trên và đầm dưới, không biết có gì khác biệt về lợi hại. Ví như xây thành, thiếu bên nam và thiếu bên bắc, có gì khác biệt về lợi hại? Đây là do Viện Mật bàn luận như vậy, há phải từ đầu đã không xem xét kỹ, không để lại hạ du?

Bệ hạ bình thường nghe lời gièm pha của kẻ gian, nên những người hết lòng vì bệ hạ, thường bị tìm tội như không kịp, còn tình trạng của kẻ gian thì chưa từng xem xét. Như việc Trung thư, Viện Mật xử lý, vốn không có tờ trát của Trung thư làm đầu, mà là Viện Mật nhận xử lý, như việc Trình Phưởng thì Viện Mật hai lần nhận tờ trát của Trung thư để thi hành, một mặt trình lên xử lý, việc này không thể để lại không biết. Vốn xử lý việc, vì muốn tuyên bố bệ hạ rất giận Trình Phưởng, muốn kẻ tiểu nhân nghênh hợp ý thánh, không để lại tờ trát của Trung thư, ở Viện Mật xử lý thì không có gì để kiểm chứng. Bọn tiểu nhân tình trạng như vậy, bệ hạ chưa từng xem xét, lại lo lắng nhân tình khó biết, thần e rằng bệ hạ làm như vậy, thì nhân tình rốt cuộc không có lý nào để biết được. Như nói sông Chương năm nào cũng vỡ đê là có hại không có lợi, ắt có người như vậy.

Bệ hạ bình thường nghe lời gièm pha, lại không xét nghiệm, nên thường ôm giận người khai sông, chỉ vì họ vô tội mà thôi, nếu có phạm tội, so với người khác ắt bị khốn đốn gấp trăm lần, không biết như vậy, muốn khiến ai dám ra sức với triều đình.”

Bèn xin tra xét việc khai sông Chương, Vua đồng ý.

Lại đọc từng điều phân tích của Trình Phưởng, Vua nói: “Nếu lời Hàn Tông Sư quả không đúng, triều đình có tiếc gì mà không xử, hãy sai Chuyển vận ty xét việc đó.”

(Hàn Tông Sư làm chức Đề cử Hà Bắc Thường bình, đã có chỉ dụ xuống Kinh Đông Chuyển vận ty và Trình Phưởng, mỗi bên sai quan đi kiểm định ruộng bồi. Tông Sư vốn không kiêm chức Kinh Đông Chuyển vận ty, không rõ vì sao lại tự sai quan. Bởi Tông Sư chỉ từ Hà Bắc Thường bình ty sai quan đi kiểm định ruộng bồi ở Hà Bắc, ban đầu không hỏi đến Kinh Đông Chuyển vận ty và Trình Phưởng, lại sai một viên quan giám đương, nên Vương An Thạch cho là vi pháp. Ngày Bính Tý 12 tháng 10, Trình Phưởng được thăng chức, có thể tra cứu.

Thẩm Quát trong 《Bút đàm》 chép: Phía bắc ải Ngoã Kiều giáp với người Liêu, vốn không có sông núi làm chướng ngại. Năm trước, Lục trạch sứ Hà Thừa Củ giữ ải Ngoã Kiều, bắt đầu bàn việc dựa vào đầm lầy, tích nước làm phòng ngự, muốn tự đi xem xét, sợ kế hoạch bị lộ, hàng ngày họp với thuộc hạ, thả thuyền uống rượu ngắm hoa liễu, làm mấy chục bài thơ, bảo khách ngồi họa lại, vẽ thành tranh, truyền đến kinh đô, người ta ban đầu không hiểu ý. Từ đó bắt đầu đắp các đầm. Năm Khánh Lịch, nội thị Dương Hoài Mẫn lại tiếp tục làm. Đến năm Hi Ninh, lại khai các đầm như Từ Thôn, Liễu Trang, đều lấy nước từ các sông Từ, Bào, Đường, Sa và các suối Khiếu Hầu, Kê Cự, Ngũ Nhãn, hợp với sông Hô Đà, Chương, Kỳ, Dịch, Lai[7], chảy xuống hợp với sông lớn. Từ đó, từ phía tây bắc châu Bảo[8], đầm Trầm Viễn, đến cửa biển Nê Cô châu Thương, dài gần tám trăm dặm, đều là đầm lầy[9], có chỗ rộng đến sáu mươi dặm, đến nay vẫn dựa vào làm phòng ngự. Có người nói xâm lấn ruộng dân, hàng năm mất thu nhập từ biên giới, điều này không đúng. Ở vùng Thâm, Ký, Thương, Doanh, chỉ có ruộng bồi từ sông lớn, Hô Đà, Chương mới là ruộng tốt, chỗ không có bồi đắp, đều là đất mặn, không thể trồng trọt. Ngày trước chỉ có dân du cư tụ tập, gạt muối nấu diêm, vi phạm luật diêm[10], thường làm giặc cướp. Từ khi có đầm lầy, diêm lậu giảm đi[11], mà lợi từ cá, cua, cỏ năn, người ta cũng nhờ vào đó. 《Bút đàm》 của Quát có lẽ phụ họa lời Vương An Thạch, nay chép thêm.

Ngày 14 tháng 4 nhuận năm thứ 8, Vương An Thạch nói Trình Phưởng cùng Hàn Tông Sư đều được tha tội, có thể tra cứu. Trình Phưởng tâu: “Châu Thương tu sửa đê sông Tây Lưu, dẫn nước sông Hoàng Hà bồi ruộng trồng lúa, thêm đầm phá, cùng châu Thâm dẫn nước sông Hô Đà bồi ruộng, và khai sông Hồ Lô, cùng hạ lưu sông Hô Đà.” Đây căn cứ vào bản chí, chép thêm dưới việc Vương An Thạch xin xét thực việc khai sông Chương.)

[37] Ngày Ất Sửu, sứ thần Kim Lương Giám và phó sứ Lô Đán của nước Cao Ly vào chầu ở điện Thùy Củng.

[38] Hàn lâm học sĩ Tăng Bố và tri chế cáo Lữ Huệ Khanh được cử làm Sát phỏng sứ hai lộ Hà Bắc Đông và Tây, Tăng Bố phụ trách lộ Tây, Lữ Huệ Khanh phụ trách lộ Đông.

[39] Tri châu Dân Châu là Cao Tuân Dụ xin cấp ba vạn quan tiền, cho các thủ lĩnh tộc người ở địa phương bảo lãnh lẫn nhau để vay tiền mua lúa giống, đợi đến năm sau khi mùa màng thu hoạch thì trả một lần. Triều đình đồng ý.

[40] Kinh lược ty Quảng Tây tâu rằng ở các động Điền Châu, Điền Nãi thuộc hữu ngạn sông Ung Châu có vàng, xin lập trường khai thác và cử Đặng Tịch, tri huyện Tuyên Hóa, Ung Châu làm Giám kim trường. Triều đình đồng ý.

[41] Đô thủy giám xin tạm ngừng việc đào sông Bạch Câu, chuyển nhân công sang nạo vét sông Tự Minh. Triều đình đồng ý.

Trước đó, có chiếu cho đào sông Bạch Câu để vận chuyển cá, chia làm ba năm thi công. Nhưng đồng phán đô thủy giám là Hầu Thúc Hiến cho rằng việc huy động nhân công quá gấp, lại vừa được lệnh làm Đề cử đê ngạn sông Biện để đập băng, nên chưa thể đến sông Bạch Câu ngay. Ông tâu rằng sông Tự Minh là nơi thoát nước cho ruộng dân ở phía nam sông Biện, là con sông lớn, những năm gần đây không được nạo vét nên thường gây lụt lội, xin tạm dừng việc đào sông Bạch Câu để sửa sông Tự Minh. Vì thế mới có chiếu này.

Trước đó, Vương An Thạch tâu với Vua, muốn tạm dừng việc đào sông Bạch Câu, sửa chữa thủy lợi ở phía nam sông Biện. Vua nói: “Nhiều người cho rằng việc đào sông Bạch Câu không thể làm được, chỉ có khanh thấy là có thể làm được[12]. Nếu việc này thành công thì rất tốt.” An Thạch nói: “Nếu quả thật không thể làm được, huống chi chưa từng tốn công sức, thì việc dừng lại là đúng. Nếu có thể làm được, thì đợi thời cơ thực hiện, cần gì phải bận tâm đến lời người khác.”

(An Thạch tâu với Vua, căn cứ vào 《Nhật lục》 ngày 21 tháng 12, nay phụ chép vào đây. Lúc đầu việc trị thủy sông Bạch Câu bắt đầu vào ngày 12 tháng 5 năm thứ 6, lại có ngày 16 tháng 8, và ngày 19 tháng 8, đến đây thì dừng lại, việc ngày 19 tháng 10 phụ chép vào ngày 16 tháng 8. 《Bản chí》 chép: Đô thủy giám[13] tâu rằng từ sông Minh Hà dẫn nước các sông phía nam sông Biện, gần đây do không được nạo vét nên gây hại rất lớn. Do đó điều động dân phu sửa chữa, còn việc đào sông Bạch Câu thì bỏ.)

[42] Ngày Bính Dần, ban chiếu từ nay trở đi, các chức Tu khởi cư chú, Trực xá nhân viện đều xếp vào hàng ngũ của hai tỉnh. Lúc đầu, Ngự sử đài tâu: “Vào ngày khởi cư, hàng ngũ hai tỉnh thiếu quan, xin cho những người đang giữ chức Đãi chế làm Cấp gián, trừ Quyền Tam ty sứ ra, cùng với Trực xá nhân viện, Đồng tri Gián viện, Tu khởi cư chú, vào ngày khởi cư, tạm xếp vào hàng ngũ hai tỉnh, đợi khi có đủ quan chính thức thì trở lại như cũ.” Vua đồng ý. Đến đây, Trung thư tâu rằng số lượng quan viên hai tỉnh hơi nhiều, nên ban chiếu này, nhưng Đồng tri Gián viện không được tính vào.

[43] Ban cho phủ Giang Ninh 5 vạn thạch gạo thường bình để sửa chữa thủy lợi.

[44] Sứ giả đi thị sát hai vùng Chiết là Thẩm Quát tâu: “Huyện Vô Tích, châu Thường có khoảng hơn năm nghìn hộ bỏ trốn hoặc dùng tên giả để lẩn tránh thuế, cùng huyện Trường Châu, châu Tô có hộ trưởng phải nộp thay thuế đến hơn hai trăm quan. Đã chọn quan đến các châu đó để điều tra, và lo ngại dân chúng còn ẩn lậu, đã ra bảng kêu gọi người tố cáo. Quan lại các châu huyện nếu chuyên tâm phát hiện được gian lận, cho phép sửa đổi, không truy cứu tội. Những người ẩn lậu thuế ruộng và lợi tức, hạn trong hai tháng phải tự khai báo, đặc cách miễn truy xét và tịch thu.” Vua nghe theo.

[45] Ngày Đinh Mão, ban chiếu: “Các nghĩa quân, nghĩa nhi người Hán và người Phiên tự ý đổi bán ngựa có đóng dấu quan, phạt tội đồ một năm; ngựa già hoặc bệnh phải đem trình kiểm tra, đóng dấu chữ ‘thoái’ thì được phép bán, nếu không trình quan, mỗi người giảm tội tự ý đổi bán năm bậc.”

[46] Vua bàn với Vương An Thạch về việc đặt chức Nguyên soái ở các lộ Thiểm Tây, muốn dùng Thái Diên Khánh làm Nguyên soái lộ Hoàn Khánh hoặc Kinh Nguyên. An Thạch cho rằng không được, Vua hỏi ai có thể, An Thạch tiến cử Chương Đôn, kế đến là Triệu Tử Kỷ có tài năng lớn.

Vua nói: “Chương Đôn có vẻ được, còn Tử Kỷ thì thô thiển.” Lại hỏi Lý Thừa Chi thế nào, An Thạch nói: “Thừa Chi hiểu việc quan, cho làm Đô kiểm chính có lẽ được, nhưng làm Nguyên soái thì không thông hiểu tình hình.” Vua nói: “Thừa Chi đi thị sát Thiểm Tây, cũng thông hiểu tình hình, chỉ có điều bất đồng ý kiến với Dương Bàn mà thôi.” An Thạch nói: “Bệ hạ hỏi thần ai có thể làm Nguyên soái, thần không dám không trả lời thực, không phải vì người đó bất đồng ý kiến với Dương Bàn.”


  1. Chữ 'quan' nguyên là 'Khai', ở đây khó hiểu. Căn cứ câu trên 'Chiếu lệnh ty An phủ lộ Vĩnh Hưng quân đưa vụ việc đến ty Suy khám', chữ 'Khai' ở đây rõ ràng là sai, nên sửa thành 'quan'.
  2. 'Sai' nguyên bản là 'Trí', theo các bản khác và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 75 'Quân khí giám' sửa lại.
  3. 'Miễn hết' nguyên bản chữ 'hết' viết là 'Thư', căn cứ vào bản trong các kho và 《Tống hội yếu》 thiên Thực hóa 66 tờ 38 mà sửa lại.
  4. 'Trần Xu có nói' nguyên bản chữ 'Xu' thừa chữ 'Mật', căn cứ vào bản trong các kho và quyển 248 năm Hi Ninh thứ 6, tháng 12, ngày Mậu Dần mà bỏ đi.
  5. 'Khai khẩn' nguyên bản là 'khẩn', căn cứ vào bản trong các bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 88, mục Bình Dục Tỉnh Man sửa lại.
  6. Vì ruộng bồi làm ngập nhà cửa, mồ mả, chữ 'Nhân' nguyên là 'Khốn', theo bản các và sách 《Tống sử》 quyển 73 phần ruộng bồi, quyển 95 phần Hà cừ chí mà sửa.
  7. Chữ 'Kỳ' nguyên bản viết 'Kỳ', theo 《Bút đàm》 quyển 13 phần Quyền trí sửa lại.
  8. Chữ 'Bảo' nguyên bản viết 'Lương', theo sách trên và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 73 phần Ứ điền sửa lại.
  9. Chữ 'Lao' nguyên bản viết 'Thâm', theo hai sách trên sửa lại.
  10. Ba chữ 'Pha can diêm' nguyên bản thiếu, theo hai sách trên bổ sung.
  11. Chữ 'Diêm', 《Bút đàm》 trên dẫn giống, 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 viết 'Đạo'.
  12. chữ 'khanh' nguyên bản thiếu, căn cứ vào 《Tống sử》 quyển 95, phần Hà cừ chí và ý nghĩa văn bản mà bổ sung
  13. chữ 'giám' nguyên bản thiếu, căn cứ vào văn trên và cùng sách mà bổ sung

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.