VI. TỐNG THẦN TÔNG
[BETA] QUYỂN 257: NĂM HI NINH THỨ 7 (GIÁP DẦN, 1074)
Bắt đầu từ tháng 10 năm Hi Ninh thứ 7 đời Thần Tông đến hết tháng đó.
[1] Mùa đông, tháng 10, ngày Ất Sửu, mùng một, ban chiếu cho việc tu sửa ruộng đất nông nghiệp và thủy lợi, những người đáng được thưởng, các Giám ty phải báo lên Ty Nông tự, sai quan ở các lộ lân cận; còn lại các quan và các hạng người khác, giao cho Đề hình ty chọn quan ở các châu huyện khác để xét lại và bảo đảm minh bạch.
[2] Ban chiếu lấy các quân nhân từ trước đến nay ra trận có công đáng được thăng cấp, giao cho quan tại chức xét nghiệm, nếu còn trẻ khỏe, ghi tên họ và công trạng để tâu lên.
[3] Ngày Bính Dần, ban chiếu cho Trương Phương Bình, Tri châu Trần, Học sĩ Quan văn điện, Thượng thư Hộ bộ, dời đến Ứng Thiên phủ, khi qua kinh đô cho vào yết kiến.
[4] Ty Nông tự tâu: “Ngày Ất Tỵ tháng 4 năm nay, ban chiếu cho các lộ bị thiên tai tạm ngừng việc biên chế bảo giáp, đo đạc ruộng đất và lập sổ năm hạng, đợi đến mùa màng tốt tươi và lúc nông nhàn sẽ xin chỉ dụ. Năm nay mùa thu được mùa, xin ban xuống các lộ và phủ Khai Phong, trừ các huyện bị thiên tai mất mùa trên ba phần mười ruộng đất mùa thu thì tạm ngừng như trước, còn lại đợi lúc nông nhàn sẽ biên chế bảo giáp, đo đạc ruộng đất và lập sổ năm hạng. Trong đó, nghĩa dũng và bảo giáp ở các lộ Vĩnh Hưng, Tần Phượng, theo chiếu ngày Giáp Thân tháng 8, đợi sang năm sẽ xin chỉ dụ.” Được chấp thuận. (Chiếu ngày Giáp Thân tháng 8 chưa thấy. Ngày Giáp Thân là ngày 19. Ngày 22 tháng 3, ngày mồng 2 tháng 4, ngày mồng 6 tháng 4.)
[5] Ngày Đinh Mão, quyền phát khiển Kinh Đông chuyển vận phó sứ Triệu Tế tâu: “Sông Quảng Tế thông thương hàng hóa, lợi ích rất lớn. Triều đình trước đây vì nước sông cạn, hàng hóa bị đình trệ nên đã bỏ việc vận chuyển. Ty Liễn Vận đã lấy 62 vạn thạch lương thượng cung, bắt dân đóng 36 vạn quan tiền chiết hộc. Từ đó, dân chúng bán rẻ thóc gạo, nông dân bị thiệt hại, và các khoản thuế dọc sông cũng bị tổn thất. Nếu triều đình cho phép khôi phục lại như cũ, xin được trình bày thêm về lợi hại.” Chiếu cho Tri huyện Định Đào là Trương Sĩ Trừng cùng với Đồng câu đương Tu nội ty là Dương Diễm xem xét việc tu sửa sông Quảng Tế. (Việc bỏ vận chuyển trên sông Quảng Tế vào thời gian nào cần tra cứu thêm, tháng 7 năm Thiên Thánh thứ 6 cần tham khảo. Lại có tháng 12 năm Hi Ninh thứ 8, tháng 4 năm thứ 9; tháng 2 năm Nguyên Phong thứ 5 bỏ việc vận chuyển trên sông Quảng Tế, đến tháng 8 năm thứ 8 lại khôi phục[1], cần tra cứu thêm.)
[6] Ngày Mậu Thìn, chiếu cho các lộ Hà Bắc, Hà Đông, những người được cử làm quan quản câu huấn luyện nghĩa dũng, bảo giáp, đều do Ty Đề cử Nghĩa dũng, Bảo giáp tâu cử.
[7] Đô quan lang trung, Tân tri Quỳ Châu là Trịnh Duy Kỷ tâu: “Thần thấy có chiếu đặc biệt tâu cử các quan biên giới, nếu sau khi bổ nhiệm mà không xứng với sự tiến cử thì cùng chịu tội, đến chết thì giảm một bậc, nếu để mất thành trại thì người tiến cử dù được ân xá cũng không được giảm tội. Thần nghĩ chức vụ chiến thủ rất quan trọng, người tiến cử chỉ bị phạt mà không được thưởng, xin rằng nếu người được tiến cử sau khi được bổ nhiệm, nhờ chiến thủ có công, sự việc đặc biệt, thì người tiến cử cũng được khen thưởng theo thứ bậc.” Chiếu rằng từ nay những quan biên giới có công trạng rõ ràng, sẽ xét người tiến cử để xin chỉ. Ngày 27 tháng 4 năm thứ 6, chiếu khen thưởng Hoàng Tông, Lưu Thuấn Khanh.
[8] Chiếu rằng ruộng công đã có người thuê cày trên 5 năm, thì không được tính vào việc cấp cho người làm nghĩa vụ.
[9] Kiểm tường Xu mật viện Binh phòng văn tự, Thái tử Trung doãn Lưu Tải giám Hàng Châu Long Sơn thuế. Bị kết tội vì trước đây khi làm Tri Tư nông tự thừa Kinh Đông thể lượng chẩn tế tai thương, đã tự ý lập ra mẫu quan tử, gửi điệp cho các châu quân giao cho người đói, mượn lương thực từ nhà giàu có tích trữ, vi phạm pháp luật. Tháng 6, ngày Tân Mùi, Lưu Tải ban đầu được bổ nhiệm làm Trung doãn, Kiểm thảo từ chức Tá trứ tác.
[10] Tặng chức Tĩnh Nan tiết độ sứ, truy phong Tân Bình quận vương, thụy hiệu Cung Tĩnh, Tông Bảo qua đời. Chiếu rằng Tông Bảo từng được nuôi dưỡng trong cung thời Nhân Tông, nên được ưu đãi tặng phong.
Tông Bảo là con của Doãn Thành, được nhận làm con thừa tự của Chiêu Thành thái tử. Sau khi kế thừa Chiêu Thành, ông sống khác cung với mẹ là Khang thị, nhưng không bao giờ thiếu lễ thăm hỏi. Khi mẹ sai người đến, dù là người thấp kém, ông cũng mặc áo mũ chỉnh tề tiếp đón. Khi mẹ mất, ông để tang đau buồn đến suy sụp. Khang thị thích sách thuốc, mỗi năm bỏ ra hơn mười vạn tiền mua thuốc để cứu giúp người bệnh, Tông Bảo cũng làm như vậy. Mỗi lần chế thuốc, ông đều khóc lóc nhớ thương. Tính tình nhân từ khoan dung, có viên lại ăn cắp hơn nghìn thạch gạo, ông tha tội. Có người bảo Tông Bảo quá khoan dung, ông nói: “Kẻ đó đáng bị lưu đày, ta sợ hắn chạy trốn xa, cha mẹ vợ con sẽ phải chết đói, nên không nỡ.” Ông thường viết chữ “Nhẫn” ở góc chỗ ngồi để tự răn mình, được tông thất khen ngợi.
[11] Ngày Kỷ Tỵ, Chuyển vận ty Hoài Nam Đông lộ tâu: “Năm nay hạn hán liên tiếp, xin sai quan dùng tiền vốn thị dịch ở Sở Châu mua ba mươi vạn thạch gạo ở Tô Châu để ứng phó quân lương. Hoặc bán theo giá Hoài Nam, trả lại tiền thị dịch.” Triều đình đồng ý, lệnh cho Ty thị dịch Sở Châu thi hành, nếu dùng làm quân lương, thì Chuyển vận ty phải bồi hoàn theo giá hòa địch.
[12] Ngày Canh Ngọ, chiếu rằng: “Gần đây sai Quang lộc tự thừa Đỗ Thuần khảo sát việc đặt trường mua gạo dọc các châu quân ven sông Thái Hà, tính toán vận chuyển để cung cấp lương thực cho Hà Bắc lộ. Có thể thêm việc tính toán dọc các châu huyện ven Hoàng Hà, ngoài tiền vốn do triều đình cấp, cùng Chuyển vận ty tính toán chi phí vận chuyển rồi tâu lên.”
[13] Lại xuống chiếu cho Ty Sát phỏng các lộ Hà Bắc Đông, Tây: “Các huyện bị thiên tai mất mùa từ năm phần trở lên, miễn việc tập luyện bảo giáp; vẫn lệnh cho Ty này ước định theo phủ giới mà tổ chức thi tập, so sánh võ nghệ để cấp tiền lương, định ra số ngày được nghỉ. Việc thi tập của nghĩa dũng, không tăng thêm lương, chỉ chi theo lệ vật.”
[14] Ngày Tân Mùi, Trung thư tâu: “Theo điều lệ, trước mùa Nam Giao một quý, cho phép ước định pháp luật để xét xử các án ngoài lệ, còn lại không ước định. Xét rằng mỗi lần ước định pháp luật, Đại Lý tự phải cung cấp trạng pháp trình lên Trung thư, Xu mật viện, tức thì kiểm tra xét xử, Thẩm hình viện không cần dán thảo tiết lược thiếp hoàng. Trạng pháp so với thiếp hoàng nhiều hơn, lại viên phòng hình ít, e rằng khi ấy sẽ bị ùn tắc, kiểm tra không kỹ, xin không ước định pháp luật nữa; chỉ hai tháng trước triệu tập quan Thẩm hình, Đại Lý đến Trung thư, lệnh cho quan xét xử, nghị sự cùng bàn bạc xét xử, vẫn dán thiếp hoàng như cũ; chỉ làm tiết trạng trình lên Trung thư, Xu mật viện, trước nửa tháng thụ thệ giới thì theo đó thúc giục.” (Chu sử cho là việc nhỏ nên bỏ đi, bản mới: Theo đó.)
Lại tấu: “Xem xét lời tâu của Ty Biên tu điều lệ: Đại lễ, ban ân cho thần liêu, xưa nay không có định lệ, ban ân không thống nhất. Có tông thất đều là chư vương, sứ tương mà sung hiến quan và được miễn, thực ấp đều tăng thêm một nghìn hộ, hoặc không sung hiến quan thì tăng bảy trăm hộ, nay đều đổi thành một nghìn hộ. Có người đều là Tri Xu mật viện, Xu mật phó sứ, Tuyên huy sứ mà mang chức Tiết độ sứ, thực ấp bảy trăm hộ, thực phong ba trăm hộ; không mang Tiết độ sứ, thực ấp tăng năm trăm hộ, thực phong hai trăm hộ, nay đều đổi thành bảy trăm hộ, thực phong ba trăm hộ.” Đều theo đó.
[15] Ngày Nhâm Thân, xuống chiếu cho Tướng tác giám trình bày số lượng quan giám, binh tượng đã định để tu sửa Tam ty và ngày tháng phải làm việc để tâu lên.
[16] Kinh lược ty lộ Kinh Nguyên tâu: “Xin từ nay các hộ Hán, Phiên trộm trâu ngựa của giới Tây, cho phép các lộ theo điều lệ thu tiếp mà thuyết dụ trả lại ở nơi giới thủ dọc biên giới.” Đều theo đó.
[17] Chiếu rằng: Nghĩa dũng, bảo giáp tập võ nghệ, cung phải bắn xa 7 cương trở lên, nỏ phải giương nặng 2 thạch trở lên, lấy 10 phần làm chuẩn, cung và thương đao mỗi thứ không được quá 2 phần, còn lại đều tập nỏ.
[18] Trung thư tâu: “Dân lưu tán các châu tuy muốn trở về làm ăn, nhưng vì lương thực cứu tế ở Hà Bắc không nhiều, xin sai quan ở Kinh Tây Nam, Bắc Lộ xem xét các chỉ dụ đã ban để cứu tế, không để họ đói rét, nếu ai tự nguyện trở về làm ăn thì cho phép. Nam Lộ và Bắc Lộ mỗi nơi ban cho 200 độ điệp, mỗi châu 20 sắc cáo trợ giáo để giúp việc cứu tế.” Đều theo lời tâu. (Bản mực chép việc sai Bùi Dục ban chiếu cho Hàn Kỳ và lời đáp của Kỳ vào ngày này là sai, bản chu cũng theo đó. Nay dời vào tháng 4 năm thứ 8 khi Tiêu Hi đi.)
[19] Đề cử Nghĩa dũng, Bảo giáp các lộ Hà Bắc, Hà Đông là Thẩm Quát tâu: “Xin từ kinh cấp các vật dụng đến các ty để chuẩn bị chi dùng; nếu không đủ, lấy tiền của các châu quân bổ sung, Tam ty sẽ hoàn trả. Lại theo chỉ dụ triều đình, sai các quan Giám ty phân định các châu quân để đề cử Nghĩa dũng, Bảo giáp, xin trong tháng tập luyện, cho các quan đi lại đề cử. Lại xin ủy An phủ ty chọn quan binh cùng một viên quan huyện giám sát việc dạy. Nghĩa dũng, Bảo giáp Hà Bắc theo lệ của Thiểm Tây Tần Phượng Lộ, lập sổ riêng hạng trên, đặt quy cách tuyển chọn chung, và xem xét các việc chưa rõ, vạch điều lệ tâu lên. Xin khi đến các châu huyện thấy dân binh tập luyện thì thân hành xem xét, còn lại ủy các quan Giám giáo tinh chọn.” Đều theo lời tâu.
[20] Ty Phát vận các lộ Hoài Nam tâu: “Kênh đào các châu Chân, Dương, Sở lâu ngày không nạo vét, xin ban tiền lương cho hai ty, đợi khi việc vận chuyển tạm rảnh thì chiêu mộ người khởi công.” Đều theo lời tâu, lại cho phép cắt giữ 54.000 quan tiền và thạch gạo thượng cung.
[21] Tri Kinh Nam Phan Túc bị phạt 8 cân đồng, Chuyển vận sứ Tôn Cấu[2] và Kinh Hồ Bắc lộ Đô giám Chu Doãn Trung mỗi người bị phạt 7 cân đồng. Họ bị trị tội vì tội vu cáo Quyền tri Ý châu, Tả tàng khố sứ Lý Hạo chém giết quân nhân và tự ý bàn giao công việc để nhậm chức mới ở Thái Nguyên phủ mà không đúng sự thật.
[22] Ngày Bính Tý, Vệ châu Phòng ngự sứ Phùng Hành Kỉ được quyền đồng câu đương Tam ban viện, vừa từ Hùng châu trở về triều. Việc trở về triều được ghi theo bản truyền. Muốn chép việc bãi bỏ và khôi phục hương tuần cung thủ, nên ghi lại sự việc này, nếu không thì bỏ đi. Vùng biên giới trước đây có hương tuần cung thủ, sau đó đều bị bãi bỏ, trong khi phía Bắc giới vẫn duy trì tuần mã, thường xuyên đánh cá ở sông giới và cướp thuyền bè. Hành Kỉ xin khôi phục lại hương tuần cung thủ để ngăn chặn việc xâm phạm và tranh chấp, nhà Vua ban chiếu khen ngợi và chấp thuận. (Việc này căn cứ theo bản truyền của Hành Kỉ, không rõ ngày tháng cụ thể, tạm ghi sau khi Hành Kỉ trở về triều và nhậm chức ở Tam ban viện. 《Nhật lục》 của Vương An Thạch ngày 1 tháng 4 năm Hi Ninh thứ 6 chép rằng Hành Kỉ không muốn khôi phục hương cung thủ, khác hẳn với bản truyền. Bản truyền cũ của Hành Kỉ cũng giống với bản truyền mới, không rõ vì sao sử quan lại không tham khảo 《Nhật lục》, có lẽ vì 《Nhật lục》 không đáng tin.)
[23] Hoàng thành sứ, Đoan Châu thứ sử, đái ngự khí giới, đồng quản câu ngoại đô thủy giám thừa, đề cử Hà Bắc hưng tu thủy lợi Trình Phưởng lĩnh Đạt Châu đoàn luyện sứ, Vĩnh Tĩnh quân phán quan Lâm Thân, Đông Quang huyện lệnh Trương Ngôn Cử đều bị truất một quan, lặc đình; quyền phát khiển chuyển vận phó sứ Trần Tri Kiệm bị phạt 20 cân đồng; chuyển vận phán quan Hoàng Hảo Khiêm, đề cử Hà Bắc Đông lộ thường bình Triệu Xưng, tiền quyền phát khiển Đông lộ đề điểm hình ngục Đoàn Dịch đều bị phạt 10 cân.
Ban đầu, Phưởng khai sông Hồ Lô, dẫn nước vào con đường cũ mới khai, làm ngập ruộng dân không kể xiết. Chiếu cho Hà Bắc Đông lộ chuyển vận ty cử quan đi xem xét. Bản chí chép: Sông Hồ Lô vốn là nước từ núi phía tây, từ trấn Tân Hà, Ký Châu chảy vào huyện Vũ Cường, Thâm Châu, hợp lưu với sông Hô Đà, sau đó thay đổi dòng chảy, đổ vào sông lớn. Năm Hi Ninh, Trình Phưởng xin khai dẫn nước vào con đường cũ mới, chiếu cử quan đi xem xét.
(Không rõ là năm Hi Ninh nào, theo《Nhật lục》ngày 26 tháng giêng năm thứ 7 có việc Hàn Tông Sư hặc tội Trình Phưởng, đã chép kèm vào ngày tháng đó. Chuyển vận ty cử Thân và Ngôn Cử, Thân và Ngôn Cử tấu: “Lòng sông mới cao hơn sông cũ hơn một trượng, khiến nước chảy ngược làm ngập ruộng dân.”
《Tống yếu lục》chép: Tri Kiệm dựa vào đó mà tấu. Chiếu cho Phưởng giải trình, Phưởng lại nói rằng dẫn nước thông suốt, thuyền bè quan tư không bị trở ngại, và đoạn cuối sông Hô Đà rộng hơn 30 bước. Chiếu cử đô thủy giám thừa Lưu Cáp, Hoàng Ngự cùng thôi cương Lý Trực Cung đi khảo nghiệm, Cáp tấu đúng như lời Phưởng, nên Phưởng được thăng quan còn Thân, Ngôn Cử bị cách chức, Tri Kiệm, Xưng, Hảo Khiêm đều bị phạt vì dựa vào tấu của Thân. Các quan lại phụ trách khai sông, vẫn lệnh cho Phưởng bảo đảm.
《Hội yếu》mục Thủy lợi chép: Ngày 13 tháng 10 năm thứ 7, lấy Hoàng thành sứ, Đoan Châu thứ sử Trình Phưởng kiêm lĩnh Đạt Châu đoàn luyện sứ. Phưởng trị sông Hô Đà, các nghị giả tranh nhau đưa ra ý kiến[3], cho là không có lợi, Phưởng kiên quyết không đổi. Sau đó nước chảy, người dân được lợi, Vua khen ngợi, thăng quan để thưởng.
《Hội yếu》chép như vậy, chủ yếu là để bênh vực Phưởng, khác với sử quan thời Nguyên Hựu, cần xem xét. Sử quan thời Nguyên Hựu chép lời Thân nói “khiến nước chảy ngược”, Phưởng lại nói… Sử quan thời Thiệu Thánh bỏ chữ “khiến”, chữ “lại”, có thể thấy ý của họ.)
Ngự sử Thịnh Đào từng luận tội Trình Phưởng rằng: “Thịnh Đào tấu trình về Trình Phưởng, không đúng thời điểm, nay ghi lại ở đây, để xem xét kỹ hơn. Đào nhậm chức Ngự sử vào tháng 9 năm thứ 5, đến tháng 4 nhuận năm thứ 8 thì bị bãi chức. Phưởng dựa vào công lao đắp đê ngăn lũ ở Đệ Ngũ Tảo, tự nhận là công của mình, lợi dụng uy thế triều đình, uy hiếp các châu huyện, cố tình buông lỏng quản lý các trại đê, khiến thuộc hạ gây rối loạn, vi phạm pháp luật.
Thần nghĩ rằng hắn có thể làm việc cho triều đình, nhưng không tránh khỏi gây hại nhỏ, nên lâu nay không dám nói thẳng. Nay nghe nói Phưởng khai thông sông Ngự ở huyện Cộng Thành, làm hư hỏng nhiều cối xay nước của dân, hao tốn nhiều sức dân mà không thấy thành công. Lại bàn việc khai thông sông Sấm[4], nhân việc quan sát phỏng đi xem xét, mới biết là không hợp lý. Công trình sông Chương, sông Hô Đà, thần không biết đã dùng bao nhiêu nhân công, khai khẩn được bao nhiêu ruộng, hiện nay có thông thương được hay không, nhưng nước đã chiếm mất ruộng tốt của các châu Hình, Minh, Triệu, Thâm, Kỳ, dân chúng oán than nhiều. Vương Quảng Liêm, Khổng Tự Tông, Tiền Hiệp cho đến Triệu Tử Kỷ đều đã tấu trình.
Nghe lời đồn đại, thậm chí có lời chê bai gọi hắn là Ma Vương, Kim Khối. Tình trạng gian trá của hắn, thì nghe nói hắn đặt nhiều cửa đập, chỉ chỗ nước lũ tràn vào rồi bảo là ruộng khai khẩn; thế lực của hắn lớn mạnh, thì bổ nhiệm hay cách chức quan lại đều tùy ý hắn. Những kẻ vô liêm sỉ, a dua theo hắn, việc tiếp đãi trên đường đi cũng như tiếp sứ giả nước ngoài, mà các giám ty không được dự. Đến mức ngạo mạn, càn rỡ, thì hắn đã ba lần nhận chỉ dụ của triều đình, mười hai lần nhận công văn của Ty Đề điểm hình ngục, nhưng vẫn cố tình chống đối. Triều đình giao quyền cho hắn, chỉ vì việc thủy lợi, nhưng kẻ tiểu nhân như hắn được thưởng thăng chức, kiêu ngạo hung bạo, đó là thói thường của hắn.
Nay Phưởng cố tình vi phạm chiếu chỉ, đã bị điều tra, tuy được ân xá, nhưng vẫn mong bệ hạ quyết định xử lý. Những việc khác như đào sông theo chế độ gần đây, nếu xem xét lợi hại không đúng, dẫn đến bỏ dở công trình, hao tốn tiền của, thì dù có được ân xá hay giáng chức cũng không được giảm tội. Xin trước hết cử quan khác thay thế, rồi mới điều tra xét xử.”
Vua nói: “Vương An Thạch cho rằng Phưởng hiểu việc sông ngòi, nên muốn giao việc. Đào sông Chương tốn bảy triệu nhân công, sông Hô Đà tốn tám chín triệu nhân công, đã bàn việc xem xét.” Nhưng triều đình cuối cùng không xử lý triệt để.
(Việc Thịnh Đào luận tội Trình Phưởng, không rõ thời điểm, nay ghi lại sau khi Phưởng nhậm chức Đoàn luyện sứ châu Đạt. Chỉ dụ gần đây về việc hao tốn, không được ân xá, có lẽ là do ngày mùng một tháng 9 Trương Hổ tấu việc xét nghiệm thủy lợi không đúng. Bản chép tay của Chu ghi: Thịnh Đào, Vương Quảng Liêm, Khổng Tự Tông đều từng tấu trình, nhưng triều đình đều không xử lý triệt để. Cộng Thành[5] thuộc châu Vệ, lộ Hà Bắc Tây; các châu Hình, Minh, Triệu, Thâm đều thuộc lộ Tây.)
[24] Ngày Đinh Sửu, ban chiếu cho quan Trung thư kiểm chính công sự và Ty môn viên ngoại lang[6] được theo lệ của chức Chính đề điểm hình ngục tâu xin phong tước cho con cháu.
[25] Ban thưởng cho Hứa An Thế, quan Kiểm chính Trung thư Khổng mục phòng công sự, và Diệp Thích, quyền Kiểm chính Trung thư Lễ phòng công sự, mỗi người 100 nghìn tiền, vì An Thế đang để tang mẹ, còn Thích vừa qua đời. (Việc của Thích, xem ngày 21 tháng 6.)
[26] Ty Sát phỏng Hà Bắc Tây lộ tâu: “Theo chỉ dụ triều đình, mua trâu của dân đói để chuẩn bị cho quân đội vận chuyển lương thảo, hoặc đợi năm được mùa cho dân mua lại, thực sự là tiện lợi.” Triều đình đồng ý.
[27] Chiếu cho Ty Sát phỏng hai lộ Hà Bắc, khi đến nơi phải kiểm tra việc luyện tập của nghĩa dũng và bảo giáp, ai có võ nghệ xuất chúng thì cấp phát vật phẩm theo thứ bậc; nếu nơi nào không kiểm tra được thì giao cho quan Ty Sát phỏng hoặc quan Giám ty, Đề cử, Quản câu đã được phân định trước thi hành.
[28] Ty Chuyển vận Thành Đô phủ lộ tâu: “Hàng năm, lộ này thường chuyển thuế đến kho xa ở lộ khác để nộp. Năm nay bị thiên tai, xin chỉ ứng phó một nửa số tiền ước tính cho Lợi Châu và Tử Châu, còn lại xin tạm miễn chuyển đi.” Chiếu miễn thuế thu của Miên Châu, còn các châu Nhung, Lô, Long, Kiếm[7], theo lệ chuyển đổi tiền vật để lo việc năm.
[29] Ngày Mậu Dần, chiếu cho Ty Đề cử Lưỡng Chiết Tây lộ xuất 3 vạn thạch gạo để cứu tế thiên tai ở Thường Châu và Nhuận Châu.
[30] Ngày Canh Thìn, cử Tăng Kháng, Thái tử Trung doãn, Kiểm chính Trung thư Lễ phòng công sự, đi sát phỏng việc thường bình ở Kinh Hồ lộ. Kháng từ chối không đi, nên lấy Bồ Tông Mạnh, Kiểm chính Hộ phòng công sự, thay thế.
[31] Chiếu cho Tam ty lập ra Cối kế ty, lấy Tể tướng Hàn Giáng làm người đề cử. Trước đó, Hàn Giáng tâu: “Tam ty quản lý tài chính của thiên hạ, nhưng số liệu thu chi không có tổng kết, cũng không có phương pháp kiểm tra sự thăng trầm. Xin chọn quan lại lập ra ty, thống kê số hộ khẩu, nhân đinh, thuế má, cùng các khoản thu từ trường vụ, khanh dã, bến đò, vườn tược, cùng số tiền lương thực thu chi của các lộ, bỏ đi những khoản trùng lặp, hàng năm so sánh tăng giảm, cùng số tiền vật bị bỏ phế, số dư, chi tiêu vô ích. Nếu thu nhiều thì tìm hiểu nguyên nhân, dựa vào đó thăng giáng quan chức; nếu chi không đủ, hoặc có dư, thì điều chỉnh hợp lý, để cân đối thu chi, như vậy thì đại cương quốc kế, triều đình có thể xem xét, bàn luận việc chính, đủ để giảm bớt sức dân. Xin cho thần Hàn Giáng làm người đề cử.”
Và Tam ty sứ Chương Đôn cũng nói: “Tài chính thiên hạ, sổ sách rườm rà, không thể kiểm tra được số hao hụt hay tăng thêm, xin chọn người tài, biên soạn thành sách, hàng năm so sánh tăng giảm, để khảo nghiệm năng lực quan chức các lộ, từ đó thăng giáng.” Vì thế có chiếu này.
(Truyện Hàn Giáng chép: Sau Vương An Thạch, xin lập cục ở Trung thư, kiểm tra chi tiêu, để điều tiết quốc kế. Việc bị đình trệ nhiều không quyết, mấy tháng sau, xin từ chức vì bệnh. Tân lục, Cựu lục đều giống nhau, cần khảo cứu. Ngày Canh Ngọ tháng 9 năm thứ 8, bãi bỏ Cối kế ty.)
[32] Lưu dân ở Kinh Tây Nam lộ được cấp ruộng, mua trâu bò, tạm miễn thuế.
[33] Xu mật viện tâu: Quân mới chiêu mộ ở kinh và các lộ, sợ khó ban thưởng Nam giao như quân cũ. Chiếu rằng: Từ sau khi có chiếu, chiêu mộ cấm quân, sương quân, thưởng cấp chỉ bằng một nửa quân cũ.
[34] Chiếu cho đề cử Thị dịch ty mỗi năm tiến cử 5 viên kinh quan.
[35] Tri gián viện Đặng Nhuận Phủ tâu: Nghe nói ở ty Khai Phong phủ và quân tuần viện, tội nhân bị giam lâu không xét xử, có người từ xuân hạ đến nay vẫn chưa được quyết định. Chiếu cho Khai Phong phủ trình bày rõ ràng.
[36] Quyền phát khiển Tam ty sứ Chương Đôn tâu: “Tam ty bị cháy, các công án cũ đều thiếu lại viên, lại viên ở Ty trướng thì nhiều, xin chọn 30 người chia về các án, còn lại điều lại viên giỏi tính toán của Tam ty trở về Ty trướng[8].” Chiếu chỉ chọn 15 người. Lại tâu: “Xin cho thần cử quan và chọn một viên Kiểm pháp quan, cùng lấy các văn bản đang lưu hành trong tỉnh, xem xét từng cái. Những gì đã có lệnh thức thì giao về các ty, những gì chưa có lệnh thức thì lập điều lệ.” Lại tâu: “Xin cho các liêu thuộc của Tam ty, do thần tuyển cử. Tài sản của các ty bên ngoài, do Tam ty tổng quản. Nếu các ty bên ngoài có người không đủ năng lực, không tuân pháp, thì kịp thời xử lý.” Đều được chấp thuận. (Tháng 11, ngày Mậu Tuất, sách 《Thực lục》 lại chép Tam ty tâu: “Xin cho tài lợi từ việc mua bán của Ty phát vận đều thuộc về Tam ty.” Được chấp thuận. Đây chính là việc tổng quản tài sản của các ty bên ngoài. Nay giữ lại điều này, bỏ điều kia.)
[37] Ngày Tân Tỵ, chiếu chỉ cho phủ lộ Thành Đô dùng tiền vốn trà do Ty chuyển vận ứng phó, nếu không đủ thì mượn tiền thừa từ các phường trường của Ty đề cử; nếu vẫn không đủ thì mượn tiền thường bình, lệnh cho Ty Nông tự quản lý và hoàn trả.
[38] Chiếu chỉ cho các huyện thuộc phủ Khai Phong bị thiên tai, tạm ngừng việc tập hợp dạy bảo giáp trong một năm.
[39] Tư nông tự[9] xin bỏ hộ trưởng, phường chính, thuế phú và tiền miêu dịch của các châu huyện, lấy 20-30 hộ chủ gần đó xếp thành giáp thứ, luân phiên đặt giáp đầu để thúc thu, mỗi lần thu thuế thì thay một lần, mỗi giáp đặt sổ ghi tên, đến ngày thay thì tự giao nhận, huyện không được gọi; việc sai phái trong nha môn, ngoài việc cho phép thúc thu, không được nhận văn tự khác, ai vi phạm thì cho phép người khác tố cáo, xử theo tội vi chế, không được giảm tội vì đã bãi chức hoặc được ân xá. Theo lời xin. (Ngày Ất Tỵ, Giáp Dần tháng 4 nhuận năm thứ 8 có thể tra cứu.)
[40] Chiếu cho Trung thư, Xu mật viện xét các châu quân ở Hà Bắc bị thiên tai nặng, ngoài những chức vụ quan trọng không thể thiếu người quản lý, còn lại tùy nghi cắt giảm.
[41] Lại chiếu cho Phát vận ty Hoài Nam, hàng năm mua lụa ở Lưỡng Chiết, từ năm sau trở đi, cho phép đặt trường mua ở các châu quân có sản xuất, hoặc trả tiền trước, không được ép dân.
[42] Vua phê: “Những người trong tông thất đang giữ chức ngoài, đều không phải là người nên ra theo chế độ gần đây, nên theo lệ yến cũ, vẫn ban thưởng Nam Giao như trước.”
[43] Chiếu rằng người nghĩa dũng chính thân không được ứng mộ sung thích[10], người đã ứng mộ thì gọi người khác thay.
[44] Người Tô Châu là Sơ Sĩ Nghiêu nói, Tào Hiếu Lập xin tu sửa bờ ruộng ở 5 huyện của châu này, có hại mà không có lợi, xin các huyện tu sửa bờ ruộng ba bậc, chia làm hai đợt vào mùa xuân và mùa đông. Chiếu cho Chuyển vận ty xét lợi hại rồi tâu. Sau đó, Chuyển vận phó sứ Trương Tịnh xét thấy ý kiến của Hiếu Lập quả là không tiện, các quan Tổng dịch, Kiểm kế là Ngụy Ngạc đều bị hặc. (Hiếu Lập, lần đầu thấy vào tháng 11 năm thứ 5.)
[45] Ngày Quý Mùi, Ty Chuyển vận Hà Bắc Tây lộ tâu: “Từ mùa thu năm ngoái đến mùa hạ năm nay, mưa nhiều, đã miễn thuế và bù lỗ lợi tức lên đến bảy mươi lăm vạn quan. Đã vâng theo chỉ dụ triều đình, lệnh cho Tam ty chỉ huy Đề cử Lý Trực Cung chuyển giao giấy tờ dọc biên giới cho Tây lộ, bắt thương nhân nộp hai mươi vạn thạch lương, và ban cho mười vạn quan tiền từ Nội tàng khố. Vì lộ này liên tiếp gặp thiên tai, xin ban thêm ba mươi vạn quan tiền để hỗ trợ kinh phí, nghiêm cấm Đông lộ vượt quá hạn mức tiền bạc đã định để ứng phó.” Chiếu ban cho Phát vận ty Thị dịch vụ thu quản hai mươi vạn quan tiền.
[46] Ngày Ất Dậu, Chức phương viên ngoại lang, Quyền phát khiển Giang Hoài Phát vận phó sứ công sự Trương Giáp được thăng một chức. Lúc đó, Trương Giáp đến kinh đô tâu việc vận chuyển mùa thu, Vua lệnh trình bày các trường hợp ban ơn của La Chửng, Tiết Hướng. Theo lệ cũ, Phát vận phó sứ có thứ tự tư cách như Tam ty phó sứ thì được bổ làm Thiên Chương các Đãi chế, nhưng lúc đó Trương Giáp mới là Quyền phát khiển, lại có thứ tự tư cách như Thông phán. Vua phê: “Năm nay, lương thực từ Giang, Hoài cung cấp cho kinh đô chưa đến một phần ba so với hạn mức ban đầu. Gần đây, quân các lộ về kho, tính toán thêm lương thực không ít, nếu không xử lý trước, e rằng sẽ hao hụt hạn mức năm, hoặc dẫn đến thiếu hụt. Nên đốc thúc Trương Giáp tâu việc xong, trở về nhiệm sở ngay, tính toán hạn mức năm sau.”
(Trương Giáp phụ truyền chép: Làm Phát vận phó sứ, đến kinh đô tâu việc, lợi tức sáu lộ dồi dào, Trương Giáp không tự nói, Thần Tông hỏi ý, ông đáp: “Không dám dùng việc này để mong được ban thưởng, xin trình đủ số liệu lên, giao cho Trung thư, để tránh hiềm nghi thần hạ riêng tư cống hiến.” Chiếu theo lời tâu. Xét lời phê của Vua: “Năm nay, cung cấp so với hạn mức ban đầu chưa đến một phần ba”, thì lời phụ truyền chép lợi tức dồi dào, e là lời nói khoa trương, nay không chép.)
[47] Chiếu lệnh các quan quản quân không được kết thông gia, nếu trước khi quản quân đã là thân thuộc thì tự tâu lên.
[48] Ngày Bính Tuất, chiếu lệnh Tam ty cho mượn mười vạn thạch lương thượng cung để Ty Đề cử Thường bình Hoài Nam Tây lộ chuẩn bị bán ra hoặc cho mượn dùng.
[49] Vua phê: “Ngày sinh của Vương An Thạch, có thể sai quan Nhập nội đông đầu cung phụng Phùng Tông Đạo theo lệ ngoại sứ tướng để ban tặng.” Đây là ân điển đặc biệt. Năm Hi Ninh thứ 6, Vương Kinh công (Vương An Thạch) vừa bãi chức tướng, được bổ làm Lại bộ Thượng thư, Quan văn điện Học sĩ, nhậm chức Tri Kim Lăng, tiến cử Lữ Huệ Khanh làm Tham chính rồi rời đi.
Sau đó, Lữ Huệ Khanh được Vua tin dùng, lộng quyền, lo sợ Vương Kinh công sẽ trở lại, nhân dịp tế giao đã tiến cử Vương Kinh công làm Tiết độ sứ, Bình chương sự. Khi vào yết kiến, Vua nhận ra ý đồ của Huệ Khanh, liền hỏi: “Vương An Thạch rời đi không phải vì tội lỗi, sao lại dùng chiếu xá để phục chức?” Huệ Khanh không biết trả lời thế nào. Năm sau, Vua lại triệu Vương Kinh công về nắm quyền, từ đó quan hệ giữa Vương và Lữ ngày càng xấu đi.
(Việc này căn cứ theo 《Đông Hiên Lục》 của Ngụy Thái, nhân việc Vương An Thạch được hưởng lệ ngoại sứ tướng, nên ghi chép thêm vào đây. Những điều Ngụy Thái nghe được chưa chắc đã đúng, cần xem xét thêm.)
[50] Chiếu rằng: Từ nay các quan Đại sứ thần và Tiểu sứ thần khi nhậm chức, các quan Vũ cử sứ thần không cần thi sách nữa, nếu xin thi cung mã thì phải tăng thêm sức kéo so với lần thi trước mới được phép thi.
[51] Tăng lương cho các chỉ huy Kiều đạo, Thanh tắc, Hùng thắng lên đến 300 quan.
[52] Ngày Kỷ Sửu, Tam ty tâu: “Tri Hi Châu Vương Thiều xin theo lệ mua lương thực ở vùng biên, dùng 1 phần tiền mặt, 9 phần tiền Tây, định giá riêng, chiêu mộ thương nhân người Hồ bán lương để cấp tiền, ứng phó việc mua lương.” Vua đồng ý.
[53] Ngày Canh Dần, chiếu rằng: Tả Ban Điện trực, Huyện úy Quy Tín, Dung Thành châu Hùng là Tang Cảnh từ khi nhậm chức đến nay, hết lòng tận tụy, xử lý công việc chu toàn, có thể thăng làm Cáp môn Chi hậu, liền sai làm Tri Huyện Quy Tín, Dung Thành châu Hùng. Tang Cảnh đã được nhắc đến trước đây.
[54] Chiếu rằng: “Từ nay các quan Đại sứ thần nhậm chức Lộ phân Đô giám, Tri châu quân trở lên, nếu phải giáng chức, trừ các chức Hoành hành Sứ phó trở lên và giáng làm Châu Kiềm hạt loại mà Thẩm quan không có khuyết[11], đều do Xu mật viện xét tình hình tội trạng để bổ nhiệm; còn lại đều căn cứ mức độ nặng nhẹ của tội mà xin chỉ, do viện này bổ nhiệm, hoặc giao cho Thẩm quan Tây viện. Các quan Tiểu sứ thần bị giáng chức theo chỉ đặc biệt cũng áp dụng như vậy.”
[55] Tam ty sứ Chương Đôn xin mượn năm trăm vạn quan tiền từ kho nội tàng, sai ty thị dịch chọn người có năng lực, phân đi bốn lộ để nhập trung toán thỉnh diêm dẫn và nhân lúc giá rẻ mua sắm. Chiếu chỉ cho mượn hai trăm vạn quan.
[56] Tri Quế châu Lưu Di tâu: “Ung châu các động nhiều năm bị hạn hán, xin miễn trừ các khoản thuế gạo còn thiếu.” Được chấp thuận.
[57] Ngày Tân Mão, Trực xá nhân viện, Đồng quản câu Quốc tử giám Lý Định kiêm quyền Phán ty Nông tự.
[58] Ngày Nhâm Thìn, Trung thư điều lệ ty xin rằng: các lộ cung tiễn thủ, trại hộ, ngoài việc phòng thủ, tuần tra và xử lý việc biên cương gấp rút được phép điều động một mặt, nếu sửa chữa thành trì hoặc thuê mướn dân phu, ngựa, trâu, lừa thì phải báo lên Kinh lược, An phủ, Kiềm hạt ty chỉ huy. Nếu dám tự ý sai khiến, bắt phu hoặc thuê mướn không đúng người nhà, đều bị xử tội vi chế, dù đã được ân xá hay giáng chức cũng không được tha. Giao cho quan án sát giám sát, và lập phần thưởng cho người tố cáo. Được chấp thuận. Các nghĩa quân ở Khuê châu lộ, thương thủ Quảng Nam, thổ đinh, động đinh[12], nỗ thủ Hồ Nam, hương đinh thương thủ Phúc Kiến cũng áp dụng theo.
[59] Chiếu chỉ cho nghĩa dũng, bảo giáp, lệnh các quan đề cử ba lộ xem xét kỹ lưỡng pháp lệnh luyện tập võ nghệ và bày trận.
[60] Quyền Đề điểm Khai Phong phủ giới các huyện trấn công sự Thái Xác tâu: “Ruộng mùa hạ bị thiên tai hư hại nghiêm trọng, xin miễn thuế phu mùa xuân năm sau.” Được chấp thuận.
[61] Quyền Hoài Nam phát vận phó sứ Trương Giáp xin rằng từ nay các sứ phó chỉ làm việc liên thư phát khiển tại bản ty ở Chân châu, nếu gặp việc vận chuyển mùa xuân bị ách tắc thì luân phiên một người đến Dương, Sở, Tứ châu để đốc thúc, bộ áp mạt vận, vào kinh tâu việc. Được chấp thuận.
[62] Chiếu rằng những người trong các quân được cử điều khiển sĩ tốt, nếu có khả năng quản lý binh lính, so với các quân khác được chỉnh tề nhất, hoặc từng được sử dụng, thấy có tài năng, gan dạ, có thể thống lĩnh đội ngũ, thì ở kinh thành giao cho Điện tiền, Mã bộ quân ty, ở ngoài giao cho Đô phó Tổng quản, An phủ, Kiềm hạt, Tri châu, Lộ phân Đô giám bảo cử tâu lên, Xu mật viện tập hợp ghi vào sổ; khi cần người sử dụng, lấy người được nhiều người tiến cử để lấy chỉ dụ triệu tập, xét hỏi rồi bổ dụng.
[63] Ngày Quý Tỵ, Thiên Chương các Đãi chế, Đồng đề cử tại kinh chư ty khố vụ Hàn Chẩn được quyền giữ chức Tri Khai Phong phủ, Công bộ Lang trung, Trực Tập Hiền viện, Tân Tri Hình châu Phạm Thuần Nhân được giữ chức Trực Long Đồ các, quyền Phát khiển Khánh châu.
Thuần Nhân qua cửa khuyết vào yết kiến, Vua thấy rất vui, nói: “Cha khanh ở Khánh châu rất có uy danh, nay khanh kế tục, có thể gọi là thế chức vậy.” Thuần Nhân cúi đầu tạ rằng: “Thần bất tài, sao đủ để kế tục tiền nhân, chỉ vì bệ hạ nghe lầm, sai thần đảm nhận chức vụ này.”
Vua hỏi: “Khanh chắc giỏi binh pháp?” Đáp: “Thần vốn là nhà Nho, chưa từng học binh pháp.” Lại hỏi: “Khanh dù không học binh pháp, nhưng lâu nay theo hầu ở Thiểm Tây, ắt cũng am hiểu việc biên cương?” Đáp: “Thần theo hầu lúc còn nhỏ, không nhớ gì, hơn nữa việc hiện nay khác xưa.”
Thuần Nhân đoán chắc có người dùng lời khai thác biên cương để lừa dối Vua, bèn tâu: “Thần bất tài, nếu bệ hạ sai thần tu sửa thành lũy, yêu dưỡng bách tính, thần dù mệt mỏi cũng không dám từ chối. Nếu bệ hạ sai thần khai thác biên cương, xâm lấn di địch, đó không phải sở trường của thần, mong chọn người tài khác.”
Vua dụ rằng: “Với tài của khanh, việc gì chẳng làm được, chỉ là không chịu hết lòng vì Trẫm thôi.” Đáp: “Thần tử đối với quân phụ, nếu có chỗ nào có thể báo đáp, dù chết cũng không tránh, há lại không hết lòng sao? Chỉ là điều bệ hạ yêu cầu không phải sở trường của thần, thần không dám dối trá để đối đáp.” Thuần Nhân càng từ chối kiên quyết, Vua cuối cùng không cho phép.
[64] Chiếu ban cho lộ Hoài Nam hai vạn thạch gạo thường bình xuống cho Ty đề cử lộ Hoài Nam Tây để đổi lấy trứng châu chấu mà dân đói đã đào được; lại ban cho năm vạn thạch xuống Ty đề điểm hình ngục lộ Hà Bắc Đông để cứu tế dân lưu tán, cho phép bán ra, trước hết hãy lấy tiền hiện có trong kho thường bình để cứu tế, còn gạo thô thì cho phép định giá bán.
[65] Xu mật trực học sĩ, quyền tri Khai Phong phủ Tôn Vĩnh bị giáng làm Long đồ các trực học sĩ, bãi chức tri Khai Phong phủ. Thị ngự sử tri tạp sự Trương Hổ tâu rằng Tôn Vĩnh đã xem xét việc thu tiền miễn hành không đúng.
[66] Tháng đó, Vua lấy phép kết đội mới định cùng quy chế thưởng phạt và cách bày trận, sai cận thị Lý Hiến đem đến cho tướng Phu Diên là Triệu Tiết, bảo nghiên cứu rồi áp dụng cho các lộ. Chiếu cho Triệu Tiết rằng: “Phép bày trận đã chi tiết, đã sai Lý Hiến đến bảo rõ, nay vẽ ra chỉ là một trận nhỏ, khanh hãy thong thả hỏi kỹ, Lý Hiến ắt sẽ giải thích từng điều. Nhưng phép bày trận đã lâu thất truyền, nay Trẫm dựa vào ý mình mà đặt ra, e chưa được chu toàn, khanh chớ ngại, cứ tâu lên.”
Sau lại chiếu cho Triệu Tiết rằng: “Gần đây sai Lý Hiến đem phép kết đội mới định cùng quy chế thưởng phạt đến cho khanh, cùng bàn kỹ xem có thể thi hành được không, và nhân đó lập tướng quân[13], đổi cách bày trận. Trẫm nghĩ khanh ắt đã hiểu rõ ý đồ của triều đình, nếu gần đây có thể xong, nên sai Lý Hiến đem về kinh.”
Bấy giờ, Triệu Tiết tâu rằng:
“Thần xét kỹ phép bày trận, lấy việc kết đội làm đầu. Theo phép của Lý Tĩnh, năm mươi người làm một đội, mỗi ba người tự chọn người hợp ý để kết thành một tiểu đội, hợp ba tiểu đội thành một trung đội, hợp năm trung đội thành một đại đội, còn lại áp quan, đội đầu, phó đội đầu, tả hữu khiêm kỵ năm người thì đủ năm mươi người, cùng dựa vào nhau mà bày trận.
Phàm các đội đầu đánh nhau với giặc, tả hữu khiêm kỵ phải gấp tiến lên cứu viện; nếu tả hữu khiêm kỵ bị giặc vây hãm, thì người đi sau phải tiến lên cứu viện; nếu người cứu viện lại bị giặc vây hãm, thì người đi sau nữa phải gấp tiến lên cứu viện. Nếu người đi trước bị giặc mà người đi sau không cứu, thì áp quan, đội đầu lập tức chém đầu. Nay theo chế độ của Thánh thượng: mỗi đại đội hợp năm trung đội, gồm năm mươi người; trung đội hợp ba tiểu đội, gồm chín người; tiểu đội hợp ba người, cũng chọn người hợp ý nhau. Lại chọn một người dũng cảm, giỏi côn làm kỳ đầu, cho tự chọn hai người có tài nghệ và tâm ý hợp với mình làm tả hữu khiêm; kế đó chọn một người dũng mãnh làm dẫn chiến; lại chọn một quân hiệu cầm đao đi sau làm ủng đội.
Phàm trong đội, một người xung phong thì hai người ứng viện; tiểu đội xung phong thì trung đội ứng viện; trung đội xung phong thì đại đội ứng viện; đại đội xung phong thì tiểu đội ứng viện. Nếu do dự, chần chừ không kịp cứu viện, dẫn đến thất bại, thì bản đội do ủng đội quân hiệu[14], đội kế tiếp do bản hạt đội tướng xem xét nguyên nhân không cứu viện, rồi chém đầu. Nếu có trường hợp không thể cứu, hoặc cứu không kịp, hoặc tự mình bị địch tấn công, thân thể bị thương nặng, nhưng không thể cứu được, thì đều không bị tội.
Lý thuyết này tuy giống với cổ nhân, nhưng cách áp dụng càng tinh vi hơn. Đây chính là do trời ban cho Bệ hạ dũng khí và trí tuệ, không cần học mà tự nhiên thành thạo.
Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng cứ 45 người thì có một người đứng đầu, không bằng cứ 5 người thì có một người đứng đầu sẽ chặt chẽ hơn. Hơn nữa, nếu cứ 5 người thì có một người đứng đầu, tức là 50 người sẽ có 10 người đứng đầu, suy rộng ra đến trăm ngàn vạn người, thì số người đứng đầu sẽ nhiều mà sự thống nhất chỉ huy sẽ không được đảm bảo. Đến như chế độ nhà Chu: 5 người là một ngũ, thuộc về tỷ trưởng; 5 ngũ là một lưỡng, thuộc về lư tư; 4 lưỡng là một tốt, thuộc về tộc sư; 5 tốt là một lữ, thuộc về đảng chính; 5 lữ là một sư, thuộc về châu trưởng; 5 sư là một quân, thuộc về mệnh khanh. Điều này giống như chế độ quân đội hiện nay, 100 người là một đô, 5 đô là một doanh, 5 doanh là một quân, 10 quân là một sương. Từ chức Sương đô chỉ huy sứ trở xuống, mỗi cấp đều có tiết cấp, có viên phẩm, cũng giống như chức vụ tỷ trưởng, lư tư, tộc sư, đảng chính ngày xưa.
Có ý kiến cho rằng chế độ thập ngũ, đối với pháp đô thì thuận tiện, nhưng pháp đô e rằng không phải là thuật quyết thắng khi đối mặt với kẻ địch trên chiến trường. Huống chi, phép bát trận đã lâu không còn được truyền lại, thánh chế nay đã đổi mới hoàn toàn, xét theo những điều nghe trước đây, thì thấy phù hợp như khớp với phù tiết. Bởi vì pháp chế đã định sẵn, dễ dàng để điều khiển người. Địch thích đánh vào chỗ hư, ta dùng hình hư để đối phó; địch thích dựa vào thực, ta dùng hình thực để đối phó.
Nhưng chỗ đánh của địch không phải là chỗ hư của ta, chỗ dựa của địch không phải là chỗ thực của ta, nên ta có thể khiến địch mệt mỏi, đói khát, bất an, đó chính là điều khiển được người mà không bị người điều khiển. Thần may mắn được nghe lời huấn dụ, sớm tối suy nghĩ, bỗng có chút kiến giải, không dám không trình bày hết.”
(Điều này căn cứ theo sự việc tháng 10 trong quyển thứ tư của 《Binh chí》 ghi chép thêm, cần xem xét thêm. Hiệu khám ký.)
- Đến tháng 8 năm thứ 8 lại khôi phục, 'năm thứ 8', 《Tống sử》 quyển 94 chí về sông ngòi, 《Tống hội yếu》 phần phương vực 16-24 ghi là 'năm thứ 7'. ↵
- Tôn Cấu, chữ 'Cấu' nguyên bản là 'Giác', căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 331 bản truyền sửa lại. ↵
- Nghị giả tranh nhau đưa ra ý kiến, chữ 'tranh' nguyên là 'hỗ', theo《Tống hội yếu》Thực hóa 7-28 sửa ↵
- Sấm nguyên là chữ Bí, theo 《Tống sử》 quyển 468, truyện Trình Phưởng sửa lại ↵
- Cộng nguyên là chữ Kỳ, theo văn trên và 《Tống sử》 quyển 86, chí Địa lý sửa lại ↵
- 'Môn' nguyên bản viết là 'lệnh'. Xét: Nhà Tống không có chức quan 'Ty lệnh viên ngoại lang' mà có Ty môn viên ngoại lang, xem 《Tống sử》 quyển 163, chí về chức quan, và 《Tống hội yếu》 chức quan 15-47, căn cứ đó sửa lại. ↵
- 'Kì' nguyên bản viết là 'Vãng', căn cứ vào các bản khác và bản in hoạt tự sửa lại. ↵
- 'Hoàn' nguyên là 'Thiên', theo bản khác sửa lại. ↵
- Tư nông tự 'Tự' dưới nguyên có thêm chữ 'ty'. Xét: Thời Tống có Tư nông tự mà không có 'Tư nông tự ty'. Năm Hi Ninh thứ 3, chiếu cho Tư nông tự giảng hành các phép về nông điền thủy lợi, miễn dịch, bảo giáp, xem 《Tống sử》 quyển 165, Chức quan chí, 《Tống hội yếu》 Chức quan 26-4. Chức trách của nó phù hợp với việc kể dưới đây, chữ 'ty' ở đây rõ ràng là thừa, nên bỏ. ↵
- 'Thích' nguyên là 'dịch', theo 《Tống sử》 quyển 191, Binh chí sửa. ↵
- Chữ 'Thẩm' nguyên bản viết là 'phiền', căn cứ theo các bản khác sửa lại. ↵
- 'thổ đinh động đinh', chữ 'thổ' nguyên là 'thượng', chữ 'động' nguyên là 'tự', theo bản hoạt tự và 《Tống sử》 quyển 191, 《Binh chí》 sửa lại. ↵
- Nhân đó lập tướng quân, chữ 'quân' nguyên là 'quan', theo 《Tống sử》 quyển 198, chí binh sửa lại. ↵
- Bản đội do ủng đội quân hiệu, chữ 'do' nguyên là 'ngưỡng', theo 《Tống sử》 quyển 195, 《Binh chí》 sửa lại. ↵