VI. TỐNG THẦN TÔNG
[BETA] QUYỂN 258: NĂM HI NINH THỨ 7 (GIÁP DẦN, 1074)
Từ tháng 11 năm Hi Ninh thứ 7 đến hết tháng 12 cùng năm.
[1] Tháng 11, ngày Ất Mùi, mùng một, Vua phê: “Lưu Định trước đây đã vội vã đến Kinh Châu để xem xét tình hình các xạ thủ cung tên và bộ lạc phiên có cần cứu tế hay không, đến nay đã nhiều ngày, lo sợ rằng sẽ quá thời gian, có thể dẫn đến việc họ bỏ trốn hoặc chết đói, nên nhanh chóng báo cáo.” (Ngày 9 tháng 9 đã cử Lưu Định đi.)
[2] Vua phê: “Đã nhiều lần ra lệnh, yêu cầu Cục Quân khí trình bày chế độ xe chiến có thể sử dụng, đến nay vẫn chưa thấy trình lên, nên lệnh cho họ nhanh chóng xác định và trình bày.” (Ngày 20 tháng 8 có ghi chép về luận điểm của Thẩm Quát, đó là xe dân dụng, có thể tham khảo.)
[3] Ngày Bính Thân, quan Nội cung phụng Lý Thuấn Cử tâu: “Lưu Thầm và các người khác đã thảo luận với Tiêu Tố và Lương Dĩnh về vấn đề biên giới, nhưng lời nói không rõ ràng, dù có khai triển cũng mất nhiều cơ hội. Đã có báo cáo xin chuyển văn bản để xử lý, mong sớm có quyết định.” Chiếu chỉ thay Lữ Đại Trung thay Tiêu Sĩ Nguyên.
Ban đầu, Đại Trung đã nhận mệnh, nhưng vì tang cha nên từ chức, tháng 9 năm đó, chiếu chỉ bãi tang, tạm mặc áo tang, cùng Lưu Thầm bàn bạc kín, không gặp người phương Bắc. Đến lúc này, vì lời tâu của Thuấn Cử, bãi chức Sĩ Nguyên về Hãn Châu, khởi phục Đại Trung làm Tây thượng các môn phó sứ, tri châu Thạch Châu, gặp người phương Bắc. Theo yêu cầu của Đại Trung, cho phép không nghe nhạc, đợi ăn xong họp bàn.
(Đại Trung để tang cha, khoảng tháng 6. Sau khi chôn cất xong mới khởi phục, khoảng tháng 9. Tuy nhiên, ngày 13 tháng 9, chiếu chỉ Lưu Thầm và Tiêu Sĩ Nguyên họp với Tiêu Tố và Lương Dĩnh ở Đại Hoàng Bình, vẫn nói Đại Trung vì tang không đến. Theo tập của Đại Trung, ngày 20 tháng 10, Đại Trung đến Đại Châu. Việc ông đến Đại Hoàng Bình bàn bạc kín với Thầm, khoảng ngày 22 tháng 10, và ngày 2 tháng này, mới ra gặp Dĩnh và Tố. Không biết lời của Lý Thuấn Cử nói “lời nói không rõ ràng” chỉ Sĩ Nguyên, hay cả Thầm? Nếu Đại Trung đã bàn bạc kín với Thầm, thì “lời nói không rõ ràng”, Thầm cũng có liên quan, nhưng nay chỉ bãi Sĩ Nguyên, có vẻ “lời nói không rõ ràng” chỉ Sĩ Nguyên.)
Trước đó, Tố và Dĩnh tỏ ra khá cứng đầu, không chịu gặp Thầm và Sĩ Nguyên. Một ngày nọ, người Phiền đột nhiên dẫn quân vạn người vào địa phận Đại Châu, đốt phá nhà cửa, giao chiến với quân triều đình. Sau đó, Tố và Dĩnh tiến thẳng vào Hoành Đô Cốc, dựng trướng mạc, mời Thầm và những người khác đến gặp, nhưng Thầm và những người khác không đến. Họ lại muốn đóng quân ở Tây Hình Đông Cốc, nhưng Thầm và những người khác cho rằng địa phận xâm phạm quá sâu nên không đồng ý, cuối cùng họ hội họp ở Đại Hoàng Bình. Không rõ “cuối cùng hội họp ở Đại Hoàng Bình” là ngày tháng nào, theo tập của Lữ Đại Trung thì là ngày 22 tháng 10[1], nhưng e rằng không phải là lần họp đầu tiên. Tây Hình Đông Cốc tức là Xa Trường Câu. Tổng cộng xuất hiện ba bốn lần[2].
Ban đầu, họ định lấy dãy núi phân thủy ở ba châu Uất, Ứng, Sóc làm ranh giới. Thầm và những người khác cùng Tố, Dĩnh đi xem xét, không thấy có dãy núi, Tố và Dĩnh chỉ nói lấy dãy núi phân thủy làm ranh giới. Vì núi nào cũng có dãy núi phân thủy, nếu nói chung chung lấy dãy núi phân thủy làm ranh giới thì đến lúc đó có thể lợi dụng để chiếm đoạt, đó là ý đồ nhỏ của họ. Thầm và những người khác kéo dài cuộc đàm phán, nhưng không thể quyết định được. Khi Đại Trung đến, ông nhiều lần dùng lý lẽ để bác bỏ Tố và Dĩnh, Tố và Dĩnh hơi khuất phục, nhưng cuối cùng vẫn không chịu nghe theo ý kiến của Đại Trung và những người khác.
(Từ “Tố, Dĩnh tỏ ra khá cứng đầu” đến “Lưu Thầm và những người khác kéo dài cuộc đàm phán”, đây là theo sách thực lục ngày 5 tháng 4 năm thứ 8, nay chuyển vào đây. Thực lục còn nói Thầm ban đầu vì bệnh nên không đến ngay. Xét Thầm cuối cùng cũng tham gia hội nghị với Tố và Dĩnh, không thấy ghi chép về việc Thầm bị bệnh, nay bỏ đi không ghi lại.
Đại Trung “dùng lý lẽ để bác bỏ Tố và Dĩnh, Tố và Dĩnh hơi khuất phục”, đây là theo hành trạng của Đại Trung và phụ truyền của Đại Trung trong thực lục thời Huy Tông. Ngày 28 tháng này, Lưu Thầm và những người khác xin cử Quách Quỳ đi tuần biên, theo lời Thầm nói thì Tố và Dĩnh cuối cùng vẫn không chịu phục, truyện của Đại Trung nói hơi khuất phục, có lẽ là lời nói khoa trương. Ngày 17 tháng 3 năm thứ 8, Đại Trung bị cách chức.)
[4] Sứ quân Khả Lam, Phó sứ Tả tàng khố Tây Kinh Lưu Quản bị giáng một bậc, Thông phán, Thừa Đại Lý tự Tưởng Thừa Chi bị kéo dài thời gian khảo hạch hai năm. Vì liên quan đến việc khảo sát đất hoang, có kiện tụng về việc hộ nữ chiếm đất tuyệt hộ hơn nghìn khoảnh, điều tra không chính xác, và không xem xét việc quan lại nhận hối lộ.
[5] Cấp 500 độ điệp cho Tăng nhân, giao cho Ty chuyển vận lộ Hà Đông để tu sửa thành trì.
[6] Ngày Đinh Dậu, Ty chuyển vận và Ty đề cử lộ Hà Bắc Đông tâu: “Thiên tai mùa hạ và thu, miễn thuế từ tám chín phần trở lên, xin hoãn thu thuế và tiền dịch đối với hạng tư trở xuống, cùng với tiền thanh miêu năm trước đã hoãn.” Được chấp thuận. (Bản mực chép ngày Đinh Dậu có ghi: “Thượng phê vấn về người di cư từ Hà Đông và Bắc[3]“, bản chu bỏ đi, nay chuyển vào cuối tháng 4 năm thứ 8.)
[7] Chiếu cho Lệnh huyện Phòng Lăng, châu Phòng là Trương Tồn Trung được về quê. Do Ty chuyển vận lộ Kinh Tây Nam tâu rằng Tồn Trung gửi thư riêng cảm ơn Áp ty và Lục sự nhiệm kỳ trước, và nói về việc Tri châu Kì Nguyện nhờ mua đất. Sau khi cách chức Tồn Trung, Nguyện bị xử tội và tâu lên.
[8] Phó Đô tổng quản lộ Định Châu, Đô ngu hậu Bộ quân Dương Văn Quảng qua đời, được tặng chức Quan sát sứ Đồng Châu. Văn Quảng lúc đó dâng trận đồ và tình hình chiếm U Yến nhưng chưa được phúc đáp.
[9] Ngày Mậu Tuất, ban sắc thư khen ngợi và 200 lượng bạc, 200 tấm lụa cho Quyền phát khiển Phó sứ phát vận các lộ Giang, Hoài là Trương Giáp. Trước đó, Chương Đôn tâu rằng việc sắp xếp ở Mai Sơn thực sự do Giáp đề xuất. Chiếu cho Giáp trình bày chi tiết việc tấu trước, nên có ban thưởng này. (Ngày 27 tháng 3 năm thứ 6, được bổ làm Phó sứ phát vận, ban 300 tấm lụa, cần xem xét lại.)
[10] Kiểm chính Trung thư ngũ phòng công sự Lý Thừa Chi tâu: “Xét lại Hình bộ, Đại Lý tự, số lượng quan viên phụ trách xét xử và phúc thẩm nguyên có 12 người, năm Hi Ninh thứ 5 tăng thêm 2 người, nay lại đặt thêm 9 người tập học công sự, trong vòng hai ba năm, đều được cải làm kinh quan. Xin quy định lại số lượng quan viên cần thiết của các cơ quan.” Chiếu rằng từ nay Đại Lý tự quan tường đoạn và tập học quan không quá 14 người, Hình bộ quan tường phúc và tập học quan không quá 6 người, người ngoài ngạch hết năm không bổ sung.
[11] Tri châu Diệu là Diêm Sung Quốc xin chiêu mộ dân lưu tán tu sửa đê nước Thiêm, chiếu cho kho tỉnh cấp đậu và thóc mỗi thứ một vạn thạch.
[12] Ngày Kỷ Hợi, Tam ty sứ Chương Đôn[4] xin giảm bỏ Đô khổng mục quan, Câu phúc quan mỗi chức một người, tuyển 3 người làm chủ bạ ba bộ. Chiếu cho phép tiến cử kinh quan và tuyển nhân. Tháng 10 năm sau, Chương Đôn thôi chức Tam ty sứ[5], việc này có thể tra cứu trong chương tấu của Đặng Oản. (《Chức quan chí》 chép: Chương Đôn cho rằng đã đặt chủ bạ thì việc tiếp nhận, thúc giục và kiểm tra sổ sách đều có thể làm được, do đó tấu xin bỏ Ty Khai sách. Đến khi tái lập Ty Khai sách, lại đặt chủ bạ.)
[13] Vua phê: “Sông Biện vẫn bị tắc nghẽn như trước, có thể sai Trình Phưởng khẩn trương đi xem xét, khơi thông, sớm cho thông suốt.” (《Ngự tập》.)
[14] Ngày Canh Tý, Hà Đông sát phỏng sứ, Công bộ viên ngoại lang, Tập Hiền điện tu soạn, Kiểm chính Trung thư ngũ phòng công sự Lý Thừa Chi được làm Bảo Văn các đãi chế, Hà Bắc Tây lộ sát phỏng sứ, thay cho Thẩm Quát. Vì sắp cử Quát đi sứ Liêu, nên trước có mệnh lệnh này.
[15] Đoan Minh điện học sĩ, kiêm Hàn Lâm thị độc học sĩ, Long Đồ các học sĩ, Tri châu Hà Dương Hàn Duy bị bãi chức Đoan Minh điện học sĩ. Do Thị ngự sử tri tạp sự Trương Hổ tâu rằng Duy cùng Tôn Vĩnh định việc miễn tiền hành không đúng, nên bị khiển trách.
[16] Lưu Định, quan chức phụ trách công việc thường bình đẳng ở Hà Bắc Tây lộ, xin hàng năm tổ chức thi tuyển bảo giáp. Triều đình ra chiếu cho Tư nông tự cùng Binh bộ quy định số người được dẫn kiến từ phủ Khai Phong và các lộ hàng năm, rồi tâu lên.
[17] Triều đình ra chiếu cho Ngự sử đài và Cáp môn chỉnh đốn nghiêm ngặt nơi cấm vệ, trong các đại lễ, những người thuộc hàng ngũ văn võ phụ trách công việc ra vào khu vực cấm vệ phải giữ gìn trật tự nghiêm ngặt, không để lộn xộn; nếu có chỗ phòng bị chưa chu đáo, cần chi tiết các điều lệ rồi tâu lên.
[18] Ngày Tân Sửu, phong Khai châu đoàn luyện sứ Trọng Yêm làm Văn châu phòng ngự sứ, Trì châu đoàn luyện sứ Thế Bản làm Tú châu phòng ngự sứ, Hữu thiên ngưu vệ tướng quân Trọng Giam và Trọng Kham đều làm Hữu giám môn vệ đại tướng quân. Vì họ đã thi đỗ ở học sĩ viện.
[19] Quyền đề điểm hình ngục lộ Tần Phượng là Trịnh Dân Hiến dâng lên sổ sách và bản đồ ruộng đất ở Hi Hà. Triều đình liền ra chiếu cho Dân Hiến kiêm chức Đô đại đề cử Hi Hà lộ doanh điền cung tiễn thủ. Sách 《Hội yếu》 chú rằng: Đất Hi Hà nhiều ruộng tốt[6], triều đình giao cho việc khai khẩn ruộng đất, tâu xin bổ nhiệm quan lại để thực hiện công việc. Đến lúc này, mới đem sổ sách và bản đồ vào tâu. (《Bản chí》 chép: Dân Hiến đem sổ sách và bản đồ vào tâu, nên phong Dân Hiến kiêm chức Đô đại đề cử Hi Hà lộ doanh điền cung tiễn thủ. Ngày 13 tháng 3 năm thứ 9, Dân Hiến tâu việc này, rồi ngày 19, lại ngày 19 tháng 6. Cần xem năm tháng bắt đầu khai khẩn ruộng đất. Lại ngày 12 tháng này, Dân Hiến được thăng chức; lại ngày 9 tháng 12, Thư Thiện được đổi chức. Lúc đầu sai Dân Hiến đi, vào ngày 8 tháng 3.)
[20] Ngày Nhâm Dần, triều đình ra chiếu từ nay các quan kinh đô làm kiểm chính, kiểm tường quan, một năm sau sẽ xin chỉ.
[21] Đặng Nhuận Phủ, tri gián viện, tâu rằng: “Ty ứ điền dẫn nước sông để bồi đắp ruộng ở huyện Toan Tảo và Dương Vũ, đã huy động bốn năm mươi vạn binh lính, sau vì đất thấp khó bồi đắp nên dừng lại. Các quan lại phụ trách ban đầu không xem xét kỹ mà vội huy động phu dịch, xin trị tội.” Triều đình ra chiếu sai quan đề điểm phủ giới là Thái Xác điều tra sự thật rồi tâu lên. Sau đó, Xác tâu rằng các quan kiểm kế và án phúc trước đây có việc không đúng sự thật, triều đình sai Khai Phong phủ xét hỏi tất cả.
[22] Chiếu giáng chức Mã quân phó đô chỉ huy sứ Giá Quỳ, Tuần kiểm tả sương trong thành cũ Tôn Cát, Tuần kiểm hữu sương Trương Trung mỗi người một bậc; Bộ quân phó đô chỉ huy sứ Tống Thủ Ước, Tuần kiểm tả sương trong thành mới Cố Hưng, Tuần kiểm hữu sương Thạch Nham, Phán quan phủ Khai Phong Ngô Kỷ Phục, Câu đương công sự tả sương trong thành cũ Ngụy Trung Phu mỗi người phạt 40 cân đồng. Vì tội không thể cứu được vụ cháy ở Tam ty.
[23] Ngày Quý Mão, chiếu phạt Đồng quản câu Ngoại đô thủy giám thừa Trình Phưởng 30 cân đồng. Phưởng được chỉ đi xem xét việc sông nhưng không thân hành đi, khi bị hặc tội, lại nói là hiểu lầm chỉ dụ triều đình, nên được đặc cách phạt theo đức ân.
[24] Ngày Ất Tỵ, chiếu cho Nội tàng khố mượn 3 triệu quan tiền, giao cho Tam ty mua diêm sao ở Thiểm Tây.
[25] Ngày Bính Ngọ, chiếu thăng chức Khố bộ viên ngoại lang, Quyền đề điểm hình ngục lộ Tần Phượng Trịnh Dân Hiến một bậc; Nội điện thừa chế Trần Ngọc, Giang Duy Chính mỗi người giảm thời gian khảo khóa 3 năm; Chủ bạ huyện Trần Lưu Chu Ngạn Sùng, Huyện úy huyện Lâm Hải Thư Thiện mỗi người thăng hai bậc. Vì Dân Hiến đã khảo sát được 10.206 khoảnh đất ở các châu Hy, Hà, Dân, chiêu mộ được hơn 5.000 cung tiễn thủ, tổ chức thành 36 chỉ huy, cho vay lương thực, xây dựng đồn lũy, sửa chữa nhà cửa, Ngọc và những người khác đều có công lao. Ngày mùng mười, Dân Hiến vào chầu.
[26] Tam ty tâu: “Xem xét diêm sao ở hai lộ Tần Phượng, Vĩnh Hưng, mỗi năm lấy 1,8 triệu quan làm hạn mức.” Được chấp thuận.
[27] Chiếu sai 30.000 phu xuân ở phủ Đại Danh, châu Đức, châu Bác sửa chữa thành phủ Đại Danh, quy định các huyện cách phủ Đại Danh trong vòng 300 dặm phải điều động, nếu không đủ thì xin chỉ dụ; ủy cho Văn Ngạn Bác làm Đề cử, hoàn thành trong 2 năm.
[28] Ngày Đinh Mùi, Đồng tri Gián viện Phạm Bách Lộc tâu: “Trước đây, Đô thủy giám thừa Vương Hiếu Tiên dâng kế sách, đề nghị đào sông Hoàng Hà ở địa phận huyện Triều Ấp, châu Đồng để khai thác vùng đất mặn An Xương. Khi thả nước sông, vùng đất mặn đều là cao nguyên nên nước không tới được, lại tràn vào ruộng lúa mùa thu của 1.900 hộ thuộc 10 xã như Vĩnh Phong ở hương Trưởng Phong, huyện Triều Ấp, làm ngập 360 khoảnh ruộng.” Triều đình xuống chiếu cho Lưu Định và Chu Trực Nhụ điều tra tâu lên. Sau đó, Trực Nhụ tâu: “Hiếu Tiên do việc đắp đê ngăn nước không vững, làm hư hại ruộng lúa của dân, xin đợi đến ngày ban thưởng sẽ xin chỉ dụ. Và xin miễn thuế hạ cho các hộ bị ngập nước.” Triều đình đồng ý.
[29] Vua phê: “Nghe nói ở lộ Hi Hà, việc chiêu mộ cấm quân xây thành làm cản trở việc luyện tập, gần đây đã có chỉ dụ bãi bỏ, nên lệnh cho Tổng quản ty răn đe các quan quân lo việc luyện tập.”
[30] Ngày Mậu Thân, Đề cử mua trà phủ Thành Đô, lộ Lợi Châu là Lý Kỷ tâu: “Xin cử năm viên quan Kinh triều hoặc Ban hàng, Tuyển nhân để đảm nhiệm công việc.” Triều đình đồng ý.
[31] Xuống chiếu cách chức một bậc và bãi chức của Quyền tri châu Sở, Giá bộ viên ngoại lang Bàng Nguyên Lễ, Thông phán châu sự, Đồn điền viên ngoại lang Ngụy Ứng Thần, Lục sự tham quân Lự Lương Thần; Tư pháp tham quân Trương Dụ bị thay chức, vì xử án sai khiến 56 người bị đi đày vì tội buôn bán muối lậu, đáng lẽ được ân xá nhưng bị trách phạt đặc biệt.
[32] Lữ Đại Trung tâu: “Ở ngoài sông có hai ba tên thổ hào, vốn thường kết giao với quyền quý phương Bắc, muốn tự bỏ tiền của để thăm dò tình hình, nếu có kết quả, xin triều đình ban ân.” Triều đình đồng ý.
[33] Xuống chiếu cho Quyền phát khiển Chuyển vận phó sứ lộ Kinh Tây Bắc là Lý Nam Công chuẩn bị hai ba vạn thạch lúa mì để cung cấp giống lúa mì cho dân lộ Hà Bắc Tây.
[34] Ngày Kỷ Dậu, xuống chiếu rằng từ nay quan Phán Thái thường tự không cần đến Lễ viện, nếu có việc bàn bạc, quan Lễ viện đến Thái thường tự thương lượng. Theo lời thỉnh cầu của Đồng phán Thái thường tự là Thường Trật.
[35] Ngày Đinh Tỵ, tế lễ ở cung Cảnh Linh.
[36] Ngày Mậu Ngọ, tế lễ ở tám nhà thờ tổ.
[37] Ngày Kỷ Mùi, ngày Đông chí, tế trời đất ở đàn Viên Khâu, lấy Thái Tổ làm chủ tế, đại xá thiên hạ.
[38] Sứ giả Sát phỏng sứ Thẩm Quát của Hà Bắc Tây Lộ tâu: “Việc sửa chữa thành trì, xin bắt đầu từ những nơi biên giới cấp bách. Lại xin tạm ngừng việc sửa chữa thành trì ở Thâm Châu, đồng thời chiêu mộ những hộ thiếu ăn, cùng nhau sửa chữa và mở rộng thành Triệu Châu.” Triều đình đồng ý.
[39] Ngày Canh Thân, Viện Xu mật tâu: “Các võ thần phạm tội chưa đến mức bị truất chức nhưng bị đặc chỉ giáng chức mà không bị cách chức, thì thời hạn phục chức của họ so với người bị truất chức và cách chức, mỗi người được giảm một kỳ. Nếu bị giáng ba chức trở lên thì vẫn phục chức trong ba kỳ.” Triều đình đồng ý.
[40] Ngày Nhâm Tuất, Lưu Thầm và những người khác phụ trách việc thương lượng địa giới ở Hà Đông Lộ tâu: “Người phương Bắc xâm phạm trộm vào Hoành Đô Cốc, các quan biên giới do dự, không lập tức đuổi đi. Giữa tháng bảy, họ lại xâm chiếm Đại Hoàng Bình, dù đã gửi thư chất vấn, nhưng họ vẫn ngang ngược như cũ. Họ lại muốn tiếm lễ ngồi chính diện, không coi ta là chủ nhà, may nhờ triều đình không nghe theo, mới phần nào ngăn chặn được ý đồ gian ác của họ. Nay họ đã đóng trại ở Xa Trường Câu, có vẻ như đã có ý thuận theo, ta nên lợi dụng thanh thế để thúc ép họ. Người phương Bắc thường mong ta nhân nhượng, một khi thấy ta có hành động như vậy, họ ắt sẽ động lòng, cùng ta hội nghị, hy vọng có thể đạt được thỏa thuận. Xin triều đình tạm thời lệnh cho Quách Quỳ lấy cớ tuần tra biên giới, tạm đóng quân ở Đại Châu, cùng nhau ứng phó với việc biên giới.” Không được trả lời. (Ngày 22 tháng 2 năm sau, chủ trại Tây Hình là Tần Hoài Tín mới được điều động. Ngày 13 tháng 9 năm nay, mới có chiếu cho Lưu Thầm và những người khác hội nghị ở Đại Hoàng Bình. Ngày 2 tháng 11, Lý Thuấn Cử tâu, cần xem xét.)
[41] Tháng 12, ngày Bính Dần, có chiếu giảm bớt 141 quan chức ở ba châu Hi, Hà, Dân[7], giữ lại 57 người. Theo yêu cầu của Kinh lược sứ Vương Thiều và Đô chuyển vận sứ Hùng Bản.
[42] Chiếu rằng tường miếu tăng thêm năm thước, không được phá hủy nhà dân gần đó. Ban đầu, nội thị Dương Duy Hiền xin tăng tường miếu và để lại tuần đạo một trượng, nhưng thị cấm Trương Tòng Đạt tự tâu: “Năm Khánh Lịch, từng theo chiếu chỉ triều đình cho phép nhà riêng có mái hiên gần tường miếu, tuy lệnh phá sửa, nhưng cho phép cách tường gạch ba thước năm tấc để dựng nhà, để lại tuần đạo, nay xin miễn phá dỡ.” Vì thế có chiếu này. Sau đó, Tướng tác giám tâu: “Nếu dựa trên tường cũ mà tăng cao, e rằng không vững chắc, cần phá tường cũ, mở rộng nền tường, nhưng sợ xâm phạm nhà dân.” Chiếu trước đó bị bãi bỏ.
[43] Hữu Vũ vệ Đại tướng quân, Đạo châu Thứ sử Trọng Mân, cha là Tông Thuyết vì tội nội loạn bị giam ở nơi khác, Trọng Mân nhiều lần dâng sớ xin ân xá. Đến lúc này, nhân buổi chầu, ông quỳ khấu đầu dưới điện, khóc xin cha già lại ốm yếu, nguyện nộp hết chức quan cả đời để chuộc cha, Vua cũng thương xót, tha tội đường đột. Chưa được trả lời, ông lui ra, lên ngựa, khí nghẹn không nói được, về đến nhà thì mất. Được truy tặng Đồng châu Quan sát sứ, Phùng Dực hầu.
[44] Ngày Đinh Mão, văn vũ bách quan đều được gia ân theo chiếu xá tội Nam Giao.
[45] Quan Văn điện Học sĩ, kiêm Đoan Minh điện Học sĩ, Long Đồ các Học sĩ, Lễ bộ Thị lang, Tri Hi châu Vương Thiều được bổ làm Xu mật phó sứ. Ban đầu, Vương Thiều đề nghị xây thành Tạt Nam, chiếu bãi bỏ, chỉ lệnh tu sửa xong hai thành Hi, Hà, giảm quân đồn trú, tiết kiệm lương thực, để tính kế lâu dài, và nói: “Mong khanh sớm về triều ra sức.” Vì thế, triệu về kinh, chưa đến nơi thì có mệnh này. (Việc bãi bỏ xây thành Tạt Nam, căn cứ theo Lữ Huệ Khanh chép trong mộ chí của Vương Thiều. Chưa đến kinh sư đã được bổ làm Xu mật phó sứ, căn cứ theo 《Ngự tập》. Ngày cuối tháng 11, mới sai người mang trà, thuốc ban cho Vương Thiều dọc đường.)
[46] Quan văn điện học sĩ, Hộ bộ thượng thư, Tri Ứng Thiên phủ Trương Phương Bình được bổ làm Tuyên huy bắc viện sứ, Phán Ứng Thiên phủ. Phương Bình từ chối nói: “Chức Tuyên huy sứ, nếu không phải là nhiệm vụ đặc biệt thì không bổ nhiệm. Thần xin được về quê nhà để tiện việc riêng mà được bổ nhiệm chức này, e rằng sẽ mở đường cho sự may rủi.” Vua nói: “Trẫm chưa nghĩ đến điều đó.” Bèn sai đổi chức với Hàn lâm thị độc học sĩ, Tri Thanh Châu Đằng Phủ. Sau đó, Phương Bình cuối cùng không đi, trở về Viện Tuyên huy nhận chức. (Việc Phương Bình và Phủ đổi chức cho nhau diễn ra vào ngày Giáp Tuất (11), nay ghi chung lại. Việc trở về Viện Tuyên huy nhận chức xảy ra vào ngày 23 tháng giêng năm thứ 8.)
[47] Đồng Phán Ty Nông tự Trương Ngạc tâu: “Các văn thư của Giám ty Lộ Hà Đông gửi lên tỉnh, nếu có liên quan đến Ty Nông thì không cùng ký tên. Nghe nói Chuyển vận sứ Triệu Tử Kỷ và Đề điểm hình ngục Dương Hủ công khai chỉ trích lẫn nhau, ý kiến bất đồng, khiến các châu huyện lo lắng. Xin dời một người đi nơi khác và bổ nhiệm người khác.” Thị ngự sử tri tạp sự Trương Hổ[8] cũng tâu rằng Tử Kỷ ngang ngược, Hủ khinh suất, đều không thể giao trọng trách, xin đổi cả hai sang lộ khác và cử quan khác điều tra xử phạt. Chiếu cho Sát phỏng ty Lộ Hà Đông xác minh sự việc rồi tâu lên.
[48] Tam ty xin từ năm sau trở đi, lương thực thượng cung của Lộ Kinh Đông không đổi thành tiền, vẫn tính như cũ để đổi thành gạo, và đóng gói tại các châu quân gần sông ở Hà Bắc để phòng khi cần dùng ở biên giới. Được chấp thuận.
[49] Ty Chuyển vận Lộ Tử Châu tâu rằng đã chiêu dụ được mười quận tám họ như Trưởng Ninh ở vùng núi trước sau Dục Tỉnh giám cùng các bộ tộc Vũ Đô[9] quy phụ. (Cuối năm thứ 8, thực lục lại chép việc người Di dâng mười châu đất Trưởng Ninh, thuộc Dục Tỉnh giám Lộ Châu, có lẽ là ghi chép trùng lặp.)
[50] Đoàn luyện sứ Dân Châu, Tri Dân Châu Cao Tuân Dụ được bổ nhiệm làm Long Thần Vệ Tứ Sương Đô Chỉ Huy Sứ, Tri Hi Châu; Khách tỉnh sứ, Tri Thông Viễn Quân Trương Thủ Ước được bổ nhiệm làm Tri Dân Châu; Tả tàng khố phó sứ, Hà Bắc đệ thập bát tướng Dương Phục kiêm chức Cáp môn thông sự xá nhân, quyền Tri Thông Viễn Quân.
[51] Vinh Châu đoàn luyện sứ Triệu Tư Trung vào từ biệt, chiếu lệnh cho Tư Trung làm Tần Châu kiềm hạt, không xử lý công việc. Tư Trung xin nhà ở, Vua nói: “Đã xây dựng chỗ ở cho ngươi, khi đến sẽ hoàn thành.” Xin xây hai ba pháo đài, Vua nói: “Triều đình chưa biết chỗ xây, sẽ có chỉ dụ sau.” Lại xin quản lý bộ lạc phiên thuộc Hi Hà lộ và đặt quán rượu, ban ruộng, chiếu lệnh cho Kinh lược ty xem xét tâu lên. (Ngày 17 tháng 6 năm thứ 8, không cho phép.) Lại xin ban danh hiệu cao cấp cho A Lý Cốt, chiếu lệnh cho rằng đây là bộ lạc phiên thuộc họ Triệu, đợi lập công sẽ ban. Lại xin tấm khiên và cờ, chiếu lệnh ban 10 lá cờ và 10 tấm khiên. Lại xin bảng vàng cho tăng nhân phiên, được chấp thuận. Mẹ Tư Trung xin cho con trai Kế Trung tu sửa nhà ở Hà Châu, chiếu lệnh đợi bản lộ xem xét. Vợ Kết Thi qua đời, xin tăng phong ấp, chiếu lệnh thăng lên Quận quân. Vợ Du Long Thất xin cho Ba Ngạc Đa Nhĩ Tế và Ba Lặc Sách Nặc Mộc được chức vụ như Đổng Cốc, chiếu lệnh thăng một bậc. Lại xin ban tên, bèn ban tên Trung cho Ba Ngạc Đa Nhĩ Tế, tên Nghị cho Ba Lặc Sách Nặc Mộc. Lại xin cờ giáo bạc, cũng được chấp thuận. (Ngày 21 tháng 6, ban tên lần đầu. Ngày 27 tháng 12, chém A Lý Cốt.)
(Sử cũ chép trong truyện Triệu Tư Trung và phụ truyện đều nói: Năm thứ 8, làm Tần Châu kiềm hạt, không xử lý việc. Tư Trung nhờ Kinh lược ty tự tâu, xin quản lý bộ lạc phiên thuộc Hi Hà, không được chấp thuận. Chiếu lệnh cấp 50 khoảnh đất ở Hi Châu và Hà Châu, Bào thị và Du Long Thất mỗi người 10 khoảnh, khác với bản truyện. Lại thăng làm Hợp Châu phòng ngự sứ, rồi mất. Tư Trung mất năm thứ 10. Xét theo thực lục, ngày 4 tháng 12 năm thứ 7 đã bổ Triệu Tư Trung làm Tần Châu kiềm hạt, khác với bản truyện. Lại theo thực lục ngày 4 tháng 4 nhuận năm thứ 8, lại cho Tư Trung làm Tần Châu kiềm hạt, không xử lý việc, theo lệ Hi Châu cấp lương và hỗ trợ, dạy các con chữ Hán. Có lẽ việc Tần Châu năm thứ 7 nên là Hi Châu, cần xem xét kỹ hơn.)
[52] Quyền Đề điểm Tần Phượng đẳng lộ hình ngục Trịnh Dân Hiến tâu: “Hi Hà lộ chiêu mộ cung tiễn thủ, tuy đã cấp cho mượn trâu bò, hạt giống, nông cụ, nhưng năm nay vào khoảng giao mùa hạ thu mới được nhận ruộng, những người thiếu nông cụ, hạt giống, xin cho phép mượn kho tỉnh và chi một vạn lạng bạc tu thành ở Hi Châu, cùng ba vạn quan tiền, lụa, lĩnh đã phong kho của Kinh lược ty, Chuyển vận ty để tiếp tục cho mượn, đợi đến mùa thu hoạch sẽ cho trả bằng lương thảo.” Được chấp thuận.
[53] Tri Tề châu Lý Túc Chi tâu: “Đề cử Thường bình đẳng sự Ngô Cảnh, xét thần khi trước nhậm chức ở Thanh châu có vi phạm pháp luật, không công bằng, nay Cảnh thu nhận quan kỹ của Vận châu là Ngụy Tại Gia và nợ công tư của Vận châu mấy ngàn quan.” Chiếu cho Chuyển vận ty xét thực rồi tâu lên. Sau đó, Chuyển vận ty tâu là có thực, chiếu cho Cảnh bị cách chức, vẫn bị hặc tội, cuối cùng bị kết tội cho mượn tiền của bộ mình và ăn trộm tiền công, gặp ân xá nên chỉ bị cách chức, vẫn cho làm tản quan. (Việc cách chức xảy ra vào ngày 14 tháng 8 năm thứ 8, nay ghi chung lại. Cảnh là con của Khuê, đã thấy trước đây.)
[54] Chiếu cho những cung tiễn thủ cũ được chiêu mộ ở Kinh Nguyên lộ dời đến Hi Hà lộ, giao cho Đái ngự khí giới Vương Trung Chính liệt kê tên các quan vốn được sai đi chiêu mộ cung tiễn thủ và số lượng đã chiêu mộ để tâu lên.
[55] Ngày Kỷ Tỵ, Tri Từ châu, Binh bộ Viên ngoại lang, Trực Chiêu Văn quán Phó Nghiêu Dũ được cử làm Quản câu Sùng Phúc cung. Nghiêu Dũ trong vòng một năm bị điều động sáu lần, khổ sở vì đường sá, biết mình không được chấp chính dung nạp, bèn xin một chức nhàn, nên có mệnh lệnh này. (Việc này căn cứ theo 《Lã Đại Phòng mộ chí》, cần xem xét thêm.)
[56] Đồng phán Ty Nông tự Trương Ngạc tâu: “Ty Nông tự này tổng lĩnh dân chính, thi hành các việc, bắt đầu từ Kỳ Điện, quan Thường bình càng cần người giỏi. Nay hai viên Đề cử quan ở Phủ giới lại kiêm nhiệm chức Thừa, Chủ bạ của Đô Thủy giám, chức trách không chuyên, xin cho phép chọn hai viên Thừa trong Ty Nông tự kiêm Đề cử quan ở Phủ giới, bãi chức quan của Đô Thủy giám.” Được chấp thuận, sai Tri Ty Nông tự Thừa Trình Chi Tài, Trang Công Nhạc kiêm quản, lại lệnh cho Đô Thủy giám Thừa ty chọn giữ lại một viên trong ba viên Câu đương công sự.
[57] Kinh lược ty lộ Hi Hà tâu: “Từ khi thiết lập lộ Hi Hà đến nay, chỉ có các cử nhân chưa được ban ân điển. Nay có 11 người giữ chức vụ học quan ở hai châu đáng được miễn thi, xin ban ân điển. Nếu thi ở Lễ bộ không đỗ, xin cho phép dự thi Điện thí, còn lại đều được miễn thi.” Được chấp thuận.
[58] Truy phong ông nội của Hoàng thái hậu là Kế Huân làm Khang vương, cha là Tuân Phủ làm Vũ Công quận vương. Trước đây, Hoàng thái hậu nhân dịp tế Nam Giao đã tiến phong ba đời, Vua ban ân sủng cho ngoại gia, nên đặc biệt ban chiếu truy tặng Kế Huân làm Quốc vương, Tuân Phủ làm Quận vương, còn lại theo lệ thường.
[59] Vua phê: “Lý Hiến hiện giữ chức Chiêu tuyên sứ, được ban thưởng nhân dịp tế Nam Giao. Vì Hiến phụ trách viện Ngự dược, ngày đêm làm việc, rất siêng năng, khó theo lệ của tản quan.” Xu mật viện tâu: “Theo quy định tế Nam Giao, Chiêu tuyên sứ trở lên được ban thưởng 40 tấm lụa và 40 lạng bạc.” Vua nói: “Đây là lệ dành cho tản quan không có chức vụ, vẫn ban thưởng 75 tấm lụa và 75 lạng bạc.” (Việc ngày 16 trong《Ngự tập》, nay phụ chép vào đây.)
[60] Người dâng thư tâu rằng lộ Hà Bắc Tây bị thiên tai, xin cử quan đến các châu cầu đảo ở danh sơn, đại xuyên và linh từ.
[61] Trung thư tâu: “Tế lễ Xuân, Thu, tuy theo pháp do quan cấp, nhưng gần đây các huyện thường mượn lợn, dê, hoặc mua thịt ở chợ để tế, xin quy định lại.” Chiếu cho chuyển vận ty lộ Hà Bắc Tây, lệnh các châu huyện từ nay cầu đảo, tế lễ đều theo nghi thức tế tự, dùng tiền tiết kiệm mua lễ vật.
[62] Ngày Canh Ngọ, Thái tử trung doãn, Tập hiền hiệu lý Du Sung được quyền làm Đồng phán quân khí giám. Bản truyền của Sung chép: “Làm chuyển vận phó sứ Hoài Nam về, phán quân khí giám”, là sai. Tháng 7 được bổ làm Hoài Nam, tháng 10 phán giám, chưa đi nhậm chức, không phải về.
[63] Ngày Tân Mùi, Tư pháp tham quân châu Trần, Luật học chính, Tập học công sự phòng Lại bộ Trung thư là Vương Bạch được làm Phụng lễ lang, quyền Kiểm chính phòng Lại bộ. Người tập học ở năm phòng đủ một năm thì được bổ chức, quyền Kiểm chính bắt đầu từ đây.
[64] Chiếu cho Hàn lâm học sĩ, Tri chế cáo đến Trung thư, Xu mật viện bàn việc, được phép đi giày; gặp ngày sóc, vọng và không vì công việc, theo lệ phải mặc áo chỉnh tề.
(Ngụy Thái nói: Theo lệ cũ của Hàn lâm, học sĩ mỗi khi báo việc ở Trung thư, đều đi giày, ngồi ở chính đường, sai viên lại vào báo học sĩ đến; thừa tướng ra đón. Nhưng lễ này đã không thực hiện từ lâu. Chương Đôn làm Tri chế cáo, Trực học sĩ viện, cố gắng muốn thực hiện lại. Gặp một ngày hai chế cùng báo việc ở Trung thư, các học sĩ khác đều đi chân trần cầm hốt, chỉ có Đôn thả tay đi giày. Lệ cũ của Hàn lâm, mười phần bỏ bảy tám, bỗng thực hiện lễ này, gây xôn xao dư luận, mà Trung thừa Đặng Uyển càng buông lời chê bai. Sau đó bãi chức Trực viện của Đôn, và lễ đi giày, sau này cũng không ai dám thực hiện. Lời Ngụy Thái nói, khác với chiếu này, cần xem xét lại.)
[65] Ty Chuyển vận Hoài Nam Đông lộ xin thêm cấp 10 vạn thạch lương thượng cung, để chiêu mộ người đói tu sửa thủy lợi, chiếu cho Ty Nông tự cấp 5 vạn thạch lương thượng cung.
[66] Kinh lược ty Phu Diên lộ tâu rằng cầu phao mới làm ở cửa quan Vĩnh Ninh, Diên Châu đã hoàn thành, ban tên là Ninh Hòa.
[67] Ngày Nhâm Thân, Tri Hi Châu Cao Tuân Dụ được cử làm Đề cử Hi Hà lộ mua ngựa.
[68] Chiếu cho Đại Tông Chính Ty[10], liệt kê tội trạng của tông thất bị giáng chức trước khi ân xá và phụ nữ có tội hoặc bị tước phong ấp, mũ áo, ngừng lương để tâu lên.
[69] Nội tàng khố xin cho Tam ty trong hai năm trả nợ 3 triệu tiền, lụa đã mượn để mua giấy bạc, được chấp thuận.
[70] Xu mật viện tâu rằng, cung nỏ bị hư trong việc tập luyện của quân mã, bộ trong cung, nếu dùng tên thì hao tốn vật liệu, thợ cũng không đủ. Chiếu từ nay các quân bắn xa, võ nghệ bản đẳng và khi xếp hàng dùng cung nỏ tốt, còn lại đều dùng cung nỏ gỗ, lệnh cho Quân khí giám tính toán số lượng để tâu lên.
[71] Chiếu cho quyền Thẩm quan Tây viện chủ bạ, Hi Hà lộ tương độ doanh điền sở câu đương công sự Thư Thiện đặc cách cải làm Phụng lễ lang. Vì quyền Đề điểm Tần Phượng đẳng lộ hình ngục Trịnh Dân Hiến tâu: “Trước đây tương độ doanh điền ở Hi Châu, Thiện làm câu đương công sự, ra sức nhiều nhất, tuy được ơn thăng hai bậc, nhưng vì Thiện từng phạm tội công, theo quy chế thuyên chuyển chỉ được chức quan sơ đẳng. Thần gần đây được thăng chức và giảm ba năm khảo khóa, xin lấy số năm giảm đó để truy thụ cho Thiện đổi làm một chức kinh quan.” Vì thế đặc biệt có mệnh lệnh này. (Ngày 7 tháng 11.)
[72] Ngày Giáp Tuất, Sùng nghi sứ, Gia Châu đoàn luyện sứ, đái ngự khí giới Vương Trung Chánh được làm Tây tác phường sứ, ban thưởng 200 lượng bạc và lụa. Để ghi nhận công lao chiêu mộ cung tiễn thủ ở Tần Phượng đẳng lộ.
[73] Trung thư kiểm hội các quan bị giáng chức, giáng chức vụ, giáng chức sai khiển để xét xử. Chiếu cho Tư phong lang trung Nguyên Tích Trung được phục chức Trực Chiêu Văn quán, theo thứ tự cũ mà sai khiển; Công bộ lang trung Lý Đại Lâm, Tô Tụng đều bị giáng làm Tập Hiền viện học sĩ; Độ chi viên ngoại lang Lã Đại Phòng đợi khi mãn tang sẽ phục chức Tri chế cáo; Hùng Vũ quân lưu hậu, Tri Thái Nguyên phủ Quách Quỳ được phục chức Tuyên Huy sứ; Hòa Châu đoàn luyện sứ, an trí tại bản châu Lý Sư Trung được dời đến châu quân thuộc Kinh Đông lộ an trí; Thái tử trung doãn, Giám kho muối tại thành Hoành Châu Lưu Chí được phục chức Quán các hiệu khám, Thiêm thư phán quan; Đại Lý bình sự, Giám kho quân tư tại Quảng Châu Đường Quýnh được dời đến Giang Tây làm Giám đương; Kim bộ viên ngoại lang, Giám thuế tại Tú Châu Tiền Nghĩ, Đồn điền viên ngoại lang, Tân Tri Thông Châu Tôn Xương Linh, Thái thường bác sĩ, Giám Ty trúc tại Phượng Tường phủ Trương Tiển, Thái thường thừa, Tri huyện Thường Thục Vương Tử Thiều, Thái tử trung doãn, Tân Giám thuế trúc gỗ tại Hà Lạc, Tây Kinh Trình Hạo, Bí thư thừa, Thông phán Tô Châu Hồ Tông Dũ, Đại Lý tự thừa Tiết Xương Triều, Trứ tác tá lang Lâm Đán, Trứ tác tá lang, Tiền Tri huyện Hàn Thành Phạm Dục, bị giáng làm Quang lộc tự thừa, Giám thuế muối rượu tại Kinh Nam Trương Thương Anh, Chức phương viên ngoại lang, Thông phán Giải Châu Lý Chu, Tỷ bộ viên ngoại lang, Thông phán Dĩnh Châu Chu Ước, Khố bộ viên ngoại lang, Thông phán Đại Danh phủ Cổ Thanh, Hữu tán thiện đại phu, Quyền Tri huyện Tường Phù Lý Hiếu Thuần, Thái thường thiếu khanh, Đồng phán Tây Kinh Quốc Tử giám Trương Đoan, Thái tử trung xá, Thông phán Thâm Châu Vương Tử Uyên, đều được phục chức hợp lệ để sai khiển.
Lúc đó, có hơn bốn mươi người bị giáng chức cần phục chức, nhưng Lữ Huệ Khanh vì ghét nên đều bỏ qua không thi hành. Hồ Tông Dũ và Lưu Chí đều vì dâng sớ can gián mà bị cách chức, điều ra ngoài, Tông Dũ lại bị trách phạt trước. Đến lúc này, chỉ có Lưu Chí được phục chức cũ, còn Hồ Tông Dũ vẫn làm Thông phán Tô Châu như trước. Mười năm sau, khi có đại xá, mới được phục chức cũ. Lưu Chí từng nói về Tăng Bố, mà Tăng Bố lại là người Lữ Huệ Khanh đặc biệt ghét.
(Việc này căn cứ theo 《Tư Mã Quang ký văn》, cần xem xét thêm, e rằng lúc này không chỉ mình Hồ Tông Dũ chưa được phục chức. Thái Thừa Hi bàn về Lã Đại Phòng, xem thêm ngày 6 tháng 10 năm thứ 9. Lại xem thêm ngày 23 tháng 11 năm thứ 8.)
[74] Tể thần Hàn Giáng tâu: “Biệt giá Hoa Châu là Chủng Ngạc trước đây chiếm thành La Ngột, sau tuy bỏ đi, nhưng nhờ đó mở rộng biên giới thêm hai mươi dặm. Xét về lòng trung và sức lực, thực đáng khen ngợi, xin cho phục lại chức cũ, để tiếp tục lãnh đạo và sử dụng.” Chiếu cho Ngạc phục chức Lễ tân phó sứ, Đô giám các châu lộ Vĩnh Hưng. Sau này, ông được bổ nhiệm làm tướng thứ hai mươi tám của Hà Bắc.
[75] Chiếu rằng các quan lại đến kinh đô, theo lệ được phép vào chầu, nếu gặp trường hợp đặc biệt đến kinh mà không có chỉ dụ cho phép vào chầu, thì Cáp môn phải trình lên Trung thư để xin chỉ dụ.
[76] Đô chuyển vận sứ Tần Phượng đẳng lộ là Hùng Bản tâu: “Thần vâng chiếu xem xét việc Ngô Trung Phục, Bì Công Bật, Trương Mục Chi, Chương Tiết, Thái Mông đều tâu xin thay đổi pháp tiền tệ, nhưng trước sau có chỗ khác nhau, cùng việc không đợi chỉ triều đình mà mua tiền tư nhân. Thần điều tra dân gian, thấy họ đều dùng tiền theo mẫu của triều đình, tiền tư nhân đã không còn lưu hành, như vậy ý kiến của Trung Phục là khả thi. Thêm nữa, Vương Quảng Uyên và Chương Đôn cũng xin cấm tiền tư nhân ở Vĩnh Hưng quân, khôi phục Hoa Đình giám, và đúc tiền sắt xanh đỏ Hồng Nhai. Nếu theo lời tâu của các quan, thì cần chuẩn bị trước việc thu đổi tiền tư nhân và tăng thêm lợi ích của việc đúc tiền, mới có thể thi hành. Xin cho Tam ty hạ lệnh cho Vĩnh Hưng, Tần Phượng đẳng lộ và chế trí giao tử sở cùng xem xét lợi hại, rồi tâu lên.” Chiếu rằng: “Những điểm khác nhau trong tấu nghị của Trung Phục và việc không đợi chỉ triều đình mà mua tiền tư nhân đều được miễn tội, lệnh cho Triệu Chiêm hội bàn với các ty, nhanh chóng xem xét rồi tâu lên.”
(Trung Phục làm Tri Vĩnh Hưng, Công Bật làm Chuyển vận, Mục Chi làm Hình ngục, Tiết làm Thường bình, Mông làm Vận phán, việc này liên quan đến ngày Giáp Tý mồng 8 tháng 2 năm thứ 8. Ngày Nhâm Tuất 27 tháng 9 năm thứ 10, chiếu cho các ty xem xét.
《Thực hóa chí》 quyển 6 chép: Hùng Bản lại tâu: “Nay dân gian chuyên dùng tiền của triều đình, tiền tư nhân đã ngưng lưu hành, ý kiến của Trung Phục là khả dụng. Nay Kinh Nguyên an phủ sứ Vương Quảng Uyên xin theo pháp của Vĩnh Hưng lộ mà cấm tiền tư nhân, khôi phục Hoa Đình giám; Tam ty sứ Chương Đôn xin cấm tiền tư nhân, khôi phục việc đúc tiền sắt xanh đỏ Hồng Nhai. Nếu dùng ý kiến của Quảng Uyên và Đôn, thì còn phải chuẩn bị việc thu đổi tiền tư nhân và tăng thêm lợi ích của việc đúc tiền, xin chiếu cho các ty ở Vĩnh Hưng, Tần Phượng đẳng lộ và chế trí giao tử sở cùng xem xét lợi hại.” Bản tự soạn mấy điều về việc đổi đúc tiền tâu lên, đại để phụ họa ý kiến của Trung Phục, nhưng cũng có chỗ chất vấn. Triều đình theo lời Bản, lại hạ lệnh cho các lộ xem xét lợi hại. Ngày Giáp Tý mồng 2 tháng 2 năm sau có thể khảo cứu. Việc trước của Bản hợp vào ngày Nhâm Tuất 27 tháng 9.)
[77] Kinh lược ty Phu Diên lộ tâu: “Các huyện thuộc châu Diên, quân Bảo An dân thiếu ăn, dân chúng lưu lạc vào châu chưa dừng, tuy đã theo lệ cấp khẩu phần cho người ăn xin, nhưng số gạo không nhiều, xin xuất một vạn thạch gạo từ kho tỉnh để cứu tế.” Được chấp thuận.
[78] Văn Tư sứ, Tri phủ châu Chiết Khắc Nhu tâu: “Năm nay ngoài sông đói kém, được cứu tế cho vay, nhưng chưa đủ cấp phát, dân chúng muốn lưu tán, sợ giặc phương Bắc nhân đó chiêu dụ, sẽ làm trống rỗng dân cư vùng biên giới. Thần xin được vay ba vạn thạch gạo, hai vạn thạch thóc để cứu tế cho vay, đợi mùa màng tốt tươi sẽ hoàn trả.” Chiếu ban cho hai vạn thạch thóc từ kho tỉnh để cứu tế, ba vạn thạch gạo cho vay.
[79] Chiếu cho Ngu bộ viên ngoại lang, Quyền đồng quản câu Ngoại đô thủy giám thừa Phạm Tử Uyên, Điện trung thừa, Quyền tri đô thủy giám thừa Lưu Cáp, Văn Tư phó sứ Chu Trọng Lập, đều thăng một bậc, Tử Uyên bỏ chữ “quyền”; Ty huân lang trung, Tri đô thủy giám thừa Vương Lệnh Đồ cùng bốn người khác giảm ba năm khảo hạch; những người còn lại giảm năm, ban thưởng có khác nhau. Để khen thưởng công lao khai thông sông Trực ở trấn Thanh Thủy và dùng bè Tuấn Xuyên để dẫn nước sông. (Tử Uyên và những người khác lúc đầu nhận mệnh vào mùa đông năm thứ sáu, việc ghi đầy đủ vào cuối tháng sáu năm thứ bảy.)
[80] Xu mật phó sứ Thái Đĩnh đang tâu việc trước mặt Vua, bỗng bị chóng mặt ngã xuống đất. Nội thị đỡ ông vào phòng phía tây, Vua thân hành đến thăm và ban thuốc, rồi cho người khiêng kiệu từ điện về phủ. Thái Đĩnh nhiều lần xin từ chức, Vua ban chiếu cho nghỉ ngơi để điều trị. Con trai Thái Đĩnh là Thái Mông lúc đó đang làm Chuyển vận phán quan lộ Vĩnh Hưng quân, Vua ban chiếu cho Thái Mông đi ngựa trạm về kinh.
Sau đó, Thái Đĩnh tâu: “Con trai thần là Thái Diệp đang giữ chức Thái thường thừa, Trực tập hiền viện, Quyền phát khiển Chuyển vận phó sứ lộ Kinh Hồ Nam, đã xuất kế cho anh trai là Thái Kháng. Nay Thái Kháng có con là Thái Tiềm Khâm, thần gần đây bị bệnh, xin cho Thái Diệp trở về bản tông, đồng thời xin từ chức.” Vua ban chiếu cho Thái Diệp được trở về bản tông, nhưng không truy cứu chức vụ đã tâu. Thái Diệp là con trai thứ tư của Thái Đĩnh. Sau đó, Thái Mông được bổ nhiệm làm Quyền phát khiển Hộ bộ phán quan.
(Việc Thái Diệp trở về bản tông xảy ra vào ngày 16; việc Thái Mông được bổ nhiệm làm Tỉnh phán xảy ra vào ngày 21, nay ghi chép lại. Ngày 11 tháng trước, Vua đã ban chiếu cho Thái Mông đi ngựa trạm về kinh, xem 《Ngự tập》, có lẽ lúc đó Thái Đĩnh đã bị bệnh, cần xem xét kỹ hơn[11], hoặc bỏ đi.)
[81] Ngày Ất Hợi, Vua đến chùa Thái Bình Hưng Quốc, viện Khải Thánh, điện Thần Ngự ở quán Vạn Thọ để tạ ơn. Hôm sau, Vua lại đến điện Thần Ngự ở chùa Từ Hiếu, rồi đến quán Tập Hi Lễ Tuyền và chùa Đại Tướng Quốc.
[82] Giá bộ lang trung, Đề cử lương thảo lộ Hà Bắc Đông Tây Lý Trực Cung được bổ nhiệm làm Chuyển vận sứ lộ Hoài Nam Đông. Ngày 27 tháng 3 năm sau, Vương An Thạch có lời tâu, nên ghi lại việc bổ nhiệm Lý Trực Cung.
[83] Ngu bộ viên ngoại lang, Tân tri châu Thường Châu Lữ Gia Vấn được bổ nhiệm làm Đề cử lương thảo lộ Hà Bắc, đồng thời khôi phục tư cách Đề điểm hình ngục. Việc này là do Kiểm chính trung thư hộ phòng công sự Trương Ngạc tố cáo việc Lữ Gia Vấn không nên bị giáng chức. Ban đầu, Vương An Thạch nhận mệnh đi Giang Ninh, Trương Ngạc và Lữ Gia Vấn ôm Vương An Thạch mà khóc. Vương An Thạch an ủi họ: “Ta đã tiến cử Lữ Huệ Khanh rồi.” Hai người lau nước mắt, tạ ơn Vương An Thạch. (Việc lau nước mắt tạ ơn Vương An Thạch được ghi trong 《Đông Hiên lục》 của Ngụy Thái.)
[84] Ngày Canh Thìn, Vua sai Tam ty câu đương công sự Hoàng Nghiêu Doãn giảm giá bán gạo quan ở lộ Hoài Nam.
[85] Ngày Giáp Thân, Vua phê: “Quân mã và quân bộ, 50 người làm một đội, 10 người làm một hỏa đội. Những vật dụng cần dùng, lệnh cho Quân khí giám ước tính số tiền cần dùng rồi tâu lên.” Hôm sau, lại phê: “Trong số vật dụng theo quân, lừa và la quá nhiều, khó kiếm, lại hao tốn cỏ lúa hàng ngày. Nên đặt ra phép, căn cứ vào số quân của các tướng đóng ở các châu, bắt dân kết bảo nhận trước, khi quân hành quân thì cấp tiền thuê, cho đi theo quân.” Và cử quan chuyên trách quản lý: Lữ Ôn Khanh ở Lộ Hà Bắc Đông, Lý Tắc ở Lộ Hà Bắc Tây, Lý Sát ở Lộ Kinh Đông, Lý Nam Công ở Lộ Kinh Tây, Thái Xác ở Phủ Khai Phong. (Lữ Ôn Khanh, ngày 6 tháng 10 năm thứ 6 ở kho Hà Bắc, ngày 22 tháng 11 ở kho Hà Bắc Tây.)
Sau đó, Vương An Thạch bàn bỏ chăn nuôi ngựa, Ngô Sung muốn giữ lại để phòng khi quân hành quân cần chở đồ, nói: “Nếu Bắc Địch chống cự, không mua được ngựa, Trung Quốc lấy đâu ra ngựa?”
Vua nói: “Dù vậy, chăn nuôi ngựa cũng chẳng ích gì. Thời tổ tiên, chăn nuôi chỉ nuôi ngựa lớn[12], sau này sinh sản, việc đúng sai rõ ràng, không còn nghi ngờ gì.” Ngô Sung nói: “Trước đây bắt nhận lừa, trâu[13], Trung thư liền nói là quấy rối. Nay Trung thư lại muốn mua lừa khi cần chở đồ, há chẳng quấy rối sao?” Vương An Thạch nói: “Khi không có việc, không hỏi có lừa, trâu hay không, nên bắt năm hộ hoặc mười hộ cùng nhận một con lừa, trâu, không biết con trâu, lừa này giao cho ai làm chủ? Vả lại, người không có lừa, trâu, phải bị bắt đóng tiền, đó là quấy rối. Nay Trung thư tính toán, nếu cần lừa, dùng giá hạng nhất hiện nay tăng gấp đôi mua lừa, việc xong không thu thêm một đồng, tức là cứ ba năm một lần dùng binh, so với nuôi ngựa để dùng, có thể tiết kiệm bảy mươi vạn quan. Dùng giá hạng nhất tăng gấp đôi mua lừa, giả sử thu mua, cũng không làm thiệt hại dân, đó là khác với việc nhận trước.”
Vua nói: “Việc này lợi hại rõ ràng, hơn nữa ngựa đều hung dữ, há có thể chở đồ được sao!”
(Vương An Thạch và Ngô Sung tranh luận, theo 《Nhật lục》 ngày 17 tháng 4 năm thứ 8, nay chép thêm. E rằng lệnh nhận trước trâu, lừa, tìm không thực hiện, vẫn ghi ngày tháng năm đó.)
[86] Chiếu cho phủ Hà Nam, ty Giám mục Hà Bắc gộp số tiền, vải lụa, lương thực hiện có vào ty Đô đề cử thị dịch, dùng làm tiền mua trà.
[87] Chiếu cho Nhập nội chi hậu, Cao ban nội phẩm Lê Khánh Chi bị tước danh hiệu và cách chức, Lương Cung Lễ, Nhập nội Cao ban Ngô Lập, Trương Đức Cung đều bị cách chức, miễn tước danh hiệu, Nhập nội phó đô tri, Tả Kỳ Kỵ sứ Vương Chiêu Minh bị truất hai chức, đặc cách miễn tước danh hiệu và cách chức. Khánh Chi vì tội phát nhầm văn bản nội giáng, Cung Lễ báo cho Chiêu Minh, sai Lập, Đức Cung vào cầu xin phu nhân nội cung là Bàng thị đóng lại ấn, theo luật đạo ngự bảo phải tước danh hiệu, nhưng vì đã được ân xá nên được miễn.
[88] Ngày Ất Dậu, chiếu cho ty Chuyển vận lộ Hà Đông xem xét các hộ bị thiên tai, miễn cho việc di chuyển.
[89] Tri châu Nguyên Châu là Tạ Lân tâu: “Ty Đồn điền của châu này không có quân sĩ ứng mộ, xin theo pháp phối tội nhân ở châu Hà mà phối vào lao thành của châu này.” Được chấp thuận.
[90] Xu mật trực học sĩ, Binh bộ thị lang Lý Tham được cho về hưu với chức Thượng thư hữu thừa.
[91] Ngày Bính Tuất, sai Hàn lâm học sĩ Nguyên Ráng, quyền Ngự sử trung thừa Đặng Uyển cùng ty Lý khiếm của Tam ty xem xét định đoạt các khoản nợ cũ của quan vật.
[92] Hữu gián nghị đại phu, Tập hiền viện học sĩ, Sử quán tu soạn Tống Mẫn Cầu được cử làm Đề cử vạn thọ quan. Mẫn Cầu xin tránh tên húy của cha, đổi làm Lễ tuyền quan. (Việc đổi làm Lễ tuyền quan là vào ngày 17 tháng giêng năm sau, nay gộp chép lại.)
[93] Chiếu cho các quan được vào chầu, đều được dẫn vào yết kiến trong ngày nghỉ lạp. Trước đó, có 24 người được triệu vào chầu, vì ngày nghỉ đại lễ tích lại khá lâu. Đến khi lễ cung tạ xong, Vua xem sổ tấu của các cửa, tuy mỗi ngày tăng dẫn thêm một hai ban, nhưng vẫn chưa xong hết. Đến ngày nghỉ lạp, các cơ quan đều nghỉ, Vua đặc cách ngự ở điện Diên Hòa, đến tối mới xong, gặp được 15 ban. (Sách kỷ mới và cũ đều chép: Dẫn vào chầu 24 quan.)
[94] Ngày Đinh Hợi, chiếu cho Tỷ bộ viên ngoại lang, đồng Đề điểm tại kinh thảng thảo trường Thẩm Hi Nhan được giảm hai năm khảo khóa. Trước đó, số thặng viên ở kinh đô nhiều người chiếm dụng và sai phái không đều, chiếu cho Hi Nhan định đoạt rồi tâu lên. Đến nay, cắt giảm được hơn 3.600 người chiếm dụng, nên được thưởng.
[95] Chiếu cho Công bộ lang trung, Trực Long đồ các, tân quyền phát khiển Khánh châu Phạm Thuần Nhân, Thái thường thừa, Tập hiền hiệu lý, Kiểm tường Xu mật viện binh phòng văn tự, quyền Đồng phán Vũ học Lưu Phụng Thế, xem xét văn tự phân tướng lộ Phu Diên, nên xử trí thế nào rồi tâu lên. Sau đó, Thuần Nhân và các người tâu rằng, xét thấy nên đặt tướng thứ nhất của bản lộ đóng ở Khánh châu, tướng thứ hai ở Hoàn châu, tướng thứ ba ở Đại Thuận thành, tướng thứ tư ở Hoài An trấn, tướng thứ năm ở Nghiệp Lạc trấn, tướng thứ sáu ở Mộc Ba trấn, tướng thứ bảy ở Vĩnh Hòa trại, tướng thứ tám ở Bân châu, mỗi tướng thống lĩnh quân lương đồn trú, binh mã hạ phiên chính quân, cường nhân, Hán và Phiên cung tiễn thủ. Triều đình nghe theo.
[96] Lại chiếu cho Hoài Nam phát vận ty, lấy 30 vạn thạch gạo thượng cung năm sau giao cho Hoài Nam đông lộ chuyển vận ty, 20 vạn thạch giao cho tây lộ, đều dùng làm quân lương và bán giảm giá, đợi mùa màng bội thu thì các lộ hoàn trả, tùy vận chuyển thượng cung; nếu bồi thường giá thì mỗi đấu 80 đồng.
[97] Ngày Mậu Tý, Bạc châu tâu rằng Tư chính điện học sĩ, Lại bộ thị lang, Tri châu Thiệu Kháng mất, Vua sai sứ đến tế, viết chiếu rằng: “Kháng là người cũ của phiên để, nên ưu đãi ban chức, ban thụy.” Bèn ban cho chức Lại bộ thượng thư, phong quan cho 5 người thân thuộc, những người được ơn đều thăng hai bậc, lại cho xây 50 gian nhà ở quê hương ban cho. Thái thường ban thụy là An Giản.
[98] Ngày Kỷ Sửu, Liêu chủ sai Ích châu quan sát sứ Gia Luật Ninh, Thái thường thiếu khanh, Sử quán tu soạn Lý Di Huấn, mẹ Liêu chủ sai An Viễn quân tiết độ sứ Gia Luật Dụng Chính, Vệ úy thiếu khanh, Can Văn các đãi chế Lý Chi Tài đến chúc mừng năm mới.
[99] Ngày Canh Dần, Vua phê: “Nghe nói Hà Bắc tây lộ chuyển vận ty gần đây sai quan ghi chép cây cối bỏ hoang ở đê Hoàng Hà để tu sửa thành trì, ở Thâm châu, Vũ Cường, hai bên đường đi lại của sứ Liêu, công khai ghi chép; lại nghe nói gián điệp đã báo cho Tiêu Hi, và e rằng sẽ bàn việc mở rộng thành trì. Không biết việc ồn ào này là do giám ty nào chỉ huy, nhanh chóng tâu lên.” (Rốt cuộc thế nào?)
[100] Phán Quốc Tử Giám Thường Trật cùng các quan xin dựng tượng Mạnh Kha, Dương Hùng ở sân miếu Khổng Tử, đồng thời gia phong tước hiệu. Lại xin truy tôn Khổng Tử làm đế. Chiếu cho hai chế cùng quan Quốc Tử Giám, Lễ viện bàn định, nhưng sau không thực hiện. Hàn lâm học sĩ Dương Hội cho rằng gia phong đế hiệu là không đúng, nên tìm ý kiến của Hội, ghi chép ở đây. Phạm Tổ Vũ chép trong mộ chí của Hội, nói rằng Hội cho rằng không cần truy tôn.
[101] Long Đồ các trực học sĩ Tôn Vĩnh được cử làm Đề cử Trung Thái Ất cung, sau đó ra làm Tri châu Dĩnh. Việc làm Tri châu Dĩnh là vào ngày 17 tháng 3 năm sau, nay ghi chung lại.
[102] Nhập nội cung phụng quan Lý Dực tâu rằng, khi hộ tống Triệu Tư Trung đến dịch trạm Tân An, A Lý Cốt đánh bị thương Ma Tông Đạo. Chiếu cho truy thu lại chức quan của A Lý Cốt, đồng thời lệnh cho Kinh lược ty Hi Hà lộ xem xét quyết định hình phạt, bắt giam A Lý Cốt đến Hi Châu, Cao Tuân Dụ chém đầu để răn đe. Ngày 4 tháng 12, Tư Trung vào từ biệt.
[103] Ngày Tân Mão, chiếu rằng các tướng quan và sứ thần được triều đình giao các văn bản ước thúc và số quân, phàm liên quan đến cơ mật, không được truyền bá, nếu vi phạm sẽ bị xử theo tội vi chế, không được giảm tội dù có được ân xá hay đã thôi chức, việc nặng thì xin chỉ thị. Do có chỉ dụ rằng: “Gần đây sai định các tướng Hà Bắc, sau khi mệnh lệnh ban ra, số tướng tá, binh mã, ai nấy đều biết. Đến nỗi trong các thư tấu, người dân thường cũng có thể nói ra 37 tướng, 20 vạn quân, nghe nói phần nhiều do trong số tướng phó có người xuất thân từ quân ban, nói chuyện với đồng liêu cũ, dẫn đến việc này bị phô trương, nên lập pháp để răn cấm.”
[104] Chiếu cho hai châu Thần, Nguyên theo như Uy, Mậu, cho phép bãi bỏ phép miễn dịch xuất tiền. Theo lời thỉnh cầu của Sát phỏng Bồ Tông Mạnh.
[105] Ngày Nhâm Thìn, Sát phỏng sứ Hà Đông lộ Lý Thừa tâu rằng: “Châu Lộ, quân Bình Định Uy Thắng bị thiên tai, khó có thể cấp phát cho mọi người, xin lấy những người già yếu, trẻ em bị bỏ rơi cho cháo để nuôi dưỡng. Đến giữa xuân khi trời ấm hơn, có thể khởi công, liền chiêu mộ người khỏe mạnh đi làm dịch. Xin cho phép thần không theo phép thường, tùy nghi sắp xếp, khi về sẽ trình báo số tiền lương đã chi và số người được cứu tế.” Được chấp thuận.
[106] Lục trạch sứ, Tri Ký Châu Hình Tá Thần tâu: “Gần đây có chiếu, các hộ được miễn thuế lúa xanh không được vay thêm. Vì mùa hạ và mùa thu không được mùa, nhiều người thiếu ăn, dùng tiền lúa xanh để mua hạt giống mùa xuân, không chỉ dân chúng thất vọng, mà còn sợ đất bỏ hoang không cày cấy, bỏ lợi lớn. Xin cho các hộ trồng lúa mạch mùa xuân đều được vay tiền giống.” Chiếu cho các ty đề cử ở năm lộ, các hộ từ đẳng thứ tư trở xuống dù đã được miễn thuế, nhưng thực sự có đất trồng lúa mạch, đều theo phép lúa xanh cho vay một nghìn tiền, và được miễn lãi.
[107] Thượng phê: “Đông tác phường và Tây tác phường, từ thời tổ tông đã đặt bên cạnh hoàng thành. Gần đây quan Quân khí giám xin làm nhà ở, đã dời Tây tác phường đến một doanh trại cũ đã hư hỏng. Gần đây Ty Nông tự lại muốn dời Đông tác phường, lấy đất đó để xây dựng nhà ở. Quân khí giám đồng lòng nuôi tư, không hề tiếc, không biết nay hai tác phường sẽ được đặt ở đâu, hãy nhanh chóng trình bày rõ ràng.”
Lại phê: “Nghe nói gỗ dùng để tu sửa thành Triệu Châu, Ty Chuyển vận ở bốn phía hào thành Định Châu chặt lấy, không chỉ tốn phí vận chuyển, gây phiền nhiễu, mà còn sợ rằng sau này châu này tu thành sẽ cần dùng; và ở bên đường Vũ Cường, Châu Thâm, là đường đi của sứ Bắc, các cây cối đều phải giữ lại.”
[108] Tháng đó, ngày Mậu Thìn, Tân Mùi, Lưu Thầm và Lữ Đại Trung lại họp với Tiêu Tố và Lương Dĩnh ở Đại Hoàng Bình. Đại Trung nhiều lần làm nhục Dĩnh, Dĩnh không chịu nổi, bèn dùng lời lẽ xúc phạm Đại Trung, nói Đại Trung không nên lấy điếu tử, xem văn tự, và cắt ngang lời nói, lại còn lắc gối trước mặt, nhắc đến các chương câu như “Tương thử” và “Anh vũ”, “Tinh tinh”. Đại Trung nhẫn nhịn không tranh cãi, chỉ tâu xin về lo việc tang lễ. Tố và Dĩnh sau hai lần họp, lại bị khuất phục, bèn nói: “Đợi thân đến trướng xin chỉ thị, sẽ cử sứ khác đến.” Từ đó chỉ dùng công văn qua lại, không họp nữa. Sau đó chiếu cho Thầm và Đại Trung về kinh.
[109] Năm đó, con cháu tông thất được ban tên và phong chức gồm 52 người, xử tử 3.509 người.
[110] Chiếu cấp tiền thanh miêu cho ruộng cạn vào tháng hai, ruộng nước vào tháng ba. Việc này căn cứ theo bản chí, ghi chép vào cuối năm.
[111] Bí thư thừa, kiêm chức Đề cử mua trà ở phủ Thành Đô, châu Lợi, lộ Lợi Châu là Bồ Tông Mẫn tấu rằng: “Thần thấy rằng Chuyển vận ty phủ Thành Đô hàng năm cung cấp 10 vạn quan tiền giao tử cho lộ Hi Hà. Khách buôn ở Hi Hà nộp 450 hoặc 500 đồng tiền, nhận được một tờ giao tử, rồi mang về ty giao tử ở Xuyên Trung để đổi lấy 1 quan tiền sắt đủ giá trị tiền mặt. Nay ở Xuyên Trung mới lập trường trà, xin được dùng vốn này mua bạc, giao tử, diêm sao, v.v., rồi dùng làm vốn mua trà. Thần xin rằng khi trường trà vận chuyển trà đến Hi Hà, trại Vĩnh Ninh, v.v., thì số tiền vốn mua hàng hóa sẽ được chi trả ngay tại ty giao tử phủ Thành Đô. Số giao tử 10 vạn quan này sẽ được xem xét giá thị trường tại địa phương, giữ lại để chi dùng cho lộ Hi Hà, và báo cáo về trường trà Xuyên Trung. Trường trà chỉ cần tính toán số lợi nhuận bằng tiền sắt. Như vậy, hai lộ không cần phải cử người qua lại quản lý, vận chuyển giao tử, v.v., đồng thời giao tử ở Hi Hà không bị ứ đọng do không có người mua, tránh lãng phí tiền bạc.” Triều đình đồng ý.
(Việc này căn cứ theo sổ biên lục của ty Trà Mã, ngày 1 tháng 12 năm thứ 7, tráp tử của Trung thư, v.v. Ngày 23 tháng 9 năm Sùng Ninh nguyên niên, Thái Kinh, v.v., có thể tham khảo.)
- ngày 22 tháng 10, chữ 'nãi' nguyên bản là 'Nhưng', theo bản các sửa lại ↵
- 'ba bốn' nguyên bản đảo ngược, theo chú thích của Lý Đào trong quyển 256, ngày Mậu Thân tháng 9 năm Hi Ninh thứ 7 và Tống Hội Yếu Phiền Di 2/24 sửa lại ↵
- Thượng phê vấn về người di cư từ Hà Đông Bắc, chữ 'vấn' nguyên là 'phân', chữ 'nhân' nguyên là 'nhập', theo bản các và quyển 262, ngày Kỷ Sửu tháng 4 năm Hi Ninh thứ 8 sửa lại. ↵
- Chữ 'ty sứ' trong 'Tam ty sứ Chương Đôn' nguyên bản đảo ngược, căn cứ 《Tống sử》 quyển 471 bản truyện sửa lại. ↵
- Chữ 'sứ' trong 'Đôn thôi Tam ty sứ' nguyên bản thiếu, căn cứ 《Tục tư trị thông giám trường biên》 quyển 259 ngày Canh Tý tháng 10 năm Hi Ninh thứ 8 bổ sung. ↵
- Chữ 'điền' trong câu 'Hi Hà địa đa mĩ điền' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào 《Tống hội yếu》 Thực hóa nhị chi tứ mà bổ sung. ↵
- 141 quan chức, chữ 'nhất' nguyên là 'nhị', theo các bản, bản hoạt tự và 《Tống sử》 quyển 15, kỷ Thần Tông sửa lại. ↵
- Chữ 'Thị' trong 'Thị ngự sử tri tạp sự Trương Hổ' nguyên bản thiếu, căn cứ theo quyển 257, tháng 10 năm Hi Ninh thứ 7, ngày Quý Tỵ trong sách này để bổ sung. ↵
- Hai chữ 'Vũ Đô' nguyên bản đảo ngược, căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 15, Thần Tông kỷ và quyển 496, Tây Nam chư di truyền để sửa lại. ↵
- Đại Tông Chính Ty, hai chữ 'Tông Chính' nguyên bản đảo ngược, theo bản khác sửa lại. ↵
- chữ 'tường' nguyên bản viết là 'Cật', theo bản trong các các mà sửa ↵
- chỉ nuôi ngựa lớn, chữ 'lớn' nguyên bản là 'chó', theo bản các và 《Tống sử》 quyển 198 《Binh chí》, 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 75 《Mã chính》 sửa. ↵
- bắt nhận lừa, trâu, chữ 'nhận' nguyên bản là 'chiếu', theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 sửa. ↵