VI. TỐNG THẦN TÔNG
[BETA] QUYỂN 260: NĂM HI NINH THỨ 8 (ẤT MÃO, 1075)
Từ tháng 2 đến hết tháng 2 năm Hi Ninh thứ 8 đời Thần Tông.
[1] Ngày Quý Hợi mùng một tháng 2, Lý Xưng, Phó tướng thứ 8 của Hà Bắc, chức Nội điện Sùng ban, bị truất một chức quan và bị cách chức, vì có mâu thuẫn với tướng quan Lưu Khánh và là người có lỗi. Lúc đó mới đặt chức Phó tướng, mà Xưng là người đầu tiên không hợp tác, nên đặc biệt xử phạt để răn đe những người khác.
[2] Tăng Hiếu Khoan, Sát phỏng sứ của Hà Bắc Đông lộ, tâu: “Những người đỗ trong kỳ thi Nghĩa dũng, Bảo giáp được bổ nhiệm làm Tam ban Sai sứ, Tá sai trở lên, xin cho họ làm Chỉ huy sứ dưới quyền Đô tuần kiểm của bản lộ, chuẩn bị bắt giặc. Còn những người làm Điện thị, Quân đại tướng, thì cho làm Đô, Phó bảo chính ở quê hương của họ.” Triều đình đồng ý. Lại ban chiếu cho Tây lộ Sát phỏng thi hành theo cách này.
[3] Đặng Nhuận Phủ, Tri gián viện, tâu: “Thần nghe nói triều đình đã hạ lệnh cho Tướng tác giám kiểm kế kinh thành, chiêu mộ dân lưu tán để tu sửa, xin bãi bỏ việc này.” Sau đó, Khai Phong phủ báo lên số lượng dân lưu tán và những nhà không muốn ứng mộ, việc này bèn đình chỉ.
[4] Ngày Giáp Tý, ban chiếu cho các hộ nấu rượu vay nếp của Tư dịch ty, từ giữa năm ngoái đến cuối năm, tiền lãi đều giảm một nửa. Trước đây, Tư dịch ty tạm mua nếp để cho các hộ nấu rượu vay và thu lãi, nếu ai vi phạm thì cho người tố cáo, thưởng tiền đến 300 quan, nếp bị tịch thu. Thương nhân vì quan mua rẻ, không đến; lại gặp năm mất mùa, nếp ở kinh thành ít, giá càng cao, tiền vốn và lãi nhiều, nên có chiếu này.
[5] Ty Nông tự tâu: “Vâng chiếu, cứ hai năm dẫn các Đô, Phó bảo chính bổ nhiệm làm Ban hàng, không quá 25 người. Nay quy định Khai Phong phủ giới không quá 5 người, hai lộ Hà Bắc mỗi lộ 4 người, Hà Đông lộ 5 người, các lộ Vĩnh Hưng, Tần Phượng đợi khi biên chế xong sẽ căn cứ vào số người để định, cứ đủ một năm, cho dẫn kiến một nửa số người theo quy định.” Triều đình đồng ý. Lại ban chiếu cho Phủ giới và Hà Đông lộ mỗi nơi không quá 6 người.
[6] Ty chuyển vận các lộ Vĩnh Hưng quân tâu rằng: “Hiện quản lý tiền sắt tư, Ty chuyển vận có hơn chín vạn quan, Ty thường bình có hơn mười một vạn quan, cùng với số tiền sắt tư mua từ dân gian hàng chục vạn cân, đều nên đúc lại theo mẫu tiền của triều đình. Xin trừ các xưởng đúc tiền đồng ở Vĩnh Hưng, Hoa, Hà Trung, Thiểm tăng thêm thợ đúc ra, xin thêm ba xưởng đúc ở Thương, Quắc, Lạc Nam, tạm đặt hai xưởng đúc ở Diệu, Phu, tổng cộng chín xưởng để đúc lại. Các nơi Vĩnh Hưng, Phu, Diệu, Hà Trung, Thiểm xa nơi luyện sắt, xin đúc lại tiền giả trong một năm là xong; các châu Thương, Lạc Nam, Hoa, Quắc gần nơi luyện sắt, có thể đúc lâu dài. Năm xưởng đúc ở Phu châu, sau khi đúc xong, thợ sẽ nhập vào bốn xưởng đúc ở Thương châu, sau đó chuyên đúc tiền lớn.” Triều đình nghe theo, cử Bì Công Bật đảm nhiệm việc này.
Trước đó, Ty an phủ và Ty chuyển vận đã ra lệnh thu mua bốn loại tiền tư, cấm dùng các loại tiền cũ, đổi bằng tiền đồng, dùng tiền sắt nhỏ tư đổi được và tiền sắt trong kho để đúc lại. Hùng Bản cho rằng làm thế sẽ bất tiện cho công tư, nên hạ lệnh cho các ty xem xét lại các điều khoản trước, kiểm tra tiền tư mỏng, lỗ hổng, chữ không rõ, người vi phạm sẽ bị xử theo pháp luật, tiền tịch thu sẽ bị tiêu hủy. Các loại tiền thông dụng trước đây vẫn được lưu hành như cũ. Tiền sắt trong kho không dùng được, sẽ đặt thêm xưởng đúc, tăng thêm nguyên liệu, đúc tiền “Hi Ninh Trọng Bảo” hơi khác mẫu tiền triều đình, đóng gói lại, đợi khi mùa màng thuận lợi sẽ tâu xin chỉ thị. Triều đình hạ chiếu cho các ty báo cáo số tiền cần đúc lại và cách thức thực hiện. Đến nay, Ty chuyển vận đã trình bày, nên có chiếu này.
(“Hùng Bản tâu xin”, sử mực ghi ngày 27 tháng 9 năm thứ 7 (Nhâm Tuất), sử son gộp vào ngày 2 tháng 2 năm thứ 8 (Giáp Tý), nay ghi cả hai. Ngày 11 tháng 12 năm thứ 7, Hùng Bản xem xét Ngô Trung Phục. Ngày 24 tháng 1 năm thứ 8, Bì Công Bật nói, ngày 4 tháng 3 nói, có thể tham khảo.
Sách 《Tân kỷ》 ghi: Tăng xưởng đúc sắt ở Thiểm Tây, đúc lại tiền lớn.
Sách 《Thực hóa chí》 quyển 6: Năm thứ 8, Bì Công Bật lại tâu: “Nay đã thu được hơn hai mươi vạn quan tiền lớn đúc tư, cùng với số tiền tư mua từ dân gian cũng hàng chục vạn cân, đều nên đúc lại theo mẫu tiền triều đình, xin thêm ba xưởng đúc ở Thương, Quắc, Lạc Nam, tạm đặt hai xưởng đúc ở Diệu, Phu, cùng với các xưởng đúc cũ ở Vĩnh Hưng, Hoa, Hà Trung, Thiểm thành chín xưởng để đúc lại. Các nơi Vĩnh Hưng, Phu, Diệu, Hà Trung, Thiểm xa nơi luyện sắt, xin đúc lại trong một năm rồi bãi bỏ; các châu Thương, Lạc Nam, Hoa, Quắc gần nơi luyện sắt, có thể đúc lâu dài. Năm xưởng đúc bãi bỏ, thợ sẽ nhập vào bốn xưởng đúc, chuyên đúc tiền lớn.” Đều là ý kiến đầu tiên của Công Bật, được cử đảm nhiệm, chiếu đúc tiền sắt lớn chỉ để bù vào số tiền giả bị bãi bỏ, và dùng khi cần dùng giấy giao tử thì dừng. Sách chí ghi hơn hai mươi vạn quan tiền lớn đúc tư, khác với thực lục, thực lục chỉ ghi hơn chín vạn quan, nên xem xét, nếu dùng sách chí thì bỏ phần ghi trong thực lục, xem xét kỹ hơn.)
[7] Thái thường tự Thái chúc Vương An Thượng[1]được bổ làm Hữu Tán thiện đại phu, quyền phát khiển Độ chi phán quan. Vương An Thượng là em út của Vương An Thạch. Đặng Uyển hặc tội Chương Đôn, nói rằng Đôn cùng Lữ Huệ Khanh bàn bạc muốn đề bạt Lữ Hòa Khanh, nên trước tiên tiến cử Vương An Thượng làm ví dụ, việc này cần xem xét thêm.
[8] Ngày Ất Sửu, ban chiếu rằng các châu quân bị thiên tai năm ngoái cần cứu tế những người hành khất không thể tự lo liệu, cho phép gia hạn đến hết tháng nhuận tháng 4; nếu gạo không đủ, cho phép dùng thường bình mễ tiếp tục cấp phát, nhưng không được vượt quá số lượng ban đầu gấp đôi.
[9] Đô đề cử Thị dịch ty tâu: “Xin cho các lộ Thị dịch vụ thuộc về bản ty, cho phép bản ty điều động tiền vật, xem xét nơi quan trọng để đặt các giám quan ở các lộ, tùy theo sản vật địa phương, nơi thương nhân tụ tập, và hàng hóa bị ứ đọng trong dân, đều có thể thu mua.” Được chấp thuận.
[10] Ban chiếu cho Xu mật sứ Trần Thăng Chi đề cử việc tu sửa sắc lệnh của Mã quân ty, vì quyền tri Thẩm hình viện Thôi Đài Phù và các quan tâu rằng: “Phụng chiếu tu sửa sắc lệnh Mã quân ty, do việc quân chính quan trọng, thời Nhân Tông từng sai Xu mật sứ Điền Huống đề cử, xin theo lệ cũ để Xu thần tổng lĩnh.” Đến tháng 2 năm thứ 10, ngày Nhâm Thân, sắc lệnh hoàn thành.
[11] Ngày Bính Dần, hoàng tử Dản được phong làm Trấn An quân Tiết độ sứ, tước Cảnh Quốc công.
[12] Phàm quan Hoàng thành sứ Bao Thuận, con là Gia Bốc Trác được bổ làm Tam ban Phụng chức, do Kinh lược ty Hi Hà tâu rằng ông theo cha chiến đấu ở Long Công Xuyên có công.
[13] Tế Châu Phòng ngự sứ Lý Vĩ được phục chức làm Chương Tín quân Lưu hậu, Phò mã Đô uý. Lý Vĩ vì tang Trang Hiếu Đại Trưởng Công chúa nên bị giáng chức, đến nay được phục chức.
[14] Ban chiếu rằng các châu Thành Đức quân, Hoài, Vệ, Từ, Tương, Hình, Minh, Triệu bị thiên tai nặng nề, trước đây điều động 3 vạn dân phu làm việc ở sông Hoàng Hà, nay có thể giảm một nửa; 5.000 dân phu làm việc ở sông Hô Đà, Hồ Lô, có thể giảm 2.000.
[15] Tháng 2 năm Gia Hựu thứ 4 (1059), ngày Đinh Sửu, bắt đầu biên soạn sách ở Tứ Quán. Ban thưởng cho Lâm Hi, Hiệu khám Quán các, và Lương Đào, Hiệu lý Tập hiền, mỗi người 30 lạng bạc và 30 tấm lụa, vì đã hoàn thành việc biên soạn sách ở Tứ Quán.
[16] Ngày Đinh Mão, ban chiếu chỉ: “Nhũ mẫu Trương thị, phong làm Sùng Quốc phu nhân, được đặc cách tiến phong làm Ngụy Quốc An Nhân Bảo Hữu phu nhân.”
[17] Lữ Hòa Khanh, nguyên là Huyện úy Khúc Dương, quyền Chủ bạ Quân khí giám, được bổ làm Phụng lễ lang, Tri Quân khí giám thừa. Trước đó, anh trai Hòa Khanh là Lữ Huệ Khanh ra lệnh cho Hòa Khanh đề xuất thực hiện phép Thủ thực. Đến lúc này, Chương Đôn, Phán Quân khí giám, xin cho Hòa Khanh làm Thừa, và đặc cách cải bổ. (Ngày 19 tháng 7 năm thứ 7 (1062), bắt đầu thực hiện phép Thủ thực.)
[18] Ty Chuyển vận Lộ Hà Bắc Đông xin cấp 50-60 vạn quan tiền để mua thóc cỏ ở Châu Thiền hoặc phủ Đại Danh, chuẩn bị cho việc chi dùng khi cấp bách. Chiếu chỉ cho Tam ty cấp 10 vạn lạng bạc và 10 vạn tấm lụa. Nếu chưa thể chuyển đổi, cho phép lấy tiền ở Ty Thường bình để cấp thưởng.
[19] Ngày Mậu Thìn, ban chiếu miễn cho con cháu người Quy Minh đang làm Nghĩa dũng, chỉ bắt họ phụ vào hộ bảo.
[20] Châu Hoa tâu: “Năm trước, núi Hoa Sơn sụp lở, đè chết hai thôn Hồ và Nhạc. Đã có chiếu xây chùa Ninh Sơn Thiền viện để cầu phúc cho người chết, xin mỗi năm độ một tăng.” Chiếu chỉ cho phép mỗi hai năm độ một người.
[21] Ngày Kỷ Tỵ, Vua phê: “Gần đây đã lệnh cho Xu mật viện điều động quân đồn trú các lộ về doanh, từ đó số người tuần phòng ở các châu huyện chắc chắn sẽ giảm. Hiện nay các nơi đang gặp thiên tai, nạn trộm cướp đáng lo ngại, nên lấy số lượng cung thủ hiện quản, cử quan điểm kiểm, chọn người khỏe mạnh, loại bỏ kẻ yếu đuối, ban thưởng hậu hĩnh, huấn luyện võ nghệ, để hỗ trợ việc phòng thủ.” Bèn hạ chiếu cho Ty Đề cử Thường bình tuyển cung thủ, người yếu đuối thì tuyển người khác thay thế.
[22] Chiếu chỉ rằng những người ứng mộ làm quân tướng, do áp tải cống phẩm mà được thưởng chuyển làm Tam ban sứ thần, không tính là xuất thân từ lưu ngoại.
[23] Viện Lễ tâu: “Từ nay, nếu ngày nghỉ trùng với ngày nghỉ triều, thì lấy ngày hôm sau. Nếu liên tiếp gặp ngày nghỉ, thì đợi đến ngày nghỉ kết thúc.” Theo đó.
[24] Tri Vĩnh Hưng quân, Long đồ các trực học sĩ, Cấp sự trung Ngô Trung Phục bị giáng làm Hữu gián nghị đại phu; Quyền chuyển vận sứ Vĩnh Hưng quân đẳng lộ Bì Công Bật, Đề điểm hình ngục Trương Mục Chi, Đề cử thường bình đẳng sự Chương Tiết đều bị phạt 30 cân đồng. Trung Phục từng tâu: “Dân chúng ở các châu quân thuộc lộ Vĩnh Hưng quân lưu tán rất nhiều, những người chưa lưu tán cũng không được yên ổn. Xin chọn quan đến các nhà có tích trữ, ghi chép số lương thực, ngoài phần cấp cho gia đình họ, cho phép dân bị thiên tai mua chịu, quan cấp giấy để nhận. Và xin tạm cho các nhà có thế lực cầm cố trâu, dê, lừa, ngựa của dân. Các huyện gần đây đã giảm bớt số lượng cung thủ, xin luân phiên chọn nghĩa dũng từ bậc ba trở lên, cấp tiền gạo hàng ngày ở huyện, cùng cung thủ bắt trộm cướp.” Chấp chính sai sứ đi xét nghiệm, cho rằng lời tâu của Trung Phục phần lớn không đúng sự thật, và những điều xin làm đều trái quy củ, nếu thi hành sẽ gây rối loạn. Tuy được ân xá, vẫn đặc biệt trách phạt. Trung Phục sau đó bị bãi chức Vĩnh Hưng quân, làm Đề cử Ngọc Long quán, theo lời xin của ông.
(Việc Ngọc Long quán là theo chỉ huy ngày 11 tháng 4 nhuận, nay ghi chép thêm. Bản truyện của Trung Phục chép: Quan Hữu bị hạn lớn, dân chúng lưu tán nhiều, Trung Phục cùng Giám ty tâu xin cứu tế, nhưng chấp chính sai sứ đi xét nghiệm, vu cáo là không đúng sự thật, nên bị đoạt một chức. Thực lục không chép việc sai sứ xét nghiệm, chỉ nói là trái chỉ, sự việc khá sơ lược, nay lược bớt và thêm vào. Có thể tham khảo lời đối đáp của Vương An Thạch ngày 29 tháng 4.)
[25] Ngày Canh Ngọ, Vua phê: “Xem 300 con ngựa mua ở lộ Lân Phủ tại điện Diên Hòa, thân hình nhỏ yếu, lại gầy gò, ít con đủ tiêu chuẩn để cấp cho quân đội, so với giá mua ở lộ Hi Hà lại rất đắt, nên bãi bỏ việc mua bán, chỉ lệnh cho Quân mã ty thu mua theo lệ thường.”
[26] Hữu Kiêu vệ Đại tướng quân, Thứ sử Tú châu[2] Trọng Kha cùng các quan tâu rằng: “Cha thần là Tông Thuyết ở ngoài hơn hai mươi năm, nay đã bảy mươi tuổi, xin nộp lại các giấy tờ chứng nhận chức vụ từ khi xuất thân để chuộc cha thần về cung. Hoặc xin cho phép thần cùng các em, cháu, con cháu được đến sống chung và phụng dưỡng cha thần.” Chiếu chỉ cho phép luân phiên một người con cháu đến đó phụng dưỡng. (Tông Thuyết mất vào ngày Canh Tý tháng 8 năm sau.)
[27] Ty Chuyển vận Quảng Nam Đông lộ xin miễn thuế dịch cho dân châu Nam Hùng không có ruộng đất nhưng vẫn phải nộp tiền thuế, triều đình đồng ý.
[28] Ngày Tân Mùi, Hàn lâm học sĩ, Đề cử chư ty khố vụ Dương Hội được quyền phái đến Khai Phong phủ.
[29] Tri châu Thanh, Hàn lâm Thị độc học sĩ Đằng Phủ và Tri châu Tề, Thiên Chương các Đãi chế Lý Túc Chi đổi chức cho nhau. Lúc đó đang xử án Lý Phùng, vì Phủ lấy em gái Phùng nên bị đổi. Sau đó, Phủ được bổ nhiệm làm Tri châu Đặng, còn Túc Chi vẫn giữ chức Tri châu Tề như cũ. (Phủ đổi đến Đặng châu vào ngày 21, nay ghi chung lại.)
[30] Ngày Nhâm Thân, chiếu chỉ: “Nghe nói các châu quân Hà Đông bị thiên tai đến nỗi người dân ăn thịt lẫn nhau, hãy lệnh cho Sát phỏng và Ty Chuyển vận điều tra thực hư, trình bày thứ tự cứu tế lên triều đình.” Sau đó, điều tra xác thực có việc này, đều đã được cứu tế.
Cùng bàn về địa giới Hà Đông, Lữ Đại Trung tâu: “Thần cùng Lưu Thầm hai lần hội đàm với người phương Bắc ở Đại Hoàng Bình, Tiêu Tố và Lương Dĩnh đều bị bẽ gãy lý lẽ, dù họ cố tranh luận, cố chấp không chịu thay đổi, thần xét tình hình, kỹ năng của họ cũng chỉ đến vậy. Kế sách hiện nay, không gì bằng nhân cơ hội này làm họ khốn đốn.
Thần mong được bổ nhiệm Lưu Thầm làm chức vụ ở bản lộ, lập Cục Địa Giới tại Đại Châu, lấy Tiêu Sĩ Nguyên làm phó, khi họ đến thì đàm phán, khi họ đi thì không hỏi đến, như vậy ta nhàn hạ, họ vất vả, trong thời gian ngắn, có thể quyết định được. Ở nơi biên ải xa xôi lâu ngày, tình cảm con người không chịu nổi, nếu vội vàng mong thành công, e rằng sẽ hại đến việc lớn, mà thần đang trong thời kỳ tang chế, bỏ việc tang lễ để lo việc sứ mệnh.
Hôm nay, Tiêu Tố và Lương Dĩnh nói chắc chắn sẽ giữ gìn quan hệ hữu hảo, quyết không có việc đột ngột khởi binh, việc thần ở lại hay về, cũng không quan trọng, xin cho thần được từ chức về nhà để hoàn thành tang chế.”
Lại tâu: “Người phương Bắc dòm ngó biên cương đã lâu, ban đầu là Thánh Phật Cốc, sau đó là Lãnh Tuyền Thôn, rồi đến Mục Dương Hoạn, Ngõa Sằn Ổ, xâm chiếm và xây dựng tổng cộng 29 đồn. Nay họ đòi đất, từ phía tây bắt đầu từ Tuyết Sơn, phía đông tiếp giáp Song Tuyền, bao gồm Bình Hình, Mai Hồi hai trại, kéo dài hơn 500 dặm. Đất xâm chiếm của ba châu Uất, Ứng, Sóc đã được xử lý, không còn nghi ngờ gì nữa, chỉ còn Ngõa Sằn Ổ đang thương lượng với phương Bắc. Khi Tiêu Hi chưa qua biên giới, thần đã tâu xin triều đình quyết định việc này, khi Hi đến, lại đều đồng ý, nay phía đông Tây Hình đều có bằng chứng rõ ràng, nếu không kiên quyết tranh chấp chỗ này, e rằng những nơi khác cũng khó giữ được.
Thần xét tình hình địch, có một điều có thể lay chuyển, và năm điều không thể lay chuyển. Họ quen được bao dung, xâm phạm Trung Quốc, nay nếu nhất định phải đòi lại, có thể khiến họ nổi giận, đây là điều có thể lay chuyển.
Hàng năm nhận được vàng bạc, so với đất đai, cái nào có lợi hơn, nếu vạn nhất cắt đứt quan hệ, mất mát sẽ nhiều, đây là điều không thể lay chuyển thứ nhất; quân đội họ tuy đông, nhưng yếu đuối kiêu ngạo, ít người có thể đối địch, không thể so với thời Hàm Bình, Cảnh Đức, đây là điều không thể lay chuyển thứ hai; thành trì không vững chắc, vũ khí không tinh nhuệ, nếu phòng thủ ắt nguy, nếu giao chiến ắt bại, đây là điều không thể lay chuyển thứ ba; dân vùng sơn hậu lâu nay khổ vì chính sách tàn bạo, đều có lòng hướng về Trung Quốc, nếu biên giới xảy ra xung đột, ắt phải đề phòng nội biến, đây là điều không thể lay chuyển thứ tư; người phương Bắc rất sợ Tây Hạ, lại có hiềm khích với Đạt Đát, nếu họ muốn tiến quân xa, há không lo bị chế ngự, đây là điều không thể lay chuyển thứ năm.
Chủ của họ nhu nhược và thiếu quyết đoán, mẹ già con nhỏ, dù có quan can gián, e rằng cũng không dùng được.
Nay sứ giả của họ lại đến, chắc chắn chưa chịu nói lời khuất phục, đợi khi tình ý họ hơi cởi mở, hãy lấy Hồ Cốc, Nghĩa Hưng Dã, Đại Thạch, Như Việt, Ma Cốc năm trại, cùng 15 đồn xâm chiếm năm Trị Bình thứ hai, dựa theo địa thế núi mà lập biên giới, hoặc thêm Ngõa Sằn Ổ, như ý kiến của Vương Cận và Cận Tông Thần, thì ta không có nỗi hổ thẹn phải nhượng bộ, họ cũng có danh nghĩa để rút lui. Khi Tiêu Hi về nước, không đạt được ý muốn, nếu vạn nhất họ phô trương thanh thế quân đội, dò xét thực lực của ta, xin chỉ huy các lộ suý thần, chỉ lo phòng bị, không nên tranh chấp gì cả.”
Lữ Đại Trung từ tháng 12 năm ngoái xin được về chịu tang, đến nay được khởi phục quan chức, cùng Lưu Thầm vào chầu, lại kiên quyết xin thêm một tháng, mới được chấp thuận.
(Ý kiến của Vương Cận và Cận Tông Thần, cần xem xét thêm.
Sử quan đời Chu chú thích: Lời tâu của Lữ Đại Trung, trong 《Thời chính ký》 và các tài liệu khác đều không thấy, chỉ có Lưu Thầm cung cấp, khó xác định thực hư, lại không có gì đáng lưu ý, nên đã bỏ đi. Nay theo bản mới, khôi phục lại. Lữ Đại Trung đến ngày 17 tháng 3 mới thôi thương lượng địa giới, về chịu tang.
《Cựu lục》 chép: Ngày 10 tháng 2, cho Lữ Đại Trung về chịu tang. E rằng không đúng.)
[31] Ngày Quý Dậu, Vương An Thạch, quan văn điện đại học sĩ, Lại bộ thượng thư, tri Giang Ninh phủ, được giữ nguyên chức vụ cũ là Bình chương sự, Chiêu văn quán đại học sĩ.
Ban đầu, An Thạch tiến cử Hàn Giáng và Lữ Huệ Khanh thay mình. Huệ Khanh sau khi nắm quyền, sợ An Thạch trở lại, bèn tìm cách ngăn cản, dùng mọi thủ đoạn để hại An Thạch, lại thường xuyên mâu thuẫn với Giáng. Giáng nhân cơ hội tâu lên Vua xin phục chức tể tướng cho An Thạch, Vua đồng ý. Huệ Khanh nghe tin kinh ngạc. Hôm sau, Vua sai Lưu Hữu Phương, câu đương ngự dược viện, mang chiếu đến Giang Ninh triệu An Thạch. An Thạch không từ chối, vội vã lên đường về kinh.
(Việc An Thạch phục chức, Thực lục không ghi rõ, nay tham khảo ghi chép của Ngụy Thái, Thiệu Bá Ôn, Ngô Kiên để bổ sung, đợi thêm tài liệu khảo cứu.
Ngụy Thái viết: Vương Kinh công nắm quyền, đổi mới chính sự thiên hạ, nhưng các bậc lão thành không đồng tình, Kinh công bèn dùng người mới, đối đãi không theo thứ bậc, nên chính sự một thời đều được thực hiện nhanh chóng, các chức vụ quan trọng trong triều đều do người mới nắm giữ. Đến khi Tam ty bàn việc thị dịch, Lữ Tham chính cho là trái pháp, Kinh công tin theo, kiên quyết xin từ chức. Thần Tông không nỡ trái ý, đổi từ Lễ bộ thị lang, Chiêu văn quán đại học sĩ sang Lại bộ thượng thư, Quan văn điện đại học sĩ, tri Giang Ninh phủ. Chiếu vừa ban ra[3], Lữ Gia Vấn, Trương Ngạc ôm Kinh công khóc, Kinh công an ủi: “Ta đã tiến cử Lữ Huệ Khanh rồi.” Hai người nín khóc.)
Đến khi Huệ Khanh vào triều, có ý phản bội, các quan thấy ông ta được Vua tin, cho rằng có thể thay thế Kinh công, bèn kết bè kết đảng. Sau đó, Đặng Oản, Đặng Nhuận Phủ dựng chuyện vu cáo Vương An Quốc[4], vụ án Lý Phùng lại lôi kéo việc Lý Sĩ Ninh để hại Kinh công, lại tâu: “Biên soạn sắc lệnh thời Hi Ninh không tiện, xin biên soạn lại.”
Lại bắt dân khai báo tài sản để lập sổ sách, lại muốn cấp ruộng để mộ dân làm dịch, phá hoại phép dịch. Những việc khác lợi dụng cơ hội, bàn tán xấu về cựu tể tướng rất nhiều[5], kỷ cương triều đình gần như rối loạn, thiên hạ lại nhớ đến Kinh công, thiên tử quyết định triệu ông về nắm quyền. Đặng Uyển sợ hãi, muốn xóa dấu vết cũ, bèn tố cáo việc Trương Nhược Tế, phản công Lữ Huệ Khanh. Triều đình sai Trương Ngạc làm Sát phóng sứ lộ Lưỡng Chiết để điều tra việc này, Ngạc vẫn muốn che đậy, nhưng Đặng Uyển lại do dự, tiến cử người không xứng đáng.
Lúc này, Lữ Huệ Khanh biết mình không được yên ổn, bèn liệt kê những sai lầm của Vương An Thạch và em trai ông, tổng cộng mấy việc, tâu lên mặt đối mặt với Vua, ý muốn khiến Vua có lòng nghi ngờ.
Vua đem những lời Huệ Khanh nói gửi cho Vương An Thạch xem, nên trong biểu của Vương An Thạch có câu: “Lòng trung không đủ để lấy được lòng tin, nên việc muốn tự minh oan[6]; nghĩa không đủ để thắng được gian tà, nên người ta mới lập kẻ thù”[7], ý nói về việc này. Sau đó, Huệ Khanh bị điều ra làm Tri châu Bạc Châu; Đặng Uyển bị cách chức Ngự sử trung thừa, giữ nguyên chức làm Tri châu Quắc Châu; Trương Ngạc bị cách chức Trực xá nhân viện, giáng chức và bãi nhiệm; những người khác bị cách chức không kể xiết, những người dưới quyền đều không còn lòng trung thành.
Vương An Thạch không còn ai cùng bàn việc, lại xin ra ngoài và lần nữa trấn thủ Kim Lăng, nên trong thơ có câu: “Phù vân dễ đổi màu trắng, cây bách già khó giữ được màu xanh”, ý nói về việc này. Ngụy Thái ghi chép việc này sai thứ tự, nay chỉ lấy những phần hợp lý. “Lòng trung không đủ[8]“, là bản biểu thứ ba xin ra ngoài năm thứ bảy; “lập địch”, có lẽ chỉ Tăng Bố, chứ không phải Lữ Huệ Khanh.
Thiệu Bá Ôn nói: Lữ Huệ Khanh sau khi được địa vị, liền phản bội Vương An Thạch, đưa ra những thư từ riêng của Vương An Thạch, trong đó có câu “đừng để người cùng tuổi biết”. Người cùng tuổi, chỉ Phùng Công, Vương An Thạch và Phùng Công đều sinh năm Tân Dậu. Lại có câu “đừng để Vua biết”, Thần Tông bắt đầu không vui với Vương An Thạch.
Huệ Khanh lại dựng vụ án Lý Phùng, liên quan đến Lý Sĩ Ninh. Sĩ Ninh là người Bồng Châu, có đạo thuật, Vương An Thạch ở tang Kim Lăng, cùng ông ta ở chung mấy năm, ý muốn hại luôn Vương An Thạch. Lại dựng vụ án Trịnh Hiệp, liên quan đến em trai Vương An Thạch là An Quốc, tội đến mức bị truy nã.
Huệ Khanh tìm cách hại Vương An Thạch, không từ thủ đoạn nào, Thần Tông tỉnh ngộ, vội triệu Vương An Thạch, ông không từ chối, từ Kim Lăng ngược dòng bảy ngày đến kinh đô, lại được phục chức Tể tướng Chiêu Văn. Huệ Khanh giữ nguyên chức ra làm Tri châu Trần Châu, vụ án Lý Phùng được giải, bọn đồng đảng mấy người đều bị xử tử, Lý Sĩ Ninh chỉ bị biên quản.
Than ôi, Vương An Thạch nếu không được Thần Tông bảo toàn thì nguy rồi.
Xét: Theo lộ trình Gia Hựu, từ Giang Ninh phủ đến kinh đô hai mươi hai trạm, đây nói ngược dòng bảy ngày đến, e không đúng, nên xét lại.
Xét theo Thực lục: Đằng Phủ dời đến Đặng Châu, thần chưa đến. Phủ dời đến Đặng Châu, là ngày hai mươi hai tháng hai. Huệ Khanh đưa ra thư “đừng để Vua biết”, có lẽ là sau khi ra làm Tri châu Trần Châu, điều Thiệu Bá Ôn nghe được e là sai.
Ngô Kiên nói: Tôi vào năm Nguyên Hựu gặp Lệnh Lâm Hoán là Lý Hồng, nói: “Vương An Thạch sau khi bãi chức Tể tướng, lấy Hàn Giáng thay mình, Lữ Huệ Khanh làm Tham tri chính sự, giữ pháp độ. Lúc đó gọi Giáng là ‘truyền pháp sa môn’, Huệ Khanh là ‘hộ pháp thiện thần’. Huệ Khanh sau khi đắc chí, dựng vụ án Lý Phùng, bắt Lý Sĩ Ninh, muốn hại Vương An Thạch, Giáng hoảng sợ, khẩn khoản xin Vua triệu lại Vương An Thạch. Một hôm tuyên chế, Huệ Khanh tưởng mình được chức Tể tướng, chế thư qua ban, Huệ Khanh đứng ngóng, quan cửa gọi tên Vương An Thạch, Huệ Khanh ngạc nhiên. Tôi nghe lời này hơn mười năm làm Thái học bác sĩ, vào Văn Đức nghe chế, mới biết lời Hồng nói có nhiều sai lầm. Phàm tuyên chế, đêm hôm trước Ngự sử đài báo các quan, sáng hôm sau vào đến cửa điện, chế thư đến, liền từ trong đưa ra, trên đề tên họ, đặt trong hòm để ở cửa, phàm người trong triều không ai không biết, há có chuyện quan chấp chính phải đợi qua ban gọi tên mới biết? Đại để truyền ngôn không đáng tin.”
Xét: Việc này chắc là vậy. Huệ Khanh ngóng chế thư, nghe gọi tên Vương An Thạch mới ngạc nhiên, hoặc không đúng sự thật. Lời nói Vương An Thạch được phục chức Tể tướng, do Hàn Giáng tâu lên Vua, có lẽ là sự thật. Ngày mười bảy tháng giêng, Kiển Chu Phụ đến Từ Châu xét vụ án Lý Phùng. Ngày mười một tháng hai, phục chức Tể tướng cho Vương An Thạch. Ngày mồng bốn tháng ba, mới sai Thẩm Quát, Phạm Bách Lộc đến Ngự sử đài xét vụ án Thế Cư. Vì vụ án Thế Cư mới bắt Lý Sĩ Ninh, lúc triệu Huệ Khanh, việc Sĩ Ninh thông đồng với Thế Cư chưa phát giác. Ngụy Thái, Thiệu Bá Ôn, Ngô Kiên ghi chép, đều nói Lữ Huệ Khanh dựng vụ án Lý Phùng, bắt Lý Sĩ Ninh để hại Vương An Thạch, xét ngày tháng, có lẽ không đúng, nay không lấy.
Tư Mã Quang trong “Ký văn” cũng chép việc Lý Sĩ Ninh, chỉ không nói Huệ Khanh muốn hại Vương An Thạch. Việc Sĩ Ninh trong “Ký văn”, xem ngày mười bảy tháng hai.)
[32] Ngu bộ viên ngoại lang Lữ Gia Vấn, Thái tử trung doãn Ngô An Trì đều được thăng một chức, các quan khác giảm một năm khảo hạch, lại nhân được chuyển tư, giảm năm, xuất chức có khác biệt, vì đã hoàn thành việc định ra pháp lệnh miễn hành cho các hộ buôn bán.
[33] Chiếu rằng kẻ tư hữu hoặc tư chế tạo cung Thần Tí, xử tội như pháp lệnh về tư chế tạo nỏ.
[34] Ghi chép việc bổ nhiệm cháu của cố Hình bộ thị lang Lý Thụ là Tương làm Giao xã trai lang. Thụ từng thường hầu hạ Anh Tông khi còn ở tiềm để, nhờ ân điển di biểu đã bổ nhiệm một người cháu, nhưng con trai ông lại xin ân điển, nên đặc cách ban mệnh này.
[35] Chiếu tạm thời bãi bỏ Tả, Hữu Thiên cứu phường.
[36] Ngày Giáp Tuất, Vua phê: “Nghe nói Hà Đông lộ bị hạn hán, dân chúng nhiều người chạy sang ngoài biên giới, quan lại biên giới buông lỏng, không nghiêm cấm, từ Ninh Hóa quân một lộ đã có hơn nghìn hộ chạy sang Bắc giới, e rằng các quận khác cũng có người bỏ trốn, hãy lệnh cho Chuyển vận, An phủ, Sát phỏng, Đề điểm hình ngục ty nhanh chóng điều tra tình hình tâu lên, bàn cách cứu tế.”
[37] Chiếu dời 5.000 quân đồn thú ở Hà Đông về doanh, dùng số lương thừa để cứu tế dân đói, trình bày thứ tự lên.
[38] Tam ty tâu: “Các cơ quan tại kinh đô nhiều nơi dựa theo lệ cũ chiếm dụng nhà công, doanh trại quân đội để sửa chữa công sở, lại xin cấp tiền thuê nhà, bắt chước lẫn nhau, có tăng không giảm, nên cấm chỉ tất cả.” Theo lời tâu.
[39] Ngày Ất Hợi, chiếu rằng các châu huyện bị thiên tai ở Hà Đông lộ, hộ thuộc đẳng thứ tư trở xuống nộp thuế thu năm ngoái, và hộ đẳng thứ ba trở xuống nộp lương thảo theo giá hòa địch, trừ số đã được miễn trừ, còn lại số lẻ, hãy lệnh cho Chuyển vận ty không hạn chế mức độ thiệt hại, đều được miễn trừ.
[40] Lại chiếu rằng, gần đây ban cho Hà Đông lộ độ điệp tử y để đổi lấy thóc, dùng vào việc cứu tế, nay Sát phỏng sứ Lý Thừa Chi tâu rằng Lộ châu, quân Uy Thắng, Bình Định bị thiên tai đặc biệt nặng, hãy lệnh cho Tư nông tự xuất thêm 10 vạn thạch thóc từ kho Thường bình để tiếp tục cứu tế.
[41] Ngày Bính Tý, bãi bỏ Tạp mại trường tại kinh đô. Tam ty xin theo lời tâu của Câu đương quan Vương Di bãi trường, mỗi năm tiết kiệm được hơn 2.000 quan tiền lương của quan lại. Đến ngày Tân Hợi tháng 10, lại theo lời xin của Tam ty mà cho lập lại.
[42] Chiếu cho Ty chuyển vận Hà Đông theo chiếu trước đúc 70 vạn quan tiền, ngoài ra đúc thêm 30 vạn quan tiền nhỏ.
[43] Lại chiếu cho Ty Nông xuất gạo cho dân đói Hà Bắc vay, phủ Chân Định 5 vạn thạch, các châu Hình, Minhh, Từ, Tương, Triệu mỗi nơi 3 vạn thạch, mỗi hộ không quá 2 thạch, đến mùa hạ thu hoạch thì nộp lại cho quan, và được miễn lãi.
[44] Ngày Đinh Sửu, Định Quốc quân Lưu hậu, Đề cử Cảnh Linh cung Hướng Kinh được bổ làm Tri châu Thanh. Kinh vào từ biệt ở điện Diên Hòa, được lệnh ngồi, ban trà. Khi lên đường, quan cấp xe và người hầu, ba cung đều sai sứ tiễn đưa rất long trọng. Chưa đầy một năm, vì bệnh được triệu về. Việc triệu về là vào ngày 16 tháng giêng năm sau.
[45] Quần mục sứ Lý Trung Sư tâu xin định số ngựa bổ sung cho Ty Mã quân Điện tiền trong doanh, chiếu cho bổ sung 7 phần.
[46] Chiếu cho Đô chuyển vận Thiểm Tây cùng Đô đề cử Thị dịch ty hợp sức khai thác mỏ bạc và đồng, lấy số thu được làm vốn mua thóc ở Hi Hà, theo lời xin của Vương Thiều khi làm Tri châu Hi.
[47] Tộc tôn của Chiêu Hiến hoàng hậu là Đỗ Chấn được bổ làm Tam ban tá chức. Chấn tự tâu xin, nên đặc cách ghi nhận.
[48] Ngày Mậu Dần, Vua phê rằng: “Xem thử nghiệm bảy quân doanh trận, thấy số lượng không đều, trước sau mâu thuẫn, khó áp dụng. Có thể sai quan thử nghiệm hiện nay chọn lấy những điều khả dụng, soạn định phép tám quân để tâu lên.”
Trước đó, Vua xuống chiếu cho Viện Xu mật: “Binh pháp của Lý Tĩnh đời Đường, đời nay không còn sách hoàn chỉnh, chỉ thấy rải rác trong 《Thông điển》, rời rạc sai lệch. Hơn nữa, danh hiệu quan chức và tên vật dụng khác với cách gọi hiện nay, nên các tướng tá võ quan phần nhiều không hiểu được ý nghĩa. Có thể sai quan Kiểm tường phòng Binh của Viện Xu mật cùng với Kiểm chính phòng Hình của Trung thư là Vương Chấn, quan Kiểm thảo của sở Tu soạn kinh nghĩa là Tăng Mân, quan Tập học công sự phòng Lại của Trung thư là Vương Bạch, Quốc tử giám thừa Quách Phùng Nguyên hiệu chính, phân loại, giải thích. Khi nào có thể thi hành được, thì sai Phó đô thừa chỉ của Viện Xu mật là Trương Thành Nhất, Nội nhập nội áp ban là Lý Hiến cùng Vương Chấn, Quách Phùng Nguyên đi xem xét nơi rộng rãi, bảo Ty Điện tiền sai hai nghìn tám trăm quân kỵ để dạy phép doanh trận của Lý Tĩnh.”
Lấy Phó đô chỉ huy sứ Bộ quân là Dương Toại làm Đô đại đề cử, Trương Thành Nhất, Lý Hiến làm Đồng đề cử, Vương Chấn, Quách Phùng Nguyên làm Tham nghị công sự, Hạ Nguyên Tượng, Tang Cảnh làm Tướng phó, Bộ đội tướng, Câu đương công sự, tổng cộng ba mươi chín người. Trương Thành Nhất ban đầu dùng phép Lục hoa trận của Lý Tĩnh, ước định hai vạn quân, chia làm bảy quân, mỗi quân Ngu hậu hai nghìn tám trăm người; lấy một nghìn chín trăm quân chiến đấu chia làm bảy mươi sáu đội, trong quân chiến đấu mỗi quân có ba trăm nỏ thủ, ba trăm cung thủ, năm trăm kỵ binh, bốn trăm quân khiêu đãng, bốn trăm quân kỳ binh, mỗi quân có chín trăm quân chuyển vận, tổng cộng là hai nghìn tám trăm người.
Vua dụ Lý Hiến rằng: “Hoàng Đế đặt ra phép Bát trận, đánh bại Xi Vưu ở Trác Lộc. Gia Cát Lượng vẽ đồ Bát trận, trên bãi cát bằng phẳng ở Ngư Phúc xếp đá thành tám hàng, Hoàn Ôn đời Tấn thấy nói là ‘thế rắn Thường Sơn’, văn võ đều không ai hiểu được. Đó chính là phép Cửu quân trận. Đến đời Tùy, Hàn Cầm Hổ rất tinh thông phép này, truyền lại cho cháu là Lý Tĩnh. Lý Tĩnh vì thời loạn lâu ngày, tướng tá thông hiểu phép này khá nhiều, nên đặt ra Lục hoa trận, biến đổi từ phép Cửu quân, khiến người đời không thể hiểu được. Đại để Bát trận tức là Cửu quân, Cửu quân là trận vuông; Lục hoa trận tức là Thất quân, Thất quân là trận tròn. Trận lấy tròn làm thể, trận vuông thì trong tròn ngoài vuông, trận tròn thì trong ngoài đều tròn. Lấy vật tròn để nghiệm thì vuông lấy tám bao một, tròn lấy sáu bao một, đó là đại thể của Cửu quân và Lục hoa trận. Lục quân gồm hai quân Ngu hậu tả hữu, bốn quân Tả hữu sương, cùng với Trung quân thành bảy quân. Bát trận thì thêm hai quân tiền hậu, thành chín quân.
Từ đời tổ tông triều ta, đặt ba chức suý Điện tiền Mã bộ quân, tức là tên khác của Trung quân, Tiền quân, Hậu quân, còn Đô ngu hậu Mã bộ quân là hai quân Ngu hậu, bốn sương Thiên Vũ, Phụng Nhật, Long, Thần Vệ là bốn quân sương. Suý Trung quân thống lĩnh chín quân, tức Điện tiền đô ngu hậu chuyên quản sự vụ một quân Trung quân, danh thực phù hợp với Cửu quân và Lục hoa trận xưa, không sai chút nào. Nay những người bàn về binh pháp đều lấy đồ trận trong 《Thái Bạch âm kinh》 của Lý Thuyên đời Đường làm phép, sai lầm rất xa.
Trẫm từng xem các đồ do thần liêu gần đây dâng lên đều mê hoặc lẫn nhau, không có gì đáng lấy, nếu quả như lời bọn họ nói, thì khi hai địch gặp nhau, phải sai sứ hẹn trước ngày đánh, chọn một nơi bằng phẳng rộng rãi, lại san bằng gò nổng, lấp khe hốc, chặt cây cỏ, như bãi tập bắn, mới có thể thi hành hết phép ấy, xét về lý thì biết chắc không thể dùng được. Nay có thể ước định theo phép của Lý Tĩnh làm chế độ doanh trận chín quân. Nhưng đồ của Lý Thuyên là phép doanh, không phải phép trận. Trẫm chọn phép xưa, xét hợp với tình hình hiện nay, doanh và trận vốn là một phép, đứng yên gọi là doanh, di chuyển gọi là trận, nói về kỳ chính thì doanh là chính, trận là kỳ.”
Vì thế có chiếu này.
(Thẩm Quát trong 《Bút đàm》 viết: “Phong Hậu bát trận, đại tướng nắm kỳ, đóng ở trung quân, thì hợp trung quân thành chín quân. Lý Tĩnh đời Đường vì quân ít khó chia thành chín quân, nên cải chế thành Lục hoa trận, hợp trung quân thành bảy quân. Tôi xét rằng chín quân là phương pháp, bảy quân là hình tròn. Toán thuật: Vật vuông tám bao một, là số thiếu âm, hợp với trung tâm thành lão dương; vật tròn sáu bao một, là số lão âm, hợp với trung tâm thành thiếu dương. Đây là hình dạng và số lượng cố định của vật, không thể thay đổi, đã là hai thế trận vuông tròn thì tự nhiên phải như vậy. Thứ tự chín quân, sau Lý Tĩnh bắt đầu thay đổi cổ pháp thành Tiền quân, Sách tiền quân, Hữu ngu hậu quân, Hữu quân, Trung quân, Tả ngu hậu quân, Tả quân, Hậu quân, Sách hậu quân. Thứ tự bảy quân là Tiền quân, Hữu ngu hậu quân, Hữu quân, Trung quân, Tả ngu hậu quân, Tả quân, Hậu quân. Dương kỳ, bị phục, tiên phong, đạp bạch đều ở ngoài trận; khiêu đãng, nỏ thủ đều ở trong quân.
Lại nói: “Năm Hi Ninh, sai Lục trạch sứ Quách Cố bàn luận phép chín quân, viết thành sách, ban xuống các phủ súy, phó bản cất ở Bí các. Phép của Cố là chín quân làm một doanh trận, hành quân thì thành trận, đóng quân thì thành doanh, dùng trú đội thống lĩnh[9]. Nếu theo cổ pháp, mỗi người chiếm hai bước, ngựa bốn bước, quân trong quân, đội trong đội, thì đội mười vạn người chiếm đất hơn mười dặm[10], thiên hạ há có đất vuông mười dặm mà không có gò đống, khe suối, rừng cây cản trở? Hơn nữa, chín quân cùng dùng một trú đội làm hàng rào, thì quân không thể chia được, như chín người cùng một tấm da, chia ra thì chết, đây chính là điều Tôn Vũ gọi là “mi quân”.
Lại nữa, cổ pháp trận có câu “mặt đối mặt, lưng kề lưng”, Cố không hiểu, bắt quân sĩ trong trận đứng nghiêng, mỗi hai hàng làm một ngõ, bảo họ đứng đối mặt, tuy hợp với cổ thuyết, nhưng không biết quân sĩ đứng nghiêng làm sao ứng địch? Vua nghi ngờ thuyết ấy, sai tôi xem xét lại. Tôi cho rằng chín quân nên tự lập trận riêng, tuy chia ra trái phải trước sau, nhưng mỗi quân chiếm địa lợi, dùng trú đội hướng ra ngoài tự vây, dù vượt khe suối rừng rậm cũng không ngại tự lập doanh. Khi trống chiêng nổi lên, thì co duỗi hợp tan, hồn nhiên không thể loạn. Chín quân hợp thành một đại trận, thì chia làm bốn ngả, như phép tỉnh điền. Chín quân đều lưng kề lưng, mặt đối mặt, bốn đầu tám đuôi, chỗ nào chạm vào cũng là đầu. Vua cho là phải, giơ tay lên nói: “Ví như năm ngón tay này, nếu cùng bọc một tấm da, thì làm sao dùng được?” Bèn chế thành lệnh, phép doanh trận hiện nay là vậy.”
Thẩm Quát tự chép: “Vua sai Lục trạch sứ Quách Cố bàn luận cổ chế làm phép trận, lấy phép dạy cờ của Lý Tĩnh làm chủ, ban xuống các phủ súy. Sau đó bàn luận chưa thỏa, Vua cũng cho rằng thuyết của Cố không đúng, lại sai Quát làm, bắt đầu tách chín quân thành chín trận, tự lập doanh riêng, phép của Tĩnh mới rõ, phép trận ở Bí phủ và biên châu hiện nay là vậy.”
《Nhật lục》 của Vương An Thạch chép: “Ngày 19 tháng 3 năm thứ 8, Vua dùng phép của Lý Tĩnh vẽ trận đồ, đội chia làm bốn bộ, tướng ở giữa, có thân binh mà không có bộ. Trước đó Lữ Huệ Khanh cực lực bàn việc này không thể, An Thạch cũng tâu với Vua rằng không đúng. Hôm đó lại trình lên, mọi người đều thuận ý Vua cho là tốt, chỉ có An Thạch và Huệ Khanh cùng phản đối, còn Vương Khuê không nói. An Thạch nói: ‘Phép ngũ của tiên vương e rằng không thể thay đổi, nay chia làm bốn bộ, tức là binh lấy phân hợp làm biến, không biết chia bốn bộ thì đại tướng ở giữa nương tựa vào đâu? Nếu nương vào một trong bốn bộ, thì một bộ có hai đại tướng; nếu không nương vào bốn bộ, đại tướng lại không có gì tự vệ, làm sao đối địch?’ Vua im lặng, bèn tạm lệnh thử dạy.”
E rằng điều An Thạch phản đối chính là phép ngũ quân trận nói ngày 9 tháng 5, nên khảo cứu.
《Hội yếu》 thiên Trận đồ chép: “Ngày 9 tháng 5 năm thứ 8, chiếu các lộ tạm ngừng dạy ngũ quân trận, chỉ dạy tứ ngự trận.” Cựu kỷ chép ngày Mậu Dần chế phép bát quân, tân kỷ bỏ đi.)
[49] Ngày Kỷ Mão, ban chiếu rằng: “Nghe nói ở lộ Hà Đông, việc cứu tế dân đói tập trung quá nhiều người một chỗ, phủ Thái Nguyên phải dùng doanh trại trống để chứa, ước chừng đến cả vạn người. Mùa xuân e rằng dễ sinh dịch bệnh, nay lệnh cho ty Sát phỏng và Chuyển vận dụ các châu huyện căn cứ vào lượng lương thực mỗi người nhận được, tính theo ngày mà cấp phát đủ, rồi cho về nguyên quán. Còn những người từ châu huyện khác lưu lạc đến mà chưa thể tự về được, thì phân tán xử trí rồi tâu lên.”
[50] Ty Nông tự tâu: “Các giám ty ở lộ Kinh Đông chọn cử quá nhiều quan lại để lập sổ sách năm hạng, e rằng gây phiền nhiễu, xin cho bản tự cử một viên quan đi khắp nơi xem xét, nếu có điều gì không hợp lý thì cho phép sửa đổi.” Triều đình nghe theo.
[51] Ban chiếu bãi bỏ ty Chế trí quân mã lương thảo các lộ Kinh Nguyên, Tần Phượng, giao cho các ty Kinh lược và Chuyển vận của từng lộ quản lý. Trước đây, ty Quân mã lương thảo do Vương Thiều phụ trách, nay Thiều đã được triệu về kinh, nên bãi bỏ.
[52] Tướng tác giám thừa Hồ Tông Hồi tâu rằng ở lộ Hà Bắc Đông, số kho tàng cần tu sửa là 4.600 gian, tốn 9 vạn quan tiền. Triều đình ban chiếu cho châu Thiền và Bắc Kinh xây kho chứa lương, châu Thiền 3.150.000 thạch[11], Bắc Kinh 4.500.000 thạch, thời hạn hoàn thành là 2 năm, ban 500 độ điệp để chi phí. Tông Hồi là con của Hồ Túc. (Tháng 11 ngày Canh Ngọ, Tông Hồi xin bãi bỏ việc tu sửa kho, cần tra cứu thêm.)
[53] Ngày Canh Thìn, Quang lộc khanh, Trực Chiêu văn quán, Tri châu Ngạc là Phan Túc được bổ làm Đề cử Ngọc Long quán. Do Kinh Hồ sát phỏng Bồ Tông Mạnh tâu rằng: “Túc bị bệnh chân, tuổi đã 70, xin cho về hưu hoặc bổ làm quan cung quán” nên có mệnh lệnh này.
[54] Ban chiếu tay: “Những người nước ngoài do thám, lệnh cho Đô đình dịch và phủ Khai Phong bí mật sai người truy bắt. Ai bắt được một người, thưởng 1.000 quan tiền, lại được bổ làm quan; nếu chủ nhà hoặc người biết tình mà tố giác, ngoài việc được miễn tội còn được thưởng.” Lúc đó sứ giả phương Bắc sắp đến, lo có kẻ gian do thám Trung Quốc.
[55] Dẫn tiến sứ, Mi Châu phòng ngự sứ Lý Đoan Xác được bổ nhiệm làm Nghi Châu phòng ngự sứ. Trước đây, Đoan Xác vì việc ở Ký Châu bị kéo dài thêm hai năm mới được bổ nhiệm chính thức, đến nay vẫn còn dư vài tháng, nhưng chiếu chỉ đặc cách bổ nhiệm. (Việc này căn cứ theo 《Ngự tập》. Xét rằng từ khi Đoan Xác nhận được chỉ thị chuyển niên đến nay đã qua bao nhiêu tháng ngày, nên chiếu chỉ giảm bớt số tháng ngày còn thiếu để bổ nhiệm chính thức.)
[56] Trung thư tâu: “Đường hậu quan Vương Cổn và các quan biên soạn quy định bốn loại phạm tội của quan chức, xin giao cho Hữu ty, không cần lập thêm hai cục Tường định mệnh quan quá phạm và Khán tường biên phối tội nhân. Khi có lệnh ân xá, Hình bộ căn cứ tỷ lệ quyết định, trình lên Trung thư thi hành.” Vua đồng ý.
[57] Ngày Tân Tỵ, Bộ quân phó đô chỉ huy sứ, Uy Vũ quân lưu hậu Tống Thủ Ước mất, được truy tặng An Vũ quân tiết độ sứ, thụy là Cần Nghị.
[58] Ngày Quý Mùi, chiếu chỉ các lộ Kinh lược ty ghi tên những người được tuyển dụng, phân chia cho các tướng, người không có tên trong sổ không được tự ý mang theo.
[59] Lại chiếu chỉ rằng quan võ khi ra vào được phép mang theo thân thuộc, nhưng không được dùng công trạng để xin thưởng như các tướng sĩ. Nếu có công lao đặc biệt, được mọi người suy tôn, thì do suý thần xem xét tâu lên.
[60] Ngày Giáp Thân, Vua ban chiếu: “Gần đây, các văn thư tấu trình từ Hà Bắc Đông, Tây lộ thường dùng ngựa trạm chuyển phát. Binh lính hai lộ đã mệt mỏi vì chạy ngược xuôi, không chỉ làm kinh động dân chúng, mà nếu chẳng may có việc biên giới thực sự, không biết sức người có thể đương đầu được không? Hãy truyền cho Giám ty căn cứ điều ước mà xem xét lại.”
[61] Chiếu chỉ cho Tây Hình trại chủ Đại Châu, Nội điện sùng ban Tần Hoài Tín thay đổi nhiệm vụ. Vì Khiết Đan đang bàn việc phân định địa giới ở Đại Hoàng Bình, tức là cửa khe Xa Trường, nơi đặt trướng mạc thuộc khu vực quản lý của Hoài Tín, nhưng ông không kịp thời ngăn chặn. (Việc này ghi ngày 5 tháng 4, cần xem xét thêm. Khe Xa Trường, xem ngày 28 tháng 12.)
Trước đó, địch vì việc phân định địa giới Hà Đông bàn bạc lâu ngày không quyết định, lại sai Tiêu Hi đến. Triều đình xuống chiếu cho Thái thường thiếu khanh Hướng Tông Nho và Hoàng thành sứ kiêm Cáp môn thông sự xá nhân Vương Trạch tiếp đón. Khi đó, Tông Nho tâu rằng: “Tiêu Hi đến dịch trạm Bạch Câu ở Hùng Châu, không chịu giao ngựa chở hàng, muốn đến đình phía bắc thành, không theo lệ cũ.”
Vua phê rằng: “Tiêu Hi ở Bạch Câu đã mấy chục ngày, đến nay vẫn chưa nghe nói khởi hành, Tông Nho tuy nhiều lần giữ theo lệ cũ, nhưng Hi vẫn không có ý thuận theo, muốn kéo dài thêm. Ta lo rằng tình hình bên kia càng thêm cương quyết, hoặc sẽ nói ra lời bất kính, hoặc dùng tuần mã áp giải xuống phía nam, càng khó xử lý. Người của Hùng Châu ngăn cản, lại gây ra tranh cãi, nếu xảy ra náo động, có thể làm thương tổn quan lại, e rằng không thể thu xếp được.
Năm ngoái Thái Xác tiếp đón, năm trước tiếp đón Tiêu Hi, sứ là Thái thường thiếu khanh Thái Xác, phó sứ là Hoàng thành sứ kiêm Cáp môn thông sự xá nhân Lý Duy Tân, việc này căn cứ theo danh hiệu quốc tín, Thực lục không ghi chép. Còn chức vụ của Hướng Tông Nho, Vương Trạch cũng căn cứ theo danh hiệu quốc tín. Đã cho phép ngựa chở hàng theo lệ thường như xe cộ, giao nhận tại Hùng Châu, nay khó từ chối ý của họ, có thể xem xét chỉ làm theo tấu của người tiếp đón[12], đặc cách cho phép theo lệ năm ngoái chia làm hai đoạn trao đổi, để phần nào thông hiểu tình hình, dễ bàn bạc việc biên giới.”
Lại phê rằng: “Sứ phương bắc ở lâu tại Bạch Câu, đã nhiều ngày, từ khi thông hảo đến nay chưa từng có việc này, triều đình xử lý thực sự không thể chậm trễ. Bởi việc tranh chấp nhỏ, mà điều cần quan tâm lớn. Người bàn luận nếu cho rằng sợ phương bắc nhân đó chiếm cứ đất thuộc cả hai bên, điều đó rất không đúng.
Hơn nữa, phương bắc trước sau đưa ra bằng chứng cho rằng đất đó thuộc về họ, đâu chỉ một việc, như thuế xuân thu, mượn đất xây quán, dựng cột tiêu bên cổng Hùng Châu[13], cùng việc tuần mã không ngừng qua lại, không cần thêm việc giao nhận ngựa chở hàng mới có thể chiếm cứ. Huống chi một nửa nhân phu đã được thay thế tại Bạch Câu, về lý không có hại gì lớn, có thể nhanh chóng bàn bạc chỉ đạo.”
Bèn sai nội thị truyền chỉ, nhân phu gánh vác giao nhận tại Bạch Câu, còn ngựa chở hàng thì theo lệ thường năm trước, cho phép đến đình phía bắc thành. (Tháng 3, ngày Giáp Dần, Tông Nho bị phạt đồng.)
[62] Chiếu rằng: “Gần đây lệnh dùng tiền dư thừa mua ruộng để chiêu mộ dân phục dịch, cần phải xem xét kỹ lưỡng để chi dùng khi có thiên tai, không được để thiếu hụt, những nơi giá ruộng cao thì ngừng mua.” Do Lưỡng Chiết lộ Chuyển vận sứ Vương Đình Lão tâu rằng, ở huyện Tây An, châu Cù mua ruộng núi giá cao, dùng đến 12 vạn quan tiền mới đủ chiêu mộ dân phục dịch cho một huyện, vừa bỏ thuế tỉnh, lại mất tiền thuế miễn dịch và thuế nha; Ty Nông tự tâu rằng, e rằng không chỉ Lưỡng Chiết tốn kém như vậy, muốn thay đổi pháp lệnh. Vì thế có chiếu này.
(Tô Thức trong tấu nghị ngày 6 tháng 4 năm Nguyên Hựu thứ nhất cần xem xét.
《Nhật lục》 của Vương An Thạch ngày 3 tháng 4 năm thứ 8[14]: An Thạch bàn việc cấp ruộng để chiêu mộ dân phục dịch có hơn mười điều hại[15], Vua nói: “Nếu như vậy, ban đầu sao lại có nghị định này? Người bàn nghị hẳn có lợi gì đó.” Hôm sau, xem lại nghị định ban đầu, là do Lý Thừa Chi nói việc chiêu mộ cung thủ nên như chiêu mộ cung tiễn thủ thì tiện, bèn làm theo pháp này, còn lại không có lợi gì. An Thạch nói: “Chỉ dùng ruộng để chiêu mộ cung tiễn thủ, đã không tiện bằng chiêu mộ cung thủ. Cung tiễn thủ tuy chọn người khỏe mạnh, nhưng chỉ đủ cho một nhà, nếu có thể là người khỏe mạnh thì không từ chối. Cung thủ thì chọn người khỏe mạnh từ khắp nơi[16], những người được chiêu mộ đều là người thực sự khỏe mạnh.” Vua bèn lệnh bãi bỏ pháp lệnh dùng ruộng chiêu mộ dân phục dịch.
Xét: Việc bãi bỏ pháp lệnh dùng ruộng chiêu mộ dân phục dịch là vào ngày 12 tháng 4, đây chỉ là chiếu lệnh không mua ruộng giá cao mà thôi.)
[63] Ngày Ất Dậu, phong cho quan chức người Thổ là Trưởng Ma Tát Cách, hiện giữ chức Tam ban phụng chức, làm Hữu thị cấm, những người còn lại làm Chỉ huy sứ quân chủ bản tộc, thăng chức và ban thưởng lụa có khác nhau. Lộ Hi Hà tâu rằng Trưởng Ma Tát Cách trước đây bị Quỷ Chương bắt giữ, sau đó nghe tin thủ lĩnh Tông Ca là Khê Đỉnh Am Bang lại muốn xâm lấn, bèn dẫn quân bộ đánh chặn có công, nên được ban thưởng.
[64] Xuống chiếu cho lộ Hà Bắc Đông tăng thêm 15 chỉ huy quân sương để luyện tập, đặt tên là Sùng Vũ. Sau đó bãi bỏ. (Sử Chu chú thích: Tháng sáu không tuyển thêm chỉ huy, đã xóa bỏ. Nay vẫn giữ lại.)
[65] Cho con của Ngu bộ viên ngoại lang Đổng Nguyên Hanh là Nghiêu Vấn làm Thí tướng tác giám chủ bạ. Nguyên Hanh tử trận ở châu Bối, mà con cháu không được hưởng bổng lộc, An phủ ty lộ Đại Danh phủ tâu xin, nên được ghi nhận.
[66] Sát phỏng sứ Hà Bắc là Tăng Hiếu Khoan tâu: “Năm Khánh Lịch thứ 8, từng xuống chiếu cho các châu quân Hà Bắc, hộ phường quách hạng ba và hộ nông thôn hạng hai, mỗi hộ nuôi một con ngựa bọc giáp, để phòng khi quan mua đột xuất, xin xét lại thi hành.” Phép hộ mã bắt đầu từ đây.
(Sử Mực ghi chép phép mã bắt đầu từ đây[17].
Sử Chu chú thích: Tiên đế noi theo ý nghĩa thời Tam đại là ngụ binh trong nông dân, lập ra phép bảo mã. Phép chưa hoàn thiện thì gặp biến cố. Sử quan trước cho rằng phép hộ mã bắt đầu từ đây, thực là sai lầm, đã xóa bỏ. Sử Chu chỉ biết nịnh hót, không hiểu phép làm sử, sử mới đã khôi phục lại, nay theo sử mới.
Kỷ sử mới chép: Lần đầu thi hành phép hộ mã ở Hà Bắc. Thẩm Quát bàn rằng sở trường của Trung Quốc không nằm ở ngựa, việc này ghi kèm ngày mùng 4 tháng 8.)
[67] Ngày Bính Tuất, Lưu Di, Tri châu Quế, Đô quan viên ngoại lang, Trực sử quán, được thăng làm Từ bộ lang trung. Do đề điểm hình ngục ty lộ Quảng Nam Tây tâu rằng Lưu Di không được khảo xét gần mười năm.
[68] Phủng Nhật Thiên Vũ tứ sương đô chỉ huy sứ, Dân Châu đoàn luyện sứ, Tri Hi Châu Cao Tuân Dụ làm Tổng quản Hi Hà lộ, vẫn giữ chức Tri Hi Châu. Ngày Mậu Tuất tháng 10 năm thứ 5, Tuân Dụ lần đầu được quyền Tổng quản[18].
[69] Chiếu cho các lộ thị dịch giao cho Chuyển vận ty đề cử, đồng thời đặt chức Đồng đề cử quan, theo lời thỉnh của Đô đề cử thị dịch ty. Sau đó lại chiếu rằng khi Đồng đề cử quan hết nhiệm kỳ thì không bổ nhiệm người khác, mà giao cho quan Chuyển vận ty đề cử. (Việc không bổ nhiệm người khác là chiếu ngày 25, nay ghi chung vào đây.)
[70] Chiếu rằng trong và ngoài kinh thành, ngoại trừ việc tu sửa kho tàng, trường chứa, cửa hàng, nhà cửa thu thuế, từ cung điện, vườn thượng uyển cho đến các công sở, chùa chiền, đều tạm ngừng qua 7 năm rồi mới xin chỉ. (Ngày Tân Dậu tháng 9 năm thứ 10, lại ban chiếu tạm ngừng 7 năm, cần xem xét thêm.)
[71] Đồng Quản câu Ngoại đô thủy giám thừa là Trình Phưởng và các quan khác tâu rằng: “Trước đây đã xin lấy 36 hồ ở phía tây kinh thành làm đập, chứa nước đổ vào sông Biện để thông vận chuyển. Ruộng dân trong các hồ đó, xin trước hết sai quan đo đạc diện tích, rồi theo số lượng mà hoàn trả, hoặc cấp tiền bồi thường. Lại nữa, việc mua gỗ từ xa về, sông Biện trong cần tu sửa trong hai ba năm[19], vẫn nên chọn các quan thần liêu am hiểu việc sông ngòi để xem xét và bố trí lại.” Chiếu cho Hàn lâm Thị độc học sĩ Trần Dịch, Nhập nội đô tri là Trương Mậu Tắc cùng với Trình Phưởng và các quan khác xem xét lại rồi tâu lên. Sau đó, Trần Dịch và các quan tâu rằng: “Vâng chiếu xem xét lại nguồn nước sông Biện trong, thấy ở các huyện Quản Thành, Tân Trịnh, Mật có nhiều nguồn nước rất mạnh, tương lai dẫn nước vào sông Biện, cần phải sửa sang trước, có thể giúp việc vận chuyển.” Chiếu cho Ty đề điểm phủ Khai Phong, Ty chuyển vận lộ Kinh Tây Bắc tính toán công và vật liệu rồi tâu lên. Trần Dịch và các quan lại tâu: “Nếu vào tháng giêng mở cửa sông Biện, lấy nước chưa đục của một con sông, rồi đóng cửa sông Biện, sửa sang các sông Cổ Tác, Kim Thủy, Thái Thủy đổ vào sông Biện, đã thấy rõ việc sông Biện trong chắc chắn thành công. Việc đặt đập, sửa sang, vật liệu đất đá, hiện đang lệnh cho Dương Diễm và các quan khác tính toán.” Chiếu đợi khi xem xét xong, trình bày các việc cần làm rồi tâu lên. (Trần Dịch xem xét xong vào ngày 20 tháng 3, nay ghi chép lại. 《Chu sử》 chép quá sơ lược, nay ghi đầy đủ.)
[72] Ngày Đinh Hợi, chiếu rằng từ nay các tông thất có quan hệ họ hàng xa (tế ma) muốn ra làm quan, từ chức Tướng quân trở xuống đều nghe theo chỉ dụ.
[73] Đô đề cử Thị dịch ty tâu: “Xin mượn ngà voi, sừng tê, châu ngọc ở kho Phụng Thần trị giá tổng cộng 20 vạn quan, đem ra chợ giao dịch, đến cuối năm sau sẽ trả bằng tiền mặt.” Được chấp thuận.
[74] Xuất 1 vạn thạch gạo từ kho Thường bình để cấp cho châu Tô chẩn tế dân đói, vì dân huyện Thường Thục bị thiên tai hại lúa.
[75] Ngày Kỷ Sửu, Vua phê: “Quân hành dinh đặt cự mã ở khe xe để ngăn chặn kỵ binh xông vào, là điều không thể thiếu. Nay ở Hà Bắc phần nhiều dùng tre làm, nhẹ dễ hỏng, hãy lệnh cho Quân khí giám theo mẫu trước đây chế tạo ba vạn bộ, đưa đến Bắc Kinh, Thiền Định châu.”
[76] Xem xét biên soạn điều lệ trung thư, Lý Thừa Chi dâng lên 13 quyển điều lệ phòng Lễ và 19 tập mục lục, Vua ra chiếu thi hành.
[77] Tư Nông tự tâu: “Ty sĩ tham quân Cát Đức ở Kim châu bỏ tiền riêng tu sửa thủy lợi, đã được miễn chức Ty sĩ tham quân, xin ban thưởng thêm.” Vua ra chiếu ban cho 10 tờ độ điệp.
[78] Ngày Canh Dần, ra chiếu miễn thuế thu đông còn thiếu của Lư châu, Thọ châu, Hào châu, Hòa châu, Quang châu và quân Vô Vi.
[79] Nội điện sùng ban Triệu Vĩnh Đồ tâu: “Vâng chiếu cho phép dùng đất cũ của tổ tiên ở Bảo châu xây chùa Tư Quả để giữ gìn phần mộ tổ tiên, mỗi năm độ một nhà sư, xin vào dịp lễ Đồng Thiên tiến sớ công đức ở cửa Đông nội để độ thêm một người.” Vua đồng ý, nhưng miễn việc tiến sớ công đức.
[80] Ngày Tân Mão, Bí thư thừa, Quán các hiệu khám Vương An Lễ được bổ làm Trực tập hiền viện, thôi chức Kiểm chính trung thư khổng mục phòng công sự để tránh việc anh là Vương An Thạch.
[81] Thẩm hình viện tường nghị quan, Điện trung thừa Chu Đại Giản tâu: “Trước đây định việc Thẩm quan tây viện sai Đô tuần kiểm Khang Bính ở Thiền châu không đúng phép, Ngự sử đài xét việc của Đại Giản kéo dài không quyết, gặp đại xá nên bị cách chức. Vì Đại Giản muốn đến Trung thư, Xu mật viện trình bày nên bị trễ hạn, không phải do lơ là công việc, mà Xu mật viện vẫn xử theo phép.” Vua ra chiếu cho Thẩm hình viện, Đại Lý tự, từ nay những việc Trung thư, Xu mật viện giao xét định, phải theo điều lệ mà quyết định, không được trình bày riêng.
[82] Chế trí hai lộ Vĩnh Hưng, Tần Phượng về việc giao tử là Triệu Chiêm tâu: “Xin cho Đông lộ đô chuyển vận sứ Tạ Cảnh Ôn và Tây lộ chuyển vận phán quan Lưu Định đều kiêm chế trí việc giao tử.” Vua nghe theo. (Ngày 26 tháng 9 năm [Thiệu Thánh] thứ 7 có thể tra cứu. Ngày 24 tháng giêng năm thứ 8, Bì Công Bật nói…, lại ngày 5 tháng 3 nói… Ngày 27 tháng giêng năm thứ 9, bãi bỏ giao tử.)
[83] Đồn điền viên ngoại lang, thông phán châu Thiền là Triệu Dương được quyền giữ chức Tri châu Thiệu. Trước đây cử võ quan, lúc đó chuyển vận ty của bản lộ tiến cử Dương, nên đặc biệt cho phép, lại ra chiếu từ nay thay đổi cử văn quan.
[84] Ra chiếu thống kê số lượng tăng giảm võ quan và tiền lương từ năm Nguyên niên đến cuối năm thứ 7 để tâu lên.
[85] Bộ lạc người Phiên ở lộ Phu Diên là Lăng La Sách Mộc Đa và Y Khắc Sấm Uy gặp năm đói kém bỏ chạy ra ngoài biên giới, gặp lúc ân xá, theo luật phải chém. Chiếu rằng tình hình đáng thương, đánh bằng trượng vào lưng rồi đày đến lao thành Hồ Nam.
[86] Tháng đó, Sát phỏng sứ Hà Bắc Tây lộ là Thẩm Quát tâu: “Thần xét rằng lợi thế của nhà binh là đánh vào chỗ không phòng bị, xuất kỳ bất ý. Thần ngày đêm nghiên cứu về mấy việc biên phòng của bản lộ vốn không được chuẩn bị, nên có biện pháp đối phó trước, xin được xem xét kỹ lưỡng.
Đầu tiên, việc phòng thủ biên giới của bản lộ, trọng binh đều đóng ở Định châu, người bàn về phòng bị chỉ coi Bắc Bình là nơi xung yếu, còn phía đông Đỗ thành ở Bảo châu có chỗ khó khăn về đường thủy[20], người bàn mưu chưa từng để ý. Thần cho rằng kẻ địch nghiên cứu tình hình hư thực, hướng lưng của biên phòng Trung Quốc không phải một ngày, vạn nhất chúng xâm phạm, tất phải xuất kỳ bất ý, đường đi hiểm trở, nghiên cứu không thể không kỹ.
Gần đây thần đi khảo sát biên giới, thấy rằng phía đông Bảo châu[21], phía tây Thuận An quân, có đồng bằng rộng hơn 30 dặm[22], thẳng từ nam đến bắc, hoàn toàn không có chướng ngại, không qua châu huyện nào, có thể cho đại quân tiến thẳng, từ Vĩnh Ninh quân phía đông đánh vào Thâm, Ký, đi trên đất không người, Định châu chỉ cần giữ phía tây Đỗ thành, quân chưa kịp di chuyển thì kỵ binh địch đã vượt qua Cao Dương rồi.
Hoặc giả, kẻ địch từ Định châu xâm phạm, quân Định châu tất dựa vào Tây Sơn chặn đường về, chúng sẽ gấp rút tiến thẳng đến Thuận An, quân Định châu tuy đông nhưng chưa kịp ra tay thì địch đã ra khỏi ải rồi. Điều này không thể không lo. Đường thông suốt, đồng bằng rộng mênh mông, người bàn mưu không lo điều này mà chỉ lo lắng thái quá về nơi xung yếu Bắc Bình, thần thấy lạ lùng. Đường núi Tây Sơn liên tiếp, có thể phục kích, tiến thì Định châu chặn trước, lui thì Bảo châu, Quảng Tín đánh sau, kẻ địch dám vào Bắc Bình thì không biết Thuận An, nếu chúng biết Thuận An dễ dàng thì Bắc Bình dù không phòng bị cũng sẽ bỏ qua, huống chi đã có phòng bị.
Thần xem xét thấy từ phía tây Bảo châu đến Cửu Khoảnh Đường khoảng 7 dặm[23], và từ đê thôn Đông Dương Bảo châu phía đông đến đê thôn Tang khoảng 30 dặm, thời Khánh Lịch đều từng đắp đê ngăn nước, dấu tích còn lại, nếu sửa chữa thêm một chút, phía tây đón nước các sông Tào, Bào, thì phía đông Đỗ thành sẽ liên tiếp có chướng ngại đường thủy, kỵ binh địch ra vào chỉ còn một đường Bắc Bình. Quân Định châu dựa vào hiểm địa bày trận, chế ngự từ hai phía, sông Hô Đà ngăn trở, thì có thể chặn trước; dòng sông Đường có thể khơi thông[24], thì đủ để chặn sau.
Có biện pháp đối phó với địch và khiến chúng tất phải đến, đây là phương lược tất thắng. Nay thần vẽ đồ dâng lên, chi tiết từng bước xin trình bày riêng.”
Vua xuống chiếu cho Diêm Sĩ Lương, quan coi việc đồn điền, đi xem xét. Sĩ Lương tâu rằng: “Xem xét từ phía tây Bảo Châu đến Cửu Khoảnh Đường[25], và từ đê Đông Dương thôn phía đông Bảo Châu đến đê Tàng thôn, nếu tu sửa và nối thêm, đắp đê để ngăn các sông, tạo thành chỗ hiểm yếu, thật là tiện lợi.
Tuy nhiên, nền cũ đã bị bỏ phế hơn 20 năm, giao hết cho dân. Xét kỹ phía đông Cửu Khoảnh Đường và đê Dương thôn, trong đó cũng có đất của quan, dọc đê Tàng thôn có sông Từ, nếu sửa đê trước, đợi mùa hè thu nước lên, chẳng bao lâu sẽ thành công, ruộng dân xen kẽ bên trong, dần dần thu mua. Còn đê Tôn thôn phía tây đến đê Dương thôn, đất thấp, trước đây đã dùng tiền quan mua, sau đó có nha lại Bảo Châu là Lý Tri tự trình bày rằng đất đó vốn là đất chăn nuôi của quan, khi Triệu Tư làm tri châu Bảo Châu, đã đòi lại tiền đã trả, đất đó giao cho dân, trong đất đó cũng có thể tìm lại ruộng cũ, đào sông phân nước, trồng lúa dọc sông, dần dần tạo thành chỗ hiểm yếu, hoặc khi cần có thể đắp đê ngăn các sông, để chống lại sự xâm nhập.”
Vua chuẩn tấu, trong đó có đất xâm lấn của dân, lập tức dùng đất quan bồi hoàn, hoặc trả tiền, trước hết phải trình rõ số ruộng đất chiếm của dân.
(Thẩm Quát bàn theo 《Hội yếu》, phụ vào tháng 2 năm thứ 8, 《Thực lục》 không có. Quát tự chép rằng: Ông đi sát phỏng biên giới phía tây Hà Bắc, bàn việc tu sửa phòng bị biên giới, thay đổi chính sách cũ hơn mười việc. Từ Bồ Thành phía đông đến Biên Ngô Điện hơn 50 dặm, theo bản đồ gọi là Từ Thôn Điện, các đầm nối tiếp nhau, thực ra đều là đất bằng phẳng, không còn dấu vết đầm hồ, quân địch có thể thẳng đến Thâm Châu. Ông xin đào sông Từ, Bào để làm chướng ngại, dẫn nước xuống các đầm, Vua xem tấu, kinh ngạc nói: “Bản đồ không chính xác như vậy, sao dùng được quan giữ biên?” Bèn quyết định làm theo.
Có đại thần nói có thể đào đê để thoát nước, ông đáp: “Đào rộng 50 dặm làm hồ, phá đê tháo nước, không một tháng không cạn. Nước tràn ra, thường lan rộng hàng trăm dặm, chảy vào đất địch, đầm lầy không thể đi lại, đủ để làm khó địch, không phải là mối lo của Trung Quốc.”
Ông tự cử quan đốc thúc, hai lần đắp đê thì thành.
Điều này cũng được chép trong 《Hội yếu》. Hai lần đắp đê thì thành, cần xem xét. Quát tự chép rằng đi sát phỏng Hà Bắc tổng cộng 31 việc, đều được chuẩn tấu. Nghị về đồn điền theo lệ cũ phụ vào đây, còn lại đều phụ vào ngày Quý Tỵ, mùng 4 tháng 8 năm thứ 8.)
[87] Bãi bỏ huyện Cổ Dương thuộc quân Hoài Viễn, đổi thành trại Hoài Viễn, huyện Thuật Côn đổi thành trấn. Bãi bỏ huyện Lễ Đan thuộc châu Trấn Ninh, sáp nhập vào huyện Tư Ân thuộc châu Hoàn, đều thuộc châu Nghi. Bãi bỏ huyện Chiêu Dụ thuộc châu Nguyên và trại Cẩm Châu, sáp nhập vào huyện Ma Dương.
(《Thực lục》 tháng 8 năm thứ 7 chép: Sáp nhập huyện Ma Dương thuộc châu Thần vào trại Cẩm Châu, thuộc châu Nguyên. Cuối tháng này lại chép: Bãi bỏ huyện Chiêu Dụ thuộc châu Thần, sáp nhập vào châu Nguyên. Xét: Tháng 8 năm thứ 7, trại Cẩm Châu đã thuộc châu Nguyên, sao lại còn gọi là châu Thần? Nay theo 《Cửu vực chí》. 《Thực lục》 cuối tháng 12 lại chép: Bãi bỏ trại Cẩm Châu và huyện Chiêu Dụ, sáp nhập vào huyện Ma Dương, nay cũng không lấy.)
- Vương An Thượng, chữ 'Thượng' nguyên bản là 'Sĩ', căn cứ theo sách này quyển 277, năm Hi Ninh thứ 9, tháng 7, ngày Nhâm Tuất, và sách 《Mặc ký》 quyển trung của Vương Chí mà sửa lại. Chú thích tương tự. ↵
- Tú châu nguyên bản viết là 'Tú Thủy', căn cứ theo các bản khác và bản hoạt tự sửa lại. ↵
- Chiếu vừa ban ra, chữ 'Chiếu' nguyên bản thiếu, theo 《Đông Hiên Bút Lục》 quyển 5 bổ sung. ↵
- Sau đó, Đặng Oản, Đặng Nhuận Phủ dựng chuyện vu cáo Vương An Quốc, hai chữ 'Đặng Oản' nguyên bản thiếu, chữ 'phát' nguyên là 'phế', theo sách trên bổ sung sửa lại. ↵
- Bàn tán xấu về cựu tể tướng rất nhiều, chữ 'tướng' nguyên bản thiếu, theo sách trên bổ sung. ↵
- Cố sự dục kì tự minh, sách trên viết là 'Cố sự sự dục kì tự minh'. ↵
- Cố nhân dữ chi lập địch, sách trên viết là 'Cố nhân nhân dữ chi lập địch'. ↵
- Chữ 'trung' dưới nguyên có chữ 'nghĩa', căn cứ theo văn trên mà bỏ. ↵
- 'Thống', các bản và 《Mộng khê bút đàm》 quyển 3 viết là 'nhiễu'. ↵
- 'Đội', sách trên viết là 'trận'. 'Hơn mười dặm', sách trên viết là 'mười dặm hơn'. ↵
- Châu Thiền 3.150.000 thạch, '15 vạn' trong các bản khác chép là '50 vạn'. ↵
- 'chỉ' nguyên là 'thượng', căn cứ 《Trị tích thống loại》 quyển 16 'Thần Tông triều nghị Khiết Đan địa giới' sửa lại. ↵
- 'bên' nguyên là 'thì', căn cứ sách trên sửa lại. Lại 'dựng lập', sách trên viết là 'tráp lập'. ↵
- Trong 《Nhật lục》 của Vương An Thạch ngày 3 tháng 4 năm thứ 8, chữ 'tam' dưới nguyên bản thiếu chữ 'nhật', theo bản trong các kho lưu trữ bổ sung. ↵
- Trong 'An Thạch bàn việc cấp ruộng để chiêu mộ dân phục dịch có hơn mười điều hại', chữ 'cấp' nguyên bản là 'hữu', theo bản trong các kho lưu trữ và 《Tống sử》 quyển 177, 《Thực hóa chí》 sửa lại. ↵
- Trong 'Cung thủ thì chọn người khỏe mạnh từ khắp nơi', 'cung thủ' nguyên bản là 'cung tiễn thủ', theo bản trong các kho lưu trữ và 《Tục tư trị thông giám trường biên》 quyển 262, ngày Quý Dậu tháng 4 năm Hi Ninh thứ 8 sửa lại. ↵
- Sử Mực ghi chép phép mã bắt đầu từ đây, căn cứ vào chính văn và văn dưới, nghi ngờ chữ 'Mã pháp' phía trên thiếu chữ 'Hộ'. ↵
- 'Quyền' nguyên bản là 'bãi', căn cứ vào các bản và quyển 239 sách này, ngày Mậu Tuất tháng 10 năm Hi Ninh thứ 5, cùng quyển 42 truyện Cao Tuân Dụ trong 《Đông Đô Sự Lược》 sửa lại. ↵
- sông Biện trong cần tu sửa trong hai ba năm 'Hai ba' hai chữ nguyên bản đảo ngược, căn cứ vào bản các và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 77, phần Tuấn Biện hà, đã sửa lại. ↵
- phía đông Đỗ thành ở Bảo châu có chỗ khó khăn về đường thủy, chữ 'đường' nguyên bản là 'đường', căn cứ vào các bản và 《Tống hội yếu》 binh 28-16 sửa lại. ↵
- thấy rằng phía đông Bảo châu, hai chữ 'dĩ đông' nguyên bản thiếu, căn cứ vào sách trên bổ sung. ↵
- có đồng bằng rộng hơn 30 dặm, chữ 'xuyên' nguyên bản là 'châu', căn cứ vào sách trên sửa lại. ↵
- từ phía tây Bảo châu đến Cửu Khoảnh Đường khoảng 7 dặm, hai chữ 'tây chí' nguyên bản đảo ngược, căn cứ vào sách trên sửa lại. ↵
- dòng sông Đường có thể khơi thông, chữ 'đường' nguyên bản là 'đường', căn cứ vào các bản và 《Tống hội yếu》 binh 28-17 sửa lại. 'quyết', 《Tống hội yếu》 chép là 'sứ'. ↵
- Chữ 'đến' trong câu 'Xem xét từ phía tây Bảo Châu đến Cửu Khoảnh Đường' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào 《Tống hội yếu》 binh 28-19 bổ sung. ↵