VI. TỐNG THẦN TÔNG
[BETA] QUYỂN 266: NĂM HI NINH THỨ 8 (ẤT MÃO, 1075)
Bắt đầu từ tháng 7 năm Hi Ninh thứ 8 đời Thần Tông đến hết tháng đó.
[1] Mùa thu, tháng 7, ngày Nhâm Tuất, xuống chiếu cho Ty Tự vụ không thuộc quyền quản lý của Khai Phong phủ. Trước đó, Nội cung phụng quan Lương Tòng Chính tấu rằng, được sai làm Đề điểm Ty Tự vụ, hiện có một viên Phán quan của Khai Phong phủ quản hạt, e rằng một ty không cần hai nơi cùng quản lý. Xu mật viện nghĩ rồi dâng lên theo lệnh tuyên trước đó.
Vua phê: “Có thể xem xét lại việc Ty Tự vụ có việc gì thuộc quyền Khai Phong phủ.” Sau đó ban chiếu này.
(Việc này được thêm vào theo 《Ngự tập》. Tháng 12 năm Nguyên niên, Ty Tự vụ thuộc Khai Phong phủ.)
[2] Sùng Tín tiết độ sứ, Tri đại tông chính sự Tông Đán bị giáng làm Chương Hóa quân lưu hậu. Hãn Châu phòng ngự sứ, Đồng tri đại tông chính sự Tông Huệ bị giáng làm Bá Châu đoàn luyện sứ.
Liên Châu phòng ngự sứ Tòng Bôn bị giáng làm Tả Vũ vệ đại tướng quân, Minh Châu phòng ngự sứ.
Đồn điền lang trung, Ký thất tham quân các vương phủ, kiêm Giảng thư Mục thân trạch Vương Tháo, Quốc tử bác sĩ, Đồng tri tông chính thừa Tống Tĩnh Quốc, Nội thị cao phẩm Lô Thế Vĩnh đều bị giáng một chức, Nội Tây đầu cung phụng quan Trương Tông Lễ bị giáng làm Tây Kinh nội phẩm.
Tông Đán và những người khác bị tội vì không phát hiện việc Lý Phùng vào cung, Tông Lễ bị tội vì cho mượn sách binh pháp của Triệu Thế Cư, đều được xét giảm tội do đại xá.
[3] Xuống chiếu cho Giám quan Lý Quả của Viện Lăng Cẩm bị cách chức, đồng thời xét tội tâu lên. Quả nhận chỉ cho thợ thăng chức, nhưng chậm trễ hơn 50 ngày, Vua phê: “Quả có ý bất kính”, nên bãi chức. Lại phê: “Tam ty xem xét việc các cơ quan chậm trễ thi hành thánh chỉ, ban đầu không xử lý, cũng lệnh phân tích.” Sau đó, Tam ty tâu rằng Viện Lăng Cẩm trực tiếp nhận chỉ truyền, mà Tam ty không biết trước, nên được tha.
[4] Châu Đại tâu rằng, 16 người lính trại phía bắc phủ Chân Định là Đỗ Tân bị Khiết Đan bắt giết. Xuống chiếu ban cho nhà Tân mỗi người 20 tấm lụa. Sau đó, Khiết Đan trả lại Tân, thực ra chưa từng giết.
[5] Ngày Quý Hợi, Vua phê: “Nghĩa dũng, Bảo giáp của lộ Hà Đông nuôi ngựa, mỗi con chi bao nhiêu tiền mỗi năm, nhanh chóng báo số lượng lên.” (Việc này theo 《Ngự tập》, cần xem số lượng báo sau đó.)
[6] Tri châu Quế Châu Lưu Di tâu: “Đề điểm hình ngục Hứa Ngạn Tiên và chuyển vận phán quan Phó Tiếp kiện tụng lẫn nhau. Tiếp chỉ Ngạn Tiên nhận hối lộ vàng ngọc, còn chuyển vận sứ Lý Bình Nhất cũng tâu rằng Ngạn Tiên tự ý sai quan quản lý việc khai thác mỏ. Xin chuyển Ngạn Tiên sang lộ khác và xét xử người có lỗi.” Chiếu cho chuyển vận phán quan Kinh Hồ Nam Lộ Kiều Chấp Trung đi ngựa trạm điều tra sự thật rồi tâu lên. Lúc này, Ngạn Tiên đã được bổ làm chuyển vận phó sứ Quảng Nam Đông Lộ. (Ngạn Tiên ngày 5 tháng 3 năm thứ 8 được bổ làm Hiến sứ Quảng Tây, ngày 26 tháng 5 đổi làm Tào sứ Quảng Đông, ngày 28 tháng 10 lại ủy thác cho Lý Chi Thuần, ngày 18 tháng 10 năm thứ 9 kết thúc.)
[7] Ngày Giáp Tý, Xu mật phó đô thừa chỉ, Tây thượng các môn phó sứ Trương Thành Nhất được làm Tây thượng các môn sứ. Thành Nhất làm phó đô thừa chỉ 3 năm, đặc cách thăng chức.
[8] Chuyển vận ty Giang Nam Tây Lộ tâu: Nước sông ở Châu Kiền dâng cao làm hư hỏng thành châu và doanh trại quân đội, ước tính sửa chữa cần hơn 22.500 quan tiền[1], xin cấp độ điệp cho tăng nhân. Chiếu cho lấy từ số tiền dịch dư trong lộ này cấp phát, lệnh cho chuyển vận phó sứ Lý Chi Thuần đảm nhiệm.
[9] Hữu gián nghị đại phu Trầm Lập dâng lên bộ sưu tập 《Đô thủy ký》 200 quyển và 《Danh sơn ký》 100 quyển. Chiếu khen thưởng.
[10] Ngày Ất Sửu, Long đồ các đãi chế, kiêm Xu mật đô thừa chỉ Tăng Hiếu Khoan được làm Long đồ các trực học sĩ.
[11] Chủ bạ huyện Thượng Nguyên Hàn Tông Hậu được làm Quang lộc tự thừa. Vì Tông Hậu khơi thông thủy lợi, tưới được hơn 2.700 khoảnh ruộng, nên được thưởng.
[12] Chiếu rằng những người xuất thân tiến nạp đã được chỉ dụ bỏ chữ “tiến nạp” thì không được giảm tiền dịch theo lệ quan hộ. Theo lời thỉnh cầu của Ty nông tự.
[13] Ngày Bính Dần, dạy phó tướng trận pháp 8 quân, Tả ban điện trực, các môn chi hậu Tang Cảnh được quyền phát khiển quân Quảng Tín. Cảnh có tài võ lược, trước đây làm tri huyện Quy Tín, Dung Thành thuộc châu Hùng, người Liêu e sợ. Sứ giả tiến cử tài năng của ông, được triệu kiến, bổ làm phó tướng trận pháp, lại thăng chức và có mệnh lệnh này. Lại chiếu cho Cảnh từ nay gửi văn thư sang Bắc giới mượn danh nghĩa Lạc uyển phó sứ, kiêm các môn thông sự xá nhân.
[14] Chiếu cho Tả thị cấm, Cáp môn chi hậu Chu Hựu vì mẹ mất xin nghỉ việc, đặc cách cấp lương. Ban đầu lệnh cho Hựu quản lý Kỳ Kỵ viện, Xu mật viện tâu rằng Kỳ Kỵ viện không thiếu quan, chiếu đặc cách cho thêm chức. Đã hơn một tháng, lại có mệnh lệnh này, vì Hựu từng phục vụ ở Đông cung. (Việc thêm chức, căn cứ theo ngày 1 tháng 6 trong Ngự tập. Chu Hựu đầu đuôi cần tra cứu.)
[15] Ngày Mậu Thìn, Hàn Chính Ngạn, Tỷ bộ viên ngoại lang, đề cử thường bình đẳng sự lộ Lưỡng Chiết, được bổ nhiệm làm Tri châu Tương Châu, là cháu của Hàn Kỳ. Lại chiếu cho Chính Ngạn khi qua kinh đô được vào chầu, mặt chỉ bảo việc chăm sóc các con côi. Lại chiếu: “Nghe nói Kỳ mượn 2000 quan tiền công sứ của Tương Châu, hãy lệnh cho Chuyển vận ty miễn trừ.”
Chính Ngạn là con của Hàn Cừ.
[16] Ngày Kỷ Tỵ, Lô Bỉnh, Từ bộ viên ngoại lang, đề điểm hình ngục lộ Hoài Nam Đông, được quyền làm Phó phát vận sứ các lộ Giang, Hoài. Ngày 19 tháng 6 năm thứ 7, ngày 28 tháng 9, ngày 26 tháng 5 năm thứ 8 và ngày 12 tháng 9, Lữ Huệ Khanh nói, đều cần tham khảo.
[17] Phát vận ty Hoài Nam tâu, từ tháng 5 không mưa, kênh đào ở Dương Châu, Sở Châu, kênh vận chuyển muối ở Thông Châu, Thái Châu đều không thông thuyền. Chiếu cho Phát vận ty nạo vét, cho phép giữ lại tiền gạo thượng cung để chi phí, lại sai quan Đô thủy giám đến giám sát.
[18] Chiếu: “Nghe nói ở các huyện Ung Khâu thuộc phủ Khai Phong năm nay tháo nước bồi đắp ruộng đất, phần nước trong chưa bồi đắp chiếm đất dân. Hãy lệnh cho quan đề cử thường bình đi xem xét, nếu là đất canh tác của dân thì miễn thuế một kỳ.”
[19] Ngày Tân Mùi, chiếu: “Quan kiểm thảo tu kinh nghĩa thăng một bậc, tuyển nhân thăng hai bậc. Trương Tế, Diệp Nguyên, Lưu Kinh đợi khi có khuyết giáo thụ, trực giảng thì bổ nhiệm, mỗi người được thưởng 50 tấm lụa.” Vương An Thạch ban đầu bàn việc thưởng cho cử nhân, muốn cho miễn thi. Vua không cho. (Việc không cho miễn thi, căn cứ theo Nhật lục ngày 23 tháng 6.)
[20] Vua phê: “Lưu Phụng Thế gần đây vì việc phân chia binh tướng, đi khắp ba lộ Kinh Nguyên, lo rằng nghe thấy nhân tài cần báo lên triều đình, hãy lệnh kê tên tâu lên.”
[21] Nhập nội cung phụng quan Tống Dụng Thần được phong làm Lễ tân phó sứ. Do trên phê chuẩn việc Dụng Thần chế tạo 15.000 bộ yên cương cho các quân, cùng 40 bộ yên ngựa bằng da, đều do Dụng Thần sáng tạo và quy hoạch, tiết kiệm được hàng vạn quan tiền, nên được ban thưởng hậu hĩnh. (Việc này căn cứ theo 《Ngự tập》.)
[22] Chiếu cho hai lộ Hà Bắc Đông và Tây, những khoản tiền thường bình tích trữ nhiều năm, lệnh cho Ty Nông tự so sánh giá thị trường, tăng giá trị, cho phép người dân nộp thóc thay tiền, đồng thời cử quan viên đi giám sát.
[23] Ngày Nhâm Thân, Trung thư đường hậu quan, kiêm Đề điểm ngũ phòng, Điện trung thừa Vương Duyễn được quyền phát khiển làm Đại Lý thiếu khanh. Mấy ngày sau, lại được quyền phát khiển Đại Lý tự. Việc quyền phát khiển Đại Lý tự là sự việc ngày 22, nay ghi chung lại.
[24] Tiền Dương châu Tư pháp tham quân Trương Quốc An được làm Quang lộc tự thừa, quyền Kiểm chính Trung thư hình phòng công sự. Đây là do Vương An Thạch tiến cử. Ngày 9 tháng 12 lại được thăng chức.
[25] Chiếu cho các Giám ty ở Kinh Đông lộ báo cáo các châu quân có nạn châu chấu bay, cùng số lượng đã tiêu diệt và mức độ thiệt hại ruộng lúa.
[26] Chiếu cho dân thường Quách Hoài Tín, người nợ tiền phạt do vi phạm thời hạn nộp tiền cho Ty Thị dịch, được phép nộp thay bằng tiền ở hai châu Đồng và Diên. Trước đó, Hoài Tín tự trình bày rằng đã xin diêm sao từ Ty Thị dịch, sau khi nộp đủ vốn và lãi, vẫn bị phạt 1.500 quan tiền do nộp không đúng hạn, đã nộp 170 quan, nhưng Ty Thị dịch lại yêu cầu nộp thêm 130 quan. Hoài Tín xin được nộp tiền ở hai châu Đồng và Diên để tiết kiệm chi phí đi lại. Vua phê rằng “có thể xem xét lại nguyên nhân xin tiền để trình lên”, từ đó có chiếu này.
[27] Kim bộ viên ngoại lang, trực tập hiền viện, đồng tri gián viện, kiêm đề cử tam ty trướng ty cú viện ma khám ty Phạm Bách Lộc bị truất một quan, cách chức, giám sát thuế muối rượu ở Túc châu. Tăng Hiếu Khoan và Trương Hổ tâu rằng Bách Lộc tranh cãi với Từ Hi về vụ án Lý Sĩ Ninh, lời khai của Bách Lộc có điều không đúng sự thật. (《Lã Đào ký văn》 chép: Phạm Thục công về Thành Đô, nghe tin con trai là Tử Công từ chức gián quan bị biếm đến Túc châu, nói với tôi rằng: “Lục Lang khi được bổ nhiệm làm gián quan đã đến hỏi ý, muốn từ chối.” Tôi bảo rằng: “Từ chối cũng tốt. Nếu nhận chức, khó mà giữ được cả hai, không hỏng danh tiết thì cũng hỏng thân mình.” Quả nhiên như vậy.)
[28] Vua phê: “Nghe nói ở đất Tam Sá Bảo thuộc Thông Viễn quân gần đây thường có người phương Tây kêu gào, đòi lại người trốn chạy và trâu dê bị mất, quan lại địa phương phần nhiều không trả lời, hoặc nói là không có, khiến người phương Tây không ngừng kêu ca. Lâu ngày e sinh biến, nên lệnh cho kinh lược ty chọn một viên quan điều tra rõ ràng, nếu có kẻ trộm trâu dê đến đầu thú, đều đưa về bản giới trả lại.”
[29] Tướng thứ 19 ở Hà Bắc, Nội tàng khố phó sứ Dương Vạn được cử làm viên chức trong Ty thể lượng an phủ ở Quỳ Châu lộ, chờ lệnh sai phái. Vương An Thạch nói Vạn có thể giải quyết việc người Lão ở Nam Xuyên. (Việc sai Dương Vạn, 《Ngự tập》 chép vào ngày 12. Vương An Thạch tiến cử Vạn, 《Nhật lục》 chép vào ngày 19 tháng 7, nay gộp lại chép.)
[30] Ngày Quý Dậu, chiếu rằng những người ở phường quách, thôn xã gần khu khai mỏ và những người đào bới, nấu luyện, đều phải theo phép bảo giáp mà sắp xếp, nếu trong bảo có người phạm tội mà không tố giác, hoặc chứa chấp cường đạo mà không phát hiện, đều xử theo phép bảo giáp.
[31] Chiếu ban 《Kinh nghĩa》 mới biên soạn cho tông thất, Thái học và các châu phủ học.
[32] Ngày Giáp Tuất, Đồng phán Đô thủy giám Hầu Thúc Hiến tâu: “Hàng năm mở cửa sông Biện, thường tạo ra các nhánh sông mới, xâm phạm đất đai của dân, huy động nhiều nhân công, các cơ quan nhân đó sinh ra nhiều tệ nạn. Gần đây triều đình đã sắp xếp, chỉ dùng cửa sông cũ ở Ti Gia Điếm[2] và dòng chảy cũ ở phía tả, hàng năm giảm được hàng vạn nhân công và vật liệu. Nay việc phòng chống lũ lụt không có gì đáng lo, có thể cắt giảm. Xin cho bản giám tuyển chọn hai viên Tiểu sứ thần, phụ trách cửa sông Biện, kiêm quản Hùng Vũ Tảo; bãi bỏ hai viên Tuần hà sứ thần và hai viên Đại sứ thần ở Kinh Tây thuộc bản tảo; số lượng quân Hà Thanh và Quảng Tế vẫn giữ nguyên là sáu phần, bãi bỏ hai chỉ huy quân Hà Thanh.” Triều đình đồng ý. (Ngày 18, những điều Hầu Thúc Hiến xin, có thể thực hiện cùng lúc với việc này.)
[33] Chiếu rằng những lưu dân trở về quê ở Hà Bắc, nếu thuế dưới một trăm tiền thì đều được miễn.
[34] Ngày Bính Tý, lệnh cho Thái tử Trung doãn, Quán các Hiệu khám, Đồng phán Vũ học Cố Lâm thay Thẩm Quát làm Đề cử Nghĩa dũng, Bảo giáp ở Đại Danh phủ, Thiền Ân châu.
[35] Hàn Chẩn và các quan vẽ bản đồ các núi sông, địa hình, đồn bốt dọc biên giới phía đông sông Hoàng Hà, phân tích lợi hại. Chiếu rằng: “Tại Song Tỉnh, Thủy Cốc, Ngoã Sằn Ổ, nơi phân chia địa giới, đào hào, dựng đồn canh, tăng thêm đồn bốt để kiểm soát, đều theo lời tâu. Đồn Thạch Môn Tử nếu nằm ngoài ba đồn nhỏ thì không cần dời. Từ đồn mới An Tân về phía đông, tiếp giáp đất trại Hồ Cốc vốn không thuộc khu vực phân chia, nếu người phương Bắc nhắc đến, thì lấy lý do này để từ chối. Nếu họ cố tranh chấp, tâu lên xin chỉ dụ triều đình. Đồn Bạch Thảo phía tây tiếp giáp Trường Thành cổ, trước hết bàn bạc với họ, không được vượt quá địa giới đã phân chia. Đất của các xạ thủ cung tên phía bắc Trường Thành cổ, cho phép cắt chuyển.”
Vua bàn với Vương An Thạch về địa giới với Khiết Đan rằng: “Xét thấy chưa thể tranh chấp, dù họ có vô lý, cũng không thể không đáp ứng.” An Thạch nói: “Nếu thực sự không đủ sức tranh chấp, lại càng khó đáp ứng mọi việc, vì nước không tranh thì cũng bị lấn át. Nếu để khí thế của mưu thần và tướng mạnh của họ tăng lên, thì Trung Quốc sẽ gặp chuyện không thể nhẫn nhịn được.”
(Vua bàn với Vương An Thạch, theo《Nhật lục》. Việc này có lẽ là điều Trần Quán gọi là “kí huấn”. Vì An Thạch thực sự chủ trương việc cắt đất, các sách khác có thể chứng minh. Ngày 28 tháng này, cùng ngày 1 tháng 10, ngày 28 tháng 11, v.v., đều cần xem xét kỹ.)
[36] Ngày Đinh Sửu, chiếu cho Quyền Quần mục phán quan, Từ bộ Viên ngoại lang Hàn Tông Sư đổi làm Đồn điền Viên ngoại lang. Trước đây, Ngự sử Thái Thừa Hi tâu rằng, Tông Sư từ chức Đề cử Thường bình vào làm Quần mục phán quan, theo lệ cũ không đổi sang Tả tào, e rằng quan lại Trung thư vì Tông Sư là con tể tướng nên tư tình lấy lòng. Chiếu cho Ngự sử đài xét định, Ngự sử đài cho rằng lệ cũ của Chuyển vận phán quan theo thường điều chỉ đổi sang Hữu tào, nay Tông Sư với tư cách là Thông phán nhiệm kỳ thứ hai làm Quyền Quần mục phán quan, cùng cấp với Chuyển vận phán quan, mà bản phòng lại dẫn lệ của Chính Quần mục phán quan đổi sang Tả tào, là không đúng, nên ra lệnh sửa lại.
[37] Chiếu tay: “Hoàng thúc tổ tặng Hộ quốc quân Tiết độ sứ, Hà Đông quận vương Thừa Diễn, vợ là Kinh Triệu quận quân Trần thị, là tôn thất hoàng gia, tiến phong làm Khang Quốc phu nhân.”
[38] Lại có chiếu rằng: “Các quan Kinh lược, Giám ty, Đề cử ty ở Hà Đông hãy xem xét số lượng dân chúng vì nạn đói mà chạy sang biên giới phía bắc, cho phép người dân tố cáo, trình báo số liệu thực tế lên triều đình. Những quan viên được cử đi trước đây từng xem xét và báo cáo có sự khác biệt, đều được tha tội. Nếu sau này có xem xét lại mà phát hiện có điều gì chưa rõ ràng, sẽ bị xử phạt nặng theo pháp luật triều đình.”
[39] Vua phê: “Hãy kiểm tra và lấy các văn bản định ngạch binh lính từ đầu niên hiệu Hi Ninh để trình lên.” Vương An Thạch tâu: “Trung thư thường lấy số lượng binh lính để tính toán lương thực, đó là việc thường lệ. Trước đây, Thái Đĩnh từng sai người truyền lời rằng không dám công khai gửi đi, chỉ có thể viết kín đáo gửi riêng. Vì Xu mật viện từng được chỉ dụ rằng nếu Trung thư lấy số lượng binh lính, phải tâu lên.” An Thạch nhân đó xin từ nay về sau cứ theo lệ mà báo cáo, Vua đồng ý. Sau đó, An Thạch lại tâu với Vua: “Thần không hiểu việc giữ bí mật số lượng binh lính có ý nghĩa gì?” (Việc này được ghi trong 《Nhật lục》 của Vương An Thạch ngày 17 tháng 7 năm Hi Ninh thứ 8, nay lược bớt, ghi phụ sau phần ngạch binh lính niên hiệu Hi Ninh.)
[40] Ngày Mậu Dần, sao Thái Bạch xuất hiện ban ngày.
[41] Tứ phương quán sứ, Thứ sử Vinh Châu là Lý Bình được cử cùng phân định địa giới ở Hà Đông. Bình vừa đi sứ Liêu trở về, Vua lại sai đi, sau đó có chiếu thúc giục Bình lên đường. Lại có ý định bãi chức Hàn Chẩn, các quan phụ chính đều cho rằng không cần bãi, nên thôi.
(Việc lại cử Lý Bình chắc có nguyên do, cần xem xét thêm. Việc thúc giục Bình lên đường được ghi trong 《Ngự tập》. Ngày 24, có ý định bãi chức Chẩn, theo 《Nhật lục》 cũng là ngày 24. 《Hội yếu》 của Vương Khuê ghi: Ngày 18 tháng 7, Lý Bình cùng phân định địa giới. Phía dưới lại ghi: “Mùa đông năm đó, lại triệu Hàn Chẩn, Lý Bình về kinh để Vua hỏi han. Chẩn và Bình nhận chỉ dụ rồi đi, sau đó phân định xong địa giới. Nay ghi chú thêm ở đây, cần xem xét. Ngày Quý Tỵ mùng 6 tháng 12, Chẩn và Bình về kinh. Chiếu ngày 25 tháng 12 năm Hi Ninh thứ 9, cần xem xét cùng.”)
[42] Các quan ở Cáp môn tâu: “Các ty sứ đến nội thường thị, có chức vụ không quá phiền trọng, mà chỉ tham dự các buổi đại triều; có người ban đầu không có chiếu chỉ triều đình, theo lệ không tham dự thường triều; có người ở ngoài tân thành, tuy lệnh năm ngày tham dự triều một lần, nhưng vì cách cửa nên không thể đến được, các loại này không giống nhau. Nay xin đặc chỉ miễn thường triều khởi cư như trước, ngoài ra các xưởng đông tây, bát tác ty, văn tư viện, thương thuế viện, nội tửu phường, tửu khố, thủy chiển ma vụ, thị dịch vụ hạ giới, thảng thảo trường, vương phủ nội tri khách được tham dự đại khởi cư, và tham dự triều hội bái biểu; các quan cục ở ngoài tân thành được miễn thường triều khởi cư và triều thỉnh. Còn lại đều tham dự thường triều khởi cư. Như vậy việc triều thỉnh và xử lý công vụ đều không bị ảnh hưởng.” Được chấp thuận.
[43] Đồng phán đô thủy giám Hầu Thúc Hiến, giám thừa Lưu Cáp tâu: “Gần đây có chiếu chỉ tăng thêm một phần binh sĩ ở cửa sông Biện và các sông Hoàng, Biện, cùng các đê đập, sông Thanh, Quảng Tế, lấy tám phần làm định mức. Thần xét thấy việc giảm bớt khách quân vốn là để tiết kiệm chi phí, nếu như sông Thanh và các nơi khác đều tăng thêm hai phần, thì chi phí tiền lương hàng năm sẽ tăng lên gấp bội. Xin được giữ nguyên định mức sáu phần như cũ, và bãi bỏ việc điều động khách quân.”
Triều đình lại hạ chiếu giảm năm nghìn người trong định mức khách quân các lộ. (Có thể gộp vào ngày 14.) Vương Thiều bàn rằng không nên bãi bỏ khách quân, việc chiêu mộ binh sĩ sông Thanh sẽ gây tốn kém. Vua nói: “Chỉ nên bàn việc sông Thanh có thể giảm bớt mà thôi, việc bãi bỏ khách quân không phải là không có lợi.” An Thạch nói: “Quả đúng như thánh chỉ.”
(Việc này ghi trong《Nhật lục》ngày 24 tháng 6, nay phụ chép vào đây. Việc bãi bỏ khách quân và chiêu mộ binh sĩ sông Thanh là vào ngày 14 và 18 tháng này, sách chép không rõ, cần xem xét thêm.)
[44] Ngày Kỷ Mão, Lưu Cấn, tân chức Tri châu Minh, kiêm chức Tương độ thủy lợi Hoài Nam, được bổ nhiệm làm Từ bộ viên ngoại lang.
[45] Chiếu chỉ rằng các chức tri phán quan có thứ bậc cao nhất, và chưa có người cùng phán, thì khi ký tên không cần thêm chữ “Đồng”. Vì Trung thư tâu rằng, chức tri phán quan có từ hai người trở lên mới gọi là “Đồng”, mà Hầu Thúc Hiến một mình làm phán đô thủy giám lại thêm chữ “Đồng” là không đúng, nên có mệnh lệnh này.
[46] Lại có chiếu rằng các quan viên được phép dùng quân lính để đón tiếp, tính ngày đến nhậm chức, trừ đi thời gian đi lại trên đường trạm, phải phái người đưa về trước một tháng, trừ những ngày bị trễ trên đường, không được quá một tháng.
[47] Chiếu cho các châu quân ở Hoài Nam, Lưỡng Chiết lộ bị thiên tai, các tri châu, thông phán phải báo cáo lên giám ty, đề cử ty để xem xét kỹ lưỡng.
[48] Chiếu rằng các con gái của Bộc Vương đều được coi như con gái của các vương khác, phong hiệu từ huyện chủ đổi thành quận chủ, tổng cộng bảy người. (Việc này cần xem xét, vì trước đây không coi họ như con gái của các vương, tại sao vậy?)
[49] Ngày Canh Thìn, Tư Khắc, đô quỷ chủ trước và sau núi Cung Bộ Xuyên phía nam sông Đại Độ, được phong làm Kim tử Quang lộc đại phu, hành Hoài Hóa Hiệu úy, đô quỷ chủ trước và sau núi Cung Bộ Xuyên phía nam sông Đại Độ.
[50] Ngày Tân Tỵ, ghi nhận Vương Trọng Hồi, người ở thảo trạch, làm Tư sĩ Tham quân, không tính vào hạn tuyển, ban thưởng một trăm ngàn tiền. Trọng Hồi đã đề xuất việc bảo vệ ruộng dân qua núi, nên được thưởng.
[51] Chiếu rằng bản kinh nghĩa mới tu sửa giao cho chuyển vận ty ở Hàng Châu, Thành Đô phủ lộ khắc bản, số tiền thu được nộp vào phong trang khố, nửa năm một lần báo lên Trung thư. Cấm in tư và bán, phạt một trăm trượng, cho phép người tố cáo, thưởng hai trăm ngàn tiền. Theo yêu cầu của Trung thư Lễ phòng. Ban đầu, khi trình bày điều lệ, giám ty không phát hiện việc in tư và bán, sẽ bị xử theo triều điển. Vua thấy quá nặng, bảo Vương An Thạch sửa lại, An Thạch tạ rằng: “Thực như thánh chỉ, là do thần cẩu thả, không xem kỹ bản tấu, tội của thần vậy.”
(Lã Đào trong《Ký văn》chép rằng: Vào khoảng năm Gia Hựu, Trị Bình, người bán sách làm bản giám, chữ to khó bán, sách nhỏ chữ lại nhỏ, bất tiện, bèn khắc một bản khác, không to không nhỏ, gọi là《Trung thư Ngũ kinh》, người đọc tranh nhau mua. Sau này Vương Kinh công nắm quyền, nghĩa mới thịnh hành, có lẽ là do《Trung thư Ngũ kinh》đã báo trước vậy.)
[52] Chiếu rằng quyền Ngự sử trung thừa tạp áp cùng với chính đồng, quan chức cao thì theo bản ban. Do Ngự sử trung thừa Đặng Uyển tâu: “Những năm gần đây, Trung thừa mới có kiêm chức, đã kiêm hai chức trở lên thì tự nhiên phải theo một ban cao hơn để sắp xếp thứ tự, nhưng gần đây các quan ty lại tự tiện lấn lướt nhau, dẫn đến thứ tự bị rối loạn. Thần trước đây từng xin tuân theo nghi chế, nhưng Cáp môn lại chia Thừa lang và Cấp gián làm hai bậc, chỉ cho Thừa lang giữ chức Trung thừa thì theo thứ tự trong ban đồ; nếu chức Trung thừa vốn là Cấp gián thì khi đứng ban trong triều, thứ tự đến tạp áp thì theo bản ban. Như vậy, chức Trung thừa chỉ được tôn trọng trong công việc mà không được tôn trọng trong tư. Cùng một chức mà nghi lễ khác nhau, thần e rằng không nên như vậy.” Do đó có chiếu này.
[53] Lại chiếu rằng tiến sĩ đỗ từ người thứ nhất trở xuống khi bổ nhiệm chức quan, đều phải thi trước về luật lệnh, đại nghĩa và xử án. Trước đây, từ người thứ ba trở xuống mới bắt đầu cho thi pháp luật, đến nay, Trung thư tập học công sự Luyện Hanh Phủ tâu: “Tiến sĩ đỗ cao được bổ làm Thiêm phán, chức quan hai sứ, quản lý mọi việc của một châu, việc luyện tập pháp luật sao có thể chậm trễ! Trước đây, những người học về hình danh, đời đều coi là lại tục. Nay triều đình ban ân tuy nhiều, nhưng người ứng tuyển vẫn ít, lại chỉ ưu đãi người đỗ cao, không cho họ thi, khiến người ta không coi việc thi pháp là vinh dự, làm mất ý khuyến khích.” Do đó có chiếu này.
[54] Chiếu rằng quyền Tri Khai Phong phủ Trần Dịch tâu xin, phụ nữ có thai phạm tội, cho phép được hưởng ân xá, nếu xét tình tiết nhẹ thì tha bổng.
[55] Chiếu rằng: Hữu Tán thiện đại phu, Kiểm chính Trung thư Hình phòng công sự Phạm Thuần Túy, Thái tử Trung doãn, Kiểm chính Khổng mục phòng công sự Mã Ngọc, mỗi người phạt 6 cân đồng. Thuần Túy bị đưa đến Thẩm quan Đông viện, vì tội đang cáo mà truy bắt lại Khai Phong phủ để xử việc. Ngọc bị tội không chịu tiếp nhận văn tự.
Ban đầu Thuần Túy tranh cãi với Ngọc, Hàn Giáng ra sức giải thích cho Thuần Túy, nhưng Vua không nghe, lệnh đưa đến Ngự sử đài để tra xét. Đến lúc này, Giáng lại không cho rằng tội của Thuần Túy là đúng, và nói rằng Thuần Túy có tài, muốn bổ nhiệm cho chức vụ khác. Vương An Thạch nói: “Lẽ nào vì tội mà lại thăng chức?” Vua nghe theo lời An Thạch, bèn đưa Thuần Túy đến Thẩm quan, Giáng ra sức tranh cãi, nhưng không được, bèn nói: “Bệ hạ đã quyết như vậy thì không còn cách nào khác.” Rồi tự hặc tội mình. Trước đó Hàn Giáng xin từ chức Tể tướng, Vua bảo Vương An Thạch rằng: Giáng e là vì Phạm Thuần Túy, không chỉ vì Lưu Tá.
(Việc này ghi trong 《Nhật lục》 ngày 18 tháng 5. Tội của Phạm Thuần Túy cuối cùng vẫn chưa rõ, cần tìm hiểu thêm sự tích của Thuần Túy để khảo cứu. )
Ngự sử Thái Thừa Hi tâu: “Thần nghe rằng Kiểm chính quan Phạm Thuần Túy ở nhà người thân dán giấy triệu tập lại Khai Phong phủ để xử lý văn tự do Trung thư gửi đến, Mã Ngọc đóng gói văn tự gửi đến Trung thư cho Phạm Thuần Túy, nay thấy đưa xuống Ngự sử đài để tra xét. Vì văn tự chính bản của Trung thư liên quan đến cơ yếu quân quốc, khác với các cơ quan khác, nếu để lộ ra thì tổn hại không nhỏ.
Thần xét kỹ ý của triều đình khi đặt chức Kiểm chính quan, là cần người có học vấn kinh thuật, văn nhã, đủ mưu lược quốc gia, hiểu biết nhiều về lời nói và việc làm của người xưa, để giúp Tể tướng những điều chưa biết, có thể tham khảo. Còn việc điểm kiểm văn tự, thực thi văn tự chỉ là hạng thấp. Những năm gần đây, người tiến cử không chọn nhân tài, chỉ vì muốn tiến thân, khiến những kẻ khinh suất, cẩu thả được vào làm việc ở công phủ.
Thần cũng nghe nói như Vương Chấn, Vương Bạch là những kẻ mới đỗ khoa cử, chưa hiểu rõ nghĩa lý của văn tự, cũng được dự vào chức này. Bốn người ấy, xin Thánh từ chỉ huy các đại thần Trung thư, xét xem công trạng của họ trong việc xử lý văn tự khi vào phủ. Nếu không có tài năng gì đặc biệt, xin trước hết bãi chức, rồi công khai lựa chọn người xứng đáng.”
(Lời tâu của Thừa Hi về việc của Thuần Túy, Mã Ngọc khác với 《Thực lục》, nay chú thích ở đây, cần khảo cứu thêm.)
[56] Quyền tri Mậu Châu Lý Kỳ tâu: “Thần thấy bốn phía bản châu đều là nơi cư trú của bộ lạc phiên, không có thành trì ngăn cách. Người địa phương nói rằng mỗi khi bộ lạc phiên gây rối nhỏ, chúng liền đến dưới thành cướp bóc. Thần muốn tu sửa thành trì của châu, an định dân chúng để yên lòng người xa, đồng thời xin được chiêu mộ 300 thổ binh tại châu, lấy tên là Vũ Ninh Chỉ huy.
Lại thấy trong chiếu chỉ của một châu một huyện thuộc Lợi Châu Lục có ghi: ‘Khi giặc phiên từ Văn Châu xâm phạm biên giới, nếu các trấn biên giới, dân trại và cung thủ trực tiếp chiến đấu, chém được thủ cấp giặc phiên, mỗi thủ cấp sẽ được thưởng 4 quan tiền sắt lớn. Nếu bắt được ba thủ cấp, ngoài phần thưởng còn được miễn các khoản phụ thu và lao dịch trong hộ. Các tướng trấn, trại sẽ được xét công lao khi mãn nhiệm, tùy theo mức độ mà thăng chức hoặc chuyển nhiệm.’
Thần xét thấy bản châu còn xa xôi hơn cả Văn Châu, người dân ở đây quen chiến đấu và từng bắt giặc. Nay xin áp dụng chính sách thưởng trên cho thổ binh các châu Uy, Mậu, Bảo, Bá.”
Vua phê: “Lý Kỳ tâu việc hợp lý, nên xem xét và thi hành nhanh chóng.”
(Sự việc ngày 21 trong 《Ngự tập》, cần tra cứu thêm. Việc này có thực hiện hay không, có thể tham khảo ngày 13 tháng 4 năm sau).
[57] Ngày Nhâm Ngọ, lệnh cho Tri chế cáo Thẩm Quát làm An phủ sứ thể lượng tai thương các châu quân Hoài Nam, Lưỡng Chiết, Thái thường thiếu khanh, quyền phán Đại Lý tự Hứa Tuân cùng cứu xét hình ngục tại kinh. Chiếu cho Tuân được hưởng quyền lợi như chuyển vận sứ ba lộ. (Việc hưởng quyền lợi, theo bản truyện của Tuân, cần tra cứu thêm).
[58] Thái thường thừa, Tri Tư Nông tự thừa Chu Viêm quyền quản câu Khai Phong phủ giới đề điểm các huyện trấn công sự. Lúc đó, sai Thái Xác đến các giám ở Hà Nam chuyển đổi và bán ngựa nuôi, vì phủ giới thiếu quan.
[59] Chiếu cho các cử nhân Khai Phong phủ và Quốc Tử Giám cùng thi chung một nơi, lấy tổng số người đỗ của hai nơi làm giải ngạch.
[60] Ngày Quý Mùi, lệnh cho quyền phát khiển Đề cử Vĩnh Hưng quân đẳng lộ hình ngục, Thái thường bác sĩ Lưu Định, Đại Lý tự thừa, Tri Tư Nông tự thừa Uông Phụ Chi, điều tra xem xét việc cứu tế dân Hán và Phiên bị thiên tai ở các lộ Kinh Nguyên, Hoàn Khánh, Phu Diên có gì bất hợp lý, việc cho vay thóc quan và cách sắp xếp sai sót để tâu lên. Việc này cần xem xét kỹ.
[61] Sùng Chính điện thuyết thư, đồng quản cú Quốc Tử Giám Lữ Thăng Khanh được lệnh quyền phát khiển Thái thường tự, kiêm tu nhất ty sắc. Thăng Khanh xin từ chức quản cú Quốc Tử Giám, được chấp thuận, và có mệnh lệnh này. Thái Thừa Hi hặc tấu Thăng Khanh, Thăng Khanh đã tự biện giải, và xin gửi tờ tâu cho Thừa Hi. Vương An Thạch tâu với Vua: “E rằng không nên như vậy. Nếu Thừa Hi cứ gây rối, thì sẽ phiền đến việc xử lý của bệ hạ.” Vua bèn thôi.
(Thăng Khanh từ chức Quốc Tử Giám là do Thừa Hi, việc này xem ngày 23 tháng trước. Thăng Khanh muốn gửi tờ tự biện giải cho Thừa Hi, “Nhật lục” ghi ngày 28 tháng này và ngày mùng một tháng 8, nay ghi chung lại. Sau đó, Thừa Hi lại tấu xin bãi chức kinh diên của Thăng Khanh, không được trả lời. Thừa Hi xin bãi luôn chức thuyết thư của Thăng Khanh, theo tấu nghị thêm vào. Ngày mùng một tháng 10, Thăng Khanh ra đi.)
Ban đầu, các quan tể tướng cùng nhau tiến trình việc Thừa Hi hặc tội Thăng Khanh, Lữ Huệ Khanh nói: “Thừa Hi nói việc Thăng Khanh liên quan đến thần.” Vua nói: “Cùng tiến trình, không sao.” Huệ Khanh xin cho Thăng Khanh phân tích sự việc. Huệ Khanh bèn cáo bệnh, Vua sai Phùng Tông Đạo đến thăm hỏi, triệu về Trung thư.
Vương An Thạch lại tự mình đến gặp Huệ Khanh, truyền đạt ý Vua. Huệ Khanh bèn dâng biểu xin ra ngoài ba lần, Vua đều sai trung sứ đem trả lại; lại dâng trát tử, Vua lại sai An Thạch cùng Vương Khuê khuyên bảo Huệ Khanh. Huệ Khanh lại xin vào chầu, có chỉ không cho vào gặp.
Vua nói: “Không có việc gì mà nhiều lần xin từ chức, là sao?” Huệ Khanh nói: “Dốc sức làm việc, không làm được thì thôi. Thần tự xét không làm được, nên xin thôi, không có gì khác, mong được như lời thần xin.” Vua nói: “Khanh làm Tham tri chính sự, việc thiên hạ không phải trách nhiệm của một mình khanh, cần gì phải thế!” Huệ Khanh nói: “Trước đây An Thạch đi, một thời thiếu người, nên thần nhận mệnh không từ chối. An Thạch trở lại, lẽ ra phải xin đi. Nhưng được bệ hạ nhiều lần tuyên dụ, nên lần lữa đến nay.”
Vua nói: “Khanh há vì việc Thừa Hi chăng? Thừa Hi nói về em khanh, không liên quan đến khanh.” Huệ Khanh nói: “Dù Thừa Hi nói về thần, thần làm Tham tri chính sự, nếu tự xét không có lỗi, há đến nỗi vì thế mà xin đi? Huống chi việc em thần phân tích lại như thế?”
Vua nói: “Há vì An Thạch bàn dùng người không hợp chăng? An Thạch muốn dùng người mới, khanh không muốn. Khanh muốn dùng Tằng Mân, mà An Thạch không muốn chăng?” Huệ Khanh nói: “Việc này cũng không liên quan đến việc thần ở hay đi, huống chi An Thạch chưa từng nói không dùng Tằng Mân!” Vua nói: “Há vì An Thạch trước đây trình bày việc Thừa Hi sơ suất chăng?” Huệ Khanh nói: “An Thạch tránh hiềm nghi nên không thể không làm thế, thần có gì lạ đâu?”
Vua nói: “Vậy thì An Thạch trở lại, đúng là nên cùng hợp sức, sao lại xin đi?” Huệ Khanh nói: “An Thạch trở lại, mọi việc đều cáo bệnh không làm, khác với trước kia. Trước đây An Thạch vì bệ hạ xây dựng chính sự, đi xa trở về, lại làm thế, không biết muốn để lại cho ai?” Vua nói: “An Thạch sao đến nỗi này?” Huệ Khanh nói: “Bệ hạ nghe nhiều ý kiến không thống nhất, tranh luận không thắng, trăm quan rối ren, không thể điều khiển. Thần trước đây từng sơ lược trình bày với bệ hạ đến thế, cũng thật khó.”
Vua nói: “An Thạch phải thấy thiên hạ có lý do để làm, mới chịu trở lại.” Huệ Khanh nói: “Nhưng chắc chắn đến đây thấy không như ý, nên không yên vị. Có lẽ cũng vì thần ở đây, bệ hạ ý hợp tác với An Thạch nhiều, nghe không thống nhất, nên không yên. Việc triều đình có thể không có thần, nhưng không thể không có An Thạch, đó là lý do thần xin đi.”
Vua nói: “An Thạch chắc không ghen với khanh.” Huệ Khanh nói: “An Thạch với thần có gì ghen! Nhưng bệ hạ lúc đầu dùng An Thạch, vì thế cô đơn nên giúp đỡ, nên mọi việc dễ dàng. Nay bệ hạ cho rằng An Thạch được giúp nhiều nên hạn chế, nên mọi việc khó thành, thì thần ở triều đình bổ ích ít, mà gây hại nhiều, không bằng để thần đi. Bệ hạ một lòng nghe An Thạch, thiên hạ sẽ trị được. Nay khiến đại thần không thể làm hết sức, không phải là phúc của quốc gia. Vì triều đình phân biệt hiền tài hay không, đúng sai, là việc rất khó. Gom oán hận của thiên hạ vào một thân, đến cả con cháu, nếu nhà Vua không xét kỹ, thì không tránh khỏi cẩu thả mà thôi.”
Vua nói: “Người giữ chức vụ, không làm được việc thì đi. An Thạch chắc không chịu cẩu thả.” Huệ Khanh nói: “Chính vì muốn đi, nên cẩu thả. ‘Vương Thầm không khó khăn, thật hợp với đức của tiên vương, chỉ có lời nói không nói, có lỗi’. Nếu không như thế, thì cũng không thể trách họ không làm hết sức. Bệ hạ chỉ cần một lòng nghe An Thạch, dốc hết học thuật của ông ấy, thì thần dù đi, cũng như ở triều.”
Vua nói: “Học thuật của An Thạch có thể làm xong việc thiên hạ chăng?” Huệ Khanh nói: “Đúng vậy.” Vua nói: “Khanh chỉ làm phụ tá, trách nhiệm không hết ở khanh.” Huệ Khanh nói: “Đó là lý do thần có thể đi. Những điều thần trình bày đều là việc quốc gia, mà trong việc riêng của thần, lại có người qua lại, không đi sợ bị thiên hạ chê cười.” Vua nói: “Cuối cùng không cho khanh đi, hãy cứ đến Trung thư.” Huệ Khanh cúi đầu nói: “Thần không dám vâng chiếu.”
Lui ra, Vua lại sai trung sứ truyền chỉ, Huệ Khanh từ chối, lại dâng trát tử, Vua cũng trả lại, và hạ chiếu cho Ngân đài ty không nhận văn tự. Mấy ngày sau vào chầu, Vua nói: “Nhiều lần sai người thúc khanh nhận chức, chưa thấy tuân theo.” Huệ Khanh nói: “Thần nhiều lần trái chỉ, tội đáng chết. Nhưng thần ở triều, có hại không ích. Bệ hạ ân sâu dù không cho tránh, thần tự xét e khó đảm đương.” Vua nói: “Không có việc gì khác, sao phải xin đi kiên quyết thế!” Huệ Khanh nói: “Thần đi, thì bệ hạ một lòng nghe An Thạch.”
Vua nói: “Khanh đừng lo quá, hãy cứ nhận chức.” Huệ Khanh nói: “Bệ hạ nhiều lần tuyên dụ thần làm phụ tá An Thạch, không biết Tham tri chính sự là tham tri chính sự của bệ hạ chăng?”
Vua nói: “Chính sự của An Thạch, tức là chính sự của Trẫm.” Huệ Khanh bèn nói: “Thừa Hi nói về em thần, ý thực là nhằm vào thần.” Vua nói: “Đã rõ, đừng lo quá.” Huệ Khanh bèn nhận chức trở lại.
(Những việc trên đều căn cứ vào gia truyền của Huệ Khanh do Tương Tĩnh soạn mà chép vào. Gia truyền lại chép: Thừa Hi nói Thăng Khanh làm quan khảo thí Quốc tử giám, mà em vợ Huệ Khanh là Phương Thông đỗ cao, gồm hơn mười điều. Các quan tể tướng tiến trình trước mặt Vua, Huệ Khanh nói thế. Nay chọn lấy ý chính.)
[62] Chiếu cho Tri châu Đan Châu Tống Xương Ngôn giáng làm Thông phán sai khiển, Văn Tư phó sứ Quách Nhược Hư giáng một bậc quan. Vì tội đi sứ Liêu không phát hiện được quân lính của ty Hàn Lâm đào thoát sang đất Liêu mà không bắt được.
[63] Chiếu rằng ruộng muộn thiếu mưa, sai quan cầu đảo.
[64] Lại chiếu rằng các lộ Hoài Nam, Lưỡng Chiết bị hạn hán, sai quan cầu đảo các đền thờ ở Nam Nhạc được ghi trong sách tế tự, vẫn giao cho các trưởng lại thành tâm cúng tế.
[65] Lệnh cho Điện tiền ty Áp giáo, Tam ban Sai sứ Tang An Quốc, Định Quốc mỗi người tuyển chọn 50 binh sĩ trẻ khỏe có thể huấn luyện, dạy tập phương pháp bắn cung, đợi khi thành thạo thì xin chỉ thăng lập quân ngạch, bổ sung vào Nghĩa dũng, Bảo giáp. Giáo đầu An Quốc, Định Quốc là con của Cảnh, tuổi trẻ giỏi võ nghệ, đặc biệt thông thạo phương pháp bắn cung.
[66] Ngày Giáp Thân, sai Đại Lý tự thừa Trần Hữu Phủ, Điện trực Dương (?) đi dọc bờ sông Biện, đặt hồ thấm nước làm nguồn cho sông Ngũ Trượng, nếu khả thi thì tính toán vật liệu và nhân công rồi tâu lên. Sau đó Hữu Phủ tâu rằng việc này nếu thực hiện thì rất tiện. Do đó Đô thủy giám tâu xin, xin cho (?) quản việc xây dựng, Hữu Phủ làm Đề cử. Được chấp thuận.
[67] Chiếu cho các ty Chuyển vận Hoài Nam, Lưỡng Chiết tính toán số lượng thóc cần bán ra và số lượng thóc dùng để tu sửa thủy lợi[3], cùng với ty Phát vận tính toán cắt giảm số thóc cung cấp để ứng phó. Vì Chủ bạ ty Nông tự Vương Cổ tâu rằng, vâng chiếu đi thăm dò tình hình Hoài, Chiết năm nay bị hạn hán và châu chấu, mùa màng tư nhân không có hy vọng, dân chúng chắc chắn sẽ thiếu ăn, xin chuẩn bị trước. Ngày 24 tháng 6, Cổ nhận chiếu.
[68] Ngày Ất Dậu, Chức phương viên ngoãi lang Kiển Chu Phụ được quyền Phát khiển Chuyển vận phó sứ lộ Hoài Nam Đông.
[69] Lễ viện xin từ nay việc bãi triều đều bãi cả chính triều ở tiền điện, nếu đã bãi mà gặp ngày nghỉ, hoặc ngồi ở hậu điện thì tính chung vào số ngày. Được chấp thuận.
[70] Ngày Đinh Hợi, bỏ bớt một viên Thông phán và một viên Tư lý ở châu Tần. Vì hai huyện Trường Đạo, Đại Đàm được tách ra thuộc về châu Dân.
[71] Chiếu cho đề cử việc thường bình đẳng ở Kinh Đông Tây lộ, Thái tử Trung doãn Phương Ốc chuộc tội bằng 10 cân đồng, Quản câu Sùng Phúc cung, Thái thường Thiếu khanh Triệu Bính giáng một chức, người đang để tang là Thái tử Trung doãn, Tập hiền Hiệu lý Hứa An Thế đợi khi mãn tang sẽ bổ làm Thiêm thư phán quan ở một nơi nhỏ. Bính và Ốc bị tội vì khi làm Đại tông chính thừa không xét việc Lý Phùng vào cung. An Thế bị tội vì đem dao Táp long cho Lý Sĩ Ninh, khi mãn tang, được bổ làm Thiêm thư Đoàn luyện phán quan ở Châu Hào.
[72] Chiếu cho người thi Võ cử trước hết thi về đại nghĩa của Tôn, Ngô, Lục Thao, tổng cộng 10 đạo, chia làm hai trường, sau đó hỏi một đạo sách về thời vụ và biên phòng, cùng với người thi ở Tỏa sảnh; Ty Mã quân thi cung mã, cử quan giám thí. Ban đầu, quy chế thi Võ cử trước sau không thống nhất, đến nay mới bắt đầu sửa đổi.
[73] Kinh lược ty Hi Hà lộ tâu: “Hạ quốc gửi thư nói rằng trước sau có người Hán và bộ lạc phiên trộm cướp người và gia súc chạy sang nước ta, nhiều lần đòi nhưng không trả lại. Xin Cao Thái uý và Vương Đoàn luyện vào ngày Quý Mùi tháng này đến Tam Sá bảo hội nghị với Tích Thạc Khắc Ngạc Tắc Nhĩ Ngạc Địch Phò mã. Thư ghi niên hiệu Đại An năm thứ hai.”
Chiếu cho Kinh lược ty Phu Diên lộ, lệnh Bảo An quân gửi thư cho Châu Hựu, trách rằng Hạ quốc vốn đã lâu thần phục triều đình, nay lại tự xưng niên hiệu, lại gửi thư không đúng địa phận, mời quan biên giới hội nghị, đều là những việc vượt quyền sinh sự, chắc là Hạ quốc không biết, chưa muốn tâu lên. Xin báo cho quốc chủ biết, các thủ lĩnh phải nghiêm khắc răn dạy. (Việc này cần phải xem xét kỹ.)
Trước đó, Vua phê: “Xét theo chỉ huy gần đây, lệnh cho các lộ Vĩnh Hưng, Tần Phượng đặt ty An phủ, cử quan đi khắp các thành trại, hỏi ý các cung tiễn thủ ở biên giới có nguyện xin ngựa quan để cưỡi, tự lo cỏ nuôi, chuẩn bị ra vào sử dụng, tập hợp tâu lên, không được ép buộc. Lộ Hà Đông ở trong và ngoài sông cũng có nhiều cung tiễn thủ, chưa từng xét đến, nên nhanh chóng theo chỉ huy của các lộ Thiểm Tây, lệnh cho ty Kinh lược cử quan hỏi kỹ, tâu lên gấp.”
Hôm đó, trình lên việc cung tiễn thủ nguyện nuôi ngựa, Vua nói: “Vốn biết họ nguyện như vậy.” Bèn lệnh trình lên số ngựa nuôi của bảo giáp trong phủ giới và số vật được miễn. (Lời phê của Vua là ngày 2 tháng 7, thấy trong 《Ngự tập》. Việc trình lên nguyện nuôi ngựa là sự việc ngày 27 tháng 7 trong 《Nhật lục》, nay phụ chép.)
[74] Ngày Mậu Tý, 28 tháng 7, chiếu cho lộ Kinh Nguyên đóng quân tại chỗ, lấy lương thực, gồm chính binh, cung tiễn thủ, phiên binh khoảng hơn 7 vạn người, chia làm 5 tướng: Phó Tổng quản Miêu Thụ làm tướng thứ nhất, Kiềm hạt Hòa Bân làm phó; Diêu Hủy làm tướng thứ hai, Hoàng Tông làm phó; Diêu Lân làm tướng thứ ba, Đô giám Trương Kế Ngưng làm phó; Kiềm hạt Hạ Nguyên Kỷ làm tướng thứ tư, Vương Ninh và Nội điện thừa chế Tôn Hàm Ninh cùng làm phó; Kiềm hạt Chủng Chẩn làm tướng thứ năm, Đô giám Vương Quang Thế làm phó. Đặt riêng chức Tướng phó sách ứng Hi Hà, lấy Tông và Hàm Ninh làm. Theo lời xin của Vương Quảng Uyên. (Ngày Quý Mão, 12 tháng nhuận, ngày Giáp Tý, 4 tháng 5.)
[75] Vương Quảng Uyên tâu: “Cung tiễn thủ, phiên bộ hiện còn nợ hơn 9 vạn tiền, hơn 10 vạn thóc, xin cho phép đến mùa thu năm nay, trong vòng 2 năm chia làm nhiều đợt thu nộp.”
Vua phê: “Xét thấy cung tiễn thủ, phiên bộ binh ở Kinh Nguyên nhiều năm bị thiên tai, người ngựa đều đói khát, nên số bỏ trốn và chết không ít. Nay mùa thu mới có hy vọng được mùa, hơi được nghỉ ngơi, nếu thu nợ tiền thóc cùng lúc, e rằng khó khăn, lại khiến họ khốn cùng bỏ trốn. Nên theo lời Quảng Uyên tâu, nhanh chóng ra chỉ huy.”
[76] Thượng phê: “Xét việc sở phân chia địa giới Hà Đông, đã hai lần nhận được công văn của người phương Bắc, muốn hẹn gặp ở địa phận Song Tỉnh. Đến nay Hàn Chẩn vẫn chưa báo cáo lại, nên nhanh chóng ban chỉ thị, bảo họ ấn định ngày tháng nào sẽ gặp người phương Bắc, gấp rút báo lên.” (Các ngày 18 tháng này, 29 tháng 9, mùng 1 tháng 10, 28 tháng 11, có thể tra cứu.)
[77] Tháng này, khôi phục lại huyện Tỉnh Hình thuộc phủ Chân Định, dời trị sở đến quân Thiên Uy, đặt chức Quân sứ tại trị sở huyện. Khôi phục trấn Yển Sư thuộc phủ Hà Nam thành huyện, bãi bỏ huyện Câu Thị thành trấn.
[78] Châu Đức tâu: “Dân là Tống Tĩnh rạch ngực trái lấy gan cho cha là Bính ăn, bệnh lâu ngày được khỏi.”
- 22.500 quan tiền, bản các làm '23.500 quan tiền'. ↵
- Cửa sông cũ ở Ti Gia Điếm, chữ 'Ti' nguyên bản là 'Sài', căn cứ theo bản trong các kho lưu trữ mà sửa. Xem: 《Tống sử》 quyển 93, chí về sông ngòi; 《Tống hội yếu》 phần phương vực 17-8 đều ghi là 'Ti Gia Khẩu'. ↵
- Chiếu cho các ty Chuyển vận Hoài Nam, Lưỡng Chiết tính toán số lượng thóc cần bán ra và số lượng thóc dùng để tu sửa thủy lợi, căn cứ theo văn bản, nghi ngờ chữ 'Địch' là sai, nên là chữ 'Thiếu'. ↵