"

VI. TỐNG THẦN TÔNG

[BETA] QUYỂN 267: NĂM HI NINH THỨ 8 (ẤT MÃO, 1075)

Bắt đầu từ tháng 8 năm Hi Ninh thứ 8 đời Thần Tông đến hết tháng đó.

[1] Tháng 8, ngày Canh Dần, mùng một, Ty thiên giám tâu rằng sẽ có nhật thực, nhưng trời nhiều mây và mưa nhỏ nên không thấy được.

[2] Chiếu rằng: “Nghe nói các châu Gia, Nhã, Uy, Mậu gần đây tuy thỉnh thoảng có giặc cướp, nhưng không đến mức gây họa lớn, là do núi sông hiểm trở đủ để dựa vào. Nay Ty mua ngựa các châu Nhung, Lê lại bắt binh lính, thợ mở đường qua nơi hiểm yếu, điều này rất bất lợi cho việc phòng thủ, lại tăng giá mua ngựa tốt, nhưng số lượng vẫn chưa thấy nhiều. Vậy bãi bỏ việc mở đường hiểm yếu ở các châu Gia, Nhã, Uy, Mậu, và báo cáo số ngựa đã mua.” Ngày 23 tháng 4 năm thứ 9, bãi bỏ Ty mua ngựa.

(Sách 《Kiếm Nam Tu Tri》 của Tống Như Ngu có ghi chép về việc mua ngựa ở Vân Nam, nay phụ chú thêm: Phía tây huyện Cửu Mi, châu Gia, cách 10 dặm có trại Đồng Sơn, giáp với vùng sinh man phía tây nam, số hộ không đầy nghìn, dân gian gọi là Tiểu Đạo Hư Hận. Huyện úy thường lên trại từ ngày 1 tháng 10 để phòng thủ, gọi là phòng thu, đến ngày 1 tháng 4 thì rút về. Có lẽ vì lúc đó nước lũ dâng cao, mà Hư Hận nhỏ bé không thể gây họa. Hư Hận tuy không gây họa, nhưng cách đó khoảng sáu bảy trăm dặm[1] có Thúc Mật, phía tây Thúc Mật 150 dặm đến thành Tư Mị, là sào huyệt của Bát Chiếu Vương. Nơi này phía đông nam giáp Giao Chỉ, tây bắc liền Thổ Phiền, và gần kề Thục. Thục từ thời Đường thường bị Nam Chiếu quấy nhiễu, chỉ có đầu thời Thái Bình Hưng Quốc, thủ lĩnh Bạch Vạn xin quy phụ. Thái Tông phong làm Vân Nam Bát Quốc Đô Vương, nhưng không triều cống, nên lâu nay không rõ đường lối vào Thục. Năm Hi Ninh thứ 6, các bộ tộc Thiểm Tây gây rối, thề ước không buôn bán với Trung Quốc, từ đó ngựa từ phương bắc không còn đến.

Năm sau, triều đình giao cho Thành Đô lộ xem xét, chiêu mộ người vào Chiếu, dụ dỗ các bộ tộc tây nam mua bán. Ở Cửu Mi có tiến sĩ Dương Tá ứng mộ, bán hết gia tài, tập hợp những người dân khỏe mạnh, khoảng mười người, mang gấm vóc của Thục, định mượn đường Hư Hận để đến Nam Chiếu, chuẩn bị lương thực mười ngày, dự trữ giấm, muối, trà, gừng, quế, làm kế hoạch vài tháng. Những người đi theo mang nón lá, nồi sắt, chiêng đồng, cung tên, giáo dài, dao ngắn, khiên, lưới đánh cá, mỗi người chặt cây nhẹ để gánh đồ nặng, còn thừa thì bó lại mang theo. Đại để đều đục lỗ, dựng khung như nhà, để làm chỗ nghỉ ngơi. Mỗi khi thấy mặt trời, họ xuyên rừng đi về phía tây, gặp thú dữ thì đánh chiêng để cảnh báo, hoặc cầm cung tên, dao giáo chờ đợi. Gặp rừng thưa, cỏ thấp, khe dài, suối lớn, thì giăng lưới đánh cá, đồng đội thường ăn tươi no bụng. Mỗi ngày chỉ đi được bốn năm mươi dặm, chưa tối đã dựng khung cây, buộc dây chằng quanh, rồi che bằng khiên, phủ lưới, tụ tập bên trong, chất củi bên cạnh, đánh lửa để phòng đêm. Nhưng nơi đây nóng nực, có khi bốc thành chướng khí. Gặp núi sâu rừng rậm, khói mù dày đặc sắp mưa, không phân biệt được phương hướng, đôi khi lạc đường, cả ngày không qua được một thung lũng.

Ban đầu, Đồng Sơn là nơi buôn bán giữa người Hán và man, người man từ đất Hán mang túi vải lớn đựng hạt cải về, túi rách rơi hạt, hoặc hạt lâu ngày mọc thành bụi. Đồng đội của Tá theo dấu hạt cải mọc, tìm đường đi, đến biên giới Hư Hận, mười tám ngày thì đến Thúc Mật. Trước đó ba bốn mươi dặm, dần thấy ruộng đất có mạ non, phong cảnh núi sông hơi giống Tư, Vinh ở phía đông Thục. Tiến thêm năm bảy dặm, từ xa thấy mấy người man cày núi cao, chợt thấy người Hoa, hoảng hốt kêu gọi, tập hợp đám đông. Tá liền chỉnh đốn y phục, cúi đầu đứng nghiêm, bảo đồng đội phủ phục, không được cử động. Một lát sau, có ông già tóc bạc từ trên núi xuống, hỏi Tá từ đâu đến? Tá chắp tay không lạy, sai người thông thạo tiếng man, trình bày việc phụng chỉ chiêu dụ mua ngựa, rồi lấy hai tấm lụa đỏ tặng. Ông già khóc nói: “Ta vốn là dân cày ở Hán Gia. Năm Hoàng Hựu vì đói kém đến đây sinh sống, nay tóc bạc răng rụng, sắp chết rồi, không ngờ lại gặp người quê.” Rồi ông giúp Tá thông hiếu với Thúc Mật Vương[2].

Lâu ngày, có mười mấy kỵ binh đến đón, đều cho người Hoa cưỡi ngựa vào. Thúc Mật vương thích gấm vóc của Thục, lại biết việc mua ngựa đến nước mình, nên đối đãi với Dương Tá rất hậu, không tiếc giết dê lợn, đêm uống rượu đằng chuỷ. Đàn bà góa và con gái người Man quan hệ với người khác không bị cấm, chỉ có người đã có chồng mà ngoại tình thì bị xử tử, nên sau khi uống rượu xong thường chọn con gái và đàn bà để giao hợp với người Hoa, có lẽ là để tỏ lòng trọng vọng người Hán. Khoảng chưa đầy mười ngày, tám nước vương biết được tình hình, sai sứ đến hỏi, tại sao lại để người Hoa lẫn lộn với dân mình?

Thúc Mật sợ hãi, bèn đem hết những vật mà Dương Tá mang theo cùng đi, qua ba trạm đến thành Tư Mị, dâng lên Đô vương. Đô vương cho Dương Tá ở tại trạm Đại Vân Nam, trước trạm có cột dặm, ghi phía đông đến Nhung Châu, phía tây đến nước Thiên Trúc, phía đông nam đến Giao Chỉ, phía đông bắc đến Thành Đô, phía bắc đến Đại Tuyết Sơn, phía nam đến biển, đều ghi rõ chi tiết về đường đi, xem xét thấy nhiều cột dặm được tu sửa. Sau đó, sai đầu nang nhi đến làm bạn ở trạm, đầu nang là những người Hán bất hạnh bị quân Man bắt qua sông Đại Độ về phía nam, đến nay con cháu vẫn được Đô vương phong lộc, nhiều người thông minh xuất chúng, thường biết tiếng Hán.

Hôm sau Dương Tá đến Đại Vân Nam, Đô vương lệnh các tù trưởng dẫn quân, dương cờ hiệu, đưa Dương Tá đi trước, thông báo quốc thư, nói rõ việc mua ngựa, Đô vương vui mừng lộ rõ trên mặt, hỏi thăm và ban tặng Dương Tá mỗi người một ít. Sau đó, các phiên ở Thiểm Tây đến biên giới nhà Hán buôn bán như cũ, còn việc mua ngựa ở Tây Nam thì bãi bỏ. Năm sau, trại Đồng Sơn báo lên huyện Cửu Mi, huyện báo lên Gia Châu, châu báo lên Kiềm hạt ty của bản lộ, nói ngày nào đó có người phiên Vân Nam cống ngựa đến trại, là Dương Tá phụng mệnh phủ Súy, thông quốc thư dụ dỗ ra. Kiềm hạt ty liền cử thông phán Gia Châu là Quách Cửu Linh đến xem xét và khao thưởng, lại dùng lời lẽ lừa dối, nói bản lộ chưa từng có Dương Tá, ngựa cuối cùng không giữ lại.

Ban đầu, Dương Tá nhận được hồi điệp của Đô vương tám nước Vân Nam, về nộp lên phủ Súy, sau đó vì ban cho Cửu Linh xem, nên lưu giữ ở kho quân tư Gia Châu. Người phiên biết là dùng lời lừa dối để từ chối, khi đi có nói lời oán hận. Ngày sinh minh, tháng 3 mùa xuân năm Nguyên Phong thứ 3, 《Đông Hiên Lục》 của Tống Như Ngu.)

[3] Ngày Nhâm Thìn, lệnh cho Thái tử Trung doãn, Tập hiền Hiệu lý, Kiểm chính Trung thư Lễ phòng công sự Từ Hi đi sát phỏng công việc thường bình đẳng ở lộ Quảng Nam.

[4] Chiếu rằng từ nay giáo thụ châu học trước hết phải triệu đến Viện Xá nhân, thi năm câu đại nghĩa, chọn người thông hiểu ưu tú để bổ nhiệm. Nếu tại chức có việc bất pháp, giao cho châu quận và Giám ty xem xét rồi tâu lên. Đây là theo lời thỉnh cầu của Tập học Kiểm chính công sự Luyện Hanh Phủ thuộc Trung thư Hộ phòng.

[5] Vua phê: “Câu đương Ngự dược viện Lý Thuấn Cử phục vụ bên cạnh đã nhiều năm, giữ mình phụng sự, rất mực cẩn trọng. Lệnh cho tiếp tục giữ chức cũ, đợi đến lễ Nam giao sắp tới, theo quan tư hiện tại, tâu xin cho một con làm quan. Người khác không được viện dẫn làm lệ.” Trước đây, Thuấn Cử thường xin giải chức Ngự dược viện để bổ ra ngoài, Vua giữ lại. Vì ông đã được ký thác làm chư ty phó sứ mà ở lại thì không được dự vào việc tâu tiến trong lễ Nam giao, nên đặc biệt có mệnh lệnh này.

[6] Kinh lược ty Hà Đông tâu: “Theo công văn của Sở Phân hoạch địa giới, đã sai thông phán các châu Tấn, Lân, Đại đến nơi lo việc công, và cử sứ thần Mã Trọng Lương cùng năm người khác sẵn sàng sai phái, đã phái đi rồi.” Vua phê: “Xét việc phân hoạch địa giới, đào hào dựng hậu, vốn đã có các sứ thần ở trại và tuần kiểm các nơi, không rõ dùng nhiều quan văn võ như vậy để làm gì? Hãy gửi trát cho Hàn Chẩn và những người khác, lệnh chỉ giữ lại những người thực sự cần thiết, còn lại đều cho về nguyên nhiệm.”

[7] Chiếu rằng Mục dưỡng giám[3] giảm bớt binh lính, tướng hiệu giao cho Bộ quân ty so sánh loại quân mà điều động, binh sĩ theo lệ phế bỏ Tả Hữu Thiên Cứu phường mà thi hành. Đây là theo lời thỉnh cầu của Quần mục ty. (Ngày mùng 3 tháng 8.)

[8] Ngày Quý Tỵ, An phủ ty lộ Định Châu tâu lên việc xem xét bản tấu của Thẩm Quát về đường đi lại của địch, nên chiếm lấy địa lợi trước, bố trí doanh trại. Chiếu giao cho Xu mật viện ghi chép lại.

Trước đây, Thẩm Quát đi sứ thăm dò vùng Hà Bắc, tâu rằng phía bắc Định Châu, các huyện Bồ Âm, Mãn Thành đều có lũy cũ, nếu quân địch từ phương bắc kéo đến xâm lược, có thể dùng kế lạ để chặn đánh. Khi Thẩm Quát mới đến Định Châu, ngày ngày cùng với tướng Tiết Hướng đi săn bắn, dạo quanh vùng Tây Sơn và Đường Thành hơn hai mươi ngày, nắm rõ địa hình hiểm trở và bằng phẳng, dùng mạt cưa trộn sáp ong, vẽ lại địa hình sông núi làm thành bản đồ, khi về thì khắc lên gỗ để dâng lên.

Từ đó, các châu biên giới bắt đầu làm bản đồ bằng gỗ. Phía bắc thành Định Châu có một cái ao lớn, gọi là Hải Tử. Thẩm Quát cùng Tiết Hướng bàn mở rộng Hải Tử, kéo dài đến gò mộ của Trung Sơn Vương ở phía tây thành, biến toàn bộ thành ruộng lúa, dẫn nước sông Tân Hà vào, tràn lan mấy dặm, khiến phía bắc thành Định Châu không còn bị địch uy hiếp. Có người bàn nên dựa vào núi Tây Sơn, lợi dụng địa hình hiểm trở để xây dựng trại núi, làm nơi trú ẩn cho dân khi giặc đến.

Thẩm Quát cho rằng không nên, nói: “Dân nên được sống cùng an nhàn, chia sẻ hoạn nạn, nếu để họ tan rã khi giặc đến, thì Vua còn dựa vào ai để giữ thành! Hơn nữa, nếu họ chết dọc đường, tự sát hại lẫn nhau, chỉ làm tăng thêm sức mạnh cho địch, đó không phải là kế sách hay.” Bèn nghiêm khắc thi hành pháp lệnh vào thành phòng thủ, lại đặt các cửa ải và cầu để ngăn người bỏ trốn, dựng cờ trống để triệu tập, có thể huy động được một triệu trai tráng ở Hà Bắc Tây Lộ, đưa ra biên giới, tất cả đều là quân lính.

Mỏ bạc ở huyện Nguyên Thị, triều đình phái chuyển vận ty đặt quan để thu lợi, Thẩm Quát cho rằng không nên, nói: “Làm ruộng có lợi ở gần, buôn bán có lợi ở xa. Nay mở mỏ bạc ở nơi biên giới xa xôi, dân từ khắp nơi tụ tập, một sớm một chiều thành chợ, sống nhờ vào lương thực biên giới, ngày ngày hao tổn lương thực quân đội. Gần của quý thì nước nghèo, đó là điều tất nhiên; người đông thì gian trá làm sao kiểm soát được?

Triều đình hàng năm cống nạp cho Thiền Vu mấy chục vạn lượng bạc, vì phương bắc không có bạc, nên giá trị cao và Khiết Đan thích điều đó. Ngày trước, huyện Ngân Thành, Phường Thành đều rơi vào tay Khiết Đan, vì người phương bắc chưa biết lợi ích của việc khai mỏ. Nếu mở mang khiến họ tự khai thác được, thì tiền tệ trong nước càng mất giá, còn dựa vào gì từ vật cống nạp hàng năm? Tình thế ắt sẽ khiến lân bang xa lánh, mầm họa sẽ bắt đầu từ đây.”

Lúc đó, quân Khiết Đan cướp bóc vùng biên giới nhà Hán, dân chúng không yên ổn ở vùng biên, tự tìm đến thành để xin trú ẩn, nhưng không phân biệt được người Hán hay người Di, quan giữ thành không dám cho vào. May nhờ quân địch rút lui, người dân vùng biên suýt nữa bị quân Khiết Đan giết hại.

Thẩm Quát bàn về pháp lệnh phường thị, thiết lập các biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt, khiến dân chúng dựa vào hương lý, tộc đảng để bảo đảm lẫn nhau, phân chia phường để định cư, cẩn thận trong việc mở cửa đóng cửa. Phường có sổ sách, nơi ở có phân loại, ra vào có quy định, người dân biên giới được yên ổn. Hà Bắc bị ngăn cách bởi sông lớn, chỉ có cầu phao ở Thiền Châu nối liền với Hà Nam. Quân Khiết Đan đôi khi chặt gỗ ở Tây Sơn làm bè, dùng lửa đốt cầu, khiến Hà Bắc bị cô lập, viện binh không thể đến.

Thẩm Quát xin thiết lập biện pháp phòng hỏa, không để kẻ gian có cơ hội phóng hỏa. Vùng phía bắc Định Châu trước đây trồng nhiều cây du và liễu để làm trại, số lượng cây du liễu trồng lên đến hàng ức. Thẩm Quát cho rằng quân Khiết Đan có thể dựa vào đó để che chắn tên đá, chặt cây làm thang để tấn công, đây là kế của giặc, nên xin dẹp bỏ hết.

Lúc đó, dân chúng gần kinh thành nuôi ngựa để phòng thủ biên giới, nhưng không thể thu được, dân chúng lấy làm khổ. Thẩm Quát cho rằng ngựa là sản vật của Khiết Đan, mà dân chúng quen với chiến đấu trên lưng ngựa, đây là sản vật của trời đất. Trung Quốc lợi thế về nỏ mạnh, cũng như Khiết Đan lợi thế về kỵ binh. Bỏ đi sở trường của mình, cố gắng làm điều không thể, để đối phó với sản vật trời sinh của họ, chưa từng nghe có thể thắng được. Pháp lệnh về ngựa của dân, bắt đầu từ ngày 23 tháng 2. Những người dân biên giới quen với việc binh đao, ngày thường chỉ lấy việc kéo nỏ mạnh làm tiêu chuẩn. Thẩm Quát cho rằng kéo nỏ mạnh chưa chắc đã xuyên được giáp, nên lấy việc bắn xa trúng đích làm chuẩn. Pháp lệnh như vậy, chiếu chỉ chấp thuận 31 điều.

(Từ đoạn “Thẩm Quát mới đến Định Châu” trở xuống, đến “31 điều”, đều dựa theo ghi chép của Thẩm Quát, chỉnh sửa và bổ sung, chỉ có nghị luận về đồn điền dựa theo 《Hội yếu》 đặt vào cuối tháng 2.)

[9] Chiếu rằng: “Những nơi có nạn châu chấu, giao cho các quan huyện lệnh, tá thân bộ phu đánh đập. Nếu địa bàn rộng lớn, phân sai thông phán, chức quan, giám ty đề cử. Lại chiêu mộ người dân, ai bắt được 5 thăng châu chấu non hoặc 1 đấu châu chấu, thì cấp 1 thăng gạo tẻ; bắt được 1 thăng trứng châu chấu, cấp 2 thăng gạo thô. Nếu cấp bằng tiền, thì theo giá trung bình thực tế. Lại giao quan viên giám sát việc đốt chôn, giám ty sai quan xét lại tâu lên. Nếu vì đào bới, đánh đập mà làm hư hại mùa màng, thì miễn thuế, lại tính giá, quan cấp tiền gạo cho chủ đất, không quá 1 khoảnh.” (Sách 《Tân kỷ》 chép việc chiêu mộ dân bắt châu chấu, đổi lấy thóc lúa, nếu hư hại thì bồi thường, lại miễn thuế.)

[10] Thượng phê: “Miếu Trương sứ giả ở phía nam kinh thành, nghe nói mấy năm gần đây dân trong kinh đến cầu đảo, nhiều người được khỏi bệnh. Gần đây vì hoàng tử Dản hơn một tháng không yên, đã từng sai sứ đến cầu đảo, lại cầu nguyện nếu có điềm lành, sẽ phong tước. Nay bệnh của hoàng tử ngày càng thuyên giảm, có thể đặc cách phong làm Gia Ứng hầu.” Việc ngày mùng 4 trong 《Ngự tập》[4], Dản cuối cùng mất, nên chép lại.

[11] Ngày Giáp Ngọ, bãi chức Lễ tân sứ, quyền phát khiển Hà Bắc duyên biên an phủ sứ Thẩm Phi, lệnh giám ty xét việc bất chức của y tâu lên. Sau khi xác minh sự thật, gặp lúc đại xá nên miễn truy cứu, đặc cách theo lệ người bị cách chức, giáng một bậc sai khiển. (Việc cách chức là ngày mùng 4 tháng 12, chép chung; Thẩm Phi đến ngày mùng 5 tháng 3 mới nhận chức.)

[12] Câu đương công sự Đỗ Thường của Tư nông tự tâu, xin cắt giảm số tiền vật phải chi cho 3 kho công sứ của bộ lạc phiên theo quân ở Hi Châu. Chiếu cho Đỗ Thường theo số đã giảm định làm lệ, biên thành sách gửi Tư nông tự xét định. Lại chiếu cho Đỗ Thường lấy số công sứ của Hà Châu, Dân Châu, Thông Viễn quân để cắt giảm tâu lên.

[13] Ngày Ất Mùi, điều Thái tử trung doãn, quyền phát khiển Khai Phong phủ suy quan Vương Khâm Thần làm Quần mục phán quan, lại phạt 8 cân đồng. Vì tội khi Tri phủ Khai Phong là Trần Dịch đi cầu mưa, mà Khâm Thần tự tiện xử lý văn thư, Dịch tâu hặc nên bị phạt.

[14] Lễ viện tâu: “Hoàng tử thứ tư chưa có phẩm trật, nay an táng tại huyện Vĩnh An, xin theo lệ cũ dùng lễ nghi nhất phẩm.” Vua nghe theo.

[15] Đô thủy giám tâu rằng dòng sông thay đổi, xin cho ty Sơ Tuấn dựa theo thế sông hiện tại mà nạo vét. Vua ban chiếu cho ty Ngoại Giám Thừa cùng Trình Phưởng cùng xem xét chỗ cần nạo vét, chia làm hai đoạn trên dưới để thi công.

[16] Vua ban chiếu: “Nghe nói châu Trần, châu Dĩnh có nạn châu chấu phủ kín đồng ruộng, ban đầu không có quan lại đốc thúc bắt giết, khiến chúng sinh sôi nhiều lần, từ khi có châu chấu bay đến nay, lớn nhỏ đã hơn mười loại. Tuy gần đây có mưa thuận, nhưng vẫn chưa dám gieo hạt lúa mạch, vì sợ mầm vừa mọc đã bị ăn sạch, rễ cũng bị hư hại. Nếu đến cuối thu mà lỡ thời vụ gieo trồng, thì sang năm ruộng mùa hè lại không có gì để mong đợi. Việc này liên quan đến quốc kế dân sinh, không phải chuyện nhỏ. Hãy lệnh cho các ty Giám, ty Đề Cử ở lộ Kinh Tây Bắc nghiêm khắc đốc thúc quan lại, nhanh chóng diệt trừ. Vẫn phải tâu rõ lý do không đốc thúc bắt giết.”

[17] Vua ban chiếu cho các huyện ở lộ Hà Bắc, theo lệ lộ Hà Đông để lại 15 hoặc 20 người lính cung thủ làm bạch trực, còn lại dùng dân bảo giáp sung vào.

[18] Ngày Bính Thân, Công bộ lang trung, Trực Long đồ các, Phán Tướng tác giám Tạ Cảnh Ôn làm sứ sang chúc mừng sinh thần Liêu chủ, Văn tư sứ Cao Tuân Lộ làm phó. Thái thường thừa, Tập hiền hiệu lý, Trực Xá nhân viện Lý Định làm sứ sang chúc mừng năm mới, Hoàng thành sứ kiêm Cáp môn thông sự xá nhân Lý Duy Tân làm phó. Thái thường thừa, Tập hiền điện tu soạn, Thị ngự sử tri tạp sự Trương Hổ làm sứ sang chúc mừng sinh thần Liêu Quốc mẫu, Hoàng thành sứ Diêu Lân làm phó. Hình bộ viên ngoại lang, Tập hiền hiệu lý, Đồng tu khởi cư chú Đậu Tiện làm sứ sang chúc mừng năm mới, Hoàng thành sứ Tào Tụng làm phó.

Sau đó Lý Định được miễn đi, dùng Từ bộ viên ngoại lang, Tập hiền hiệu lý Tôn Chu thay thế. Diêu Lân gặp tang mẹ, dùng Đông tác phường sứ Hướng Xước thay thế. Tuân Lộ lúc đó đang làm tri châu Phong, chưa kịp triệu về, Vua phê: “Châu này khống chế vùng tây bắc, là nơi biên giới trọng yếu, không thể thiếu quan chính.” Bèn lệnh cho Tuân Lộ trở lại nhiệm sở, dùng Văn tư sứ Vương Sùng Chửng thay thế.

[19] Hùng Bản tâu rằng, việc kinh lý đàn áp giặc Lão, xin sai Tần Phượng Kiềm hạt Giả Xương Ngôn chiêu mộ binh sĩ để sử dụng. Triều đình đồng ý. Chiếu rằng: “Quỳ Châu lộ khó kiếm tiền lương, Hùng Bản xử lý việc biên châu, những sứ thần lớn nhỏ và quân binh được sử dụng đều phải được tuyển chọn kỹ càng.”

[20] Chiếu rằng các sứ thần có công ở Hi Hà lộ chưa được bổ nhiệm, từ chức tá trở lên đều được tăng bổ làm giám đương nội địa; còn những người từ tam ban sai sứ trở xuống, nếu muốn đổi làm tướng hiệu cấm quân, thì được sắp xếp tương ứng.

[21] Lại chiếu rằng các thần liêu ở ba lộ tiến cử vũ cử nhân, dù không phải người bản địa, nhưng có hộ khẩu ở châu khác, đều được phép dự thi.

[22] Lại chiếu rằng Giang, Hoài đẳng lộ phát vận sứ Trương Giáp chuyên lo việc tiếp đón sứ thần Cao Ly vào cống. Trước đây giao cho phát vận sứ La Chửng, nhưng Chửng đã bị bãi chức.

[23] Chiếu rằng: “Nghe nói các châu quân ở Hoài Nam, Giang Đông, Lưỡng Chiết lộ bị thiên tai, giá gạo tăng cao, hãy lệnh cho phát vận ty khảo xét những nơi giá gạo trên 80 đồng một đấu, lưu lại gạo thượng cung không quá một triệu thạch; giảm giá bán cho dân, mỗi đấu không quá 80 đồng.” (《Tân kỷ》 chép: Chiếu lệnh phát vận thâu gạo về kinh, lưu lại không quá một triệu, số dư chia cho dân đói.)

[24] Chiếu rằng: “Quan hộ nộp tiền dịch được miễn một nửa, dù miễn nhiều, mỗi hộ không quá 20 nghìn. Những hộ có tài sản ở hai huyện trở lên, tính chung lại. Những hộ có tài sản ở hai châu, hai huyện trở lên, tùy nơi ở mà nộp tiền. Những hộ không đủ bậc, tính chung vào một nơi nhiều nhất.” Do Ty Nông tự tâu rằng số tiền miễn giảm của quan hộ và việc các hộ có tài sản ở hai nơi nộp tiền không thống nhất. (《Mặc sử》 có chép việc này, 《Chu sử》 bỏ đi, nói rằng sau đã chép, tức là ngày 22 tháng 9 Ty Nông tự tâu, có vẻ trùng lặp. Nay giữ cả hai. 《Tân kỷ》 chép vào ngày Bính Thân việc giảm một nửa tiền dịch của quan hộ, 《Cựu kỷ》 không chép.)

[25] Ngày Đinh Dậu, Hàn lâm học sĩ, Công bộ thị lang Nguyên Giáng lại kiêm Thị độc học sĩ. Giáng vì vụ cháy Tam ty bị cách chức, đến nay được phục chức.

[26] Phụng Lễ lang, Kiểm chính Trung thư Hình phòng Công sự Vương Chấn được cử làm người đề cử Nghĩa dũng, Bảo giáp ở các châu Hình, Minh, Tương. Thái thường Bác sĩ, Kiểm tường Xu mật viện Lễ phòng Văn tự Vương Bá Hổ được cử làm người đề cử Nghĩa dũng, Bảo giáp ở các châu Nhưỡng, Thấp.

[27] Biệt thí sở tâu: “Võ cử nhân thi sách Tôn, Ngô, Lục Thao đại nghĩa. Sách Lục Thao vốn không phải là sách hoàn chỉnh, văn từ và lý lẽ sai lệch, không có căn cứ để khảo cứu, xin chỉ ra đề thi từ sách Tôn, Ngô.” Được chấp thuận.

[28] Chiếu bãi chức Tham tri chính sự Lữ Huệ Khanh khỏi việc đề cử biên soạn điều lệ của Tư Nông tự.

[29] Ban cho Ty Chuyển vận lộ Tần Phượng 20 vạn lạng bạc để chiêu mộ thương nhân nhập lương thảo được miễn thuế.

[30] Ty An phủ Tây Đào lộ Hi Hà tâu: “Bộ tộc Ma Nhã Khắc thuộc dân quen thuộc, tộc Mạch Thục Tông Ca dẫn quân cướp bóc, bản ty đã điều 1.100 quân phòng thủ, Kinh lược ty cũng điều 1.000 quân làm viện binh. Nay khu vực thành Giảng Châu đã yên ổn, xin cho quân lính trở về.” Chiếu ban tiền đặc chi cho quân phòng thủ theo thứ bậc.

[31] Kinh lược ty lộ Hoàn Khánh tâu, các quan người phiên là Cung bị khố Phó sứ Mai Trọng Tín, Nội điện Thừa chế Cáp môn Chi hậu Mông Bố xin phong tặng cho cha mẹ và vợ. Chiếu y theo lệ của quan người Hán.

[32] Lại chiếu rằng các châu quân và trại ngoại thành ở biên giới các lộ Hà Đông, Thiểm Tây, nơi bị địch uy hiếp, theo phép giữ thành của Hà Bắc.

[33] Ngày Mậu Tuất, Hữu Long Vũ quân Đại tướng quân, Quân châu Đoàn luyện sứ Tông Chế mất. Ông là con của Tương vương Doãn Bật. Trung thư định tặng chức Hoa châu Quan sát sứ, tước Hoa Âm hầu. Chiếu viết: “Những người trong tông thất có tên mang chữ ‘Tông’, đều là con cháu của các vương Thái Tổ, Thái Tông, hiện nay là bậc tôn thất gần gũi nhất với hoàng gia. Những năm gần đây liên tiếp qua đời, người còn sống không nhiều, lễ tiễn đưa nên được gia tăng. Có thể tặng chức Chương Hóa quân Lưu hậu, tước Bắc Hải quận công, lấy làm lệ.”

[34] Ngày Tân Sửu, triệu tập các quan phụ chính đến vườn sau xem lúa.

[35] Chiếu cho phủ Giang Ninh hoãn thu thuế còn nợ của các hộ thuộc loại tứ đẳng trở xuống trong năm thứ 6 và thứ 7, do năm đó bị hạn hán.

[36] Quyền Phát khiển Kinh Hồ Nam Lộ Chuyển vận phó sứ Thái Diệp tâu: “Toàn Châu, Thiệu Châu chiêu dụ thủ lĩnh 30 động Bình Thủy là Dương Thịnh Tiến nộp binh khí quy thuận, xin theo lệ mỗi năm nộp thuế gạo.” Vua theo.

[37] Ngày Nhâm Dần, xuống chiếu cho các châu quân giữ lại số quân Sương quân làm công việc, Đại Danh phủ, Doanh Châu, Hùng Châu 80 người, các châu quân khác 50 người, không có chỉ dụ của triều đình thì không được điều động.

[38] Xuống chiếu: “Vùng Lũng Sơn đã sai quan khảo sát ruộng công có thể cày cấy, Đức Thuận quân, Nghi Châu có 4.889 khoảnh, đã chiêu mộ 3.993 hộ, xin cày 4.173 khoảnh, mỗi năm nộp thuế 13.100 thạch. Nay lệnh cho Vương Quảng Uyên ghi tên các hộ cày làm Cung tiễn thủ, miễn thuế, ai không muốn thì cho chiêu mộ người khác, ghi rõ số người và ngựa để tâu lên.”

[39] Kinh lược ty Phu Diên lộ tâu: “Phiên quan Đức Tĩnh trại là Lý Đức Bình cướp bóc tài sản và gia súc của Tây giới, đã sai quan điều tra, trả lại cho thủ lĩnh Hạ quốc. Xét thấy người Tây thường xuất hiện ở biên giới đòi người và gia súc, không có đạo quân lớn nào. Có lẽ do bộ lạc Phiên ở Lệ Nguyên bảo, Khánh Châu tự ý vào Tây giới cướp bóc, dẫn đến việc báo thù lẫn nhau. Xin nghiêm cấm bộ lạc Phiên ở Lệ Nguyên bảo để tránh sinh sự.” Vua theo.

[40] Vua phê: “Xu mật viện đang so sánh số quân và việc Chương Đôn tâu về chi phí quân sự, sao lại chậm trễ nhiều ngày chưa thấy tâu lên? Hạn trong một tháng phải xong việc.” (Việc này căn cứ vào 《Ngự tập》, cần xem xét kỹ. 《Nhật lục》 ngày 17 tháng 7 có việc Chương Đôn bàn về việc Xu mật viện tăng quân, Vua nói: “Chương Đôn ắt có ý khác, không chỉ vì tăng quân, trước đây xin giữ lại, không ban ra trát tử, vì việc trình bày số quân cần giữ bí mật, có lý gì?” Việc này có thể liên quan đến lời phê của Vua, việc số quân cần giữ bí mật đã thấy ngày 17 tháng 7.)

[41] Ngày Quý Mão, Vua ban chiếu cho con trai của Hàn Kỳ là Hàn Trung Ngạn, sau khi mãn tang, được bổ nhiệm làm Trực Long Đồ các. Lại ban chiếu cho Hiếu Ngạn, Thuần Ngạn, Tuý Ngạn thăng một bậc, Đoan Ngạn thăng một chức, ban cho cháu là Trị làm Tiến sĩ xuất thân; con trai là Gia Ngạn, cháu là Tảo, Hợp, Thành, con gái là Vương Kỷ Đạo, đều được bố trí vào chức văn, nhờ ân điển trong di chiếu.

[42] Trung thư tâu: “Chức Phát vận sứ và Phó sứ các lộ Giang, Hoài kiêm nhiệm việc chế trí trà, diêm, phèn, thuế rượu[5], đề cử việc tuần tra, kiểm soát binh giáp, trộm cướp các lộ, đều kiêm nhiệm việc đại đề cử các mỏ bạc, đồng, chì, thiếc, thị bạc, đúc tiền ở các lộ Giang, Chiết, Kinh Hồ, Phúc Kiến, Quảng Nam, công việc quá nhiều, không thể hoàn thành. Xin chỉ để các lộ Giang, Hoài, Kinh, Chiết chế trí diêm, phèn kiêm Phát vận sứ và Phó sứ kết hàm, còn các việc khác không được quản lý.” Vua đồng ý.

(《Hội yếu》 ghi việc này vào tháng 9, nhưng có chỗ khác biệt, nay theo 《Thực lục》. 《Hội yếu》 chép: Tháng 9 năm Hi Ninh thứ 8, Trung thư môn hạ tâu: “Xin từ nay Phát vận sứ chỉ quản lý tiền tài, lương thực, mua ở nơi rẻ, bán ở nơi đắt, hoặc lo việc kiểm tra vận chuyển muối, phèn, và các quan lại vi phạm pháp luật do việc của bản ty thì cho phép cử tội, còn các việc khác không được quản lý. Vẫn chỉ để các lộ Giang, Hoài, Kinh, Chiết chế trí diêm, phèn kiêm Phát vận sứ kết hàm.” Vua đồng ý. Ngày 3 tháng 10 năm Nguyên Hựu thứ 3 và ngày 20 tháng 9 năm Sùng Ninh thứ 3 có thể tham khảo.)

[43] Ngày Giáp Thìn, châu Vệ tâu: Bảo chính thôn Triều Ca, huyện Cấp là Bùi Công Thảo bị giặc cướp bắt, em là Bùi Công Tường đem người đuổi theo, cứu được Công Thảo và bắt được thủ lĩnh giặc. Vua ban chiếu cho Công Tường thay Công Thảo làm Đô bảo chính, ban thưởng 100 nghìn tiền.

[44] Tam ty tâu: “Các châu huyện nộp thuế bằng tơ lụa, trước đây không thu hao hụt do quan và hao hụt do cân, xin tăng thêm 1/10. Những nơi trước đây thu nhiều thì vẫn như cũ.” Vua đồng ý.

[45] Chiếu cho các quan văn học trợ giáo ở Hi Hà lộ được bổ dụng do có công, triệu hai vị triều thần tiến cử, bổ nhiệm tạm thời vào chức quan, đủ ba năm, không có sai sót, từng đỗ đạt, thì bổ nhiệm chính thức; còn lại xin chỉ dụ.

[46] Ngày Ất Tỵ, Thường châu đoàn luyện suy quan Tăng Mân được cử làm quản cú phụ trách việc thường bình đẳng ở Phúc Kiến lộ. Trước đây, triều đình vốn muốn cho ông đổi sang chức ngoại nhiệm, ngày 17 tháng 6 và ngày 14 tháng 10. Thái Thừa Hi hặc tấu Lữ Thăng Khanh lại nhắc đến Mân, nên bị điều ra ngoài.

Thừa Hi tấu rằng: “Mân là kẻ tiểu sinh trong khoa trường, không có tiếng tăm gì, tính khinh bạc, xảo quyệt, dựa dẫm vào thế lực. Lữ Huệ Khanh đặt ông ta dưới quyền, lại sai biên soạn lệnh sắc, giữ chức kiểm thảo, nhưng chưa từng có công lao gì trong việc soạn thảo; thường khinh nhờn đồng liệt, hay quát mắng người khác. Giả vờ cương trực, nhưng thực chất mưu cầu quyền lợi.

Thần mới đến kinh đô, nghe nói ông ta được làm kiểm thảo, tưởng có tài năng đặc biệt, nhưng khi gặp và nói chuyện, thấy tài năng của ông ta chỉ ở mức thấp kém như nô bộc. Trước đây ông ta từng được triều kiến, với sự sáng suốt của bệ hạ, đã thấu hiểu con người ông ta, nên không được trọng dụng. Thần xin hạ lệnh cho kinh nghĩa sở và lệnh sắc sở kiểm tra xem Tăng Mân khi làm kiểm thảo và biên soạn có công lao gì không? Nếu không có gì, xin hạ lệnh cách chức.”

Sau đó lại tấu: “Mân là kẻ tiểu nhân nô lệ, hèn hạ phục vụ bên cạnh Huệ Khanh, dựa dẫm làm điều gian ác, lợi dụng lời nói để gièm pha. Sau khi đỗ đạt, liền vào điều lệ ty, chưa đầy một hai năm đã được làm đề cử, há phải là chọn người xứng đáng? Chức đề cử tuy chưa phải là giám ty, nhưng ở kinh đô thì coi thường, còn ở ngoại đạo thì có thể bãi nhiệm quan lại, ảnh hưởng đến lợi hại của dân chúng, liên quan đến việc điều động của quốc gia, hệ trọng không nhỏ.

Nếu để những kẻ tầm thường, khinh bạc xen vào, không chỉ gây hại cho công việc, mà còn khiến quan lại và dân chúng trong lộ không có chỗ kêu oan. Đến như chuyển vận sứ, đề hình sứ, thế lực đủ để kiềm chế nhau, nhưng nếu họ tùy ý thi hành hỉ nộ, xử lý quan lại thì khó mà so sánh được. Thần xin đưa ông ta về thuyên viện, bổ nhiệm chức vụ phù hợp. Xin chọn người khác làm đề cử.”

Ngày 14 tháng 11, Mân bị cách chức.

Trước đó, Đại Lý tự thừa Phương Trạch được bổ làm Đề cử thường bình lộ Giang Tây, Thừa Hi tâu rằng: “Trạch tài năng kém cỏi, nhờ thông gia với Lữ Huệ Khanh, lấy người bị cấm tuyển vào Ty điều lệ. Chưa đầy hai ba năm, không nên có chức vụ này.” Lại tâu: “Trạch làm Phán ty ở Việt Châu, có hành vi ô uế không thể nói ra, bị người tố cáo, suýt thành án, nhờ châu này che chở mới thoát, sao đủ sức cai quản một lộ? Xin thu hồi mệnh bổ nhiệm, giao cho Chuyển vận ty Lưỡng Chiết đưa về Việt Châu điều tra xử lý.”

(Thừa Hi tâu về Phương Trạch trước cùng Tăng Mẫn đồng chương, Trạch được bổ làm Đề cử thường bình, thực lục không chép, nay phụ chép vào đây. Ngày 14 tháng 5 năm thứ 9, Thừa Hi tâu như vậy, có thể tham khảo. Thực lục chép vào ngày 11 tháng 11 năm thứ 8 về việc Thừa Hi tâu, vì ngày 11 tháng 11 mới có lệnh điều tra, nay ghi cả hai.)

[47] Chiếu rằng: “Đại Trưởng công chúa sắp xuất giá, cho phép các quan trong ngoài từ chức Chế trở lên và các Giám ty các lộ tìm con em các gia đình danh giá, tính tình hiền lành, dung mạo đẹp đẽ, có thể được chọn làm phò mã, đem tên tâu lên. Người ở ngoài cho phép đi ngựa trạm về kinh.”

[48] Vua phê: “Doanh phòng Thặng viên ở kinh, sai Thẩm Hi Nhan quản lý.” Vì phòng ốc chật hẹp, người già yếu không có chỗ nương tựa.

[49] Chuyển vận sứ lộ Kinh Hồ Bắc Tôn Giác tâu: “Tri châu Bảo Tĩnh Bành Nho Vũ tự nói muốn cho con về thuận, sợ Sư Yến ngăn trở. Xin phát quân tu sửa trại Bắc Giang ở châu Thần để phòng Sư Yến. Lại xin sai người trước quản lý văn tự, Trứ tác tá lang Trần Hướng, Thái thường bác sĩ Tần Trung Cán tập.” Và tâu rằng Quyền Chuyển vận phán quan Chu Sư Hậu cản trở việc biên giới, chiếu giao Giác chuyên xử lý, đổi Sư Hậu sang lộ lân cận, lấy Hướng và Trung làm Câu đương công sự Chuyển vận ty lộ Kinh Hồ Bắc. Sau mười ngày, Sư Hậu cũng tâu muốn nhân Sư Yến cùng quẫn, xây thành trại, chiêu nạp Sư Yến, đặt ở châu Thần, rồi tiến quân, chiếm trại cũ của họ. Chiếu giao Giác xem xét thi hành. (Việc Chu Sư Hậu tâu là ngày 27, nay ghi chung. Không rõ Sư Hậu cuối cùng đổi sang đâu, cần tra cứu.)

[50] Ngày Mậu Thân, ban chiếu rằng các chủ trì cung quán, tự viện trong ngoài cùng tăng, đạo chính, nếu trước đây được bổ nhiệm bằng tuyên sắc, từ nay do Thượng thư Từ bộ cấp thiếp.

[51] Ban chiếu cho An phủ ty lộ Chân Định phủ, nếu người phương Bắc dời trạm xâm phạm biên giới, trước hết dùng lẽ phải khuyên răn ngăn chặn; nếu không nghe, tùy nghi dùng binh mã đuổi đi, không được tùy tiện gây sự. Vì lộ này tâu rằng do thám báo người phương Bắc muốn dời trạm.

[52] Ban chiếu rằng tiền do các giám đúc tiền đúc, mỗi quan tiền thục nặng 5 cân. Các loại tiền cũ đời trước đều cho lưu hành, nếu không đủ tiêu chuẩn để nộp lên, cho phép để lại các châu chi dùng lặt vặt. (Ngày 2 tháng 2, ngày 16 tháng 5.)

[53] Ban chiếu: “Các châu quân bị thiên tai bắt được cướp mạnh, nếu đáng xử lăng trì hoặc chém, hoặc giết người, hoặc hung ác, hoặc là quân nhân, hoặc ba lần đi cướp, đều xử tử. Hoặc từng phạm tội trộm cắp đến mức đi đày, đã xử xong lại cùng ba người trở lên cầm gậy đi cướp, xử tử. Hoặc ở các châu huyện áp dụng luật nặng, cho phép dùng điều lệ thưởng. Các trường hợp khác giảm một bậc thưởng, cướp lương thực lại giảm một bậc nữa.”

[54] Quân khí giám xin ban chiếu cho các lộ Chuyển vận ty cung ứng vật liệu, lấy số tiền trung bình một năm trong năm năm trước làm mức thu mua thêm, cho phép khấu trừ vào tiền lụa nộp lên; các lộ không nộp lên, thì triều đình cấp tiền hoàn lại. Theo đó.

[55] Ngày Canh Tuất, Lại bộ Thị lang, Bình chương sự, Giám tu Quốc sử Hàn Giáng bị bãi chức, giáng làm Lễ bộ Thượng thư, Quan văn điện Đại học sĩ, nhậm chức Tri Hứa châu, nhưng được chiếu cho phép ra vào theo nghi thức của nhị phủ, trong các buổi đại triều hội thì đứng sau hàng Trung thư và Môn hạ.

Hàn Giáng khi ở ngôi tể tướng, thường có ý kiến khác với Lữ Huệ Khanh, đến khi Vương An Thạch trở lại triều đình, bàn luận chính sự càng thêm bất đồng, nên ông nhiều lần xin từ chức vì lý do bệnh tật, và được ban mệnh lệnh này.

(Bản truyện của Hàn Giáng chỉ ghi: Hàn Giáng kế nhiệm Vương An Thạch làm tể tướng, xin lập cục ở Trung thư để kiểm tra chi tiêu, nhằm điều hòa ngân sách quốc gia, nhưng công việc bị trì trệ, nhiều việc không quyết định được, sau vài tháng, ông xin từ chức vì bệnh. Cả hai bộ 《Tân thực lục》 và 《Cựu thực lục》 đều ghi như vậy, có thể nói là quá sơ lược. Nay tham khảo các tài liệu khác để biên soạn lại, giữ lại những nét chính. 《Thiệu Bá Ôn kiến văn lục》 chép: “Hàn Giáng ban đầu vì ủng hộ chính sách trợ dịch, đồng ý kiến với Vương An Thạch, sau lại được phong làm tể tướng ở Sử quán, nhưng bị Lữ Huệ Khanh bài xích, nên bị điều ra làm Tri Định châu.”)

[56] Chiếu miễn thuế trà bị thất thu ở Ngạc châu, mỗi năm hai vạn năm nghìn bảy trăm mân, và lệnh cho dân từ năm Hi Ninh thứ bảy trở đi phải nộp theo mức thuế cũ. Do Tam ty tâu rằng, từ năm Gia Hựu thứ tư khi chính sách trà thông thương được thực hiện, đến năm Hi Ninh thứ sáu, tổng cộng mười lăm năm, số tiền thất thu lên đến ba mươi tám vạn năm nghìn sáu trăm ba mươi mân.

[57] Trung thư tâu: “Các cử nhân chư khoa của Quốc học và Khai Phong phủ là Tôn Nghĩa và những người khác kiện cáo về đề thi, chỉ trích vài ba chữ, thậm chí có chỗ lặp lại đến mấy chục chữ. Viện thi cũng tâu rằng Tôn Nghĩa và những người khác từng nói trước rèm rằng triều đình muốn bãi bỏ các khoa thi, xin được thông báo trước để tránh làm những người nghèo khó phải học tập vất vả mà không có kết quả.” Chiếu bác bỏ đơn kiện, người đứng đầu bị phạt đình chỉ một khoa thi. Ban đầu, Tôn Nghĩa và những người khác sau khi vào thi, nhận được đề thi, liền ném quyển thi xuống đất, cùng nhau ra ngoài, chặn tể tướng để tự kiện. Chiếu lấy đề thi dâng lên, và ban mệnh lệnh này.

[58] Thượng phê: “Đô thành lâu ngày không được tu sửa, vào đầu năm Hi Ninh, tuy từng đặt quan lo việc tu bổ, tốn công đến hàng chục vạn. Nay sai người đi xem xét, vẫn đổ nát như cũ, nếu không chọn quan tổng lĩnh, kéo dài thời gian, không thể hoàn thành, có thể sai Nhập nội đông đầu cung phụng quan Tống Dụng Thần đề hạt tu bổ, nếu có việc cần xin chỉ thị thì trình bày đầy đủ lên. Lại sai quân sĩ từ Hà Bắc, Kinh Đông, gồm 10 chỉ huy Sùng Thắng, Phụng Hóa và 5.000 quân sĩ từ các giám mục bị bãi bỏ, chuyên lo việc này, quân sĩ vẫn thuộc Bộ quân ty. Những người phạm tội trượng trở xuống trong việc tu thành, giao cho Ty tuyển tu thành xử lý, nếu cần tra xét thì gửi về Bộ quân ty, cứ 500 người thì cho phép tiến cử một người từ Điện trực trở xuống đến Điện thị để đốc thúc công việc.” (Ngày 7 tháng 9, đặt Quảng Cố, v.v. 《Địa lý chí》 chép: Ngày Quý Dậu tháng 9 năm Hi Ninh thứ 8, hoàn thành đô thành; ngày Đinh Mùi tháng 10 năm Nguyên Phong thứ 1, báo cáo hoàn tất. Ngày tháng bắt đầu tu sửa khác với 《Thực lục》, cần xem xét lại.)

[59] Chiếu cho Ty an phủ duyên biên Hi Hà và Thao Tây, từ tháng này trở đi phải tấu trình tình hình quân dân bình an. Trước đây phải tấu trình mỗi tuần, đến nay vì việc biên giới đã yên nên thay đổi.

[60] Ngày Tân Hợi, chiếu rằng những người vi phạm pháp luật trong việc mua lương thảo, gây thiệt hại lớn cho triều đình, thì giám quan cùng tri châu, thông phán đều phải xin chỉ để giáng chức hoặc cách chức.

[61] Ngày Nhâm Tý, sai Trì châu Tư pháp tham quân Tôn Ngạc biên định sách lệ và điều quán về công sứ của các tỉnh, phủ, tự, giám; lại sai Ngạc giám sát kho chế sắc. Ngạc, người Thiệu Vũ, sau khi đỗ tiến sĩ, đứng đầu trong kỳ thi pháp luật, nên được giao việc này. Việc dùng sĩ nhân làm giám kho chế sắc bắt đầu từ Ngạc. (Việc giám kho chế sắc được thêm vào từ 《Mộ chí của Dương Thời》. Ngày 24 tháng 9, làm tập học; ngày 6 tháng giêng năm Nguyên Phong thứ 2, có thể xem xét.)

[62] Lại chiếu cho Thiền Định châu và Bắc Kinh, mỗi nơi lập 9 kho chứa quân khí và đồ dùng.

[63] Tư nông tâu rằng: “Phép bảo giáp, chủ hộ và khách hộ năm nhà gần nhau làm một tiểu bảo, năm tiểu bảo làm một đại bảo, mười đại bảo làm một đô bảo, các lộ đều theo đó thi hành. Duy có năm lộ thuộc phủ Khai Phong thì trừ khách hộ, chỉ chọn chủ hộ có hai đinh vào chính bảo, vì thế tiểu bảo có đến vài chục nhà, đại bảo có đến hơn trăm nhà, đô bảo có đến vài trăm nhà, số người quá nhiều, địa phận rộng xa, một bảo có phạm tội thì nhiều người bị liên đới. Vì lúc lập pháp chưa xét kỹ, xin cho năm lộ thuộc phủ Khai Phong theo cách sắp xếp của các lộ khác.” Chiếu rằng từ nay cứ ba năm một lần lập sổ sắp xếp bảo giáp, năm lộ thuộc phủ Khai Phong đợi đến ngày lập sổ thì thi hành như lời tâu.

[64] Quyền phát khiển Diêm thiết phán quan, Đề cử Thành Đô phủ, Lợi Châu, Tần Phượng, Hi Hà đẳng lộ trà trường Lý Kỉ tâu rằng việc bán trà và đổi ngựa là một việc, xin kiêm Đề cử mua ngựa, mỗi năm lấy một vạn ngàn con làm định mức. Chiếu cho Lý Kỉ kiêm Đề cử mua ngựa, tạm lấy hai vạn con làm định mức, hai năm sau sẽ xin chỉ.

[65] Chiếu rằng ruộng dân ở lộ Hà Đông được miễn thuế đến tám phần trở lên, tạm thời hoãn thu.

[66] Tư nông tâu rằng: “Giang Đông, Hoài, Chiết bị thiên tai cần cứu tế, nghe nói lộ Giang Nam Tây lúa rẻ, xin sai Tri huyện Hàm Bình, Điện trung thừa Ngô Cư Hậu lo liệu, cùng với lộ Kinh Hồ đổi lúa để ứng phó.” Cư Hậu là người Dự Chương.

[67] Lại tâu rằng: “Ty này kiểm tra việc các lộ thu mua phường trường, bến đò, giếng muối, cối xay, sổ sách sơ sài, thất thoát tiền công. Xin giao cho Đề điểm hình ngục ty chọn quan, lấy từ khi thu mua đến cuối năm nay, cùng với các văn án và điều lệnh để kiểm tra, báo lên ty này xem xét, đánh giá mức độ kỹ lưỡng, làm cơ sở thưởng phạt.” Theo lời tâu.

[68] Sứ giả Sát phỏng Lý Thừa Chi của Hà Đông lộ tâu rằng: “Ngoài thuế hạ thu của 12 châu quân ở Thái Nguyên phủ, còn có việc thu mua lương thảo, đây là phép tệ nhất. Vì dùng tiền để chi trả, dù gặp năm mất mùa, cũng không có lệ xét miễn, dù có cho hoãn lại, thì năm sau vẫn phải thu nộp. Dù quan phủ cấp tiền bạc không ít, nhưng dân được hưởng rất ít, hoàn toàn không có ích gì. Nếu giảm trực tiếp một phần, rồi dùng tiền mua một phần lương thảo, tự nhiên sẽ đủ. Hơn nữa, nếu đổi thành chính ngạch, thì việc nộp và chuyển giao sẽ đơn giản, gặp năm mất mùa, theo lệ sẽ được xét miễn, không cần phải tâu xin hoãn lại từng lúc.” Chiếu cho Hà Đông đô chuyển vận ty xem xét rồi tâu lên. Sau đó, đô chuyển vận ty tâu rằng không có lệ miễn trừ, nên việc này thôi. (Bản Chu bỏ đi, cho rằng chưa từng thi hành, bản mới theo đó, nay lại ghi chép lại.)

[69] Ngày Quý Sửu, Ty Nông tự tâu: “Huyện Khai Phong mua chịu gạo tẻ với giá 6 vạn quan, phần lớn không thu được, không có sổ sách để kiểm tra. Lại không thu được 4 vạn quan tiền Thường bình, cùng 8 nghìn quan tiền phường trường đã phát ra, và không sửa chữa kịp thời các kênh rạch khẩn cấp. Tri huyện Hồ Tông Nghiêu xin được thay thế.” Chiếu cho Tông Nghiêu bị thay thế, lệnh Ty Nông tự trình bày việc vi phạm pháp luật của các đề điểm phủ giới là Ngô Thẩm Lễ, Lưu Thục, Thái Xác để tâu lên.

Sau đó, Thục, Thẩm Lễ, Xác đều bị xử phạt vì không kiểm tra kỹ các việc vi phạm pháp luật ở các huyện, bị hoãn xét duyệt 2 năm. Thục lại bị xử phạt vì không chịu ký vào văn bản tố cáo việc vi phạm pháp luật của huyện Tường Phú gửi Ty Nông tự, bị điều đi làm việc khác, và lệnh phải trình bày rõ các việc vi phạm pháp luật để tâu lên. Ngày 14 tháng 12, hoãn xét duyệt, cho làm việc khác, nay ghi chép lại. Việc trình bày các việc vi phạm pháp luật, sau này không thấy nữa.

[70] Lại tâu: “Các huyện Hàm Bình, Tân Trịnh, Bạch Mã, Toan Tảo đã thực hiện phép làm sổ sách, định mức tiền dịch, niêm yết cho dân xem, không có ai kêu ca. Nghe nói các quan lại ở các lộ phần nhiều chưa thông hiểu, xin cho các quan lệnh, tá ở phủ giới sau khi làm xong sổ sách, người nào thông hiểu pháp ý, do bản ty cử người đảm nhiệm công việc, hướng dẫn các lộ làm sổ sách và thực hiện phép mới về cấp nộp thường bình, đốc thúc thu nợ cũ về tiền thóc của thường bình, miễn dịch, phường trường, đợi khi một lộ hướng dẫn thực hiện xong, so sánh kết quả, tùy tài mà bổ dụng.” Theo lời tâu, đợi khi cử được quan, Trung thư xét duyệt rồi bổ nhiệm.

[71] Ngày Ất Mão, xuống chiếu cho Ty Nông chi 30 vạn quan tiền phường trường làm vốn thị dịch ở Vận châu.

[72] Trung thư tâu: “Quan tường nghị ở Thẩm hình viện[6], quan tường đoán ở Đại Lý tự đều tự tóm tắt án kiện, xin chỉ cho khoanh tròn các tiết mục, giao lại cho lại viên chép lại, và giảm một viên quan tường nghị, hai viên quan đoán.” Theo lời tâu.

[73] Thẩm hình viện, Đại Lý tự tâu, người được ấm Dương Trọng Phủ, dân thường Giả Hãng cùng 11 người truyền tán những lời báng bổ chính sự, tội đáng đi đày. Gặp đại xá, xuống chiếu cho Trọng Phủ, Hãng bị thích chữ và đày đến bản thành ở Kinh Hồ Nam lộ, còn lại bị biên quản ở Hoài Nam, Kinh Tây lộ.

[74] Ngày Bính Thìn, ban chiếu: “Tiên đế từ chức Phòng ngự sứ Tề châu lên kế vị, năm thứ 2 niên hiệu Trị Bình lập làm Hưng Đức quân. Nay xây chùa Phật ở nơi ở cũ, nên lấy tên trấn của bản phong đặt tên, có thể ban tên ‘Hưng Đức Thiền Viện’, ban 30 khoảnh ruộng bùn.”

[75] Lại xuống chiếu từ nay ở kinh đô và phủ Khai Phong cho phép lưu hành tiền đồng chiết nhị.

[76] Lại xuống chiếu cho tiền giám Viên Khúc ở châu Giáng, trong số tiền vốn đồng, thiếc và tiền vận chuyển phong trang của Tam ty, lấy 10 vạn quan cho Ty Chuyển vận Hà Đông mượn để mua lương thảo.

[77] Xuống chiếu: “Các quan kinh triều, tuyển nhân, sứ thần thi kinh sách, đại nghĩa luật lệnh, đoán án, người đỗ thượng đẳng hạng nhất được thăng cấp, bổ nhiệm ở Ty hình ngục kinh đô; trung đẳng được bổ nhiệm ở đường; hạ đẳng được bổ chức. Người đổi chức cũng theo đó.”

[78] Vua phê: “Sông Biện dâng cao, thấy sâu một trượng hai thước, có thể gấp rút sai một viên quan của Đô thủy giám đến thượng lưu xem xét giảm bớt nước, phải đảm bảo sáng tối nước rút.” Sau đó, Trung thư trình lên rằng nước đã rút.

[79] Ngày Đinh Tỵ, Tống Dụng Thần, quan phụ trách tu sửa kinh thành, tâu: “Sông Hộ Long và các sông khác gần thành, không thể tu sửa, xin đo đạc địa hình cao thấp, mở rộng sông.” Vua đồng ý.

[80] Chiếu rằng: “Từ nay, những người mới được bổ nhiệm làm Đoàn luyện sứ trở lên, được phép xin một người thân thuộc được ưu tiên bổ nhiệm. Khi thăng chức Tiết độ quan sát lưu hậu trở lên, được xin thêm một lần nữa.”

[81] Vua phê: “Ngày mai tập trận, có thể sai Tăng Hiếu Khoan tạm đến xem xét, nếu có gì chưa ổn thì báo lại.” Ngày 28, Vua phê, muốn biết sau này thế nào. (Sử cũ chép ngày Đinh Tỵ duyệt bát quân ở phía nam thành, thực lục cũng chép ngày Đinh Tỵ, nay theo lời phê của Vua, gộp vào ngày Ất Sửu tháng 9.)

[82] Ngày Mậu Ngọ, 29. Vua phê: “Hỏi Xu mật viện xem Trình Phưởng đang đóng xe ở đâu? Và đã đóng được bao nhiêu? Sai Phưởng tâu lên.”

[83] Chiếu rằng: “Từ nay, các sứ thần của Nội thị tỉnh có tư cách Sùng ban trở lên, không được tự ý xử phạt. Nếu vi phạm trong cung, phải báo cáo sự việc, gửi Xu mật viện xin chỉ thị thi hành. Nếu có chỉ riêng, chỉ cho Nội thị tỉnh xử lý, thì tùy lúc chỉ huy.” 《Ngự tập》 chép tháng 8, không rõ ngày, nay phụ vào đây.

[84] Trung thư trình lên, phòng Hộ xin hạ lệnh cho hai ty Đề cử thủy lợi và Chuyển vận ở Lưỡng Chiết, mỗi ty cử quan đi xem xét việc tu sửa thủy lợi ở Lưỡng Chiết có gì không hợp lý.

Vua nói: “Quan do Thẩm Quát cử thì ty Chuyển vận không quản được. Quan do ty Chuyển vận cử thì thuộc quyền An phủ sứ, có thể cử Hầu Thúc Hiến đi không?” Vương Khuê nói: “Hầu Thúc Hiến không thể đi. Vương Cổ hiện ở Hà Nam, xin cử Cổ đi.”

Lữ Huệ Khanh nói: “Tu sửa đê điều là việc rất tốt, như dân gian xây nhà, muốn to lớn hay nhỏ bé. Phải to lớn mới là đê điều, cần đắp cao, nhưng phải xem xét sức người mà làm dần. Ở Tô Châu, bọn thần đều có ruộng, một quan tiền cầm được một mẫu, mỗi năm thu được bốn đến sáu đấu gạo. Nhưng thường có nợ đọng, nếu hai năm thu một lần, ruộng tốt được ba đấu gạo, mỗi đấu năm mươi đồng, không quá một trăm năm mươi đồng. Nay mỗi mẫu ruộng đóng hai trăm đồng, có nghìn mẫu thì phải đóng hai trăm nghìn đồng, làm sao chịu nổi! Nếu khởi công, cũng không phải là phí hoài. Lại dùng phép năm hạng để định việc đắp đất, chỉ cao thấp hơn kém ba năm tấc đã tranh cãi kịch liệt. Ruộng đất đâu thể bằng phẳng như nhau? Ruộng cao có chỗ thấp, ruộng thấp có chỗ cao, có chỗ lấy đất xa, tính toán không hết, phải bù tiền gạo mới xong. Lưỡng Chiết muốn đào kênh rạch, nhân đó lấy đất đắp đê, rất tiện, trước đây Trần Nạp xin lập phép như vậy.” Thẩm Quát không cho là phải.

Vua nói: “Phép cũ quả có chỗ chưa hoàn chỉnh.” Thẩm Quát nói: “Kênh rạch quá sâu thì khó tát nước.”

Mọi người nói: “Thẩm Quát nói bậy. Ruộng Tô Châu đều ở trong nước, chỉ sợ nước nhiều, đâu sợ khó tát nước! Chỉ cần đào sâu thì năm hạn có thể chứa nước, nông thì dễ cạn. Nhưng đào sâu rất khó, phải lấy hai ba thước bùn nổi, sau đó mới lấy được đất. Trước đây thấy ý Quát muốn cùng Trương Tịnh làm đến cùng. Đại để người ta nói việc, tuy đều trái ngược, nhưng có kẻ phá hoại phép triều đình, không thể xem như nhau.”

Vua nói: “Vào mà không có pháp gia phất sĩ[7], nước thường mất.” Huệ Khanh nói: “Việc này xin bệ hạ xét kỹ.”

(《Lữ Huệ Khanh nhật lục》 chép việc này vào ngày 29 tháng 8 năm thứ 8, nay phụ chép. Thẩm Quát đi xem xét an phủ Hoài, Chiết vào ngày 23 tháng 7 năm thứ 8, Trương Tịnh lúc đó làm Phó sứ Chuyển vận Lưỡng Chiết, Vương Cổ xem xét phép dịch Hoài Đông, nhân xem xét thiệt hại do thiên tai ở Hoài Đông và Lưỡng Chiết vào ngày 24 tháng 6, không rõ cuối cùng có cử Cổ đi xem xét thủy lợi không? Việc Trần Nạp, nên khảo cứu thêm.)

[85] Tháng đó, cắt huyện Long Bình của châu Chiêu sáp nhập vào châu Ngô, bãi bỏ trại Linh Lăng của châu Vĩnh.


  1. 'khoảng' trong bản các là 'hành'.
  2. 'thông' nguyên bản là 'canh', theo các bản sửa.
  3. Mục dưỡng giám, chữ 'Mục' nguyên là 'thu', theo 《Tống hội yếu》 chức quan 23-10 sửa lại.
  4. Việc ngày mùng 4 trong 《Ngự tập》, chữ 'ngày' nguyên là 'tháng', theo bản các sửa. Xét: ngày mùng 1 tháng 8 năm Hi Ninh thứ 8 là Canh Dần, ngày mùng 4 là Quý Tỵ
  5. Chữ 'chế' trong 'chế trí' nguyên bản thiếu, căn cứ vào chú thích và 《Tống hội yếu》 chức quan 42-25 bổ sung
  6. Chữ 'Hình viện' nguyên bản thiếu, theo 《Tống sử》 quyển 163, Chức quan chí bổ.
  7. Vào mà không có pháp gia phất sĩ, chữ 'vào' nguyên là 'ra', theo các bản và sách 《Mạnh Tử - Cáo Tử》 sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.