VI. TỐNG THẦN TÔNG
[BETA] QUYỂN 272: NĂM HI NINH THỨ 9 (BÍNH THÌN, 1076)
Từ tháng giêng năm Hi Ninh thứ 9 đến hết tháng đó.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Mậu Ngọ, mùng một, Vua không thiết triều.
[2] Ngày Kỷ Mùi, Ty chuyển vận lộ Quảng Nam Tây Lộ tâu rằng giặc Giao Chỉ đánh thành Ung Châu, người hiệu dụng chống giặc, giết và làm bị thương nhiều giặc. Vua xuống chiếu giáng chức Đông đầu cung phụng quan, ban sắc trống cho Kinh lược ty điền vào để thưởng cho những người chém được thủ cấp giặc và những người có công khác, còn lại thì ban thưởng hậu hĩnh.
[3] Ngày Tân Dậu, Đô giám lộ Quảng Nam Tây Lộ là Trương Thủ Tiết bị giặc Giao Chỉ đánh bại ở Côn Lôn Quan.
Trước đó, Tô Giám sai sứ đến Quế Châu xin cứu viện[1], Lưu Di sai Thủ Tiết đi cứu viện. Thủ Tiết nghe tin quân giặc đông gấp mười lần, do dự không tiến quân ngay, lại đi vòng qua đường Quý Châu, đóng quân ở dịch trạm Khang Hòa để quan sát tình hình thắng bại. Giám lại sai sứ mang thư sáp báo cấp cho Đề điểm hình ngục Tống Cầu. Cầu nhận được thư, vừa kinh ngạc vừa khóc, liền tùy nghi thúc giục Thủ Tiết tiến quân. Thủ Tiết hoảng hốt không biết làm gì, dời quân đóng ở Hỏa Giáp Lĩnh, rút về giữ Côn Lôn Quan, bất ngờ gặp giặc, không kịp dàn trận, cả quân bị tiêu diệt, Thủ Tiết tử trận.
[4] Ngày Quý Hợi, Vua xuống chiếu cho Kinh lược ty và Chuyển vận ty lộ Quảng Nam Tây Lộ, những nơi cần phòng thủ và sửa chữa thành trì thì cấp tiền gạo cho dân binh, người sửa thành thì chia phiên đi làm việc, những nơi không cần phòng thủ thì sau một tháng huấn luyện xong thì giải tán.
[5] Vua phê: “Từ khi lộ Quảng Nam Tây Lộ có việc biên giới[2], lộ Đông Lộ không nghe nói đến việc chuẩn bị phòng bị. Hãy lệnh cho các ty giám sát phân định các châu quân, nghiêm chỉnh tu sửa phòng thủ, khắp nơi làm việc phòng ngự.”
[6] Ngày Quý Hợi, mồng 6. Vua phê: “Việc công phân chia địa giới Hà Đông của Hàn Chẩn, Lý Bình, đợi sứ Bắc từ biệt xong, có thể ban xuống văn tự về những nơi cần phân chia, hãy tuân thủ thi hành, và sớm ra lệnh khởi hành.”
(Điều này căn cứ vào Ngự tập ngày 6 tháng giêng năm Hi Ninh thứ 9: “Ngày 29 tháng chạp năm ngoái có lời phê của Vua: ‘Nơi Hàn Chẩn đang xem xét văn tự, không cho người không liên quan vào.'” Lại có “Lời phê của Vua ngày mồng 4 tháng giêng năm nay[3]: ‘Văn tự về việc biên giới phía Bắc đang bàn[4], khi nào xong? Lưu lại để xem.'” Chẩn lúc đó ở kinh sư, ngày 26 tháng chạp năm ngoái, Chẩn được bổ làm Đô thừa.)
[7] Ngày Ất Sửu, mưa đóng băng trên cây.
[8] Hàn lâm học sĩ, quyền Ngự sử trung thừa Đặng Uyển quyền tri cống cử; Tri chế cáo Đặng Nhuận Phủ, Tập hiền hiệu lý, đồng tu khởi cư chú, Trực xá nhân viện Bồ Tông Mạnh đều quyền đồng tri cống cử. (Thực lục chép việc này vào ngày Tân Mão tháng chạp năm ngoái, e là sai.)
[9] Ngày Bính Dần, sai Trứ tác tá lang Trần Đại Thuận lo việc chuẩn bị cỏ khô và lương thực cho Quảng Nam Tây lộ. Thí Tướng tác giám chủ bạ Âu Dương Tế nói: “Xin ở các châu huyện ven sông phía Tây kinh thành lấy 20 vạn thạch lúa để ứng phó cho Quảng Nam Tây lộ, nếu không đủ thì mua của dân.” Theo lời, và sai Tế lo việc chuẩn bị.
[10] Chiếu cho ty Chiêu thảo An Nam cùng Thạch Giám, Chu Ốc xem xét việc Trầm Khởi, Lưu Di gây ra biên sự, tâu lên sự thật. Trước đó, có chiếu chỉ gửi Trung thư: “Trầm Khởi trước đây ở Quảng Tây, ngang nhiên truyền rằng nhận được mật chỉ của triều đình, kinh lược đánh Giao Châu; lại không đợi chiếu, tự ý cử biên lại, chiêu dụ Nùng Thiện Mĩ ở Ân Châu, Tĩnh Châu; cùng việc cưỡng ép đặt doanh trại ở các động thuộc Dung Châu, Nghi Châu, dối tâu rằng người Man đều quy phụ. Sau khi xây dựng đồn trại, quả nhiên dẫn đến phản loạn, giết hại hàng nghìn thổ đinh, binh hiệu và quan lại. Nay giặc Giao Châu phản nghịch, người Di Lão xâm nhập, khiến dân chúng một vùng bị tàn sát, nguyên nhân gây ra giặc, tội đều ở Trầm Khởi, không còn nghi ngờ gì nữa. Trẫm là cha mẹ dân, thấy dân vô tội nơi biên cương gặp tai họa, lòng rất đau xót. Trầm Khởi có thể tha chết, tước bỏ quan tước, đày đến châu quân xa xôi để quản thúc.”
Chưa thi hành, Trung thư và Xu mật viện tâu: “Lưu Di cũng liên tiếp gây sự, xin bãi bỏ việc đóng quân, khiến những người được chiêu dụ không thể sử dụng; cùng việc đóng thuyền chiến, cấm người Giao Chỉ buôn bán; không cho phép gặp Tô Giám để bàn việc biên giới, cũng không thu nhận văn thư, khiến họ nghi ngờ sợ hãi mà làm phản. Việc này e rằng không chỉ do Trầm Khởi, mà còn có điều đáng nghi.” Vì thế, đều giao cho ty Chiêu thảo xem xét lại sự thật. Ngày 24 tháng 12 năm ngoái giao cho Chu Ốc, ngày 4 tháng 2, Trầm Khởi và Lưu Di đều bị trách phạt.
[11] Tư nông tự tâu: “Năm Hi Ninh thứ 7, tháng 9, có chiếu rằng dân đã hai lần được hoãn trả tiền thường bình thì ngừng cấp phát. Tháng 11, chiếu đổi ‘hai lần’ thành ‘đã từng’. Năm ngoái trong kinh kỳ bị thiên tai, đã được hoãn trả, theo phép nên ngừng cấp phát. Nhưng nay mưa xuân tuyết đúng mùa, lúa mạch đều tốt tươi, dân nghèo khó nếu không được cứu tế thì sẽ lâm vào cảnh mất chỗ nương tựa. Xin theo chiếu trước, ai đã được hoãn trả lần nữa thì ngừng cấp phát.” Vua phê: “Hiện nay tiền thóc thường bình trong thiên hạ, phần lớn đã phát tán trong dân. Lại thêm liên tiếp mấy năm thiên tai, số được hoãn trả gần một nửa. Nếu chỉ chăm chăm cấp phát nhiều để tính công lãi, không tính đến việc đòi nợ khó khăn, thì không chỉ của công bị thất thoát, mà dân chúng cũng sẽ bị đánh đập nhiều. Có thể tạm theo chiếu sau mà thi hành.” (Ngày 26 tháng 9 năm thứ 7… Lại ngày 23 tháng giêng năm này… hợp lại để tham khảo.)
[12] Điện tiền, Thị vệ Mã bộ quân ty tâu: Các viên chức trong các ban xin được hiệu dụng qua An Nam chiêu thảo ty là không tiện. Chiếu cho Chiêu thảo ty chiêu mộ Tam ban sứ thần, Sai sứ, Tá sai, cùng Điện thị, Vệ quân đại tướng và các hạng người khác sung làm hiệu dụng. Còn các viên chức, binh sĩ trong các quân ban thì nghe chỉ riêng.
[13] Kinh lược sứ ty Hi Hà lộ tâu: “Thủ lĩnh vùng sau núi Hà châu là Kết Chiên, Quỷ Lư, Sất Bô Ba Giác nói rằng Quỷ Chương bảo Kết Chiên đánh Hà châu. Kết Chiên muốn quy phụ, cùng cháu là Khi Ba Ôn mưu giết Quỷ Chương, chưa kịp hành động thì Quỷ Chương phát giác, chạy về Tháp Nam thành. Kết Chiên dẫn 121 thủ lĩnh bộ tộc đến hàng.” Vua phê: “Kết Chiên đã dẫn người ra hàng, lại chém đầu thủ lĩnh bộ lạc không thuận, cùng mưu giết Quỷ Chương không thành. Hà châu tuy đã khao thưởng, nhưng sợ chưa đủ để đền đáp công lao, thỏa lòng người muốn quy thuận. Nên ưu đãi ban quan tước, để các bộ lạc vùng sau núi nghe tiếng mà lần lượt quy phụ, biên phòng Hà châu có thể tạm bớt nghiêm ngặt.” Bèn cho Kết Chiên làm Nội điện thừa chế, các thủ lĩnh khác bổ làm Ban hàng và Phiên quan theo thứ bậc.
[14] Ngày Kỷ Tỵ, Phạm Tử Uyên, đồng quản câu Đô thủy giám công sự, tâu rằng: “Cảng Hứa Thôn ở đê thứ sáu Bắc Kinh nối với sông Nhị Cổ, e rằng khi nước lên sẽ lại gây ngập lụt. Nay muốn từ đê Ngư Lặc ở bờ nam nối với đê Trị Thủy để xây thêm một con đê.” Vua nghe theo.
[15] Xuống chiếu bãi bỏ việc kiểm kê Thanh Biện.
[16] Ngày Canh Ngọ, sai Hoàng thành sứ, Kinh Nguyên lộ Kiềm hạt Diêu Hủy, Dẫn tiến phó sứ, Hi Hà lộ Kiềm hạt Lý Hạo, Hữu Kỳ Kỵ phó sứ, Tần Phượng lộ Đô giám, kiêm Tri Cam Cốc thành, kiêm Đệ tam tướng Trương Chi Gián, Nội tàng khố phó sứ, Quyền phát khiển Thông Viễn quân Dương Vạn, Tả tàng khố phó sứ, Quyền Hoàn Khánh lộ Đô giám, kiêm Đệ tam tướng Lôi Tự Văn, Phu Diên lộ Đô giám, kiêm Phó tướng Lã Chân, Cung bị khố phó sứ, Hoàn Khánh lộ Đô giám, kiêm Đệ tứ tướng Lý Hiếu Tôn, Nội điện thừa chế, Phu Diên lộ Đô giám, kiêm Phó tướng Khúc Trân, Cáp môn chi hậu, Quyền phát khiển Phong châu Trương Thế Củ, Nội điện thừa chế, Hà Bắc Đệ nhị thập tướng Địch Tường, Tây đầu cung phụng quan, Cáp môn chi hậu, Kinh Tây Đệ tứ phó tướng Quản Vĩ, Hà Đông Đệ thất phó tướng Vương Mẫn, đều sung làm tướng phó Hành dinh An Nam, lại lệnh cho Chiêu thảo ty chia quân mã hiện có để thống lĩnh, còn các tướng phó cũ tạm quản lý việc huấn luyện ở các châu quân đóng quân.
(Bản truyền của Hủy chép: Hủy làm tướng Trung quân. Bản truyền của Trân chép: Trân làm Đệ nhất tướng. Ngày 3 tháng 6, Thực lục lại chép Trân làm Tả Đệ nhị phó tướng.)
[17] Đặt trường mua ngựa ở Hi Hà Dân châu, Thông Viễn quân, Vĩnh Ninh trại.
[18] Xuống chiếu cho các châu Giang, Trì đúc tiền, trong số 86 vạn 3.500 quan tiền phải nộp vào Nội tàng khố, cấp 30 vạn quan cho Chiêu thảo ty An Nam làm tiền thưởng quân, số còn lại giao cho Quảng Nam Tây lộ để ứng phó việc quân.
[19] Lưu Cấn, Tân Tri Quảng châu, tâu rằng: “Xin được chiêu mộ các hộ xạ sinh và những người dũng cảm, liều mạng ở Giang Tây và bản lộ để sử dụng ở quân tiền, các châu quân đi qua cũng được phép tuyển mộ người mạnh mẽ, dũng cảm để đi theo.” Vua xuống chiếu giao cho Chiêu thảo ty An Nam, lại lệnh cho Cấn không theo thường lệ cử 10 người gồm tướng quan và văn thần.
[20] Tuyên Huy Bắc viện sứ Vương Củng Thần dâng lên mười thiên tạp nghị về việc bình định man di, chiếu đưa đến An Nam chiêu thảo ty.
[21] Cùng ngày, chiếu cho Tô Giám kiêm chức Kinh chế tặc đạo khê động công sự Quảng Nam Tây lộ, Ôn Cảo cùng chức Kinh chế, Chủng Ngạc thêm chức Kiềm hạt Quảng Nam Tây lộ. Ngạc sau đó vì mâu thuẫn với chủ tướng nên không đi, đổi làm Tri châu Dân châu. Giám chết ở Ung châu, Cảo cũng bị bãi chức Kinh chế. (Việc này căn cứ vào ngày 13 tháng giêng, ngày 5 tháng ba, và ngày 30 tháng ba trong Ngự tập cùng truyện của Chủng Ngạc.)
[22] Ngày Tân Mùi, Vua đến chùa Tập Hi, cung Trung Thái Nhất, yến tiệc với các quan theo hầu, đến chùa Đại Tướng Quốc, lên cửa Tuyên Đức gọi các quan theo hầu xem đèn. Cùng ngày, Vua tuy đi chơi nhưng vẫn ngồi ở chỗ tiện để nghe các quan phụ tá tâu việc, phong cho người man ngoài cõi là Tri châu Tô Mậu là Vi Thủ An, Tri châu Môn là Hoàng Kim Mãn, Nùng Thuận Linh đều làm Cung bị khố phó sứ, Lưu Kỷ làm Tả tàng khố phó sứ, Sầm Khánh Tân làm Nội điện sùng ban.
(Điều này cần xem xét, vì trước đó đã ban quan cáo để chiêu dụ, nhưng họ chưa từng đến. Truyện Quách Quỳ chép: Quỳ đến Trường Sa, đốc thúc các lộ tiến quân khôi phục Ung châu, sai tướng Khâm châu là Nhâm Khởi dẫn quân quận và động đinh chia ba đường tiến đánh Vĩnh An châu, hạ được, Tả Giang, Hữu Giang đều quy thuận. Thủ lĩnh Môn châu là Hoàng Kim Mãn, Sầm Khánh Tân đầu hàng.
Xét việc Hoàng Kim Mãn, Sầm Khánh Tân đầu hàng nên là vào khoảng ngày 9 tháng tám, nay tạm ghi lại, vẫn chú thích dưới ngày 11 tháng hai về việc đánh chiếm Môn châu. Án: Nay ngày 11 tháng hai, ngày Đinh Dậu không có điều ghi về việc đánh Môn châu, nghi có sai sót.)
[23] Ban 40 tờ cáo không ghi tên, trong đó 10 tờ Nội điện sùng ban, 10 tờ Đại Lý tự thừa bình sự, 10 tờ Tướng tác giám chủ bạ, giao cho An Nam chiêu thảo ty.
[24] Ngày Nhâm Thân, Vua phê: “Nghe nói hào thành Đại châu cạn, có thể đào sâu thêm 30 thước, rộng 25 thước. Lấy Hoàng thành phó sứ, kiêm Cáp môn thông sự xá nhân Lưu Thuấn Khanh làm Tây thượng cáp môn phó sứ, Tri châu Đại. Thuấn Khanh làm Tri châu Đại vào ngày 17, Ngự tập liền giao việc đào hào cho Thuấn Khanh, nay phụ chép.
[25] Biên tu cống cử sắc thức Luyện Hanh Phủ tâu: “Các cử nhân từ Kinh Đông, Thiểm Tây, Hà Bắc, Hà Đông, Kinh Tây đến tỉnh, cùng các khoa ở các phủ, giám và các lộ đổi sang ứng thi tiến sĩ, xin chia thành từng hạng để khảo sát, lấy điểm số để tuyển chọn đều.” Theo đó.
[26] Chiếu phán Đô thủy giám, Công bộ lang trung Hầu Thúc Hiến giảm thời gian khảo khóa hai năm. Vì có công khai dẫn nước từ Trần Công Đường ở Dương Châu, tháo nước để cứu các đoàn thuyền nặng ở Hoài Nam. Các quan chức trước đây bỏ sót việc này, lệnh cho Chuyển vận sứ tâu lên để xét xử.
[27] Ngày Quý Dậu, chiếu cho Triệu Tiết tạm giao việc ở Diên Châu cho quan cấp dưới, nhanh chóng về kinh. Vì Bì Công Bật bệnh mất. (Việc này căn cứ theo 《Ngự tập》.)
[28] Ngày Giáp Tuất, Hữu Thiên Ngưu vệ Tướng quân Lệnh Biển, Lệnh Chí đều được thăng làm Hữu Giám Môn vệ Đại tướng quân. Lệnh Biển và các người khác vì thi văn luận ở Học sĩ viện đạt yêu cầu.
[29] Chiếu cho lộ Hà Bắc mua lương thảo ở trong vòng trăm dặm quanh Định Châu.
[30] Ban cho Phó Đô tổng quản hành dinh An Nam Yến Đạt tiền công sứ một nghìn năm trăm quan, tám quân tướng phó mỗi quân năm trăm quan.
[31] Ngày Ất Hợi, Trung thư tâu: “Từ chức Chủ sự trở xuống ở Trung thư, ba năm một lần, cho phép cùng thi với các quan xét xử hình pháp. Người đạt loại nhất được thăng một bậc, loại nhì thăng bốn ngạch, loại ba thăng hai ngạch. Nếu không có ngạch để thăng thì đợi khi có chức chính thức, so sánh giảm một nửa thời gian khảo khóa, còn lại đều theo điều lệ thi quan xét xử hình pháp.” Theo đó.
[32] Chiếu: “Các quân đi qua núi đến hành dinh An Nam, quân cấm được cấp tiền đặc chi một nghìn quan, quân sương bảy trăm quan; không qua núi, quân cấm bảy trăm quan, quân sương năm trăm quan. Chín tướng quân mã, trừ ba tướng đã đi, ba tướng lệnh theo Chiêu thảo ty đi, ba tướng lệnh Chiêu thảo ty đến Đàm Châu xem xét khoảng cách để triệu hồi.” 《Tư Mã ký văn》 chép: Giao Chỉ ngày 21 tháng giêng đốt cháy Ung Châu, ngày 23 trở về động. Nay tiền quân của quân triều đình ba tướng đã đến Quế Lâm, một tướng tạm đóng ở Trường Sa, lập cục. Hậu quân ba tướng chia nhau đóng ở Kinh, Đỉnh, Lễ ba châu, một tướng ở Thần Châu[5]. (Không rõ là tháng nào, nay ghi chú ở đây, cần xét lại.)
[33] Ngày Bính Tý, ban chiếu: “Việc chiêu thảo An Nam đã sai định mã bộ cấm quân, còn quân Hổ Dực ở kinh thành chưa từng theo pháp đội mà đoàn kết, lại e rằng quân ứng mộ ở Hà Đông, Thiểm Tây sẽ làm rối loạn đội ngũ đã kết hợp trước đây, nên đều lệnh cho họ theo pháp đội mà đoàn kết rồi tâu lên. Còn các viên quân từ chức Đô ngu hậu trở lên thì không cần đoàn kết, đều chọn sung làm Đội tướng.”
[34] Ban chiếu cho Ty doanh điền lộ Hi Hà, ruộng bỏ hoang mà các đinh tráng Đơn đinh ở phía tây sông Đào không canh tác hết, tạm sai quân Sương, quan cấp trâu bò, nông cụ, mỗi người một khoảnh[6]. Lệnh cho các sứ thần ở trại bảo và tuần kiểm các đạo lộ theo thời vụ đốc thúc họ canh tác, thu hoạch nộp quan, cuối năm so sánh kết quả với các đinh tráng Cung tiễn thủ để thưởng phạt như đối với Cung tiễn thủ. Nếu có thể canh tác thì lệnh cho họ làm như cũ. Lại sai Quản câu nông điền thủy lợi châu Hà, Kiềm hạt Lý Hạo đo đạc đất đai, sắp xếp rồi tâu lên.
[35] Ngày Đinh Sửu, ban chiếu tạm tăng tiền công sứ ở Quảng Châu lên 7.000 quan, Quế Châu 5.000 quan, đợi khi biên sự yên ổn thì trở lại như cũ.
[36] Ngày Mậu Dần, ban cấp cho lộ Tần Phượng 100.000 quan tiền thường bình, phường trường, miễn dịch thặng dư để mua cỏ khô và lương thực ở Hi Hà. Lại ban cấp cho Tam ty 150.000 lạng bạc, lộ Giang Nam 100.000 quan tiền thường bình để giao cho Ty chuyển vận lộ Quảng Nam Tây chuẩn bị quân nhu.
[37] Ngày Kỷ Mão, Tôn Cấu[7], Chuyển vận sứ lộ Kinh Hồ Bắc, Thái thường thiếu khanh, Tu soạn điện Tập Hiền, được thăng làm Hữu gián nghị đại phu, Tri châu Quế, ban chiếu khen ngợi, vì Cấu tâu rằng đã chiêu phủ được Thứ sử châu Hạ Khê là Bành Sư Yến cùng Tri châu Thiên Tứ đầu hàng, và đã dẫn quân xây xong thành trì ở châu Hạ Khê. Bấy giờ, Sư Yến cùng 18 người đến kinh đô, chiếu ban cho Sư Yến chức Lễ tân phó sứ, Đô giám châu Kinh Đông, không ký thư việc quân sự, còn những người khác đều được bổ nhiệm vào các chức vụ khác nhau. (《Tân kỷ》 chép việc Thứ sử châu Hạ Khê là Bành Sư Yến và châu Thiên Tứ đầu hàng. 《Cựu kỷ》 không chép. Ngày 27 tháng 11 năm thứ 3, đặt trại Trấn Khê.)
[38] Sát phỏng Quảng Nam lộ thường bình đẳng sự, Kiểm chính Trung thư lễ phòng công sự, Thái tử Trung doãn, Tập hiền Hiệu lý Từ Hi được quyền phát khiển Kinh Hồ Bắc lộ Chuyển vận phó sứ. Từ Hi cùng Vương Cổ, Phùng Tông Đạo đến Hoa Đình xét án, vừa xong thì có lệnh bổ nhiệm này.
[39] Chiếu cho Lưỡng Chiết đề cử Thị dịch Tôn Địch thăng một bậc, ban thưởng 100 ngàn tiền; Kiêm đề cử, Chuyển vận sứ Vương Đình Lão giảm hai năm khảo hạch; Câu đương công sự Tào Ngạn Hầu đến ngày khảo hạch thứ ba thì thăng một bậc; Quan lại theo lệ ở Thị dịch vụ tại kinh mà ban thưởng. Vì đề cử Thị dịch ty tâu rằng so sánh Tôn Địch và các người khác, cả năm thu được lợi nhuận dư ra.
[40] Chiếu rằng: “Gần đây Quảng Tây quân hưng, có người ở bản lộ đã nộp đơn xin bổ nhiệm nhưng lại tự ý rời bản lộ, theo điều lệ về việc tự ý rời bỏ chức vụ, đợi khi việc yên ổn thì không áp dụng cách này nữa.”
[41] Quyền phát khiển Hi Hà lộ Kinh lược ty Cao Tuân Dụ tâu: “Ôn Khê Tâm ở Mạc Xuyên hiện muốn đến hàng, do thám biết rằng người Hạ đã ở phía bắc Mạc Xuyên, nếu Ôn Khê Tâm sợ bị đuổi bắt mà đến, từ chối thì trái với ý nghĩa chiêu phủ bình thường, nhận thì người Hạ ắt có lời bàn, không dám tự quyết.” Chiếu rằng: “Ôn Khê Tâm và những người nhận bổng lộc của nước Hạ[8], không nên chiêu nạp.”
[42] Định châu An phủ ty tâu: “Được ban 300 độ điệp, đổi lấy lợi nhuận để thưởng cho binh sĩ võ nghệ và bảo giáp. Xin ban thêm 200.” Theo lời tâu.
[43] Ngày Canh Thìn, sai Đồng tri Thái thường lễ viện Trịnh Ung tế cáo Nam Nhạc, Trần Đồng tế cáo Nam Hải để báo ngày xuất quân đánh Giao Chỉ.
[44] Trung thư tâu: “Xin cho tiền và thóc của kho thường bình, nếu năm đó cấp phát còn dư, mà dân có lúc khẩn cấp thiếu thốn, cho phép họ dùng tài sản của mình hoặc người bảo lãnh làm vật thế chấp để vay mượn.” Chiếu rằng: “Tiền và thóc của kho thường bình, nếu sau khi cấp phát còn dư, lại dụ dỗ người khác đến xin vay, như vậy là không cho phép kho tàng có chút dự trữ, nhất định phải làm cho hết sạch trong dân gian. Như thế, chỉ có cái hư danh sinh lợi, rất không phù hợp với ý nghĩa ban đầu của việc lấy tiền tài quốc gia làm nguồn cung cấp. Từ nay, kho tàng thường để lại một nửa, phần còn lại mới được cấp phát; nếu còn dư, gặp lúc dân gian thiếu thốn không đúng thời, cho phép dùng tài sản làm vật thế chấp để vay mượn, theo hạn định của kho thường bình mà nộp lại.” (Ngày 26 tháng 9 năm thứ 7, ngày 9 tháng giêng năm thứ 9 và tháng này hợp lại để tham khảo. 《Tư Mã ký văn》 có ghi chép, xem chi tiết ở ngày 26 tháng 9 năm thứ 7. Trung thư tâu xin, thực lục không ghi, nay dựa vào bản chí để thêm vào.)
[45] Chiếu rằng: “Lộ Quảng Nam Đông lệnh cho Hứa Ngạn Tiên, lộ Phúc Kiến lệnh cho Từ Ức, sai Cố Nghị dùng thuyền bè chở binh giáp, mỗi lộ ước chở được khoảng một vạn người, đến cuối thu tập hợp đầy đủ, đợi khi việc yên ổn sẽ ban thưởng hậu hĩnh cho chủ thuyền.”
[46] Chiếu rằng: Các châu thuộc lộ Quảng Nam Đông và Tây, nếu chỗ nào thiếu tri châu mà không có người tình nguyện nhận chức, thì lập tức cứng rắn bổ nhiệm, đợi khi được thay thế, sẽ giảm thời gian khảo xét hai năm, và được đường trừ sai khiển.
[47] Ngày 23, giặc Giao Châu đánh chiếm Ung Châu, Tô Giám tử trận. Trương Thủ Tiết thất bại, bị giặc bắt sống hàng trăm người. Giặc biết quân phương Bắc giỏi đánh thành, nên dùng lợi lớn dụ dỗ, bắt họ làm thang mây, nhưng vừa làm xong thì bị Tô Giám đốt cháy. Giặc lại đào hầm để tấn công, lấy da sống che phủ. Tô Giám đợi giặc vừa qua hầm, liền phóng hỏa đốt cháy trong hầm. Giặc hết kế, định rút lui, nhưng biết rằng viện binh bên ngoài không đến. Bỗng có kẻ biết cách đánh bằng đất, dạy giặc dùng bao đất chất thành núi hướng về thành, trong chốc lát cao đến mấy trượng, giặc trèo lên bao đất mà vào, thành bị hạ.
Tô Giám vẫn dẫn quân bị thương cưỡi ngựa chiến đấu quyết liệt, nhưng không địch nổi, nói: “Ta thà chết chứ không để giặc bắt.” Rồi trở về dinh thự, đóng cửa, bảo 36 người trong gia đình tự sát trước, chôn xác trong hố, rồi tự thiêu. Giặc đến, tìm xác Tô Giám và gia quyến nhưng không thấy. Giặc giết quan lại, binh lính, dân đinh và dân thường hơn 5 vạn người, chất đầu thành từng đống 100 cái, tổng cộng 580 đống. Cộng với số người bị giết ở Khâm Châu và Liêm Châu, ước tính hơn 10 vạn người, rồi phá hủy thành trì để lấp sông. Ung Châu bị vây suốt 42 ngày, Tô Giám khích lệ tướng sĩ cố thủ, lương thực cạn kiệt, lại gặp hạn hán, giếng nước cạn khô, người dân khát khổ, phải uống nước ngâm vỏ gai, nhiều người bị bệnh kiết lỵ, xác chết chất đống, nhưng không ai phản bội.
Tô Giám căm phẫn Trầm Khởi và Lưu Di gây họa, Lưu Di lại ngồi nhìn thành mất mà không cứu, muốn tâu hết lên triều đình, nhưng đường sá bị chặn, bèn viết tội trạng của Trầm Khởi và Lưu Di dán ở chợ, hy vọng thông báo đến triều đình.
Trước đó, con trai Tô Giám là Tử Nguyên làm Ty hộ Tham quân ở Quế Châu, đưa gia đình về thăm cha, định trở về thì nghe tin có giặc Giao Châu. Tô Giám cho rằng nếu gia quyến của quận thủ ra khỏi thành, người ta sẽ cho là trốn giặc, khiến lòng người ly tán, nên chỉ cho Tử Nguyên về Quế Châu[9] mà giữ lại vợ con, đến lúc này đều chết cả.
Sau khi Tô Giám chết, giặc Giao Chỉ lại mưu tính cướp phá Quế Châu. Quân tiên phong đi được vài chặng, có người thấy đại quân từ phía bắc tiến về phía nam, hô lên rằng: “Tô Hoàng thành dẫn quân đến báo thù Giao Chỉ.” Tướng giặc sợ hãi, bèn rút quân về. Sau đó, người dân Ung Châu lập đền thờ Tô Giám, hàng năm cầu khấn.
(Sách 《Tư Mã Ký Văn》 chép: Ngày 21 tháng giêng, giặc phá Ung Châu, ngày 23 liền rút về động. Theo 《Thực Lục》 thì ngày 23 mới phá Ung Châu, nay theo 《Thực Lục》. Chỉ không ghi rõ giặc dùng ngày nào rút về động, cần tra cứu thêm. Xét ngày Giao Chỉ chiếm Ung Châu, 《Tống Sử》 chép là ngày Mậu Thìn, 《Đông Đô Sự Lược》 cũng phù hợp với điều này.)
[48] Ngày Tân Tỵ, Tuyên Huy Bắc Viện Sứ Vương Củng Thần được bổ nhiệm làm Trung Thái Nhất Cung Sứ.
[49] Chiếu chỉ cho phép các cử nhân ở Hi Châu, nếu hộ tịch thực sự đã đủ 7 năm, từ nay được lấy hai người, Hà Châu một người.
[50] Ngày Nhâm Ngọ, chiếu chỉ triệu Triệu Tiết không lâu nữa sẽ đến kinh, gia quyến của ông được đặc cách cho phép tạm trú ở Đồng Văn Quán. Sau đó lại có chiếu chỉ cho Quách Quỳ cũng được như vậy. Chiếu chỉ của Quách Quỳ vào ngày 9 tháng hai.
[51] Lại có chiếu chỉ tu sửa kinh thành, tăng thêm tiền ăn cho binh lính và các sứ thần phụ trách việc tu sửa, tổng cộng 12 vạn quan. Sợ rằng ngoài chi phí thường xuyên, Tam Ty khó có thể xoay xở, nên xuất 1.000 đạo độ điệp, chia làm ba năm bán để lấy tiền chi dùng. (Việc này theo 《Ngự Tập》 là ngày 28 tháng giêng, nay theo 《Thực Lục》. 《Ngự Tập》 chép: Xét thấy việc tu sửa kinh thành cần dùng binh lính và các sứ thần phụ trách, tăng thêm tiền ăn hơn 12 vạn quan. Nếu giao cho Tam Ty chi trả, vì là chi phí ngoài thường xuyên, e rằng khó xoay xở. Có thể xuất 1.000 đạo Từ Bộ không ghi tên, chia làm ba năm chi trả, theo cách thu mua gỗ để tu sửa Thanh Biện, giao cho Ty Hạt bán đi, thu tiền để chi dùng.)
[52] Lại có chiếu rằng: “Quân binh ở Đàm Châu chuẩn bị tiền lương tháng bảy cho bốn vạn người, lại lệnh Phát vận ty cắt giữ hai mươi vạn quan tiền thượng cung, năm mươi vạn thạch gạo, mười vạn thạch đậu và lúa mạch. Trước hết tính toán với Kinh Hồ Nam Lộ Chuyển vận ty, trừ số dùng cho bản lộ, nếu thiếu thì ứng phó, còn lại đều chuyển đến Quảng Nam Tây Lộ hợp phong trang xứ hạ tạ. Trong đó Đàm Châu hạn trong tháng tư, Quảng Tây hạn trước tháng sáu phải vận chuyển xong, lại không theo thường chế, sai quan thúc giục.”
[53] Chiếu cho Thị dịch ty từ nay không được cho tông thất và quan viên công nhân vay mượn tiền hàng.
[54] Lưu Cấn, người trước đây khảo sát thủy lợi ở Hoài Nam Lộ, tâu rằng: “Sau khi điều tra, các nơi như sông Cổ Diêm ở huyện Giang Đô, Dương Châu; hồ Trần Công Đường ở huyện Cao Bưu; đầm Bạch Mã ở huyện Thiên Trường; cảng Nê, cảng Xạ Mã ở huyện Bảo Ứng, Sở Châu; kênh Độ Đường, bến Long Hưng ở huyện Sơn Dương; khe Thanh Châu ở huyện Hoài Âm; hồ Vạn An, sông nhỏ ở huyện Hồng, Túc Châu; đập Thược Pha ở huyện An Phong, Thọ Châu, đều có thể khôi phục. Trừ sông Cổ Diêm, hồ Vạn An và sông nhỏ đã lệnh cho Ty Nông tự kết thúc, còn lại xin lệnh cho các lộ Chuyển vận ty chọn quan xem xét lại rồi thi hành.” Được chấp thuận.
[55] Chiếu cho các lộ sai sứ thần đến Chiêu thảo ty, nơi gia quyến của họ ở, lệnh cho châu huyện hậu đãi; các tướng phó có quan mới thay thế, gia quyến của họ giao cho châu huyện ở nhà quan, cấp người hầu.
[56] Chiếu cho quan lại hành dinh An Nam tuy đã được cấp lộ phí, nhưng lộ phí dọc đường có thể đặc biệt cấp thêm.
[57] Ngày Quý Mùi, An Nam Chiêu thảo ty tâu rằng, phát binh tám vạn người, cần chuẩn bị tám mươi triệu cân lương khô cho tháng mười. Chiếu cho Chuyển vận ty xem xét, nếu có thể lưu trữ, thì theo số đó chuẩn bị ở Quế Châu và Toàn Châu.
[58] Lại chiếu cho Tam ty, lệnh Giang Nam, Lưỡng Chiết Lộ phong trang hai mươi vạn quan tiền thượng cung, cho phép thương nhân đổi lấy tiền ở Quảng Nam Đông Lộ.
[59] Chiếu cho các quan văn võ tử trận ở Khâm Châu, Liêm Châu đều được tặng mười bậc, võ quan tặng đến chức Thứ sử trở lên thì xin chỉ.
[60] Ngày Giáp Thân, quyền phát khiển Tam ty sứ Thẩm Quát tâu: “Trước đây, Ty thiên giám từng tấu rằng việc đo đạc thiên tượng đã được thực hiện trong năm năm, được sai Vệ Phác cùng những người khác soạn lịch mới. Sau đó, khi kiểm tra lại các dữ liệu về tinh tú, bóng mặt trời và đồng hồ nước do Ty thiên giám ghi chép, thấy đều có sai lệch, không thể dùng làm căn cứ. Lịch mới này không có tài liệu thiên tượng nào để tham khảo, chỉ dựa vào các sách lịch trước và sau để cân nhắc thêm bớt, lập thành phép mới. Tuy đã ban hành, nhưng vẫn lo rằng chưa thể đạt đến mức tinh vi tối cao. Xin cho các học sĩ trong viện dùng hồn nghi, phù lậu, khuê biểu để đo đạc, ghi chép hàng ngày, đợi đến ba năm hoặc năm năm, rồi cho người soạn lịch trước đem lịch mới ra so sánh. Nếu có chỗ chưa hoàn thiện, xin cho sửa chữa ngay.” Lời tâu được chấp thuận. Trước đó, lịch Phụng Nguyên ghi rằng đêm trăng tròn tháng này sẽ có nguyệt thực, nhưng không ứng nghiệm. Triều đình xuống chiếu hỏi tên những người được ban ân vì việc soạn lịch. Đến lúc này, Thẩm Quát mới có lời tấu này. Ngày Ất Mùi, 19 tháng giêng nhuận năm Nguyên Phong thứ hai, Vệ Phác bị cách chức và về quê.
(Thẩm Quát trong 《Bút đàm》 viết: “Lịch pháp Thái Diễn đời Khai Nguyên là chính xác nhất, các đời sau đều dùng phép tính ngày sóc của nó. Đến giữa niên hiệu Hi Ninh, khi kiểm tra lại, thấy lịch đã chậm hơn thiên tượng hơn 50 khắc, nhưng các quan làm lịch đời trước đều không biết. Lịch Phụng Nguyên đã thay đổi phép tính nhuận. Năm Hi Ninh thứ 10, ngày nguyên đán vốn dùng giờ Ngọ, lịch mới đổi thành giờ Tý, tháng chạp nhuận đổi thành tháng giêng nhuận. Các sứ giả triều cống từ bốn phương dùng lịch cũ, đều không hợp lệ. Mọi người bàn rằng khí tiết đến không có bằng chứng rõ ràng để dựa vào.”
Thẩm Quát bàn về việc lịch mới, triều đình giao cho Hữu ty xem xét quyết định. Phàm bóng mặt trời ngày Lập đông và Lập xuân vốn tương tự nhau, nhưng nay hai bóng dài ngắn khác nhau[10], từ đó biết khí tiết ngày nguyên đán đã lệch. Phải dời hơn 50 khắc, bóng mặt trời ngày Lập xuân và Lập đông mới cân bằng. Lấy điều này làm bằng chứng, những người bàn luận mới chịu khuất phục. Sứ giả đến dự hội nguyên cũng đến, lịch pháp từ đó được quyết định. Những điều Thẩm Quát nói cần xem xét lại các ghi chép ngày Ất Mùi, 19 tháng giêng nhuận năm Nguyên Phong thứ nhất, cùng các ngày Ất Tỵ tháng 5 năm Trị Bình thứ hai, Ất Dậu tháng 7, Ất Sửu tháng 8, Giáp Ngọ tháng 11 năm Hi Ninh thứ nhất, để tham khảo. Ngày Nhâm Dần, 11 tháng tư nhuận năm thứ 8, lịch Phụng Nguyên bắt đầu được sử dụng.)
[61] Chiếu rằng: “Các cơ quan tại kinh không phải là nơi làm việc, dù là thân thích cũng không được vào yết kiến. Tam ty, Khai Phong phủ, Ty Nông tự, Thẩm quan Đông Tây viện, Lưu nội tuyển, Binh bộ, Quân khí Đô thủy Tướng tác giám, Đề cử tại kinh chư ty khố vụ, Đề điểm Thảng trường ty, Thị dịch ty, Thương thuế viện, Khai Phong Tường Phù huyện tả hữu Câu đương công sự, Biên tu sắc lệnh thức điều lệ quan, nếu không phải ngày nghỉ thì không được ra ngoài yết kiến và tiếp khách. Khai Phong phủ ty Quân tuần viện, ngày nghỉ cũng không được tiếp khách, chỉ được ra ngoài yết kiến. Còn các quan Trung thư, Xu mật viện Kiểm chính Kiểm tường Tập học công sự, Hình bộ, Đại Lý tự, Thẩm hình viện, dù là ngày nghỉ cũng bị cấm. Sau này, tất cả các cơ quan tại kinh, nếu không phải ngày nghỉ cũng không được ra ngoài yết kiến. Người vi phạm và người tiếp kiến đều bị phạt đồ hai năm.”
[62] Lại có chiếu rằng: “Phép dùng tiền giấy Giao tử ở Thiểm Tây không được thi hành nữa, các quan lại đều bãi bỏ. Số tiền giấy đã phát ra, giao cho quan mua muối thu đổi lại.”
Trước đó, Tôn Huýnh, người lo việc tài lợi ở Hi Hà, tâu rằng: “Giá tiền giấy Giao tử ở vùng biên giới rẻ mạt, thương nhân từ Vĩnh Hưng quân chở tiền đến Tần châu để mua bán, thu lợi nhiều từ tiền của quan. Hơn nữa, Vĩnh Hưng quân và Tần châu cách nhau không xa, thương nhân ham mua bán tiền giấy, ít người chịu mua muối, nên giá tiền càng giảm. Nay lấy số tiền mà dân chở hàng ở Tần châu và văn tự mua bán tiền giấy của dân để so sánh, quan phát tiền giấy so với tiền thật, mỗi nghìn đồng bị mất hai phần trở lên, so với trước khi dùng tiền giấy, giá muối mỗi tịch giảm hơn một nghìn đồng. Nếu cứ phát tiền giấy mãi, thì quan sẽ mất tiền vô cùng. Mà ý định ban đầu của triều đình khi lập pháp này, vốn là vì tốn kém nhiều để vận chuyển tiền, và giá tiền trước đây rẻ, nên dùng tiền giấy để lưu thông tiền, đồng thời hỗ trợ phép dùng muối. Nay việc vận chuyển tiền đã bị hao hụt, lại còn làm hại giá muối, chỉ đủ để giúp những kẻ thương nhân tham lam. Huống chi, kế hoạch tài chính năm tới của Hi Hà lộ chưa xong, nên cần phải tiết kiệm tiền hiện có.” Vì thế mới có chiếu này.
Ngày 16 tháng 6 năm thứ 7, bắt đầu thi hành tiền giấy, đến nay bãi bỏ.
(《Lữ Huệ Khanh nhật lục》 có ba đoạn bàn về phép tiền giấy, nay chép phụ vào đây: “Ngày 13 tháng 8 năm Hi Ninh thứ 8, khi trình tấu việc Bì Công Bật xin tiền để mua lương thực, Vua nói: ‘Bì Công Bật tấu việc tiền giấy, có lẽ nói đúng.’ Tôi nói: ‘Có lẽ như vậy, tiền giấy nên phát ra các châu quân là đúng, nhưng Triệu Chiêm lại muốn thế.’ Thạch nói: ‘Cuối cùng sẽ hại đến muối.’
Vua nói: ‘Tiền giấy tự nó đối với tiền, muối tự nó đối với muối, hai thứ không hại nhau.’ Thạch nói: ‘Lấy đâu ra nhiều vốn như thế?’
Vua nói: ‘Chỉ cần xuất nạp đủ, khiến dân tin dùng, tự nhiên không cần vốn.’ Mọi người nói: ‘Ban đầu cần có vốn, đợi khi có lòng tin rồi, sau đó mới có thể lưu hành được.’ Tôi nói: ‘Có thể theo phép Tây Xuyên, cho dân tự nộp tiền để xin tiền giấy. Tức là hội tử, nhà có tiền thì được hội tử, nếu không có tiền, ai chịu đem tiền đến đổi hội tử?’
Thạch nói: ‘Cuối cùng sẽ hại đến muối.’ Vua nói: ‘Tiền giấy tự nó đối với tiền, muối tự nó đối với muối, hai thứ không hại nhau.’ Thạch nói: ‘Lấy đâu ra nhiều vốn như thế?’ Vua nói: ‘Chỉ cần xuất nạp đủ, khiến dân tin dùng, tự nhiên không cần vốn.’ Mọi người nói: ‘Ban đầu cần có vốn, đợi khi có lòng tin rồi, sau đó mới có thể lưu hành được.’ Tôi nói: ‘Có thể theo phép Tây Xuyên, cho dân tự nộp tiền để xin tiền giấy. Tức là hội tử, nhà có tiền thì được hội tử, nếu không có tiền, ai chịu đem tiền đến đổi hội tử?’ Thạch nói: ‘Cuối cùng vẫn hại đến muối. Vì muối mỗi năm được mùa hay mất mùa không đều, lại có lúc khẩn trương bắt buộc phải kiểm soát muối, nên lượng muối dùng không cố định, nếu phát ra nhiều muối thì được, nếu phát ra ít thì sẽ mất lợi nhuận bán muối, đáng tiếc. Nên phải in nhiều muối, đặt trường bán công bằng.’
Tôi nói: ‘Không phải vậy, năm dù được mùa hay mất mùa, lượng muối dùng cũng không chênh lệch nhiều, đây không như rượu, là thứ dân thường dùng, dù có đặt pháp luật cân bằng, lượng muối thêm vào cũng không nhiều, nếu thấy dân thiếu muối, ít muối, thì lập tức phát muối cũng không khó, tự nhiên muối sẽ luôn có giá trị. Muối có giá trị, thì giá lương thực không bị đẩy lên cao, nên không bằng phát ít muối, dùng tiền giấy lưu hành sẽ tiện hơn.’ Thạch nói: ‘Thiểm Tây có tiền đồng, có tiền chiết nhị, tệ quá nhiều, lại còn làm tiền giấy.’ Tôi nói: ‘Trước đây vì tiêu hủy nhiều tiền tư, tiền giấy không phát ra vô cớ, giữ lại tiền rồi mới phát tiền giấy.’
Ngày 5 tháng 9 năm thứ 8, tôi nói: ‘Vương An Thạch muốn bãi bỏ tiền giấy, đã sai quan kiểm chính làm văn bản dâng lên, thần xin tạm giữ lại chưa xem, đã làm xong một văn bản, đợi gửi cho An Thạch xem, và nói về tiền giấy như trong văn bản đã nói.’
Vua nói: ‘Tiền giấy và lợi từ muốn tự nó không hại nhau, đâu cần bãi bỏ. Nay nếu lại bãi bỏ, sau này không thể thi hành được nữa.’ Tôi nói: ‘Tiền giấy lần này khác với trước, trước đây nói rõ trong chiếu rằng, đợi hai ba năm biên sự yên ổn sẽ trở lại như cũ, lại bắt dân nộp tiền đổi tiền giấy, như thế sao thi hành được? Lần này chỉ vì Triệu Chiêm, chỉ đặt trường ở Vĩnh Hưng quân không tiện, Bì Công Bật không tiện cấp vốn, lại bị Triệu Chiêm xúi giục khách nhân, người ta nói quan không có vốn mua tiền giấy, ra lệnh bắt giữ, nhưng không chịu ký, như thế chỗ nào cũng không tin, cần phải có người hiểu việc, giao phó phép này, khi đã có lòng tin rồi, thì có thể giảm bớt muối hư, hợp với muối tương đối.’
Vua nói: ‘Chín phần chiết giá thật đáng bãi bỏ, chỉ dùng tiền thật và tiền giấy mua lương thực, rồi lấy số tiền khách nhân thu được, như nha tiền trọng nạn, đánh dấu rồi cấp phát.’
Tôi nói: ‘Như thế rất tốt, phải thi hành tiền giấy có lòng tin mới được, chỉ sợ bọn họ thấy triều đình bàn luận không thống nhất, lại có ý chờ đợi, không hiểu được, không thể thi hành đúng ý pháp luật.’
Vua nói: ‘Phải xem xét, nếu thi hành không đúng pháp, chưa thể bãi bỏ pháp, phải thi hành hết pháp mới được.’ Tôi nói: ‘Đợi bàn định với An Thạch rồi sẽ trình lên.’ Vua nói: ‘Tốt.'”
Năm thứ 8, ngày 16 tháng 9, tiến trình: “Việc thêm diêm sao, bãi bỏ giao tử[11], chỉ như diêm sao, ban đầu họ muốn thêm thành ba trăm vạn, văn bản nói quá đáng, thần đã điều chỉnh lại rồi mới dâng lên. Bệ hạ quả nhiên không đồng ý với ý kiến đó, thần liền làm một văn bản khác, chỉ làm thành hai trăm hai mươi vạn. Nhưng thực tế diêm sao cũ vẫn còn nhiều, cuối cùng vẫn không tiện. Ban đầu giao tử chỉ vì có người đề xuất, bệ hạ nhắc đến, gặp lúc Hàn Giáng cũng từng làm việc này, liền bàn bạc muốn thực hiện, ai là người phải chủ trương việc này? Nếu tể tướng nói không tiện, sao có thể thực hiện được? Chi bằng bãi bỏ đi. Nhưng bệ hạ đã thấy rõ điều này, sao có thể tùy tiện nghe theo họ? Trước đây, Bì Công Bật, Triệu Chiêm đã rất có lý, đợi văn bản báo cáo được chỉ dụ. Nay lập pháp, quan kiểm chính lại làm tờ trình nói không có tiền để thực hiện pháp lệnh không cấp bách, đó là lời nói đùa cợt gì vậy? Thần lập tức phân tích điều khoản gửi cho An Thạch, lại gửi cho quan kiểm chính làm văn bản, đến nay vẫn chưa thấy, pháp lệnh này bệ hạ đã thấy rõ, không cần nói nhiều nữa.”
Lại xét Huệ Khanh vào ngày 26 tháng 9 năm thứ 8 nói An Thạch muốn thêm diêm sao mà bãi bỏ giao tử, Huệ Khanh cho là không tiện. Đó chính là ba đoạn này. Nay nhân việc bãi bỏ giao tử, xin ghi chú thêm điều này, để có thể khảo cứu thực chất lợi hại.)
[63] Thượng phê: “Đại quân nam hành, đúng lúc trời nóng, vạn dặm giao trách nhiệm chinh thảo, triều đình lo lắng thương xót, nên đặc biệt ban thưởng gấp bội, có thể thêm tiền thưởng. Khi từ Đàm Châu xuất phát, qua núi ngày nào, lại ban thêm đặc chi.”
[64] Ngày Ất Hợi, chiếu cho Kinh lược ty Quảng Nam Tây lộ, tuyển mộ động đinh ở nơi thuận tiện để đóng trại, nếu gặp giặc, mỗi lần bắt được một người, thu được một cấp, ngoài việc thưởng theo quy định, lại thưởng thêm mỗi người 10 tấm lụa; nếu chém được thủ lĩnh, thì trình bày rõ sự việc để xin chỉ dụ.
[65] Chiếu rằng: “Gần đây Quảng Tây khởi binh, triều đình ban tiền từ Tam ty, Ty Nông, Nội tàng khố để cung cấp quân nhu. Nghe nói ở Hồ Nam, Kinh Tây các lộ, lương thảo cho quân qua đường bị bán rẻ, gây phiền nhiễu cho dân. Lệnh cho Đề điểm hình ngục, Đề cử ty điều tra rồi tâu lên.”
[66] Chiếu rằng: “Trước đây Hi Hà mỗi năm mua 22 vạn thạch lương quân, 10 vạn thạch thức ăn ngựa, 80 vạn bó cỏ, dùng tiền lãi từ trường trà, muối và thuế rượu của bản lộ để làm vốn mua. Hãy trình bày rõ thứ tự mua bán từ trước đến nay, đồng thời phân tích rõ nguyên nhân việc chi tiêu công sứ tiền trái với chỉ dụ triều đình dẫn đến thiếu hụt.” Cần biết rõ sự việc thế nào.
[67] Lại chiếu rằng: “An Nam Chiêu thảo ty khi đi qua các châu, huyện, trấn, vật dụng đều do quan cấp, không được mượn cớ để bắt dân đóng góp.” Cựu kỷ chép vào ngày Giáp Thân, chiếu rằng quân An Nam đi qua các châu huyện không bắt dân đóng góp, tức là việc này. Tân kỷ vẫn chép vào ngày Ất Dậu.
[68] Ngự sử Thái Thừa Hi tâu: “Thần thấy gần đây bệ hạ phong Triệu Tiết làm An Nam chiêu thảo sứ, Lý Hiến làm phó, bên ngoài bàn tán xôn xao, đều nói là không thông qua Nhị phủ, việc này tuy là do bệ hạ sáng suốt chọn người tài, nhưng cũng cần bàn bạc với đại thần. Lại nghe nói những điều Lý Hiến tâu xin phần nhiều không qua Nhị phủ, mà trực tiếp phê thánh chỉ xuống Chiêu thảo ty, việc này quả có như vậy chăng? Trong chuyện phải trái, thần không dễ dàng đoán định, những lời đồn đại có lẽ khó tin hết, nhưng nếu không có nguyên do, sao lại có lời ấy? Thần giữ chức phong hiến, nghĩa không thể giấu giếm, nếu có nghe thấy điều gì, nên tâu hết lên.
Thần nghĩ rằng, việc của bậc quân chủ là biết lời nói, dùng lời nói để dùng người đã khó, thì trước hết phải xem xét hành vi thường ngày của họ, lại khảo sát năng lực hiện tại của họ. Phàm những gì họ nói và làm đều đã được tham khảo trước, thì công lao hiệu quả đều có thể suy ra. Từ chức nhỏ đến chức lớn, từ chức lớn đến đại thần, rồi tham dự chính sự, bàn việc trọng yếu, trách nhiệm đã nặng, thì xem xét cũng phải kỹ. Cho nên bậc quân chủ biết trị nước thời xưa, không lấy việc nghi ngờ đại thần làm lời hay, mà lấy việc chọn đại thần làm việc trọng.
Nếu như đạo không đủ để làm vừa lòng quân chủ, hành vi không đủ để lấy lòng thiên hạ, làm điều trái ngược, làm việc siểm nịnh, thì có thể tuyên cáo ngoài triều, bãi chức cũng được, giết cũng được. Còn như để họ giữ chức mà không đóng góp việc được giao, để họ ngồi vị trí mà không trách nhiệm lời nói của mình, kế hoạch trong triều đã định mà lời nói bên ngoài có thể thay đổi, người thân cận tiến cử mà lời bàn chính sự bị lấn át, hoặc văn thư thẳng tay mà không qua công phủ, hoặc bàn luận ngấm ngầm mà không quyết định ở xu đình, thì làm rối loạn kỷ cương, không gì không từ đây mà ra.
Nay triều đình cho rằng việc lớn thì phải bàn bạc chung, đã lệnh cho đại thần bàn kỹ, việc nhỏ thì không muốn chậm trễ, chỉ để tiểu thần tâu lên, hoặc sợ họ quanh co mà gây khó dễ, hoặc vì gấp gáp mà không kịp hỏi kỹ. Lời Vua ban ra, càng phải thận trọng, lúc đầu không để ý, sau thành thông lệ. Ngày nào việc gì, hơi liên quan đến chính sự, đã từng không qua Nhị phủ; ngày nào việc gì, không liên quan đến quốc thể, sao lại qua ngoại ty. Vui vẻ thuận tiện một lúc, quên mất mối nguy về sau. Mở đầu một việc, dần khó thay đổi. Huống chi ở biên cương, vui buồn rất quan trọng.
Vả lại, phong đại thần là để cùng lo an nguy, gắn bó vui buồn, nay việc phiền toái nhất không gì bằng biên trấn, việc quan trọng nhất không gì bằng tướng thần, mà có việc không tham dự, thì đại thần biết rõ trách nhiệm của mình tất sinh nghi ngờ, mà không dám yên vị. Đã không dám yên vị, thì nghĩa đồng tâm đồng đức bị thiếu. Đại thần nhu nhược, tất nói rằng địa vị đã cao, trên đã làm thế, mà lại lấy lời tranh cãi, thì sẽ mắc tội chuyên quyền. Đại thần không đủ năng lực, tất nói rằng việc này do thánh chỉ, ta can dự gì. Như thế là tạo cớ nghi ngờ cho người có tài, tạo chỗ dung thân cho kẻ bất tài. Cứ thế mãi, há có lợi cho quốc gia?
Vả lại, Vua nhàn tôi vất vả, tình thế tự nhiên; chúa lo tôi nhục, kẻ nhận trách nhiệm vốn thế. Chưa từng có Vua vất vả trên cao mà tôi thần được yên ổn ở chức vụ, chúa lo lắng trong lòng mà tôi thần lại thảnh thơi ở dưới. Thần không cần dẫn xa người xưa, chỉ nói trong triều đình ta, Chương Thánh hoàng đế trách Lý Mục: ‘Trời hạn hán thế này, xe đầy may mắn, ngươi có yên lòng không?’ Có thể nói là biết cách trách nhiệm phụ tá. Thái Tổ vì Vương Trứ say ở Ngọc đường mà đuổi hết ngự sử, có thể nói là biết cách trách nhiệm người giám sát. Bởi vì bình thường không xâm phạm chức vụ của họ, thì sau này mới có thể trách họ làm nên việc.
Thần thấy gần đây triều đình trách nhiệm bề tôi quá nhẹ, quần thần tự nhận trách nhiệm còn ít. Nhị phủ xâm phạm chức vụ của tự giám, tự giám xâm phạm chức vụ của giám ty, châu huyện ngoài nhiệm. Những tệ nạn hiện nay, cần phải loại bỏ, sao có thể để tình trạng trên dưới như thế tiếp diễn. Thần sợ rằng quyền cương một khi rối loạn, cứu vãn sẽ khó. Thần xin trừ việc phong đại thần, đài gián ra, việc lớn nhỏ, không qua Nhị phủ thì không được thi hành, những việc xin không qua Nhị phủ, đều phải xử theo pháp luật. Những đại thần nào có thể nghi ngờ hoặc không đủ năng lực, nên lập tức cách chức. Nếu như bàn luận của Nhị phủ có khác nhau, bệ hạ tổng hợp lại, quyết định việc nào khả thi rồi mới thi hành, để đạt được cái đẹp của Ngũ đế dung nạp bề dưới, đại thần không mắc tội đổ lỗi lên trên, mỗi người tự nhận trách nhiệm, quân thần mỗi bên làm tròn đạo của mình.”
(Tờ tâu của Thừa Hi không rõ thời gian, nay phụ vào cuối tháng giêng. Lý Hiến bị cách chức vào ngày mồng 2 tháng hai, cần xem xét kỹ hơn, hoặc chuyển đến sau khi Hiến bị cách.)
- Tô Giám sai sứ đến Quế Châu xin cứu viện, chữ 'khiển' nguyên bản là 'di', theo các bản khác sửa lại ↵
- Từ khi lộ Quảng Nam Tây Lộ có việc biên giới, chữ 'Tự' nguyên bản là 'Mục', theo các bản khác sửa lại ↵
- Lời phê của Vua ngày mồng 4 tháng giêng năm nay 'chính tứ nguyệt' khó hiểu, nghi là 'mồng 4 tháng giêng' sai. ↵
- Văn tự về việc biên giới phía Bắc đang bàn 'Đại' nguyên là 'Phạt', theo các bản sửa. ↵
- 《Tục Thủy ký văn》 quyển 13 chép là 'Tương Châu'. ↵
- 'khoảnh' nguyên bản là 'Hạng', theo các bản và bản hoạt tự sửa lại ↵
- 'Cấu' nguyên bản là 'Giác', theo bản truyện quyển 331 trong 《Tống sử》 sửa lại ↵
- Nguyên văn chữ 'nãi' sửa thành 'cập', theo 《Tống hội yếu》 phần Phiên di 6.12. ↵
- Chỉ cho Tử Nguyên về Quế Châu: 'cho' nguyên bản là 'di', theo các bản và bản hoạt tự sửa. ↵
- 'Kim' nguyên văn là 'Thập', theo 《Mộng Khê bút đàm》 quyển 7, mục Tượng số sửa lại. ↵
- Việc thêm diêm sao bãi bỏ giao tử, chữ 'bãi' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản trong các sách bổ sung. ↵