"

VI. TỐNG THẦN TÔNG

[BETA] QUYỂN 284: NĂM HI NINH THỨ 10 (ĐINH TỴ, 1077)

Từ tháng 6 năm Hi Ninh thứ 10 đời Thần Tông đến hết tháng 7 cùng năm.

[1] Tháng 8, ngày Mậu Dần (mùng một): Định Vũ quân Lưu hậu Thừa Dụ được phong làm Ninh Vũ quân Tiết độ sứ.

[2] Chiếu chỉ cho An Đào, An phủ sứ thể lượng của Hà Bắc lộ: “Dân bị thiên tai lũ lụt đều được cứu tế và an trí tại nơi cao ráo, lệnh cho Đề điểm hình ngục Hàn Chính Ngạn cùng Trương Mậu Tắc, Lưu Cáp tiên xem xét lợi hại của việc đắp đập ở cửa sông Tào Thôn và báo lên.” Cuối tháng, sông Hoàng Hà lại vỡ đê ở Huỳnh Trạch.

[3] Giáng chức Quyền Quảng Nam Tây lộ Chuyển vận sứ, Tư phong Lang trung Lý Bình Nhất làm Đồn điền Lang trung, Giám Lư Châu Diêm phàn vụ; cựu Thái thường Thừa, Trực Tập hiền viện Thái Diệp bị cách chức, giáng làm Thái tử Trung doãn, chờ mãn tang sẽ bổ nhiệm chức Giám đương; Quyền Phát khiển Phúc Kiến lộ Chuyển vận Phán quan, Thái tử Trung doãn Chu Ốc giáng làm Quang lộc Tự thừa, giao cho Thẩm quan Đông viện xét xử. Tất cả đều bị xử phạt vì việc xuất quân đánh An Nam, bố trí sai lầm, và việc vận chuyển lương thực không chu toàn.

(Bản Chu đưa chiếu chỉ ngày Quý Dậu tháng 11 năm trước vào đây, coi đó là nguyên nhân Lý Bình Nhất và những người khác bị tội, nay theo bản Mặc. Thực ra, Lý Bình Nhất và những người khác bị tội không chỉ vì việc thiếu phu vận chuyển như chiếu chỉ đã nêu.)

[4] Chiếu chỉ rằng: Cựu Quyền Phán Tướng tác giám Phạm Tử Kỳ, Hướng Tông Nho mỗi người bị kéo dài thời gian khảo xét thêm 2 năm; Thừa Từ Đại Phương, Tăng Hiếu Tông, Đề cử Giám tu sứ thần Vương Phạm và 5 người khác đều bị tước bỏ ân điển đã ban, bị cách chức. Tất cả đều bị xử phạt vì việc tu sửa cung Trung Thái Nhất, điện Trinh Thất bị cột gỗ mục nát. Ban đầu, Phạm Tử Kỳ và những người khác muốn hoàn thành cung điện nhanh chóng nên dùng gỗ ướt làm cột, đến nay đã phải thay thế hơn 30 cột bị mục nát.

[5] Thượng phê: “Nghe nói các quân ở châu quân Hà Bắc do doanh trại bị nước lũ phá hủy, phải di chuyển đến nơi khác tạm trú, hoặc đã chuyển vào doanh trại, mỗi người được cấp gạo theo mức độ khác nhau; những người bị chết đuối hoặc bị đè chết, gia đình được cấp tiền theo mức độ khác nhau, những người không thể chôn cất được, do quan chức lo liệu.”

[6] Ngày Kỷ Mão, ban chiếu cho Ty Chuyển vận đề cử Hà Bắc, Kinh Đông, xem xét số hộ dân bị lũ lụt chưa nộp thuế hạ, cùng các khoản nợ tiền dịch nên được hoãn hoặc miễn giảm, và thứ tự cấp phát lương thực, hạt giống sau khi nước rút, rồi tâu lên. Lại ban chiếu cho Ty An phủ chẩn cấp, và xét xử các vụ án hình sự đang bị giam giữ, phủ Khai Phong cũng làm theo.

[7] Ngày Tân Tỵ, Ty Đề điểm hình ngục Lưỡng Chiết tâu: “Lũ giặc hơn nghìn người của Liêu Ân vẫn chưa bị bắt ở địa giới Tín châu, nay điều động dân binh phòng thủ, chuẩn bị bắt giết, và cho dân binh các lộ thay phiên canh giữ[1].” Vua phê: “Dân chúng vùng Đông Nam tuy gần đây đã được tổ chức thành từng nhóm mười người, nhưng chưa từng được dạy võ nghệ, bắt họ chống giặc thật khó thành công, chỉ làm hỏng sinh kế, nên cho giải tán hết. Các lộ Giang Nam, Phúc Kiến cũng làm theo.”

[8] Quan Nhập nội đông đầu cung phụng, Câu đương Ngự dược viện Lý Thuấn Cử tâu: “Trước đây được sai theo đại quân hành dinh An Nam tiến đánh, được thăng hai bậc, nay Tuyên phủ sứ và phó đều bị khiển trách, xin bãi chức vụ của thần, xử phạt nặng.” Ban chiếu cho Thuấn Cử thu hồi hai bậc thăng chức, lại tước thêm một bậc ký thừa; quan Đông đầu cung phụng Lưu Duy Giản, Hàn Vĩnh Thức vì đi làm nhiệm vụ Tẩu mã thừa thụ trở về, mỗi người được thăng hai bậc, cũng thu hồi một bậc.

[9] Ban tiền đặc chi cho binh lính làm việc đắp đê ngăn lũ tại thôn Hàn, huyện Tộ Thành. Trước đó, Đô thủy giám tâu rằng nước sông tràn qua đê tại bãi Hàn, châu Hoạt, đã gửi công văn cho quan Đồng phán giám Lưu Cáp, Thừa Cảnh Uyển, Câu đương công sự Trần Khang Dân phụ trách việc củng cố đê điều, đến nay công việc đã hoàn thành.

[10] Ngày Nhâm Ngọ, sai Giám sát ngự sử lý hành Hoàng Liêm đến Ninh Châu để xét xử Phạm Thuần Nhân, nguyên là Tri Khánh Châu. Do Vĩnh Hưng quân lộ Kiềm hạt Chủng Cổ tâu rằng: “Trước đây khi làm Tri Hoàn Châu, từng tranh luận với Thuần Nhân về các việc liên quan đến bộ lạc phiên, vì thế mà Thuần Nhân ôm lòng oán hận, tìm cách bới móc. Từng sai người phối lưu biên quản là Mại Bố đưa tù nhân qua Khánh Châu, rồi lưu lại ở Ninh Châu để mở án. Tri Ninh Châu Sử Tịch lại là người từng được Thuần Nhân tiến cử nhiều lần, e rằng sẽ có sự vu cáo.”

Vì thế, triều đình sai Hoàng Liêm điều tra sự thật. Hoàng Liêm cũng từng được Thuần Nhân tiến cử nên từ chối, triều đình bèn sai Ngự sử Bành Nhữ Lệ, nhưng Nhữ Lệ cũng lấy cớ mẹ già xin từ chối, nên thay bằng Thôi trực quan Phùng Như Hối của Ngự sử đài. Đến ngày Mậu Tuất tháng 5 năm Nguyên Phong thứ nhất, vụ án kết thúc.

(Tần Quan trong bài tựa tiễn Phùng Như Hối làm Thiểm Tây Đề hình viết: “Năm thứ hai sau khi Hoàng đế lên ngôi, có chiếu chỉ cho các quan Thị tòng mỗi người tiến cử hai người làm Sứ giả các bộ. Long đồ các Trực học sĩ Đằng Công cùng vài vị lão thần đều tiến cử Phùng Hầu Thúc Minh ứng chiếu, ngay hôm đó được bổ làm Thiểm Tây Đề điểm hình ngục công sự. Tôi từng hỏi Đằng Công:

‘Phùng Hầu là người thế nào?’ Đằng Công đáp: ‘Là người quân tử có chính kiến.’ Tôi hỏi: ‘Làm sao biết được?’ Đằng Công nói: ‘Trước đây, Cao Bình Phạm Công làm Kinh lược sứ Hoàn Khánh, tướng Hoàn Châu là Chủng Cổ vu cáo Tri Ninh Châu Sử Tịch thay đổi án của người Khương đã quy thuận, dâng thư kêu oan, lại nêu bảy việc Phạm Công làm trái pháp.

Triều đình nghi ngờ, bèn mở án ở Ninh Châu, sai Phùng Hầu với tư cách là Thôi trực quan của Ngự sử đài đến điều tra. Lúc đó, Phạm Công vì dâng sớ can gián nên bị cách chức, có người trong chính quyền vốn ghét ông, từ lâu muốn dùng pháp luật nghiêm khắc để hãm hại. Vụ án này nổ ra, ai nấy đều lo sợ.

Khi Phùng Hầu vào chầu, Thần Tông nói: “Nếu Kinh lược sứ làm trái pháp luật, dù chỉ là một trong vạn trường hợp, cũng e rằng sẽ gây hại cho biên cương[2]. Tuy nhiên, Phạm Thuần Nhân có tiếng tốt, khanh nên xét xử cẩn thận. Lý do sai sứ giả đi là vì sợ có sai sót mà thôi.” Rồi ban cho áo tía và thẻ bài bạc. Phùng Hầu lạy tạ rồi lui ra, có người trong triều đình nói: “Hoàng thượng rất giận Kinh lược sứ Khánh Châu, ngài nên cẩn thận.” Phùng Hầu đáp: “Ý Hoàng thượng không có gì khác.” Rồi đọc lại lời Thánh chỉ, khiến người trong triều đình không vui.

Khi xét án liên quan đến người Khương đã quy thuận, thấy rõ không thể thay đổi, còn bảy việc Chủng Cổ tố cáo Phạm Công đều không có bằng chứng, Phùng Hầu bèn tâu lên, khiến người trong chính quyền rất thất vọng. Lúc đó, Sử Tịch có lời khai khác, triều đình sai Hàn Tấn Khanh đi xét lại, người trong chính quyền nhân đó nói: “Vụ án Phạm Thuần Nhân e rằng chưa xét xong, mong sai Tấn Khanh xét lại toàn bộ.

Thần Tông nói: “Vụ án Phạm Thuần Nhân đã rõ ràng, không cần xét lại nữa.” Kết quả điều tra đúng như lời tâu của Phùng Hầu, Sử Tịch và Chủng Cổ đều bị trị tội, còn Phạm Công được miễn tội, khiến người trong chính quyền rất bất mãn. Không lâu sau, Phạm Công lại bị Kinh lược sứ lân cận tố cáo, bị giáng làm Thủ Tín Dương, còn Phùng Hầu vì làm mất lòng người nắm quyền, cuối cùng cũng bị cách chức. Như vậy, không phải là người quân tử có chính kiến thì là gì?'”

《Phạm Thuần Nhân ngôn hành lục》 chép: Thái thú Hoàn Châu hặc tội người Khương đã quy thuận là giặc, án đã xong, triều đình tha tội chết, đày đi phương Nam. Tội nhân kêu oan với phủ Kinh lược sứ rằng: “Tôi thực sự không phải là giặc.” Phạm Công đưa sang châu khác xét xử, quả nhiên không phải là giặc. Thái thú Hoàn Châu sợ tội, tố cáo Phạm Công vì tình riêng mà thay đổi án, muốn triều đình không xét xử mà cách chức Phạm Công. Thần Tông sai quan Ngự sử đài đến Ninh Châu mở án, điều tra rất nghiêm khắc, cuối cùng không tìm thấy bằng chứng tư lợi, Thái thú Hoàn Châu tự bị tội vu cáo. Phạm Công tuy được minh oan, nhưng Kinh lược sứ Phu Diên ngầm tâu rằng Phạm Công tự ý thu hồi công văn của Hựu Châu, có tội khinh mạn, vì thế bị cách chức Trực Long đồ các, làm Tri Tín Dương quân.

Ngày 5 tháng 8, 《Ngự tập》 chép: Binh mã Kiềm hạt Vĩnh Hưng quân lộ Chủng Cổ tâu: “Trước đây làm Tri Hoàn Châu, Kinh lược sứ Phạm Thuần Nhân vì tình riêng mà bới móc, mở án ở Ninh Châu, Tri Ninh Châu Sử Tịch[3] được Thuần Nhân tiến cử, e rằng có người vô tội bị hại, xin chuyển sang châu quân khác điều tra.” Hoàng đế phê: “Có thể sai Ngự sử Hoàng Liêm cùng với việc gần đây giao cho Đề hình ty điều tra, đặt cơ quan ở Ninh Châu, cùng một chỗ điều tra tường tận rồi tâu lên.”

《Thời chính ký》 chép: “Ngày 5, Tri Dĩnh Châu, Đoàn luyện sứ Dân Châu Cao Tuân Dụ làm Tri Khánh Châu. Phạm Thuần Nhân, nguyên Tri Khánh Châu, sai Giám sát ngự sử lý hành Hoàng Liêm đến Ninh Châu mở cơ quan điều tra. Do Binh mã Kiềm hạt Vĩnh Hưng quân lộ Chủng Cổ tâu rằng trước đây làm Tri Hoàn Châu, từng cùng Thuần Nhân xử lý sai bảy việc liên quan đến bộ lạc phiên, Thuần Nhân vì thế mà ôm lòng oán hận, tìm cách bới móc. Do sai người phối lưu biên quản là Mại Bố đưa tù nhân qua Khánh Châu rồi lưu lại, nên mở án ở Ninh Châu. Tri Ninh Châu Sử Tịch lại là thuộc hạ của Thuần Nhân, từng được tiến cử nhiều lần, e rằng có người vô tội bị hại. Vì thế, đặc biệt sai Hoàng Liêm điều tra sự thật.”)

[11] Dân châu Đoàn luyện sứ, Tri Dĩnh châu Cao Tuân Dụ nhận chức Tri Khánh châu.

[12] Ty phong Viên ngoại lang, Tập hiền Hiệu lí, Quyền Tri Tào châu Lưu Ban, Thái thường Thừa, Tập hiền Hiệu lí, Đề điểm Kinh Đông lộ Hình ngục Lý Thanh Thần, cùng được bổ nhiệm làm Quốc sử viện Biên tu quan. Sau đó, Ngự sử Thái Xác tâu rằng Lưu Ban trước đây ở trong quán, từng ném mũ làm trò, không thể đảm nhiệm chức vụ sử quan. Tể tướng biện hộ cho ông, nhưng tấu chương bị giữ lại không phê duyệt, Lưu Ban cũng viện cớ đã lâu không động đến bút nghiên, nên được đổi làm Khai Phong phủ Phán quan.

(Việc đổi làm Khai Phong phủ Phán quan diễn ra vào ngày 25 tháng 8, nay ghi chung vào đây.)

[13] Chiếu chỉ đã bắt được Liêu Ân, thúc giục Vương Trung Chính về kinh. Ngày 9 tháng 7, sai Trung Chính đi; ngày 23 tháng 9, đến kinh.

[14] Ngày Quý Mùi, sai Quyền Phán Tam ty Đô ma khám, Lí khiếm, Bằng do ty Hoàng Nghiêu Doãn cùng Hà Bắc Chuyển vận Phán quan Uông Phụ Chi đi cứu hộ Thiền châu, nếu có việc cần tâu báo nhưng không kịp, thì được tùy nghi thi hành, vì sông Hoàng Hà vỡ đê đe dọa thành.

[15] Chiếu chỉ: “Nhập nội Phó đô tri Lý Hiến, Quyền Phát khiển Tần Phượng đẳng lộ Chuyển vận Phó sứ[4] Triệu Tế cùng kinh chế Hi Hà lộ biên phòng tài lợi, được phép tiến cử 5 viên Câu đương công sự văn vũ quan. Nếu việc liên quan đến Kinh lược An phủ ty, thì phải liên danh tâu lên.” (Ngày 8 tháng 12.)

[16] Kinh lược sứ Phu Diên lộ Lữ Huệ Khanh tâu: “Theo tờ trát của Xu mật viện, Hoàn Khánh lộ Kinh lược ty điệp văn xét rõ không có việc cướp bóc gia súc của Hạ quốc[5], việc gửi trả về Hựu châu là không đúng, lệnh truy hồi về nghe chỉ. Trước đó, điệp văn đã giao cho phía Tây giới.” Chiếu chỉ cho Tân Tri Khánh châu Cao Tuân Dụ: “Xem xét kỹ điệp văn của Hựu châu, bí mật truy bắt thủ lĩnh gây ra việc này để cấm hặc. Các bộ lạc phiên theo hầu đều được miễn tội và vỗ về, không để sinh sự. Xét kỹ số gia súc bị cướp từ Tây giới, và định giá trả lại.”

(Việc này có thể tham khảo ngày Đinh Dậu tháng nhuận năm Nguyên Phong thứ nhất. Ngày 2 tháng 5 năm thứ hai, Tuân Dụ bị trị tội, lúc này Tuân Dụ chưa đến nơi.)

[17] Khánh Châu Long Thần vệ tứ sương đô chỉ huy sứ Yến Đạt tâu: “Trước đây làm An Nam phó đô tổng quản, được phong làm Vinh Châu phòng ngự sứ, quyền lĩnh Bộ quân ty, xin được thu hồi.” Chiếu rằng: “Việc chinh thảo An Nam bố trí sai lầm, tổng chế quân sự chuyên do Quách Quỳ phụ trách. Yến Đạt nghe theo chủ tướng điều khiển, cùng đánh chiếm Quảng Nguyên châu, Quyết Lý ải, Phú Lương giang đều có chiến công, không cho từ chối.”

[18] Ghi chép: Lục tả ban điện trực[6] Lệnh Tu Kỉ, con là Mệnh Nô làm Tam ban phụng chức, ban tên là Cầu Ứng. Vì An Nam chiêu thảo ty tâu rằng Tu Kỉ đánh Quảng Nguyên châu, qua Đâu Đính lĩnh gặp giặc hàng nghìn, chiến đấu gian khổ phá được, đánh Quyết Lý ải, dẫn đầu tiên phong kỳ binh đánh giặc, chém được 66 thủ cấp, sau đó vì bệnh mà chết.

[19] Thái Nguyên phủ tư pháp tham quân, quán các hiệu khám, trung thư hình phòng tập học công sự Phạm Thang làm Đại Lý bình sự, quyền kiểm chính hình phòng công sự. Vì biên tu cống cử sắc thức đã hoàn thành.

[20] Chiếu rằng: Đề cử tam ty trướng ty, câu viện, ma khám ty, chọn người có tư cách sâu sắc, chức vụ cao hơn phán quan.

[21] Lại chiếu rằng: “Phúc Kiến lộ thể lượng an phủ, kiểm chính trung thư khổng mục phòng công sự, đồn điền viên ngoại lang Lưu Định giao cho Thẩm quan đông viện, sai làm thông phán Cù Châu; quyền phát khiển đề điểm lưỡng Chiết lộ hình ngục, thái thường bác sĩ Dương Cảnh Lược giáng một chức. Định vì ở Cù Châu lâu ngày trì hoãn mệnh triều đình, Cảnh Lược khinh suất huyên hoang, giặc không phải ở bản lộ, tự ý dán bảng cho phép giết người, nên bị trách phạt. Tháng 5 ngày Bính Tý, Định thể lượng Phúc Kiến; tháng 11 ngày Canh Tuất, trát văn định tội trạng.”

[22] Ban sắc thư khen ngợi cho Tri châu Định Châu là Cương Hướng và Đô tổng quản Lưu Vĩnh Niên cùng những người khác, đặc cách giảm năm khảo khóa và ban tặng lụa có khác biệt. Vì đã hoàn thành việc sửa chữa và chuẩn bị đầy đủ áo giáp và vũ khí cho chín quân với mười vạn người. (Ngày 3 tháng 4.)

[23] Ngày Bính Tuất, ban chiếu cho An phủ An Đào của hai lộ Hà Bắc Đông và Kinh Tây đổi sang làm An phủ Hà Bắc. Vì Trung thư cho rằng hai lộ này đã dẹp yên được giặc cướp, nhưng vẫn bị thiên tai lũ lụt, nên cần cử quan đi cứu tế, do đó An Đào chuyên lo việc an phủ Hà Bắc. Tiếp tục ban chiếu cho Giám sát ngự sử lý hành Hoàng Liêm làm An phủ Kinh Đông.

(Sách 《Cựu kỷ》 chép việc Giám sát ngự sử Hoàng Liêm làm An phủ Kinh Đông, sách 《Tân kỷ》 không chép.)

Liêm từng nói rằng Đô kiểm chính Du Sung kết thân với hoạn quan, cầu may phú quý, không nên để ông ta phụ tá ở nơi quan trọng như thế, đồng thời nói Vương Trung Chính được giao trọng trách quá lớn, e rằng sẽ là mối lo về sau, lại còn đích thân trình bày rất khẩn thiết.

Vua nói: “Nhân tài vốn không phân loại, chỉ xem cách sử dụng thế nào mà thôi.” Liêm đáp: “Tuy nhiên, dần dần không thể để phát triển. Thánh nhân sử dụng người từ xa, nên bốn kẻ xấu ở triều đình không làm hỏng thời thịnh trị. Họ đều là người có tài năng xuất chúng, được sử dụng đúng ý, nhưng vì lo cho hậu thế nên mới đày đọa họ.” Vua nói: “Hãy tạm gác việc này. Sông Hoàng Hà vỡ đê ở Tào Thôn, Kinh Đông bị thiệt hại nặng nề, nay giao cho khanh lo liệu.”

Liêm nhận mệnh, trước sau dâng tâu hơn trăm việc, đại thể là nạo vét sông Trương Trạch đến châu Tân, để giảm bớt tai họa cho Tề, Vận, còn các vùng Tế, Đơn, Tào, Bộc, Truy, Tề có nước đọng đều dẫn về khe núi; thái thú, huyện lệnh nào cứu được dân trong thiên tai thì khen thưởng khuyến khích, khiến họ lập công; mở kho lương, kho bạc để cứu tế người thiếu thốn; nhà dân bị nước chiếm, chưa thể làm ăn thì chọn đất cao cho họ ở, đều có nhà tránh nước; người đi xa chưa về được thì cử quan lại đưa lương thực đến, đều có gạo ăn; các quận huyện bị ngập, miễn thuế, xóa nợ; dân lưu tán đi qua không được đánh thuế, sai quan lại dẫn đường, người ở lại thì cấp nhà, người đi thì cấp lương, lo họ không có ruộng mà đi xa nên cho mượn đất công khuyến khích họ cày cấy, sợ họ giết trâu ăn thịt nên cầm trâu tư cho họ tiền; trẻ con bị bỏ rơi trên đường thì thu nuôi, trai tráng đói khát thì chiêu mộ làm việc.

Ban đầu, nước ngập 34 châu huyện, làm hư hại 300.000 khoảnh ruộng dân, 380.000 nhà dân. Khi xong việc, cứu sống được 253.000 người đói, trai tráng có việc làm kiếm ăn thêm 27.000 người, được 732.000 ngày công, cấp tiền mua trâu, vay giống 86.300 quan, về triều tiến cử sĩ đại phu, sau này nhiều người được triều đình trọng dụng.

(Việc này căn cứ theo hành trạng do Hoàng Đình Kiên soạn. Có thể từ chỗ “nay giao cho khanh” trở xuống đều bỏ đi, chỉ chú thích phụ vào cũng được. Vì tùy theo tháng ngày, như việc nạo vét sông Trương Trạch là vào ngày 7 tháng 6 năm sau, không nên gộp chung vào đây.)

[24] Thượng phê thủ chiếu: “Ty Xuyên trà tuy đã lập từ lâu, nhưng vẫn chưa ổn định. Nếu không có người tài trí thông minh, được trao thêm quyền hành, kéo dài thời gian, không chỉ mất lợi lớn, mà còn e rằng sẽ không thành công. Gần đây, một số kẻ gian tà đã cố tình phá hoại, khiến pháp chế càng thêm rối ren, nhờ triều đình kịp thời xử lý, mới tạm yên. Xem tình hình hiện tại, người ở đó vẫn chưa chịu phục tùng, nếu không có biện pháp kiểm tra và xử lý mạnh mẽ, lâu dần sẽ hỏng việc. Gần đây tuy đã cử Lý Tắc thay Lưu Tá đảm nhiệm việc này, ông ấy có phong cách mạnh mẽ, đáng tin cậy, nhưng quyền lực còn nhỏ, chưa đủ để đối phó với những kẻ gian tà hại công. Có thể theo lệ của Lý {Mộc Tỵ}, kiêm chức Phán quan Tam ty, được ủy quyền không hạn chế trong việc cử tội và xử lý quan lại vi phạm, đợi một hai năm nữa, khi thu nhập tăng lên, công việc ổn định, sẽ cắt giảm, để chi phí biên giới có thể tự túc, hàng năm không cần nhờ cấp từ Ngân khố.”

[25] Ngày Mậu Tý, Xu mật viện ủy thác Trương Mậu Tắc và Lưu Cáp chọn địa điểm thuận tiện để xây cầu, vì nước sông làm hỏng cầu ở Thiền Châu. Mậu Tắc tâu: “Đường dịch của sứ Bắc có thể đi qua phía tây Lê Dương của Thiền Châu, từ phía bắc huyện Bạch Mã, có thể xem xét xây cầu.” Triều đình đồng ý.

[26] Chiếu cấp 10 vạn quan tiền phường trường của Hà Bắc Đông Lộ cho Chuyển vận ty để sửa chữa thành trì, kho tàng các châu huyện bị hư hại do mưa lớn. Sau đó lại ban 15 sắc điệp Trai lang, Trợ giáo cho Ty Thể lượng An phủ. Khi sửa chữa xong, lại ban 3.000 thạch thóc từ kho Thường bình để cứu tế những hộ thuộc loại thứ tư trở xuống tránh lũ.

[27] Quyền phát khiển Lưỡng Chiết chuyển vận phó sứ Tô Giải tâu: “Nay đến biên giới đề cử phòng thủ đầu hàng bọn giặc hung ác Liêu Ân, xét hỏi được bọn giặc chính ban đầu không nhiều, sau đó mới tăng thêm người. Nếu họ có ruộng đất nhà cửa riêng để sinh sống, ắt sẽ muốn làm dân lương thiện, nhưng vì thu nhập hàng ngày không đủ, nợ nần công tư, hoặc trộm cắp nhỏ, đúc tiền tư và buôn bán hàng cấm, thường dấn thân vào con đường nguy hiểm này, nên chỉ cần nhấc chân là gia nhập bọn giặc.

Một khi ra đầu hàng, không tránh khỏi quay lại thói cũ. Những kẻ buôn trà muốn, đúc tiền tư và trộm cắp nhỏ, liền vướng vào lưới pháp luật, kẻ nợ nần thường bị đánh đập, gông cùm, vì thế ở lại với bọn giặc, mong được no bụng. Suy ra, những kẻ không có cơm ăn chỉ sợ bọn giặc không nhận, nếu bọn giặc có nhiều lương thực, thì đồng bọn rất dễ kêu gọi.

Xin hạ lệnh cho An phủ sứ ở những nơi bị thiên tai tăng cường cứu tế, và lệnh cho châu quận hỏi han dân chúng về nỗi khổ, tạm ngưng thu nợ, cùng với những kẻ trong bọn giặc đã đầu hàng trước đây, lập mức thưởng, cấp gạo tiền, hoặc những tội lỗi trước đây, đều được tha bổng.” Chiếu cho Cao Tuân Nhất hỏi bọn giặc có nợ quan hay không, tường trình lên.

(Việc này căn cứ theo《Thời chính ký》ngày 11. Cao Tuân Nhất sau này tường trình thế nào, cần xem xét.)

[28] Trấn Nam quân tiết độ sứ, Đồng bình chương sự Vương An Thạch lại dâng biểu, xin lấy chức vụ hiện tại sung chức Tập Hi quan sứ. Chiếu đáp không cho, lại sai em Vương An Thạch là Quyền phát khiển Độ chi phán quan Vương An Thượng mang chiếu đến ban cho.

[29] Ngày Kỷ Sửu, chiếu cho các quan phụ chính xem lúa ở vườn sau.

[30] Bí thư giám, Tập hiền viện học sĩ Tô Tụng làm sứ quốc tín chúc mừng sinh thần Liêu chủ, Tây thượng các môn sứ, Anh Châu thứ sử Diêu Lân làm phó; Thái thường bác sĩ, Tập hiền hiệu lí Lưu Phụng Thế làm sứ quốc tín chúc mừng ngày Chánh đán, Nội tàng khố phó sứ Trương Thế Củ làm phó. Theo lệ cũ, sứ thần đi phương Bắc vào ngày Đông chí sẽ cùng người phương Bắc chúc mừng lẫn nhau.

Năm đó, lịch triều đình đi trước lịch Khiết Đan một ngày, Khiết Đan cố chấp cho rằng lịch của họ là đúng. Tô Tụng nói: “Các nhà lịch pháp tính toán có chút khác biệt, nên nhanh chậm không giống nhau. Ví như giờ Hợi tiết khí giao nhau, thì vẫn là đêm nay, nếu qua khắc, thì thuộc giờ Tý, là ngày mai rồi. Hoặc trước hoặc sau, mỗi bên theo lịch của triều đình mình là được.” Người phương Bắc không thể bắt bẻ được, bèn mỗi bên lấy ngày của mình làm tiết.

Sứ thần trở về, tâu lên, Vua mừng nói: “Trẫm nghĩ, việc này khó xử nhất, khanh đối đáp rất hợp lý.” Nhân đó hỏi về hình thế núi sông, tình hình nhân tâm của Khiết Đan. Tô Tụng nói: “Thông hiếu đã lâu năm, họ tiếp thu nhiều điển chương lễ nghĩa của Trung Quốc để duy trì chính lệnh, trên dưới yên ổn, chưa có ý ly khai. Người xưa cho rằng Hung Nô chỉ có vận trăm năm, ý nói thịnh suy có số mệnh.”

Vua nói: “Khiết Đan từ Gia Luật Đức Quang đến nay đâu chỉ trăm năm.” Tô Tụng nói: “Hán Vũ Đế tự cho rằng Cao Hoàng Đế ‘để lại nỗi lo Bình Thành cho Trẫm’, dù chinh thảo lâu ngày, nhưng Hung Nô cuối cùng vẫn không phục. Đến thời Tuyên Đế, Hô Hàn Tà thiền vu[7] quỳ lạy xưng phiên. Nhà Đường từ giữa trở đi, Hà Hoàng rơi vào tay Thổ Phồn, Hiến Tông mỗi lần đọc 《Trinh Quán chính yếu》, đều cảm khái có ý thu phục, đến thời Tuyên Tông mới đem ba châu, bảy ải trả về cho triều đình. Xem đó thì tình hình di địch phản phục không thường, không liên quan đến thịnh suy của Trung Quốc.”

(Điều này căn cứ theo chiếu chỉ, phụ chép vào truyện của Tô Tụng. Bản truyện mới bỏ đi, nên xem xét lại.)

[31] Thượng phê: “Người bị biên quản ở Anh Châu là Trịnh Hiệp, nguyên phạm tội vô thượng bất đạo, tình tiết rất bội nghịch, tha cho sống đã là ân huệ lớn. Có thể không bao giờ được xét chuyển đi nơi khác.” Vì Bộ Hình dùng lệnh ân xá xin chuyển đi, Trung thư tâu xin chuyển Hiệp đến Ngạc Châu. Do đó, Kiểm chính Trung thư Hình phòng công sự Lưu Phụng Thế bị kéo dài thời gian khảo hạch ba năm, Kiểm chính Đề điểm Ngũ phòng công sự[8] cùng các quan Hình phòng đường hậu, Điểm kiểm phòng đều bị ghi vào sổ, phạt đồng, kéo dài thời gian, giáng chức.

Lại ra chiếu cho Trung thư từ nay khi tấu trình sắc lệnh, phải đợi có ấn triện mới được ký tên. Phán Bộ Hình, Tư phong viên ngoại lang Hồ Viện, cùng người trước đây quyền đồng phán Bộ Hình, Thái thường thừa Vương Tử Thiều đều bị giáng một chức, Viện cùng Pháp trực quan Thành Tuân bị cách chức. Vì việc xét lại án của Hiệp, Viện và các quan định tội Hiệp là “hơi nặng”, nên xin chuyển đến Ngạc Châu, Trung thư không đợi phê chuẩn đã tự ý thi hành, nên đều bị trách phạt.

[32] Ngày Canh Dần, Ty Chuyển vận Tần Phượng các lộ tâu: “Ruộng học ở Tần Châu đất xấu, thuế hàng năm không đủ, xin đổi thành ruộng doanh điền để cấp dưỡng học giả.” Được chấp thuận.

[33] Ra chiếu định điều lệ về việc công chúa gặp đại lễ được tiến cử. (Việc này căn cứ theo Hội yếu ngày 13 tháng 8, cần xét lại.)

[34] Ngày Tân Mão, Vua nói với Tạ Cảnh Ôn, người mới nhận chức Tri Đàm Châu: “Đã lệnh cho Trương Sơn Phủ ở Đàm Châu tập hợp năm nghìn quân, cần phải chiêu mộ đủ. Phương Nam thiếu quan binh tài giỏi, giặc nhỏ như Liêu Ân, Tuần kiểm, Huyện úy dùng vài nghìn người giữ mà không ai dám tiến lên. Giặc vốn không đến mức này, đều do chơi với giặc mà ra.”

[35] Tri Vệ châu, Tư nông thiếu khanh Lỗ Hữu Khai tâu: “Bản lộ gặp nạn Hoàng Hà và Sấm Hà, dân thiếu lương thực, đã dùng điều khoản cấp tiền gạo từ kho Thường bình để ứng phó tình thế khẩn cấp. Xin miễn lãi suất.” Chiếu rằng: “Từ nay tiền dịch dư thừa không được cho vay. Hữu Khai vi phạm pháp cho dân vay, đặc biệt tha tội.”

Hữu Khai là cháu của Lỗ Tông Đạo. Khi pháp lệnh mới ban hành, Hữu Khai làm Tri Nam Khang quân, khi trở về, tể tướng hỏi về tình hình pháp lệnh mới ở Giang Nam, Hữu Khai nói: “Pháp lệnh mới thực hiện, chưa thấy tai họa, nhưng sẽ xảy ra trong tương lai.” Vì lời nói trái ngược, bị điều làm Thông phán Hàng Châu.

[36] Chiếu rằng: “Luân phiên điều động quân mã từ Khai Phong phủ giới, Kinh Đông và Kinh Tây đến đóng quân ở Tần Phượng và Hi Hà lộ, thay thế quân đồn trú ở kinh thành trở về doanh trại. Sau ba năm, lại dùng người từ kinh thành thay thế. Từ nay làm theo cách này luân phiên.”

[37] Ngày Nhâm Thìn, ban tiền đặc chi cho binh lính làm việc trị sông ở Huỳnh Trạch tảo.

[38] Chiếu rằng: “Vĩnh Hưng và Tần Phượng lộ mỗi nơi mượn 300.000 quan tiền diêm sao từ năm Hi Ninh thứ 11, Hi Hà lộ mượn 200.000 quan, giao cho Chuyển vận ty, nhân năm được mùa mở rộng dự trữ biên giới.”

[39] Ngày Ất Mùi, chiếu Đề điểm Phúc Kiến lộ hình ngục, Thái thường thiếu khanh Từ Tổng giao cho Thẩm quan Đông viện. Vì không thể đốc thúc quan lại trừ diệt trộm cướp, và tấu báo sai sự thật.

[40] Ngày Bính Thân, chiếu Tri Hùng châu, Tứ phương quán sứ Vương Đạo Cung phạt 20 cân đồng, Thông phán, Điện trung thừa Triệu Tiếp giáng một chức. Vì kiêm nhiệm chức vụ ở Đồn điền ty, không tính toán trước việc tích nước ruộng lúa và tháo nước vào đầm.

[41] Chiếu Khai Phong phủ giới Đề điểm ty, Hà Bắc đông tây lộ Thể lượng an phủ ty, xem xét tình hình thiên tai lũ lụt ở các châu huyện, số hộ dân chưa nộp thuế dịch, hoãn thuế hoặc cho vay, cùng các việc cứu tế, giam giữ hình ngục, điều động quan lại, đều tùy nghi thi hành.

[42] Quan biên tu Viện Tu quốc sử, Tri gián viện Hoàng Lý tâu: “Thần trộm thấy tể thần Ngô Sung tâu rằng, từ quan tu sử trở xuống không được tự mình dâng văn bản, tức là không nói đến quan ngôn sự. Thần vốn thuộc chức Tri gián viện, chưa rõ có được phép tùy lệ tự mình dâng văn bản hay không.” Chiếu rằng: Ngoài việc ngôn sự thuộc chức gián, những việc liên quan đến tu sử thì theo chỉ huy đã được ban của Viện Tu quốc sử. (Việc ngày 19 ghi trong 《Thời chính ký》.)

[43] Ngày Kỷ Hợi, Đề cử tróc sát giặc cướp lộ Phúc Kiến là Bành Tôn tâu: “Bọn Liêu Ân đã hàng, ngoài việc ty An phủ tha cho những kẻ bị ép theo, bọn giặc tổng cộng 908 người, đang áp giải về kinh.” Chiếu rằng: “Những kẻ trong đảng của Ân không muốn về kinh, cho ty Đề điểm hình ngục lộ Giang Nam, Phúc Kiến cấp giấy công nhận tha về; những kẻ hung ác không thể lưu lại bản lộ, hoặc từng giết người khó trở về quê, thì phân phối sang Giang Bắc để kiếm lương; những kẻ trong thành muốn điền vào quân phạm tội tạp thì cho phép. Những người bắt giặc phơi mình ngoài chiến trường, có công đánh giặc thì bảo đảm rõ ràng để tâu lên. Các quan Đề điểm hình ngục các lộ không có việc hội nghị thì không cần đến nữa.”

[44] Hữu Tán thiện đại phu, Sạn loát phát vận ty tiền bạch Lữ Ôn Khanh tâu: “Xem việc Hà Bắc chia làm Đông, Tây lộ, việc giám sát, tuần tra, kiểm điểm rất thuận tiện, nhưng về phép thông dung, di chuyển sử dụng thì không thể không có hại. Như Đông lộ sản xuất tơ lụa, gấm vóc, Tây lộ nhiều gỗ, sắt, than, nhưng không thể thông thương với nhau, nhu cầu không thể bổ sung lẫn nhau. Xin theo phép của Giang, Hoài phát vận sứ[9], đặc biệt đặt ty Đô chuyển vận Hà Bắc, Kinh Đông Tây lộ ở Bắc Kinh, chọn trọng thần đứng đầu.

Các việc thông dung, di chuyển tài phú, khóa lợi, án sát quận huyện, giao cho Đô chuyển vận ty bốn lộ quản lý chung, chuyên lo việc kinh chế biên kế, thì tài chính biên cương phía Bắc mới có thể sung túc.” 《Thời chính ký》.

[45] Ngày Canh Tý, chiếu cho Quốc tử bác sĩ, Khai Phong phủ Thôi quan Tống Tĩnh Quốc làm Tri châu Mật Châu. Do Ngự sử tri tạp Thái Xác tâu rằng Tĩnh Quốc là người tầm thường, bị mọi người khinh bỉ, nhờ quan hệ mà giữ chức lâu ở kinh sư, xin cho một chức nhàn tản khác.

[46] Tam ty xin từ nay về sau, các việc cấp bách do Thái hoàng thái hậu và ngự tiền ban chỉ lấy dùng, cùng các vật dụng thường dùng như rượu, trà, thuốc, được thi hành trước, rồi mới tâu lại điều lệ. Được chấp thuận.

[47] Ngày Tân Sửu, phân phó các phụ thần cầu tạnh.

[48] Huyện Bảo Tắc, châu Bảo tăng thêm một viên Huyện thừa. (theo《Thời chính ký》.)

[49] Ban sắc thư khen ngợi cho Đồn điền lang trung Lư Khâu Hiếu Trực, Tri châu Bộc Châu. Do sông Tào Thôn vỡ đê, người Bộc không biết trước, một đêm nước tràn đến chân thành, Hiếu Trực vội vàng dẫn thuộc hạ, huy động quân cấm binh đắp đê bảo vệ thành, có công cứu hộ. Liền cho Hiếu Trực làm Đề điểm hình ngục Phúc Kiến lộ.

[50] Quyền phát khiển Tam ty sứ Lý Thừa Chi tâu: “Tam ty những năm gần đây, tài vật thiếu thốn nghiêm trọng, tính toán chi tiêu hàng tháng vẫn lo không đủ. Trong thời bình hơn trăm năm, vào lúc Bệ hạ chấn chỉnh mọi chính sự, quốc dụng như vậy, há chẳng nên lo lắng sâu xa sao? Nước không có dự trữ đủ ba năm, thì không phải là nước, huống chi không có dự phòng đủ vài tháng? Đây là lỗi của quan lại thất chức, cẩu thả theo thói quen. Xin suy nghĩ sâu xa về tầm quan trọng của kế hoạch quốc gia, ban chiếu cho các đại thần thân cận bàn bạc về phương pháp quản lý tài chính lâu dài.” Chiếu cho Tam ty sứ và phó sứ cùng bàn bạc phương pháp quản lý tài chính lâu dài, trình bày rõ lợi hại và kế hoạch để tâu lên.

Sau đó, Tam ty tâu: “Các cơ quan ở kinh thành chi tiêu tiền vật của tỉnh, đều phải thông qua Tam ty; các ty Phát vận, Chuyển vận, Đề cử đúc tiền và muối cùng các châu huyện, nếu vi phạm hoặc thất chức trong phạm vi quản lý của Tam ty, cho phép điều tra và xử lý, nếu việc nghiêm trọng thì tâu xin thay thế trước, nếu làm tốt công việc thì xin khen thưởng; các lộ nếu không đủ cung ứng hoặc kế hoạch năm không đầy đủ, cho phép chọn quan điều tra, hoặc nhân việc triều đình sai quan đi lại, cho phép ủy thác kiểm tra việc tiền lương.” Đều được chấp thuận.

(Bản mới từ “sau đó” trở đi đều bỏ đi, cho rằng những điều Tam ty tâu không liên quan đến lợi hại quản lý tài chính.)

[51] Chiếu xây thành phía đông, tây và trung tâm Quảng Châu.

[52] Ngày Nhâm Dần, Tây Nhiễm viện sứ cũ Lý Thực được phục chức cũ, cho con trai làm Tam ban tá chức, ban tên là Ác, vì đã tử trận khi đánh nhau với Liêu Ân.

[53] Chiếu đặt một tướng ở Đàm Châu và thêm một võ thần, đóng quân ở Toàn Châu, phụ trách huấn luyện và chuẩn bị ứng viện quân mã cho Quảng Nam Tây lộ từ Toàn, Thiệu, Vĩnh Châu.

[54] Ngày Quý Mão, Tri Ký Châu, Khố bộ lang trung Tống Xương Ngôn được bổ làm Phán Đô thủy giám. (Viết điều này để thấy rõ sai lầm của việc giáng chức trước đây.)

[55] Ngày Giáp Thìn, ban chiếu rằng: “Các quan đãi chế trở lên trong ngoài cùng các quan đài gián, phát vận chuyển vận sứ, đề điểm hình ngục, chuyển vận phán quan, mỗi người tiến cử một văn thần có tài năng đức hạnh xứng đáng được thăng chức, giao cho Trung thư xét duyệt, tùy tài mà bổ dụng. Không được tiến cử người làm việc ở quán chức và hai phủ, hoặc người thân của mình.” Đây là theo lời tấu xin của Giám sát ngự sử Hoàng Liêm.

Liêm cho rằng: “Trí một người không bằng trí mười người, trí mười người không bằng trí trăm người, đó là sự phân biệt giữa thừa và thiếu. Hoàn thành việc thiên hạ, không gì cấp bách bằng nhân tài. Mong bắt hai chế, cận thần, giám ty, quận thủ mỗi người tiến cử một người mình biết, bệ hạ căn cứ vào sự tiến cử mà bổ nhiệm, qua việc họ có thể hay không, thành bại ra sao, cũng đủ biết được các đại thần trong thiên hạ phụng sự bệ hạ thế nào.” Vua nghe theo lời ông, nên có chiếu này. Do đó, hơn trăm người ứng chiếu.

Liêm lại nói: “Những người thế cô địa hàn, xa lánh chức nhỏ, đã được tiếng tăm lên trên, mong ban chiếu cho Trung thư xét năng lực mà dùng, thì chiếu cầu tài không trở thành vô ích trong thiên hạ.”

(《Tân kỷ》 chép: “Chiếu cho thị tòng, đài gián, giám ty mỗi người tiến cử một văn thần có tài năng đức hạnh, không được tiến cử người làm việc ở quán chức và hai phủ, hoặc người thân của mình.” 《Cựu kỷ》 chỉ chép đến chữ “một người”, phần sau không ghi. Từ “Hoàng Liêm cho rằng một người” đến “trong thiên hạ” đều là lời trong hành trạng, có lẽ đã bị bỏ đi.)

[56] Quyền Kinh Đông chuyển vận sứ Vương Cư Khanh xin cải cách chế tạo liên tam xấm, dùng ít củi mà hiệu quả nhiều, xin ban bố pháp này cho các lộ, Vua nghe theo.

[57] Ngày Ất Tỵ, ban chiếu cho Tả ban điện trực Bình Viễn bị cách chức, miễn truy cứu quan chức, Hữu ban điện trực Lưu Uân bị thay thế. Trước đó, Quách Quỳ tâu rằng: “Tại sông Phú Lương, Miêu Lí báo rằng giặc Man đã bỏ chạy, liền ra lệnh cho Quản áp tiên phong kỵ binh, Đông đầu cung phụng quan Vương Tiến đợi khi cầu phao xong thì lần lượt tiến quân. Nhưng Tiến và các tướng khác vội vàng dùng bè vượt sông, khiến quân thế bị đứt đoạn, lực lượng ít không địch nổi, bị giặc đẩy xuống bờ sông, rõ ràng vi phạm quân lệnh. Bình Viễn, Lưu Uân không thể tiếp ứng, theo phép nên xử tử.” Nhưng vì quân triều đình đánh châu Quảng Nguyên, phá ải Quyết Lí, Viễn và Uân đã lập công đầu tiên khi tiến vào đất giặc, nên có mệnh lệnh này.

[58] Ngày Bính Ngọ, ban chiếu cho Tam ty mượn 30 vạn quan tiền, đặt trường mua bán diêm sao tại kinh sư. Vì Chế trí giải diêm sứ Bì Công Bật xin khôi phục lại phép cũ của Phạm Tường để ổn định giá cả thị trường.

[59] Quyền Ngự sử trung thừa Đặng Nhuận Phủ tâu: “Tại lộ Phúc Kiến, bọn giặc cướp nổi lên, giết hại và cướp bóc dân chúng, các châu huyện không thể truy bắt, cuối cùng triều đình phải điều quân cử tướng, lại còn miễn thuế, giảm dịch để yên ổn một phương, đó là ân huệ lớn. Nhưng thần nghe nói vùng Mân, Việt, núi rừng hiểm trở, kéo dài hàng chục dặm, những kẻ vô lại, gian hùng, liều chết vì lợi, so với các lộ khác thì nhiều hơn, phần lớn làm nghề buôn muối, đúc tiền, nên có thể kết bè kết đảng, động đến hàng nghìn người, quân lính các châu quận ít ỏi yếu kém, không thể chống cự. Nay triều đình nếu cho rằng Liêu Ân đã đầu hàng, rồi yên tâm không lo lắng nữa, thì e rằng những kẻ gian hùng sẽ nhân cơ hội, sẽ lại có người theo vết Ân mà nổi dậy, điều này không thể không lo trước. Xin hạ lệnh cho Giám ty bản lộ tham khảo rộng rãi ý kiến, xử lý lợi hại của phép muối, hoặc cho phép thông thương, còn việc đúc tiền nhỏ lậu, cũng nên nghiêm cấm. Những châu quận trọng yếu, nên đóng ít quân lính, cốt sao giải tán bè đảng xấu, làm yên lòng dân. Nếu cho rằng Giám ty không đủ sức đảm đương, có thể cử sứ giả chuyên trách việc này.” Ban chiếu cho Chuyển vận sứ Phúc Kiến Kiển Chu Phụ xem xét lợi hại lâu dài rồi tâu lên.

(Ngày 29 tháng 6 năm Nguyên Phong thứ nhất, Chu Phụ tâu…)

[60] Tháng đó, sông Hoàng Hà vỡ đê ở đập Huỳnh Trạch, Trịnh Châu. Việc này căn cứ theo bản chí, ghi chép phụ vào cuối tháng.

[61] Tháng 9, ngày Kỷ Dậu, Lý Tắc, quan phụ trách Ty Trà trường phủ Thành Đô và các lộ khác, xin rằng mọi việc liên quan đến chức vụ của ty này như sắp xếp, thỉnh cầu, kiện tụng, các ty khác không được can thiệp. Nếu xử lý có sự oan ức, cho phép thông qua Giám ty để trình bày. Triều đình đồng ý, nhưng Ty Trà trường không thuộc quyền quản lý của Đô đề cử Thị dịch ty, và cũng bãi bỏ việc kiêm nhiệm Ty Thị dịch lộ Tần Phượng.

[62] Chiếu rằng: “Từ phía đông là Tín An, Bảo Định quân, Hùng, Bá, Mạc châu, đến phía tây là Thuận An (bản gốc chép là “An Thuận“, nay căn cứ theo 《Tống sử·Địa lý chí》 sửa lại), Quảng Tín, An Túc quân, Bảo châu[10], các vùng đầm hồ, dân có thuyền đánh cá đều được lập sổ và cấp thẻ, miễn thuế hằng ngày.”

[63] Ngày Canh Tuất, chiếu rằng những nơi sông Hoàng Hà vỡ đê làm ngập ruộng dân, quan phủ sẽ đào rãnh thoát nước, các huyện bị thiên tai được miễn thuế, người già, trẻ nhỏ, bệnh tật không thể tự lo liệu được, mỗi ngày cấp lương thực.

[64] Tặng chức Bí thư tỉnh Trứ tác lang cho Thiệu Ung, nguyên là Suy quan Đoàn luyện châu Dĩnh, ban thóc và vải. Do Giả Xương Hoành, quan Tri phủ Hà Nam tâu rằng Thiệu Ung có đức hạnh nổi tiếng trong làng, xin ban tặng và ưu đãi. Tể tướng Ngô Sung xin Vua ban thụy hiệu là Khang Tiết.

(《Yếu lục》 chép: Thiệu Ung là người khoan hòa, không làm những việc quá khác thường, từ sự vận hành của trời đất, sự tiêu trưởng của âm dương, đều dùng số để suy đoán. Thiệu Ung ban đầu cùng Thường Trật được triệu, nhưng ông từ chối không nhận, các sĩ đại phu đều kính trọng. Án: Con trai Thiệu Ung là Bá Ôn ghi rằng sau khi Thiệu Ung mất 10 năm, Hàn Giáng làm Tri phủ Hà Nam, xin ban thụy hiệu cho ông, bài thụy nghị do Âu Dương Phỉ soạn, khác với bản truyện trong 《Tống sử》, nay theo 《Trường biên》.)

[65] Ngày Tân Hợi, chiếu cho Kỳ vương Hạo làm Á hiến trong lễ Nam Giao, Gia vương Quần làm Chung hiến.

[66] Ngày Nhâm Tý, ban chiếu rằng tông thất kết hôn không được kết hôn với nhà thuộc “tạp loại”. “Tạp loại” là chỉ những người mà chú từng làm nô bộc, cô từng làm kỹ nữ, cùng cha ông thuộc người ngoại tộc và những người hiện đang sống ở vùng biên giới thuộc hai nước. Con cháu của họ đều không được phép kết hôn với thân thích từ hàng đản miễn trở lên của hoàng gia. (Việc này căn cứ theo sự kiện ngày 5 tháng 9 năm Hi Ninh thứ 10 trong 《Chính Hòa Hội Yếu》, còn 《Thực Lục》 thì ghi vào ngày 24 tháng 8 năm sau, nhưng so với sự kiện này thì còn chi tiết hơn, có lẽ là để làm rõ thêm.)

Ngày 9 tháng giêng, Quyền Giám sát Ngự sử Lý hành Bành Nhữ Lệ tâu: “Nghe nói người tiến nạp ở Từ Châu là Thạch Hữu Lân đang bàn việc kết hôn giữa con trai mình với hai con gái của Tông Huệ, người cùng quản câu Tông chính sự. Hữu Lân giàu có nhất làng, mẹ của hắn là kỹ nữ. Xin hãy ban lệnh dừng việc này và trách phạt Tông Huệ.” Chiếu cho Kinh Đông Đông lộ Chuyển vận ty điều tra sự thật rồi tâu lên.

Ngày 2 tháng 5, Quyền Giám sát Ngự sử Lý hành Bành Nhữ Lệ lại tâu: “Nghe nói đã có chỉ dừng việc hôn sự của Tông Huệ và Thạch Hữu Lân. Tông Huệ là thân thuộc gần, giữ chức ở Tông chính, ân vinh đã đủ, nên nghĩ cách để làm gương cho tông thất, xứng đáng với ân sủng của các bậc tiên đế, nhưng lại tham lợi hèn hạ, làm nhục triều đình, xin hãy đặc biệt giáng trách để răn đe kẻ tham lam.”

Trước đó, Tông Huệ, người cùng quản câu Tông chính sự, có con gái gả cho con trai của Thạch Hữu Lân, người tiến nạp ở Từ Châu, mẹ của Hữu Lân là kỹ nữ. Ngự sử Bành Nhữ Lệ tấu xin dừng việc hôn sự và trách phạt Tông Huệ, chiếu cho Kinh Đông lộ Chuyển vận ty điều tra. Sau khi biết rõ sự thật, liền dừng việc này. Nhữ Lệ lại tấu xin trách phạt nặng Tông Huệ, đồng thời nói rằng hoàng tộc tuy đã xa về huyết thống, nhưng đều là con cháu của tông miếu, không thể để kẻ hèn hạ ngoài phố lấy tiền mà mua được, mong lập pháp cấm chỉ, nên mới có chiếu này.

(Tằng Triệu trong 《Chí Bành Nhữ Lệ mộ》 viết: Tông Huệ, người cùng quản câu Tông chính sự, có con gái gả cho con trai của Thạch Hữu Lân, người tiến nạp ở Từ Châu, Nhữ Lệ xin dừng việc hôn sự và trách phạt Tông Huệ.

《Thời Chính Ký》 ghi vào ngày 9 tháng giêng và ngày 2 tháng 5, so với 《Mộ Chí》 có chút khác biệt, nay tham khảo cả hai mà ghi chép. Ngày Giáp Thân tháng 11 năm thứ 8, Thế Khai từng dâng lời xin, nay mới ban chiếu.)

[67] Lấy chỗ cũ của Tư nông tự ban cho gia đình của Yến vương Tào (?) đã mất [11].

[68] Ngày Quý Sửu, cho con trai của quan phiên là Hoàng thành sứ, Huỳnh Châu đoàn luyện sứ Bao Thuận là Đông đầu cung phụng quan Kết Bô Cước làm Nội điện sùng ban.

[69] Chiếu rằng các kho thóc ở các sông, nếu nộp thóc đến năm sau mới chi dùng, thì mỗi thạch hao hụt một thăng, mỗi năm thêm một thăng, đến tám thăng thì dừng.

[70] Tri châu Diên Châu Lữ Huệ Khanh xin lấy 21 vạn quan tiền phong trang của Kinh lược ty mua thóc đúng thời, cho phép dùng tiền theo giá đổi chi, số tiền đó vẫn giữ nguyên như cũ để phong trang. Được chấp thuận.

[71] Ngày Giáp Dần, Đô đại đề cử tại kinh sở kho thóc Thẩm Hi Nhan tâu: “Năm Hi Ninh thứ 3, kho thóc ở các sông chi dùng lương thực tổng cộng 3.062.000 hộc, đến năm thứ 9, chi dùng 4.500.000 hộc.” Vua phê: “Có thể sai Kiểm chính quan xem xét kỹ lưỡng, so sánh từng năm để biết nguyên nhân tăng nhiều trong những năm gần đây rồi tâu lên.” Bèn sai Tất Trọng Diễn. (Việc này căn cứ theo 《Ngự tập》, không rõ sau đó Trọng Diễn so sánh thế nào.)

[72] Ngày Ất Mão, Kinh lược ty lộ Hoàn Khánh tâu: “Trại Tây Cốc ở Khánh Châu báo rằng có người xâm nhập biên giới phía tây, giết người cướp ngựa. Nay muốn bỏ qua việc giết người cướp ngựa, chỉ căn cứ vào việc người phương tây xâm nhập biên giới nhà Hán bắn bị thương dân thục hộ, gửi văn thư trả lời cho châu Hựu.” Được chấp thuận.

[73] Chiếu rằng: “Các cơ quan nhận được chỉ dụ truyền tuyên từ nội đình, tấu thỉnh hoặc được chỉ dụ trực tiếp, nếu không có điều lệ rõ ràng thì phải trình lên Trung thư, Xu mật viện để xem xét lại. Nếu việc không cần trình mà tự ý trình, sẽ bị xử tội theo quy định về việc trực tiếp phê chuẩn thánh chỉ. Các phòng ban không kiểm tra kỹ mà nhận và thi hành cũng bị xử tương tự. Các văn thư trình lên triều đình phải được chuyển qua Trung thư, Xu mật viện, không được trực tiếp phê thánh chỉ gửi đi các nơi. Nếu vi phạm, cơ quan nhận được phải báo cáo lên. Những ai vô cớ xin ân huệ hoặc xin giảm tội, Trung thư, Xu mật viện sẽ tấu hặc.”

(《Cựu kỷ》 chép: Chiếu rằng những việc truyền tuyên từ nội đình, phê chuẩn hoặc được chỉ dụ trực tiếp mà không có pháp lệnh, Trung thư, Xu mật viện phải xem xét lại. Nếu có ai xin xỏ hoặc trốn tránh, vẫn phải tấu hặc. 《Tân kỷ》 cũng chép tương tự.)

[74] Chiếu cho Cung bị khố phó sứ Lý Hiếu Tôn, Đông đầu cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Quản Vĩ, ngoài việc ghi chép cho con cháu, mỗi người được thêm một người con được bổ nhiệm làm Tam ban tá chức, vì họ đã chết trong quá trình tham gia hành dinh An Nam.

[75] Ban thưởng 5 vạn thạch quân lương cho Kinh đông tây lộ chuyển vận ty.

[76] Ngày Tân Dậu, chiếu rằng Trấn Nhung, Đức Thuận quân mỗi nơi đặt một viên Đô giám.

[77] Chiếu rằng tại kinh đình tạm dừng việc tu tạo trong 7 năm.

(Ngày Bính Tuất tháng 8 năm thứ 8, đã có chỉ dụ tạm dừng trong 7 năm, cần xem xét lại.)

[78] Ngày Nhâm Tuất, Vua nói với Cao Tuân Dụ, người mới được bổ nhiệm làm Tri Khánh châu: “Nguyên Hạo không gây rối ở Hoàn Khánh, không phải vì địa thế hiểm trở, mà vì ở đó có Ô Trì, nhờ vào thanh diêm để hỗ trợ chi phí. Nay chỉ cần thận trọng phòng bị, không nên chỉ dựa vào địa thế hiểm trở.” Tuân Dụ ở lại kinh đô nửa tháng, Vua phê: “Lệnh cho Cáp môn lập tức thúc giục ra khỏi cửa.”

(Việc thúc giục ra khỏi cửa được ghi trong 《Ngự tập》 ngày mùng 3 tháng 10.)

[79] Thị ngự sử tri tạp sự Thái Xác tâu: “Việc xét định nạo vét sông Hoàng Hà và kênh vận tải, xét từ đầu đến cuối, liên quan đến nhiều quan lại các châu huyện phụ trách đê điều. Nếu đều trị tội theo pháp luật, không chỉ số người bị hặc tội nhiều, mà cũng khó kết thúc. Xin không truy cứu tội.” Vua nghe theo.

Tháng 5, ngày Canh Ngọ, Thái Xác vừa nhận mệnh xét định việc kênh vận tải ở Vệ Châu và nạo vét sông Hoàng Hà, e rằng lời tâu này chỉ xin không truy cứu quan lại kênh vận tải ở Vệ Châu mà thôi. Không đề cập đến quan lại nạo vét, cần xem xét kỹ hơn. Hoặc chỉ miễn tội cho quan lại phụ trách đê điều. Kênh vận tải do Trình Phưởng đào, có thể tra cứu trong sách của Hùng Chí. Ngày Kỷ Tỵ tháng giêng năm Nguyên Phong thứ nhất, Hùng Bản bị khiển trách.

[80] Ngày Quý Hợi, lấy Đồn điền lang trung, Thị ngự sử Chu Doãn làm Đề điểm Kinh Hồ Bắc lộ hình ngục. Trước đó, Chu Doãn dâng tấu rằng: “Ở lộ Thành Đô phủ, việc lập trường mua độc quyền trà các châu, thu hết về quan, gây hại lớn cho công tư. Ban đầu, Lý {Mộc Tỵ} thi hành pháp lệnh tồi tệ, cướp lợi dân chưa nhiều, nên mối họa còn nhẹ.

Đến khi Lưu Tá thay chức, tăng tiền lãi gấp đôi, không có biện pháp gì khác, chỉ biết bóc lột dân chúng, khiến dân không thể sống nổi. Đại thể ở Thục, người trồng trà khổ sở vì bị ép cân lượng, tiền chi trả bị xâm phạm giá trị; ở Hi, Tần châu, giá quan quá cao, dân gian phạm pháp không thể ngăn cấm, lại thêm việc vận chuyển không kịp, hao phí nhân lực, tích trữ lâu ngày, mưa gió làm hư hỏng, vứt bỏ bên đường, như phân đất.

Hơn nữa, khách buôn không thể qua lại, chỉ có những kẻ vô lại kết bè đảng, cầm vũ khí buôn lậu, làm thất thu thuế. Ty trà nhận hư ngạch, lại liên tiếp tham nhũng, hình phạt ngày càng nhiều, gây hại hàng ngàn dặm, thật đáng lo ngại.

Thần trước ở kinh sư, nghe đồn việc này, chưa rõ chi tiết, đâu dám bàn bậy. Nay nhận mệnh vào Thục, đi đến đâu cũng hỏi han, mới biết việc mua trà gây hại rất lớn, có các tấu chương của Tri Bành châu Lã Đào, Tri Thục châu Ngô Sư Mạnh có thể tham khảo.

Trước đây, {Mộc Tỵ}, Tá liên tiếp dâng tấu pháp lệnh hà khắc, liền tin dùng lời họ, chẳng hề xem xét kỹ. Nay những người bàn luận chỉ ra những tệ hại, đều rõ ràng, nhưng chưa được nghe theo, sao lại dũng cảm trong việc mưu lợi mà nhút nhát trong việc trừ hại?

Thần mong sắc cho hữu ty nhanh chóng xem xét tệ hại của việc độc quyền trà, thuận theo ý dân, giảm bớt nỗi lo cho vùng Tây Nam.”

Lại nói: “Xét kỹ ý của triều đình, chưa muốn vội bỏ lệnh cấm trà, ắt là vì việc mua ngựa hàng năm ở Hi Hà lộ, trà là thứ cấp thiết nhất. Nhưng sau khi thông thương, số tiền thuế trà cũ của các lộ trước đây, tổng cộng hơn hai mươi chín vạn quan, đã được khôi phục như cũ, có thể giao cho các lộ Chuyển vận ty một mặt quản lý để chuyển đến Hi Hà lộ, ngoài ra còn có trà quan hiện nay, tích trữ rất nhiều ở các châu huyện, đủ chi trả cho việc mua ngựa trong vài năm, từ nay thương nhân buôn bán trà ở Tần châu, Hi Hà lộ, ắt sẽ có đủ.

Thần xét hỏi việc bãi bỏ cải cách, đều là điều thương nhân mong muốn, mong sớm hạ lệnh cho bản lộ các nơi điều tra, nếu những điều thần trình bày là thực, xin bãi bỏ phép chuyên trà, cho phép thông thương mua bán, để yên ổn phương xa.” Doãn trở về, chưa đến kinh đô thì có lệnh này.

(Tấu chương của Lã Đào đã ghi kèm ngày 21 tháng 5, tấu chương của Ngô Sư Mạnh cần tra cứu. Nay trong mộ chí của Sư Mạnh cũng không ghi chép việc này. Bản chí chép: Lúc đó, người Thục là Thị ngự sử Chu Doãn vì phản đối phép trà, bị bãi chức.)

[81] Ngày Giáp Tí, Kinh lược ty Quảng Nam Tây lộ tâu: “Giám áp trấn Thiên Long, Ung châu là Đặng Phủ tự tiện cáo bệnh rời bỏ chức vụ, xin không được xá tội dù có ân xá.” Theo đó.

[82] Ngày Ất Sửu, Tri Thái Nguyên phủ Hàn Giáng xin tuyển chọn bề tôi tài năng, lệnh cùng thần và Giám ty đặt cơ quan ở Thái Nguyên phủ, bàn bạc tìm hiểu lợi hại của việc hòa địch. Chiếu cho Quyền phát khiển Hộ bộ phó sứ Trần An Thạch đi ngựa trạm cùng Chuyển vận ty bàn bạc tìm hiểu lợi hại rồi tâu lên. Ngày mùng một tháng nhuận năm Nguyên Phong thứ nhất sai Trần An Thạch đi. (Giáng lần đầu kiến nghị vào ngày 14 tháng 12 năm Hi Ninh thứ nhất.)

[83] Chiếu đổi tên cửa Bắc thượng lưu sông Biện thành Tuyên Trạch. Cửa nước hạ lưu sông Biện cũ, phía Nam gọi là Thượng Thiện, phía Bắc gọi là Thông Tân. Cửa nước thượng lưu cả phía Nam và Bắc đều gọi là Đại Thông, nên đổi tên như hiện nay. Cửa nước hạ lưu sông Ngũ Trượng gọi là Thiện Lợi, còn cửa nước thượng lưu trước không có tên, ban tên là Vĩnh Thuận.

[84] Ngự sử Bành Nhữ Lệ tâu: “Nghe nói tháng 7, Liêu Ân vượt sông Quế Khê, các châu Tín, Hấp và Nhiêu đều cảnh giác, quan Đề điểm hình ngục của bản lộ là Tô Trừng sợ hãi bỏ trốn, đem cả nhà chạy đến Kim Lăng, dừng lại ở Quảng Đức, giặc rút rồi mới trở về. Xét chức trách của Đề điểm hình ngục là chuyên trị giặc, Trừng được triều đình ủy thác mà không thể bảo vệ biên cương, giặc đến thì bỏ chạy trước, xin xét rõ để thi hành.” Chiếu cho Giang Đông chuyển vận ty xem xét.

[85] Nhữ Lệ lại tâu: “Gần đây bàn về tội ác của Du Sung, vâng chiếu xét lại. Nghe nói Sung đang để tang cha mẹ mà lại cùng quan châu ôm gái uống rượu say, ỷ thế lộng quyền, cấu kết với người tại chức, bán nhiều ruộng công, nghi ngờ tham nhũng, lại mượn tên người khác để chuyển nhượng; còn cưỡng đoạt tiền của dân giàu không trả, người làng oán hận, tranh nhau nộp đơn tố cáo tội của hắn lên châu; khéo léo phụng sự hoạn quan để đánh cắp danh tiếng. Xin xét kỹ để thi hành.”

Chiếu lệnh cho Du Sung giải trình. (Sung giải trình vào ngày 9 tháng 10, sách 《Trung thư thời chính ký》 có ghi đầy đủ, có thể lược bớt. Ngày 24 tháng 7 Nhâm Thân, Du Sung làm Đô kiểm chính; ngày 14 tháng 10, lệnh cho các ty giám sát Lưỡng Chiết điều tra; ngày 5 tháng 12, Sung được điều chuyển làm quan khác.)

[86] Chiếu cho Tần Phượng lộ xét việc do thám của Khách Mộc và Mãng Ước Khắc, lệnh cho Kinh lược ty tùy mức lớn nhỏ mà thưởng.

[87] Ngày Mậu Thìn, Kinh Nguyên lộ Kinh lược ty tâu: Quân Đức Thuận bắt được 14 người bộ lạc Tát Sấm của Tây giới do Vũ Tang Uyển Ma sai đến bán ngựa. Chiếu lệnh cho Kinh lược ty ước tính giá trị, cấp tiền an ủy rồi cho về. Có người nói Tát Sấm không phải đến bán ngựa mà thực chất là do thám, Thái Diên Khánh nói: “Họ nghi ngờ nên đến dò xét; bắt họ thì càng làm họ nghi ngờ.” Cuối cùng cho về.

[88] Ngày Kỷ Tỵ, cựu Chuyển vận sứ Lưỡng Chiết, Đồn điền lang trung Du Hi Đán bị giáng một chức, làm Tri Hoài Dương quân; cựu Chủ bạ huyện Hoa Đình, châu Tú là Trần Lương Nhụ cùng 4 người khác đều bị cách chức. Vì xét việc của Trương Nhược Tế không đúng sự thật.

[89] Ban cấp 2.000 cây cung Khoát Thiểm, 3.000 thanh đao Phách Trận cho Kinh lược ty Phu Diên lộ để quân đội sử dụng, theo lời thỉnh cầu của Kinh lược sứ Lữ Huệ Khanh.

[90] Chiếu cho An phủ ty lộ Chân Định phủ chuyên trách việc đề cử sửa chữa các tường thành bị sụp đổ của các châu quân, nhân công và vật liệu do Chuyển vận ty cấp tốc ứng phó.

[91] Ngày Canh Ngọ, sai Nhập nội đô tri Trương Mậu Tắc, Phán đô thủy giám Tống Xương Ngôn, Quyền phán đô thủy giám Lưu Cáp đắp đê chỗ vỡ ở Tào Thôn.

[92] Chuyển vận ty lộ Lợi châu tâu: “Xin bãi bỏ Trà trường ty, cho phép thông thương như cũ. Lệnh cho bốn lộ phong trang thuế trà hàng năm cùng tiền khách nhân đóng góp yết đà, cuối năm báo số, theo số tiền lãi thu được của Trà trường ty chuyển đổi thành vàng lụa, giúp lộ Hi Hà mua ngựa.” Chiếu cho Đề cử trà trường Lý Tắc so sánh rồi tâu lên. (Ngày Giáp Tuất tháng 5 năm Nguyên Phong thứ nhất, Trương Tông Ngạc, Trương Thăng Khanh bị trị tội. Bản Chu nhập vào ngày Giáp Tuất tháng 5 năm sau, nay theo bản mới khôi phục lại.)

[93] Đông thượng các môn sứ Địch Tư cùng đề cử việc dạy tập kỵ binh[12]. Trước đó, có chiếu chỉ chọn dạy nội thần và kỵ binh võ nghệ để chỉ dẫn các quân, lệnh cho Vương Trung Chính đề cử việc dạy tập. Khi Trung Chính đem quân đi đánh Liêu Ân, lại lệnh cho Địch Tư quyền đề cử. Sau khi Trung Chính trở về, vẫn lệnh cho Địch Tư kiêm nhiệm cùng đề cử.

(Sách 《Thực lục》 chép việc đề cử dạy tập kỵ binh, nhưng không ghi đầy đủ đầu đuôi, chỉ vào ngày 23 tháng 9 chép rằng Địch Tư cùng đề cử, có lẽ là căn cứ theo 《Ngự tập》. Nay dùng 《Ngự tập》 quyển 110, ngày 23 tháng 9 năm thứ 10, tờ chiếu tay để bổ sung sửa chữa.

Lại theo 《Mật viện thời chính ký》: Ngày mùng 8 tháng 3, đổi sai Vương Trung Chính đề cử việc dạy tập kỵ binh. Đó chính là mệnh lệnh ban đầu. Ngày 25 tháng 2 năm Nguyên Phong thứ 3 (Kỷ Mùi), cũng nói rằng vào tháng 3 năm Hi Ninh thứ 10, bắt đầu lệnh cho Trung Chính đề cử. Chiếu chỉ chọn dạy nội thần và kỵ binh võ nghệ để chỉ dẫn các quân, điều này căn cứ theo 《Cựu lục》 truyện Vương Trung Chính, 《Tân lục》 đã bỏ đi, nay lược lấy lại. Trung Chính vào ngày mùng 9 tháng 7 đi đánh Liêu Ân, ngày mùng 5 tháng 8 được triệu về.

Ngày 19 tháng 9 năm Hi Ninh thứ 7 (Giáp Dần), ngày 23 tháng 9 năm Hi Ninh thứ 10 (Canh Ngọ), ngày 14 tháng 5 năm Nguyên Phong thứ 2 (Tân Tỵ), ngày 25 tháng 2 năm Nguyên Phong thứ 3 (Kỷ Mùi), ngày 11 tháng 3 (Giáp Tuất), ngày 11 tháng 5 (Quý Dậu), ngày 18 tháng 6 (Kỷ Dậu), ngày mùng 3 tháng 11 (Tân Mão), ngày 17 tháng 11 năm Nguyên Phong thứ 5 (Giáp Ngọ), ngày mùng 5 tháng 2 năm Nguyên Phong thứ 6 (Tân Hợi). 《Cựu lục》 truyện Vương Trung Chính chép: “Giặc cướp lớn ở Phúc Kiến là Liêu Ân tụ tập cướp bóc, lâu ngày chưa bắt được, có chiếu lệnh cho Trung Chính đi bắt giết. Trung Chính chia quân đường thủy và đường bộ cùng tiến, tỏ rõ ân tín, Liêu Ân cùng đồng bọn thế cùng, bèn cởi giáp ra hàng. Có chiếu lệnh đề cử việc dạy duyệt kỵ binh ở kinh thành, Trung Chính đem hết các loại cung nỏ và binh khí do mình chế tạo, cùng các phương pháp đánh, đâm, sử dụng và bắn cung bộ binh dâng lên, sau khi thử nghiệm, đều có thể dùng được, chiếu ban hành. Thăng chức Phòng ngự sứ.

Chiếu chỉ chọn dạy nội thần và kỵ binh võ nghệ để chỉ dẫn các quân. Sở đề cử dạy tập kỵ binh[13], dạy con em các quan và học sinh võ học, tổng cộng mấy trăm người. Sau khi hoàn thành, dẫn vào yết kiến, thăng bổ có sai biệt.

Năm Nguyên Phong thứ nhất, đề cử việc dạy duyệt dân binh các huyện thuộc phủ Khai Phong, dạy bảo các tướng quân trong phủ về trận pháp và võ nghệ. Kiêm chức Đô đại đề cử tuần kiểm trộm cướp phủ Khai Phong, lại dâng phương pháp dân binh bảo vệ lẫn nhau, và xin dựng trường tập đoàn ở các thôn lân cận, đặt trường tập hợp ở huyện, để dạy tập theo thời gian. Chiếu đều theo đó.

Chưa đầy một năm, đến điện tiền xem duyệt, những người có kỹ năng xuất sắc được bổ làm quan, số còn lại được thưởng vàng lụa theo thứ bậc. Từ đó, đem phương pháp này ban hành xuống ba lộ Hà Bắc, Thiểm Tây, Hà Đông, và đặt chức sứ đề cử, giống như ở phủ Khai Phong.”

Từ “Trung Chính đem hết” đến “chiếu ban hành” tổng cộng 33 chữ, 《Tân lục》 đã bỏ đi; lại từ “Chiếu chỉ chọn dạy nội thần” đến “thăng bổ có sai biệt” tổng cộng 45 chữ, 《Tân lục》 cũng bỏ đi.)

[94] Ngày Nhâm Thân, ban chiếu rằng: “Gần đây Phạm Tử Uyên tâu xin dùng bè để nạo vét bãi cát phía bắc sông Hoàng Hà ở Huỳnh Trạch, giải quyết tình trạng nguy cấp ở bờ nam, có thể giao cả hai việc này cho sở định đoạt xem xét.” Thượng đã lệnh cho Thái Xác và những người khác định đoạt việc đúng sai của Hùng Bản và Tử Uyên, lại lệnh cho Phùng Tông Đạo giám sát.

Tử Uyên dùng bè nạo vét sông Biện, Tông Đạo đo đạc dòng sông Biện, có chỗ sâu hơn trước, có chỗ bị bùn cát lấp đầy, cạn hơn trước, có chỗ không tăng không giảm, đại thể chia làm ba phần, mỗi phần chiếm một.

Tông Đạo hàng ngày tâu lên sự thật, ý Vua dần tỉnh ngộ, việc xét xử hơi chậm lại. Gặp lúc đê sông Hoàng Hà ở Huỳnh Trạch sắp vỡ, ban chiếu cho phán đô thủy giám Du Sung đến xử lý. Sung tâu rằng sông sắp vỡ, nhờ dùng bè nạo vét sông để dẫn nước mà được hoàn thành. Tử Uyên nhân đó vẽ đồ trạng để tự minh oan, Vua mừng, do đó việc xét xử càng gấp hơn.

[95] Ngày Quý Dậu, ban chiếu rằng: “Các lộ Phúc Kiến đang xét xử việc giặc cướp nổi lên, mà những nơi bị cướp không lập tức truy bắt, và thấy giặc trì hoãn, quan chức tại chỗ và những kẻ cùng làng với bọn giặc ở đó nhiều nhất. Các quan chức châu huyện dù gặp lễ xá tội sắp tới, cũng không được tha.”

[96] Quyền phán đô thủy giám Du Sung tâu: “Cửa sông Biện gần đây bị cắt giảm, sửa đổi quá mức, việc khó hoàn thành. Xin từ nay sai đại sứ thần phụ trách cửa sông Biện, một tiểu sứ thần tuần tra hai bên sông, ty đô đại Kinh Tây sai hai sứ thần phụ trách việc, chỉ huy Hà Thanh và Quảng Tế tăng lên tám trăm người[14], cửa sông Biện hàng năm sai một nghìn năm trăm quân sương.” Theo đó.

[97] Ban chiếu cho đề điểm phủ Khai Phong trước hết lập pháp nghĩa thương ở các huyện phong đăng trong kinh kỳ. (《Cựu kỷ》 nói là lần đầu lập nghĩa thương, 《Tân kỷ》 nói lập nghĩa thương bắt đầu từ trong kinh kỳ. Ngày Canh Tuất tháng 3 năm Nguyên Phong thứ nhất, mới ban chiếu bắt đầu từ trong kinh kỳ.)

[98] Giáng chức quyền phát khiển phó sứ chuyển vận lộ Phúc Kiến, đồn điền lang trung Lý Tủng một bậc, thay chức, vì trong lộ có giặc nổi lên mà không lập tức đến nhậm chức.

[99] Ngày Giáp Tuất, Chương Đức quân Tiết độ sứ, Đồng bình chương sự, Bộc quốc công Tông Phác được kiêm chức Thị trung, tiến phong làm Bộc Dương quận vương, xếp dưới Văn Ngạn Bác. Tông Phác lâu ngày bệnh nặng, Vua phê rằng: “Tông Phác là thân thuộc gần của Tiên đế, trung thành cẩn thận, ít lỗi lầm, có thể cho kiêm chức Thị trung, tước quận vương. Lệnh chế nên ban tối nay, ngày mai ban chế.” Năm ngày sau, Tông Phác mất, triều đình ngừng chầu để đến viếng, truy tặng Thái sư, Trung thư lệnh, truy phong làm Khang vương, thụy là Hi Mục. Sau đó lại ban cho ấn tín Tiết độ sứ Chương Đức quân để tùy táng. Tông Phác mất ngày 7 tháng 10, nay ghi chép lại. (《Cựu kỷ》 chép Tông Phác kiêm Thị trung, phong Bộc Dương quận vương, 《Tân kỷ》 theo đó.)

[100] Trung thư tâu: “Đô thủy giám Thừa Phạm Tử Uyên tâu: Theo lệnh triều đình, đã nạo vét sông Biện, được cử quan nhiều lần thử nghiệm, công hiệu rõ ràng. Thần xin đợi đến mùa đông này hoàn thành việc nạo vét sông Biện, sẽ phân phát các dụng cụ nạo vét, thuyền bè cho các sứ thần ở các địa phương, lệnh sau khi đóng cửa sông, trước hết kiểm tra đo đạc những chỗ bùn lắng trong lòng sông, đến mùa xuân tiếp tục nạo vét, để sông thông suốt từ trên xuống dưới, không bị tắc nghẽn. Đồng thời miễn cử quan khác, tránh chiếm dụng binh lính, thuận tiện hoàn thành công việc. Xin giao xuống Đô thủy giám và các ty giám, cho thi hành theo lời tâu.” Vua đồng ý. (《Hội yếu》 chép việc này ngày 28 tháng 9.)

[101] Quyền phát khiển Hà Bắc Tây lộ Đề điểm hình ngục Đinh Chấp Lễ tâu: “Các huyện ấp hiện nay, thành cũ vẫn còn, nhưng đổ nát hư hỏng, không đủ vững chắc. Xin chọn những viên lệnh tài giỏi, khuyến khích các hộ trung và thượng trong thành xuất phu, giúp sức công việc, dần dần sửa chữa.” Chiếu rằng: “Các lộ Chuyển vận ty giao cho các tri châu, tri huyện kiểm tra, tính toán vật liệu cần thiết để tu sửa tường thành, khuyến khích vào năm được mùa. Năm lộ trừ vùng biên giới, chọn những huyện đông dân và trọng yếu, các lộ trước hết tu sửa các quận lớn.”

Ban đầu, Chấp Lễ từ chức Hiệu khám Quán các ra làm Đề điểm hình ngục, tháng 7 năm đó, Vua tuyên dụ rằng: “Trẫm xem Hà Sóc là đất trọng yếu, nên chọn kỹ các giám ty, nên dùng cựu Ngự sử làm chức này.” Lại nói: “Khanh phụ trách hình ngục, trộm cướp, nhưng trộm cướp là việc cấp bách nhất, nên dốc lòng đốc thúc bắt giữ.”

(Lời tuyên dụ của Vua, việc này căn cứ theo 《Hội yếu》 ngày 5 tháng 7, nay phụ chép vào đây.)

[102] Chiếu rằng Phúc Kiến lộ vừa trải qua nạn trộm cướp, cần dựa vào giám ty để an dân và sắp xếp, Kiển Chu Phụ nên vẫn giữ chức Phúc Kiến lộ Chuyển vận sứ, Vương Cư Khanh làm Kinh Đông lộ Chuyển vận sứ. Ban đầu, lệnh cho Chu Phụ và Cư Khanh đổi chức cho nhau.

[103] Chiếu sai Tuần kiểm tại thành Bắc Kinh, Nội điện Sùng ban Trương Hi tu sửa thành Minh châu.

[104] Ngày Ất Hợi, chiếu cho Xu mật viện: “Gỗ mua để tu sửa Thanh Biện của Trình Phưởng, chưa bán hết, giao cho các quan ty phụ trách giao hết cho Tứ châu mua đá, quan Nội cung phụng Tào Di Tôn quản lý áp tải lên kinh, tu sửa thêm các cổng thành.”

[105] Lại chiếu: “Gần đây Lưu Thuấn Khanh xin giữ lại người phương Bắc đầu hàng là Khoa Cách ở Đại châu, để nhận diện gián điệp nước họ, đã chấp thuận. Xét lại châu này gần biên giới, việc lớn nhỏ họ đều biết. Năm trước giữ lại Sắc Cách, đã có thể kiểm chứng. Nay đã giữ lại, ắt sẽ gây tranh chấp. Nên cho đưa đến Thái Nguyên, đợi khi bắt được gian nhân, theo lời tâu của Thuấn Khanh để xét thật giả.”

[106] Ngày Bính Tý, chiếu cho Nguyên châu đặt thêm một chỉ huy Quy Viễn, lấy 500 người làm định mức, còn chỉ huy Tĩnh Giang mới đặt thì không tuyển thêm nữa.

[107] Các miếu thờ Long Nữ ở các đê sông Hoàng Hà, đều lấy tên là Linh Tân, phong thần hiệu là Tế Phu Nhân.


  1. 'Phân phiên' hai chữ nguyên bản đảo ngược, căn cứ vào bản trong các kho lưu trữ mà sửa lại
  2. chữ 'ngộ' nguyên là 'vu', theo các bản khác sửa lại
  3. chữ 'ninh' nguyên là 'hoàn', theo các bản khác và văn cảnh sửa lại
  4. Quyền Phát khiển Tần Phượng đẳng lộ Chuyển vận Phó sứ, chữ 'phát' nguyên bản thiếu, theo 《Tống hội yếu》 chức quan 44-42 bổ sung.
  5. Căn cứu tịnh vô lỗ lược Hạ quốc tư súc, chữ 'tịnh' nguyên bản thiếu, theo các bản khác bổ sung.
  6. 'trực' nguyên là 'tiền'. Xét: Đời Tống không có chức 'điện tiền', mà võ quan tiểu sứ thần có chức tả, hữu ban điện trực, xem 《Tống sử》 quyển 169 chức quan chí, 《Chức quan phân kỷ》 quyển 44 điều về hoành hành đông tây ban đại tiểu sứ thần, 《Triệu Ngạn Vệ Vân Lộc Mạn Sao》 quyển 4, chữ 'tiền' ở đây rõ ràng là sai, nên sửa thành 'trực'.
  7. Chữ 'tà' trong 'Hô Hàn Tà thiền vu' nguyên bản thiếu, căn cứ theo 《Hán thư》 quyển 8 《Tuyên Đế kỉ》, quyển 94 hạ 《Hung Nô truyền》 bổ sung.
  8. Kiểm chính Đề điểm Ngũ phòng công sự, chữ 'Kiểm' nguyên bản viết là 'Hiệu'. Xét: Thời Tống không có chức 'Hiệu chính', mà Trung thư tỉnh có chức Kiểm chính, chuyên trách sửa chữa công vụ trong tỉnh, xem Sử Tống, quyển 161, Chức quan chí, chữ 'Hiệu' ở đây rõ ràng là sai, nên sửa thành 'Kiểm'.
  9. Xin theo phép của Giang, Hoài phát vận sứ, chữ 'Vận' nguyên là 'Khiển'. Xét: Nhà Tống không có chức 'Phát khiển sứ', căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 167, Chức quan chí, 'Phát vận sứ, Phó, Phán quan, chưởng quản việc kinh doanh nguồn tài nguyên sơn trạch, vận chuyển lương thực từ Hoài, Chiết, Giang, Hồ sáu lộ về Trung đô, kiêm quản việc trà, muối, tiền tệ', chữ 'Khiển' rõ ràng là sai của chữ 'Vận', nên sửa lại.
  10. Bảo châu, chữ 'châu' bản gốc chép là 'định', căn cứ theo các bản khác và bản in hoạt tự sửa lại
  11. Yến vương Tào (?): Xem 《Tống sử》 quyển 258, truyện Tào Bân và 《Đông đô lược》 quyển 27, truyện Tào Bân, đều chép rằng Tào (?) được truy tặng làm Ngô vương.
  12. Đông thượng các môn sứ Địch Tư cùng đề cử việc dạy tập kỵ binh, hai chữ 'kỵ binh' ban đầu bị đảo ngược, căn cứ theo bản trong các và văn dưới sửa lại cho đúng
  13. Sở đề cử dạy tập kỵ binh, hai chữ 'kỵ binh' ban đầu bị đảo ngược, căn cứ theo văn trên và quyển 281 năm Hi Ninh thứ 10, tháng 3, ngày Mậu Ngọ, cùng quyển 302 năm Nguyên Phong thứ 3, tháng 2, ngày Kỷ Mùi sửa lại cho đúng
  14. Chỉ huy Hà Thanh và Quảng Tế tăng lên tám trăm người, chữ 'Bát' nguyên là 'Công', theo 《Tống hội yếu》 phương vực 16-9 sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.