VI. TỐNG THẦN TÔNG
[BETA] QUYỂN 316: NĂM NGUYÊN PHONG THỨ 4 (TÂN DẬU, 1081)
Bắt đầu từ tháng 9 năm Nguyên Phong thứ 4 đời Thần Tông đến hết tháng đó.
[1] Tháng 9, ngày Giáp Thân (mùng 1), Tri quân Trấn Nhung là Chủng Chẩn tâu: “Ở các nơi như Hưng Châu, Linh Châu có nhiều người Hán cũ, đều là những người bị Nguyên Hạo bắt giữ, thường có lòng nhớ về nhà Hán. Xin ban chỉ dụ rõ ràng, nói rằng họ Lương tàn hại chủ của họ, khiến lòng người ly tán, nếu có thủ lĩnh nào quy thuận, hãy đặc cách ban cho quan tước.” Chiếu gửi cho Cao Tuân Dụ, ban 20 đạo sắc bảng giao cho Ty Kinh chế đô đại Hi Hà, lệnh cho chiêu mộ nhiều người tình nguyện, truyền đạt đến vùng địch.
[2] Lý Hiến tâu: “Đã phái sứ thần Sử Thành mang thư đến hẹn với Quỷ Chương nơi hội quân, đồng thời dò xét hướng đi của quân Phiên.”
[3] Ngày Ất Dậu (mùng 2), Vua phê: “Việc dùng binh ở Thiểm Tây, Hà Đông tuy đã có lệnh cấm tiết lộ, nhưng gần đây nhiều thông tin đã được truyền đến các châu quân biên giới Hà Bắc, rõ ràng là các quan văn võ hiện nay đang tham gia việc này đã tiết lộ sự việc qua thư riêng. Hãy lệnh cho các ty Chuyển vận, Kinh lược ở các lộ Hà Đông, Thiểm Tây ràng buộc chặt chẽ các quan văn võ dưới quyền, không được thông thư với người thân quen ở Hà Bắc và các nơi khác bàn việc biên giới, nếu bị phát hiện, sẽ bị trói giải vào ngục, phế bỏ suốt đời.”
[4] Ty Kinh lược lộ Hi Hà tâu: “Thủ lĩnh Đổng Chiên là Lý Sất Nạp Khâm vào cống, nói rằng Đổng Chiên đã phái thủ lĩnh Lạc Thi Quân Đốc Kiều A Công và thủ lĩnh thân binh Mạt Chinh Tuân, vào ngày Tân Sửu tháng 7 (16) dẫn hơn ba vạn người đến sông Đảng Long Nhĩ, Tiên Nam cùng các nơi như Lũng, Chu, Kha Nặc để đánh nước Hạ.”
(Ngày Tân Sửu tháng 7 là ngày 16.)
[5] Cùng ngày, Lý Hiến tiến vào Lan Châu.
(Ngày Ất Dậu là ngày mùng 2 tháng 9, theo tấu ngày Bính Thân 13. Sách kỷ mới chép vào ngày Ất Dậu, sách kỷ cũ chép vào ngày Ất Mùi, sách kỷ cũ sai. Sách kỷ mới chép: “Ngày Ất Dậu, Kinh chế Hi Hà Lý Hiến chiếm lại Lan Châu.”)
[6] Ngày Bính Tuất, châu Thiền báo cầu phao bị hư hỏng. (Tháng 12, ngày Mậu Thìn, việc sửa cầu hoàn tất.) Ty Chuyển vận lộ Phu Diên tâu xin sau khi xuất quân, giao trách nhiệm chính cho quan Tổng lĩnh binh lo việc phòng hộ lương thảo. Chiếu rằng quân và lương phải đi đôi với nhau, lệnh phải luôn đi cùng. Quyền Phát khiển Kinh lược An phủ ty lộ Hoàn Khánh là Cao Tuân Dụ xin chiếu cho các lộ biên giới không được tùy tiện báo giặc Tây xâm phạm, tránh việc giết chóc quá nhiều, e khiến người Khương sinh nghi, ảnh hưởng đến việc chiêu nạp. Chiếu gửi văn thư cho Vương Trung Chính.
Chủng Ngạc tâu: “Ty Kinh lược lộ Kinh Nguyên tâu xin toàn quân xuất cảnh, nhưng trong nước lấy quân nào làm phòng bị? Thần xét trước đây triều đình đã cử Từ Hi đến các lộ sắp xếp, quy định số quân phòng thủ, dùng nghĩa dũng, bảo giáp cùng các quân già yếu và quân không thuộc biên chế thay thế quân tráng niên ra trận, nên tuân theo pháp thức đã định.” Chiếu cho Ty Kinh lược lộ Kinh Nguyên thi hành theo đó.
[7] Giáng chức Tri phủ Giang Ninh, Long Đồ các Trực học sĩ, Triều phụng đại phu Lưu Tường một bậc, làm Tri châu Trừ. Vì người ông tiến cử phạm tội tham nhũng.
[8] Ngày Đinh Hợi, Đô đại Kinh chế quân đánh giặc Man châu Lô là Lâm Quảng tâu: “Quan Ty Chuyển vận lộ Tử Châu là Trình Chi Tài bị bắt giam, Đổng Việt bị cách chức, quân sắp xuất chinh, việc ở biên giới chưa có người quản lý.” Chiếu cho Quyền Phát khiển Đề cử Thường bình đẳng sự là Giang Diễn kiêm Quyền Chuyển vận phán quan, Miêu Thời Trung đi theo quân.
[9] Chiếu cho Ty An phủ lộ Đại Danh phủ chỉ huy các đơn vị dưới quyền, từ nay việc do thám không được báo lên Ty An phủ lộ Đại Danh phủ.
[10] Chiếu rằng: “Ty Đô đại Kinh chế lộ Hi Hà đã xuất quân đánh bại giặc Tây, e rằng giặc sẽ tập trung binh lực một lộ để chống lại quân triều đình, lệnh cho Vương Trung Chính, Cao Tuân Dụ dời quân đến gần biên giới đóng trại để kiềm chế thế giặc. Nếu việc hành quân đã sẵn sàng, hãy tùy cơ tiến đánh, không cần tuân theo ngày đã định, nhưng phải báo cáo từng bước.”
[11] Lạc Uyển sứ Miêu Lý, Tả Thị cấm Ký ban Chi hậu Lý Vũ làm sứ phó vào Tây Phiên để phủ dụ, mỗi người được thăng một chức.
(Sách 《Tân kỷ》 chép ngày Đinh Hợi đánh bại quân Hạ ở Tây Thị, liên quan đến việc ngày Ất Dậu Lý Hiến thu phục Lan Châu. Xét tin thắng trận Tây Thị báo về ngày Mậu Tý, nay không chép việc này vào ngày Đinh Hợi, sách 《Cựu kỷ》 cũng ghi việc thắng trận Tây Thị, Tân Thành vào ngày Đinh Hợi, nay đều không dùng.)
[12] Ngày Mậu Tý, chiếu rằng: “Từ Kinh Nguyên tiến đến Hưng, Linh, đường đi gần, đồng bằng rộng rãi, dễ kiếm nước cỏ. Lệnh cho Cao Tuân Dụ chỉ huy quân Hoàn Khánh hợp với quân Kinh Nguyên kết thành đại trận, theo đường Kinh Nguyên tiến đánh, lại lệnh cho Lô Bỉnh phân chia quân chiến đấu và phòng thủ, đều nghe theo sự điều động của Tuân Dụ.”
(Bỉnh lúc đó là tướng Kinh Nguyên.)
[13] Cơ quan Đô đại Kinh chế Hi Hà lộ báo tin thắng trận Tây Thị, Tân Thành.
(Thắng trận vào ngày 23 tháng 8[1].)
[14] Chiếu cho Lý Hiến: “Khi quân ta chưa xuất cảnh, trong ngoài đều lo lắng về sự mạnh mẽ của quân Hạ, sợ rằng quân ta khó đạt được thắng lợi toàn vẹn. Nay vừa gặp phải đồn lũy kiên cố, mà có thể một trận đánh tan tác, nếu không phải tướng soái có mưu lược, sao đạt được như vậy? Tuy nhiên, quân sĩ người Hán và người Phiên dũng cảm xông pha trận mạc, nên được khen thưởng, hãy tiếp tục khích lệ binh sĩ, đề phòng giặc nghe tin thất bại, tập trung lực lượng chống lại quân ta.”
[15] Khách tỉnh Phó sứ Tạ Lân được bổ nhiệm làm Tri châu Thành Châu.
(Theo 《Nguyên Châu đề danh ký》, Lân từ tháng 7 năm Hi Ninh thứ 7 làm Tri châu Nguyên Châu, tháng 10 năm Nguyên Phong thứ 4 chuyển đến Thần Châu, tháng 3 năm thứ 5 trở lại Nguyên Châu, có lẽ sách thực lục chép Thành Châu này là Thần Châu, cần xem xét thêm. Sử cũng chép tháng 9 bổ nhiệm Tạ Lân làm Tri châu Thành Châu.)
[16] Ngày Kỷ Sửu, Chu Cách, người mới được bổ nhiệm làm Tri châu Hoạt, chức Triều thỉnh đại phu, xin xuất từ kinh sư số tiền từ 20 đến 30 vạn quan để tu sửa cầu và thành ở châu Hoạt, đồng thời điều động binh lính từ ba lộ: giới Khai Phong phủ, Kinh Tây và Hà Bắc. Chiếu rằng: “Trước đây, khi sông Tào Thôn vỡ đê, gặp lúc sứ Bắc đến, đã tạm thời làm cầu ở Bạch Mã, giao phó việc này cho Tướng tác giám, hoàn toàn không tốn nhiều công sức. Nay việc tu sửa cầu ở châu Hoạt, công sức cần thiết nên không khác gì so với công việc trước đây. Nay Chu Cách trình bày nhiều việc, rất phức tạp, chắc chắn khó giao phó để hoàn thành công việc, nên cử Du Hi Đán, người bị giáng chức Triều thỉnh lang, làm Tri châu Hoạt, còn Chu Cách vẫn giữ chức Tri châu Trần như cũ.”
[17] Cơ quan Thố trí lộ Lân Phủ quân mã tâu rằng: “Dò biết người Hạ tập trung quân ở biên giới châu Lân, số quân phòng thủ nhiều gấp bội, mong Vua sớm hạ lệnh cho Vương Khắc Thần tuyển thêm một vạn quân từ vùng gần đó để tăng cường binh lực; cùng với việc thưởng công cho quân sĩ của Chủng Ngạc đã xuất chiến ngoài biên giới, xin sớm thi hành; và việc Lý Phổ tấn công Tế Phù Đồ, e rằng số thương vong nhiều, không báo cáo đầy đủ, xin hạ lệnh cho lộ này khảo sát thực tế để ban thưởng.” Đều được chấp thuận.
[18] Kinh lược sứ lộ Phu Diên là Thẩm Quát tâu rằng: “Bàn với Chủng Ngạc về việc để lại hai tướng quân, cử một tướng xuất chiến ngoài biên giới, giữ lại một tướng cùng với số quân lẻ trước đó để bảo vệ biên giới.” Được chấp thuận.
[19] Ngày Canh Dần, chiếu rằng: “Cơ quan Đô đại kinh chế lộ Hi Hà tâu rằng, đã tiến quân sâu vào địa giới giặc, nhưng phía sau không có quân tiếp viện. Lệnh cho Hồ Tông Triết từ số quân hiện có ở lộ Hi Hà chưa xuất chiến, điều hai tướng quân theo đường châu Can tiến vào để ứng cứu và hỗ trợ.”
[20] Ngày Giáp Ngọ, Vua vì bệnh không ra thiết triều.
[21] Ngày Ất Mùi, Vua ngự điện Thùy Củng.
[22] Ban đầu, triều đình dùng sắc lệnh chiêu dụ Khất Đệ, (ngày mùng một tháng 8 ban sắc lệnh). Sau đó lại ra chiếu: “Nay thời điểm xuất quân đã gần, nếu chia quân tiến đánh, e rằng Khất Đệ sẽ nghi ngờ không ra hàng, (chiếu ngày mồng 7 tháng 8), lệnh cho Lâm Quảng kín đáo cân nhắc, chỉ để lại 5 đến 7 nghìn quân, chọn tướng lĩnh tổng chỉ huy phòng thủ biên giới, nếu Khất Đệ quyết không hàng, thì từ từ tiến hành đánh dẹp. Tất cả quân của Lâm Quảng, Bành Tôn và các quân khác đều rút về, nếu việc này có gì bất tiện cho biên phòng, thì tâu lên đầy đủ.”
Lâm Quảng sau khi nhận được sắc lệnh, lại phái Sử Lợi Ngôn đến sào huyệt của Khất Đệ trao cho, Khất Đệ hẹn cuối thu sẽ ra hàng. Do đó, Lâm Quảng tâu: “Thần kín đáo tính toán, nếu không giao cho một hai tướng lĩnh[2], để lại 6 nghìn quân phòng thủ Lư Châu, cùng với chuyển vận, kiềm hạt ty của bản lộ bàn bạc từ từ tiến hành đánh dẹp.” Chiếu chỉ không chấp nhận lời tâu, lệnh theo các chỉ đạo trước đó.
[23] Lý Hiến tâu: “Ngày Canh Thìn tháng 8, đóng quân ở Nữ Già Cốc, phái tướng sĩ người Hán và người Phiên đánh úp tàn đảng trong núi, chém được trăm đầu, bắt được nhiều ngựa, trâu và gia súc. Hàng phục được 22 tộc trưởng của Kham Ba Cấp Gia, tổng cộng hơn 1.900 hộ, đã cắt tóc, xăm tay, cấp cờ quy thuận cùng áo gấm, đai bạc và vật ban thưởng.”
Lại tâu: “Đại quân đi qua Kham Cốc Xuyên, nơi Bỉnh Thường xưng hiệu ngự trang, có rất nhiều kho lương và một đồn giặc, thành rất kiên cố, không có người canh giữ, chỉ có rất nhiều cung tên, chày sắt, đã phái phó tướng các quân chia quân mở kho lấy lương và thu cung tên phòng thành.”
[24] Chiếu cho các lộ chuyển vận ty Thiểm Tây, nay quân đội đang hưng thịnh, thường tổ chức yến tiệc có nhạc, nếu có việc cần bàn bạc, cho phép tham dự yến tiệc có nhạc.
[25] Ngày Bính Thân, cơ quan phụ trách quân mã lộ Lân Phủ tâu: “Xuất quân ra khỏi biên giới, bên ngoài sông thiếu quan, đã phái Cao Tuân Nhất đến Phủ Châu phòng thủ, xin hạ lệnh cho Thái Nguyên phủ thi hành.” Triều đình đồng ý.
[26] Ty Kinh chế đô đại Hi Hà lộ tâu: “Ngày Ất Dậu tháng 9 thu phục được Lan Châu. Thành cổ Lan Châu đông tây khoảng hơn 600 bộ, nam bắc khoảng hơn 300 bộ. Đại quân từ Tây Thị Tân Thành khoảng hơn 150 dặm sắp đến Kim Thành, có năm sáu lớp khe trời, chỉ vừa đủ cho người ngựa đi qua. Từ sau khi quân giặc Hạ bị đánh bại, các bộ tộc đến đâu đều đầu hàng quy phụ, nay chiêu nạp đã nhiều, nếu không xây thành thì không thể củng cố lòng người Khương đã hàng. Hiện đang xây thành Lan Châu và đồn Thông Quá, đã sai Phó tướng Tiền quân Miêu Lí, Phó tướng Trung quân Văn Uất đô đại quản câu tu sửa, tướng Tiền quân Lý Hạo chuyên trách việc đề cử.”
Lý Hiến lại tâu: “Xin lập Lan Châu làm Súy phủ, lấy Trấn Dao làm Liệt quận, lấy Hạo làm An phủ phó sứ kiêm Tri châu Lan Châu Hi Hà Lan Hội lộ, Văn Uất, Miêu Lí làm Kiềm hạt bản lộ. Xin khôi phục chức cho Triệu Tế, lệnh kiêm quản việc tài lợi hai lộ Hi Hà, Tần Phượng, ứng phó nhu cầu quân sự.” Đều theo cả. Riêng Lan Châu lệnh cho Lý Hiến căn cứ tình hình quân sự, tạm sửa chữa thô sơ làm nơi đóng quân, không được để lãng phí quá mức, đợi khi quân triều đình dẹp yên các quận phía nam sông Hoàng Hà, sẽ bàn cách xử lý riêng.
Triệu Tế được bổ làm Thông trực lang, quyền Quản câu Chuyển vận ty Hi Hà lộ, Lý Hạo, Văn Uất, Miêu Lí lệnh quyền lĩnh các chức vụ xin, đợi khi quân hành doanh tiến lên phía đông, sẽ ở lại củng cố căn bản. Những người phụ tá cần thiết cho Lý Hạo, cũng tạm cử từ quân tiền.
(Ngày Ất Dậu là mồng 2 tháng 9.)
[27] Ngày Mậu Tuất, chiếu rằng: “Gần đây Phu Diên lộ tâu, giặc Tây để thư ở biên giới, có lời lẽ hỗn xược. Xét ý giặc đã tập trung quân lâu ngày, muốn đánh nhanh để may rủi. Lệnh cho các tướng xét kỹ mưu giặc, cốt ở chỗ thận trọng, chớ vì giận dữ mà hành động bừa bãi.”
[28] Chiếu chỉ: “Các châu huyện ở Thiểm Tây, Hà Đông gần biên giới, từ khi bàn việc binh, triều đình đã sai chọn người làm thủ lệnh, không chỉ để lo việc cung ứng quân nhu, hợp sức với quan chuyển tải, mà còn vì trong hạt binh dân một sớm đều phải đi xa đánh giặc, thì phải nghiêm ngặt trừ gian tặc[3], yên ổn làng xóm, đó là trách nhiệm. Có thể lấy ý triều đình, nhắc nhở răn dạy, để mọi người tuân theo. Nếu trong lúc binh lính chưa về, việc cảnh giác trộm cướp đặc biệt ít, vỗ về dân chúng đều được yên ổn, sẽ bàn khen thưởng, thăng chức rõ ràng.”
[29] Lý Hiến tâu: “Theo lệnh triều đình để tính kế đánh giặc, thấy thành Lan Châu, bên trong để tự củng cố, bên ngoài không ngại đối địch, lại đã chọn tinh binh Hán, Phiên mạnh mẽ năm bảy nghìn kỵ binh, tính đánh vào sào huyệt, sợ lầm việc cơ, xin nhắc nhở răn dạy, để sắc lệnh không đến.” Chiếu cho Hiến: “Nay quân quan đã xây thành đình chướng, bên ngoài trói buộc tay chân, lại làm thuyền chiến, bên trong đánh vào tim gan, kế đánh chỉ có vậy, chỉ nhanh chóng làm là tốt.”
[30] Ngày Kỷ Hợi, Tể thần Vương Khuê dâng 《Quốc triều hội yếu》 300 quyển. Thời Nhân Tông tu sửa 《Hội yếu》, từ Kiến Long đến Khánh Lịch năm thứ 4 là 150 quyển, đầu năm Hi Ninh, Khuê xin tiếp tục, tổng cộng 12 năm mới xong, đến năm Hi Ninh thứ 10, cùng với cũ thêm bớt thành 300 quyển. Bấy giờ, Biên tu quan, Tuyên đức lang Lý Đắc Sô thăng một chức, Tri huyện Cam Tuyền Trần Tri Ngạn thăng hai bậc, Quản câu nội thần Lưu Duy Giản, Lý Hữu Tuân, Phùng Trọng Lễ đều được ban tơ lụa.
(Hai kỷ đều chép Vương Khuê dâng 《Quốc triều hội yếu》.)
[31] Chiếu cho Thẩm Quát: “Quân quan không lâu nữa sẽ ra khỏi biên giới, các danh sơn linh từ trong hạt, nên cầu khấn, nay ban năm hợp hương phong, Quát có thể tự làm bài chúc văn, thành kính sai quan cầu khấn xong tâu lên.”
[32] Kinh lược ty của Phu Diên lộ tâu rằng, Kiềm hạt Khúc Trân cùng các tướng vào địa giới phía Tây để đón tiếp các thủ lĩnh đầu hàng, và giao chiến với quân Tây Hạ chặn bắt những người đầu hàng, chém được nhiều thủ cấp. Triều đình ban chiếu thăng chức cho Khúc Trân và các tướng, giảm năm khảo khóa, ban tặng lụa theo thứ bậc.
[33] Chủng Ngạc xin chuẩn bị gỗ để làm cầu phao, lệnh cho Chuyển vận ty huy động bộ binh vận chuyển vào địa giới phía Tây. Chiếu rằng: “Phàm xuất quân vào sâu trong địa giới địch, việc chuẩn bị phương tiện vượt sông, trong quân đã có dây thừng, bè nổi, chưa từng nghe việc vận chuyển gỗ hàng ngàn dặm theo quân. Nay Chủng Ngạc chuẩn bị số lượng gỗ không ít, sao lại bắt Chuyển vận ty lo liệu việc vận chuyển? Dù có thể lo liệu được, cũng tự làm khó mình trước. Lệnh cho Chủng Ngạc nếu đến sông cần làm bè, có thể phá hủy nhà cửa trong địa giới địch, hoặc chặt cây rừng để dùng, nếu vẫn không đủ, thậm chí có thể dùng giáo và ván để vượt sông.” Hoàng đế nắm rõ lợi hại trong việc dụng binh, từ chi tiết nhỏ đều nắm được yếu lĩnh, các tướng tuân hành chỉ sợ không kịp.
(Những câu như “Hoàng đế nắm rõ lợi hại trong việc dụng binh” được thêm vào trong bản Chu, bản mới theo đó.)
[34] Hoàng đế phê: “Triều đình đã ủy thác quan chuyên lo việc kinh chế giặc man ở Lô Nam, việc bố trí quân mã, kinh lược tình hình địch, giao cho Kinh chế ty; việc chuẩn bị lương thực, vàng bạc, ngũ cốc, vật dụng, giao cho Chuyển vận ty. Hai ty này mỗi bên có trách nhiệm riêng, Chuyển vận ty và Đề điểm hình ngục ty nhiều lần dâng tấu, vượt quá phận sự, chưa muốn trị tội. Từ nay, những việc không thuộc chức trách của mình thì không được nhận báo cáo từ các cơ quan.”
[35] Chiếu rằng: “Gần đây lệnh cho Vương Khắc Thần tiếp tục điều thêm một vạn quân cho Vương Trung Chính, nay tâu lên chỉ được hơn một nghìn tám trăm người. Xét rằng quân Hi Hà từ khi xuất biên giới, các trại lũy ở Hi Hà, Tần Phượng đều không bị giặc xâm phạm, vì đại quân đã tiến lên trước, nên các thành trại dọc đường đều nằm sâu trong lãnh thổ, làm sao có lý giặc dám xông vào, không cần để lại nhiều quân phòng thủ. Lệnh cho Vương Khắc Thần yên tâm xử lý, đừng tự hoảng loạn. Chỉ những nơi giáp biên giới phía Bắc không thể giảm binh lực, còn các châu khác đều phải điều quân đúng hạn, không được thiếu sót.”
[36] Ngày Canh Tý, triều đình hạ chiếu cách chức Triều phụng đại phu, Bảo văn các đãi chế, Tri thành Đức quân Chương Hoành, giữ nguyên chức cũ, điều đi làm chức Đề cử Động Tiêu cung. Ông bị kết tội buông lỏng quản lý, để chỉ sử tham gia buôn bán công quỹ và thân cận với tiểu lại. Ngự sử Chu Phục tâu lên những hành vi xấu xa của ông, triều đình cử người điều tra và xác minh sự việc.
(Sách 《Cựu kỷ》 chép: Chương Hoành cố ý buông lỏng quản lý, để chỉ sử tham gia buôn bán công quỹ, bị cách chức Bảo văn các đãi chế, điều đi làm chức Đề cử Động Tiêu cung.)
[37] Lý Hiến tâu: “Hiện đang bàn việc chọn tướng lĩnh, điều quân đến hỗ trợ xây dựng thành Tây Sứ. Khi thuyền bè chuẩn bị xong, sẽ tuyển mộ những người dũng cảm, chọn 5 đến 7 nghìn kỵ binh tinh nhuệ người Hán và người Phiên, mưu tính tiến đánh sào huyệt. Hơn nữa, nơi đóng quân ở Lan Châu có thể sửa chữa tạm thời, để lại binh lính và tướng lĩnh trấn giữ.”
Chiếu chỉ: “Hiện nay quân các lộ sắp xuất chinh, thẳng tiến đến Hưng, Linh, tiêu diệt giặc Hạ[4]. Ngoài ra, nhiều lần nhận được thư từ của Đổng Chiên người Phiên, cũng nói rằng sẽ đến Linh Châu đánh giặc. Tấu chương của Lý Hiến lại muốn đợi thuyền bè chuẩn bị xong, chọn 5 đến 7 nghìn kỵ binh đến đó, mà chưa nói đến việc toàn quân tiến đánh. Nay lệnh cho Lý Hiến và các tướng lĩnh nhân cơ hội này, phối hợp lực lượng tiến sâu vào, tiêu diệt sào huyệt. Nếu đường đến Hưng, Linh xa xôi hiểm trở, thì lệnh cho toàn quân vượt sông đánh chiếm Lương Châu, không được chỉ phái tướng phó đi. Lại ban xuống 100 bộ chiến bào và khăn lệnh các màu, 50 cây thương cán bạc, đều có tua đuôi bò trắng, giao cho Lý Hiến để khen thưởng, ban tặng cho các chiến sĩ người Hán và người Phiên trong hành dinh có công đánh giặc, cũng như những người mới quy phụ và hàng tướng có sức mạnh.”
[38] Cao Tuân Dụ xin hai lộ tiến quân đánh dẹp, Vua phê: “Tuân Dụ khẩn thiết tâu xin cùng Kinh Nguyên chia quân ra khỏi biên giới, nay thời gian xuất quân đã gần, chắc chắn không kịp xử lý, Trung thư, Xu mật viện nên xem xét Lưu Xương Tộ có thể hay không thể làm chủ tướng một đạo, nếu bỏ ông ta thì nên làm thế nào để sắp xếp lại, tâu lên.”
Sau đó ban chiếu cho phép Tuân Dụ chia đường ra khỏi biên giới. Vua phê: “Binh lực Kinh Nguyên không bằng các lộ khác, biên giới rộng lớn, gần đây nhiều lần theo tấu chương của Lưu Xương Tộ thấy phần lớn không hợp lý, e rằng khó đảm đương chức chủ tướng một đạo. Hơn nữa, Kinh Nguyên đã thuộc quyền tiết chế của Cao Tuân Dụ, tự nhiên phải phối hợp đầu đuôi để đạt được sự vẹn toàn. Nay lệnh cho Tri châu Hoàn Châu là Trương Thủ Ước đến thay Xương Tộ, lệnh cho Xương Tộ đến dưới trướng Tuân Dụ.”
[39] Ty Chuyển vận lộ Phu Diên tâu rằng đã sai Tả tàng khố sứ, Thứ sử châu Anh, Kiềm hạt lộ Phu Diên kiêm Phó tướng thứ ba là Lưu Thiệu Năng tạm quyền Đô giám phủ Hà Trung. Ban đầu, Ty Kinh lược lộ Phu Diên tâu: “Xét thấy Thiệu Năng ra khỏi biên giới bắt được giặc Tây, hỏi biết việc tập hợp quân lính, liền dẫn quân về. Quân Phiên bắt được một thủ cấp, Thiệu Năng nói là cậu của mình, dùng vật bọc đầu, không chịu bảo đảm công lao để nhận thưởng. E rằng có âm mưu khác, không thể để ông ta cầm quân. Lại có quan Phiên là Điện trực Hác Thủ Tố sai Ngật Đa Lý vào đất Tây, gọi cậu là Tiểu Lô Lãng và nói với Sơn Mạch rằng: ‘Ta nhận lệnh giết nhau, ngươi hãy đi nói với con cháu nhà ngươi, bảo người Hạ dời đi xa, sợ giết hại người thân của ta.’ Việc này khá phù hợp với báo cáo trước.” Vua ban chiếu lệnh cho Thẩm Quát giao cho Nội thần quản áp quân khí là Chu Khuê cùng với Tẩu mã thừa thụ của bản lộ là Hoắc Bính áp giải về kinh, giam vào ngục Đài Ngự sử chờ chỉ.
(Thiệu Năng sau đó không có việc gì khác. Ngày 28 tháng 2, Ty Kinh lược lộ Phu Diên tâu…, ngày 3 tháng 4 năm thứ 5 thì sai Vũ Văn Xương Linh đến châu Lân thiết lập ngục, ngày 13 tháng giêng năm thứ 6 thì xử xong vụ án.)
[40] Thẩm Quát tâu: “Giặc phương Tây tập trung binh lực, đều ở đối diện biên giới các lộ, lo rằng đại quân ta vừa tiến vào, giặc sẽ thừa cơ xâm phạm. Xin cho phép các Giám ty hoặc quan chức cấp dưới tạm quản lý châu sự, còn thần sẽ đảm nhiệm chức vụ Kinh lược đô tổng quản ty, dẫn quân trong thành đi ứng phó.” Được chấp thuận.
[41] Quyền phán Đô thủy giám Lý Lập Chi tâu: “Các huyện Nam Lạc, Quán Đào, Tông Thành, Ngụy huyện thuộc Bắc Kinh, cùng các trấn Thiển Khẩu, Vĩnh Tế, Diên An, trấn Cảnh Thành thuộc châu Doanh, đều nằm giữa hai đê sông lớn. Xin cho Chuyển vận ty xem xét dời dân ra ngoài đê. Việc tu sửa đê hai bên từ chỗ vỡ Tiểu Ngô trở xuống, tính toán công trình không ít, nhưng quân Hà Thanh chỉ có hơn nghìn người. Xin lưu lại 50 quân khách ở hai khu vực Nam, Bắc Thừa, không cho nghỉ đông, phân bổ đều cho các đê mới xây, khởi công tu sửa đê đạo, theo lệ chi tiền 200 quan mỗi tháng.” Được chấp thuận.
[42] Ngày Tân Sửu, Vua phê: “Câu đương Ngự dược Lương Tòng Chính được thăng 7 bậc.” Vì có công tra xét vụ án Hàn Tồn Bảo.
[43] Chiếu rằng: “Nhiều lần nhận được báo cáo từ các trại giám thuộc châu Lô của Lâm Quảng về việc dò xét Khất Đệ, đa phần mơ hồ không chính xác, triều đình không có cách xử lý. Vì văn thư cấp báo cần phải là việc triều đình cấp thiết muốn biết, không thể lấy việc thường làm hao tổn nhân lực. Từ nay, Lâm Quảng phàm có tấu báo, phải là việc cấp thiết hoặc cần chờ chỉ thị mới được trình lên.”
[44] Chiếu rằng: “Lý Hiến đóng quân ở Lan Châu đã hơn mười ngày, tuy có xây dựng đồn lũy, nhưng đều có thể giao cho quan chức địa phương làm, không cần lưu lại đại quân. Nay thống lĩnh hơn mười vạn quân dân hai lộ Hán và Phiên, vừa tiến vào địa giới giặc hơn trăm dặm đã muốn dừng lại, chính là vi phạm quy định. Cần ra lệnh ngay lập tức phân bổ các tướng, tiến quân dần dần, hoặc lên phía đông đến Linh Châu hợp với các lộ khác, hoặc vượt sông về phía bắc tiến đến Lương Châu. Khích lệ tinh thần binh sĩ, nhân thời cơ lập công, không được do dự, tự chuốc lấy hối hận.”
[45] Ty Kinh chế đô đại Hi Hà lộ tâu: “Ngày Mậu Tý tháng 9, thủ lĩnh mới quy thuận ở Lan châu là Ba Lệnh Khát cùng ba tộc, dẫn quân bản bộ đánh thành Tát Bô Tông của giặc, chém được hơn 30 thủ cấp, cướp được thuyền vượt sông của chúng, giặc chết đuối ở sông khoảng 400-500 người, bắt được hơn 200 người già trẻ, hơn 2000 con trâu ngựa và gia súc. Nay đang xét công lao, xin ban thưởng hậu hĩnh.”
[46] Ngày Nhâm Dần, Đề cử Nghĩa dũng Bảo giáp Hà Bắc lộ, Đông thượng các môn sứ, Thứ sử Vinh châu Địch Tư, Triều thỉnh lang Lưu Định, cùng Đại bảo trưởng tập giáo ở Thiền châu và các sứ thần giám giáo, tổng cộng 482 người, vào chầu ở điện Sùng Chính, Vua triệu các chấp chính ban ngồi, xem xét thi cử xong, ba người được bổ làm Tam ban tá chức, 33 người được bổ làm Tam ban sai sứ, tá sai, còn lại ban thưởng bạc, lụa, tiền theo thứ bậc. Thăng Địch Tư làm Tứ phương quán sứ, Lưu Định làm Tập hiền hiệu lí, các sứ thần giám giáo được thăng chức hoặc giảm năm khảo khóa.
(Vua gửi gắm việc quân chính vào Bảo giáp, chọn quan lại đốc suất việc dạy dỗ nhiều năm, pháp chế hoàn bị, đều do Lưu Định chế định, các lộ đều tuân theo tập luyện, đến nay dẫn Địch Tư vào chầu, triệu các chấp chính ban ngồi, để xem xét thành quả, thăng bổ ban thưởng đều tăng bậc, Địch Tư cũng được thăng chức tước, bốn phương nghe tin đều hướng về noi theo. Đoạn này là bản Chu thêm vào, nhưng bản Mực đã có đủ, nay xóa bỏ. Bản kỷ mới chép ngày Nhâm Dần xem xét Bảo giáp Hà Bắc ở điện Sùng Chính, phong quan cho 36 người ưu tú. Bản kỷ cũ chép ngày Nhâm Dần xem xét võ nghệ của Bảo giáp Hà Bắc ở điện Sùng Chính, triệu các phụ thần ban ngồi, phong quan cho 36 người ưu tú, thăng chức tước cho các quan đề cử trở xuống theo thứ bậc.)
[47] Phó Kinh lược sứ lộ Phu Diên là Chủng Ngạc tâu: “Chuyển vận sứ Lý Tắc đặt trại trong quân của thần, cách xa binh lính dưới quyền, khoảng giữa không kiểm soát được, e rằng sẽ xảy ra chuyện bất trắc.” Chiếu cho Lý Tắc đóng quân ở nơi có thể quản lý được lương thảo.
(Sách 《Thiệu thị kiến văn lục》 chép: “Sau đó Lý Tắc được điều làm Chuyển vận sứ Thiểm Tây, đúng lúc năm cánh quân tiến đánh Linh Vũ, Lý Tắc đi theo quân, uy thế càng lớn. Một hôm sớm tinh mơ vào doanh trại quân Phu Diên, quân sĩ đánh trống báo hiệu, tướng Chủng Ngạc còn nằm trong trướng chưa dậy, Ngạc lấy làm lạ, bước ra gặp Lý Tắc, gọi tướng coi trống hỏi: ‘Trong quân có mấy vị tướng?’ Đáp: ‘Chỉ có Thái úy.’ Ngạc nói: ‘Tướng chưa lên trướng, đã vì quan chuyển vận lương thảo mà đánh trống báo hiệu, là cớ làm sao? Mượn đầu ngươi để thay cho Chuyển vận sứ.’ Người theo hầu hét đem chém, Lý Tắc vội vã bỏ đi, sợ hãi đến mức không lên ngựa được, từ đó không dám vào quân của Ngạc nữa.” Việc này nên tham khảo với chiếu chỉ trên.)
[48] Chiếu phạt Phụng nghị lang, Hiệu khám Quán các, Đồng tri Lễ viện là Vương Trọng Tu mười cân đồng, cách chức. Trọng Tu là con Tể tướng Vương Khuê, trước xin nghỉ về Hoài Nam, Gián quan Thái Biện tâu rằng ở Dương Châu yến tiệc, làm những việc không đứng đắn, Thiêm thư Phán quan Thiệu Quang cùng dự, Quang bị cách chức, liền được bổ làm Quyền Chủ bạ Đô thủy giám, mọi người đều bàn tán chê cười. Chiếu cho Chuyển vận ty Hoài Nam điều tra, Chuyển vận sứ tâu rằng Trọng Tu trong tiệc tùng đùa giỡn với kỹ nữ, có việc quá đáng thực sự.
[49] Ngày Giáp Thìn, Vua ban chiếu cho Thẩm Quát: “Nghe nói tướng quan Cao Vĩnh Năng thu được văn thư của Lương Vĩnh Năng do quân Tây Hạ bỏ lại, ngươi hãy trình bày rõ việc này lên.” (Văn thư của Lương Vĩnh Năng cần được xem xét.)
Lại ban chiếu cho Thẩm Quát: “Theo tấu của ty quản lý quân mã lộ Lân Phủ, thám tử báo rằng quân Tây Hạ đối diện đang tập trung binh mã lớn, đóng quân ở tám chín nơi, nhiều nhất là sáu bảy vạn, ít nhất cũng không dưới hai ba vạn người, lại đào nhiều hào cắt ngang núi khe trên các đường thông, bố trí chướng ngại hiểm trở, phòng bị rất cẩn thận. Chưa rõ hư thực thế nào, ngươi có thể thẩm tra thêm qua những người đầu hàng hoặc gián điệp đắc lực để xác minh sự việc. Đồng thời báo cho Chủng Ngạc, lệnh cho ông ấy thận trọng chuẩn bị phòng thủ và chọn kỹ đường tiến quân, đừng để bị quân địch đánh lừa.”
[50] Lại ban chiếu cho Thẩm Quát và Lô Bỉnh ở Kinh Nguyên: “Đại quân sắp xuất chinh, triều đình muốn biết tình hình hàng ngày, khanh hãy đợi quân mã lên đường, nếu trong quân chưa có tấu trình, thì ngày thường hãy cử người đi thăm dò xem quân ta đã đến đâu và tình hình an nguy thế nào rồi báo lên. Đừng để gián đoạn, để trên dưới đều yên tâm.”
[51] Ban chiếu cho Lý Hiến: “Gần đây theo tấu của các lộ đông bắc, quân Hạ đã huy động toàn quốc để đối phó với quân ta, ước chừng ba bốn mươi vạn người. Hiện nay khu vực tây nam của chúng hoàn toàn trống rỗng, nếu không phải quân bản lộ và quân của Đổng Chiên tiến sâu để phân tán thế lực của chúng, thì e rằng chúng sẽ tập trung binh lực hướng đông để chống lại đại quân. Ngươi hãy theo các mệnh lệnh trước đây mà phân bố, chỉ huy quân hành dinh, đồng thời khẩn trương phối hợp với quân của Đổng Chiên tiến lên chiêu phủ và tiêu diệt, hoặc đến Linh Vũ, hoặc tiến về Lương Châu. Cần phải đánh vào chỗ chúng buộc phải cứu, như vậy mới có lợi cho thế trận đầu đuôi, đừng do dự trì hoãn mà làm hỏng việc quốc gia.”
[52] Ban chiếu cho tiền Phát vận sứ các lộ Giang Hoài, Triều tán đại phu Thẩm Hi Nhan truy giáng ba cấp và cách chức. Do bị triệu mà không lập tức về kinh, trước đã bị thay thế, giao cho Ngự sử đài tra xét, lại khai báo không trung thực.
[53] Trung thư tâu rằng:
“Trước đây tấu về năm số đế, hợp có sai lệch, năm Hi Ninh thứ 8, đế và hợp đều trong một năm, vâng chỉ giao cho sở Tường định lễ văn xem xét lại.
Thần xét theo sách 《Tư tôn di》 nói: ‘Phàm tế tự bốn mùa, có truy hưởng, triều hưởng’, sách 《Tiểu sử》 chép: ‘Đặt hệ thế, phân biệt chiêu mục’, trong đại tế tự thì ‘Sử ghi chép thứ tự chiêu mục trên bàn thờ’. Như vậy, triều hưởng và sắp xếp chiêu mục đều là việc của hợp.
Năm thứ 2 đời Lỗ Văn công, làm đại sự ở Thái miếu, đưa Hi công lên trước, sách 《Công Dương truyện》 và 《Cốc Lương truyện》 đều cho là hợp. Như vậy, nghĩa của hợp có trong 《Chu Lễ》 và 《Xuân Thu》 nhưng không ghi rõ tên. Thuyết của Tả thị thì có đế mà không có hợp, tên hợp thấy trong 《Lễ Ký》. Nếu chỉ căn cứ vào Hạ, Thương thì gọi là hợp đế, hợp thường, hợp chưng; nếu căn cứ cả ba đời thì gọi là hợp, tế ở Thái miếu, chúc đón chủ của bốn miếu.
Khoảng cách năm hành lễ đều không có văn, chỉ có 《Công Dương truyện》 nói: ‘Năm năm lại tế lớn’. 《Lễ Vĩ》 nói: ‘Ba năm một hợp, năm năm một đế’. Trịnh thị và Từ Mạc lại chia làm hai thuyết: thuyết của Trịnh thị nói trước ba sau hai, tức là sau đế 42 tháng thì hợp, sau hợp 18 tháng thì đế; thuyết của Từ Mạc nói trước hai sau ba, tức là mỗi lần tế cách nhau 30 tháng. Người bác thuyết của Trịnh thị nói ba năm hợp thì tháng dư, hai năm đế thì tháng thiếu. Người bác thuyết của Từ Mạc nói đế trước hợp thì là ba năm đế; hợp sau đế thì là hai năm hợp. Xét hai thuyết, chỉ có Trịnh thị nói: ‘Lễ nước Lỗ, ba năm tang xong, hợp ở Thái tổ, năm sau đế ở các miếu, từ đó về sau năm năm lại tế lớn, một hợp một đế’.
Tra 《Xuân Thu》 chép năm thứ 8 đời Hi công đế ở Thái miếu, năm thứ 8 đời Tuyên công có việc ở Thái miếu, đều nhân việc mà chép, những chỗ không chép có thể suy ngược lại. Biết rằng Hi công, Tuyên công đúng ba năm tang xong thì hợp, ba năm đế, sáu năm hợp, tám năm mới đế. Như vậy, thuyết của Trịnh thị dựa theo lễ nước Lỗ, suy ra chế độ của vương, thực có căn cứ.
Nhưng từ năm Khai Nguyên thứ 6 đời Đường về sau, đế và hợp đều tính riêng năm, không thông kế, có khi năm liền tế hợp, có khi một năm sắp xếp hai lần, có khi một đế xong lại hợp hai lần, hoặc năm năm sau đột nhiên có ba lần tế, sai lầm rất nhiều. Triều ta đầu năm Khánh Lịch, dùng thuyết của Từ Mạc, cứ 30 tháng tế một lần, gần đây lại cho hai lần tế năm số không liên quan, nên năm Hi Ninh thứ 8 vừa đế vừa hợp, đó là lỗi của hữu ty. Xin từ nay 18 tháng thì đế, 42 tháng thì hợp, để việc tế lễ không phiền, thờ thần không nhàm.
Căn cứ vào lễ viện kiểm hội lễ truyền, tông miếu ba năm một hợp vào tháng Mạnh đông, năm năm một đế vào tháng Mạnh hạ, năm Hi Ninh thứ 8 tháng 4 làm đế hưởng, tháng 10 làm hợp hưởng, năm Nguyên Phong thứ nhất tháng 10 làm hợp hưởng, năm thứ 3 tháng 4 làm đế hưởng, năm nay tháng 10 nên làm hợp hưởng.
Xét 《Công Dương Xuân Thu truyện》 nói: ‘Năm năm lại tế lớn’. Chú nói ba năm hợp, năm năm đế, đó là chuyện thời Hán, Ngụy, từ Trinh Quan đời Đường về sau đều dùng lễ này. Đến giữa Khai Nguyên, năm đế và hợp không thông kế, lễ quan thấy sai, bèn dùng thuyết của Từ Mạc, hai lần tế cách nhau 30 tháng, như năm Giáp hạ đế, năm Bính đông hợp, năm Kỷ hạ đế, năm Tân đông hợp, hợp với thuyết năm năm lại tế lớn, như vậy là đúng nhất.
Triều ta từ Khánh Lịch về sau đều 30 tháng tế một lần, đến sau năm Hi Ninh thứ 5 mới không thông kế năm số, nên năm thứ 8 đế và hợp đều trong một năm, tức là một năm sắp xếp hai lần. Năm Nguyên Phong thứ 3 tháng 4 đã làm lễ đế, năm nay nếu theo lệ cũ tháng 10 làm hợp hưởng, tức là năm liền hợp, lại mắc lỗi trước. Nay muốn thông kế năm số, đều 30 tháng tế một lần, đến năm thứ 5 đông hợp.”
Chiếu y theo điển lễ hiện hành. Lại tâu đế hợp không nên bỏ tế thường. Theo lời tâu.
(Đế hợp không bỏ tế thường, ngày 21 tháng 10 năm thứ 4 theo tấu, nay gộp vào đây.)
[54] Ngày Ất Tỵ, Ty Chuyển vận lộ Hoài Nam và Ty Đề điểm hình ngục lộ Hoài Nam Tây tâu rằng: “Gần thành châu Thư có một đầm lớn, nước từ núi Tiềm chảy ra, đổ ra ngoài cửa Bắc, vòng quanh phía đông nam thành, rồi chảy xuống sông lớn. Phía nam và cửa Tây của thành châu đều là tường đất, chỉ có phía đông bắc dùng tre gỗ làm rào. Đầu niên hiệu Nguyên Phong, nước núi dâng cao đột ngột, ngập nhà cửa quan và dân, phải dùng thuyền bè để cứu người và tài sản. Tri châu Thư, Triều nghị đại phu Dương Hi Nguyên sai binh lính và dân phu đắp đê ngăn nước dài 1.115 trượng, đặt hai cửa xả nước, tuy tốn công sức nhưng dân không bị quấy nhiễu. Tháng 7 năm ngoái, mưa lớn, nước suối dâng cao, vòng quanh ngoài đê, nhờ đó tránh được nạn nước núi tràn vào thành.” Vua xuống chiếu khen ngợi Dương Hi Nguyên.
[55] Ngày Bính Ngọ, Vua xuống chiếu: “Gỗ để sửa chữa Thượng thư tỉnh, lệnh cho Tri châu Nhữ là Lý Thừa Chi chặt và mua trong địa phận châu mình, nếu cần thân hành đi thì giao việc châu cho quan dưới quyền tạm quản.”
[56] Chiếu thư chiêu dụ nước Hạ rằng: “Xét nước Tây Hạ, giữ được cương thổ cũ, từ đời gần đây, càng thận trọng giữ chức phiên thần. Bỗng nhiên gian thần chuyên quyền, khiến Vua yếu bị giam cầm, đến khi hỏi nguyên do, lại tự phá vỡ lời ước, dẫn quân xông phá biên ải, trời đất không dung, lòng người đều phẫn nộ. Nay đúng lúc cứu dân, nên dấy quân hỏi tội, đã sai tướng thần, các đạo cùng tiến. Những người trước đây ở bên cạnh Hạ chủ và các bộ tộc họ Ngôi Danh đồng lòng, đều cho phép ra khỏi quân ngũ trở về, còn các thủ lĩnh khác nếu dẫn nhau quy thuận, cùng giết kẻ thù của nước, tùy công lớn nhỏ, sẽ được phong tước lộc, thưởng gấp bội thường lệ, cho phép ở lại đất cũ, con cháu đời đời hưởng yên vinh. Nếu chống lại thiên binh, sẽ tru di chín họ không tha. Bởi trời giúp người thuận, ắt khiến vạn linh quy về, quân Vua xuất chinh, không còn kẻ địch ngàn dặm. Hỡi kẻ sĩ và dân chúng, lâu nay chịu khốn khổ, hãy vững lòng hướng hóa, cùng tìm đường sống mới, nếu trái lệnh Trẫm, sau hối hận cũng không kịp.”
(Hai sách đều chép lời chiếu, có sửa chữa đôi chút, nay giữ nguyên bản văn.)
Hôm đó, Vương Trung Chính xuất phát từ Lân Châu, làm lễ tế thần chiến trận, lời chúc rằng: “Thần Trung Chính thay mặt hoàng đế thân chinh.” Quân lính gồm 6 vạn người, dân phu cũng hơn 6 vạn người.
Đi được vài dặm đến Bạch Thảo Bình, liền tấu rằng đã vào địa giới nước Hạ, đóng quân ở lại 9 ngày không tiến, sai quân lính qua lại lấy cỏ và lương thực từ Lân Châu. (Theo ghi chép của Tư Mã Ký Văn.) Cao Tuân Dụ xuất phát từ Khánh Châu, gồm bộ binh và kỵ binh người Hán và người Phiên tổng cộng 8 vạn 7 nghìn người, dân phu 9 vạn 5 nghìn người. Chủng Ngạc dẫn 5 vạn 4 nghìn quân Phu Diên, 3 vạn 9 nghìn quân của 7 tướng trong kinh đô, chia thành 7 quân, tiến theo đội hình vuông, từ Tuy Đức thành ra khỏi biên giới.
[57] Ngày Đinh Mùi, tấn công và bao vây trại Mễ Chất.
[58] Ngày Mậu Thân, chiếu rằng 10 người đỗ trung đẳng trong kỳ thi thu thuyên không cần theo thứ tự mà được bổ nhiệm chức quan, 47 người đỗ hạ đẳng cũng được bổ nhiệm chức quan.
[59] Chiếu rằng dân binh bộ binh ở phủ giới, Hà Bắc, Thiểm Tây đang tập luyện, có thể cho họ đồng thời học thuộc phép sử dụng thương bộ binh trong quy cách.
[60] Ngày Kỷ Dậu, chiếu cho Thẩm Quát: “Theo tấu của Kinh chế ty Hi Hà, nghe được từ thủ lĩnh nước Hạ là Ngọa Bột Sỉ bị bắt rằng: ‘Trước đây ở trong địa giới giặc, từ trong nha môn nghe tin quân Hán bốn mặt xuất kích, liền phân phái binh mã các Giám quân ty giao cho tướng giặc thống lĩnh, mưu tính chống lại quân triều đình, lại có lệnh răn, bảo họ chia làm ba nơi: một để đối chiến, một để mai phục, một để đợi quân Hán chưa đóng xong doanh trại, thừa cơ gây rối.’ Nay xét lại trận chiến gần Tân Thành, quả đúng như lời nói. Khi các đạo quân tiến lên, nên phổ biến cho các tướng súy biết, để họ hiểu rõ mưu kế của giặc, không làm hỏng việc lớn. Khanh hãy ghi rõ điều này và gửi nhanh đến quân tiền để thông báo.”
[61] Chiếu rằng: “Đô đại đề cử tu bổ và bảo vệ đê ngạn châu Thiền, Bộc, Đông đầu cung phụng quan Trương Huệ bị thu hồi và hủy tất cả văn tự từ khi xuất thân, bị cách chức, lưu đày đến Hoàng Châu; Tiền Tri Nam ngoại đô thủy thừa, Thừa nghị lang Tô Dịch, Tiền Quyền phát khiển Bắc ngoại đô thủy thừa, Tuyên đức lang Trần Hữu Phủ đều bị giáng hai cấp; Tiền Thông phán Thiền Châu, Thừa nghị lang Thích Thủ Đạo bị giáng một cấp; Hà Bắc chuyển vận thông phán quan Lữ Đại Trung bị phạt 30 cân đồng.” Do vụ vỡ đê Tiểu Ngô Tảo.
[62] Hà Bắc đô chuyển vận sứ Vương Cư Khanh xin từ Vương Cung Tảo phía trên tu bổ thêm bờ nam, tại Tiểu Ngô Khẩu phía bắc xây dựng đê xa, đợi khi nước sông Phàn Sơn xuống, đào Vương Cung Tảo để dòng sông chảy thẳng về đông bắc, tại địa giới Thương Châu, hoặc nam hoặc bắc, theo dòng cũ đổ ra biển.
(Bản Chu chép rằng tấu không được chấp thuận. Đã xóa bỏ.)
[63] Chiếu rằng: “Lâm Quảng tâu rằng Khất Đệ gửi biểu xin hàng, trước sau thay đổi, ắt không có ý hàng, chỉ muốn kéo dài thời gian để làm chậm trễ quân ta. Hãy xem xét nếu sắc thư chưa thể ban xuống thì không cần mang đi nữa, hãy nhanh chóng tiến quân dẹp yên.”
[64] Ngày Canh Tuất, chiếu cho quyền phát khiển đề điểm Hà Đông lộ hình ngục kiêm đề cử nghĩa dũng bảo giáp, Phụng nghị lang, Tập hiền hiệu lý Hoàng Liêm thăng làm Thừa nghị lang. Do dẫn kiến bảo giáp Trạch Châu được ban ân. Bảo giáp được bổ làm quan gồm 58 người.
(Hành trạng của Liêm chép rằng bảo giáp được bổ làm quan gồm 58 người, nay thêm vào. Việc kiêm chức tào bị bắt giam, xem thêm ngày Ất Sửu 12 tháng 10.)
[65] Ty Kinh chế đô đại Hi Hà lộ tâu: “Đất bằng ven sông tại thành Tây Sứ, Lan Châu rất màu mỡ, lại nằm ở biên giới, cần tuyển mộ nhiều người khỏe mạnh để phòng thủ. Dân binh Hi Hà chỉ có Bắc Quan là mạnh nhất, lại tiếp giáp với Cao Lan, thu nhập hàng năm rất lớn, lương thảo dồi dào, người ngựa dũng mãnh, nay đã thu phục Lan Châu, có thể mở rộng tuyển mộ. Xin trừ lại đất quan trang, còn lại đều mộ làm cung tiễn thủ, mỗi người cấp 2 khoảnh. Do mới lập châu thành, khó kiếm trâu cày và nông cụ, nếu mộ dân mới, ắt việc trồng trọt không kịp thời, xin theo lệ cũ của Hi Hà, cho phép cung tiễn thủ các lộ Kinh Nguyên, Tần Phượng, Hoàn Khánh và Hi Hà được đổi sang, vẫn giữ ruộng đất cũ canh tác trong 2 năm, sau đó thu về quan, rồi chiêu mộ cung tiễn thủ mới.” Được chấp thuận.
[66] Chiếu rằng: “Sắp tới sứ phương Bắc đi qua các châu quân trên đường mới, trong số các quan giữ chức có người mới được bổ nhiệm theo lệ thường của Thẩm quan, tài năng phẩm chất tầm thường, khó có thể tiếp đãi người phương Bắc, có thể theo Trung thư chọn trước quan lại để thay đổi. Các chức Tri châu Triệu châu là Sử Tông Phạm, Thông phán các châu Từ, Tương, Hình, Triệu, lệnh cho Chuyển vận ty Hà Bắc xem xét năng lực, nếu không đủ khả năng tiếp đãi sứ giả, thì chọn quan lại dưới quyền để đổi chỗ, đợi khi sứ giả trở về thì khôi phục như cũ.”
[67] Quyền Phát khiển Độ chi phó sứ công sự, Hà Bắc đông tây lộ Thể lượng an phủ là Kiển Chu Phụ tâu xin được đến núi phía tây chặt gỗ để sửa chữa và xây dựng kho tàng ở Bắc Kinh và các nơi khác. Được chấp thuận, và lệnh cho Chu Phụ lo liệu việc này.
(Ngày 28 tháng 4, Chu Phụ được chỉ sửa chữa kho tàng ở ba châu Định, Doanh, Thiền. Ở đây nói là Bắc Kinh và các nơi khác, cần xem xét thêm.)
[68] Chủng Ngạc vây đánh trại Mễ Chi ba ngày, thành vẫn kiên cố chưa hạ được, đang chuẩn bị đắp lũy bao vây, Chủng Ngạc đột nhiên ra ngoài xem xét, thấy quân sĩ đều có vẻ mệt mỏi. Có người báo tin viện binh sắp đến, mọi người đều hoảng sợ, Chủng Ngạc liền ra lệnh trong quân đánh trống, thổi kèn, rồi nắm cương ngựa từ từ trở về, quân sĩ mới yên lòng.
Hôm sau, hơn tám vạn quân địch từ sông Vô Định kéo ra, tiến thẳng đến quân ta, định hợp với quân trong thành Mễ Chi để đánh kẹp hai mặt. Chủng Ngạc lệnh cho hậu quân dời trận xuống dưới chân thành, đào hào chặn các cửa ngõ, khiến quân trong thành không thể ra được, lại lệnh cho tiền quân và các bộ tộc Khương theo hai bên núi mai phục trong khe núi, còn tả quân, hữu quân và trung quân thì chặn đánh quân địch ở cửa sông.
Ngày Tân Hợi, hai bên giao chiến, Chủng Ngạc thúc trống, các tướng cùng tiến lên, quân mai phục từ hai bên đổ ra, chia cắt quân địch làm hai, đầu đuôi không cứu được nhau, các cánh quân từ trên cao đánh xuống trước sau, quân địch tan vỡ chạy trốn. Số quân địch bị chém giết và giày xéo lẫn nhau mà chết nằm ngổn ngang mấy chục dặm, nước sông Ngân đỏ ngầu, bắt sống tướng địch là Đô Án Quan Ma Nữ Cách Đa Cách cùng bảy người khác, chém được hơn năm nghìn thủ cấp, bắt được năm nghìn ngựa, cùng vô số gia súc và khí giới.
(Theo《Yếu Lục》: Chủng Ngạc lại đánh thành, ngày Tân Hợi là ngày 28 tháng 9, ngày Mậu Ngọ mùng 5 tháng 10 tấu về. 《Cựu Kỷ》 chép ngày Mậu Ngọ tháng 10: Phó Kinh Lược An Phủ Sứ Phu Diên Lộ là Chủng Ngạc đánh bại quân Hạ ở sông Vô Định, chém được tám nghìn thủ cấp. 《Tân Kỷ》 chép ngày Tân Hợi: Phó Kinh Lược Sứ Phu Diên Lộ là Chủng Ngạc đánh bại quân Hạ ở sông Vô Định.)
[69] Ngày Nhâm Tý, Vua phê: “Đại quân các lộ Phu Diên chẳng bao lâu sẽ thừa thắng tiến đến Linh Châu, nếu chẳng may chưa có phương tiện vượt sông, khiến giặc chậm bị tiêu diệt, thì không thể không lo tính trước. Nên lệnh cho Đô Đại Kinh Chế Ty Hi Hà Lộ chọn người tín cẩn mang mật hiệu, hoặc gửi văn thư đến các lộ Kinh Nguyên, đốt lửa hiệu truyền đến Hi Châu, đợi khi nhận được tin báo từ châu này, thì lập tức chỉnh đốn binh mã, đóng thuyền bè xuôi về phía đông, tiếp ứng cho các đạo quân, cùng hợp lực quét sạch hang ổ giặc.”
[70] Lại phê: “Thẩm Quát xét việc quân hai ngày trước không có tấu báo, lo ngại đường sá bị ngăn trở, có quân giặc chặn đường, khanh nên gấp rút chọn nhiều người, đi thám thính xem quân doanh đến đâu rồi báo về. Nghe nói chủng Ngạc đang dời trại đến Hựu Châu để đánh giặc, có thể từ nhiều hướng phía Tây hoặc giữa đường cử nhiều người thông báo tin tức, đừng để bị gián đoạn.”
[71] Lại phê: “Nghe nói Tam Ty trước đây thuê dân làm xe lớn chở lụa đến Phu Diên Lộ, mới đi được nửa đường, người kéo xe đã bỏ trốn hết, nay của cải quan đều bị bỏ lại ngoài đồng. Các huyện bắt dân làm bảo giáp, rất phiền phức và hao tổn nhân lực, không biết ai bày ra kế hoạch sai lầm như vậy, có thể lấy tài liệu trình lên.”
Tam Ty tâu: “Phát lụa ứng phó cho ba lộ Kinh Lược Ty Phu Diên, Hoàn Khánh, Kinh Nguyên tổng cộng 17 vạn 5 nghìn tấm, Thị Dịch Ty phát 15 vạn 5 nghìn tấm, dùng 124 con la và thuyền chở đến Tây Kinh, rồi dùng người gánh. Ứng phó lụa y phục cho Hà Đông 10 vạn tấm, chở 2 vạn tấm lụa đến Trạch Châu, dùng 183 con la và 50 xe nhỏ cùng lạc đà chở, lại 3 vạn tấm dùng người gánh. Ứng phó 15 vạn lạng bạc và 3 vạn tấm diêm sao cho Diên Châu, dùng 98 con la; 15 vạn tấm lụa chia làm 5 cương, 1 cương dùng lạc đà, 4 cương dùng 210 xe nhỏ. Ứng phó lụa cho các lộ Hà Đông, Phu Diên, Hoàn Khánh, Kinh Nguyên, Hi Hà, Tần Phượng tổng cộng 1 triệu tấm, dùng 30 cương xe nhỏ, không dùng xe lớn của quan hay tư.” Chiếu cho Tam Ty chọn một viên quan phụ trách công việc đi kiểm tra và thúc giục dọc đường, những chỗ vận chuyển sai sót phải điều tra rõ rồi báo lên.
[72] Chiếu rằng quân hành dinh Hi Hà đã xuất quân lâu ngày, phái quan Nhập Nội Đông Đầu Cung Phụng Cam Sư Nhan đi tuyên phủ và thăm hỏi, ban cho tướng quan trà, thuốc, hộp bạc, binh lính trở xuống được cấp tiền đặc biệt.
[73] Lại chiếu từ kinh đô đến Thiểm Tây, Hà Đông, các nơi có quân đi qua, các trạm ngựa đều được cấp tiền đặc biệt.
[74] Tường định lễ văn sở tâu rằng: “Xưa kia, khi xuống tế ở tông miếu, xin cho đại giá vào cửa Tây của Thái Miếu, gần cửa Nam miếu thì xuống giá, đi bộ vào miếu, hơi về phía đông, lên kiệu đến chỗ nghỉ lớn; từ nay về sau, các quan khi tế lễ đều xuống ngựa ở ngoài cửa Tây Linh Tinh.” Vua nghe theo.
Lại tâu: “Kính xét sách lễ viết: ‘Đến ngày Đông chí, làm nhạc ở Viên Khâu trên mặt đất, nếu nhạc đổi sáu lần, thì thiên thần đều giáng xuống, có thể tế lễ được.’ Lại viết: ‘Tế trời, quét đất mà tế, chỉ cần giữ sự chất phác mà thôi.’ Lại viết: ‘Có chỗ quý là ở dưới, tôn kính nhất không cần đàn, quét đất mà tế.’
Vậy xưa tế trời, tấu nhạc ở Viên Khâu, đốt lửa ở Thái Đàn, đều để mời thần, bày cỗ trên đất, để tế lễ. Cho nên Thôi Linh Ân nói: ‘Đốt củi để khói bay lên, lấy lý do là cao, khi chính tế, đều ở trên đất.’ Vì thế Mã Chiêu, Cao Đường Long đều thuật lại ý của Trịnh Huyền để đối đáp với Vương Túc, đều nói: ‘Tế trời không cần đàn.’
Đời sau xây đàn tám bậc, tế trời ở trên, tấu nhạc ở dưới, không đúng với lễ chính. Thần xin đổi đàn hiện nay thành Viên Khâu, tấu nhạc ở trên, mà ở phía nam khâu bày cỗ trên đất, để hành lễ chính tế, mong hợp với lễ kinh là quý ở chỗ thấp, và làm rõ nghĩa coi trọng sự chất phác. Thần tuy xét cổ chế, cho là nên như vậy, nhưng việc giao khâu là đại sự, xin để thánh ý quyết định.” Vua không nghe.
(Ngày 29 tháng 9 năm thứ 4[5], Trung thư phê duyệt tấu chương của Tường định lễ văn sở, phụng thánh chỉ không thi hành, nay phụ lục ở đây. Ngày 14 tháng 6 bàn về việc chủ nhật phối hợp với vị trí mặt trăng, cần xét thêm.)
- '8' nguyên bản là '9', căn cứ vào quyển 315 sách này, mục ngày Đinh Sửu tháng 8 năm Nguyên Phong thứ 4, và quyển 16 《Tống sử·Thần Tông kỷ》 sửa lại ↵
- nếu giao cho một hai tướng lĩnh, theo ý nghĩa văn bản, nghi ngờ chữ 'nhược' trên thiếu chữ 'bất'. ↵
- Nghiêm ngặt trừ gian tặc 'tặc' nguyên là 'cứu', theo các bản khác sửa. ↵
- Chữ 'giặc' nguyên bản là 'thành', căn cứ theo các bản khác và 《Thái bình trị tích thống loại》 quyển 15, phần Chủng Ngạc kiến nghị đại cử, sửa lại ↵
- Ngày 29 tháng 9 năm thứ 4 nguyên bản viết là 'ngày 29 tháng 4 năm thứ 9'. Xét: Năm Nguyên Phong không có năm thứ 9, sách này ngày 29 tháng 4 năm Hi Ninh thứ 9 cũng không đề cập việc Trung thư phê duyệt tấu chương của Tường định lễ văn sở, căn cứ vào ý nghĩa chú thích trong điều này, 'ngày 29 tháng 4 năm thứ 9' rõ ràng là sai, nên sửa thành 'ngày 29 tháng 9 năm thứ 4'. ↵