"

VI. TỐNG THẦN TÔNG

[BETA] QUYỂN 338: NĂM NGUYÊN PHONG THỨ 6 (QUÝ HỢI, 1083)

Bắt đầu từ tháng 8 năm Nguyên Phong thứ 6 đời Thần Tông đến hết tháng đó.

[1] Ngày mùng một tháng 8, ngày Giáp Tuất, Ty đề cử các lộ Vĩnh Hưng tâu: “Gần đây An phủ ty đã xuất 20 vạn quan tiền công cứ để chiêu mộ người vào nộp, mỗi 100 quan thì đóng thêm 10 nghìn đồng. Ty chúng tôi xem xét, ngoại trừ các châu quân vùng biên giới, xin được thi hành theo lệ của An phủ ty.” Được chấp thuận.

[2] Hộ bộ tâu: “Các huyện thuộc phủ Khai Phong còn nợ tiền phường trường, tuy đã ra lệnh bán tài sản để trừ nợ, nhưng nhiều năm không có người mua. Xin thu hồi các tài sản còn nợ từ 3 phần trở lên, định giá và thu nộp vào quan.” Được chấp thuận.

[3] Ty chuyển vận Thiểm Tây tâu: “Huyện Hàn Thành, châu Đồng có mỏ sắt trong núi, mạch quặng dày, có thể lập tiền giám; và giám Bác Tế ở huyện Hoa Đình, châu Vị đã bị bỏ hoang từ lâu, xin được lập lại giám ở xưởng đúc Hoàng Thạch Hà, và bỏ các giám sắt ở châu Tần và châu Lũng.” Được chấp thuận.

[4] Thứ sử Gia Châu là Nhậm Trạch qua đời. Vua đến nhà ông để viếng, truy tặng chức Tiết độ sứ quân Sùng Tín[1], thụy là Cung Hi. Sau đó lại ban cho chùa ở phần mộ của ông tên là Thiền viện Tinh Hiếu, mỗi năm cho phép độ hai nhà sâu và một người được mặc áo tía hoặc ban hiệu sư.

[5] Ngày Ất Hợi, Tri châu Quế Châu là Hùng Bản tâu: “Đề điểm hình ngục là Bành Thứ Vân xin cấm kỹ thuật đánh trận bằng ngựa, không cho truyền ra ngoài, và khi chiêu mộ quân kỵ thì phải bảo lãnh, hỏi rõ quê quán, đồng thời xin lệnh cho quân kỵ ở châu Ung đến châu Quế tập luyện, rồi luân phiên đến châu Ung phòng thủ. Thần xét kỹ, phép đánh trận bằng ngựa đã có từ lâu, ở biên giới Giao Chỉ có ngựa để dùng, trước khi có lệnh cấm, vẫn dùng ngựa đánh trận; từ châu Quế đến châu Ung có 18 trạm dịch, không chỉ tốn công tốn của đi lại, mà phương Nam vào mùa hè thu nắng nóng độc hại, bệnh dịch, bắt họ vượt núi sông, người ngựa đều mệt mỏi, e rằng không thể thi hành được. Xin từ nay ở lộ này chiêu mộ quân kỵ, theo như quy định gần đây về việc chiêu mộ quân ở năm lộ.” Vua đồng ý.

(Tháng 6 ngày Mậu Thân, tháng 7 ngày Tân Hợi.)

[6] Chiếu rằng: “Từ nay, các quan chấp chính khi được bổ nhiệm, đến cung Cảnh Linh tạ ơn, sẽ cử một viên Các môn chi hậu hoặc Khán ban chi hậu và một viên Lễ trực quan đi theo vào điện, dẫn dắt và ứng đối.”

(Theo《Mật ký》, ngày 2 tháng 8 có chiếu.)

[7] Ngày Bính Tý, chiếu rằng: “Việc tập luyện bảo giáp ở phủ Khai Phong, các lộ Hà Bắc Đông Tây và Hà Đông, nên bắt đầu từ năm sau, theo thứ tự cử quan đến kiểm tra. Mỗi khi đến tháng giêng, các châu huyện và đô bảo phải báo trước cho Ty đề cử bảo giáp, giao cho các quan văn lo liệu trước số lượng bạc và lụa cần dùng[2], để chuẩn bị ban thưởng, không được tạm thời xin mượn từ các ty khác.”

[8] Viên ngoại lang bộ Thủy là Vương Ngạc tâu: “Nước sông ở châu Hoạt đang chảy về phía đê Ngư Trì ở bờ nam, nên hàng năm đều nguy cấp. Xin triển khai đê Thiêm ở bờ bắc, mở rộng lòng sông, thì dòng nước sẽ thuận.” Chiếu cho Giám thừa đô thủy là Trần Hữu Phủ đi xem xét rồi tâu lại. Sau đó, Hữu Phủ tâu: “Nếu triển khai đê Thiêm, chỗ đầu ngựa sẽ hơi rộng, khó buộc cầu phao. Nay ở sau đê cũ có một đê thẳng, nếu vào mùa xuân năm sau tu sửa, làm cho cao và rộng hơn, để ngăn dòng nước chảy xiết, thực là lợi ích lâu dài.” Vua đồng ý.

[9] Quyền phát khiển Kinh lược An phủ sứ Phu Diên lộ là Lưu Xương Tốc tâu: “Gần đây các chức Trại chủ, Bộ tướng đều khuyết, không có quan viên đủ năng lực để bổ nhiệm. Xin hạ lệnh cho Lại bộ tuyển chọn 30 viên sứ thần từng kinh nghiệm biên sự đến bản ty, cho phép xét tài năng rồi tâu xin bổ nhiệm.” Triều đình đồng ý.

[10] Chiếu rằng: “Ngự sử khám xét công việc, tạm thôi chức vụ hiện tại, không được giao thiệp với quan lại bên ngoài.” Theo lời tâu của Trung thừa Hoàng Lí.

Lí tâu: “Bản đài xét xử công việc, có khi kéo dài hơn một năm mới xong, do thủ tục rườm rà nên bị đình trệ. Từ nay xin quy định: dù bản đài tự xét hay cùng quan ngoài xét, đều phải túc trực, tạm thôi chức vụ hiện tại, không giao thiệp với quan lại bên ngoài; còn lại nhân viên được cấp lương theo mức độ lớn nhỏ của vụ án, chia làm ba bậc: vụ lớn 30 ngày, vụ vừa 20 ngày, vụ nhỏ 10 ngày. Quá thời hạn, dù xử xong cũng không cấp lương, lương quan viên cũng giảm bớt.” Chiếu cho Thượng thư tỉnh lập pháp, gửi Trung thư tỉnh xin chỉ thị.

(Việc cấp lương, cần xét có thực hiện không.)

[11] Lại chiếu: Vì lễ thăng phụ tứ hậu đã xong, ban yến cho quần thần dự lễ tại Thượng thư tỉnh.

(Sách 《Tân kỷ》 chép ngày Bính Tý: Ban yến cho quan dự lễ thăng phụ. 《Cựu kỷ》 không chép.)

[12] Ngày Kỷ Mão, sao Thái Bạch hiện ban ngày.

(Cả hai bộ 《Kỷ》 đều chép việc này.)

[13] Tri Hà Dương, Thái trung đại phu Trương Vấn tâu rằng tuổi già sức yếu, xin làm chức Đề cử Sùng Phúc cung. Vua phê: “Nếu các châu quận hiện không khuyết, thì theo lời xin.” Bèn điều ông sang Lộ châu.

[14] Chiếu rằng: “Kho mới ở Định châu mỗi tháng mua lượng lương thực rất nhiều, e rằng phép mua chưa chu toàn, và quan giám mua không đúng người. Nên gấp hạ lệnh cho bản ty kiểm tra.”

[15] Chiếu rằng: “Nghe nói Khiết Đan sai sứ sang Hạ quốc và Tông Ca, e rằng người Tây muốn nhờ Khiết Đan hòa giải với Đổng Chiên. Nên hạ lệnh cho Lý Hiến, chọn sứ thần khuyên bảo Đổng Chiên và A Lí Cốt rằng Khiết Đan cách xa Tông Ca, lợi hại không liên quan, bảo họ tuân thủ ước định trước sau, hợp lực xuất binh đánh giặc Tây.”

[16] Giang Hoài đẳng lộ Phát vận phó sứ Tưởng Chi Kỳ tâu rằng sông Trường Hoài và Hồng Trạch thực sự có thể khai thông và trị thủy, xin sớm khởi công. Triều đình ra chiếu cho Trần Hữu Phủ đi xem xét rồi tâu lên.

(Tháng 11, ngày Kỷ Tỵ, Hữu Phủ tâu…)

[17] Thiểm Tây lộ Chuyển vận phó sứ Phạm Thuần Túy tấu: “Theo chỉ dụ triều đình, lệnh cho Hà Đông lộ Chuyển vận phán quan Thái Diệp mỗi năm nhập trung hoặc di chuyển thuế đong, tùy tiện tính toán chuẩn bị 10 vạn thạch thóc thô và tế, tích trữ tại trại Ngô Bảo và cửa quan Vĩnh Ninh. Nay Chuyển vận ty tính toán phương tiện vận chuyển để chuyển đến trại Mễ Chi và các nơi khác. Trại Ngô Bảo nằm ở ngoài sông, lại gần kề địa giới giặc, việc đi lại tuy xa nhưng chưa thuận tiện. Cửa quan Vĩnh Ninh từ khi mở rộng biên giới đã trở thành nơi gần trong, tại đây có cầu và bến đò, đối diện với các châu Tấn, Nhưỡng, Thạch, Tập của Hà Đông. Nếu cho phép Hà Đông Chuyển vận ty tại các châu Thạch, Tập, Tấn, Nhưỡng chọn nơi thuận tiện với lộ này, gần đó mà cấp phát thóc, trừ 5 vạn thạch vẫn nộp tại cửa quan Vĩnh Ninh như cũ, thì 5 vạn thạch phải nộp tại trại Ngô Bảo sẽ được chuyển đến thành Thanh Giản qua cửa quan Vĩnh Ninh. Một là tránh được việc xâm phạm gần địa giới giặc, hai là tiết kiệm được chi phí thuê phương tiện vận chuyển.” Vua phê: “Tấu trình của Thuần Túy rất hợp lý, nên gấp rút thi hành.”

(Theo 《Ngự tập》, ngày 7 tháng 9, Kỷ Mão, xem xét kỹ hơn.)

[18] Ngày Canh Thìn, Vua phê: “Nghe có dân chúng tên Chu Lục nói: ‘Chuyển vận sứ Hà Bắc là Kiển Chu Phụ đề nghị mượn tiền quan từ kho Nguyên Phong ở Hà Bắc để sửa kho, rồi sẽ trả lại bằng việc cấp độ điệp cho tăng nhân ở kinh đô. Viên quan phụ trách trước đã bán chịu độ điệp cho lái buôn tên Thang Thất, còn con trai của Chu Phụ là Thừa vụ lang Kiển Phùng Thần lại cùng Thang Thất dùng tiền quan làm vốn để buôn bán.'” Lệnh cho Ngự sử đài xem xét thi hành.

Trước đó, viên quan tu chế của Thiếu phủ giám là Tống Thế Long nhận tiền mua lương thảo ở châu Định, rồi tự ý chuyển dùng, còn Phùng Thần lại cho Thế Long vay tiền riêng, có chỉ đưa xuống Đại Lý tự xét xử. Sau vì viên quan xét án có liên quan, chuyển sang Ngự sử đài. Đến nay, lại có người tố cáo việc Phùng Thần cho vay độ điệp, nên lệnh cho điều tra.

(Tháng 10, ngày Đinh Sửu, Trạch Tư hặc tội hai con của Chu Phụ, bị giam cầm. Ngày Quý Tỵ, chỉ Phùng Thần bị trách phạt, cần xem xét thêm. Từ “Trước đó” trở xuống, bản Chu thêm vào, bản mới bỏ đi.)

[19] Ty Chuyển vận Lưỡng Chiết tâu: “Những người phạm tội trộm cắp bị đày ra ngoài 500 dặm đến các châu quân, không có luật cho phép trở về, xin được theo lệ người di hương mà cho họ trở về tùy tiện.” Vua đồng ý.

[20] Vua phê: “Tướng thứ bảy của lộ Phu Diên là Lý Sư Cổ tâu: ‘Ra quân xây thành ở biên giới núi, có ba điều hại lớn, xin được vào triều trình bày.’ Tờ tâu đã giao xuống Tam tỉnh và Xu mật viện, nên xử lý nhanh, lệnh cho viên ấy viết rõ việc muốn trình bày vào tờ tâu khẩn gửi lên.”

(Theo《Ngự tập》, cần xem kết quả ra sao.)

[21] Hồ Bắc chuyển vận, đô kiềm hạt ty tâu: “Vì quyền tri châu Thành Châu là Chu Sĩ Long xin trước hãy sao chép hộ khẩu các nơi mới cắt đất như Lâm, Đại Do, Dương Khê, Cổ Thiết, Ô Nhĩ, xếp thành một hạng, ngoài việc khao thưởng, còn đường phía tây, đợi khi xong việc ở Ô Nhĩ mới sao chép và chiêu nạp. Hai ty bảo đảm, thực là tiện lợi.” Theo đó.

(Ghi chép việc bảy ngày, cần biết việc bắt đầu đường phía tây Ô Nhĩ, phụ chép ở đây. Đường phía tây Ô Nhĩ đã thấy vào tháng 11 năm thứ 5.)

[22] Ngày Tân Tỵ, Tướng tác giám thừa Tống Bành Niên làm Tướng tác thiếu giám. Vua cho rằng Bành Niên có thể phát hiện việc Bồ Tông Mạnh sửa chữa Tây phủ, nên đặc cách thăng chức.

[23] Chiếu: “Cha của Nhậm phu nhân, vương Bộc An Ý, tặng Tả giám môn vệ tướng quân Chu, tặng Ninh Quốc quân tiết độ sứ, mẹ là Thái quân huyện Tiên Nguyên họ Trương phong Toại Quốc phu nhân, anh là Thủ Cố tặng Tư Châu phòng ngự sứ[3], Thủ Nghi tặng Chiêu Châu phòng ngự sứ.”

[24] Chiếu sai phủ giới đệ nhị tướng, Kinh Tây đệ tứ tướng đến Phu Diên lộ, Kinh Tây đệ tam tướng đến Hà Đông lộ, vì hai lộ tâu báo biên cảnh, xin thêm quân. Vẫn lệnh Lưu Xương Tộ, Vương Quân Khanh: nếu biên cảnh chưa gấp, thì hãy để quân đã sai đóng ở châu quân gần đó dễ kiếm lương thảo, để phòng khi cần điều động.

[25] Công sự câu đương của Kinh lược ty Phu Diên lộ là Tào Phụ xin các lộ Thiểm Tây không bán ruộng đất vô chủ và quan điền, chọn quan lập cục, chia cho dân cày cấy[4]. Giao cho Chuyển vận, Đề cử ty Thiểm Tây cùng bàn lợi hại tâu lên. Sau đó không thực hiện.

[26] Kinh lược chế trí ty Hi Hà Lan Hội lộ Lý Hiến tâu: “Lộ này tuy có tên chín tướng, nhưng thực tế thiếu nhiều, khi cấp bách không đủ để điều động. Hơn nữa, quân Hán và quân Phiên lẫn lộn thành một quân, hiện chưa nói đến việc xuất chiến, mà những việc khác đã gây nhiều tác hại. Nguyên nhân là do ngôn ngữ Hán và Phiên không thông, việc phân chia bộ phận cư trú đến cả ăn uống đều không thuận tiện, không phải như ý của Lý Tĩnh nói ‘quân Phiên tự có một pháp’. Thần nay đến Hi Châu, đã định rõ năm quân tướng, phó tướng và đô, đồng tổng lĩnh quân Phiên, dùng chính binh của các châu quân, quân Hán cung tiễn thủ mỗi người thành một quân, quân Phiên cũng mỗi người thành một quân. Khi đối mặt với kẻ địch, cần phải dùng quân Phiên trước, sau đó dùng quân Hán tiếp theo, để khí thế tương hỗ, dù gặp kẻ địch mạnh cũng không lo bị thua, đồng thời không cản trở việc quân Hán và quân Phiên thay nhau sử dụng. Xin cho chính binh của lộ này, quân Hán cung tiễn thủ chỉ thành năm tướng, để quân đội được chỉnh tề đầy đủ, đồng thời có thể giảm bớt số lượng tướng, phó tướng và bộ tướng.” Triều đình đồng ý.

[27] Chiếu rằng: Xét duyệt phần thưởng cho quân tướng ở phủ Khai Phong, và chi tiền từ khoản thiếu quân cấm quân.

[28] Ty chuyển vận Thiểm Tây tâu: “Theo tờ trát của Xu mật viện: Các châu Thiểm, Quắc, Hoa, Diệu từng vận lương vào biên giới nhưng không thu được thân, và những binh lính bị thương hoặc chết, đều được ban lụa. Vì lộ này thiếu vật phẩm, xin được ban tiền thay thế.” Triều đình đồng ý.

[29] Ngày Nhâm Ngọ, Lưu Xương Tộ tâu: “Đã gửi tờ điệp cho phó tổng quản Diêu Hủy dẫn quân đóng ở trại Long An, châu Diên, lại lo rằng giặc lớn tiếng sẽ ra lộ này, mà có thể sẽ từ lộ khác xâm nhập, đã lệnh cho các tướng chờ đợi, nếu giặc chia quân đi lộ khác, thì lập tức đánh bất ngờ, hợp lực tấn công.” Chiếu rằng: “Xương Tộ chia quân đóng trại, số người ít ỏi, nếu giặc Tây hợp binh xâm lược, e rằng không đủ để chống đỡ. Có thể dùng điều ước phân tướng của Lữ Huệ Khanh, mỗi người định rõ quân chiến đấu và phòng thủ, không để lộ sự yếu kém. Khi giặc xâm lược, cần đánh giá số lượng, chiến đấu nhất định phải thắng; hoặc chỉ cần giữ vững thành trì, khiến giặc không thể xâm lược, cũng đủ để làm kiệt quệ quân địch, hãy dùng điều này để răn dạy các tướng.”

[30] Thượng phê: “Lại bộ Thượng thư Lý Thanh Thần theo lời dụ trước, biên tập danh sách các quan từ chức Thừa vụ lang trở lên thuộc bộ này, ghi rõ quê quán[5], xuất thân, lịch sử làm quan cùng các nhiệm vụ được giao, công trạng và lỗi lầm, lập thành sách để phòng khi cần tuyển dụng[6], tổng cộng 10 quyển, việc này thực sự có ích cho triều đình trong việc sử dụng nhân tài. Nên cho phép y theo bản này ghi chép lại và gửi lên Trung thư tỉnh để tham khảo sử dụng.”

[31] Chiếu rằng: “Từ nay về sau, Hộ bộ khi xét công trạng và lỗi lầm của các quan chức đề cử, nếu xếp vào hạng thượng hoặc hạ, thì gửi lên Trung thư tỉnh để xin chỉ dụ.”

[32] Ngày Quý Mùi, bổ nhiệm Tuyên đức lang Trần Sư Tích, Kiển Tự Thần, Thừa sự lang, Thái bộc tự Thừa Triệu (Sơn Kỷ) làm Giám sát Ngự sử. Triệu (Sơn Kỷ) vì cha là Triệu Biện tuổi cao, không có người phụng dưỡng, xin được miễn nhiệm, triều đình chấp thuận. Kiển Tự Thần là con của Kiển Chu Phụ; Trần Sư Tích là người huyện Kiến Dương.

[33] Ngày Giáp Tý, ban chiếu chỉ cho Lưu Xương Tộ: “Trẫm đã xem tấu chương của khanh, việc bố trí phòng thủ chống giặc ở địa phương rất tốt. Đã điều động hai tướng quân ở phủ Khai Phong đến hỗ trợ. Nếu giặc không có ý hòa hoãn, quyết tâm dốc toàn lực chiếm đất mới, thì tình thế khó lòng ổn định, việc dùng binh chỉ còn là sớm hay muộn mà thôi. Khanh nên tham khảo ý kiến của những người từng bị vây hãm ở Vĩnh Lạc, tìm hiểu chiến thuật của giặc, đề phòng bất trắc. Giặc không dám khinh suất đem toàn quân xâm nhập, nhưng nếu chúng chia quân vây hãm các trại mới, dùng kỵ binh tinh nhuệ tiến thẳng đến Diên Châu, thì quân ta sẽ bị chia cắt, có thể mất thế trận ở Thường Sơn. Hơn nữa, tài năng của các tướng lĩnh không đồng đều, nếu hành động bất cẩn bị giặc chặn đánh, sẽ làm tổn thương khí thế toàn quân, tăng thêm sự hung hãn của giặc, nên cân nhắc kế sách lâu dài.”

[34] Ban cho phủ Hà Trung 280 độ điệp để tu sửa cầu phao và đê điều.

[35] Quyền phát khiển Hà Bắc chuyển vận sứ Ngô Ung tâu: “Việc mua bán lương thực và thi hành pháp luật về muối cần sự hợp lực của quan lại, xin cho phép không bị ràng buộc bởi quy chế thông thường, được tâu danh và chọn cử người.” Triều đình đồng ý.

[36] Đề cử Kinh độ chế trí Mục mã ty tâu: “Đã cử quan đi các lộ chọn mua ngựa cái khỏe mạnh đưa về kinh, xin giao cho mỗi lộ một viên Giám ty chuyên trách việc này.” Triều đình đồng ý, lệnh các lộ cử viên Đề điểm hình ngục quan, phủ Khai Phong cử viên Đề điểm quan.

[37] Tri châu Lân Châu Tí Hổ tâu, xin được chỉ huy trước, nếu quân Tây Hạ thực sự xâm lược, thì lệnh cho các lộ thừa cơ tiến đánh. Chiếu cho ty Quân mã lộ Lân Phủ chỉ huy: “Nếu bản lộ hoặc các lộ khác báo cáo, xác nhận có quân địch xâm phạm biên giới, thì làm theo lời tâu.”

[38] Ngày Ất Dậu, chiếu giao cho Lưu Xương Tộ: “Những điều khanh bàn về việc quân Tây Hạ toàn quốc xâm lược bản lộ và cách triều đình xử trí, đã rõ. Chỉ lo rằng khi quân địch đến gấp, các tướng muốn lập công, khinh suất xuất quân đánh giặc, nếu bị thất bại, thì hậu quả sẽ rất lớn, cần phải nghiêm khắc răn dạy. Vì việc tập hợp quân của địch bên kia rất khó khăn, chúng mưu đồ may mắn thắng một trận, cướp bóc nhiều, mới có thể bù đắp được. Nếu ta có thể giữ vững thành trì, dọn sạch đồng ruộng, khiến quân địch đến mà không được gì, buộc phải rút lui, thì ta đã toàn thắng rồi. Hãy nghiêm lệnh các tướng, đừng ham lập công kỳ lạ. Trước đây gửi công văn đến châu Hựu, vốn chỉ là Kinh lược ty theo chỉ triều đình cho phép Hạ quốc thông hòa rồi ty này thi hành, không ngờ người Tây Hạ lại cho là triều đình xử lý, khiến sứ giả do dự không tiến. Khanh nên tìm cách giải thích rõ ràng, chỉ cần sứ giả vào biên giới, kéo dài thời gian, thì quân địch sẽ mệt mỏi, lúa của ta đã chín, đó là ý của triều đình.”

(Công văn của Kinh lược ty gửi châu Hựu, cần xem xét thêm.)

[39] Phụng nghị lang, thí khởi cư lang Thái Kinh làm sứ sinh thần của Liêu chủ, Tây thượng các môn sứ Địch Vịnh làm phó; Thừa nghị lang, Giá bộ lang trung Ngô An Trì làm sứ chánh đán, Cung bị khố sứ Triệu Tư Minh làm phó.

(Việc cờ vàng mặt bắc, có thể phụ vào đây.

《Thái Thao Bắc chinh kỷ thực》 chép: Dựng cờ vàng mặt bắc, vào đầu niên hiệu Nguyên Phong, Lỗ công (tức Thái Kinh) lấy chức Khởi cư lang mượn chức Gián nghị đại phu, phó là Tây thượng các môn sứ Địch Vịnh, đi sứ nước Liêu, làm lễ sính hỏi xong, thì người Liêu là lão chủ sai bảo sứ giả: Khi hoàng tôn ra khỏi cung (tức hoàng tôn, sau này là Thiên Tộ. Con đích của Bắc chủ chết, nên muốn truyền ngôi cho cháu), thì trong yến tiệc, sứ giả Nam triều cũng được dự. Lỗ công liền từ chối rằng: “Sứ giả mang lễ vật đến để kết mối hòa hảo giữa hai nước, lễ đã xong, thì không nên dự vào việc của Bắc triều.” Người Liêu mời mãi không thôi, Lỗ công hỏi nguyên do, thì nói: “Thượng bạn già rồi (người Bắc vẫn gọi chủ của họ là “thượng bạn“), chỉ có hoàng tôn này, nay cũng muốn giao phó cho Nam triều.” Lỗ công bèn nói: “Bắc triều đã có ý thân thiết với nước lớn, cùng cứu giúp lúc hoạn nạn, cùng nâng đỡ lúc ốm đau, thì sứ giả đâu dám không nghe.”

Khi sứ đoàn trở về, chưa đến cửa thành, bản ghi chép của Quốc tín sở đã dâng lên trước, Thần Tông hoàng đế đọc xong rất vui, cho là sứ giả biết cách ứng xử, liền hạ nội phê: “Các khanh ngày mai có thể lên điện.” Khi vào chầu đối đáp, Thần Tông khen ngợi hết lời, nhân hỏi việc trong nước địch thế nào, có thể đánh được không, Lỗ công tâu rằng: “Theo thần thấy, dường như chưa thể đánh được.”

Thần Tông nói: “Nghe nói bên ấy đang sửa soạn tóc mai, tranh nhau đeo túi thơm nhuộm vàng, xa xỉ dâm đãng như vậy, sao không mất nước? Khanh nói là chưa thể đánh được, là sao?” Lỗ công đáp: “Thần nghe nói nước sắp mất, lễ nghi tất loạn trước. Khi thần ở đó, thấy ngoài đồng có mấy chiếc xe của người Hề, hai bên trồng lau sậy, buộc một sợi dây nhỏ, nhưng người đi qua đều phải chạy, người cưỡi ngựa đều phải xuống. Thần hỏi vì sao, thì nói ‘Đó là hành cung của Thái miếu’. Xem thấy trên dưới lễ pháp nghiêm túc như vậy, huống chi mệnh lệnh đều được thi hành, nên thần cho là chưa thể đánh được.” Thần Tông hoàng đế im lặng.

Mấy ngày sau, gặp Thừa tướng Thái Trung Hoài (tức Thái Xác), ông ta nói với Lỗ công: “Em ta hôm trước đối đáp, hoàng thượng nói Thái Kinh lại vì người Bắc mà biện hộ, em ta đã có lệnh giáng chức làm Tri châu An rồi[7].” Lỗ công liền đem lời tâu của mình nói lại với Trung Hoài, Trung Hoài ngạc nhiên nói: “Em ta không biết, chỉ hơn mười ngày trước, có hạ xuống một lá cờ vàng, đề là ‘Ngự dung trung quân kỳ đệ nhất diện’, đó là ý hoàng thượng muốn thân chinh.” Lỗ công liền đáp: “Thần ở xa thực không biết việc cơ mật trong triều, chỉ căn cứ vào điều thấy mà thẳng thắn tâu bày thôi.” Trung Hoài lại nói: “Em ta có thể yên tâm chút.”

Hôm sau, vì Lỗ công tâu xin lưu lại, Thần Tông đồng ý, nói: “Ắt là Thái Kinh nghe được lời bàn của An Thạch, An Thạch trước khi đi, từng dặn Trẫm điều này.” Lỗ công sau này thường nói: “Thực chưa từng nghe lời của An Thạch.” Cho nên việc cờ vàng chỉ có sử cũ chép rõ, người khác phần nhiều không biết.

Việc này chắc là Thái Thao tô vẽ thêm, tạm ghi lại.)

[40] Chiếu rằng: “Hồ Bắc đã cho phép chiêu mộ tuần kiểm thổ binh, nay lệnh cho Hồ Nam Kiềm hạt, Chuyển vận, Đề điểm hình ngục ty cùng bàn bạc, theo lệ Hồ Bắc chiêu mộ, có thể hay không thì tâu lên.”

[41] Tiền Đồng Thành huyện úy Chu Ngạc dâng thư nói bốn việc: Một, nói triều đình đã tha cho Tây Hạ, cho phép tu sửa chức cống, răn bảo quan lại biên giới không được tùy tiện xuất binh, lo rằng người Hạ xâm phạm biên giới, quan lại có thể giữ chiếu thư mà không ra chống địch; Hai, nói kinh thành đã có tường cao hào sâu, nhưng nếu không đặt lầu canh trong khoảng trăm bước thì không đủ để phòng bị bất trắc; Ba, muốn bãi bỏ thi Thái học bác sĩ, chỉ tuyển từ giáo quan, giáo quan thì tuyển từ Thượng xá, Nội xá và những tiến sĩ có xuất thân từ khi cải cách khoa cử; Bốn, xin nghiêm ngặt phép bổ sung thi Thái học, những người đã từng dự thi Hương thư thì không cần bổ sung mà được vào học ngay.” Chiếu cho Trung thư tỉnh ghi tên. Vua hàng ngày xem thư trong hòm, những lời lợi hại của tiểu thần đều được xem xét kỹ càng như vậy.

[42] Đô đề cử Biện Hà đê ngạn ty tấu: “Việc tu sửa thủy ma đã hoàn tất, xin cấm các cửa hàng trà trộn gạo, đậu, nguyên liệu ngoại lai vào bột trà, ai tố giác thì một lạng thưởng ba quan, một cân thưởng mười quan, đến năm mươi quan.” Vua nghe theo.

(Theo sách diêm ngày 12 tháng 8, cần tra cứu ngày tháng đầu tiên đặt thủy ma, nên đặc biệt ghi lại. Ngày 27 tháng 2 năm Nguyên Phong thứ 6, ghi ngày tháng đầu tiên đặt thủy ma, lại ngày 6 tháng 2 năm thứ 7, ngày 1 tháng 6, ngày 28 tháng 9 năm Thiệu Thánh nguyên niên.)

[43] Ngày Bính Tuất, Tạ Lân, người đang quản lý Kinh Nam, tâu rằng: (Lân được bổ nhiệm làm Kinh Nam vào ngày 17 tháng 7, thay thế Tôn Khẩn; ngày 7 tháng 8, Khẩn vẫn tiếp tục quản lý Kinh Nam; ngày 8, Lân được điều đến Kinh Châu.) Các châu Ung, Nghi, Khâm, Liêm và các đồn trại dọc biên giới đều không có đủ lương thực dự trữ cho hai năm. Xin nhân năm được mùa này, cấp thêm độ điệp cho tăng nhân, giao cho các Ty Chuyển vận Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, để sau khi ứng phó việc ở châu Nghi, mua lương thực ở các châu huyện thuận tiện gần đó thuộc các lộ Quảng Tây, rồi vận chuyển theo đường thủy đến Quảng Tây để dự trữ.” Triều đình đồng ý, mỗi năm chỉ cấp 500 độ điệp, giới hạn trong 5 năm; việc ứng phó với man di chỉ giao cho Kinh lược ty Quảng Tây.

(Ngày 7 tháng 10 có thể xem xét.)

[44] Lục Trung, người phụ trách việc điều hành ngựa ở Đô Tổng quản ty Lộ Định Châu thuộc Chân Định phủ, tâu rằng: Châu Kỳ và Định Châu sai cấm quân hộ tống tội nhân, vi phạm luật phân phối. Chiếu chỉ viết: “Triều đình mới ban hành pháp luật, ngay từ đầu đã rõ ràng, nếu các cơ quan vẫn dám không tuân theo, cần phải xử lý nghiêm khắc để răn đe những kẻ coi thường pháp luật. Nên giao cho Đề điểm hình ngục Lý Ninh điều tra và xử lý các quan lại vi phạm, dù có gặp ân xá đặc biệt cũng không được tha.”

(Ngày 21 tháng 10, Lữ Công Trước bị giáng chức.)

[45] Trước đó, châu Định vì việc dạy bảo giáp, sửa thành trì, xây thái thương, khiến trung sứ qua lại tấp nập trên đường. Lữ Công Trước đã dặn các quan phải cẩn thận chuẩn bị lễ vật tiếp đãi, nhưng Công Trước vốn tính trầm tĩnh, ít nói, tiếp đãi theo lễ thường, không có gì đặc biệt, nên những người đến đây phần nhiều không vui. Trung sứ được lệnh mua 5 vạn lạng tơ để cung cấp cho thượng phương, sau đó lại dâng kế tăng thêm việc mua, chiếu chỉ giao cho châu Định. Công Trước dừng chiếu chỉ ấy, tâu rằng: “Những việc mua bán trước đây đều được cấp tiền trước, nên dân còn có thể lo liệu được. Nay đã vào giữa mùa hạ, dân gian đang dần dệt vải để chuẩn bị nộp, nếu đột ngột thu mua thêm, dân sẽ bị hại.”

Vua hiểu ra, liền hạ chiếu cho Công Trước ngừng việc ấy. Trung sứ lại được lệnh chuyên trách việc xây kho, ngày ngày sai người cầm gậy đứng ở cửa tây thành, dân nào dùng xe chở củi vào thành bán đều bị bắt đưa đến kho để cung cấp gạch ngói, trong thành gần như không còn củi đun. Công Trước ra lệnh bắt những tên lính do trung sứ sai đi, đánh hết, cả thành đều vui mừng.

Trước khi Công Trước đến, trung sứ được lệnh khởi công xây kho, liền phá nhà dân, hủy chùa chiền, dân có người chôn ở phía tây kho, trung sứ cho xây tường thẳng vào khu mộ, dân khóc lóc đào mộ mang đi. Diện tích chiếm đất đã rộng, nhưng vẫn thiếu 252 gian, trung sứ bèn xin chọn đất khác xây kho nhỏ để bù vào. Công Trước nói: “Hai kho lớn hiện nay đã chứa không hết, nếu lại thêm một kho nhỏ, chỉ tốn công của, chẳng có ích gì.” Tâu xin bãi bỏ. Trung sứ nhiều lần bị ngăn trở, nhân đó báo thù.

[46] Chiếu rằng từ nay các đền nhỏ cũng được cung cấp băng giám, theo lời xin của Giám tế Bạch Đế Ngự sử Trạch Tư.

[47] Ngày Đinh Hợi, quyền Ty An phủ duyên biên Hà Bắc Lý Lượng tâu: “Năm nay lúa mùa thu ở vùng biên giới được mùa gấp đôi, nên nhân lúc giá rẻ mà tích trữ nhiều để làm giàu biên giới. Nhưng gần đây thấy Ty Thố trí nhận được chỉ dụ triều đình, lại ra lệnh mỗi năm chỉ được mua lúa mạch, còn lại đều ngừng mua, và cấm dân gian mua bán riêng. Thần trộm nghĩ ý định lập pháp là muốn tập trung hết vào kho mới, nhưng những nhà trung hạ, thu hoạch ít, nếu phải đến hai châu để mua, thì phần lợi thu được không đủ bù chi phí vận chuyển. Lại cấm dân gian mua bán riêng, rõ ràng là lo ngại có kẻ lợi dụng làm việc gian, phân tán lương thực ra ngoài, chi bằng nhân mùa thu này, các châu quân nên tích cực mua dự trữ, và xin bàn thêm với quan mua lương về lợi hại để tâu lên.” Chiếu cho Ty Thố trí mua lương Hà Bắc: “Nếu giá mua năm nay rẻ hơn năm ngoái một phần ba, thì nên nhân thời cơ mua nhiều ở vùng biên giới.”

[48] Ty Kinh lược Quảng Nam Tây lộ tâu, xin ưu đãi vợ con của Thập tướng Trừng Hải Mã Nhã. Chiếu ban cho con Mã Nhã 100 tấm lụa. Trước đây, Nhã bị người Giao bắt, trốn thoát, đánh nhau với quân đuổi theo rồi trở về, đã được ban ân thăng ba bậc, nhưng chưa nhận mệnh thì mất.

[49] Ngày Mậu Tý, ban chiếu tay cho Lưu Xương Tộ: “Theo báo cáo, giặc Tây tập trung rất đông, vùng Mạc Xuyên vốn từ Lan Châu báo việc, các bộ tộc phiên thường phải đi điểm tập, ước tính giặc có ba bốn mươi vạn quân, điều này chắc chắn có. Dù không phải tất cả đều là người có thể chiến đấu, nhưng số lượng gấp mười lần, rõ ràng là không thể đánh được. Giặc Khương thích chia quân nhỏ dụ quân ta ở gần, các tướng quan may mắn thắng nhỏ, thường bị mắc mưu, khi gặp đại địch thì dễ bị tiêu diệt, khanh nên thận trọng. Chỉ cần bố trí phòng thủ vững chắc, đợi khi quân địch mệt mỏi, rồi hợp lực các tướng đánh mạnh. Lại lo ngại giặc đông, chắc chắn muốn chiếm các trại mới phục hồi, sẽ chia nhiều đợt, ngày đêm công kích, dùng hết tên đá trong thành để làm kế khốn ta, vậy khanh nên khéo léo chuẩn bị.”

[50] Quyền Đề điểm Tần Phượng đẳng lộ hình ngục Lữ Ôn Khanh tâu: “Thần gần đây quyền lãnh chức Tần châu, kiểm tra quân mã dưới quyền tướng, thấy võ nghệ còn non kém, nhân tài yếu đuối, phần lớn không thể ra trận; và từ tháng giêng đến tháng bảy năm nay, quân Cấm binh của bản châu đã đào ngũ 3.382 người. Tra xét nguyên nhân, thì thấy rằng quân Sương đều đã được tổ chức thành đội ngũ, nhưng từ năm nay lại sai quân Cấm binh như Phiên Lạc đi tiếp tế, phòng hộ, những người đang làm nhiệm vụ tính ra hơn một nghìn người, quân Cấm binh như Thần Dũng đi phòng hộ và áp giải tội nhân tính ra hơn hai nghìn người.

Ở biên châu vật giá đắt đỏ, chi phí đi đường lại càng lớn, vì thế họ phải vay trước lương bổng, phá hủy quân trang, đói khát gầy yếu rồi đào ngũ, trở thành giặc cướp. Thần cho rằng triều đình bổ nhiệm tướng lĩnh, nuôi dưỡng binh sĩ, chi phí không phải là ít, vốn là để phòng thủ biên giới, nhưng lại bắt họ làm việc vất vả, khiến họ suy kiệt đến mức này.

Thần xin cho các châu quân ở Thiểm Tây lộ đều được phép thường trực giữ lại 200 quân Sương, tiết trấn giữ 300 người, để phòng khi cần sai phái. Còn các thổ binh dưới quyền tướng ở các châu, xin lệnh cho các ty Kinh lược An phủ của từng lộ cử tướng, phó tướng tự mình tuyển chọn chia làm hai hạng: những người có nhân tài võ nghệ cao cường, dũng cảm có công lao thì xếp vào hạng nhất, không được sai đi làm nhiệm vụ khác; những người tài nghệ kém cỏi và từng có lỗi lầm thì xếp vào hạng nhì, tức là theo quy định mà sai phái. Mỗi hạng đều tổ chức thành đội ngũ, như vậy thì người dũng cảm sẽ biết phấn đấu, kẻ yếu đuối sẽ biết cố gắng, trong thời gian ngắn, thanh thế quân đội chắc chắn sẽ được củng cố.” Triều đình nghe theo, lệnh cho lộ này thi hành trước.

[51] Ngày Tân Mão, Vua xuống chiếu cho Trung đại phu, Thượng thư Tả thừa Bồ Tông Mạnh giữ nguyên chức làm Tri châu Nhữ Châu, Công bộ Thị lang Vương Khắc Thần, Tướng tác Thiếu giám Chung Tuấn mỗi người bị phạt 20 cân đồng, Công bộ Lang trung Phạm Tử Kỳ, Viên ngoại lang Cao Tuân Huệ, Tướng tác Giám thừa Hàn Giới mỗi người bị phạt 10 cân đồng.

Tông Mạnh bị tội vì vi phạm pháp luật trong việc sửa chữa Tây phủ; Khắc Thần, Tử Kỳ, Tuân Huệ nhận lệnh từ Đô tỉnh sửa chữa công trình mà không qua chữ ký của Tả Hữu bộc xạ, liền thi hành ngay; Tuấn bị tội vì vi phạm pháp luật không phân biệt việc gấp hay không mà sửa chữa, còn Giới là người theo sau và không thúc giục thi hành, nên bị trách phạt. Do đó, các tể thần Vương Khuê, Thái Xác mỗi người bị phạt 8 cân đồng, Hữu thừa Vương An Lễ bị phạt 10 cân đồng, đều vì sau vụ án bị liên đới, gặp lúc đại xá nên có chỉ đặc biệt.

Ban đầu, Khuê và các người khác đều nộp ấn của Thượng thư tỉnh, ở nhà chờ tội, Vua sai nội thị đem ấn trả lại cho Khuê và các người, họ mới ra làm việc.

Trước đó, các tể tướng cùng vào chầu, Vua than thở không có nhân tài, Tông Mạnh tâu rằng: “Nhân tài một nửa bị Tư Mã Quang dùng tà thuyết làm hỏng.” Vua không nói gì, nhìn thẳng Tông Mạnh hồi lâu, Tông Mạnh rất sợ, không biết làm sao.

Vua lại nói: “Bồ Tông Mạnh không xem trọng Tư Mã Quang sao! Tư Mã Quang, chưa bàn đến việc khác, chỉ việc từ chức Xu mật phó sứ, từ khi Trẫm lên ngôi đến nay, chỉ thấy một người này. Người khác dù ép cũng không chịu từ chức.”

Lại nhân bàn luận về nhân vật xưa nay, Tông Mạnh khen ngợi Dương Hùng là người hiền, Vua giận nói: “Dương Hùng viết 《Kịch Tần mỹ Tân》, không tốt.”

Một hôm khác, Tông Mạnh nhân tâu sách xin ban ân cho thuộc quan, Vua nói: “Sách soạn rất sai, không có ân.” Tông Mạnh lại dẫn lệ, Thư cục, Nghi loan ty đáng được ban lụa, Vua vì việc nhỏ chưa trả lời, Vương An Lễ tâu rằng: “Sách soạn sai, người Nghi loan ty e không dự.” Vua cười. Tan triều, An Lễ đùa Tông Mạnh rằng: “Dương Hùng vì ông mà bị liên lụy.”

(《Cựu kỷ》 chép: Tông Mạnh sửa phủ đệ vi pháp, bãi chức Tri châu Nhữ Châu. 《Tân kỷ》 không chép nguyên do.)

[52] Thượng thư Hữu thừa Vương An Lễ làm Thượng thư Tả thừa, Triều tán đại phu, Lại bộ Thượng thư Lý Thanh Thần làm Trung đại phu, Thượng thư Hữu thừa, Đoan Minh điện học sĩ, Tri Dận châu Tăng Hiếu Khoan làm Lại bộ Thượng thư.

[53] Chiếu cho Triều tán đại phu, nguyên Tri Từ châu Triệu Đỉnh bị cách chức, vì tội mượn danh mua mành, sai người dùng thuyền chở gia quyến, đáng tội đi đày hai năm, nhưng gặp ân xá, nên chỉ bị trách phạt.

(Triệu Ngạn Nhược chép trong mộ chí của Triệu Đỉnh rằng: Đỉnh làm Tri Từ châu, mở kho thóc ở Đằng, Tiêu để cứu đói, cứu sống rất nhiều người. Chuyển vận sứ Ngô Cư Hậu dâng kế sách thu lợi từ quặng sắt ở Giám Lợi Quốc, vì nghi ngờ Đỉnh ngăn trở việc này, nên sai người lục soát thuyền, tìm thấy lồng tre, bèn vu tội thành án, khiến Đỉnh bị miễn chức.)

[54] Ngự sử Trạch Tư tâu: “Đại Lý tự xét xử tội trộm cắp, nếu hỏi cung mà giảm tội thì không được thưởng. Xin rằng nên theo pháp lệnh, người tố cáo bắt trộm cắp, dù có giảm tội khi hỏi cung, cũng nên căn cứ vào mức tội đã giảm mà thưởng.” Vua nghe theo.

[55] Ngày Nhâm Thìn, Phụng nghị lang Lưu Chửng, Tuyên đức lang Quảng Yên An Đôn cùng giữ chức Giám sát Ngự sử.

(Chửng đã được nhắc đến trước đây.)

[56] Vua phê: “Nghe nói khí giới của các tuần kiểm dưới quyền Khai Phong phủ đều cùn mòn, không thể dùng để ứng chiến, nên lệnh cho đề cử quan Phạm Tuân liệt kê các loại khí giới cần dùng để tâu lên.”

[57] Kinh lược sứ Hoàn Khánh lộ Triệu Tiết xin cấp 2.000 cung Thần Tí và 20 vạn mũi tên, chiếu chỉ cấp một nửa.

[58] Ngày Quý Tỵ, chiếu cho Đông đầu Cung phụng quan đã về hưu Hồ Cách được bãi hưu, làm Chuẩn bị Sai sứ của Kinh lược ty Quảng Tây lộ, vì Kinh lược ty tiến cử Cách có công trong việc bàn bạc, biện chính biên giới các châu Quy Hóa, Thuận An.

[59] Ngày Giáp Ngọ, Tuyên đức lang Nam Phong là Chu Kinh được làm Giám sát ngự sử. Chu Kinh nói: “Ngự sử đài nếu được coi trọng thì có quyền uy, nếu bị coi nhẹ thì không có giá trị. Nay cơ quan tai mắt của triều đình, người ta nhiều lần tiến cử rồi lại bị bãi bỏ, như vậy thì người nói thẳng không bằng kẻ im lặng được coi là hiền, người ngay thẳng không bằng kẻ nhu nhược được coi là khôn. Kẻ chỉ biết giữ mình yên ổn để được dung thân, dù có trăm người như thế, thì có ích gì cho việc nước?”

Một hôm vào chầu, Vua khen rằng: “Hôm qua xem tờ tấu của khanh, thật có ích nhiều lắm.” Phàm các quan trong đài mỗi khi tâu việc, trước phải báo cho các môn, được xếp vào ban mới được vào. Đã xin đối đáp và tên được tâu lên rồi, hôm sau, có người chen vào ban vào chầu, thì phải trở về đài. Đến khi Vua dẫn các quan vào chầu, hỏi Chu Kinh ở đâu, tả hữu tâu thực, Vua sai người thúc giục, đồng hồ nước gần hết, phải để nghi trượng đợi lâu.

(Đoạn này căn cứ vào truyện Chu Kinh mà thêm vào. Truyện chép: Thăng làm Giám sát ngự sử, chưa đầy một tháng, Vua cho phép được chuyên việc tâu bày. Lúc ấy Trung chấp pháp và các ngự sử khác liên tiếp vì tâu việc mà bị bãi chức. Xét Trung chấp pháp là chỉ Thư Đản, còn các ngự sử khác thì không rõ là ai. Lại nữa, khi Chu Kinh làm ngự sử, các quan sát đều được tâu việc, không cần chờ chiếu chỉ. Tháng hai năm sau, mới không cho các quan sát tâu việc. Truyện chép lầm vậy.)

[60] Chiếu bãi chức Tuyên đức lang, tiền Phu Diên lộ kinh lược ty Quản câu cơ nghi văn tự Từ Huân; Văn tư phó sứ, tiền Phu Diên lộ Tẩu mã thừa thụ Dương Nguyên Tôn, Hữu thị cấm, An phủ ty Quản câu văn tự Lưu Hãng, Tả ban điện trực, Cáp môn chi hậu Chủng Phác đều bị giáng một cấp, cách chức, Phác còn bị bãi chức Cáp môn chi hậu; Văn tư sứ Lý Khuê, Nội điện sùng ban Lý Ngạn Thân, Đông đầu cung phụng quan An Hợp, Hữu thị cấm Dương Đạt, Hữu ban điện trực Lưu Bá Sơ, Tuyên nghĩa lang, Giám Diên châu diêm thuế Chung Chính Phạm, mỗi người bị phạt đồng theo mức độ khác nhau.

Huân vì dối trá trong việc tấu trình tình hình bệnh tật của Kinh lược sứ Phu Diên lộ Chủng Ngạc, tiến cử Ngạn Thân và những người khác, giả mạo chữ ký của Ngạc và lạm dụng ấn tín; Nguyên Tôn tư lợi sai khiến người khác, Hãng và Phác đều tấu trình sự việc không đúng sự thật, Khuê và những người khác đều nhờ vả để được bổ nhiệm và báo cáo không trung thực. Đại Lý tự trình lên vụ án, nên họ bị trừng phạt. Do đó, An Hợp và những người khác đã được bổ nhiệm theo ân điển cũng bị yêu cầu sửa đổi.

(Ngày 21 tháng 4 Bính Dần, ngày 18 tháng 5 Quý Tỵ. Một ngày, Vua sớm ngồi giận dữ, nói với các quan phụ chính: “Trẫm suốt đêm không ngủ, nghĩ đến việc gặp các khanh. Chủng Ngạc chết ở Phu Diên, thuộc hạ của ông có Từ Huân lạm dụng ấn tín của Kinh lược ty, điều động binh mã, tiến cử quan lại, gần như gây loạn! Hãy ra lệnh chém đầu hắn ngay tại chỗ.” Vương An Lễ nói: “Lạm dụng ấn tín đúng là có tội, nhưng khi tướng quân vừa mất, việc báo cáo khẩn cấp, có thể có những việc đã soạn thảo từ trước mà chưa phát ra, một khi dùng đến để hoàn thành chí hướng của ông ấy, thì khác với việc lén lút làm trong lúc bình thường để mưu cầu tư lợi. Xin hạ xuống xét xử theo luật pháp.”

Vua nói: “Khanh sao lại bênh vực như vậy? Có phải vì Huân là văn lại, và có đại thần tiến cử, nên khanh muốn bảo vệ hắn? Vậy thì Hàn Tồn Bảo có tội gì?” An Lễ nói: “Thần không quen biết Từ Huân, còn tội của Tồn Bảo thì thần không rõ. Bệ hạ cho rằng Tồn Bảo vô tội mà bị giết, thì như Huân, còn có thể bắt chước sao?”

Vua than thở: “Trẫm cả đời chưa từng làm việc gì vừa ý, như anh khanh là Vương An Thạch không chém Trầm Khởi, đến nay vẫn còn hối tiếc.” Chương Đôn nói: “Việc vừa ý sao có thể làm?” Sau đó, sai Ngự sử bắt Huân giam vào ngục, rồi lại ra lệnh cho Ngự sử: “Ai dám tiết lộ tội của Huân, sẽ bị xử nặng.” An Lễ nói: “Thần muốn thỉnh cầu, xin thêm chữ ‘nhập’ dưới chữ ‘xuất’ trong chiếu chỉ, để văn bản được hoàn chỉnh.”

Sau đó, Huân bị kết tội, chỉ bị giáng một cấp. Thái Xác dò ý Vua, xin đày Huân đến vùng hoang vu, An Lễ nói: “Bệ hạ đã rõ tình hình của Huân, giao cho pháp luật xử lý, mà Xác lại có hành động này, chỉ là lợi dụng sự giận dữ của bệ hạ trước đây thôi.” Xác đỏ mặt hận thù. Điền Hoạ viết 《Vương An Lễ hành trạng》 như vậy. Từ Huân bị giáng một cấp, không khớp với thực lục, cần xem xét lại.)

[61] Ghi chép con trai của Phó sứ Lục văn tư là Trương Trọng Mưu tên là Kiến, được bổ nhiệm vào chức Nội cao phẩm, vì Trọng Mưu đã theo quân ra khỏi biên giới và tử trận.

[62] Chiếu chỉ cho Quân đầu ty: “Từ nay, các lộ giải phát binh lính có võ nghệ cao cường, dù có giảm bớt, nhưng nếu vẫn còn hơn những người có võ nghệ thấp nhất trong cùng một đợt giải phát, thì đều thi hành theo lệnh Nguyên Phong.”

[63] Ban cho Kinh lược ty Hoàn Khánh lộ một nghìn tấm độ điệp để tăng, lệnh đổi lấy mười ba vạn quan tiền, đóng gói riêng.

[64] Chuyển vận ty Thiểm Tây tâu: “Sau khi quân đội hưng thịnh, lần đầu được ban thưởng giao, xin từ số tiền đóng gói và tiền vốn của xưởng đúc tiền đồng trong lộ, chi ra hai mươi vạn quan tiền mặt.” Sau đó, Hộ bộ chỉ xin chi mười vạn quan tiền vốn đồng và thiếc đóng gói từ xưởng đúc tiền Vĩnh Hưng quân, nếu không đủ, thì bổ sung từ tiền vốn đồng và thiếc của xưởng đúc tiền Hoa Châu và Thiểm Phủ, nhưng không lấy làm lệ. Được chấp thuận.

[65] Ngày Ất Mùi, chiếu chỉ cho Đô thủy sứ giả Phạm Tử Uyên giáng một chức, Tri Hà Dương là Trương Vấn[8] phạt hai mươi cân đồng. Trước đó, Tử Uyên dâng kế hoạch, huy động năm vạn người đào sông Đại Hà Pha thẳng ở huyện Ôn để chuyển dòng sông. Sau đó, mưa lớn và dịch bệnh liên tiếp xảy ra, số người chết rất nhiều. Trương Vấn tâu: dân phu khổ cực, xin bãi bỏ việc này. Nhưng Tử Uyên lại nói rằng hoàn toàn không khó khăn, và còn tâu không chính xác số người chết. Do đó, chiếu chỉ cho Ngự sử đài điều tra, và tâu của Trương Vấn cũng có sai sót, nên cả hai đều bị trách phạt.

[66] Lễ bộ tâu: “Quốc Tử Giám tự ý cho Chủ bạ quản lý việc thu chi kho tiền, Giám thừa Diệp Tổ Hợp đã theo lệnh của Giám xin giám sát việc mở đóng kho, lại còn tâu xin cho Chủ bạ quản lý.” Chiếu chỉ giáng chức Ty nghiệp, Thông trực lang Chu Phục, Thừa, Phụng nghị lang Diệp Tổ Hợp, Chủ bạ, Thừa nghị lang Vương Nguyên, mỗi người giáng một chức, giữ nguyên chức vụ, Tổ Hợp bị phạt 20 cân đồng.

Lại tâu: “Triều phụng lang Hồ Tông Viêm tâu: ‘Thấy việc tu sửa Vĩnh An lăng đã hoàn thành, lại tiếp tục tu sửa các lăng Vĩnh Xương. Nghe nói lăng tẩm không có quy định tu sửa, xin dừng lại.’ Theo chỉ dụ triều đình, bộ này cùng Thái thường tự, Bí thư tỉnh, Thái sử cục bàn bạc kỹ. Xét lại chuyện cũ thời Đường, có việc tu sửa. Nay việc tu sửa hạ cung Vĩnh An lăng, xin triều đình xem xét kỹ.” Chiếu theo lệnh trước, tiếp tục thi công.

[67] Ngày Bính Thân, chiếu chỉ: “Lộ Tử Châu trước đây vì việc biên giới Lô Châu, các hộ phu dịch vận chuyển vật liệu và xây dựng, theo lệnh ân xá được miễn tiền dịch, còn các hộ thuê nhân công, được miễn một phần năm tiền dịch; các châu huyện ven sông bị điều động phu dịch và cung cấp ngựa, ngoài ra còn điều động thuyền bè và thủy thủ, được miễn thêm một phần.” Theo đề nghị của Chuyển vận ty và Đề cử ty.

[68] Ngày Đinh Dậu, lấy Hoàng thành sứ, Vinh Châu đoàn luyện sứ Hòa Bân làm Tây thượng các môn sứ, tri châu Ung Châu kiêm Đông Nam đệ thập tam tướng.

(Ngày 20 tháng giêng, ngày 14 tháng hai, có thể bỏ.)

[69] Lộ Quảng Nam Tây, các chỉ huy Trừng Hải ở châu Cao, Ngô, Quý mỗi nơi tuyển thêm 100 người, quân Chu Nhai 200 người, tổng cộng lấy 400 người làm định mức.

[70] Ngày Mậu Tuất, Diêu Lân tâu, trước đây ở Kham Ca Bình, tướng phá trận Thôi Phong là Hác Anh, sứ thần dưới quyền là Tôn Mậu Tông cùng kỵ binh xin ban ân. Chiếu chỉ cho Hác Anh thăng một chức, Tôn Mậu Tông cùng 12 người khác mỗi người giảm hai năm khảo khóa, 100 kỵ binh mỗi người được cấp 5 tấm lụa.

[71] Thái thường tự tâu: “Theo lệnh tế tự, hàng năm vào tháng trọng xuân và thu, phụng thờ Đế Đào Đường thị ở Vận châu, lấy Tư đồ Tiết làm phối tế. Nhưng miếu Đế Nghiêu ở Vận châu không có lăng tẩm, cũng không có cổ tích. Xin theo lời tâu của Tri Bộc châu Phạm Tử Lượng, dời hai lễ tế này đến miếu Đế Nghiêu ở huyện Lôi Trạch.” Được chấp thuận.

[72] Ngày Kỷ Hợi, Tri thành đô phủ Lã Đại Phòng tâu: “Hàng năm theo ngạch cung cấp gấm, trước cấp tiền lụa, hoa đỏ và tiền công cho thợ dệt thuê dệt, thường bị kém chất lượng và nợ đọng. Trước đây đã lệnh cho 80 thợ quân dệt, so với trước tiết kiệm chi phí mà chất lượng tốt hơn. Nay dệt trước các loại gấm tế pháp và gấm thấu bối lộc thai dâng lên, xin đổi thành thợ dệt của cơ viện bản phủ.” Chiếu rằng: “Thành đô phủ dùng thợ quân dệt gấm, so với phương pháp dệt trước đây tinh xảo hơn, lại tiết kiệm chi phí, đều theo như lời tâu.”

(Chu bản cho rằng việc nhỏ không đáng ghi, đã bỏ đi.)

[73] Ngày Canh Tý, chiếu rằng: “Ty đề cử bảo giáp, ba lộ so với ty chuyển vận, đề cử ngang với chuyển vận sứ, đồng đề cử ngang với phó sứ, đồng quản câu ngang với phán quan; phủ giới Khai Phong so với ty đề điểm, đề cử ngang với đề điểm quan, đồng đề cử ngang với đồng quản câu quan của ba lộ. Đều là giám ty[9], người tùy tùng, cử quan, ân sủng, đều theo chức vụ tương ứng. Võ thần loại việc dạy tập, văn thần loại việc thúc giục, thu chi tiền vật, đều không được xâm phạm lẫn nhau.”

[74] Đề cử bảo giáp lộ Hà Đông Vương Sùng Chửng xin từ nay sai khiến dân binh, căn cứ vào trình độ võ nghệ cao thấp mà lập chế độ lao dịch, các ty không được tự ý sai phái. Chiếu cho ty thừa chỉ xu mật định thành lệnh. Sau đó, ty thừa chỉ tâu: “Năm lộ bảo giáp muốn sai khiến không theo thứ tự, xin báo ty này xem xét chỉ huy rồi tâu[10], cần phải xét năng lực phù hợp, sai phái đúng việc, nếu tự ý sai phái, phạt tù hai năm.” Được chấp thuận.

[75] Chiếu rằng: “Nghe nói Vương Dư Ứng ở Phong Châu không phải là người có tài giữ biên cương, hãy lệnh cho Kinh lược ty lộ Hà Đông xem xét tình hình khẩn cấp hay không, có thể dựa vào được hay không rồi tâu lên.”

[76] Tiền Hà Bắc đô chuyển vận sứ kiêm Thố trí địch tiện Kiển Chu Phụ tâu: “Các ty Thị dịch, Ứ điền, Thủy lợi thuộc Tư nông tự từ trước đến nay đã chuẩn bị lương thực, đều phân tán ở các châu huyện ven biên giới và gần trong nội địa, trong đó có bảy phần gạo trắng, nhưng các nơi đều xa Định Châu và Doanh Châu, khó vận chuyển vào kho mới. Nay các châu quân ven biên thiếu gạo, Chuyển vận ty đang thu mua, xin lấy số gạo này đổi lấy gạo của các ty, bắt họ trả lại tiền, rồi lệnh cho Thố trí địch tiện ty tiếp tục mua chín phần gạo trắng như cũ.” Được chấp thuận.

(Thần Tông nói: “Gạo cần dùng ngay.” Nên kiểm tra kèm theo. Đã kèm theo ngày 27 tháng 12 năm Tĩnh Quốc nguyên niên.)

[77] An phủ sứ lộ Định Châu Lữ Công Trước tâu: “Vụ mùa thu ở Hà Sóc năm nay khác thường. Hai kho Diễn Tích và Bảo Doanh ở Định Châu đã xây xong, xin ban chiếu cho Thố trí địch tiện ty tăng giá so với thị trường, dùng cả tiền mặt và văn sao để mua rộng rãi. Tuy nhiên, theo việc mua gạo trắng ở kho mới, phải đạt chín phần trở lên, nếu quá cầu kỳ thì dân khó nộp; và nghe nói nếu không để lại một hai phần thóc thì dễ hư hỏng. Hơn nữa, kho này đã mua gạo, lại dùng nhân công trộn đều, nay nếu chỉ mua tám phần gạo mịn, qua năm bỏ đi phần thóc [tiếu thù], đã là chín phần trở lên, khi cần dùng gấp không phải xay giã, không chỉ tiết kiệm tiền quan, số lượng mua nhiều, mà còn có thể để lâu được.” Chiếu cho Thố trí địch tiện ty xem xét.

Sau đó, Địch tiện ty tâu: “Xét lại phép mua, ngoài việc thu mua chín phần gạo trắng trở lên theo kế hoạch hàng năm, số gạo trắng phong trang chỉ cần đạt tám phần trở lên, việc Lữ Công Trước tâu không khác, nên theo chiếu chỉ đã ban mà thi hành.” Được chấp thuận.

[78] Chiếu mượn năm vạn quan tiền quân nhu từ Chuyển vận ty Thiểm Tây, để chi cho các Hán, Phiền cung tiễn thủ thiếu lương.

[79] Ban cho Kinh lược ty lộ Kinh Nguyên một ngàn độ điệp tăng, làm tiền thường bình. Lễ bộ tâu, đã cấp quá hạn mức năm, chiếu đặc cách cấp thêm.

[80] Ty Kinh lược An phủ Chế trí sứ Hi Hà Lan Hội lộ tâu: “Các tướng trong lộ đều thiếu ngựa, trước đây vâng chỉ lệnh Ty Đề cử Thiểm Tây Mãi Mã Giám Mục chọn 5.000 con ngựa để bổ sung vào số thiếu của cấm binh và dân binh dưới quyền các tướng trong lộ. Tuy nhiên, hiện mới chỉ phân bổ được hơn 1.900 con. Xin được chỉ chi trả giá ngựa cho năm tướng quản lý, để họ tự chọn mua theo kích thước và giá cả do Ty Mãi Mã quy định, số ngựa mua này sẽ được tính vào hạn ngạch hàng năm của Ty Mãi Mã.” Được chấp thuận.

(Tháng 8, Ty Kinh lược An phủ Chế trí Hi Hà Lan Hội lộ tâu: “Cấm binh và dân binh dưới quyền các tướng trong lộ đều thiếu ngựa, vâng chiếu chọn 5.000 con ngựa từ Ty Mãi Mã, đã cấp 1.900 con, số chưa cấp xin được chi trả giá ngựa cho năm tướng tự mua theo quy định, số này sẽ được tính vào hạn ngạch hàng năm của Ty Mãi Mã.” Được chấp thuận. Bản chí chỉ sửa như vậy, hoặc dùng ngay.)

[81] Thượng phê: “Quân khí do kinh đô chế tạo thường lên đến hàng vạn, dù đã tìm kiếm nhiều mẫu mã, nhưng vẫn lo chưa đáp ứng được mọi yêu cầu, hoặc không phù hợp, chỉ tốn công sức. Nghe nói Kinh lược sứ Phu Diên lộ Lưu Xương Tộ từng tham gia nhiều trận chiến, giỏi cưỡi ngựa bắn cung, lại chú ý đến binh khí, những thứ ông dùng đều rất hợp lý. Uỷ Tẩu mã Thừa thụ Hoắc Bính truyền lệnh cho Xương Tộ, yêu cầu ông liệt kê các loại binh khí dùng trong chiến đấu bộ binh mà ông quen dùng, cùng những vũ khí lợi hại mà ông từng chứng kiến binh sĩ sử dụng để chống giặc, gửi về trình lên.”

(Ngày 15 tháng 9, ban quân khí cho Xương Tộ. Bản chí nhầm Phu Diên là Kinh Nguyên, nay theo thực lục.)

[82] Chiếu: “Trong 《Nam Giao thức》 có chỗ hoàng đế xưng ‘Thần’, nhưng quan được cử đi sứ lại không xưng ‘Thần’. Từ nay trở đi, vẫn xưng ‘Thần’ như cũ.” Theo nghi thức cũ, hoàng đế xưng “Thần”, quan được cử đi cũng xưng “Thần”. Năm Hi Ninh thứ 5, Thẩm Quát dâng 《Nam Giao thức》, cho rằng quan được cử đi cũng xưng “Thần” là không hợp lễ, nên đã sửa lại. Đến nay, khôi phục như cũ.

[83] Hình bộ xin: “Khi Lại bộ bổ nhiệm quan Tả đoán hình ở Đại Lý tự, trước hết phải cùng với Hình bộ và các quan trưởng, phó của Đại Lý tự bàn bạc xem có thể được hay không, sau đó mới chú định. Vẫn lấy người đã qua thử nghiệm, có thâm niên trở lên để bổ sung. Nếu thiếu chức Chính thì bổ bằng Thừa, thiếu Thừa thì bổ bằng Bình sự.” Chiếu cho Hình bộ và Lại bộ cùng lập pháp, ghi thành lệnh.

Sau đó ghi thành lệnh: Nếu thiếu chức Tư trực, Bình sự thì chọn người từ Thượng thư và Thị lang tả tuyển; thiếu Thừa thì chỉ chọn người từ Thượng thư tả tuyển, nhưng phải là người đã từng giữ chức Tư trực hoặc Bình sự, có thâm niên thân dân. Hai điều trên, người mới đổi chức, nếu đáng được bổ làm Tri huyện cũng được chọn. Nếu thiếu chức Chính thì chọn Thừa hoặc Tư trực, Bình sự đang có thâm niên Thông phán trở lên[11]. Những người được chọn như trên, không hạn chế đang tại chức hay đã nhận chức nhưng chưa nhậm chức. Nếu từng xử lầm tội đồ trở lên đã quyết án hoặc tội tử hình, hoặc tội tư tình tiết nặng, tội tham nhũng, hoặc bị cách chức chưa hoàn thành nhiệm kỳ, đều không được chọn.

[84] Đô thủy sứ giả Phạm Tử Uyên tâu: “Việc dẫn nước từ sông Lạc thông ra sông Biện đã gần năm năm. Khi mới khởi công, sông lớn chảy về phía bắc, cách xa sông Biện trong, nên đã đắp đê và đặt tảo để ngăn sóng dữ. Nay thần xem xét tình hình nước, thấy sông lớn có thể chuyển dòng được.” Ông cũng dâng lên số lượng binh lính và vật liệu cần thiết để đắp đê ngăn sông. Triều đình ra chiếu cho Tử Uyên xem xét kỹ lưỡng, từ bờ nam dần dần tiến hành đặt cứ nha để điều tiết dòng nước vào sông mới[12], và báo cáo cụ thể việc cần làm. Sau đó, Tử Uyên tấu: “Từ chân núi Vũ Tế đến bờ sông và bãi bồi non, tu sửa đê và đắp đê tảo, cùng với việc xây đê mới ở bờ nam sông mới, cần huy động 6.000 binh lính[13], thời hạn 200 ngày hoàn thành; đào một con sông thẳng dài 63 dặm, rộng 100 thước, sâu 1 trượng, cần 40.070 binh lính[14], thời hạn 30 ngày hoàn thành; tổng chi phí cho cây, cỏ và dây tre là hơn 170.000 quan tiền.” Tất cả đều được chấp thuận.

[85] Triều đình ra chiếu: “Từ nay, những kẻ cướp bị bắt, các lộ giao cho Ty đề điểm hình ngục, phủ Khai Phong giao cho Ty đề cử tặc đạo tuần kiểm công sự, không cần giao xuống các ty khác.”

[86] Ngày Tân Sửu, Hộ bộ tâu: “Tiền mua sổ diêm tại trường mua bán diêm sao ở kinh đô đã hết, xin mượn 200.000 quan tiền mua diêm mạt để mua sổ diêm của khách.” Triều đình đồng ý, theo chiếu ngày 18 tháng 3 năm Nguyên Phong thứ 4, đợi giá ổn định sẽ tâu xin chỉ thị.

(Việc này ghi trong 《Hội yếu》 ngày 28 tháng 9, nhưng 《Thực lục》 không có, cần xem xét thêm.)


  1. 'Sùng' nguyên bản viết là 'Chiêu', theo 《Tống hội yếu》 chương Nghi chế 12-6 và 《Tống sử》 quyển 464, truyện Nhậm Trạch sửa lại.
  2. Chữ 'ước' trong bản các bản khác là 'nạp', có lẽ đúng.
  3. anh Thủ Cố tặng Tư Châu phòng ngự sứ 'Thủ Cố', 《Tống hội yếu》 nghi chế 12-6 chép là 'Thủ Chính'.
  4. chia cho dân cày cấy 'chia' nguyên là 'ở', theo bản các sửa.
  5. Biên tập danh sách các quan từ chức Thừa vụ lang trở lên thuộc bộ này, ghi rõ quê quán: chữ 'Tập' nguyên bản là 'Tiến', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 tuyển cử 23-4 sửa lại.
  6. Lập thành sách để phòng khi cần tuyển dụng: chữ 'Mục' nguyên bản là 'Tự', căn cứ theo bản trong các sách sửa lại.
  7. 'Tri' chữ này nguyên bản thiếu, theo các bản khác bổ sung.
  8. chữ 'Dương' dưới nguyên có thêm chữ 'Quân', căn cứ vào các bản và 《Tống hội yếu》 chức quan 66-25 mà bỏ.
  9. 'đều là giám ty', chữ 'vi' nguyên là 'vô', theo 《Tống hội yếu》 binh 2-27 sửa.
  10. 'xin báo ty này xem xét chỉ huy rồi tâu', chữ 'tấu' trên nguyên có chữ 'thu', theo các bản và sách trên đã xóa.
  11. chọn Thừa hoặc Tư trực, Bình sự đang có thâm niên Thông phán trở lên, chữ 'tuyển' nguyên bản thiếu, theo 《Tống hội yếu》 chức quan 15-12, 24-9, tuyển cử 23-4 bổ sung.
  12. từ bờ nam dần dần tiến hành đặt cứ nha để điều tiết dòng nước vào sông mới, 'dần' nguyên bản là 'Tân', theo 《Tống hội yếu》 phương vực 16-17 sửa lại
  13. 6.000 binh lính, 'binh' nguyên bản là 'cộng', theo sách trên sửa lại
  14. 40.070 binh lính, 'binh' nguyên bản là 'cộng', theo sách trên sửa lại

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.