VI. TỐNG THẦN TÔNG
[BETA] QUYỂN 347: NĂM NGUYÊN PHONG THỨ 7 (GIÁP TÝ, 1084)
Bắt đầu từ tháng 7 năm Nguyên Phong thứ 7 đời Thần Tông đến hết tháng đó.
[1] Mùa thu, tháng 7, ngày Kỷ Hợi, lấy Phụng nghị lang Từ Ngạn Phu làm Đề cử Kinh Hồ Bắc lộ thường bình đẳng sự. Ngạn Phu trước làm Tri huyện Lê Dương, châu Vệ, từng tâu: “Tiền lãi của phép Thanh miêu có thể dùng theo phép Thường bình, cho phép dân vay mượn khi gặp việc cát hung khẩn cấp, dùng người bảo lãnh, lập kỳ hạn nộp cho quan.” Nhưng không được trả lời.
Lại tâu: “Việc bảo giáp bỏ trốn, e rằng qua thời gian sẽ làm giảm số lượng ban đầu[1]. Xin lập pháp trách nhiệm cho chính trưởng.” Triều đình giao cho Khai Phong phủ giới và ba lộ bảo giáp ty xem xét rồi tâu lên, nên có mệnh lệnh này.
[2] Chiếu tay cho Lý Hiến: “Các vật phẩm như khuê, bích, chương, toản dùng trong việc tế tự của triều đình thường thiếu ngọc tốt. Những năm gần đây, các nước như Vu Điền tuy có cống nạp, nhưng phẩm chất thấp, không khác gì đá xấu. Khanh có thể chọn những người Hán hoặc người phiên trước đây giỏi buôn bán, quen biết rộng với các nước phiên, hứa trả giá cao, sai họ đi thu mua rộng rãi, và truyền đạt ý này đến các nơi như A Lý Cốt để tìm kiếm mà không gây hại.”
[3] Chiếu: “Các quân chiến mã ở vùng biên giới phía tây Thiểm Phủ lộ, theo lệ của châu Lân, Hà Đông, không phân biệt trên dưới chuồng, cấp cỏ và thức ăn mỗi loại bảy phần.” Lưu Xương Tộ, Tri châu Diên, xin không phân biệt đông hạ, cấp tám phần. Vua phê: “Chiến mã trong quân chính vốn rất quan trọng, nay việc dùng binh chưa dứt, đúng lúc thiếu ngựa, việc này thực sự hệ trọng. Đặc chuẩn theo lời xin, các lộ Thiểm Tây, Hà Đông, Hi Hà đều theo đó.”
[4] Ngày Canh Tý, chiếu tăng giá đồng ở trường Sầm Thủy, châu Thiều, theo lời thỉnh cầu của Đề điểm chú tiền ty.
[5] Ngày Tân Sửu, bổ nhiệm Phạm Thuần Túy, Tân Hà Đông Chuyển vận phó sứ, làm Hữu ty lang trung. (Ngày 4 tháng 6, bổ nhiệm Chuyển vận phó sứ.) Tôn Lãm, Hữu ty viên ngoại lang, Thừa nghị lang, làm Hà Đông Chuyển vận phó sứ. Thượng phê: “Nghe nói Thuần Túy và Lữ Huệ Khanh, Tri phủ Thái Nguyên, vốn có hiềm khích riêng, e rằng khó hợp tác xử lý việc biên cương” nên có điều này[2].
[6] Công bộ tâu: “Hàn Giáng, Tri phủ Hà Nam, xin tu sửa Trường Xuân điện trong Đại nội, đề nghị Chuyển vận ty chi tiền mua gỗ một vạn quan.” Được chấp thuận.
[7] Chuyển vận sứ Quỳ Châu lộ là Vương Tông Vọng xin đặt ty chuyên quản việc muối tại phủ Thành Đô, chọn nơi có muối ở hai xứ Thục để lập trường, các giếng muối đều do quan quản lý, sau đó bán cho dân, thu thuế không quá một phần năm, mỗi năm thu được không dưới ba mươi vạn quan, lại xin giảm giá muối ở Bồ Giang[3], mong rằng sẽ hưng lợi trừ hại, làm ơn cho dân xa. Phủ Thành Đô và lộ Tử Châu đều là khu vực cấm buôn bán muối, những hộ nấu muối phải đến quan nộp muối, không được mua bán riêng. Ở giám Lăng Tỉnh là huyện Tỉnh Nghiên và châu Vinh là huyện Ứng Linh đều đặt trường riêng, mỗi nơi cử một viên giám quan. Các châu huyện khác có ít giếng muối thì cử quan thuế vụ kiêm nhiệm. Nơi không có thuế vụ thì giao cho lệnh, tá lập trường.
Tại phủ Thành Đô đặt ty Đô Diêm Vụ chuyển vận, nhận muối từ các trường, trước tiên giữ lại một phần tiền lãi làm số tiền mua muối ban đầu, lệnh cho ty Đô Vụ tăng thuế vận chuyển, bán theo giá thị trường, dần dần hạn chế việc thôn tính, ổn định giá muối. Ước tính hai lộ có sáu trăm giếng, giếng lớn mỗi ngày nấu được một ngàn cân muối, giếng nhỏ hai trăm cân, mỗi ngày thu được mười tám vạn cân, mỗi năm được sáu nghìn ba trăm bảy mươi hai vạn cân muối. Giá một trăm cân muối là bốn ngàn tiền, tổng cộng là hai trăm năm mươi bốn vạn tám ngàn tám trăm quan, mỗi quan thu một phần năm tiền lãi, mỗi năm thu được ba mươi tám vạn hai ngàn ba trăm hai mươi quan tiền lãi.
Xin ban năm trăm độ điệp, mười vạn lạng bạc, mượn bốn mươi quan tiền của ty Chuyển Vận Đề Cử hai lộ làm vốn, đợi ba năm sau hoàn trả. Số vốn ban đầu tuy cần dùng hơn hai trăm năm mươi bốn vạn quan, nhưng nếu dùng cách chi chuyển, chỉ cần số tiền xin hiện nay là đủ.
Chiếu giao các lộ Chuyển Vận ty xem xét kỹ lợi hại rồi tâu lên.
[8] Tứ Phương Quán sứ, Vinh Châu Đoàn Luyện sứ, Tổng Quản Kinh Nguyên lộ là Diêu Lân xin dùng ân điển tâu con trong lễ Nam Giao để tặng một chức quan cho ông nội là Phúc[4]. Chiếu rằng vì Lân có nhiều chiến công, nên đặc cách chuẩn y.
[9] Chiếu sai quan đến hai lộ Hà Bắc, Hà Đông theo quy định kiểm tra sự nghiệp của đợt bảo giáp đầu tiên: Tứ phương quán sứ, Thứ sử Đường Châu là Tào Tụng, Đông đầu cung phụng quan Nội thị tỉnh, kiêm chức Câu đương Nội đông môn ty là Diêm An, phụ trách hai lộ Hà Bắc Đông, Tây; Đông thượng các môn sứ, Phó đô thừa chỉ Xu mật viện là Trương Sơn Phủ, Đông đầu cung phụng quan Nội thị tỉnh, kiêm chức Câu đương Ngự dược viện là Lưu Duy Giản, phụ trách lộ Hà Đông.
[10] Ngày Nhâm Dần, chiếu cho quan phụ trách mua ngựa ở Thiểm Tây gia hạn thời gian khảo sát thêm hai năm, do có quan chức báo rằng số ngựa mua hàng năm không đạt chỉ tiêu.
[11] Ngày Quý Mão, quan phụ trách các huyện, trấn thuộc phủ Khai Phong là Phạm Tuân tâu: “Chiếu lệnh điều động 3.300 con ngựa từ các hộ thuộc phủ Khai Phong để bổ sung cho các lộ Hà Đông, Phu Diên[5], Hoàn Khánh. Sau khi các huyện đã chọn và điều động ngựa, vẫn còn thiếu hơn 1.100 con.” Chiếu lệnh bổ sung ngựa từ các hộ phường quách thuộc hai lộ Kinh Đông, Kinh Tây, số còn thiếu không cần bổ sung thêm, lệnh cho Phạm Tuân trình bày rõ số ngựa không điều động được của phủ Khai Phong để tâu lên.
(Ngày 9 tháng 6 cần xem xét thêm.)
[12] Phủ Khai Phong tâu: “Cháu của cố Tuyên huy Nam viện sứ Lý Xử Vân là Lý Kham, cháu của cố Tham tri chính sự Quách Chí là Quách Viên, đều xin ân điển vẽ chân dung tổ tiên. Lý Kham phạm tội gian dâm nhưng được ân xá, Quách Viên mắng quan tri huyện bản quản nên bị xử trượng và biên quản, chưa dám ban ân điển.” Chiếu ban ân điển cho cả hai, Quách Viên được bổ nhiệm chức vụ bên võ.
[13] Quản câu mục phóng ngựa chưa hợp đàn ở huyện Trung Mâu là Thị cấm Lý Tư Đạo, Điện thị Hà Uyên, đều bị gia hạn thời gian khảo sát thêm ba năm, do Kinh chế Mục mã ty báo rằng chuồng ngựa bị đổ, nhiều ngựa chết và bị thương.
(Bản Chu chép việc nhỏ không ghi.)
[14] Ngày Giáp Thìn, Tri phủ Hà Nam là Hàn Giáng tâu: “Sông Y, Lạc dâng cao, chảy vào doanh trại quân đội trong thành, xin ban tiền đặc chi cho quân Sương, Cấm bị thiệt hại do lũ lụt, và sửa chữa doanh trại quân đội trước. Dân quân phía bắc sông bị thiệt hại, xin tiếp tục tâu lên sau.” Chiếu rằng: “Những hộ dân bị lũ lụt, cho điều tra cứu tế. Quân Sương, Cấm bị lũ lụt, ban tiền di dời tùy theo cấp bậc, người chết thì cấp tiền theo pháp lệnh dân hộ bị chết đuối.”
(Sách 《Cựu kỷ》 chép: Sông Y, Lạc tràn, ngập Tây Kinh. Sách 《Tân kỷ》 chỉ chép: Sông Y, Lạc tràn.)
[15] Ty An phủ lộ Đại Danh phủ tâu: Đê sông Nguyên Thành bị nước xói lở, đê ngang vỡ, phá thành. Hiện đóng cửa thành con, bảo vệ kho tàng. Chiếu cho ty Thừa Bắc Ngoại Đô Thủy Giám và quan Ty Chuyển Vận Hà Bắc thân hành đốc thúc đắp kín cửa nước đê ngang phía nam thành.
(Sách 《Cựu kỷ》 chép: Sông tràn đê Nguyên Thành, ngập Bắc Kinh, sai sứ cứu tế, ban tiền cho nhà người chết đuối. Sách 《Tân kỷ》 theo đó, nhưng đổi chữ “tràn” thành chữ “mất”[6].)
[16] Tri phủ Thái Nguyên là Lữ Huệ Khanh tâu: “Con của Tả Tàng Khố Phó Sứ là Trương Thế Quy là Trương Củng tự nói, cha là Thế Quy trước kia kìm chế Lan Châu, cùng Lý Kinh ra khỏi biên giới, nay Kinh được thăng một chức, cha chỉ được ban 50 tấm lụa, xin từ chối ban thưởng để được suy ân khác.” Chiếu rằng Thế Quy nhiều lần lập chiến công, ban 300 tấm lụa.
[17] Ty Kinh Lược lộ Kinh Nguyên tâu, xin cho Bành Tôn được xét khảo hạch để thăng chức, chiến công riêng được suy ân, và thăng chức Đô Kiềm Hạt. Chiếu rằng Bành Tôn đợi khi xét khảo hạch xong, sẽ thưởng công phong làm Đoàn Luyện Sứ.
[18] Ngày Bính Ngọ, chiếu rằng: “Viên Ngoại Lang Hộ Bộ là Trương Tuân, Câu Đương Ngự Dược Viện là Lưu Duy Giản cứu tế quân dân Tây Kinh bị lũ lụt, và đốc thúc cứu hộ vật quan, tường thành. Những việc cần làm nếu có trở ngại, tùy nghi thi hành.”
[19] Hà Bắc lộ Chuyển vận ty tâu rằng, nước sông bao vây phủ Đại Danh, thấm vào thành phủ, xin sai nhiều binh lính, thuyền bè đến cứu hộ. Chiếu sai Kim bộ Viên ngoại lang Tỉnh Lượng Thái, Câu đương Ngự dược viện Lương Tòng Chính đi xem xét[7], việc cứu tế hợp lý, theo chỉ huy của Tây Kinh.
[20] Kinh lược ty Phu Diên lộ tâu: “Chủng Ngạc dẫn quân ra khỏi biên giới tiến đánh, phân phái các tướng đánh dẹp quân Tây tặc không thuần phục, thu phục Hạ Châu, đến nơi thượng thư Bình Bạch Trì, những người có công, trong đó tướng, phó hạng hai là Lý Phố xin ban ân.” Chiếu rằng: “Lý Phố thăng một chức; Triệu Thủ Trung, Lý Tư Cổ đã chết[8], ban ân thưởng thăng chức, mỗi người được ban 50 tấm lụa. Triệu Thủ Trung 150 tấm, Lý Tư Cổ 50 tấm, cấp cho gia đình họ.”
[21] Ngày Đinh Mùi, Tri Hà Nam phủ Hàn Giáng tâu: “Gần đây bị lũ lụt, từ đê đập Thiên Tân Kiều trong đại nội, sông ngòi, tường thành, doanh trại, kho tàng đều đổ nát. Nghe nói Chuyển vận ty thiếu tiền, khó xoay xở, binh lính đã nhiều lần điều động, công việc của phủ quan quá nhiều, mong được cho phép thần tổng quản[9], ban 10 vạn quan tiền, chọn 35 người quan kinh triều, tuyển nhân, sứ thần, cùng với quan phủ chia nhau sửa chữa. Xin điều 3-4 nghìn binh lính từ các lộ.” Chiếu rằng: “Chuyển vận ty lấy 10 vạn quan từ tiền dư kinh phí. Thẩm Hi Nhan đi lại cùng Hàn Giáng đồng đề cử việc sửa chữa và chọn 3 viên sứ thần. Điều 2 nghìn binh lính từ lộ này, nếu không đủ thì thuê thêm.”
[22] Tri phủ Thái Nguyên Lữ Huệ Khanh tâu: “Các châu Lân, Phủ, Phong thiếu người phòng thủ, đã gửi văn thư cho Ty đề cử bảo giáp để điều động bảo giáp. Xin cho quan Ty đề cử trước hết đi vỗ về dân chúng, đồng thời đặt ra quy định về việc điều động.” Triều đình nghe theo. Lại tâu rằng đã khai khẩn xong hai vùng đất bỏ hoang.
Lúc đầu, Huệ Khanh tâu rằng: “Thần suy nghĩ về kế sách lâu dài chống giặc, tuy đã chia quân làm hai phiên, cùng hội định binh lính giữ trại mới, nhưng việc biên giới chưa yên, binh lính chưa thể giảm hết, chi bằng khuyến khích việc cày cấy công tư là cấp thiết. Nguyên nhân khiến biên thú lâu ngày khốn khổ là do mua lương thực đắt đỏ và vận chuyển xa. Nay nếu khai khẩn thêm đất đai biên giới, thì có thể tăng thêm biên thú, không lo binh lực ít không địch nổi; dân biên giới được hồi sức, không còn nỗi lo mua đắt vận xa. Ba châu Lân, Phủ, Phong có đất chưa khai khẩn, có thể xuất binh khai hoang, không chỉ thu hoạch hàng năm giúp ích biên phòng, mà còn có thể dụ giặc Tây đến dẫm nát lúa, đặt phục binh đánh úp, so với việc đánh sâu vào đất địch không lường được, thì nhàn hạ hơn nhiều.
Thần đã cử quan đi khảo sát việc cày cấy, thấy rõ dải Hoành Sơn có đất chưa khai khẩn, đều là đất màu mỡ, qua đó là sa mạc cằn cỗi. Nay nhân lúc người Khương chưa quy phục[10], xuất binh phòng thủ mở rộng, cày cấy nhanh chóng, nhân lúc chúng dẫm nát mà đánh úp, dần dời các đồn ải ra ngoài chặn giữ[11], thì không cần đánh sâu mà đất mở rộng ngày càng nhiều. Lại có thể chiêu mộ dân Hán, Phiên làm thủ cung tiễn cày cấy, hoặc dùng quân doanh điền thay thế biên thú, thì chi phí biên giới sẽ giảm. Mong triều đình áp dụng rộng rãi ở các lộ Thiểm Tây.”
Lại tâu: “Quan phủ mua lương đắt, vận chuyển xa từ nội địa, tăng thêm biên thú, là mối lo của quốc kế, mà người biên giới thường lợi dụng để trục lợi. Nay mở rộng cày cấy, hạ giá lương thực, giảm chi phí biên giới, là điều họ không muốn, ắt có kẻ mưu mô xúi giục phá hoại, chỉ cần triều đình kiên quyết đốc thúc, thì việc sẽ thành.” Chiếu cho các quân Kinh lược ty Thiểm Tây xem xét thi hành.
(Có thể khảo ngày Canh Thân tháng 3, Nhâm Ngọ tháng 4. Đoạn này giống với sách ngày 21 tháng 3 Canh Thân, nhưng bản kia sơ lược còn bản này chi tiết, nên giữ một bỏ một. Ngày 27 tháng giêng năm thứ 8 cần khảo.)
[23] Ngày Mậu Thân, Lễ bộ tâu: “Phía tây nam có người dân tộc Phiền xin cống nạp sản vật địa phương, nhưng trước đây không có tên trong sổ sách. Nếu cho phép họ vào cống, xin theo lệ của năm họ Phiền.” Vua đồng ý, hạ chiếu cho Ty Chuyển vận lộ Quỳ Châu xem xét[12], so sánh với số người của một họ để giải quyết.
[24] Lại hạ chiếu cho Thôi quan phủ Khai Phong là Lý Sĩ Lương đứng ra lo việc cứu hộ đê Dương Vũ.
[25] Cấp cho lộ Hà Đông 20 tướng 10.000 cây cung Thần Tí, theo lời thỉnh cầu của Lữ Huệ Khanh.
[26] Thị ngự sử Trương Nhữ Hiền bị cách chức Thị ngự sử, đi làm Tri quân Tín Dương, vì tội nói việc không đúng (việc này xem chi tiết ở ngày Giáp Dần khi Vương An Lễ bị bãi chức).
[27] Hạ chiếu cho năm tướng quan của lộ Kinh Nguyên là Mao Chính và những người khác mỗi người được thăng một bậc, Quản câu văn tự Phan Ban được giảm thời gian khảo xét hai năm, Trương Tô Tuần được thăng một bậc. Vì Ty Kinh lược lộ Kinh Nguyên tâu rằng việc thưởng công quân sự trước đây chưa xứng đáng với công lao.
[28] Hạ chiếu cách chức Đông đầu cung phụng quan của Nội thị tỉnh là Mạch Văn Bính. Vì khi áp tải người Hồi Cốt, Thát Đát và các bộ tộc Phiền đến Hi Hà, ông ta đã cho người mua ngựa tốt trong vùng Phiền, nên bị trách phạt.
[29] Ngày Kỷ Dậu, Vua phê dụ cho Lý Nguyên Tự, chức Tẩu mã thừa thụ ở Phu Diên lộ: “Các lộ đều báo rằng giặc đã đến gần biên giới, tháng 8, 9 chắc chắn sẽ xâm lấn, có thể ở lộ này, hoặc ở Hoàn Khánh, Kinh Nguyên, tình thế có thể dự đoán được. Chỉ cần khi giặc đến, đừng hoảng loạn, thì có thể nắm được tình hình giặc, xử lý việc không sai lầm. Trước đây, Lan Châu bị vây, nghe tin ai nấy đều hoảng hốt, triều đình cũng lo lắng, may nhờ Kinh lược ty tấu báo bình thường, trong ngoài đều yên ổn, từ khi giặc tấn công đến khi thua chạy, không có một chút sai sót nào, chỉ thu được 5 vạn xác giặc. Vì thế, những người lập công đều được thăng ba bậc, còn lại những người phòng thủ, kể cả phụ nữ, ngoài phần thưởng theo quy định, đều được ban thêm vàng lụa với số lượng lớn.
Nay lộ này mới khôi phục thành trại, chưa từng bị giặc tấn công nặng, có thể dụ Kinh lược ty lấy việc đã làm ở Hi Hà lộ làm chuẩn, đồng thời dùng phần thưởng quân đội để rõ ràng khuyên bảo người Hán và người Phiên. Lại nghe nói trước đây khi giặc rút khỏi Lan Châu[13], chúng rất hối hận vì đã dồn lực tấn công thành mà không cướp bóc. Nay chúng xâm lấn ắt sẽ rút kinh nghiệm từ lần trước[14], cho quân cướp phá khắp nơi, không thể không phòng bị. Ngoài ra, cần tiết kiệm tên đá, lúc đó không nên khinh suất phát động[15], như vậy đã nắm chắc một nửa phần thắng. Việc do thám xa là việc quan trọng nhất. Có thể tuyên dụ từng người một.”
(Bản Chu, Mặc giống nhau.)
[30] Ngày Canh Tuất, chiếu rằng các quan viên phạm tội công mà bị ghi vào sổ, nếu bị ghi lại lần nữa thì kéo dài thời gian khảo xét thêm một quý; nếu được ân xá, thì hai lần tính thành một.
[31] Chiếu rằng số tiền công cứ tích lũy còn dư ở Phu Diên lộ chưa thu hồi là 226.000 quan, giao cho Thiểm Tây chuyển vận ty.
[32] Chiếu rằng: “Thuyền tư trên sông Tây Hà chở lúa, phải nộp tiền lực thắng, nếu trốn tránh, gian lận không nộp, sẽ tính số lượng hàng không nộp để xử phạt. Nếu không phải thuyền bè của Ty Đề cử Biện Hà Đề ngạn mà chở muối, táo, lúa, đồ gốm, bồ kết từ Tây Hà qua Tây Kinh hoặc vào sông Biện, dù đã có giấy thông hành và nộp thuế tại trạm thuế, cũng cho phép người tố cáo bắt giữ, tội phạt và thưởng theo luật chở hàng tư.” Đô đại đề cử Biện Hà Đề ngạn Tống Dụng Thần xin hạ lệnh cho Hộ bộ ghi thành luật.
(Bản Chu nói việc nhỏ không đáng ghi, nay theo bản mới lưu lại, có thể thấy Tống Dụng Thần và những người khác bàn về lợi ích chi li đến từng hào.)
[33] Chiếu rằng địa phận hai châu Kiền, Cát đều là khu vực cấm đồng, chì, thiếc, theo đề nghị của Hộ bộ.
[34] Ngày Tân Hợi, chiếu rằng từ nay, vào ngày triều hiến ở cung Cảnh Linh, nếu gặp mưa tuyết, cho phép Tể thần, Thân vương, Chấp chính quan phân hiến.
[35] Ty An phủ lộ Định Châu tâu: “Trại Quân Thành báo: ‘Một nghìn quân phương Bắc, mang theo nông cụ, đi qua phía nam Thạch Thành, cày đất ở Hoàng Hóa Cốc[16]. Người tuần tra không ngăn cản được.’ Đã chỉ huy các quan lại tuần tra không được để lộ, và gửi thư cho Ty An phủ duyên biên châu Bảo thông báo giới phương Bắc ngăn chặn.” Chiếu rằng vẽ bản đồ đất tranh chấp của người phương Bắc, trình bày các chứng cứ trước sau để tâu lên.
[36] An phủ sứ lộ Đại Danh phủ Vương Củng Thần tâu: “Nước sông dâng cao đột ngột, hàng chục vạn người ở Bắc Kinh kêu cứu. Mọi việc làm đều trái với quy định. Thần phải tâu xin, mong ban cho một mệnh lệnh không theo thường lệ.”
Lại tâu: “Mọi việc liên quan đến tiền lương phải báo Ty Chuyển vận, việc thường bình thì Ty Đề cử, việc quân khí, thợ thuyền thì Ty Đề hình, vật liệu đê điều, binh lính thì Ty Đô thủy giám. Chưa từng có ai dám tự quyết. Nay ứng phó cứu dân khẩn cấp, các quan ở xa, phải tùy cơ ứng biến, dẫn đến vi phạm quy định của các ty, nên xin ban cho một mệnh lệnh không theo thường lệ.”
Vua phê: “Việc này liên quan đến cơ mật, nếu quả thật không kịp tâu báo và thông báo cho cấp trên, thì cho phép làm theo lời xin.”
[37] Ngày Nhâm Tý, triều hiến ở cung Cảnh Linh.
[38] Ngày Quý Sửu, phân công các phụ thần cầu trời tạnh ráo.
[39] Lưu Thừa Tự, Tả Tàng khố phó sứ, kiêm Đái ngự khí giới, được thăng làm Lễ tân sứ, Gia Châu thứ sử. Chiếu chỉ viết rằng vợ của Thừa Tự là Kiến An quận chúa, chính là em gái cùng mẹ với Tiên đế, nên được thăng chức.
[40] Chiếu chỉ cho phép nhũ mẫu của Ung vương Hạo là Tôn thị được an táng tại Báo Tiên thiền viện[17], mỗi năm vào tiết Đồng Thiên cấp độ một nhà sư.
[41] Ngày Giáp Dần, Vương An Lễ, Thượng thư tả thừa, được bổ nhiệm làm Đoan Minh điện học sĩ, tri Gia Ninh phủ.
Lúc đầu, Thị ngự sử Trương Nhữ Hiền tâu: “Lại bộ vì Vương Khuê xin cho con là Trọng Đoan làm việc ở Ty Bài ngạn Kinh Tây, trái với quy định tuyển chọn, nhưng bộ này lại giữ khuyết chức, tự ý làm việc sai trái. Lại nữa, Vương An Lễ xin cho con là Bính làm việc ở Cửu Long miếu, trong khi đương chức đã có hai người, vượt quá số lượng, Lại bộ nói nên để khuyết chức. Năm ngoái, Tôn Cố xin cho con là Dã làm việc ở Viện Tài tạo, trái pháp luật, Lại bộ trình bày theo lệ đặc chỉ, nhưng Đô tỉnh lại phê lệnh làm tờ tấu. Đến khi An Lễ xin cho cháu là Du giám sát Viện Lương liệu Tứ châu, lại viện dẫn Dã làm tiền lệ; cháu của Hàn Chẩn là Tông Địch xin chỉ định vào Thượng y khố, lại lấy Du làm tiền lệ. Đây là dẫn dụng phê chuẩn của Đô tỉnh, ngoài lệ lại đặt ra lệ mới, khiến pháp luật của bệ hạ bị bỏ qua. Tệ nạn này tiếp diễn, thực sự gây hại cho chính sự lớn, xin được xử lý.” (Ngày Giáp Ngọ tháng 6, Nhữ Hiền tấu.)
Vua cho rằng con của Khuê là Trọng Đoan đã từ chối chức vụ xin trước đó, còn con của An Lễ là Bính và cháu Du được bổ nhiệm theo điều lệ cho phép dùng tiền lệ để tấu trình, nên chương tấu của Nhữ Hiền bị giữ lại. An Lễ nghe tin, vào chầu xin trị tội Nhữ Hiền.
Vua tuyên dụ rằng có thể tạm cho phân tích (Ngày Bính Thân tháng 6, Nhữ Hiền phân tích), lại nói: “Nhữ Hiền từng nói rằng khanh thường dùng lời ác để đe dọa quan ngôn sự.” Nhân đó kể lại lời Nhữ Hiền tố cáo An Lễ.
An Lễ bèn tâu: “Hôm qua bàn việc Trương Nhữ Hiền đàn hặc thần xin bổ nhiệm, được nghe tuyên dụ rằng Nhữ Hiền tấu rằng thần từng dùng lời ác để chê bai, ‘muốn đầu và tường cùng vỡ’. Thần nghĩ, Nhữ Hiền làm Thị ngự sử, lấy việc can gián làm chức trách, đàn hặc đại thần loạn pháp, nên xuất phát từ công tâm, không thể vì oán hận mà vu cáo tội không có. Nếu thần thực sự có chê bai, người nghe sao nên truyền đạt? Nhữ Hiền tuy biết theo pháp luật, chỉ khi tự mình nghe mới bị tội, huống chi thần vốn không có việc chê bai, ắt là có kẻ gian hiểm đã bịa đặt, muốn kích động Nhữ Hiền để hại đại thần mà họ ghét. Nhữ Hiền buông thả tình cảm, bộc lộ sự phẫn nộ, điều này trước đây chưa từng có, nếu không xử lý, sẽ gây hại lớn cho kỷ cương và phong tục. Xin giao cho hữu ty xử lý đúng phép.” Vua bèn lệnh cho Nhữ Hiền phân tích.
Nhữ Hiền tấu:
“Thần nhớ lại những điều đã nghe hôm đó, đại khái là An Lễ vì thần tấu trình việc Vương Khuê và những người khác vu cáo bề trên để mưu lợi riêng, liền có lời nói liên quan đến thần, cho rằng nếu có ai bàn luận về mình thì sẽ gây hại, lại có lời của ngự sử rằng “thanh trùng đáng ghét”.
Thần cho rằng ý của hắn tầm thường, nên chưa từng trình bày đầy đủ trước triều đình. Sau đó xem xét An Lễ, bề ngoài tuy ngông cuồng, nhưng bên trong thực chất gian hiểm, đố kỵ, chỉ cần một lời liên quan đến hắn, ắt sẽ lập mưu hãm hại. Gần đây, các quan đài, gián liên tiếp bị cách chức, An Lễ có vẻ đắc ý, thường lấy điều này để khoe khoang giữa đồng liêu. Thần tự xét mình xa cách, được bệ hạ bất ngờ bổ nhiệm, nên báo đáp thế nào, đâu dám tiếc nuối để tránh sự bạo ngược của An Lễ?
Khi nghe những lời này, đó cũng là lời thường ngày của An Lễ, thần nhân lúc vào triều tấu trình, chỉ mong bệ hạ sáng suốt xem xét bản chất của An Lễ, thực sự không phải thần ngu muội cố tình tiếc nuối, bới móc tội lỗi[18].
Gần đây, vì xét án luận tội các tể thần, chấp chính quan xin sai phái, mà An Lễ hai lần đều vi phạm pháp luật, đô tỉnh theo chỉ đặc biệt và lệ cũ trực tiếp chỉ huy, soạn sớ định sai phái, thần chức trách là can gián, đâu dám giấu giếm? Đó thực sự là vì công bằng, chưa từng tùy tiện thỏa mãn cơn giận. An Lễ ghét việc liên quan đến mình, ắt muốn đẩy thần vào tội, lời xấu từ miệng hắn, nhẹ dạ vô liêm sỉ, xưa nay chưa từng nghe.
Huống An Lễ vốn có hành vi tham ô, đến đâu cũng để lại tiếng xấu. Khi còn ở Nho quán, ngày ngày ra ngoài du ngoạn nơi dâm xá. Làm Thái thú ở Hồ Châu, Nhuận Châu, cùng kỹ nữ tham gia chính sự, không kiêng kỵ việc dâm ô.
Bệ hạ ban đầu vì anh hắn là An Thạch nên bỏ qua tội cũ, đề bạt vào triều đình. Nhưng tội ác của An Lễ không thể che giấu, tội lỗi không thể tha thứ. Khi làm Thái thú Nhuận Châu, trong bộ có quan về hưu là Điêu Ước, một bậc lão thần trong quán các, An Lễ đối xử như cha, nhưng An Lễ thường đến nhà Ước uống rượu, rồi tư thông với thị tỳ của Ước. Khi Ước chết, lấy cớ lo việc tang, dụ dỗ hai thị tỳ là Vương thị và Tạ thị đem về nhà. Nay hai thị tỳ vẫn ở nhà, Vương thị đã có con. Trong nhà thường xảy ra cãi vã, thậm chí có kẻ lấy chuyện riêng để tố cáo quan, nhưng An Lễ dùng đủ cách ngăn chặn. Vì lấy không chính đáng nên tất dẫn đến thế này. An Lễ tu thân trị gia như vậy, làm sao có thể giúp Bệ hạ chỉnh đốn trăm quan, trị vì muôn dân?
An Lễ với anh là An Quốc vốn không hòa thuận, khi nghe tin anh chết, không tỏ ra đau buồn, hết tang liền gọi kỹ nữ uống rượu, cười đùa như không. An Lễ đối xử tệ bạc với người thân, làm sao có thể giúp Bệ hạ khuyến khích phong tục, khuyên răn trung nghĩa?
An Lễ thích kết giao với hào phú khắp nơi, như Dũ Mẫn ở Hàng Châu, một đại gia đình ở Đông Nam, chỉ là tay buôn bán nhỏ, chưa từng làm môn khách của An Lễ, chỉ vì hối lộ mà năm ngoái trong đại lễ, liền tâu xin cho Mẫn làm Giả Thừa Vụ Lang. An Lễ tham nhũng như vậy, làm sao có thể giúp Bệ hạ giữ pháp luật, ngăn chặn thỉnh thác? Sư Từ Hải ở chùa Chấp Từ là nơi An Lễ thường đến để dâm ô, ra vào nhà An Lễ, không ai dám hỏi, kể lại những chuyến du ngoạn dâm tà trước đây để cười đùa, không việc gì không làm.
An Lễ từ khi [kiêm nhiệm] nắm quyền chính sự đến nay, có giúp ích gì cho quốc gia, chỉ lo tự bảo vệ hành vi của mình như vậy, nên không thể làm yên lòng người ta, vì thế khoa trương thanh thế hão, lấy lòng kẻ tầm thường, vây bọc các sĩ đại phu, để mua chuộc ân huệ, nắm lấy quyền lực, thu góp danh tiếng về mình, đổ lỗi cho triều đình. Nhưng An Lễ biện bạch việc làm rối loạn sự thật, âm mưu hại người, nên các sĩ đại phu không ai không sợ uy thế hung hãn của hắn, mà An Lễ lúc bình thường vẫn lo lắng không yên, chỉ vì bọn thần hãy còn ở chức vụ giám sát, ngăn chặn những mầm mống gian tà của hắn.
Thần nghĩ rằng chức vụ Ngự sử là tai mắt của triều đình, vốn cho phép nghe ngóng mà tâu việc, chỉ có lời nói trong cung cấm không được tiết lộ, còn lời nói của đại thần, dù có liên quan đến việc chê bai, hủy báng, nhưng vì không phải tự mình nghe thấy, nên không thể bị kết tội, vậy thì người truyền tin lại có tội gì? Thần trước đây nghe được, đã không từng bàn luận, mà bệ hạ cũng không lấy đó làm tội của An Lễ. Nhưng An Lễ vội vàng xin giao cho hữu ty điều tra, ý muốn rằng dù có thật, thì bản thân cũng không có tội, chỉ muốn hữu ty nghe theo ý chỉ, tìm cách xuyên tạc, khiến tội lỗi quy về, không phải ở thần, thì cũng ở người truyền tin.
Như vậy, An Lễ còn có tội ác gì khác, ai dám nói đến? Huống chi chức vụ Ngự sử thấp kém mà không có quyền lực, không đủ để làm động chạy việc lớn, chỉ có sự vui giận của đại thần chấp chính, mới có thể gây họa phúc cho thiên hạ. Thân ở vị trí gần gũi nhất, thế lực áp đảo cả Vua, thì đạo phòng ngừa kiểm soát không thể không nghiêm, nên trách nhiệm thuộc về Ngự sử, răn đe kẻ gian tà, uốn nắn những ý đồ xấu. Nay An Lễ lại cậy uy thế của đại thần, muốn kiềm chế Ngự sử, bịt kín đường ngôn luận, vậy thì ý đồ của An Lễ rốt cuộc là gì!“
Vua đem tờ tâu giao cho Tam tỉnh, bảo An Lễ rằng: “Nhữ Hiền đàn hặc việc con cháu khanh được bổ nhiệm theo lệ tấu sao, trong pháp luật cho phép, Nhữ Hiền quả có tội; còn lời nói về việc gian xảo của khanh, nếu khanh quả như vậy, thì còn mặt mũi nào đứng trước quần thần?” An Lễ vẫn biện bạch, nhân đó tâu rằng trước đây vì An Thạch bệnh nặng, từng xin làm Tri phủ Giang Ninh, nay xin được thực hiện lại lời thỉnh cầu trước.
Nhữ Hiền lại tâu:
“Thần bàn tấu về việc Vương Khuê, Vương An Lễ xin bổ nhiệm con cháu theo phép sai khiển, được phép dùng lệ tấu sao, chiếu cho thần phân tích. Thần ngu muội cho rằng: Xét theo văn pháp mà điều chỉnh hợp lý, đó là việc của các cơ quan. Không có điều khoản thì dùng lệ, hoặc tuy có điều khoản nhưng ý văn chưa rõ, nên dùng lệ để bổ sung, đều thuộc về cơ quan. Việc có thể thường xuyên thực hiện, không trái pháp, thì không cần tấu xin phê chuẩn.
Còn việc xin bổ nhiệm, vốn đã có phép định sẵn. Trước đây, các đại thần chấp chính vì gặp trở ngại về pháp, nên mới có việc xin can thiệp, vẽ chỉ thi hành, gọi là “đặc chỉ”, há phải việc mà cơ quan chuyên trách không cần tấu xin? Lại nữa, trong quan chế đã nêu rõ các sách lệ ở các nơi, đợi khi sách định điều mục không dùng nữa, thì biết rằng lệ mà cơ quan dùng, tự có thể tu chỉnh điều khoản. Không biết việc đặc chỉ trái pháp có thể như vậy không?
Lại nữa, việc tấu sự của Thượng thư tỉnh theo điều mục phân chia, việc có phép thức thì trình lên Môn hạ, việc không có phép thức thì trình lên Trung thư, cùng với việc xin chỉ, đặc chỉ, đều là chức trách của Trung thư. Thần cho rằng phép thức là tên gọi của cái thường, còn đặc chỉ là nghĩa của cái phản thường. Nay dùng việc đặc chỉ trái pháp làm việc có phép thức trình lên Môn hạ, thần tuy rất ngu muội, nhưng không biết việc đó có được không.
Hơn nữa, đặc chỉ là một việc, xét theo những trường hợp gần đây, những điều mà Sát án trình lên, có trường hợp phải đợi xin phép mới được sao chép, như trường hợp của Vương An Lễ xin phép; có trường hợp không cần xin phép mà vẫn được sao chép, như trường hợp Thời Thầm xét duyệt; có trường hợp xin phép Đô tỉnh rồi báo lên Trung thư để xin chỉ dụ, như trường hợp Văn Ngạn Bác xin phép; có trường hợp xin phép nhưng trình lên rồi không được thực hiện, như trường hợp Trình Khánh[19] được khen thưởng.
Nếu Đô tỉnh cho rằng những việc có tiền lệ, không cần đặc chỉ, đều không cần tấu xin phê chuẩn, mà có thể sao chép ngay, thì lẽ ra không nên có sự phân biệt đối xử, không thể vì việc riêng của các đại thần chấp chính và lại viên trong tỉnh mà có sự khác biệt. Nếu cho rằng trong sách lệ có quy định thì mới được dùng ấn, vậy Dương Thiên Hữu và những người khác chẳng phải là những người được ghi trong sách lệ sao, tại sao lại không dẫn ra?
Còn việc Phùng Tố mượn chức vụ, vốn không có trong sách lệ, tại sao lại dùng ngay? Nếu cho rằng việc khen thưởng Hầu Vĩnh Xương và những người khác trái với điều luật, có đặc chỉ nên không thể dẫn dụng, thì việc bổ nhiệm Vương Bính và những người khác cũng trái với quy định về việc xin phép; nếu cho rằng đặc chỉ không phải là việc mà các cơ quan chuyên trách, mà Đô tỉnh có thể chỉ huy, thì việc xét duyệt của Thời Thầm lại không cần xin phép mà vẫn được thực hiện. Suy xét kỹ lý lẽ này, cuối cùng cũng không thể hiểu được.
Trước đây, các đại thần chấp chính thường xin phép bổ nhiệm con cháu vào các chức vụ, phần nhiều là vì thuận tiện cho việc riêng, tự mình bày tỏ thành khẩn để can thiệp vào triều đình. Nay thì con cháu của họ tự đến Lại bộ chỉ định chức vụ, đều được thực hiện, không chỉ việc kế thừa không có giới hạn, mà còn không phù hợp với thể chế triều đình. Đại để việc bổ nhiệm của các cơ quan đều có quy định thường lệ và không thể tùy tiện. Ngoài pháp luật, nếu có người thân trong hoàng tộc xin phép, thì có chỉ dụ từ trong cung; nếu có đại thần xin phép, thì có đặc chỉ, việc này là như nhau. Nay những người thân trong hoàng tộc, nếu có người tâu lên bệ hạ xin một chức vụ thuận tiện, đã được chấp thuận và giao cho bên ngoài bổ nhiệm, Tam tỉnh vẫn phải tấu trình lại rồi mới thực hiện; còn con cháu của các đại thần, tự đến Lại bộ chỉ định chức vụ trái phép, mà cơ quan chức năng lại tự ý đồng ý. Thể chế trên dưới, thần thật không hiểu nổi.
Nghe rằng sự biến muôn vàn, nhưng lẽ phải thì không có hai. Người trong thiên hạ ai chẳng có miệng có lòng? Nếu nói mà không đúng, thì người có lòng có thể xét ra điều sai, người có miệng có thể bàn luận điều không phải,[20] Như thế mà mỗi ngày cách chức trăm người, thực có hại gì đến việc lớn? Nếu nói mà ở chỗ nghi ngờ, đúng sai lẫn lộn, vì thế mà mắc tội không thể tự minh oan, thì khí thế của người nói đã mất đi sáu bảy phần. Nếu nói mà đúng, thì người có lòng không ai chẳng biết là phải, người có miệng không ai chẳng khen là đúng, như thế mà vẫn không tránh khỏi, thì khí thế của kẻ dám nói đã cạn kiệt rồi, huống chi là những người tầm thường trở xuống? Như thế, thì lỗi lầm của đại thần, còn ai dám bàn luận nữa?
Thần gần đây lại bàn về An Lễ, vốn có hành vi tham ô bẩn thỉu, đến đâu cũng gây ra cảnh hỗn loạn, thậm chí còn tư thông với nô tì của người khác, nhân lúc tang gia mà chiếm đoạt; tham lam tài sản của người khác, bán chức tước để bù đắp. Trong nhà có người vợ không chính đáng, bản thân có tội ác không hiếu thuận, không phải là lời nói riêng của thần, mà đã được ghi trong sách vở.
Tuy nhiên, An Lễ khi bình thường nói chuyện với người khác thì lại nói rằng đã từng thú nhận trước mặt bệ hạ, bệ hạ biết và tha thứ cho. Các bậc thức giả trong thiên hạ đang nghi ngờ lời nói này, các quan giám sát cũng không thể xác định được sự thật hay giả dối, nên tạm thời bỏ qua chưa bàn luận. Nhưng thần cho rằng nếu bệ hạ may mắn tha tội cho An Lễ, mà An Lễ lại ở trong triều đình, cũng nên có chút hối cải, để không phụ lòng ưu ái của bệ hạ. Nhưng y vẫn cố chấp, buông thả, hoàn toàn không tự sửa mình.
Lời bàn của thần hôm nay là để biện minh cho pháp độ triều đình, mà An Lễ với bản tính gian hiểm, trong lúc nóng giận, lời nói hời hợt, chắc chắn không tuân theo lẽ phải, điều này cũng không thể thoát khỏi sự soi xét của thánh thượng. Thần tự thấy mình đứng một mình, đối mặt với sự bàn tán của mọi người, còn lo rằng Thái Xác, Lý Thanh Thần cùng Vương Khuê và An Lễ kết bè đảng, trong lúc bàn luận, có thể có ý đồ cầu may cùng lợi, khiến lòng trung phẫn của thần không được bày tỏ trước triều đình.
Kính mong bệ hạ quyết đoán, để lời nói của thần được thực hiện, kẻ gian ác bị cách chức, thần dù chết vạn lần cũng không hối hận.”
Vua đã cách chức Nhữ Hiền, An Lễ cũng xin từ chức, nên có mệnh lệnh này.
(Sử cũ cũng không ghi rõ lý do An Lễ bị cách chức.)
[42] Ngày Ất Mão, châu Hùng báo rằng sông Cự Mã vỡ đê, tràn vào cửa sông Trường Sa, đã điều động dân phu khẩn cấp, đợi nước rút sẽ khởi công sửa chữa.
[43] Quan Văn điện học sĩ, Quang lộc đại phu, Tri thành Đức quân Phùng Kinh được bổ nhiệm làm Tri Hà Dương.
[44] Chiếu phán Đại Danh phủ Vương Củng Thần phạt 10 cân đồng, Quán Đào úy Khương Tử Hậu, Khấu Thị úy Tang Gia Chi, tri huyện Trịnh Cận mỗi người phạt 8 cân đồng. Vì tội tự ý sai khiến bảo giáp, gặp lúc đại xá nên đặc biệt xử phạt. Trịnh Cận là người Bành Thành.
(Trịnh Cận lúc đầu làm Tư hộ Đại Danh phủ, bộ sứ giả hịch điều đi quận khác, lưu thủ Văn Ngạn Bác nói: “Như Tham quân Trịnh sao có thể để ông ấy đi nhiều lần?” Tâu xin đổi làm Tư pháp, rồi điều làm lệnh Khấu Thị. Sông Hoàng Hà vỡ đê phía tây phủ, hịch ban đêm điều động phu dịch khẩn cấp, Trịnh Cận đang kiểm tra bảo giáp, liền ghi tên tất cả để điều động, đến trước các huyện khác, đê vỡ được lấp. Sứ giả tức giận hặc tội, Văn Ngạn Bác tâu lên triều đình: “Nếu không có lệnh Khấu Thị, trong thành đã thành cá rồi!” Chiếu tha tội không xét. Điều này căn cứ theo truyện Trịnh Cận, truyện nói “tha tội không xét”, thực lục ghi “phạt 8 cân đồng”, không rõ đâu là đúng.
Xét: Văn Ngạn Bác từ tháng 4 năm Hi Ninh thứ 7 làm lưu thủ Đại Danh, tháng 9 năm Nguyên Phong thứ 3 điều về Hà Nam, tháng 11 năm thứ 6 xin về hưu. Lúc sông Hoàng Hà vỡ đê năm thứ 7, lưu thủ Đại Danh là Vương Củng Thần, truyện ghi sai. Hoặc có người tâu lên triều đình xin miễn hặc tội Trịnh Cận, thực ra là Vương Củng Thần. Lại nữa, Vương Củng Thần cùng huyện lệnh, tá đều bị phạt đồng, nói “chiếu tha tội không xét” cũng không đúng. Nay không theo, tạm ghi chú ở đây.)
[45] Ngày Mậu Ngọ, Tân Hà Đông chuyển vận phó sứ Phạm Thuần Túy tâu: “Trước đây ở Thiểm Tây, triều đình mỗi lần cấp quân nhu, đều tính toán số lượng và thuê phu dịch vận chuyển, rất phiền nhiễu. Xin từ nay cấp quân nhu cho Hà Đông, Thiểm Tây biên giới, nếu không phải là việc khẩn cấp, đều cho phép chia nhỏ số lượng, sắp xếp ngày để chuyển dần.” Triều đình đồng ý.
[46] Chiếu: “Bảo giáp ở Hà Bắc, Hà Đông bị lũ lụt, lệnh cho châu huyện khảo sát thực tế để cứu tế: Tiểu bảo trưởng, bảo đinh mỗi người 1 thạch, đại bảo trưởng 2 thạch, đô, phó bảo chính 3 thạch. Các quan đề cử bảo giáp chia nhau đến các châu để giám sát, báo cáo số người được cứu tế lên triều đình.”
[47] Chiếu: “Các phiên quan, phiên bộ ở Thiểm Tây, Hà Đông được thăng chức hoặc được thưởng do công trạng, phải ghi rõ năm thực tế vào văn bản bổ nhiệm. Những người được bổ nhiệm trực tiếp ở bản lộ cũng theo quy định này.”
[48] Ngày Kỷ Mùi, Vua phê: “Hôm qua Thượng thư tỉnh bàn việc giảm nhẹ việc nuôi ngựa của dân ở kinh kỳ, người dân liền buông lỏng, hoàn toàn không tuân lệnh nuôi dưỡng. Trong sổ sách chỉ có số ngựa, khi có việc điều động mới thấy rõ tình hình. Những điều mà Phạm Tuân, Đề điểm phủ Khai Phong, và Lý Quát, Tri huyện Khai Phong tâu lên nếu khả thi, nên giao cho Binh bộ soạn điều lệ tâu lên.”
Binh bộ tâu: “Tuân tâu rằng ngựa của dân chưa mua, hoặc đã cưỡi đi các nơi khác chưa về, hoặc bị bệnh chưa xuất phát, nếu cần điều động, thì đợi đủ một đoàn mới xuất phát. Bộ này xét thấy, nếu ngựa đã cưỡi đi các lộ Hà Đông, Thiểm Tây, xin cho chiếu theo, còn lại xin theo lời Tuân. Và như Quát nói ngựa đã xuất phát, hạn trong ba năm phải mua đủ.” Vua đồng ý.
[49] Châu Hoạt tâu: Nước sông ở Tề Cổ Hạ Tảo dâng cao, làm hư cầu phao. Vua sai Phạm Tử Uyên khảo sát tâu lên, các lộ Hà Bắc, Thiểm Tây, phủ Khai Phong cũng theo đó mà làm.
[50] Ngày Canh Thân, Vua triệu tập các quan phụ chính đến vườn sau xem lúa, sai các quan phụ chính làm lễ tạ trời tạnh.
[51] Vua ra chiếu: “Kỳ thi tuyển mùa thu, người đỗ thượng đẳng một người, được thăng một bậc; trung đẳng hai mươi người, không theo thứ tự bổ nhiệm; hạ đẳng bảy mươi tám người, được bổ nhiệm.”
[52] Cấp ba trăm tờ trát trống[21], giao cho Kinh lược ty lộ Hi Hà Lan Hội.
[53] Cùng quản câu Kinh Tây lộ[22] Bảo mã Lữ Công Nhã tâu: “Thần vâng theo chiếu chỉ: ‘Nghe rằng ở lộ này việc mua ngựa bảo mã rất khó khăn, dân chúng tranh nhau mua, giá cả cũng tăng gấp đôi, đến nỗi ngựa xấu cũng không dưới trăm ngàn. Sợ rằng bản ty gần đây tâu xin mua số lượng quá nhiều, dân chúng chưa hiểu ý triều đình muốn đạt hiệu quả lâu dài, nên dẫn đến tình trạng này. Nên xem xét lại và điều chỉnh, chỉ cần tăng thêm một ít so với quy định cũ là được.’ Thần nay xét thấy nên giảm số lượng ngựa ở mỗi đô, quy định đến cuối năm mỗi đô chỉ được mua tối đa 8 con. Lệnh mới ban hành, mọi người đều vui vẻ tuân theo, không nghe thấy ai lo sợ. Và ở lộ này, mỗi đô trước đây chỉ mua 4 con, nay tăng gấp đôi, nếu mỗi năm mua 2 phần[23], thì 8 năm sẽ đủ, còn các huyện miền núi thì kéo dài thành 10 năm.” Triều đình đồng ý.
(Bản chí có ghi, ngày 12 tháng 6 có thể tra cứu.)
[54] Đề cử Kinh Đông lộ Bảo mã Hoắc Tường tâu: “Lộ này đã mua được 11.000 con ngựa bảo mã, và căn cứ theo các huyện Truy Xuyên thuộc Truy Châu[24], Bồng Lai thuộc Đăng Châu có các cung thủ nguyện nuôi ngựa bảo mã, đã được đóng dấu. Hiện đang khuyến khích những cung thủ nguyện nuôi ngựa, đợi khi số lượng nhiều sẽ tiếp tục tâu lên.” Không lâu sau, lại tâu: “Các cung thủ nguyện nuôi ngựa bảo mã, mỗi huyện không hạn chế số người, mỗi người nuôi một con.” Triều đình đồng ý, ngoài việc bổ sung hạn ngạch, tuân theo điều lệ.
(Chí cũng có ghi.)
[55] Tri châu Diên Châu Lưu Xương Tộ tâu: “Trước đây tập hợp dạy bảo giáp, cung mã đều không tinh nhuệ, chỉ để phòng thủ. Đã dùng thổ binh thay thế, tập hợp thành đội dưới quyền tướng, gặp địch thì điều động. Nếu có công, sẽ được ban thưởng và ưu đãi.” Triều đình đồng ý.
[56] Trước đây, Lưu Tông Kiệt, Tiền đề điểm hình ngục Quảng Nam Tây lộ, tâu rằng: “Khi còn giữ chức Chuyển vận phán quan Kinh Tây lộ, thần đã nhiều lần tấu trình về những việc làm sai trái của Tri châu Đặng Châu Lưu Thầm, Chuyển vận sứ Trần An Thạch và Suy khám quan Quách Khái, hiện đang được gửi đến Ngự sử đài để xét xử. Khi thần đi tuần tra bên ngoài, nghe nói Lưu Thầm dung túng lại nhận hối lộ, xử lý việc rượu lậu không đúng pháp luật, cùng với Trần An Thạch cấu kết với nhau, nên đã kết tội Dương Thiên, Từ Tông vào tội đồ.
Thần cho rằng Lưu Thầm, Trần An Thạch không chỉ coi thường thần mà còn vi phạm chiếu chỉ, nên đã sai Thông phán Tương Châu Vương Tử Minh điều tra những việc làm sai trái của họ. Đúng lúc thần được điều động đến Quảng Tây, Trần An Thạch đã thay đổi vụ án, khiến Vương Tử Minh bị kết tội. Thần vì thế đã tấu trình về việc hình ngục oan uổng.
Quách Khái tuy có thể biện minh cho Dương Thiên, Từ Tông không nên bị kết tội đồ và Vương Tử Minh không phạm tội riêng, nhưng lại không hặc tội Lưu Thầm, Trần An Thạch, nên đã tấu trình lên Hữu ty, hơn một năm vẫn chưa kết thúc. Mong bệ hạ xem xét, thì những vụ án oan uổng kéo dài mười năm sẽ không thể thoát khỏi sự soi xét của trời.”
Vua phê: “Vụ án ở Kinh Tây đã qua nhiều lần biện bạch, nhưng tình hình đúng sai vẫn chưa rõ ràng. Có thể cùng với tờ tâu của Kiển Tự Thần, sai Ngự sử Lưu Chửng đến Đặng Châu xét xử.”
(Về sau kết quả thế nào. Tôn Thăng bàn về việc Lưu Tông Kiệt làm Tỷ bộ Lang trung, vì chấp chính cùng với Trung thừa hợp tác, bị bắt giam, bị cách chức Tri châu Đặng Châu, cần tra cứu năm tháng.)
[57] Ngày Tân Dậu, Tưởng Chi Kì, Quyền phát khiển Phó sứ Phát vận Giang Hoài đẳng lộ, được bổ nhiệm làm Trực Long đồ các. Chi Kì hàng năm đều hoàn thành việc vận chuyển lương thực vào tháng sáu, tấu trình về kinh sư, nên có mệnh lệnh này.
[58] Chiếu chỉ của Vua gửi cho Lý Hiến: “Xét thấy các lộ đã huy động binh lính làm việc lâu ngày, sức người mệt mỏi, lại thêm kho lương biên giới hao tốn không ít. Nếu không giảm bớt công việc khi công trình gần hoàn thành, thì chi phí sẽ càng tăng, có thể bị lạm dụng. Nên đợi đến cuối tháng tám, khi công việc gần xong, thì lần lượt cho binh lính về theo thứ tự xa gần rồi tấu trình.”
[59] Ngày Nhâm Tuất, Ngự sử Hoàng Giáng tâu: “Triều đình soạn lập sắc lệnh, phần nhiều dựa vào văn bản cũ mà thêm bớt, ý nghĩa của việc bỏ hay lấy thì đều ghi chép đầy đủ trong quyển khán tường, cất giữ tại các cơ quan, để làm căn cứ tra cứu. Gần đây, các cơ quan bàn luận về pháp luật, khi có nghi vấn về ý nghĩa của sắc lệnh, có khi không tra cứu quyển khán tường, mà tự đưa ra ý kiến riêng để quyết định việc có thể hay không. Xin răn dạy các cơ quan, từ nay khi giải thích sắc lệnh và quyết định các nghi vấn, đều phải tra cứu quyển khán tường, xem xét ý nghĩa của nó. Như vậy thì pháp luật mới thống nhất, không dám tùy tiện nặng nhẹ, bản đài cũng có thể căn cứ vào văn bản để khảo sát.” Chiếu đưa xuống Hình bộ.
Hình bộ tâu: “Quyển khán tường về sắc lệnh, cách thức thời Nguyên Phong gồm 220 quyển, khó ban hành xuống. Xin từ nay các cơ quan quyết định nghi vấn, và giải thích sắc lệnh cần tra cứu quyển khán tường[25], cho phép sao chép tại nơi quản lý.” Theo đó.
[60] Ngày Giáp Tý, chiếu rằng các lại viên của Tam tỉnh khi thi hành công vụ, cắt giảm việc ban thưởng bạc, lụa, lập thành lệnh.
[61] Tri châu Thương Châu là Triệu Chiêm tâu: “Phép muối ở Hà Bắc đã dần ổn định, xin từ các châu quân Đại Danh phủ, Thiền, Ân, Tín, An, Hùng, Bá, Doanh, Mạc, Ký[26], đều thực hiện việc độc quyền bán muối, để tăng thêm lợi ích.” Theo đó.
(Tấu của Triệu Chiêm cần xem xét.)
[62] Ngày Ất Sửu, Phụng nghị lang Lưu Chí được bổ nhiệm làm Tri châu Hoạt Châu. Chí trước đây làm Hữu ty lang trung, vì phạm tội bị cách chức, nên nay được phục chức.
[63] Chiếu rằng Phiên quan Nội điện thừa chế Ngạc Đặc Lăng Diệp làm Tả tàng khố phó sứ. Vì đánh Tây Hạ, ở Song Trì hai trận đều bị thương nặng, và bắt được một tiểu thủ lĩnh.
[64] Tri châu Thiệu Châu là Quan {Mộc Tỵ} tâu, đặt trại sách Phù Dung Thạch Dịch Động, xin điều 200 kỵ binh phòng thủ. Chiếu cho Quảng Nam Tây lộ Kiềm hạt ty cấp 100 kỵ binh.
[65] Xu mật viện tâu rằng, sứ giả Giao Chỉ đến bàn việc biên giới, nhưng hoàn toàn không chịu khuất phục, e rằng biên phòng vẫn cần phải cảnh giác. Chiếu cho Hùng Bản xem xét các thành trại dọc biên giới và thứ tự phòng thủ, nếu có việc gì chưa chu toàn, hãy tận tâm sắp xếp, trình bày cách thực hiện để tâu lên.
(Ngày 4 tháng 6, Hùng Bản đã được bổ nhiệm làm Lại bộ Thị lang, cần tra cứu xem ngày nào rời Quế Châu, và sau đó đã sắp xếp như thế nào. Có thể tra cứu vào các ngày 9, 19, 21 tháng 8.)
[66] Ngày Bính Dần, Kinh lược An phủ sứ Quảng Tây xin đặt Ty Chuyển mại ở trại Vương Khẩu, châu Dung, để thông thương giữa người Hán và người Phiên, xin cấp 30 độ điệp cho tăng sĩ làm vốn. Được chấp thuận.
[67] Thiểm Tây Chuyển vận ty[27] tâu rằng: “Thông phán Diên Châu là Ngô An Hiến theo chiếu chỉ cùng với Kinh lược Chuyển vận ty Phu Diên lộ bàn bạc, nên tích trữ nhiều lương thảo ở các thành trại gần nơi trọng yếu. Mùa thu Diên Châu được mùa, nhưng dân không thể tích trữ để chờ giá lên, ắt sẽ bị những kẻ trục lợi mua rẻ rồi đóng cửa không bán, chờ lúc quan trường cấp bách. Các huyện Diên Châu, xa gần thành trại có nơi mười dặm, có nơi trăm dặm, mùa thu năm nay nộp tiền Thanh miêu, Miễn dịch là 13 vạn quan. Xin định phép gia tăng theo khoảng cách xa gần, cho dân nộp tại các thành trại, Chuyển vận ty sẽ hoàn trả lại cho Đề cử ty. Bản ty xét thấy quân tướng thượng hạ phiên Phu Diên lộ đóng ở biên giới xa, nay lại thêm bốn tướng kỵ binh và hai nghìn ngựa dân, việc cung cấp không dễ dàng. Như lời Ngô An Hiến nói, sẽ tiện lợi cho cả công và tư.” Được chấp thuận.
[68] Chiếu cho Luyện Hanh Phủ, người bị tước tên và biên quản ở Quân Châu, trước là Quân sự Phán quan Chương Châu, dời đến Biên Châu biên quản, vì tội cùng anh ruột là Luyện Cật lấy con gái tạp hộ làm việc dâm loạn.
[69] Ngày Đinh Mão, sắc chỉ: “Đề cử Thiểm Tây Mãi mã Giám mục Quách Mậu Tuấn xin đến kinh đô tâu việc. Mậu Tuấn tại chức nhiều năm, hoàn toàn không có thành tích, đây là muốn dựa vào lời nói để giải tội. Nên chỉ cho trình bày ý kiến gửi qua trạm dịch để tâu lên.”
(《Cương yếu》 chép: Tháng này, lộ Hà Bắc bắt đầu cùng với các châu Đại Danh phủ, Thiền, Ân, v.v. gồm mười châu, quan lại đều độc quyền muối.)
- 'Giảm số lượng ban đầu', chữ 'số' nguyên là 'loại', theo 《Tống hội yếu》 chức quan 43-6 sửa lại. ↵
- Chữ 'Dĩ' và chữ 'Biên' trong câu 'Dĩ thượng phê văn thuần túy dữ tri thái nguyên phủ Lữ Huệ Khanh tố hữu tư hiềm khủng nan hiệp tế biên sự cố dã' vốn bị thiếu, căn cứ theo 《Tống hội yếu》 chức quan 61-41 bổ sung. ↵
- Theo ý văn, chữ 'nãi' có lẽ là sai, nên sửa thành 'nhưng'. ↵
- Chữ 'tử' nguyên là 'dư', theo các bản, bản hoạt tự và 《Tống Hội Yếu》 Nghi Chế 10-17 sửa lại. ↵
- Chữ 'Phu' trong 'Phu Diên' nguyên bản là 'Lân', căn cứ theo quyển 346, ngày Đinh Sửu tháng 6 năm Nguyên Phong thứ 7 sửa lại. ↵
- Theo văn nghĩa, chữ 'mất' nghi là chữ 'vỡ' sai. ↵
- Chiếu sai Kim bộ Viên ngoại lang Tỉnh Lượng Thái, Câu đương Ngự dược viện Lương Tòng Chính đi xem xét. Chữ 'Chiếu' nguyên bản thiếu, theo 《Tống hội yếu》 Thực hóa 68-113 bổ sung. ↵
- Lý Tư Cổ đã chết. Chữ 'Tư' nguyên bản là 'Sư', theo văn sau và 《Tống hội yếu》 Binh 18-14, 《Tống sử》 quyển 486 Hạ quốc truyện sửa. ↵
- Mong được cho phép thần tổng quản. Theo ý văn, chữ 'ngạch' có lẽ là 'lĩnh' viết nhầm. ↵
- Nay nhân lúc người Khương chưa quy phục, chữ 'vị' nguyên là 'lai', theo 《Tống hội yếu》 Thực hóa 2.6, 63.80 sửa. ↵
- Dời các đồn ải ra ngoài chặn giữ, chữ 'hướng' nguyên là 'nội', theo bản các và sách trên sửa. ↵
- Chiếu cho Ty Chuyển vận lộ Quỳ Châu xem xét, chữ 'tương' nguyên là 'chỉ', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 phiên di 7-38 sửa lại ↵
- Chữ 'tạc' nguyên bản thiếu, theo 《Tống hội yếu》 binh 28-30 bổ sung. ↵
- Chữ 'tất' nguyên bản thiếu, theo sách trên bổ sung. ↵
- 'Đương thời bất khinh phát' trong sách trên viết là 'thường thận trọng không khinh suất phát động'. ↵
- 'Hóa' trong Hoàng Hóa Cốc, Tống hội yếu binh 28/30 chép là 'Quán'. ↵
- Báo Tiên thiền viện, chữ 'Tiên' nguyên bản là 'Quang', căn cứ theo các bản khác và 《Tống hội yếu》 đạo thích nhất chi 30 sửa lại ↵
- thực sự không phải thần ngu muội cố tình tiếc nuối, bới móc tội lỗi, theo ý nghĩa văn bản, 'tiếc' có lẽ là nhầm lẫn của 'ghét'. ↵
- Các bản khác ghi là 'Trần Khánh'. ↵
- Người có miệng có thể bàn luận điều không phải, chữ 'nghị' nguyên là 'sát', căn cứ vào bản trong các kho và ý nghĩa văn mà sửa. ↵
- Chữ 'trát' nguyên bản thiếu, theo 《Tống hội yếu》 binh 18-14 bổ sung. ↵
- Chữ 'Kinh Tây' trong 'Kinh Tây lộ' nguyên bản đảo ngược, căn cứ theo 《Tống hội yếu》 binh 22/12 sửa lại. ↵
- Chữ 'tuế' trong 'nhược tuế mãi nhị phân' nguyên bản thiếu, căn cứ theo sách trên bổ sung. ↵
- Chữ 'Truy Xuyên' trong 'cập cứ Truy Châu Truy Xuyên' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản các bổ sung. ↵
- Và giải thích sắc lệnh cần tra cứu quyển khán tường 'Và' nguyên là 'Lại', theo 《Tống hội yếu》 Hình pháp 1-13 sửa. ↵
- Xin từ các châu quân Đại Danh phủ, Thiền, Ân, Tín, An, Hùng, Bá, Doanh, Mạc, Ký 'Quân' nguyên là 'Vận', theo 《Tống hội yếu》 Thực hóa 24-25 sửa. ↵
- Chữ 'ty' nguyên là 'sứ', theo các bản và 《Tống hội yếu》 Thực hóa 39-37 sửa lại. ↵