"

VII. TỐNG TRIẾT TÔNG

[BETA] QUYỂN 371: NĂM NGUYÊN HỰU THỨ NHẤT (BÍNH DẦN, 1086)

Bắt đầu từ ngày Kỷ Mùi tháng 3 năm Nguyên Hựu thứ nhất đời Triết Tông đến hết ngày Tân Mùi cùng tháng.

[1] Tháng 3, ngày Kỷ Mùi, Tả ty gián Vương Nham Tẩu tâu: “Thần nghe rằng thánh nhân không quý ở chỗ không có lỗi mà quý ở chỗ biết sửa lỗi, minh chủ không quý ở chỗ thích nghe can gián mà quý ở chỗ nghe theo lời can gián. Lý do Thành Thang trở thành bậc Vua thịnh trị của ba đời, chỉ vì biết sửa lỗi không ngần ngại; Lý do Cao Tổ trở thành bậc minh chủ của hai nhà Hán, chỉ vì nghe theo lời can gián như nước chảy.

Kính nghĩ bệ hạ thông minh trí tuệ, vượt xa các bậc tiền nhân, mong cầu sự trị bình của thiên hạ, chỉ sợ chưa đạt được; dùng người hiền tài trong thiên hạ, chỉ sợ chưa đủ. Thần trong lúc này được bệ hạ đặc biệt tin dùng, bổ nhiệm vào chức vụ can gián, là bệ hạ muốn thần phải nói ra mọi việc. Nếu thần gặp việc mà không nói, có lời mà không nói hết, thì là bất trung với bệ hạ, phụ lòng triều đình, làm bề tôi như thế, bệ hạ sẽ dùng vào việc gì!

Bệ hạ dùng Phạm Thuần Nhân tuy nhanh chóng, nhưng sao không có một ai lên tiếng? Đó là vì khen thưởng người hiền vậy[1]. Một khi tiến cử An Đào, thì các quan gián và ngự sử đều dâng sớ bàn tán, mà ý kiến của nhiều người sôi nổi không yên, đó là vì không được lòng công luận vậy[2]. Thần cho rằng biết người đó không xứng đáng, mà vẫn để họ giữ chức vụ, thì đó là ân đãi của bệ hạ đối với đại thần đã quá sâu dày, thần đây vốn không dám không hiểu ý bệ hạ, xin được miễn chức, chỉ mong bệ hạ đừng vượt cấp mà thăng chức; và mong bệ hạ chính đáng nơi xuất phát mệnh lệnh, để giữ gìn kỷ cương, không dùng cách phong chức tà vạy để dùng đại thần, khiến chính sự thánh thiện ngày càng mới mẻ.

Nay tiến cử một kẻ bất tài lên địa vị tột đỉnh, coi thường danh khí triều đình, đó là điều đáng bàn thứ nhất. Lệnh bổ nhiệm không qua cửa Hạ thư mà thi hành, làm tổn hại kỷ cương triều đình, đó là điều đáng bàn thứ hai. Hai việc này đều không phải chuyện nhỏ, thần đâu dám tùy tiện thuận theo ý thánh mà không ra sức can gián. Bệ hạ từng trực tiếp dạy thần, cho rằng thần công chính mà dùng thần, nếu thần dao động không giữ vững lập trường, thì không phải là ý của bệ hạ khi dùng thần.

Bệ hạ cực thánh cực minh, há không hiểu kẻ bề tôi sao dám trái lệnh Vua, phạm uy trời để chuốc lấy tội lỗi? Đó là vì nghĩa không thể làm vậy. Lấy nghĩa mà thờ Vua, là trung thần; lấy sự xu nịnh mà thờ Vua, là gian thần. Thần đâu nỡ bỏ trung mà không dùng, lại dùng tà để thờ Vua. Hoặc giả bệ hạ nay muốn cách chức thần thì được, nhưng tiến cử An Đào thì rốt cuộc khó lòng thỏa mãn được dư luận. Chỉ mong bệ hạ hư tâm bình tĩnh, xét lòng trung của kẻ ngu thần mà nghe theo lời nói, thiên hạ may mắn biết bao!”

Tờ thiếp hoàng nói: “Sách 《Vương chế》 viết: ‘Phong tước cho người ở triều đình, là để cùng với mọi người chia sẻ.’ Ý nói rằng mọi người đều đồng ý rồi mới có thể phong tước. Nay một mình thăng chức cho An Đào, mà các bậc sĩ đại phu đều cho là không đúng, không phải là nghĩa cùng chia sẻ với mọi người. Mong bệ hạ noi theo phép tắc của tiên vương, để thu phục thiên hạ.”

[2] Hữu ty gián Tô Triệt tâu rằng: “Chúng thần ngày 28 tháng trước đã tấu luận việc An Đào được bổ nhiệm làm Tri Xu mật viện, nhưng không cho Cấp sự trung đọc lệnh, mà trực tiếp giao xuống Lại bộ thi hành. Thần địa vị thấp, lời nói nhẹ, chưa thể làm lay động thánh ý. Thần nghĩ rằng việc phong bác vốn là phép cũ từ thời Đường, tổ tông ta tuân hành chưa từng dám bỏ. Việc gì không qua Môn hạ thì không thể gọi là chế sắc. Phép này đặt ra vốn để ngăn ngừa sự lừa dối, là điều quân thần phải cùng giữ gìn.

Nay việc bổ nhiệm An Đào chưa hợp với công luận, các quan thi hành chức trách thực không có gì quá đáng. Thế mà bệ hạ lại lập tức bỏ phép để tiện một lúc, như lời cổ nhân nói: ‘Vua tự mình vượt qua tường thấp’. Thần e rằng pháp độ trăm quan từ đây sẽ đổ vỡ. Quân thần không còn căn cứ để giữ gìn, làm sao lâu dài được! Gần đây triều đình bổ nhiệm Lữ Công Trước làm Môn hạ thị lang, chỉ vì Lại nhân Trung thư sai sót, không qua Môn hạ, mà Cấp sự trung Phạm Thuần Nhân đã lấy cớ thất chức để nói, triều đình phải xử lý để làm sáng tỏ phép cũ. Nay chưa được bao lâu, lại vì một mình An Đào mà đặc biệt mở ra tiền lệ này.

Huống chi Đào và Thuần Nhân cùng được bổ nhiệm, cả hai lệnh đều không qua đọc duyệt. Thần đoán Thuần Nhân ắt không thể bỏ qua lời nói trước, miễn cưỡng nhận lấy. Thuần Nhân đã không nhận mệnh, thì Đào ắt không dám không từ chối. Đào đã hết sức từ chối, mà Cấp sự trung lại không ngừng phong bác, thần e rằng mệnh lệnh này không thể thi hành được nữa.

Thần khẩn thiết xin bệ hạ hãy lấy mình làm gương, xem lại tờ tấu trước của thần, hãy để Đào tiếp tục giữ chức cũ. Nếu bệ hạ cho rằng Đào là cựu thần tiên triều, không có lỗi lớn, không thể dễ dàng bỏ đi, thì chức Đồng tri Xu mật viện cũng không phải là nhẹ. Nếu bệ hạ cho rằng mệnh đã ban ra không thể dừng lại, thì khi mệnh chưa thi hành, thần không thể dự bàn. Nếu đã thi hành rồi lại không được nói, thì triều đình đặt ra Đài gián để làm gì? Bệ hạ sáng suốt, ắt không như vậy. Thần chỉ tiếc phép độ của tổ tông, không dám cố chấp ý mình để bỏ qua minh chiếu, xin bệ hạ xét đoán.”

[3] Ngày Canh Thân, Ngự sử trung thừa Lưu Chí tâu: “Thần gần đây thấy cáo mệnh của An Đào, Phạm Thuần Nhân không qua Cấp sự trung, mà trực tiếp giao cho cơ quan chức năng. Thần cho rằng đây là sự thất chính lớn của triều đình. Vì thế, thần đã nhiều lần dâng tấu chương và cùng các quan Ngự sử liên danh tâu lên, tổng cộng bốn lần, nhưng đến nay vẫn chưa được xem xét sửa đổi. Thần thực không hiểu tại sao mệnh lệnh của bệ hạ lại không cho Cấp sự trung đọc duyệt. Đây là ý gì? Có phải vì ngại họ phản đối? Hay chán ghét việc họ phản đối? Lẽ thường trong thiên hạ, chỉ cần xem xét đúng sai, hợp lý hay không mà thôi.

Bệ hạ thử nghĩ xem: Việc bổ nhiệm An Đào lần này, nếu quả thật đúng người, không vì tư lợi, thì thiên hạ ắt sẽ cho là phải. Dù Cấp sự trung có phản đối trăm ngàn lần, cũng nên để họ xem xét rồi mới thi hành, nếu không thì cách chức họ đi cũng được. Còn nếu việc bổ nhiệm An Đào không hợp lý, thiên hạ không cho là phải, mà Cấp sự trung có thể phản đối, sửa chữa, thì đó chính là việc bổ khuyết, cứu chữa sai lầm, giữ vững chức trách, có ích cho quốc gia.

Bệ hạ nên khen ngợi và sửa đổi, đó mới là việc đức lớn, chứ không nên chán ghét lời nói của họ mà bỏ qua chức trách của họ. Nay bệ hạ cho rằng lời nói của Cấp sự trung là đúng hay sai? Mà bệ hạ lại tự hủy bỏ điển chế, làm việc hành chính quanh co, không theo đường ngay lối thẳng để bổ nhiệm quan chức, mà lại dùng cách “tà phong“, không biết ai đã xúi giục bệ hạ làm việc này.

Nay trong lục hoàng của Môn hạ có ghi rõ: ‘Phụng thánh chỉ, không giao cho Cấp sự trung đọc duyệt.’ Trong cáo thân của Lại bộ, dưới chức danh Cấp sự trung cũng ghi rõ: ‘Phụng thánh chỉ, không đọc duyệt.’ Mệnh lệnh trái với lẽ thường, chưa từng thấy như vậy, thần e rằng sẽ bị thiên hạ chê cười, để lại tiếng xấu cho hậu thế, không thể coi thường được. Lục hoàng vừa ban xuống, đã thấy có phê chỉ, thì Môn hạ thị lang phải tiến hành phản đối, không được để lọt ra ngoài. Sau khi đã ban ra, Thượng thư tỉnh Tả Hữu bộc xạ, Tả Hữu thừa cũng phải tâu lên, không được thi hành. Sau khi đã thi hành, mệnh lệnh không đầy đủ, Lại bộ cũng phải tâu bẩm, không được viết cáo thân. Thế mà các cơ quan từ trên xuống dưới đều xu nịnh, cẩu thả, bỏ mất chức trách, làm rối loạn kỷ cương, gây ra sai lầm này, làm tổn hại đến đức của bệ hạ. Thần không hiểu bệ hạ dùng danh vị, bổng lộc để nuôi dưỡng đại thần, đặt ra trăm quan, là để làm gì!

Việc quân chủ ra mệnh lệnh sai lầm, xưa nay không thể tránh khỏi. Nhưng nếu các bề tôi bên cạnh biết rõ mà sửa chữa, thì sẽ không đến nỗi thành sai lầm. Huống chi bệ hạ đang tuổi thanh xuân, còn Thái hoàng thái hậu nghe chính sự trong cung cấm, thì lại càng phải thế! Việc dùng ‘tà phong mặc sắc’, bổ nhiệm quan chức tùy tiện, ban thưởng bừa bãi, chính là nguyên nhân gây loạn từ xưa. Nay đại thần muốn dùng việc này để mê hoặc bệ hạ, nếu mở cửa một lần, thì còn gì không thể xảy ra!

Thần mong bệ hạ hỏi rõ các đại thần, việc thi hành mệnh lệnh như vậy là đúng hay sai? Nếu cho là đúng, thì đó là việc lừa dối trên, mê hoặc quốc gia; nếu biết là sai mà không nói, thì đó là bất trung, còn có thể gánh vác việc nước được sao! Thần xin bệ hạ hạ lệnh ngay, thu hồi cáo mệnh của An Đào, thi hành theo điển chế của triều đình. Còn Môn hạ thị lang cùng các quan thuộc Thượng thư tỉnh, quan lại Lại bộ đều có tội trạng như trên, thần xin đem chương tấu này cùng các văn bản tâu lên trước đây, giao cho bên ngoài xử lý.”

Tờ thiếp hoàng nói: “Bổ nhiệm đại thần mà không cho cáo mệnh đi qua Môn hạ, đó là Bệ hạ trước tiên đã tự ý xử lý. Chế thư không đầy đủ mà nhận, đó là bề tôi tự ý tiến cử. Trên dưới như vậy, thì sao có thể làm yên lòng trong ngoài? Thần biết chắc Đào và những người kia tất không dám nhận.”

Lại tờ thiếp hoàng nói: “Đào được ơn Vua, chưa bị cách chức, đã là may mắn, nếu lại được thăng vượt bậc hơn người, thực không đủ để thỏa công luận. Xin xét lại tờ tấu trước của thần, tạm giữ Đào làm Đồng tri bản viện. Còn cáo mệnh của Phạm Thuần Nhân, xin đổi lại, làm chế thư khác ban xuống.”

Lại tờ thiếp hoàng nói: “Bệ hạ lên ngôi mới hơn một năm, đúng lúc phải giữ gìn pháp độ tổ tông, để ngăn chặn quyền tiếm. Nay việc bổ nhiệm, mệnh lệnh có sai sót, các quan tả hữu chấp chính đã không chịu nói rõ, mà lời can gián của đài gián cũng không được nghe theo, thì thiếu sót của triều chính, ai sẽ cứu chữa? Bệ hạ đã làm hỏng chức trách của Cấp sự trung, lại làm đổ vỡ việc giữ gìn đường lối ngôn luận, thần vì thế ngày đêm lo sợ không thể tự chủ, không chỉ bàn về việc tiến thoái của Đào, mà thực là tiếc cho kỷ cương triều đình, để phòng ngừa từ nhỏ ngăn chặn từ xa mà thôi.”

[4] Hôm ấy, sở Tường định dịch pháp nói: “Xin ban xuống các lộ, ngoài Nha tiền ra, các loại dịch nhân chỉ theo số người hiện dùng mà định sai. Tiền dịch năm nay thu vào mùa hạ xin ngừng thu, không thu thêm nữa. Lệnh cho quan hộ, tăng đạo, tự quán, đơn đinh, nữ hộ xuất tiền trợ dịch xin đừng thi hành.” Theo lời tâu.

(Theo án cũ của châu Vinh thêm vào[3].)

[5] Ngày Nhâm Tuất, ban chiếu rằng: “Các lộ Đề điểm hình ngục không phân lộ. Kinh Đông Tây lộ và Kinh Đông Đông lộ hợp thành Kinh Đông lộ, Kinh Tây Nam lộ và Kinh Tây Bắc lộ hợp thành Kinh Tây lộ, Tần Phượng đẳng lộ và Vĩnh Hưng quân đẳng lộ hợp thành Thiểm Phủ Tây lộ, Hà Bắc Tây lộ và Hà Bắc Đông lộ hợp thành Hà Bắc lộ, Hoài Nam Tây lộ và Hoài Nam Đông lộ hợp thành Hoài Nam lộ.” Đây là theo lời tấu của Tư Mã Quang vào ngày Bính Thân tháng 2 nhuận.

(Ngày 8 tháng nhuận.)

[6] Tư Mã Quang tâu rằng:

“Thần trộm thấy triều đình cải cách chế độ khoa cử. Trường thi thứ nhất, thi nghĩa lý kinh điển; trường thi thứ hai, thi thơ phú; trường thi thứ ba, thi luận; trường thi thứ tư, thi sách vấn; thi khoa Minh Pháp mới, ngoài việc xét án, còn thi nghĩa lý sách Luận Ngữ và Hiếu Kinh. Vâng theo thánh chỉ, Lễ bộ cùng các học sĩ, đãi chế của hai tỉnh, Ngự sử đài, Tư nghiệp Quốc tử giám họp bàn tâu lên. (Cuộc họp bàn diễn ra vào ngày mồng 2 tháng 2 nhuận.) Thần có điều muốn trình bày, không dám không tâu lên.

Phàm đạo lấy người tài, nên lấy đức hạnh làm đầu, văn học làm sau. Trong văn học, lại nên lấy kinh thuật làm đầu, từ chương làm sau. Vì thế, trong 《Chu Lễ》, chức Đại Tư đồ dùng sáu đức, sáu hạnh để kén chọn dân chúng; nhà Hán dùng hiền lương phương chính, hiếu liêm, chất phác đôn hậu để tuyển chọn nhân tài. Từ khi trung hưng trở đi, việc tuyển chọn nhân tài càng thêm tinh tế. Đến như các chức thuộc viên công phủ, châu tòng sự, quận quốc kế lại, thừa, sử, huyện công tào, hương sắc phu, đều chọn người hiền tài để đảm nhiệm. Nếu không phải người xứng đáng, sẽ bị đời chê trách.

Vì thế, mọi người đều tự rèn luyện, giáo hóa thịnh hành, phong tục thuần hậu. Đến đời sau suy vi, dù chính sách hình pháp trên triều đình có hỗn loạn, nhưng tiết nghĩa vẫn được giữ vững dưới dân gian. Kẻ nào dùng thủ đoạn gian trá để giàu sang, sẽ không được dư luận chấp nhận. Đó là cội nguồn của đức hóa, việc cần làm trước của bậc vương giả, không thể xem thường.

Thời Hi Bình, Vua xuống chiếu triệu tập những người học trò giỏi văn phú, đợi chế ở cửa Hồng Đô. Thái Ung ra sức can ngăn, cho rằng tài năng nhỏ mọn về từ phú không có ích gì cho việc trị nước, không bằng kinh thuật. Từ thời Ngụy, Tấn trở về sau, bắt đầu coi trọng văn chương mà coi thường kinh thuật, xem những người giỏi từ phú là anh tuấn, còn những người học Nho là thô kệch.

Đến thời Tùy, Đường, tuy có đặt ra hai khoa Minh Kinh và Tiến sĩ, nhưng khoa Tiến sĩ ngày càng thịnh hành còn khoa Minh Kinh ngày càng suy tàn. Lý do là vì các quan chức dùng thiếp kinh và mặc nghĩa để khảo hạch Minh Kinh, chỉ chú trọng ghi nhớ và tụng thuộc, không hỏi đến nghĩa lý. Tệ hại đến mức xa rời kinh điển, phân tích chú giải, cố tình làm khó, dùng nhiều cách để đánh lừa. Khiến cho các thí sinh từ nhỏ đến già, ngày đêm miệt mài, môi khô lưỡi rát, hao phí sức lực để mong đạt được tiêu chuẩn[4]. Khi hỏi về đạo lý của thánh nhân, họ mù tịt như đứng trước bức tường, có người không biết câu đọc, có người phát âm sai lệch, đó là lỗi của quan chức, không phải lỗi của thí sinh.

Đến như dùng phú thơ, luận sách để khảo hạch Tiến sĩ, về sau chỉ chuyên dùng luật phú và cách thơ để quyết định đỗ trượt[5], bắt lỗi vận thơ, sai luật bằng trắc, câu thơ lệch lạc không đối, chữ “phong yêu hạc tất”, để quyết định thăng giáng kẻ sĩ trong thiên hạ, không hỏi họ hiền hay bất tiếu. Dù họ cứng đầu như Chích, Kiểu, nếu đạt tiêu chuẩn trong kỳ thi, vẫn không bỏ qua việc cho đỗ cao; dù họ có đức hạnh như Uyên, Khiên, nếu không đạt tiêu chuẩn trong kỳ thi, cũng không tránh khỏi bị đánh trượt, già chết nơi thôn dã. Khiến cho các thí sinh chỉ chú trọng văn chương hoa mỹ, không căn cứ vào đạo đức, đọc lướt qua, chép vội, mang theo tài liệu, đạo văn, để mong đạt được danh hiệu khoa bảng. Khi hỏi về đạo lý của thánh nhân, chưa chắc họ đều biết. Trong số đó có người sống buông thả, cử chỉ nhẹ dạ, lời nói việc làm xấu xa, không gì là không làm, tệ hại đến cực điểm!

Thần Tông hoàng đế thấu hiểu sâu sắc những sai lầm đó, bèn bãi bỏ hết thi phú và các khoa kinh học, chỉ dùng kinh nghĩa và luận sách để khảo hạch Tiến sĩ. Đây là cải cách những tệ nạn tích tụ qua các đời, khôi phục lại điển chế tốt đẹp của tiên vương, là phép tắc không thể thay đổi trong trăm đời.

Nhưng Vương An Thạch không nên lấy học thuyết riêng của một nhà, muốn che lấp các bậc tiên nho, khiến các quan học giảng giải và thi cử trong khoa trường, ai cùng ý mình thì lấy, ai khác ý mình thì bỏ. Khiến lời nói rõ ràng của thánh nhân trở nên kỳ dị; đạo trung chính của tiên vương rơi vào dị đoan. Nếu luận điểm của mình đúng, tiên nho sai, lo gì học giả không bỏ họ mà theo mình, cần gì phải dùng lợi hại để dụ dỗ, ép buộc gấp gáp như vậy! Lại bỏ 《Xuân Thu》 mà đề cao 《Mạnh Tử》, bỏ lục nghệ mà tôn sùng bách gia, chỉ xét văn học mà không khuyến khích đức hạnh, đó là sai lầm. Phàm bàn việc nước, nên giữ công luận, không thể xu thời, cũng không thể theo tục; nên xét xem đúng sai lớn nhỏ, lợi hại nhiều ít, khiến chất vấn thánh nhân mà không sai, xét theo tình người mà đều thông, xem xét cổ đại mà hợp, áp dụng đương thời mà khả thi, như vậy mới tốt.

Nay triều đình bàn lớn về phép khoa cử, muốn đạt đến chỗ hoàn mỹ, theo ý thần, không gì bằng theo phép cũ của triều trước, hợp Minh Kinh và Tiến sĩ làm một khoa, lập 《Chu Dịch》, 《Thượng Thư》, 《Thi》, 《Chu Lễ》, 《Nghi Lễ》, 《Lễ Ký》, 《Xuân Thu》, 《Hiếu Kinh》, 《Luận Ngữ》 làm chín kinh, khiến các quan học giảng giải theo chú sớ, học giả xem rộng các nhà, tự chọn hay dở, tùy theo sở thích. 《Xuân Thu》 chỉ dùng 《Tả Truyện》, các thuyết 《Công Dương》, 《Cốc Lương》, Lục Thuần đều là các nhà, 《Mạnh Tử》 chỉ là chư tử, không thi đại nghĩa, người ứng thí tự chọn học. Ba kinh trở lên tùy ý nhiều ít, đều phải học 《Hiếu Kinh》, 《Luận Ngữ》. Trước gia trạng ghi rõ học kinh nào.

Lại mỗi năm ủy thác các quan văn đang tại triều tiến cử một người, không kể hiện đang tại chức hay không tại chức, thuộc bộ mình hay không thuộc bộ mình, đều tiến cử người mình biết. Nếu là thân thích, cũng phải nói rõ trong tờ tiến cử. Tờ tiến cử viết: “Thần trộm thấy người huyện nào, châu nào tên là gì, có tài năng gì, thần nay tiến cử người ấy có thể ứng thi khoa kinh minh hành tu. Nếu sau này không đúng như lời tiến cử, thần xin chịu tội liên đới không từ.”

Đợi tờ tấu đến triều đình, giao xuống Lễ bộ Cống viện lập sổ, mỗi lộ sao chép tên người được tiến cử[6], ghi chức vụ, tên người tiến cử ở dưới, rồi giao xuống châu ấy cấp giấy công nhận, giao cho người ấy giữ. Và lệnh cho châu ấy cũng như Cống viện lập sổ sao chép, chuẩn bị đến ngày mở khoa trường thì kiểm tra giấy công nhận. Tờ tiến cử đã dâng lên rồi, nếu người được tiến cử phạm tội tham nhũng, tư lợi đến tội đồ trở lên, tình tiết nặng và vi phạm danh giáo, đợi xét xử xong, vẫn truy cứu người tiến cử, tâu xin triều đình xét xử thi hành. Người ấy chưa đỗ thì giảm năm bậc, đã đỗ thì giảm ba bậc xử phạt, giống như pháp tiến cử người được tuyển làm quan kinh.

Thần trộm nghĩ pháp này mới thi hành, việc chạy chọt nhờ vả chắc không tránh khỏi. Nếu triều đình nhất định truy cứu người tiến cử, không tha thứ, thi hành ba năm năm sau, tự nhiên đều cân nhắc kỹ người mình tiến cử, không dám tiến cử bừa. Như thế thì kẻ sĩ ở quê, ở nhà, một mình trong phòng tối, lập thân hành xử, không dám không thận trọng. Chỉ sợ có điều xấu lộ ra ngoài. Đó gọi là giáo hóa không cần nói, không cần nghiêm khắc mà thành, không cần quan học hàng ngày răn dạy, tháng kiểm tra, đặt thưởng tố cáo, mà đạo đức kẻ sĩ tự nhiên tốt đẹp.

Mỗi khi mở khoa thi, những người có người tiến cử thì tự xưng là ứng cử kinh minh hành tu, và phải ghi rõ chức vụ, họ tên của người tiến cử trước khi nộp gia trạng. Cơ quan có thẩm quyền sẽ kiểm tra sổ sách để xác nhận thông tin, sau đó mới được tiếp nhận.

Những người không có người tiến cử thì chỉ xưng là ứng cử hương cống tiến sĩ, theo quy định thông thường. Mỗi nhóm ba cử nhân trở lên phải tự kết thành một nhóm bảo lãnh. Nhóm này chỉ bảo lãnh rằng người đó là chính thân, quê quán đúng, chưa từng phạm tội nặng, không có tang chế ẩn giấu, ngoài ra không bảo lãnh điều gì khác. Việc thi cử ở châu và Cống viện vẫn theo quy định cũ, bổ nhiệm các chức Di phong, Đằng lục, Giám môn, Tuần bộ quan. Ngày thi, phải kiểm tra nghiêm ngặt, theo quy định thi kinh học các khoa trước đây. Mỗi thí sinh phải tự làm bài, không được đổi chỗ ngồi, tụ tập bàn bạc, truyền nghĩa, truyền bản, mang tài liệu, nhờ người khác viết hộ, ai vi phạm sẽ bị đuổi ra khỏi phòng thi.

Trường thi đầu tiên trước hết thi năm câu hỏi lớn về 《Hiếu Kinh》 và 《Luận Ngữ》, trong đó 《Hiếu Kinh》 một câu, 《Luận Ngữ》 bốn câu. Trước tiên phải ghi đầy đủ văn bản chính, sau đó trình bày ý nghĩa lớn của chú sớ, tiếp theo dẫn các ý kiến khác nhau của các nhà, cuối cùng dùng ý kiến của mình để đánh giá đúng sai. Người nào dẫn chứng tinh tường, lý lẽ dài, văn hay thì được coi là thông, kém hơn thì coi là thô, dẫn chứng sơ sài, lý lẽ ngắn, văn vụng thì coi là không đạt. Ba câu thông trở lên là đạt tiêu chuẩn. Người không đạt tiêu chuẩn trước tiên bị loại bỏ, người đạt tiêu chuẩn được dán bảng dẫn. Trường thi tiếp theo thi như pháp thi kinh học các khoa cũ. Nếu số người đạt tiêu chuẩn quá ít, thì uỷ thí quan tùy thời trong ngắn tìm dài, xem xét kỹ lưỡng mà cho qua.

Trường thi tiếp theo thi 《Thượng Thư》, trường thi tiếp theo thi 《Thi》, trường thi tiếp theo thi 《Chu Lễ》, trường thi tiếp theo thi 《Nghi Lễ》, trường thi tiếp theo thi 《Lễ Ký》, trường thi tiếp theo thi 《Xuân Thu》, trường thi tiếp theo thi 《Chu Dịch》 đại nghĩa, mỗi thứ năm câu. Lệnh cho cử nhân tùy theo kinh sách mình học mà thi, khảo xét đỗ trượt như pháp thi 《Hiếu Kinh》, 《Luận Ngữ》. Trường thi tiếp theo thi hai câu luận: một câu ra đề trong sách các nhà Nho, một câu ra đề trong chính sử các đời. Trường thi tiếp theo thi ba câu sách, đều hỏi về thời vụ.

Ngày khảo sách, mới căn cứ vào số người được giải và số người tấu danh mà định bỏ lấy, xếp hạng cao thấp, lấy người kinh số nhiều lên trên, kinh số bằng nhau thì lấy người luận, sách lý lẽ dài văn hay lên trên, còn lại những cử nhân kinh minh hành tu, đều xếp trước tiến sĩ, làm thành một hạng riêng dán bảng giải phát. Khi tấu danh, đến trước ngự thi một câu sách thời vụ, trên một ngàn chữ, quan di phong đề trên số hiệu số kinh minh và số người cử chủ, đợi khảo xét tường định xong, khi xếp hạng, cũng lấy người kinh số nhiều lên trên, kinh số bằng nhau thì lấy người sách lý lẽ dài văn hay lên trên. Văn lý bằng nhau thì lấy người cử chủ nhiều lên trên.

Những cử nhân kinh minh hành tu, cũng xếp trước tiến sĩ làm thành một hạng riêng, trước tiên cho đỗ đệ. Việc ban ơn chú quan, so với tiến sĩ được đặc biệt ưu đãi. Khi khác chọn quan thanh yếu, quán các, đài gián v.v., đều phải lấy người kinh minh hành tu trước. Tên họ người cử chủ, thường phải nói rõ trước khi cáo quan. Như thế thì cử nhân đều chuyên tôn sùng kinh thuật, tìm hiểu ý chỉ thánh nhân, không dám không tinh; xem xét sử sách, không dám không rộng. Lại không buông thả vào tiểu thuyết dị đoan, bàn cầu thời vụ, cũng không dám không biết.

Người tài được chọn, vừa có hành nghĩa, lại có thể minh đạo[7], lại có thể bác học, lại biết theo chính, người ấy dùng cho quốc gia, há chẳng hơn người được chọn ngày nay sao!

Tất cả những người hiện nay xin khôi phục thi phú đều là những cử nhân già ngày trước. Họ chỉ quen làm thơ phú, không học kinh nghĩa, nên khi thi không đỗ, vì thế đưa ra lời này, muốn làm lung lay chế độ khoa cử để thuận tiện cho mình. Nếu triều đình không muốn bỏ rơi những người cũ, hãy đợi đến khi khoa cử tương lai có những tiến sĩ được đặc cách tấu danh, cho họ thi thơ phú, tùy theo mức độ ưu tú mà ban ân, cũng không có hại gì. Không thể vì thế mà dễ dàng thay đổi phép tắc đã định, lại theo tệ tục cũ, làm lầm lạc thế hệ sau.

Nếu cho rằng những người giỏi văn chương là điều không thể thiếu của quốc gia, thì xin cho phép người thi đỗ kinh nghĩa được nộp đơn xin thi tạp văn, trong kỳ thi luận ở trường thi tiếp theo: hoặc thơ luật, hoặc ca hành, hoặc cổ phú, hoặc tụng, hoặc minh, hoặc tán, hoặc biểu khải tứ lục, tùy lúc giao cho quan thi ra đề, thi một bài văn, quy định số bài, số chữ, tổng cộng phải trên 500 chữ, lấy những bài có văn từ xuất sắc làm đỗ.

Đến khi được giải và tấu danh đỗ đạt, xếp hạng tên tuổi cao thấp, mỗi người đều ở trên những người cùng đỗ kinh nghĩa. Như vậy thì những người giỏi văn chương cũng không thiếu. Còn như luật lệnh, sắc thức đều là những điều mà người làm quan cần biết, sao phải đặt ra khoa minh pháp để bắt sĩ tử học trước?

Điều mà lễ bỏ đi thì hình phạt sẽ lấy lại, nếu sĩ tử thực sự hiểu đạo nghĩa, tự nhiên sẽ hợp với pháp luật. Nếu không hiểu, chỉ ngày ngày đọc sách về đồ, lưu, giảo, trảm, học cách tra tấn, văn tự, thì làm sĩ đã thành kẻ bạc ác, làm quan sao có thể hiền lương?

Đó không phải là cách nuôi dưỡng nhân tài, làm phong tục thuần hậu. Nếu triều đình không muốn bỏ rơi những người đã học, những người từng đỗ khoa minh pháp vẫn được tiếp tục thi, còn những người chưa đỗ thì không được thi nữa, như vậy sẽ thu thập được hết.

Thần ngu muội xin trình bày ý kiến như trên, kính xin đem lời tấu của thần cùng nghị luận của các quan Lễ bộ dán ở cổng Quốc Tử Giám, và truyền xuống các châu có trường học dán ở cổng trường, lệnh cho cử nhân trong vòng một tháng nộp đơn, chỉ định phép nào là tốt, gửi về châu mình kèm theo văn thư tâu lên, đợi đến kinh đô đầy đủ, lại giao cho các quan chấp chính khác xem xét, tham khảo, rồi thi hành lâu dài.”

Trước đó, Tư Mã Quang đưa bản thảo tấu chương cho Phạm Thuần Nhân xem. Thuần Nhân trả lời Quang rằng:

“Việc tiến cử người tài rất khó, nhất là khi các quan trong triều ít hiểu biết lẫn nhau. Những người thuộc gia đình danh giá gần kinh đô thì còn có thể, nhưng những người nghèo hèn ở xa thì thật sự không dễ. Hơn nữa, các quan trong triều hiện nay chưa chắc đã hơn được những người được tuyển chọn làm quan ở kinh đô, và những người được tuyển chọn làm quan ở kinh đô cũng chưa chắc đã bằng được những người bình dân. Nếu chỉ bắt họ đi tìm người tiến cử, chưa chắc đã có ích. Nếu muốn không bỏ phí văn chương, thì khoa thi tạp văn và tứ lục không cần phải đặt riêng một khoa, mà nên đặt chung trong các kỳ thi của mọi người.

Sách 《Mạnh Tử》 e rằng không thể xem nhẹ, giống như việc loại bỏ 《Xuân Thu》 trong Lục Kinh vậy. Xin hãy cân nhắc thêm! Thuần Nhân còn có một ý kiến nữa, mong góp phần làm sáng tỏ. Triều đình muốn tìm kiếm tài năng của mọi người, nhưng nếu nguyên soái lại đi tiên phong, thì e rằng không phải là đạo lý của việc trị quốc. Nếu đã trình bày ý kiến này mà mọi người không theo, thì chỉ uổng công suy nghĩ mà làm mất thể diện của tể tướng. Nếu mọi người đều theo, thì mọi người đều không bằng được tể tướng.

Nhưng e rằng sẽ có kẻ nịnh bợ xen vào, còn người chính trực thì im lặng rút lui. Kẻ nịnh bợ đã nhiều, khiến người ta có thể tự tin rằng không ai bằng mình, đó là bài học từ quá khứ. Chi bằng hãy giữ tâm thanh tịnh để đợi ý kiến của mọi người, ý nào đúng thì theo, ý nào không đúng thì đợi các bậc hiền tài bàn bạc. Như vậy sẽ nhàn nhã mà dễ thành công, có sai sót cũng dễ sửa, và ít bị người ta chỉ trích. Nếu để lộ ý định này trước, thì kẻ nịnh hót sẽ có thể thêm thắt lợi hại, đón ý trước mặt ngài.”

Quang vui vẻ tiếp nhận ý kiến này.

(Theo 《Tư Mã Quang tập》 trong tờ tấu “Khất tiên cử kinh hành tráp tử” có ghi rằng ngày 5 tháng 3 dâng lên ý kiến này, nhưng 《Thực lục》 không ghi chép, nay bổ sung vào ngày này.

Câu “vui vẻ tiếp nhận” là dựa theo 《Phạm Thuần Nhân ngôn hành lục》, cần xem xét thêm. Hoặc có thể là Quang đã nghe ý kiến của Thuần Nhân trước, đợi đến khi họp bàn rồi mới đưa ra ý kiến này. Việc họp bàn, thánh chỉ ban vào ngày 2 tháng 2 nhuận, có thể dời việc này để bổ sung vào đó. Theo lời Phạm Thuần Nhân gọi Quang là “nguyên tể”, thì việc bổ sung vào ngày 2 tháng 2 nhuận có hơi sớm. Ngày 3 tháng 4, Tô Triệt dâng tấu xin, ngày 23 Quang tiến cử người kinh minh hành tu, có thể tham khảo thêm.)

[7] Vương Nham Tẩu tâu: “Thần đã phong hoàn sắc chỉ bổ nhiệm An Đào làm Tri Xu mật viện, được ban chỉ dụ rằng: ‘Quốc gia thăng giáng đại thần đều phải theo lễ, huống chi trước đây ở Diên Hòa tâu việc, đã từng dặn dò trực tiếp. Khanh nay lại như vậy, không phải là ý của Trẫm đối với đại thần. Hãy nhanh chóng viết và đọc, đừng cố chấp ý kiến của mình.’

Thần đã ở vào vị trí gián quan, lại được giao trách nhiệm phong bác, không dám xu nịnh khoan dung để giữ chức vụ cho bệ hạ; không dám né tránh nịnh hót để giữ pháp luật cho bệ hạ. Nay việc bổ nhiệm An Đào chưa ổn, đã làm tổn hại ân đức; mệnh lệnh sai lệch, càng làm tổn hại kỷ cương. Việc này rất quan trọng, liên quan đến quốc thể. Thần vì thế suy nghĩ ngày đêm, gần như bỏ ăn bỏ ngủ, nhiều lần dâng lời trung thành, mong lay chuyển ý trời. Bệ hạ ban đầu dùng An Đào để bổ nhiệm, cuối cùng nghe theo lời từ chối của ông ta, đó là thăng giáng đại thần theo lễ.

Thần cho rằng An Đào bất tài, không nên cùng với các hiền tài khác được thăng tiến, nên giúp bệ hạ phân biệt hiền nịnh, khiến những người có danh tiết đoan chính tại chức biết rằng bệ hạ thông minh sáng suốt, cảm kích tự lực, đó là để đáp lại ý của bệ hạ đối với đại thần. Khi ở Diên Hòa tâu việc, được bệ hạ khen ngợi, khiến thần yên tâm tâu việc, nhất định được bệ hạ ủng hộ, trong trách nhiệm của thần, lấy gì để báo đáp? Phải biết việc lớn nhỏ, có lợi cho quốc gia, biết thì không thể không nói, mới có thể đáp lại ân sủng của bệ hạ.

Huống chi việc hôm nay, gián quan ngự sử đều cùng một ý kiến. Thần tuy nhỏ mọn, đâu dám cố chấp ý kiến, mong bệ hạ thấu hiểu lòng thần, tha tội cho thần, đặc biệt theo lời tâu trước, sớm ban hành.”

Tờ thiếp hoàng tâu rằng: “Thần e rằng ý của Bệ hạ cho rằng mệnh lệnh đã ban ra thì khó thay đổi. Vì chức vụ của Cấp sự trung vốn là để phong bác, tất cả những gì phong bác đều là mệnh lệnh đã ban ra. Ý nghĩa của việc đặt chức quan này là coi trọng việc phong bác, chứ không coi trọng việc mệnh lệnh đã ban ra.

Từ thời nhà Đường trở lại đây, mệnh lệnh đã ban ra, do Cấp sự trung phong hoàn[8], ngăn lại không thi hành, sửa đổi rồi mới thi hành, không thể kể xiết. Bệ hạ vốn đã quen biết. Như vậy, càng mong Bệ hạ rộng lượng tiếp nhận, để các quan có thể giữ chức vụ cho Bệ hạ, nhằm chỉnh đốn kỷ cương.

Thần cho rằng tội của bề tôi[9], không gì lớn hơn sự phản phúc. Thần đã nhiều lần trình bày, nghĩa khó mà lại làm ngược lại việc đọc sách, kính mong Bệ hạ đặc biệt ban chỉ huy, cử quan quyền Cấp sự trung, để giữ trọn chức phận của kẻ bề tôi cô độc.”

Ngày hôm sau, Nham Tẩu lại tâu:

“Thần nhiều lần nói việc tiến cử An Đào không thể hợp với công luận, không thể làm trọng triều đình, không thể khiến bốn phương nể phục. Lại nữa, mệnh lệnh không qua cửa dưới để đọc, không thể chính pháp độ, không thể giữ cương kỷ, không thể răn bảo quần thần. Việc này liên quan rất lớn, đến nay vẫn chưa được xem xét thi hành. Nhiều người bàn luận đều cho rằng từ khi Hoàng đế bệ hạ và Thái hoàng thái hậu bệ hạ nghe chính sự đến nay, chưa từng có việc gì không vừa lòng thiên hạ. Nay lại vì một kẻ bất tài vô dụng mà làm tổn hại đức toàn mỹ của bệ hạ, không chỉ thần tiếc, mà những người yêu mến bệ hạ trong thiên hạ, ai chẳng tiếc.

Thần sợ có người dâng lời làm lầm bệ hạ, chỉ nói rằng mệnh lệnh đã ban không thể thu hồi, không còn bàn đến nghĩa lý nên thế nào, đó không phải là lời trung với bệ hạ, cũng không phải là luận thuyết sáng suốt về quốc thể. Từ xưa đến nay, chỉ có những lời khó nghe, can ngăn quân phụ, khiến không phạm sai lầm, để thiên hạ và hậu thế bàn luận, mới là bề tôi trung, mới là người sáng suốt về quốc thể.

Thần nghĩ rằng bậc minh chủ chỉ theo nghĩa, không lấy việc thu hồi mệnh lệnh đã ban làm khó. Xin dẫn một việc thời Nhân Tông để tâu lên bệ hạ: Ngày 21 tháng 3 năm Khánh Lịch thứ 3, bổ nhiệm Hạ Tủng làm Xu mật sứ, ngày 8 tháng 4 dùng 11 tờ tấu của Ngự sử trung thừa Vương Củng Thần, Gián quan Âu Dương Tu, thu hồi chiếu chỉ bổ nhiệm Hạ Tủng làm Xu mật sứ. Bấy giờ, danh nho Thạch Giới làm bài 《Thánh đức tụng》 để ca ngợi đức tốt của Nhân Tông, thiên hạ lưu truyền, đến nay vẫn xưng là việc thịnh sự.

Kính mong bệ hạ noi theo mà làm, không lấy việc thay đổi mệnh lệnh đã ban làm khó, mà lấy việc nghe lời can gián làm trọng. Thiên hạ may mắn biết bao! Thần chí ở yêu mến bệ hạ, nên dám nhiều lần dâng lời, chỉ mong bệ hạ xét chí của thần, thần chết không hối hận.”

[8] Ngày Giáp Tý, Ngự sử trung thừa Lưu Chí, Điện trung thị ngự sử Lã Đào, Tôn Thăng tâu rằng: “Thần trộm nghĩ rằng Ngự sử đài có nhiệm vụ nghiêm chỉnh kỷ cương, đàn hạch những việc trái phép. Từ triều đình đến các châu huyện, từ tể tướng đến trăm quan, nếu không tuân thủ điển pháp, đều phải bị đàn hạch. Nay xét theo bản lục hoàng của Trung thư tỉnh, việc bổ nhiệm An Đào làm Tri xu mật viện sự, giao cho Môn hạ tỉnh thẩm duyệt và đọc, nhưng Cấp sự trung phong bác không đúng, vâng theo thánh chỉ không đọc lại, Môn hạ thị lang thẩm duyệt cũng không tâu trình, giao cho Thượng thư tỉnh Lại bộ xuất cáo, Lại bộ trình bày việc Cấp sự trung không đọc lại lên bản tỉnh, Thượng thư tỉnh cũng không tâu trình, rồi lấy lệnh cáo không đọc lại mà ban ra. Tất cả các quan ở Môn hạ tỉnh, Thượng thư tỉnh như Bộc xạ, Thị lang, Tả hữu thừa, cùng các quan phụ trách việc nhận lệnh, và Lại bộ đều không tuân thủ điển pháp, làm tổn hại thánh chính, xin giao cho Hữu ty luận tội, để chấn chỉnh kỷ cương triều đình, kính cẩn tâu trình việc đàn hạch này.”

Thiếp hoàng: “Kiêm việc Phạm Thuần Nhân làm Đồng tri xu mật viện sự, cùng một sắc lệnh ban ra, xin chiếu theo.”

(Ngày mồng 7 tháng 3 năm Nguyên Hựu thứ nhất.)

Chí, Đào, Thăng lại tâu: “Thần đã nhiều lần tấu trình việc An Đào giữ chức Tri Xu mật viện là không thích hợp, bản lục hoàng không cho Cấp sự trung đọc, cùng các quan Kinh lịch, Thụ phó cũng không tâu lại, xin bãi bỏ và sửa đổi, cùng xử tội, nay đã mấy ngày mà chưa được chấp thuận.

Thần cho rằng chức vị cao trọng của triều đình, không có đức và công thì không thể ban tước hư. Nếu vì ân lễ mà ban tước thì không hợp với công luận. Nay An Đào tài năng và danh vọng vốn thấp, giữ chức ở Xu mật viện đã là may mắn. Một ngày bỗng được thăng tiến, vượt qua mọi người, sĩ luận xôn xao, cho rằng triều đình bổ nhiệm người đứng đầu Xu mật viện không kén chọn, không phải là cách để trấn an xã tắc, khuất phục tứ di. Mệnh lệnh đã ban ra, Cấp sự trung không được đọc, pháp thức chưa đầy đủ mà đã thi hành, một cơ quan Môn hạ, quan còn mà chức bỏ, kỷ cương rối loạn, từ việc này bắt đầu. Thượng thư Bộc xạ, Tả Hữu Thừa đều không có lời nào tâu trình, bèn giao cho Hữu ty, đó là trên dưới bỏ phép, trong ngoài theo tư, lấy gì để dạy dỗ trị vì bốn phương, duy trì muôn đời!

Việc này liên quan rất lớn, rất đáng kinh ngạc và than thở. Kính nghĩ Thái hoàng thái hậu bệ hạ bảo vệ thánh đức, lấy việc sửa đổi pháp độ làm gấp, bỗng có việc này, mọi người đều tiếc. Không chỉ tiếc việc bổ nhiệm An Đào quá đáng, mà còn tiếc pháp độ của quốc gia bị bỏ mất. Kính mong Thánh từ xem xét lại những điều thần đã nhiều lần tâu trình, cùng lần tấu này, bãi bỏ mệnh lệnh bổ nhiệm An Đào. Các quan Kinh lịch, Thụ phó, xin sớm xử tội. Chỉ huy lục hoàng của Phạm Thuần Nhân, xin vẫn do Môn hạ tỉnh đọc và xét duyệt rồi thi hành.”

(Ngày Mậu Thìn, tháng 3, năm Nguyên Hựu thứ 1, sách 《Tạp lục》 lại cho rằng đây là tấu của Tôn Giác, là sai.)

[9] Ngày Ất Sửu, Ngự sử trung thừa Lưu Chí tâu: “Thần trộm nghĩ rằng, nhiệm vụ của bậc phụ tướng là thay trời giúp Vua. Trên thì điều hòa tam quang, bốn mùa; dưới thì an định trăm họ, khiến vạn vật sinh sôi. Thân có đức nghĩa mới có thể làm rạng danh triều đình; lòng giữ công tâm trung thành mới có thể khiến thiên hạ kính phục. Người không như thế, thì nước nhà nguy vậy!

Thần thấy tể thần Hàn Chẩn tài hèn danh nhẹ, không học vô thuật, tham lợi ham giàu, tính tình nông cạn, không biết liêm sỉ. Trước đây nịnh bợ Trương Thành Nhất, nhờ thế mà được tiến cử, giữ chức ở Xu đình. Gần đây do Vương Khuê qua đời, theo thứ tự thăng tiến, nên được lên ngôi tể tướng. Không có một lời nói, việc làm nào giúp ích cho đất nước, không có một tài năng, đức hạnh nào được người đời khen ngợi. Đến như việc tham lam tàn bạo suốt đời, những việc xấu xa nhơ nhuốc nơi từng trải qua, các quan đài gián trước sau đã có tấu chương bàn luận, không cần thần nói thêm để phiền đến bệ hạ.

Nhưng thần thấy gần đây mỗi khi có việc bổ nhiệm, phần nhiều không hợp lòng người, gây nên nhiều lời bàn tán. Đều cho rằng Chẩn chiếm đoạt chức khuyết ở Lại bộ, tự tiện làm việc bổ nhiệm ở Trung thư đường. Không phải người thân cũ thì không bổ nhiệm, không phải kẻ cùng phe cánh thì không dùng, ít tuân theo đạo công, nhiều việc ban ơn riêng. Vì thế có người vừa đến kinh thành đã được nhận chức, có người trải qua nhiều năm vẫn không được điều động, kẻ gian tà may mắn được thăng tiến, người tài giỏi lại bị chôn vùi.

Làm bậc đại thần, nắm quyền chính sự, mà để xảy ra những lời gièm pha như vậy, ắt phải có nguyên do. Đó là phụ lòng nước để làm việc gian tà, không chỉ là ăn lộc ngồi không. Hiện nay, hoàng đế bệ hạ đang thu nạp người hiền để kế thừa chí hướng của tổ tông, thái hoàng thái hậu bệ hạ đang cải cách mọi việc để mưu cầu sự yên ổn cho xã tắc. Lúc này, Chẩn có ích gì?

Thần mong bệ hạ hạ lệnh đưa lời tâu này của thần cùng các chương sớ của quần thần bàn về Chẩn ra ngoài, bãi chức Chẩn để làm trong sạch đường triều, thỏa lòng quần thần[10].”

Tờ thiếp hoàng nói: “Như Lý Nam Công ở Hà Bắc, tàn ngược nhiều năm, xử lý công việc sai trái, thần đã hai lần dâng tấu đàn hặc, mà gần đây lại điều về Hà Đông. (Ngày 26 tháng 2 nhuận.) Quách Mậu Tuấn ở Tây Lộ, hành vi xấu xa, vì không làm tròn chức vụ bị cách chức, đến kinh đô liền được bổ làm Tỉnh lang. (Ngày 6 tháng 2.) Sau đó lại được chọn cử đi thanh tra đồng cỏ. (Ngày 26 tháng 2.) Vương Thuyết vì nịnh bợ Ngô Cư Hậu gây hại cho Từ Châu, cũng bị người dâng tấu cách chức ở Tỉnh, ngay ngày đó (Ngày 4 tháng 2 nhuận.) được bổ làm Tri châu Mật Châu. Thái Kinh làm Tri phủ Khai Phong không tuân pháp luật, hiện có vụ án Đoàn Kế Long cùng sư Huệ Tín đang được Đại Lý Tự điều tra, đã thấy Kinh nhìn ngó, lợi dụng quyền thế tùy tiện xử lý, các quan dâng tấu đàn hặc đều không được thi hành, lại được bổ làm Tri châu Chân Định, (Ngày 12 tháng 2.) khiến ông ta thống lĩnh một lộ, là điều khiến dư luận bất bình nhất, đều do Trần Chẩn gây ra.”

(Ngày 8 tháng 3 năm Nguyên Hựu thứ nhất.)

[10] Chiếu rằng từ nay về sau, quân đồn trú ăn không hết lương, nếu muốn bán lại cho kho thì không được quá một phần ba, vì các ty Kinh lược các lộ cho rằng việc này bất tiện.

[11] Xu mật trực học sĩ, Triều nghị đại phu, Tri châu Vị Châu Lưu Tường mất.

[12] Ngày Bính Dần, Ngự sử trung thừa Lưu Chí, Điện trung thị ngự sử Lã Đào, Giám sát ngự sử Tôn Thăng tâu rằng:

“Thần gần đây thấy việc bổ nhiệm An Đào không hợp lý, và vì Cấp sự trung phản đối, nên không cho phép thư độc thi hành, đã nhiều lần trình bày, đồng thời đàn hặc các cơ quan trải qua ở Môn hạ, Thượng thư tỉnh, đến nay vẫn chưa được sửa đổi. Thần đang đợi tội ở ngự sử đài, thấy kỷ cương triều đình suy đồi, mệnh lệnh sai lầm, nếu không dốc hết sức để cứu vãn, thì bệ hạ dùng đường ngôn luận để làm gì? Thần còn mặt mũi nào ở chức vụ này?

Từ khi bệ hạ lên ngôi, lấy chí công làm tâm, lấy đạo thẳng làm chính sách. Vì vậy, mọi việc làm đều khiến lòng người trong thiên hạ phục. Nay đột nhiên làm việc này, khiến mọi người kinh ngạc, khác hẳn với chính sự trước đây, thật không phải là điều mong đợi ở bệ hạ.

Hơn nữa, An Đào đức mỏng, danh tiếng nhẹ, không tự lập được, lại kết bè với Chương Đôn, nương tựa vào đó, nay vượt qua mọi người, không lý do mà được thăng chức, đã làm mất lòng công luận, lại không tuân theo điển cố, dùng thủ đoạn xảo trá để tránh sự phản đối của các cơ quan, không ngờ triều đình thánh minh lại làm việc này, ắt có lời bàn gian tà làm lầm bệ hạ. Há không biết rằng việc tuyên phụng hành của Trung thư, việc thẩm độc của Môn hạ, là điển chương của các đời. Một khi không đủ, thì không thành chế mệnh, Đào sao dám nhận?

Thánh nhân giỏi cứu lỗi, không thể không có lỗi. Vì vậy, Lục kinh không ca ngợi Nghiêu vì tự quyết, mà ca ngợi vì biết bỏ mình; không khen Thang vì không có lỗi, mà khen vì biết sửa lỗi. Nay bệ hạ sửa lại việc này, không khó lắm. Hãy lấy cáo thân của Đào ở Cáp môn, bãi bỏ mệnh mới của Đào, và cho phép y vẫn giữ chức cũ, còn Phạm Thuần Nhân thì theo chế riêng mà tuyên bố. Các quan trải qua ở Môn hạ thị lang, Thượng thư bộc, Thừa và Lại bộ, đều không thể kiến nghị và tấu trình, làm lầm lỗi triều đình, nên giao cho Hữu ty xét xử, xử tội rõ ràng, để trong ngoài yên lòng, biết triều đình tôn nghiêm, điển hiến nghiêm minh, dẹp bỏ hy vọng may mắn, ngăn chặn mưu đồ tà ác, mà thành tựu đức lớn biết nghe lời can gián của bệ hạ. Chỉ cần bệ hạ một lời là xong, sao còn chần chừ không làm?”

Tờ thiếp hoàng: “Bệ hạ mở rộng đường ngôn luận, nhiều lời được nghe và chấp nhận, sao riêng việc này lại không được chấp thuận? Bởi triều đình đang cần giữ kỷ cương, coi trọng mệnh lệnh, nay sai lầm không phải là lỗi nhỏ, chúng thần không ngại phiền phức, chỉ mong được chấp thuận. Kính mong xem xét lại các tờ tấu trước đây, giao xuống thi hành.”

(Tờ tấu dâng ngày mồng 9, ngày Bính Dần.)

[13] Ngày Đinh Mão, phong cho quan người ngoại tộc là Mật Nạp Khắc Dụ Lặc Uy, chức Nội điện Sùng ban, làm Nội điện Thừa chế; phong cho Khê La, chức Đông đầu Cung phụng quan, làm Nội điện Sùng ban, để thưởng công chiến đấu.

[14] Ngày Mậu Thìn, Hộ bộ tâu: “Phán quan Chuyển vận lộ Thành Đô phủ là Thái Mông tâu rằng: Ba giám đúc tiền dùng tiền vốn của ty Trà khoán. Những năm gần đây, việc khai mỏ có lúc thịnh lúc suy, đúc tiền có hạn, hàng sắt tích trệ, mà dân khai mỏ phải nộp lợi tức bằng tiền mặt, quá hạn thì bị phạt, vì sợ phạt nên phải bán rẻ. Xin cho phép nộp lợi tức bằng sắt để đúc tiền, ai muốn nộp tiền mặt cũng được.” Triều đình đồng ý.

[15] Ngự sử trung thừa Lưu Chí tấu: “Thần gần đây thấy việc bổ nhiệm An Đào chưa ổn, mệnh lệnh ban hành chưa xét kỹ, đã nhiều lần dâng sớ cùng với các quan thuộc liên danh trình bày, nhưng chưa được chỉ đạo. Thần kính nghĩ Bệ hạ thánh minh, soi xét muôn việc, xét việc này không khó để quyết định, chỉ e rằng gần đây chưa từng triệu đối chấp chính, tất phải đợi đến ngày nghe triều mới muốn hỏi han, rồi sau mới sửa đổi.

Thần cho rằng việc này đúng sai rất rõ ràng, kính mong Bệ hạ xem lại các chương sớ của thần trước sau, nay chi bằng xuất từ thánh đoạn, chỉ cần thu hồi cáo thân của Đào, đem mệnh lệnh bổ nhiệm Phạm Thuần Nhân làm thành biệt chế ban hành, còn Đào nên theo chức cũ từ chối, chỉ lệnh cho đồng tri bản viện. Chỉ cần phê giáng chỉ huy giao cho Tam tỉnh thi hành, là có thể xong việc. Nay các cáo thân của quan viên đã lâu ở Cáp môn, bên ngoài lời đồn đại, không có ích cho thịnh đức.

Còn việc Môn hạ, Thượng thư tỉnh kinh lịch phụng hành, thấy chế sắc chưa hoàn chỉnh, đều không kiến nghị tấu trình, a dua cẩu thả, khiến mệnh lệnh của Bệ hạ không đi theo con đường chí công chính đạo, thực là làm lầm thánh chính. Đại thần như thế, không thể không có sự răn trách, để nêu rõ điển hiến, khuyến khích tiết tháo của bề tôi. Kính xin ban hành văn tự của thần liêu ra ngoài, sớm thi hành.”

Thiếp hoàng: “Thần gần đây từng tấu trình, nói rằng Tam tỉnh cũng đều không đặt trưởng quan, nay Xu mật viện chỉ đặt hai viên đồng tri, thực không có gì trở ngại, kính xin Thánh từ xem xét kỹ.”

Lại thiếp hoàng: “Cáo mệnh chưa hoàn chỉnh, Đào tự không dám nhận, thì theo lý phải sửa đổi.”

Lại thiếp hoàng: “Thần đã nhiều lần phiền ngôn mạo phạm thiên thính, tội không thể tha, nhưng không có ý gì khác, chỉ vì chức trách ở ngôn lộ, lại nương nhờ thánh độ bao dung, nên muốn hết sức để báo đáp ân ngộ mà thôi. Thần lo rằng lời gian tà, cho rằng mệnh lệnh triều đình đã ban hành mà thần lại muốn sửa đổi, khiến Thánh thính nghi ngờ, kính xin xét kỹ lẽ đúng sai, thần tội chết!”

(Ngày 11 tháng 3 năm Nguyên Hựu thứ nhất.)

[16] Hữu ty gián Tô Triệt nói:

“Thần nghe rằng sự trị loạn của thiên hạ nằm ở sự tiến thoái giữa quân tử và tiểu nhân. Băng và than không thể cùng một chỗ, chim cú và chim loan không thể cùng đậu, Cổn và Cao Dao không thể cùng triều, Nhan Hồi và Đạo Chích không thể cùng ở. Kinh truyền nói: ‘Một thơm một hôi, mười năm vẫn còn mùi.’ Quân tử đặt lòng thành không nghi ngờ, nên dễ bị lừa; đứng một mình không phe phái, nên dễ gặp nguy; nói thẳng không kiêng kỵ, nên dễ bị ly gián; trong sạch liêm khiết không hư hỏng, nên dễ bị đuổi. Tiểu nhân thì không như vậy. Chúng lợi dụng uy quyền để mua chuộc ân huệ riêng, kết giao với tả hữu để lấy lòng Vua, ngoan cố vô liêm sỉ, bẩn thỉu không tiết tháo, nên chúng dễ hợp mà khó đuổi. Nếu để quân tử và tiểu nhân cùng ở, ắt tiểu nhân sẽ thắng, quân tử sẽ bị đuổi. Như hương thơm, một ngày là hết; như mùi hôi, mười năm vẫn còn. Đó là lẽ tất nhiên.

Bệ hạ dùng Tư Mã Quang làm tướng, tuy tài ứng phó có chỗ chưa trọn, nhưng đức thanh cao, tiếng tốt, người hiền kẻ ngu đều kính trọng. Còn Hàn Chẩn với hành vi buôn bán rượu thịt, hại nhà hại nước, tài năng đào tường khoét vách, đều có chứng cớ rõ ràng. Người đi đường chỉ trỏ chê cười, lời bàn tán không thể kể hết. Loại người như vậy mà Bệ hạ để cùng đứng với Quang. Theo thần đoán, chẳng qua một năm, mưu kế xảo trá của Chẩn ắt thi hành, bè đảng gian tà ắt thắng, Quang không bị tội thì cũng xin từ chức vì bệnh. Như người uống thuốc, dùng phục linh và ô đầu cùng lúc, Bệ hạ cho rằng công hiệu trường thọ của phục linh có thắng được độc tố giết người của ô đầu không?

Thần trước sau sáu lần dâng chương nói về tội ác của Chẩn, xin trị tội, đến nay vẫn bị giữ lại không xét. Bệ hạ cho rằng Chẩn là cựu thần triều trước, không thể không dùng, thì nên sớm cách chức Quang, để Chẩn tự dẫn đồng đảng bày ra triều đình. Thần đây cũng sẽ xin từ chức, không để chính tà lẫn lộn, khiến quân tử cuối cùng bị họa.

Từ xưa, các dân tộc ngoại bang xâm phạm, thường nhân lúc triều đình mới thay đổi, Vua còn nhỏ, nước còn nghi ngờ. Vì thế, thời Hiếu Huệ và Cao Hậu, Hung Nô ngang ngược; khi Đường Thái Tông mới lên ngôi, Đột Quyết đã kéo đến phía bắc sông Vị. Nay ngoại bang đang âm mưu, an nguy chưa rõ, việc chống đỡ xâm lược, hoàn toàn phụ thuộc vào các bậc phụ tá. Năm ngoái, sứ giả địch vào triều, thấy Chẩn đang tại vị, sứ giả và phó sứ nhìn nhau, mỉm cười khinh bỉ. Điều này có ý gì? Thực ra là thấy Chẩn không có tài cán, dâng đất đai tổ tiên bảy trăm dặm cho họ một cách vô cớ. Nay họ cầm quyền, đó là lợi thế của ta, nên họ vui mừng mà cười thầm. Mở đầu cho việc gian trá và làm nhục quốc gia, chắc chắn bắt đầu từ đây.

Kế hoạch phân định địa giới với địch xuất phát từ Gia Luật Dụng Chính, nay được phong làm tướng, vì mở rộng lãnh thổ bảy trăm dặm mà phong Dụng Chính làm tướng, lý lẽ vốn đúng đắn. Nhưng triều đình lại vì thu hẹp lãnh thổ bảy trăm dặm mà phong Hàn Chẩn làm tướng, thần ngu muội không hiểu được. Thần nghe các bậc phụ lão ở Hà Đông kể rằng: Hàn Kỳ khi làm Thái Nguyên, muốn đặt các đồn Phạm Gia Đông, Phạm Gia Tây và Xích Nê Giao với ba chỉ huy cung thủ, sợ địch có lời bàn tán, bèn triệu tập tiết cấp cung thủ Cao Chính đến lo việc này. Chính dẫn quân lính đến phía nam bắc Tát Nhĩ Đài, rình rập những người địch đi kiếm củi rồi đánh đuổi họ. Địch có lời bàn tán, thì nói rằng đây là đất của Hán.

Hai bên trao đổi văn thư tranh chấp, qua lại hơn mười lần, cuối cùng đạt được thỏa thuận. Từ Tát Nhĩ Đài về phía nam là đất của Hán, và ba chỉ huy cung thủ được sử dụng rất hiệu quả. Đến khi Hàn Chẩn phân định địa giới, đều cắt đất cho địch. Khoảng một nghìn năm trăm hộ chủ, cùng ba bốn lần số đó là hộ khách[11], bị ép buộc di cư vào trong, mồ mả, nhà cửa và ruộng vườn đều bỏ lại mà đi về phía nam. Người già trẻ nhỏ khóc lóc thảm thiết, không nỡ nghe, rồi lấy Thiên Trì Lĩnh làm ranh giới. Thiên Trì phía bắc cách Tát Nhĩ Đài hơn hai mươi lăm dặm, trước kia địch muốn cầu phúc, tu sửa miếu Thiên Trì, phải có văn thư của An phủ ty mới dám vào, để chứng minh miếu thuộc về Hán. Nay cũng thuộc về địch.

Cao Chính là một hào trưởng địa phương, có uy danh ở phương bắc, người Phiên và Hán đều gọi ông là Cao Thiên Vương. Thần ở miếu Thiên Trì cũng gọi là miếu Cao Thiên Vương. Khi đất bị cắt cho địch, Chính ôm ngực khóc lớn, nói với thuộc hạ: ‘Anh chị ta hôm nay lọt vào tay giặc.’ Hàng nghìn dân chúng đều khóc lớn. Chẩn là thị tòng, cầm tiết ra sứ, lại bán nước theo giặc, không bằng một tiết cấp cung thủ, việc này mà có thể chịu được, thì còn gì không thể chịu được! Chính vài năm trước làm Tuần kiểm ở Đại Hoàng Bình, tuổi đã hơn bảy mươi, mỗi khi nghe người ta bàn về sự gian trá của Chẩn và Yến Phục, liền muốn ăn thịt họ.

Yến Phục là một thương nhân ở trấn Đường Long, Tam Giới Thủ, quân Hoả Sơn, nhờ đóng góp lương thực mà được làm Tư hộ Tham quân. Hàn Giáng làm Tuyên phủ, mới tâu xin đổi sang võ chức. Người biên giới nghi ngờ ông ta là gián điệp, nhưng Chẩn lại kết thân với ông ta, thân thiết đến mức gọi là Yến Nhị, cũng gọi là Nhị Ca. Kế hoạch cắt đất đều do Phục đề ra. Sứ giả địch là Lương Vĩnh, Tiêu Hi, vốn lấy đại xuyên dưới Hoành Sơn làm ranh giới, đến dưới Thất Phiền Lĩnh, lại tiến vào đất Hán bao vây. Núi này dài hai mươi tám dặm, ý định từ đây kéo thẳng đến Phân Thủy Lĩnh làm ranh giới. Dân biên giới rất tức giận, có hơn ba trăm cung thủ họ Tiêu đánh đuổi sứ giả phương bắc, cướp lấy trụ phủ và ghế giao ỷ của Lương Vĩnh, địch không dám tiến về phía nam nữa. Rồi từ phía bắc Thất Phiền Lĩnh chuyển sang phía tây, lấy đại xuyên làm ranh giới. Yến Phục đến trại Nhạn Môn cũng bị cung thủ đánh, bò vào trại, đóng cửa may mà thoát được.

Từ đó mà xem, dân biên giới đều căm phẫn không phục, mà kẻ địch cũng biết mình lý kém không có lời lẽ. Nếu Chẩn có chút lòng trung hiếu của bề tôi, không phụ bổn triều, thì bảy trăm dặm đất ắt không đến nỗi rơi vào cảnh địch thù.

Vùng giữa núi Hoả Sơn và Ninh Hoá, rừng núi giàu có, là nơi tập trung của cải. Từ Hà Diệp Bình, Lô Nha Sơn, Tuyết Sơn một dải, thẳng đến Ngoã Sằn Ổ, dài hơn trăm dặm từ nam đến bắc, rộng năm mươi dặm từ đông sang tây, gỗ củi than đủ cung cấp cho cả một vùng; hươu nai, gà lôi, thỏ rừng đủ làm no vài châu. Nay đều mất cả.

Núi Tuyết Sơn có miếu thờ, cả vùng Hà Đông, nơi cúng tế lễ vật, nay cũng thành nơi của quỷ dữ rồi. Người và thần đều giận dữ, đều là tội của Chẩn. Những nơi hiểm yếu xưa nay của Trung Quốc như Ngũ Phiền Lĩnh, Lục Phiền Lĩnh, Thất Phiền Lĩnh, Hoàng Ngôi Sơn, nay đều thành đất địch. Nhìn xuống Hãn Châu, Đại Châu, người ngựa đếm được. Lúc khác dùng vài chục vạn quân tinh nhuệ, cũng chưa dễ lấy lại được, mà kế sách dùng binh, ai còn bàn được nữa?

Từ đó biết tội bán nước của Chẩn, trăm đời không thể xoá. Nếu tổ tiên có linh thiêng, ắt không tha cho Chẩn. Gần đây bệ hạ giáng chức Ngô Cư Hậu, Vương Tử Kinh, Kiển Chu Phụ, đều vì đặt pháp luật hại dân, mà giáng chức người, sửa đổi pháp luật, chưa đầy vài tháng dân đã trở lại nghề nghiệp. Như tội của Chẩn, người khôn cũng không thể yên được, mối hoạ biên giới có điều không thể lường được, mà bệ hạ lại tha cho, thần không khỏi vì nước mà ghét kẻ gian, lo sâu nghĩ xa đến cùng. Kính xin xem xét lại các chương sớ trước sau, giao xuống Tam tỉnh, Lưỡng chế bàn bạc, định tội Chẩn, để cáo với bốn phương. Nếu không đúng như lời thần, xin chịu tội phỉ báng.”

[17] Ngày Kỷ Tỵ, Xu mật viện tâu xin tu định điều lệ vật phẩm tuần giáo của các tướng. Được chấp thuận.

[18] Ngày Canh Ngọ, xuống chiếu cho Tạ Lân, Tri châu Kinh Châu, quyền quản câu Kinh Nguyên lộ Kinh lược sứ ty sự, vì Lưu Tường bệnh nặng.

(Trong Ngự tập ghi Tường đã mất ngày mồng 8, triều đình chưa kịp biết.)

[19] Ngày Tân Mùi, xuống chiếu đổi điện Từ Thọ ở quán Lễ Tuyền thành điện Thọ Huy.

[20] Công bộ Thượng thư Tôn Vĩnh được bổ nhiệm làm Lại bộ Thượng thư, Lại bộ Thị lang Lý Thường được bổ nhiệm làm Hộ bộ Thượng thư. Lý Thường là một văn sĩ, thiếu kinh nghiệm trong việc quản lý quan lại, có người nghi ngờ ông không đủ năng lực đảm nhận chức vụ này, bèn hỏi ý kiến Tư Mã Quang. Quang nói: “Nếu để người này quản lý việc tài chính quốc gia, thì thiên hạ sẽ biết rằng triều đình không vội vàng truy lợi, và nạn tham nhũng của quan lại có thể sẽ giảm bớt.”

(Theo lời kể của Triều Thuyết Chi trong 《Khách thoại》.)

[21] Lý Thường tâu rằng: “Thần thấy triều đình đau xót vì pháp luật chưa hoàn thiện, thương xót dân chúng đang chịu cảnh khốn khổ, nên đã bãi bỏ tất cả các khoản thu vô danh, và trừng phạt những quan lại tham nhũng, hại dân. Nhờ đó, dân chúng được hưởng phúc, thiên hạ vô cùng may mắn. Thần lo rằng các quan lại ở các địa phương không hiểu ý yêu dân của triều đình, cho rằng mọi khoản cung cấp cho triều đình đều có thể bỏ bê. Mạnh Tử nói: ‘Không có chính sự, thì tài chính sẽ thiếu hụt.’ Thuế khóa là việc lớn của quốc gia, nếu không được chấn chỉnh, làm sao có thể hỗ trợ quốc dụng? Thần mong Hoàng thượng ban chiếu chỉ răn dạy các quan lại, đừng để đức khoan dung, thương dân của triều đình đang được thực hiện, mà việc thu thuế lại bị bỏ bê, gây hại cho đại kế.”

Lại tâu: “Thần gần đây kiểm tra thấy các khoản thuế hạ thu và thuế rượu ở các địa phương đều bị thiếu hụt nghiêm trọng. Tiền bạc cung cấp cho triều đình cũng không đạt mức quy định. Nguyên nhân là do các ty chuyển vận và các quan chức ở châu, huyện cố ý làm ngơ, chỉ lo nới lỏng, không biết sợ hãi. Thuế khóa là nguồn sống của quốc gia, nay họ bỏ bê trách nhiệm, phụ lòng triều đình, nếu không trừng phạt, sẽ gây hại lớn. Thần mong Hoàng thượng ban chỉ thị, giao cho các cơ quan tu sửa lại các điều lệ cũ, đến cuối năm, giao cho bộ này kiểm tra thuế khóa và tiền bạc cung cấp cho triều đình ở các địa phương, báo cáo mức độ thiếu hụt, để triều đình trừng phạt những quan lại lười biếng.”

(Lý Thường tấu theo bản tập, không rõ thời gian, vì ông mới nhậm chức, nên ghi chép kèm theo.)

[22] Trung thư Xá nhân Hồ Tông Dũ được bổ nhiệm làm Cấp sự trung.

[23] Khởi cư Xá nhân Tô Thức được miễn thi và bổ nhiệm làm Trung thư Xá nhân, lại được ban thưởng áo tía và vàng.

[24] Tư nông thiếu khanh Liêm Chính Thần, Đô thủy sứ giả Phạm Tử Uyên đổi chức cho nhau, Thừa nghị lang Vương Củng làm Tông chính tự thừa.

(Việc ngày 14 theo 《Chính mục》.)

[25] Chiếu rằng từ nay các chức do triều đình bổ nhiệm không được xung đột với người đã được Lại bộ bổ nhiệm.

(Lã Đào tấu trước, phụ vào cuối tháng 2 nhuận.)

[26] Xu mật viện tâu: “Quyền thông phán châu Thi Châu là Chu Diễn tấu: Châu Lan xin chiêu mộ Phiên lạc Quảng Nhuệ thổ binh một vạn người làm định ngạch, cho phép thổ binh các châu Thiểm Tây đổi ngạch nuôi ngựa một nghìn năm trăm con, cùng cày ruộng một khoảnh. Năm nghìn người làm một tướng, chia làm ba phiên. Hai phiên ở đồn, một phiên ở thành phòng thủ và tập luyện, thay phiên nghỉ mỗi tuần.” Chiếu cho Lưu Xương Tộ và cơ quan phụ trách tài chính Hi Hà Lan Hội lộ xem xét và tâu lên.

[27] Chiếu rằng Thái học mỗi năm lấy kỳ thi công quy về Thái học, để Ty nghiệp và Bác sĩ tự chủ trì, theo phép thi bổ Xuân Thu. Trước đây phong viện như chế độ khoa trường, vì Gián quan Vương Nham Tẩu tâu nên thay đổi.

Nham Tẩu tâu: “Thần thấy Thái học mỗi năm có phép công thí các sinh viên, triều đình tổ chức khóa viện như chế độ khoa trường, muốn dùng để tham khảo tài nghệ của họ trong mười hai kỳ thi trong năm, rồi tiến cử lên làm nội xá. Đã thi hành nhiều năm, nhưng số người được tiến cử rất ít.

Như năm Nguyên Phong thứ sáu, chỉ có ba người được thăng bổ; năm thứ bảy, mười bốn người; năm thứ tám, chỉ có bốn người. Dù được tiến cử làm nội xá, cũng không có tác dụng khuyến khích hay ngăn cản các sinh viên, chỉ là so với ngoại xá thì được thêm tám lượng tiền mà thôi. Người bàn luận cho rằng việc thiết lập công thí không liên quan đến lợi hại gì, nhưng quy mô và chi phí lại lớn như khoa trường. Lấy kỳ công thí mùa xuân năm nay làm ví dụ, tổng cộng dùng bốn mươi hai quan viên, một trăm lẻ bảy lại dịch, và hai trăm ba mươi bảy người phục vụ các việc, phép khóa túc kéo dài một tháng, gây phiền nhiễu và hao tổn không kể xiết, mà đối với quốc gia không có chút lợi ích nào, thần thật lấy làm tiếc cho triều đình.

Thần xin từ nay về sau giao việc công thí về cho Thái học, để Tư nghiệp và Bác sĩ tự chủ trì, như phép bổ thí mùa xuân và mùa thu là đủ, không cần phô trương lớn như vậy. Huống chi công thí và tư thí vốn là việc của trường học, nay đã đặt đủ và nhiều quan chức trường học, tự nhiên phải giao trách nhiệm cho họ làm hết. Đến như người công chức có thể đáng nghi, thì cốt ở chỗ lựa chọn cẩn thận, không nên đặt họ vào vị trí mà lại đối xử với họ bằng tâm nghi ngờ. Thần mong Thánh từ đặc biệt xem xét và thi hành, triều đình cũng đủ để giảm bớt việc và tiết kiệm chi phí.”

(Cựu lục chép: Tiên đế nuôi dưỡng sĩ tử, Thái học khảo tuyển và giảo thí, từ ngoại xá lên nội xá, từ nội xá lên thượng xá, thượng xá thì được miễn giải và bổ làm quan, nên phép thi rất nghiêm. Nay nới lỏng để giao về Thái học, người ta sẽ dễ dàng gian lận.

Tân lục biện rằng: Tư nghiệp và Bác sĩ là quan của Thái học, khảo tuyển và giảo thí là chức trách của họ. Nuôi dưỡng sĩ tử ở Thái học mà để quan trường tự chủ việc thi, đó là ý của phép học thời Nguyên Phong, kết hợp cả đức hạnh và tài nghệ, không phải coi sinh viên Thái học là gian lận. Từ “Tiên đế nuôi dưỡng sĩ tử” đến “người ta sẽ dễ dàng gian lận” bốn mươi lăm chữ đều bỏ đi.)

[28] Chiếu bãi chức Quách Mậu Tuấn ở Hà Đông, Thiểm Tây, không cho đi xem xét và thiết lập các giám sát, vì Ngự sử có lời tâu.

(Lã Đào có chương tấu, xem cuối tháng nhuận.)

[29] Quân khí giám thừa Vương Đắc Quân, được bổ nhiệm thêm làm giám kho ở huyện Vĩnh Thành, châu Bạc. Trước đó, Đắc Quân dâng sớ nói:

“Thần trộm thấy Tiên đế trị vì hai mươi năm, lo lắng vạn việc, sớm khuya không mệt mỏi, thay đổi chính sách, tu sửa trăm việc, mong đặt thiên hạ vào chỗ yên ổn, đưa dân chúng đến cõi nhân thọ. Vì vậy, tấm lòng của Tiên đế chắc chắn không phụ lòng thiên hạ.

Tuy nhiên, trong số quan lại phụng hành pháp luật, có người không thể truyền đạt thánh ân, trái với chỉ ý, nên khi thi hành, không tránh khỏi những kẽ hở. Kể từ khi Bệ hạ lên ngôi, đã xem xét cổ đạo, tham khảo thời thế, dùng người hiền tài, tham vấn tìm tòi, những gì thiên hạ cho là có lợi thì thi hành, những gì nhân tình cho là tệ hại thì bãi bỏ, tăng giảm chỉnh đốn, không phải chỉ để lập dị mà thắng thế, mà cốt để kế thừa chí hướng của Tiên đế, làm rạng rỡ tiền nhân mà thôi.

Gần đây, các quan dâng sớ lại không thấu hiểu thánh ý, cho rằng pháp luật của Tiên đế đều là sai trái, chỉ trích từng chút, không chừa chỗ nào. Thần gần đây thấy có người dâng sớ xin chôn cất hài cốt ở bốn cửa thành kinh đô, nói rằng phần lớn là những người chết khi xây thành, đào hào, và cho rằng Bệ hạ đang thi hành nhân chính, bãi bỏ pháp luật hà khắc. Thần đọc tờ sớ này, không khỏi cảm thấy phẫn nộ.

Thần trộm nghĩ, ý định đổi mới pháp luật của Tiên đế, tuy là phù hợp với thời thế, nhưng vẫn có chỗ chưa hoàn thiện. Bệ hạ ngày nay chính là đang sửa đổi và bãi bỏ những điều đó, không chỉ để hoàn thiện công lao của Tiên đế, mà cũng là điều Tiên đế mong đợi ở Bệ hạ. Nay những người dâng sớ không suy xét kỹ càng, lại chỉ trích Tiên đế bằng danh hiệu hà khắc, tự mưu cầu tiếng khen thẳng thắn. Đất mộ chưa khô, đã dám bôi nhọ. Lời lẽ truyền đi khắp nơi, khiến nhân tình đau xót; nếu chép vào sử sách, thì sẽ ra sao? Thần nghĩ Bệ hạ đang nhớ thương Tiên đế, lòng hiếu thảo vô cùng, khi xem tờ sớ này, ắt sẽ không nỡ.

Xin Bệ hạ hạ lệnh, các quan dâng sớ bàn việc cải cách pháp luật, chỉ được trình bày rõ sự việc, không được tùy tiện chỉ trích, trên đủ để mở rộng đạo hiếu trị, dưới đủ để ngăn chặn thói phù phiếm, thiên hạ sẽ rất may mắn. Thần là kẻ xa xôi hèn mọn, dám mạo phạm thiên uy, chỉ vì lòng đau xót phẫn nộ, không thể kìm nén được.”

Trong triều ban chiếu rằng: “Trẫm đang mở rộng đường ngôn luận, Đắc Quân dâng sớ, nói rằng những người dâng sớ tự mưu cầu tiếng khen thẳng thắn, ý muốn ngăn chặn lời nói của người khác, hành vi vô lễ như vậy, có thể cách chức và bổ nhiệm làm giám đương ở ngoài.”

(Cựu lục chép: Đắc Quân dám nói, mọi người đều than thở. Gian thần ghét bỏ và cách chức ông, khiến nhân tình kinh hãi. Tân lục đã bỏ đoạn này. Hùng Khắc trong 《Cửu triều thông lược》 chép: Đắc Quân là con của Quảng Uyên.)

[30] Tể thần Tư Mã Quang tâu: “Nay bàn luận kinh sử, từ thời Phục Hy đến năm thứ 22 đời Chu Uy Liệt Vương, tóm tắt đại yếu, hợp thành 20 quyển, đặt tên là 《Kê Cổ Lục》. Kính mong xem xét kỹ, giao cho Chính tự Phạm Tổ Vũ ở Bí thư tỉnh cùng các người khác, sai chép lại dâng lên. Sau khi đọc xong 《Bảo Huấn》 của tổ tông, xin lấy sách này để tiến đọc.” Vua nghe theo.

Lại tâu: “Hiệu thư lang Hoàng Đình Kiên ham học, có văn tài, hiện tại ở bản tỉnh không có việc gì khác, mong đặc cách sai cùng Phạm Tổ Vũ và con trai là Khang hiệu định 《Tư Trị Thông Giám》.” Vua nghe theo.

[31] Người ẩn dật Trình Di tâu: “Mong ơn được nhận chức Tuyên Đức lang, Hiệu thư lang. Trước đây được ơn nhận chức Giáo thụ Quốc tử giám Tây Kinh, vừa từ chối, theo chỉ triều đình, cho cưỡi ngựa trạm đến kinh, vâng mệnh đến đây, chưa được vào yết kiến, bỗng có chức này. Kính mong thánh từ cho thần vào yết kiến, còn tờ cáo mệnh, thần không dám nhận.” Chiếu cho Trình Di đặc cách được vào triều kiến, lại cho lên điện.

(Ngày 24 Tân Mùi, được bổ chức Sùng Chính thuyết thư. Ngày Đinh Tỵ tháng 11 năm thứ 8, nhận chức Thôi quan, Giáo thụ. Ngày 18 Bính Ngọ tháng 2 nhuận năm thứ nhất, nhận chức Thừa Phụng lang, lại nhận chức Tuyên Đức, Hiệu thư, không ghi ngày tháng. Chính mục ghi ngày 18 tháng 2 nhuận rằng Thôi quan Đoàn châu Trình Di nhận chức Tuyên Đức, Hiệu thư, khác với Ngự tập.)

[32] Chiếu cho Ty Chuyển vận Thiểm Tây lộ đặc cách mượn tiền Thường bình tồn lưu để mua lương thảo[12].

[33] Nhập nội đông đầu cung phụng quan, câu đương ngự dược viện Lương Tòng Chính, Ngô Tĩnh Phương xin từ chức ở ngự dược viện, xin được làm quan coi sóc cung quán. Lúc đó, Lương Tòng Chính đang giữ chức Hoàng thành sứ, Dao quận phòng ngự sứ; Ngô Tĩnh Phương giữ chức Tả tàng khố sứ, Dao quận đoàn luyện sứ. Chiếu chỉ cho mỗi người được thăng một bậc so với chức hiện tại rồi chuyển đi nơi khác, trong đó Lương Tòng Chính được chuyển chức cho con trai có quan chức[13], được bổ làm Đề điểm Lễ Tuyền quán; Ngô Tĩnh Phương được đổi chức và bổ làm Đề điểm Vạn Thọ quán.

[34] Chiếu chỉ rằng những người dân bảo giáp ở Hà Bắc tự nguyện gia nhập quân đội, và những người có tài nghệ sử dụng vũ khí đạt tiêu chuẩn của tứ quân trở lên, đặc cách cho chiêu mộ, ngoài việc được cấp vật phẩm theo quy định, còn được thêm 5.000 tiền, trung quân trở xuống được 3.000 tiền. Những người có tài nghệ kém hơn một bậc, nhưng bắn được cung nỏ loại nhất của bảo giáp, cũng được phép chiêu mộ, và được chi trả từ tiền trong kho thường bình của địa phương. Những người không muốn nhập ngũ, nhưng ông bà, cha mẹ muốn cho họ nhập ngũ, thì giao cho các quan chức địa phương lo việc chiêu mộ và báo lên chuyển vận ty. Đây là theo đề nghị của Hữu ty gián Tô Triệt.

(Đề nghị của Tô Triệt vào ngày 14 tháng 2 nhuận.)

[35] Quản câu khán tường tố lí sở tâu rằng: “Việc xem xét đơn từ tố cáo nếu không định rõ thời hạn, e rằng không thể kết thúc được. Xin quy định rằng từ tháng giêng năm Hi Ninh thứ nhất trở đi,[14] đến trước ngày 6 tháng 3 năm Nguyên Phong thứ 8, các quan viên và người thuộc các hạng bị tội, nếu hợp lệ được tố cáo, thì kể từ ngày ban chỉ thị này, cho hạn trong nửa năm để nộp đơn. Trước hết do các cơ quan xét xử theo pháp luật, nếu có những trường hợp không được xóa án hoặc sự việc chưa rõ ràng, thì giao cho sở này xem xét.” Được chấp thuận.

(Việc bắt đầu xem xét tố cáo vào ngày mồng 4 tháng nhuận. 《Cựu lục》 chép: Tiên đế thưởng phạt rõ ràng, suốt 19 năm. Đất lăng chưa khô, Lưu Chí dâng lời xin cho những người bị tội được tố cáo, lập cơ quan, đặt thuộc lại, vì thế mọi người đều kêu oan. Vừa nêu ra việc Tiên đế xử án sai, muốn tỏ lòng khoan dung, lại thu dụng những kẻ bị tội bất trung, đều dùng cho mình, lại lấy ngày Tiên đế băng hà làm hạn chót. Những người trung nghĩa càng thêm phẫn nộ.

《Tân lục》 biện rằng: Cho rằng việc thưởng phạt rõ ràng của Tiên đế là vĩnh viễn không thể thay đổi. Lại nói những kẻ bị tội đều là bề tôi bất trung, vĩnh viễn không thể dùng, đó không phải là ý của Tiên đế. Việc nói đến trước ngày 6 tháng 3 năm Nguyên Phong thứ 8, là dùng ngày đại xá khi Triết Tông lên ngôi, cho phép tố cáo, nhưng lại nhân đó mà nghi ngờ, cho rằng đó là ngày Tiên đế băng hà, không phải là ý chỉ của chiếu thư. Bỏ đi từ “Tiên đế thưởng phạt” đến “phẫn nộ” 78 chữ. Ngày 6 tháng 8 lại gia hạn thêm.)

[36] Điện trung thị ngự sử Lã Đào tâu rằng: “Thần thấy mệnh lệnh về An Đào không được đưa cho Cấp sự trung đọc, việc này trái với pháp luật, rất bất tiện. Thần cùng Lưu Chí đã từng tấu trình, lòng thành khẩn thiết, mong được bệ hạ xem xét. Nay thần vì bệ hạ suy nghĩ kỹ lại việc này, thực sự liên quan đến quốc thể, có bốn điều không thể chấp nhận, nên phải tâu trình lại, xin bệ hạ lắng nghe.

Chức vụ Cấp sự trung chủ trì việc đọc chế sắc, được phép bác bỏ và tâu lại. Bệ hạ không cho họ đọc, tức là bỏ qua chức trách của họ. Triều đình đặt ra chức quan, giao việc cho người, lại tự bỏ qua chức trách, không thể làm gương cho thiên hạ, lưu danh muôn đời. Nay Môn hạ tỉnh ghi chép trong sổ vàng, không viết tên thần là Cấp sự trung, mà viết rằng ‘phụng thánh chỉ không đưa cho Cấp sự trung đọc’, Thượng thư tỉnh liền nhận và giao cho Lại bộ, việc ban bố cũng ghi như vậy. Thần không biết việc này hợp với phép tắc nào? Tạo thành mệnh lệnh gì? Đây là điều không thể chấp nhận thứ nhất.

Tâm tính tiểu nhân, xảo trá nguy hiểm, thường dò xét sơ hở của triều đình để thỏa mãn ý đồ. Dù có phòng ngừa nghiêm ngặt, nhưng vẫn có kẻ lợi dụng phá rối pháp luật để mưu cầu may mắn. Nếu bệ hạ cho rằng việc này đã làm, khó thay đổi, không quan tâm đến ý kiến của người khác mà cứ thế thi hành, ngày sau nếu có quyền thần hay kẻ xin xỏ việc phi phận, vin vào lệ này, xin không đưa cho Môn hạ tỉnh thi hành. Thần e rằng bệ hạ sẽ không có cách nào từ chối. Vì đã mở đường trước, thì khó ngăn chặn sau, đây là điều không thể chấp nhận thứ hai.

Các đại thần trong ba tỉnh đều cùng với quốc gia duy trì kỷ cương, cùng vui buồn. Nay triều đình ban lệnh không hợp pháp, mà Môn hạ thị lang không bác bỏ, Thượng thư bộc, thừa cũng không tấu trình, chỉ im lặng thi hành, giao cho hữu ty. Nếu chẳng may có việc lớn xảy ra, xử lý không kịp thời, thì ai sẽ giúp bệ hạ sửa chữa sai lầm? Đây là điều không thể chấp nhận thứ ba.

Từ khi bệ hạ lên ngôi, mở rộng đường ngôn luận, lời tấu của đài gián đều được nghe theo, dù chỉ một phần vạn cũng có ích cho việc trị nước. Nay vì việc của An Đào, riêng không chấp thuận, thần e rằng các quan ngôn sự sẽ sợ uy trời, từ nay không dám thẳng thắn bàn luận được mất, trí tuệ của bệ hạ cũng có thể bị che lấp. Đây là điều không thể chấp nhận thứ tư.

Một việc mà có bốn điều không thể chấp nhận, đối với bệ hạ xử lý rất khó, nhưng thần nghĩ lại rất dễ. Tại sao? Sửa lỗi không ngại, là đức lớn của bậc minh vương; xấu hổ vì lỗi mà làm sai, là lời răn sâu xa của người xưa. Cho nên nói: ‘Người ai không có lỗi, biết sửa lỗi thì tốt nhất.’ Lại nói: ‘Lỗi của quân tử như nhật thực, nguyệt thực. Có lỗi, mọi người đều thấy; sửa lỗi, mọi người đều ngưỡng mộ.’ Huống chi việc triều chính bề bộn, bệ hạ tự quyết đoán, không thể tránh khỏi sai sót, biết sai mà sửa, tức là đúng. Việc này không ảnh hưởng đến thánh chính.

Nay đài gián tấu trình chưa dứt, sĩ đại phu bàn tán xôn xao, hai người kia chắc chắn không dám nhận mệnh. Nếu bệ hạ sai Cáp môn thu lại cáo thân của An Đào, Phạm Thuần Nhân, tiếp tục ban chỉ dụ, nói rõ ý từ chối của họ, bổ nhiệm hai người làm Đồng tri viện sự, do Môn hạ tỉnh thi hành, thì đài gián sẽ không tấu trình nữa, sĩ đại phu cũng yên lặng, hai người kia không dám không nhận. Trên bảo toàn quốc thể, dưới thỏa lòng công luận, đây chính là việc rất dễ mà không khó xử. Huống chi việc thay đổi mệnh lệnh chỉ là chuyện nhỏ, mà bỏ qua pháp luật là sai lầm lớn, mong bệ hạ cân nhắc nặng nhẹ mà hành động, thần vô cùng khẩn thiết xin chịu tội!”

Hữu Gián nghị đại phu Tôn Giác cùng các quan tâu rằng: “Thần trộm thấy triều đình sai An Đào làm Tri Xu mật viện, Cấp sự trung cho là không hợp lệ, đã bác bỏ và trả lại. Bệ hạ chưa tin lời ấy, bèn không giao cho bản quan đọc và thi hành, thần thật lấy làm tiếc cho triều đình. Tài năng của An Đào có hay không, việc bổ nhiệm có hợp lý hay không, đã có công luận của thiên hạ, thần xin tạm gác lại không bàn, điều đáng tiếc là phép tắc của triều đình vậy.

Hơn nữa, việc thiết lập ba tỉnh, công việc liên quan chặt chẽ, thế lực gắn bó từ đầu đến cuối. Phàm mệnh lệnh ban ra, trước hết từ Trung thư tỉnh, một người tuyên đọc, một người phụng mệnh, một người thi hành. Tiếp đến là Môn hạ tỉnh, một người đọc, một người xem xét, một người thẩm định. Nếu có điều gì không hợp lệ, thì cho phép bác bỏ, sau đó mới giao cho Thượng thư tỉnh tiếp nhận và thi hành. Kỷ cương và quy trình chặt chẽ như vậy, là để ban bố mệnh lệnh và tôn trọng quốc thể. Nếu thiếu một bước, thì chế sắc không được hoàn chỉnh, trong ngoài khó lòng tin tưởng.

Gần đây, bổ nhiệm Lữ Công Trước làm Môn hạ thị lang, không qua bản tỉnh mà ban xuống, Cấp sự trung Phạm Thuần Nhân đã kịch liệt phản đối việc này là đúng. Quốc gia duy trì bốn biển và truyền lại muôn đời, chỉ nhờ vào việc tuân thủ pháp độ mà thôi. Huống chi trong thời gian bệ hạ đang để tang, nghe chính sự sau rèm, càng nên cẩn thận giữ gìn pháp độ, không thể sai sót dù chỉ một chút. Nay mệnh lệnh bổ nhiệm An Đào không giao cho Cấp sự trung đọc và thi hành, khiến chức năng phản bác trở nên hư danh. Chế sắc không hoàn chỉnh, mệnh lệnh không được coi trọng, pháp độ cũng không còn. Việc phong quan chức tà vạy, e rằng sẽ dần nảy sinh từ đây. Thần thật lấy làm tiếc cho triều đình.

Thần đoán ý của bệ hạ, hẳn cho rằng mệnh lệnh đã ban ra khó lòng thu hồi sửa đổi, lại sợ mất trật tự thăng tiến, như vậy là một việc mà hai điều sai. An Đào há có thể nhận chế sắc không hoàn chỉnh, mà đứng ở vị trí được mọi người ngưỡng vọng sao? Chi bằng nhân việc ông ta từ chối, hãy bãi bỏ mệnh lệnh mới, như vậy quan hệ Vua tôi, việc trao nhận đều hợp lý, mà pháp độ cũng không bị hủy bỏ. Hơn nữa, việc triều đình bổ nhiệm, do bề tôi từ chối, hoặc Đài gián tấu trình mà bãi bỏ hoặc thay đổi cũng nhiều. Há lại riêng An Đào không thể thay đổi?

Kính mong bệ hạ thu hồi mệnh lệnh bổ nhiệm An Đào, và xem xét kỹ lời tâu của thần về An Đào, ban chỉ riêng để thi hành. Bệ hạ thăng tiến đại thần nếu hợp với công đạo, sao lại không để Cấp sự trung đọc theo quy định? Lời tâu của thần liên quan đến quốc thể. Nếu bệ hạ không sửa đổi, thần sẽ phải tâu trình nhiều lần, không dám tự ý dừng lại.”

(Cuối tháng này, Tôn Giác tâu rằng, ngày 14 cùng Vương Địch lên điện, có lẽ chương tâu này là cùng với Địch. Nay trong tập của Lã Đào cũng có chương tâu này.)

Môn hạ thị lang Lữ Công Trước tâu: “Việc bổ nhiệm An Đào và Phạm Thuần Nhân tuy đã theo chỉ dụ trong cung ban xuống, nhưng trong ngoài đều xôn xao, cho rằng Môn hạ tỉnh đã thất chức. Nếu người bàn tấu không ngừng, e rằng sẽ khó xử lý. Nghe nói An Đào đang cố từ chối không dám nhận[15], hoặc nhân lời thỉnh cầu của ông ấy, đặc biệt ban cho sự chấp thuận, thì mệnh lệnh triều đình sẽ không bị sai lệch, việc đối đãi với An Đào cũng sẽ được đúng mực.” Sau đó có chỉ dụ trong cung hỏi Lữ Công Trước rằng không đặt chức Tri viện, mà hai viện cùng làm Đồng tri viện, có tiền lệ nào không? Lữ Công Trước đã dẫn chứng tiền lệ để trả lời, và nói rằng gần đây có trường hợp Đồng tri viện có vị trí cao hơn Tả Hữu thừa.

Lúc đó, An Đào cũng tự tâu: “Gần đây được bổ nhiệm làm Tri Xu mật viện sự, tài năng kém cỏi mà vượt cấp, không hợp với dư luận sĩ phu, khiến cho Cấp sự trung nhiều lần phản đối. Về phần thần, không chỉ không dám nhận mệnh mới, mà ngay cả chức vụ cũ cũng khó an vị, mong thu hồi mệnh lệnh, cho thần được nhận chức ở châu gần.”

Trước đó, Phạm Thuần Nhân lại dâng tấu xin từ chối ân mệnh, bèn tấu rằng: “Thần gần đây vì từ chối ân mệnh, được Thánh từ nhiều lần sai trung sứ đem trát tử trả lại, tuyên dụ ân cần. Kẻ ngu hèn như thần, nhiều lần làm phiền Thiên thính, lại được sai sứ, ân điển quá ưu đãi, vốn nên gắng gượng sức tàn, để đáp ứng nhiệm vụ. Nhưng thần có lời khẩn thiết, cần phải trình bày hết.

Thần nghe rằng mệnh lệnh ban cho thần lần này chưa từng qua Môn hạ tỉnh xét duyệt. Thần nghe rằng phong tước trong triều là việc chung của mọi người, để tỏ rõ sự công bằng, ngăn chặn tư tình. Đó là trách nhiệm của các cơ quan, là quy chế của triều đình, là quy tắc bất di bất dịch từ xưa đến nay, và là đạo lý của bậc thánh vương.

Nay nghe rằng các quan đài gián đều có tấu chương bàn luận, nhưng chưa được Bệ hạ nghe theo. Bệ hạ hẳn cho rằng việc bổ nhiệm phụ thần đã có mệnh lệnh, không nên vì lời người khác mà dễ dàng thay đổi, để tỏ rõ quyết đoán, muốn giữ trọn ân lễ. Thần nghĩ rằng không phải vậy.

Hiện nay việc bổ nhiệm quan lại, ban bố hiệu lệnh, phần nhiều do các công khanh dâng mật tấu, hoặc không phải là điều Bệ hạ từng biết. Nếu không qua các cơ quan, ắt khó mà xét duyệt đúng đắn. Nay các quan đài gián nếu đều có tấu chương, tức là lời nói công khai của triều đình và dân chúng. Lời nói đúng, thì mọi người đều cho là trung hiền; lời nói không đúng, thì mọi người đều cho là bè đảng xấu. Mỗi người đều liên quan đến danh tiết của mình, há có thể dễ dàng tấu luận, không giống như lời nói riêng tư của một người, có thể làm mê hoặc Thánh thính.

Bệ hạ nên bình tĩnh nghe theo, không cần nghi ngờ. Họ đều là những người Bệ hạ chọn dùng vì sự ngay thẳng, để làm quan tai mắt, há có thể không dùng tai mắt mà có thể nghe nhìn thiên hạ được sao? Huống chi từ khi Bệ hạ lên ngôi, nghe điều thiện ắt thu nhận, nghe lời can gián như nước chảy, nay lại đặc cách không cho mệnh lệnh của thần qua Môn hạ, người nói ắt không chịu dừng, kẻ hèn thần ắt không dám nhận. Lâu ngày uất ức lòng người, e rằng sẽ mất lòng tin của mọi người, chi bằng nhân thần từ chối, đặc cách chuẩn y.

Như vậy trên có thể giúp Bệ hạ tỏ rõ sự sáng suốt trong việc nghe lời can gián, dưới có thể giúp thần hèn được yên phận, mà khiến các quan gần được đúng chức, đường ngôn luận được thông suốt. Mở rộng phong khí của Vua Nghiêu bỏ mình theo người, hợp với nghĩa Vua Thang nghe lời can gián không trái, một việc mà nhiều điều tốt đều đạt được, đối với bậc thánh minh há chẳng nên làm sao? So với việc kẻ hèn thần được hưởng ân lầm, ngăn trở công luận, lợi hại cách xa nhau vậy.

Kính mong Bệ hạ xét thần hết lòng vì nước, không vì mình, đặc cách lưu tâm nghe theo, thiên hạ may mắn biết bao!”


  1. 'Khen thưởng' nguyên bản là 'đương', căn cứ theo 《Tống sử toàn văn》 quyển 13 sửa lại.
  2. 'Không được lòng công luận' nguyên bản có thêm chữ 'bất', căn cứ theo sách trên mà bỏ đi.
  3. Theo án cũ của châu Vinh thêm vào, chữ 'Vinh' nguyên là chữ 'Doanh', theo bản trong các kho sửa lại
  4. 'hao phí sức lực để mong đạt được tiêu chuẩn' chữ 'phí' nguyên bản thiếu, căn cứ vào 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 quyển 52, tờ 'Khởi thỉnh khoa trường tráp tử' bổ sung.
  5. 'chuyên dùng luật phú và cách thơ để quyết định đỗ trượt' chữ 'lạc' nguyên bản là 'đương', căn cứ vào các bản khác và 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 sửa lại.
  6. Mỗi lộ sao chép tên người được tiến cử, sách trên chữ 'mỗ' có thêm chữ 'phân'.
  7. vừa có hành nghĩa lại có thể minh đạo 'lại có thể minh đạo' Bốn chữ nguyên thiếu, căn cứ sách trên bổ sung.
  8. do Cấp sự trung phong hoàn, 'Cấp sự trung' nguyên bản là 'Cấp sự', theo 《Tống sử》 quyển 161, Chức quan chí 1, Môn hạ tỉnh có Cấp sự trung 4 người, chưởng việc phong bác những chính lệnh không thích đáng, nay căn cứ vào bản trong các khố bổ sung chữ 'trung'.
  9. Thần cho rằng tội của bề tôi, chữ 'dĩ' trên nguyên bản thừa chữ 'sở', theo bản trong các khố bỏ.
  10. 'Thỏa lòng quần thần', các bản khác chép là 'thỏa lòng quần ngôn', 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 97 chép là 'thỏa lòng sư ngôn'.
  11. Hộ khách ba bốn lần số đó, chữ 'Khách' nguyên bản là 'Các', theo bản khác sửa lại.
  12. Mua lương thảo, chữ 'mua' nguyên là 'bán', theo các bản sửa
  13. Lương Tòng Chính chuyển chức cho con trai có quan chức, chữ 'dữ' nguyên bản là 'Binh', theo bản khác sửa lại
  14. Tháng giêng năm Hi Ninh thứ nhất, chữ 'Nguyên' nguyên bản viết là 'Cửu', xét năm Hi Ninh thứ nhất là năm Thần Tông lên ngôi đổi niên hiệu, viết 'năm thứ chín' là vô nghĩa, theo 《Tống hội yếu》 sách Hình pháp, quyển 3, tờ 20 mà sửa.
  15. An Đào đang cố từ chối không dám nhận, chữ 'nhận' nguyên bản thiếu, căn cứ theo các bản khác và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 97 bổ sung.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.