"

VII. TỐNG TRIẾT TÔNG

[BETA] QUYỂN 374: NĂM NGUYÊN HỰU THỨ NHẤT (BÍNH DẦN, 1086)

Bắt đầu từ ngày Kỷ Mão tháng 3 năm Nguyên Hựu thứ nhất đời Vua Triết Tông đến hết tháng đó.

[1] Mùa hạ, tháng 4, ngày Kỷ Sửu, Chính nghị đại phu, Thủ Thượng thư Hữu bộc xạ, kiêm Trung thư thị lang Hàn Chẩn được phong làm Quang lộc đại phu, Quan văn điện Đại học sĩ, nhậm chức Tri phủ Dĩnh Xương. Các quan Đài gián trước sau đã dâng tấu luận tội Hàn Chẩn rất nhiều, nhưng đều bị giữ lại trong cung không đưa ra.

Nội cung phê: “Hàn Chẩn tự cho mình là bất tài, sợ cản trở đường tiến của người hiền, nên xin ra ngoài. So với những kẻ khoe công cầu danh rồi bỏ đi, ông ấy đã giữ được thể thống tiến thoái, nên có sự thăng chức khác biệt, nên trong chiếu chỉ cần nói rõ ý này.” Chiếu chỉ đại lược viết: “Lòng thành nhiều lần dâng sớ, tự xét sợ cản trở đường tiến của người hiền, khác hẳn với những kẻ khoe công cầu danh rồi bỏ đi, càng giữ được thể thống khó tiến dễ lui.”

“Khoe công cầu danh” là chỉ Thái Xác và Chương Đôn.

(Việc “khoe công cầu danh” chỉ Thái Xác và Chương Đôn, theo ghi chép của Thiệu Bá Ôn trong 《Biện Vu》).

[2] Mệnh cho Nội thị Áp ban Lương Tòng Cát mang chiếu thư ban cho Thái sư đã về hưu Văn Ngạn Bác, nói: “Khanh từng trải qua hai phủ, phò tá ba triều, danh tiếng vang khắp bốn phương, công lao lưu lại thiên hạ. Trẫm nhớ tưởng đến bậc nguyên lão, mong được gặp gỡ dung nghi. Khanh nên mau chóng hồi phục sức khỏe, để đáp ứng lòng mong đợi của Trẫm. Khi chiếu thư đến, khanh có thể dùng kiệu đến kinh đô, cùng con trai là Di Khánh đi theo hầu cận. Lệnh cho Hà Nam lo liệu hành lý.”

Trước đó, Tư Mã Quang được bổ nhiệm làm Tả bộc xạ, nhưng ông kiên quyết từ chối vì bệnh tật, xin triệu dụng Văn Ngạn Bác làm Thị trung, kiêm nhiệm Tả bộc xạ, còn mình sẽ phụ tá. Triều đình không nghe theo. Khi sắp cách chức Hàn Chẩn, Thái hoàng thái hậu đưa tờ chiếu cho Quang, nói: “Trước đây khanh từng tâu xin cho Văn Ngạn Bác làm tướng, nay Hàn Chẩn xin từ chức, Trẫm muốn theo lời khanh trước, phong Ngạn Bác làm Thái sư, kiêm Thị trung, kiêm nhiệm Hữu bộc xạ, cùng khanh hợp sức phò tá triều chính. Những ân lễ cần thiết, khanh hãy suy xét rồi tâu lên, viết tay và niêm phong dâng lên.”

Lúc đó là ngày Canh Thìn tháng 3 (23 tháng 3). Quang tâu: “Ngạn Bác có công lao, đức độ, tước vị và tuổi tác đều vượt xa thần. Nay chiếu chỉ đã bổ nhiệm thần làm Tả bộc xạ, nếu để Ngạn Bác kiêm nhiệm Tả bộc xạ, còn thần giữ chức Hữu bộc xạ, thì mọi việc sẽ hợp lẽ. Xin sai một nội thần đến Tây Kinh triệu Ngạn Bác về kinh. Còn những ân lễ cần thiết, thần lâu nay ở ngoài, không rõ hết, xin đợi khi chiếu chỉ ban xuống, giao cho các cơ quan tra cứu điển lệ rồi tâu lên.”

Hôm sau, Thái hoàng thái hậu lại phê chiếu cho Quang: “Khanh lo nghĩ việc nước, không vì bản thân, Trẫm đã rõ. Nay nếu để Ngạn Bác đứng trên khanh, thì không hợp với ý Trẫm đối đãi khanh, khanh hãy suy nghĩ lại.” Quang lại tâu: “Thần nghĩ Ngạn Bác phò tá bốn triều, công lao đức độ rõ ràng, làm quan đến chức Thái sư, năm nay 81 tuổi. Khi thần còn làm quan ở kinh đô, Ngạn Bác đã là tể tướng, so với Ngạn Bác, thần chỉ là kẻ hậu bối. Nay nếu để Ngạn Bác đứng dưới thần, thì không hợp với đạo lý tôn trọng công lao, đức độ, tước vị và tuổi tác. Bốn điều đó thần đều không bằng Ngạn Bác, mà lại đứng trên ông ấy, thì không phải là đạo lý chính đáng. Lời tâu của thần hôm qua là vì quốc thể, không phải vì thần muốn giữ tiết tháo nhỏ nhặt hay mưu cầu hư danh, mong bệ hạ xét cho.” Thái hoàng thái hậu vẫn không nghe. Khi Hàn Chẩn bị cách chức, liền sai trung sứ triệu Ngạn Bác, theo lời tâu của Quang.

(Tháng 2 nhuận, ngày Canh Dần, Quang được bổ nhiệm làm Tả bộc xạ; cuối tháng 4, lại ban chiếu cho Quang, có thể tra cứu. Việc triệu Văn Ngạn Bác là việc lớn, nhưng sử sách không ghi rõ nguyên do, thật là sơ lược, nay đặc biệt ghi lại.)

Ngự sử trung thừa Lưu Chí tâu rằng: “Thần thấy bệ hạ hạ chiếu sai sứ, triệu Thái sư Văn Ngạn Bác về kinh. Duy Ngạn Bác với công lao danh vọng lớn, phò tá bốn triều, có thể gọi là bậc nguyên thần của xã tắc, đúng là bệ hạ nên nghĩ đến mà lấy lễ đối đãi, thật là việc lớn. Thần xét từ xưa đến nay, không ai không quý trọng đức hạnh và kính trọng người cao tuổi. Nhưng đối với bậc đại thần lão thành, gặp gỡ phải có lễ, xử sự phải có đạo. Vì vậy, hoặc tôn làm thầy, hoặc nuôi dưỡng làm tam lão, ngũ canh, hoặc cho vào triều vào ngày sóc vọng, hoặc thỉnh thoảng đến triều bàn việc trọng đại, hoặc có việc lớn thì đến hỏi ý kiến. Xem xét sử sách trước đây, việc này đều có ghi chép.

Nay Ngạn Bác về kinh, trong mưu lược của bệ hạ ắt có cách xử trí, chỉ là để gặp mặt thôi sao? Hay sẽ có hỏi han gì? Sẽ giữ lại triều đình để phụ tá sao? Hay sẽ giao việc chính sự? Nay bên ngoài bàn tán thấy chức tể tướng bỏ trống lâu chưa bổ nhiệm, đều cho rằng bệ hạ sẽ lấy chức trưởng quan tam tỉnh giao cho Ngạn Bác, dù thần ngu muội cũng không tránh khỏi nghĩ như vậy. Nhưng thần nghĩ nếu đúng như lời bàn, giao việc chính sự tam tỉnh, vì có chức thì có việc, có việc thì có trách nhiệm, bốn biển rộng lớn, vạn vật phức tạp, việc lớn nhỏ không gì không quản; ngày đêm xử lý, triều hội lên xuống, e rằng không phù hợp với sức lực và trí tuệ của bậc lão thần hơn tám mươi tuổi. Có việc thì không thể không có sai sót, để ông gánh trách nhiệm thì tổn thương ân nghĩa, bỏ qua không hỏi thì phế bỏ pháp luật, lại không phải là cách nuôi dưỡng nguyên huân và kính trọng bậc lão thành.

Ngạn Bác tuy già, nhưng trung hậu rộng lượng, đủ để an ủi lòng sĩ đại phu, khí phách đủ để đàn áp kẻ cường bạo, uy vọng đủ để trấn phục man di, thật nên để ông nhàn nhã bên cạnh, làm trọng thần của triều đình. Người xưa lấy bậc lão thành làm gương mẫu, chính là vì thế. Thần mong bệ hạ triệu Ngạn Bác với chức cũ, vào triều ngày sóc vọng, gặp việc quân quốc trọng đại thì đặc biệt triệu đến, hỏi ý kiến, không cần giao việc chính sự. Lấy địa vị tam sư tôn quý, chỉ nhận lời hỏi của thiên tử, hiến kế quyết việc lớn, mà không phải lao lực, đó là cách bệ hạ kính trọng bậc cựu thần đến mức cao nhất. Không dính vào quyền lực, để củng cố đạo quân, không mệt mỏi vì chức vụ, để dưỡng già, mà không vướng bận việc ra vào, đó cũng là cách thần tử có thể an nhiên xử sự[1]. Ân nghĩa hài hòa, không gì hơn thế. Thần mong bệ hạ quyết định, để thiên hạ không có lời dị nghị.”

[3] Chiếu rằng: “Các lộ bị thiên tai, việc cứu tế và việc công về trộm cướp, giao cho Ty chuyển vận kiêm quản; tiền thưởng bắt trộm cướp, cho phép chi từ tiền lãi thanh miêu, đợi khi xong việc pháp dịch, tâu lên để nhận chỉ huy.”

Ngự sử trung thừa Lưu Chí tâu: “Ty chuyển vận Hà Bắc trước đây dám bàn việc sông, muốn làm việc đào lại sông cũ Nghênh Dương để cướp thế sông mới Đại Ngô, xin cho một mặt lo liệu; nói rằng như thế thì hạ lưu sông mới mấy chục châu huyện đều khỏi nạn lụt. Đến khi nghe triều đình sai sứ đi xem xét, bèn đổi ngay thành thuyết Tôn Thôn, muốn thi công ngay, xong xuôi vào mùa xuân năm nay. Sau đó sứ giả đến bộ, tình hình rõ ràng, lý lẽ đúng đắn, bấy giờ Lý Nam Công, Phạm Tử Kỳ liền cho rằng những điều bàn trước đây đều sai. Đại lược nói: ‘Đê bờ sông cũ đã phá hết, bờ đập Linh Bình chiếm sâu vào lòng sông, trên dưới chặn lại, ắt thành mối lo lớn.’ Lại nói: ‘Nghênh Dương nhìn xuống kinh sư, thế nước Tôn Thôn không thuận, việc đổi dòng hai chỗ thật không tiện.’ Xét tờ tâu của Nam Công ngày 18 tháng giêng nói ‘Nay thân hành xem xét’, thì ra trước đó khi tâu xin chưa từng đến tận nơi, mà đã dám đem việc lợi hại phi thường, công phu hao tốn không kể xiết tâu lên, muốn may ra thành công. Giả sử triều đình cho lời giám ty là đáng tin mà nghe theo, há chẳng lầm việc lớn sao! Nam Công giữ chức vụ, việc sông ngòi vốn thuộc bộ mình, lẽ ra phải xem xét kỹ càng rồi mới nói, thế mà lại quen thói lừa dối, mưu đồ công lợi. Đến khi thấy triều đình chọn sai cận thần, biết chắc sẽ xét rõ sự thực, tự biết lời bàn trước là hồ đồ, sợ mắc tội, nên chưa đợi sứ giả cùng đi xem xét, đã tự tâu trình. Công khai tráo trở, khinh nhờn Vua cha, xoay chuyển việc lớn phải trái như lật bàn tay, coi sự an nguy một phương như trò trẻ con. Đạo thờ Vua, chỉ có cung kính và thành thực, lời nói trước của Nam Công là do khinh suất bừa bãi, chẳng phải cung kính thành thực; lời tâu sau là muốn dùng mưu gian để thoát tội, chẳng phải trung thực. Không trừng trị rõ ràng, sao rõ ràng phép nước, răn đe bọn gian giảo?”

Lại có Điện trung thị ngự sử Lã Đào tâu rằng: “Trước đây, Tri châu Thiền Châu là Vương Lệnh Đồ đã dâng tấu, muốn đào lại sông cũ ở đập Nghênh Dương để dẫn nước chảy về phía đông; và xin đặt đê Kim ở khu vực thôn Tôn để ngăn nước, khiến dòng sông trở lại đường cũ. Ty Chuyển vận Hà Bắc không xem xét lợi hại, tiếp tục dâng tấu, muốn triều đình ủy thác cho Vương Lệnh Đồ khảo sát từ đập Nghênh Dương trở xuống, cho phép một mặt tiến hành kế hoạch, đợi đến tháng giêng thì tháo nước vào sông cũ. Đồng thời, tu sửa đập Cư Nha ở bờ bắc Đại Ngô để kiểm soát dòng nước, đưa nước trở lại đường cũ. Triều đình sai Lý Thường và Phùng Tông Đạo đi khảo sát, chưa đến nơi thì Ty Chuyển vận là Phạm Tử Kỳ và Lý Nam Công tự biết việc này là lừa dối, không dám che giấu, bèn vào ngày 18 tháng giêng dâng tấu. Lại gửi thư cho Lý Thường, nói rằng việc đưa nước về hai nơi Nghênh Dương và thôn Tôn đều bất tiện. Đến khi Lý Thường và đồng sự khảo sát, đều cho rằng không thể làm, nên đã dừng việc này. Xét việc dòng sông trở lại, từ xưa đến nay, là việc lớn của Trung Quốc. Nay vì lời nói của Vương Lệnh Đồ mà vội vàng khởi công, đào sông cũ, ngăn sông mới; đến khi triều đình cử người đi khảo sát, thấy rõ sự thật, mới lộ ra là việc khó thành. Hai bên có ý kiến khác nhau, tình hình có vẻ khinh nhờn, xin giao cho Hữu ty xét xử tội của Phạm Tử Kỳ và Lý Nam Công để răn đe sự lừa dối và khinh thường.”

[4] Chiếu rằng: “Phạm Tử Kỳ và Lý Nam Công mỗi người phạt 10 cân đồng, kéo dài thời gian khảo xét hai năm.”

[5] Tả ty gián Vương Nham Tẩu tâu: “Nghe nói Hoài Nam hạn hán nghiêm trọng, giá cả hàng hóa tăng cao, các giám ty trong lộ không chú ý, xin được chọn quan lo liệu.” Chiếu cho phát vận ty, cắt giữ lại 10 vạn thạch gạo cung cấp cho triều đình, giảm giá so với thị trường, bán cho những hộ thiếu ăn, mỗi hộ không quá 3 thạch. Số tiền thu được từ việc bán gạo sẽ chuyển về kinh đô. Lại tâu: “Việc bãi bỏ các đề cử thường bình ở các lộ và ba lộ đề cử bảo giáp ty, giảm bớt số lượng văn bản cử quan hàng năm, ước chừng 60-70 tờ, e rằng những người nghèo khó sẽ càng khó tiến thân, xin khôi phục việc thông phán cử quan.” Chiếu cho các châu, quân thông phán mỗi năm được cử một người; các quan mạc chức châu huyện cải quan, phán ty bạ uý sung làm huyện lệnh, vẫn luân phiên cử.

(Ngày 13 tháng 6 cải chế, nên gộp vào đây.)

[6] Chiếu cải phong cho vợ của Thái chúc Thái thường tự Bao ức là Thọ An huyện quân Thôi thị làm Vĩnh Gia quận quân, và khen ngợi cửa nhà. Vì Bảo Tín quân tâu rằng tiết hạnh của bà nổi tiếng trong làng. Ức là con của Bao Chửng.

[7] Hà Bắc chuyển vận ty tâu: “Theo chỉ triều đình, các châu, huyện ven sông vẫn đặt trường mua rơm rạ. Xem xét thấy số lượng rơm rạ phòng hộ sông cần rất nhiều, nếu không có người tự nguyện bán ở trường, thì không tránh khỏi việc bắt dân mua. Xin theo điều cũ, cấp trước tiền quan, giá ước tính đều trả bằng tiền mặt, không giảm hai phần.” Triều đình đồng ý.

[8] Tuyên đức lang Lưu Nghị tâu: “Hàng năm, hai châu Khâm, Hoành bắt dân chuyển gạo nộp vào các trại Thái Bình ở châu Ung, gạo châu Liêm nộp vào châu Khâm, gạo châu Hoá nộp vào châu Lôi, gạo châu Cao nộp vào châu Dung, đều phải vận chuyển bằng đường bộ, gần thì mười ngày đường, xa thì hai mươi ngày đường, gây bất tiện cho dân.” Chiếu cho Hộ bộ giao cho chuyển vận ty trong lộ, trình bày rõ lợi hại để tâu lên.

[9] Thượng thư tỉnh tâu: “Điều lệ thông dụng ngày mùng một tháng 2 năm Nguyên Phong thứ 5 quy định: Các quan thuộc Lục tào, nếu không phải việc nghị sự, thì không được đến bộ tỉnh. Lại có điều lệ: Việc cần bẩm báo nghị sự, thì quan coi kho đến các tự, giám thuộc quyền, quan tự, giám đến Thượng thư bộ; nếu có ý kiến khác, thì đến Đô tỉnh; việc kho tàng cần đến Thượng thư tỉnh, thì trình bày sự việc lên tỉnh chờ chỉ thị. Nay ngoài việc các quan Thượng thư, Thị lang trở xuống thuộc Lục tào đến bẩm báo nghị sự, thì các quan ty thuộc Lục tào, quan thuộc tự giám, quan coi kho có việc cần bàn, chưa có văn bản rõ ràng cho phép đến các bộ thuộc quyền và sảnh Lang quan Tả Hữu ty để bẩm báo nghị sự, cũng nên ban hành rõ ràng.” Được chấp thuận.

[10] Hình bộ tâu: “Xin sửa đổi quy định thông dụng của Lục tào, các văn thư cần kiểm tra thúc giục và do Lang quan ký tên ban hành, để các Thị lang thuộc Lục tào có thêm thời gian xem xét và quyết định văn bản.” Được chấp thuận.

[11] Ty Đề hình Kinh Tây tâu: “Các điều lệ của tỉnh bộ, ngoài việc ban hành trực tiếp, còn có các điều lệ của các châu, giao cho Ty Chuyển vận đóng dấu gửi trạm dịch, phân phát đến các châu, thường bị chậm trễ. Xin rằng các luật mới ban hành, sau khi giao bản in cho Ty Chuyển vận, thì chuyển đến Viện Tiến tấu, để viện này dựa vào phù tỉnh và điệp văn, gửi đến các châu, các lộ.” Được chấp thuận.

[12] Bí thư tỉnh tâu: “Trong Tam quán và Bí các, có sách in của Quốc tử giám, xin rằng sau này nếu có quyển bị thiếu, mối mọt hoặc hư hỏng hoàn toàn, thì đều cho Quốc tử giám in bổ sung; và nếu có sách mới in, cũng gửi điệp văn đến các quán để lưu trữ, tránh việc phải liên tục xin chỉ thị từ triều đình.” Được chấp thuận.

[13] Thượng thư tỉnh tâu: “Muốn lệnh cho các ty thuộc Lục tào, nếu có việc cần gửi thiếp văn để hỏi ý kiến, thì đều giao cho người thừa tống thân cận đóng dấu gửi đi. Nếu cần người lại giải thích, thì phải trình bày rõ việc cần bàn, xin ý kiến Thượng thư, Thị lang thuộc bộ, cho phép tạm đến gặp Lang quan trình bày xong rồi về.” Được chấp thuận.

(Bản Tân lược bỏ.)

[14] Hữu ty gián Vương Nham Tẩu tấu: (Biên loại chương sơ, năm thứ nhất, tháng 4, ngày mùng 2.) “Pháp có cái tên nghe thì đẹp nhưng thực hiện thì khó, việc có ý tốt nhưng thi hành thì trái ngược, đó là pháp Tam Xá. Pháp Tam Xá đã lập, dù có người tài cao năng lạ, cũng chưa thấy ai có thể đạt được, mà chỉ nảy sinh mối lo tranh giành. Tranh giành nảy sinh, thì tệ hối lộ xuất hiện; hối lộ xuất hiện, thì họa kiện tụng dấy lên; kiện tụng dấy lên, thì lệnh cấm đoán nghi ngờ càng nhiều. Bác sĩ mệt mỏi vì sổ sách, học sinh khốn đốn vì văn pháp, không còn giữ được cái thể nuôi dưỡng nhân tài thuần túy, mà phong khí trường học gần như tiêu tan, đó là điều mà người hiểu biết đều than thở.

Thần trộm nghĩ rằng trường học là nơi để tập hợp nhân tài và nuôi dưỡng họ, giúp họ định chí nghiệp, bồi dưỡng danh tiếng, thong thả ung dung, chờ đợi khoa cử. Không cần phải mở thêm cửa tiến thủ ngoài khoa cử, tạo nhiều ngả đường làm phân tâm và kích động tranh chấp, khiến lợi hại đắc thất ngày ngày đấu tranh trong lòng, làm tổn hại ý nghĩa thuần túy của việc nuôi dưỡng đức hạnh, không phải là cách để củng cố giáo hóa, thành tựu nhân tài.

Thần ngu muội xin xem xét những tệ nạn đã xảy ra, bãi bỏ pháp Tam Xá, dỡ bỏ lệnh cấm thầy trò không được gặp nhau, tỏ rõ cho học sĩ đại phu thấy sự không nghi ngờ; sau khi giảng giải, chỉ cần dùng kết quả thi công tư để xếp hạng như trước đây, đủ để khích lệ tài năng và cổ vũ phong khí, khiến nhiều sĩ tử vui vẻ theo học, thì trường học sẽ lại có vẻ đẹp ung dung vui vẻ, làm gương cho bốn phương. Xin hạ lệnh cho Lễ bộ cùng Ty nghiệp, Bác sĩ cùng bàn bạc.”

(Nay trong tập của Chu Quang Đình cũng có tấu này, xét theo biên loại chương sơ thì đây là tấu thứ ba của Vương Nham Tẩu, gán cho Quang Đình, chắc là nhầm.)

[15] Tân Phúc Kiến lộ Chuyển vận phó sứ Lữ Ôn Khanh được bổ nhiệm làm Tri Nhiêu châu, Tri Phúc châu Tạ Khanh Tài được bổ nhiệm làm Trực bí các, Phúc Kiến lộ Chuyển vận sứ.

(Việc Ôn Khanh được bổ nhiệm làm Tri châu chắc có nguyên do, cần xem xét.)

[16] Chiếu rằng tiền thưởng bắt trộm cướp sẽ lấy từ tiền lãi Thanh Miêu.

(Theo Chính mục, việc này xảy ra ngày mùng 2.)

[17] Ngày Canh Dần, Lễ bộ tâu: “Các điều lệ về Thái học và Vũ học, xin được soạn thảo và ban hành thống nhất một chỗ, để tránh sự mâu thuẫn.” Được chấp thuận.

[18] Tư chính điện học sĩ, Tân tri Dĩnh Xương phủ là Tăng Hiếu Khoan tâu: “Những ai từng dâng hiến tài vật hoặc đề xuất biện pháp có lợi, nhưng sau đó đã bị bãi bỏ, dù trước kia có đóng góp lợi ích cho triều đình, cũng không được xét ban thưởng.” Được chấp thuận.

[19] Ty Chuyển vận Kinh Hồ Bắc lộ tâu: “Việc mua bán lương thảo và quản lý các trường vụ tiền, cốc trong và ngoài Nguyên Châu, nếu gặp lúc châu này thiếu quan chức, đều cho phép lựa chọn tạm cử các tướng lĩnh đương nhiệm hoặc đã quy thuận trong quân đội để quyền giám đương.” Được chấp thuận.

(Bản Tân lược bỏ.)

[20] Hữu ty gián Tô Triệt tâu: “Thần thấy Lễ bộ họp bàn về việc khoa trường muốn khôi phục thi phú, nhưng nghị quyết chưa được thông qua, trong khi Tả bộc xạ Tư Mã Quang đã dâng tấu, xin lấy Cửu kinh để tuyển chọn sĩ tử, và cho phép các quan triều đình bảo lãnh cử nhân làm khoa kinh minh hành tu. Đến nay đã nhiều ngày, hai nghị quyết này vẫn chưa được thi hành. Thần nghĩ rằng kỳ thi mùa thu năm tới[2], từ nay đến đó thời gian không còn nhiều, mà nghị quyết chưa được quyết định kịp thời, tin tức lan truyền khắp nơi, các học giả biết triều đình có ý kiến khác nhau, không biết theo ai, không khỏi hoang mang lo lắng. Thi phú tuy được coi là tiểu kỹ, nhưng so sánh thanh luật, công phu không hề nhỏ. Còn việc học thêm các kinh khác, đọc tụng giảng giải, càng không thể xem nhẹ. Tóm lại, năm tới đều chưa thể thi hành. Thần xin trước hết ban chỉ dụ, nói rõ khoa trường năm tới mọi việc vẫn như cũ, chỉ là phần kinh nghĩa cần tham khảo chú sớ và các ý kiến của các học giả, hoặc nêu ý kiến riêng, không chỉ dùng học thuyết của họ Vương. Đồng thời bãi bỏ luật nghĩa, để các cử nhân trong thiên hạ biết rõ quyết định, chuyên tâm học tập, chờ đợi kỳ thi tuyển chọn. Sau đó từ từ bàn bạc về quy chế khoa cử từ năm Nguyên Hựu thứ 5 trở đi, cũng chưa muộn.” Triều đình nghe theo.

(Việc nghị bàn diễn ra vào ngày 2 tháng 2 nhuận, tấu chương của Tư Mã Quang vào ngày 5 tháng 2[3], căn cứ vào ngày 23 tháng này, Tư Mã Quang xin trước hết cử người Kinh minh hành tu, thì lời tâu của Tô Triệt có lẽ đã được chấp thuận ngay.)

Trước đó, có người đề nghị dùng cả thi phú, bỏ hẳn kinh nghĩa, khiến thái học sinh đổi nghề chiếm đến bốn, năm phần mười. Giám sát ngự sử Thượng Quân Quân tâu: “Kinh thuật lấy lý làm chủ, thi phú lấy văn làm tinh. Lấy lý thì lời nói thực chất mà căn bản vững chắc, lấy văn thì lời nói hoa mỹ mà chỉ chạy theo hình thức. Tiên đế bỏ đi tệ nạn hàng trăm năm, không phải không gian nan, mà người bàn luận không tính toán căn bản, lại muốn theo tệ nạn thi phú trước đây, chưa thấy được lợi ích. Nguồn sâu dòng dài, việc lớn thể trọng, việc đặt quan chức là gốc[4], là cơ sở của an nguy trị loạn, mong bệ hạ lắng nghe kỹ và thận trọng thi hành.”

Lại tâu: “Khi bệ hạ mới lên ngôi, chí hướng của sĩ tử chưa định, đang ngẩng đầu chờ đợi giáo lệnh, quan sát xu hướng, nên khuyến khích kinh thuật để cổ vũ chí học, đề cao đạo đức để khích lệ tư cách sĩ đại phu. Nay đột nhiên chán ghét kinh thuật, đề cao thi phú, quan lại lấy văn từ tuyển chọn sĩ tử, học giả dùng văn từ ứng phó với quan lại; lâu ngày, chạy theo hình thức mà bỏ mất thực chất, theo đuổi cái phụ mà bỏ cái chính, đây không phải là việc nhỏ. Xin cho học giả mỗi người chọn ba kinh, kèm theo 《Luận ngữ》, 《Mạnh tử》, không cần chỉ dùng nghĩa mới. Thi sách gồm hai phần: một hỏi về lịch sử, một hỏi về thời vụ. Cấm dùng kinh điển Phật giáo, không được chỉ dẫn 《Trang tử》, 《Lão tử》. So với việc dùng cả thi phú, khiến học giả hao tổn tinh thần vào văn chương vô dụng, được mất thật khác xa.” Chương tấu ba lần, lại viết sáu luận điểm để phản bác ý kiến của người khác. Sau đó, thi phú và kinh nghĩa cuối cùng được dùng song song.

(Ngày 10 tháng 11 năm thứ 3, Bành Nhữ Lệ bàn, cuối tháng 12 nhuận, Trung thừa Lý Thường bàn về khoa cử, lúc này Thượng Quân Quân đã rời đài hơn một năm rưỡi. Quân bàn rằng thi phú không thể dùng để tuyển chọn sĩ tử, căn cứ vào gia truyền của Quân ghi chép thêm. Sau đó, Tăng Bố cho rằng việc này chứng tỏ Quân không đồng tình với Nguyên Hựu, không thể bỏ qua. Nhưng e rằng chưa chắc đã xảy ra vào thời điểm này, cần xem xét thêm. Tấu chương của Quân có đủ ba chương này, hoặc có thể chọn lọc thêm.)

[21] Kinh lược sứ Hoàn Khánh lộ Phạm Thuần Túy tâu: “Thần vâng chiếu chỉ: ‘Lệnh cho các nơi thuộc Thiểm Tây, Hà Đông, nếu có giặc Tây đại quân xâm phạm, vây đánh thành trại, xét thế giặc, cần phải nhờ lân lộ cứu viện, thì gửi văn thư đến kinh lược ty lân lộ sai phát viện binh. Lộ được thông báo, căn cứ tình hình giặc, xét số quân cần điều động, phái đi. Nếu lộ được thông báo ủy thác việc mà không ứng phó, sẽ bị trọng trị theo pháp luật triều đình. Nếu có gì chưa rõ, hãy tâu trình lợi hại.’

Thần đã hai lần tâu trình, kể lại việc thành Vĩnh Lạc thuộc Phu Diên lộ bị giặc vây, xin lân lộ cứu viện, nhưng không kịp, xin triều đình xem xét lại chế độ cũ, sửa sang quy định về việc lân lộ ứng cứu. Nay theo chiếu chỉ trên, thần xem xét kỹ, tuy cho phép thông báo lân lộ sai phát viện binh, tuy tiện lợi, nhưng nếu lộ được thông báo phải đợi văn thư đến mới xét số quân cần điều động, rồi mới phái đi, ắt không kịp việc. Vì giặc Tây trước sau gây họa, tuy huy động toàn lực, nhưng ít khi ở lâu một nơi; chúng chủ trương đến nhanh rồi đi, thường chia quân vây giữ thành trại, khiến quân ta không ra được, rồi tàn quân cướp phá thôn xóm, đốt phá nhà cửa người Hán, người Phiên, cướp bóc nhân khẩu, gia súc, đào bới hầm hốc lấy lương thực. Lúc đó, nếu thành trại kiên cố giữ vững mà viện binh đến kịp, thì giặc sẽ rút lui, không đuổi kịp. Nếu lộ bị xâm phạm tự có lực lượng đẩy lui giặc, thì không cần nhờ lân lộ. Nhưng nếu phải nhờ lân lộ, thì phải ứng cứu ngay mới kịp.

Hơn nữa, quân mã các lộ an phủ ty không hẳn đều tập trung ở phủ súy, mà phân tán ở các thành trại. Nếu phải đợi văn thư đến kinh lược ty, rồi mới bàn bạc điều động, truyền hịch cho tướng ngoài, báo cho quân sĩ, rồi mới chuẩn bị khí giới, dù có gấp rút, khi đến nơi bị giặc cũng đã muộn, chỉ làm hao tổn quân lân lộ, không ích gì cho việc. Nay thần xét, nên giao cho kinh lược ty từ trước chọn sẵn quân mã, tướng phó, sứ thần ứng cứu, chia làm hai đợt. Đợt đầu lấy quân tướng đóng gần nhất, đặt tên là tướng ứng cứu; đợt hai cũng chọn ở nơi gần kế, loại bỏ người già yếu, chậm chạp, không thể mang giáp chạy nhanh. Nên dùng nhiều kỵ binh để hành động nhanh. Giao cho tướng phó, sứ thần thường xuyên nhắc nhở quân sĩ sửa sang khí giới. Mọi thứ cần dùng khi hành quân, phải chuẩn bị sẵn từ trước, luôn sẵn sàng ứng phó; và lệnh cho các lộ sửa sang pháp hoành phong, nếu giặc xâm phạm, đốt hoành phong báo cho lân lộ. Lộ ứng cứu, vừa thấy hoành phong, lập tức sắp xếp quân mã, chuẩn bị đi cứu, nhưng chưa xuất phát. Kinh lược ty lộ bị xâm phạm, phải xét thế giặc, nếu thật sự lớn mạnh, không thể tự đẩy lui, mới được thông báo lân đạo. Lại phải đặt sẵn phù hiệu để phòng gian trá. Kinh lược ty lộ được thông báo, căn cứ tình hình, biết được vị trí giặc, lập tức dùng mật hiệu làm bằng, gửi hịch cho tướng ứng cứu đợt đầu phái quân, chọn đường tắt, gấp rút đi. Điều đợt hai đến nơi đóng quân của đợt đầu, chuẩn bị nếu có yêu cầu tiếp, lần lượt phái đi. Nếu lộ đó tự đủ lực lượng chống giặc, mà kéo quân lân lộ đến, hoặc lộ được thông báo ủy thác việc mà không ứng phó, sẽ bị xử theo pháp luật triều đình.

Như vậy, không những ứng phó kịp thời, mà quân ứng cứu từ trước đã quen nghe lệnh, tự chuẩn bị, khi cấp bách phái đi cũng không hỗn loạn. Thần ngu ý thấy như vậy, xin triều đình xem xét. Nếu được chấp nhận, xin sửa sang thành luật, ban xuống các lộ, sớm thi hành, để phòng bị mùa thu tới có thể tuân theo.”

(Thuần Túy trước đây tâu vào ngày 11 tháng 11 năm Nguyên Phong thứ 5, lại tâu vào ngày 11 tháng 2 nhuận năm Nguyên Hựu thứ nhất, rồi tâu lần này vào ngày 3 tháng 4 năm ấy. Đến ngày 14 tháng 2 năm thứ hai mới ban chỉ huy.)

[22] Ngày Tân Mão, ban chiếu: “Những người ứng thí tuyển chọn, tuổi từ 50 trở lên đã trải qua hai nhiệm kỳ, từ 60 trở lên một nhiệm kỳ, không phạm tội tham nhũng và tội tư nghiêm trọng, cùng hiện tại không bị cách chức, đều được miễn thi.”

[23] Tư chính điện học sĩ, Tri Dĩnh Xương phủ Tăng Hiếu Khoan được bổ nhiệm làm Tri Đặng châu, Long đồ các trực học sĩ, Tri Đặng châu Đặng Uyển được bổ nhiệm làm Tri Dương châu. (Ngày 18…). Triều nghị đại phu Tiên Vu Sân được bổ nhiệm làm Thái thường thiếu khanh, Trứ tác tá lang Phạm Tổ Vũ được bổ nhiệm làm Trứ tác lang.

[24] Xu mật viện tâu: “Tân sai Đông Nam đệ thập tam phó tướng, Cung bị khố phó sứ Thạch Tông Vĩnh bị bệnh đã quá 100 ngày.” Chiếu lệnh Lại bộ từ khi rời khỏi sổ ban, hạn trong một năm mới được phép vào triều. Vẫn theo lệnh giả nghỉ nguyên phong, thêm vào chữ “đại tiểu sứ thần”.

[25] Lại tâu: “Hạ quốc cử sứ Đỉnh Lợi, Võng Dự Chương đến kinh chúc mừng hoàng đế lên ngôi, xin theo lệ sai quan áp tặng lễ vật lên ngôi đến Hạ quốc.” Chiếu lệnh Tây Kinh Tả tàng khố phó sứ Vương Khắc Tuân áp tặng.

[26] Tư Mã Quang tâu: “Thần trước đây vào giữa tháng hai từng dâng lời, xin nhân dịp thiên tử mới lên ngôi, hạ chiếu tha hết tội cho người phương Tây, cho họ làm lại từ đầu. Tuy chưa trả lại đất đai xâm chiếm, nhưng hãy cấp lễ vật hàng năm, đối đãi như cũ. Đạo lý này rất chính đáng, vạn toàn không sai sót. Sau đó, các quan chấp chính có ý kiến khác nhau, ngăn trở kéo dài, rồi bỏ qua không thực hiện. Thần nghe nói người phương Tây đã có thông báo, cử sứ giả và phó sứ đến triều đình, chúc mừng lên ngôi. Nếu quốc gia lúc này lại không hạ chiếu mở lòng đón nhận, e rằng người phương Tây tích tụ oán hận, bộc lộ tâm địa phản nghịch, hoặc có một kỵ binh xâm phạm biên giới, hoặc trong biểu tấu có một lời bất kính, lúc đó dù muốn chiêu dụ, cũng chỉ là sợ họ ngang ngược, làm tổn hại uy nghiêm, nhục nhã biết bao! Kế sách trước của thần cũng không thể thực hiện được nữa.

Kính mong bệ hạ sai ba tỉnh và Xu mật viện, đem các văn bản thần dâng ngày mồng 3, 12, 16 tháng hai cùng lần này, trình lên một chỗ. Thần ngu muội muốn giúp quốc gia tiêu trừ họa hoạn từ khi chưa manh nha, thực sự tiếc cơ hội này, ngày đêm lo lắng, quên ăn bỏ ngủ. Nếu bệ hạ đợi tham khảo ý kiến đồng thuận rồi mới thi hành, thì các quan chấp chính ai cũng có ý kiến riêng, lời thần tất lại bị bỏ qua. Biên giới yên ổn thì Trung Quốc yên ổn, đây là thời cơ an nguy của quốc gia. Kính mong bệ hạ xét lời thần rất dễ thực hiện mà không có hậu họa, có thể khiến Hoa – Di đều yên ổn, lợi ích rất lớn, xin bệ hạ quyết đoán, đừng nghi ngại nữa.”

Và dâng ý chiếu rằng: “Trẫm nghe vương giả thống trị bốn phương, nhân từ vô tư, không phân biệt Hoa – Di, xem như một. Quốc chủ Hạ là Bỉnh Thường đời đời giữ đất Tây, bảo vệ Trung Quốc, từ thời tổ phụ là Di Hưng đến nay, thấm nhuần giáo hóa của hoàng gia, cống nạp đúng kỳ, phần nhiều trung thành cần mẫn. Nhân Tông hoàng đế ban tên hiệu trọng vọng, phong đất lớn, lễ vật hàng năm đều có quy định. Trước đây do biên thần tâu lên, nói Vua tôi nước ấy thất chức, và gửi văn thư chất vấn, nhưng không hồi đáp; Thần Tông hoàng đế bèn xuất quân cử tướng, cứu nguy cho họ. Đối với quốc chủ Hạ là Bỉnh Thường, thực sự có ân lớn, thế mà người bộ tộc dám tự tuyệt giao, xâm phạm biên giới ta, giết hại quan dân ta, ngày Tết cùng trời đất, đều không vào chúc mừng.

Quốc gia bao dung độ lượng, bỏ qua không hỏi, chỉ ngừng lễ vật hàng năm, đợi họ hối cải. Không may tiên đế bỏ thiên hạ, Trẫm kế thừa cơ nghiệp, kính cẩn noi theo chí trước, ngày đêm lo sợ, đến nay đã một năm, ban bố ân huệ rộng rãi, không nơi nào không được cứu giúp. Mà quốc chủ Hạ là Bỉnh Thường nhiều lần cử sứ giả đến triều đình, viếng tang báo cáo, dần dần tuân theo chức phận thường lệ. Trẫm nghĩ biển lớn sông dài, đến thì nhận lấy, há lại nhớ chuyện cũ, tính toán chi tiết? Nên bỏ qua sự bất kính trước đây, lấy sự thuận phục hiện nay, rộng lượng xóa bỏ, cho họ làm lại từ đầu. Từ nay trở đi, hãy răn dạy tướng sĩ, nghiêm cấm quân dân, không được mưu lợi nhỏ, quấy nhiễu biên giới họ. Lễ vật hàng năm, sai quan hữu ty theo lệ cũ, để trống trống không gióng, lửa hiệu không báo động. Dân hai nước, sớm ngủ muộn dậy, cùng hưởng thái bình, há chẳng tốt sao! Hãy ban bố trong ngoài, cho mọi người đều biết.”

Tư Mã Quang tâu: “Thần trước đây vào giữa tháng hai từng dâng lời, xin nhân dịp thiên tử mới lên ngôi, hạ chiếu tha hết tội cho người phương Tây, cho họ làm lại từ đầu. Tuy chưa trả lại đất đai xâm chiếm, nhưng hãy cấp lễ vật hàng năm, đối đãi như cũ. Đạo lý này rất chính đáng, vạn toàn không sai sót. Sau đó, các quan chấp chính có ý kiến khác nhau, ngăn trở kéo dài, rồi bỏ qua không thực hiện. Thần nghe nói người phương Tây đã có thông báo, cử sứ giả và phó sứ đến triều đình, chúc mừng lên ngôi. Nếu quốc gia lúc này lại không hạ chiếu mở lòng đón nhận, e rằng người phương Tây tích tụ oán hận, bộc lộ tâm địa phản nghịch, hoặc có một kỵ binh xâm phạm biên giới, hoặc trong biểu tấu có một lời bất kính, lúc đó dù muốn chiêu dụ, cũng chỉ là sợ họ ngang ngược, làm tổn hại uy nghiêm, nhục nhã biết bao! Kế sách trước của thần cũng không thể thực hiện được nữa.

Kính mong bệ hạ sai ba tỉnh và Xu mật viện, đem các văn bản thần dâng ngày mồng 3, 12, 16 tháng hai cùng lần này, trình lên một chỗ. Thần ngu muội muốn giúp quốc gia tiêu trừ họa hoạn từ khi chưa manh nha, thực sự tiếc cơ hội này, ngày đêm lo lắng, quên ăn bỏ ngủ. Nếu bệ hạ đợi tham khảo ý kiến đồng thuận rồi mới thi hành, thì các quan chấp chính ai cũng có ý kiến riêng, lời thần tất lại bị bỏ qua. Biên giới yên ổn thì Trung Quốc yên ổn, đây là thời cơ an nguy của quốc gia. Kính mong bệ hạ xét lời thần rất dễ thực hiện mà không có hậu họa, có thể khiến Hoa – Di đều yên ổn, lợi ích rất lớn, xin bệ hạ quyết đoán, đừng nghi ngại nữa.”

Và dâng ý chiếu rằng: “Trẫm nghe vương giả thống trị bốn phương, nhân từ vô tư, không phân biệt Hoa – Di, xem như một. Quốc chủ Hạ là Bỉnh Thường đời đời giữ đất Tây, bảo vệ Trung Quốc, từ thời tổ phụ là Di Hưng đến nay, thấm nhuần giáo hóa của hoàng gia, cống nạp đúng kỳ, phần nhiều trung thành cần mẫn. Nhân Tông hoàng đế ban tên hiệu trọng vọng, phong đất lớn, lễ vật hàng năm đều có quy định. Trước đây do biên thần tâu lên, nói Vua tôi nước ấy thất chức, và gửi văn thư chất vấn, nhưng không hồi đáp; Thần Tông hoàng đế bèn xuất quân cử tướng, cứu nguy cho họ.

Đối với quốc chủ Hạ là Bỉnh Thường, thực sự có ân lớn, thế mà người bộ tộc dám tự tuyệt giao, xâm phạm biên giới ta, giết hại quan dân ta, ngày Tết cùng trời đất, đều không vào chúc mừng. Quốc gia bao dung độ lượng, bỏ qua không hỏi, chỉ ngừng lễ vật hàng năm, đợi họ hối cải. Không may tiên đế bỏ thiên hạ, Trẫm kế thừa cơ nghiệp, kính cẩn noi theo chí trước, ngày đêm lo sợ, đến nay đã một năm, ban bố ân huệ rộng rãi, không nơi nào không được cứu giúp. Mà quốc chủ Hạ là Bỉnh Thường nhiều lần cử sứ giả đến triều đình, viếng tang báo cáo, dần dần tuân theo chức phận thường lệ. Trẫm nghĩ biển lớn sông dài, đến thì nhận lấy, há lại nhớ chuyện cũ, tính toán chi tiết? Nên bỏ qua sự bất kính trước đây, lấy sự thuận phục hiện nay, rộng lượng xóa bỏ, cho họ làm lại từ đầu.

Từ nay trở đi, hãy răn dạy tướng sĩ, nghiêm cấm quân dân, không được mưu lợi nhỏ, quấy nhiễu biên giới họ. Lễ vật hàng năm, sai quan hữu ty theo lệ cũ, để trống trống không gióng, lửa hiệu không báo động. Dân hai nước, sớm ngủ muộn dậy, cùng hưởng thái bình, há chẳng tốt sao! Hãy ban bố trong ngoài, cho mọi người đều biết.”

(Hành trạng của Phạm Thuần Nhân có ghi chép, hoặc phụ thêm vào đây để rõ hơn.)

[27] Chiếu rằng: “Pháp lệnh về việc tư nhân viết khế ước mua bán điền trạch và không liên quan đến người môi giới đã được đăng ký, dẫn dắt giao dịch riêng, được tu lập vào ngày 20 tháng 7 năm Nguyên Phong thứ 7, nay không thi hành nữa.”

[28] Khôi phục huyện Thâm Trạch thuộc châu Kỳ.

[29] Tư Mã Quang tâu: “Thần trộm nghĩ, dân làng quê trồng trọt trăm loại ngũ cốc, trồng dâu nuôi tằm, chính là nguồn gốc của y phục và lương thực trong thiên hạ, so với dân khác, càng cần được quan tâm giúp đỡ. Phàm tình người đều luyến tiếc quê hương, ai cũng muốn an cư, nếu không phải vì không còn cách nào để sinh tồn, há lại muốn lưu lạc đến nơi khác? Nếu triều đình sớm thực hiện cứu tế trước khi dân chúng lưu lạc, khiến lương thực được tiếp nối[5], không để họ mất kế sinh nhai, thì nhà nhà yên ổn, triều đình tốn ít chi phí mà dân chúng thực sự được hưởng ân huệ. Nếu đợi đến khi dân đã lưu lạc rồi mới phát gạo nấu cháo, dùng kho dự trữ hữu hạn để đối phó với dòng người lưu lạc vô hạn, chỉ khiến họ tụ tập rồi chết đói, triều đình tốn nhiều chi phí mà dân chúng thực sự chẳng được cứu giúp gì.

Thần trộm thấy gần đây có chiếu chỉ, lệnh cho Hộ bộ chỉ đạo các lộ phủ giới và Ty Đề điểm hình ngục xem xét tình hình dân chúng các châu, huyện, nếu quả thật thiếu ăn, thì căn cứ vào kho nghĩa thương và thường bình hiện có, nhanh chóng thực hiện cứu tế. Lại dặn dò các châu, huyện bằng nhiều cách quan tâm giúp đỡ, không để dân chúng lưu lạc mất chỗ ở, đây thực là đạo lý then chốt để an dân. Tuy nhiên, việc khiến dân lưu lạc không di chuyển, hoàn toàn phụ thuộc vào việc các quan lệnh, tá của huyện đó có tài năng hay không. Thần xin đề nghị thêm, lệnh cho Ty Đề điểm hình ngục chỉ đạo các quan lệnh, tá của từng huyện, chuyên tâm xem xét tình hình dân làng, nếu có người thiếu ăn, thì một mặt báo lên cấp trên và châu mình, không cần đợi phản hồi, lập tức dùng kho nghĩa thương và thường bình của huyện mình để trực tiếp cứu tế. Lại căn cứ vào năm hạng dân làng, tính theo nhân khẩu từng hộ mà cấp sổ lịch, người lớn mỗi ngày cấp hai thăng, trẻ nhỏ mỗi ngày cấp một thăng, cho phép họ tùy tiện. Hoặc năm ngày, hoặc mười ngày, hoặc nửa tháng một lần, mang sổ lịch đến huyện xin nhận, huyện cũng lập sổ sách để đối chiếu. Nếu lương thực của huyện ít, thì trước hết cấp sổ lịch cho hộ hạ đẳng, còn dư thì cấp luôn cho hộ thượng đẳng, ai không muốn nhận thì tùy ý.

Đợi đến mùa hạ thu năm sau, khi lương thực đã tiếp nối, thì căn cứ vào sổ sách đã ghi chép về số lương thực đã vay, lệnh cho họ nộp theo thuế, một đấu chỉ nộp một đấu, không tính lãi[6]. Nếu các quan lệnh, tá có biện pháp tốt khác, đơn giản tiện lợi hơn phương pháp này, cũng cho phép tùy tiện. Điều cốt yếu là dân chúng không thiếu ăn, không đến nỗi lưu lạc. Lại lệnh cho Ty Đề điểm hình ngục thường xuyên xem xét các quan lệnh, tá của từng huyện, nếu có người chuyên tâm giúp đỡ dân thiếu ăn, dù gặp thiên tai mà không có ai lưu lạc, thì bảo đảm tâu lên, ban thưởng hậu hĩnh. Còn ai hoàn toàn không chuyên tâm cứu tế, khiến nhiều hộ dân lưu lạc, thì điều tra tâu lên, xin cách chức. Như vậy mới khiến quan lại có động lực, dân chúng thực sự được hưởng ân huệ của thánh thượng.” Tam tỉnh trình lên, y theo lời tâu.

(Chiếu chỉ gần đây, là ngày 26 tháng 3.)

[30] Ba tỉnh tâu: “Lại bộ từng được triều đình bổ nhiệm người được tuyển chọn, từng làm quan suy phán ở tỉnh phủ, quan đài gián, trưởng nhị ở các tự giám, lang quan, giám ty[7], đều thuộc về Lại bộ bổ nhiệm. Những người không vì phạm tội mà bị thay thế hoặc bãi chức, nếu hợp lệ được bổ nhiệm xa thì cho gần, hợp lệ được bổ nhiệm gần thì cho ưu tiên chỉ huy sai khiển. Những người được triều đình đặc biệt bổ nhiệm thì không thuộc phạm vi này.” Được chấp thuận.

(Sách 《Chính mục》 ghi: Người được triều đình bổ nhiệm thuộc về Lại bộ, được thăng một bậc.)

[31] Lại tâu: “Các lộ thuộc phủ giới bị hạn hán lâu ngày, lúa hè bị thiệt hại, dân chúng kêu ca, nghe nói các châu, huyện phần lớn không tiếp nhận, khiến dân bị thiên tai càng thêm khốn khổ. Xin lệnh cho Hộ bộ chỉ huy các giám ty thuộc phủ giới và các lộ, phân công đến các châu, huyện có thiên tai, xem xét tình hình dân bị thiên tai, không phân biệt trong hay ngoài thời hạn, đã hay chưa kêu ca, nếu thực sự bị thiên tai thì miễn trừ thuế theo mức độ, không cần kiểm tra lại, lập tức thi hành rồi tâu lên.” Được chấp thuận.

[32] Lại bộ Thị lang Lý Thường và Câu đương Ngự dược viện Phùng Tông Đạo tâu: “Theo chỉ dụ triều đình xem xét lợi hại của sông Hoàng Hà, chúng thần đi đến nơi, xem xét các đê điều, thấy chưa cao rộng, vật liệu cũng chưa chuẩn bị đủ. Việc xây dựng đê điều hoàn toàn phụ thuộc vào quan thủy lợi; việc dự trữ vật liệu là trách nhiệm của địa phương. Nay đã trải qua nhiều năm tháng mà vẫn chưa hoàn thành, từ đó thấy rằng quan thủy lợi chưa có người đủ năng lực, xin thêm chức sứ giả.” Chiếu thư thêm một viên Ngoại đô thủy sứ giả và một viên Câu đương công sự, ngang hàng với Ngoại đô thủy thừa, thuộc quyền Ngoại đô thủy sứ giả.

(Ngày 14 tháng 12 năm ngoái, ngày 14 tháng giêng năm nay, ngày 6 tháng 2, ngày 23 tháng 9, ngày 22 tháng 11.)

[33] Công bộ tâu: “Ty chuyển vận Kinh Tây tâu rằng, đường đi của sứ Bắc triều gần đây có cầu phao cần tháo dỡ, xin đổi sang đường Kinh Tây từ Hà Dương đến kinh thành. Trước đây theo chỉ triều đình, cần tránh không nhìn thấy lăng tẩm, nên phải mở đường mới. Nay xét lại, từ Hà Dương về phía nam đến Yển Sư, rồi đi về phía đông qua Phượng Đài, Hiếu Nghĩa rồi vào huyện Củng, là thuận tiện nhất. Đường đi đều có trạm dịch, chỉ là có thể nhìn thấy cây cối ở lăng tẩm, e không cần tránh, xin cho đi theo đường trạm dịch trên.” Triều đình đồng ý.

[34] Hữu Gián nghị đại phu Tôn Giác tâu: “Hoài, Chiết bị thiên tai, giá gạo tăng cao, lo ngại giặc cướp sẽ nổi lên, xin sai quan đi khảo sát, mở rộng việc cứu tế. Ban bố khắp các lộ chuyển vận, đề hình ty, nơi nào bị thiên tai đều phải tâu thực tình, nếu không thực sẽ bị trị tội. Thiên tai dù nhỏ, nhưng nếu lời tâu có phần quá đáng thì không hỏi tội. Như vậy thì các lộ không dám không tâu, triều đình tùy mức độ thiên tai lớn nhỏ mà cứu tế và phòng ngừa, thì trong bốn biển sẽ không còn lo lắng bất ngờ.” Lúc đó có thiên tai, các ty chuyển vận đều không tâu báo, nhất là châu Túc, châu Bạc rất nghiêm trọng, triều đình ra chiếu lệnh cho ty phát vận khảo sát các châu, huyện bị thiên tai thiếu lương thực, đồng thời lệnh cho châu Túc, châu Bạc phân tích, không tâu trình thứ tự thiên tai, và báo cáo giá lương thực hiện tại, tất cả phải nhanh chóng tâu lên.

(Tân lục, Cựu lục đều ghi như vậy, cần xem xét thêm.)

[35] Tả ty gián Vương Nham Tẩu tâu: “Thần nghe nói Ty Bảo mã Kinh Đông còn nhiều tệ nạn, nên trình bày để có thể nhân đó thay đổi, tạo lợi ích cho quốc gia. Thần xin trình bày các điều như sau, mong bệ hạ xem xét.

Thứ nhất, thần đã tham khảo ý kiến của những người hiểu biết, đều cho rằng quốc gia nên thu hồi ngựa để khôi phục các trại chăn nuôi, như vậy cả công và tư đều được lợi. Ngựa là công cụ của quân đội, là thứ quốc gia dựa vào để phòng thủ. Từ khi có quốc gia đến nay, chưa từng thiếu ngựa, quốc gia nhiều ngựa thì mạnh, ít ngựa thì yếu. Mà nơi có thể nuôi dưỡng và nhân giống ngựa chính là các trại chăn nuôi. Trước đây khi bãi bỏ các trại, những người hiểu biết đều nói: Mười năm sau, thiên hạ sẽ thiếu ngựa, khi cần kíp sẽ không có, dù có người tài giỏi cũng không thể làm gì được. Sau đó chưa đầy mười năm, ngựa trong thiên hạ đã không còn nhiều, điều này không có lợi cho quốc gia. Thần xin thu hồi hơn ba vạn con ngựa đã trả lại cho dân, khôi phục các trại như cũ. Tuy nhiên không cần đặt chức Giám mục sứ, chỉ cần giao cho Chuyển vận sứ quản lý là đủ.

Hiện nay, trại Đông Bình ở Vận Châu, trại Đại Danh Thượng Hạ và Nguyên Thành ở Bắc Kinh, trại Kỳ Thủy ở Vệ Châu, trại An Dương ở Tương Châu, trại Quảng Bình ở Minh Châu[8], cho đến vùng giữa Doanh Châu và Định Châu, khắp nơi đều có cơ sở và đồng cỏ, ranh giới vẫn còn nguyên. Phương pháp chăn nuôi đã được quy định rõ ràng, các sứ thần vẫn còn người cũ, có thể tuyển dụng. Số binh lính chăn nuôi còn lại hơn một nửa, chỉ cần chiêu mộ thêm một ít, trong nháy mắt có thể sắp xếp ổn thỏa. Như vậy, dân chúng sẽ thoát khỏi nạn nộp tiền, quốc gia sẽ có lợi từ việc chăn nuôi ngựa, chẳng phải rất tốt sao! Có người nói: Số tiền vay nhiều như vậy, làm sao có thể miễn hết? Đó là vì họ không biết rằng việc miễn tiền hôm nay là có giới hạn, nhưng lợi ích từ việc có ngựa trong tương lai là vô cùng. Đó là lý do thần cho rằng có thể nhân cơ hội này thay đổi để tạo lợi ích.

Thứ hai, từ khi bãi bỏ các trại, đất chăn nuôi ở trong tay dân đã trở thành gánh nặng khắp nơi. Ban đầu, dân ngu chỉ thấy lợi trước mắt khi xin đất dễ dàng, không nghĩ đến việc nộp tô sau này sẽ khó khăn. Khi nộp đơn, họ tranh nhau đặt mức cao, không biết rằng châu, huyện lại định giá cao, thu bằng tiền mặt, khiến họ không chịu nổi, năm nào cũng nợ đọng. Ty Chuyển vận không kể mưa nắng, cùng với Ty Quần mục ấn định số tiền này, việc đốc thúc rất nghiêm ngặt, hơn cả những việc khác, khiến dân thuê đất bị giam cầm, đánh đập, ngày nào cũng có, họ muốn trả lại đất cho quan, nhưng quan lại không chấp nhận! Tình hình khắp nơi đều rất khổ sở. Nay nếu nhân việc khôi phục các trại mà thu hồi đất chăn nuôi vào quan, dân chúng sẽ cảm ơn ân đức của bệ hạ, như trút được gánh nặng, thoát khỏi bệnh nặng. Đó là việc nhân thay đổi tệ nạn của chính sách bảo mã để tạo lợi ích từ việc chăn nuôi ngựa, đồng thời còn có thêm lợi ích khác.

Thần xin trước hết ra lệnh, các hộ nuôi ngựa không được tự ý bán ngựa, đợi khi khôi phục xong các trại, sẽ phân bổ ngựa vào các trại gần đó. Việc ở Kinh Tây cũng tương tự, xin ban hành cùng lúc.”

(Đoạn này căn cứ vào 《Tân lục》, 《Cựu lục》 và các chương sớ thời Nguyên Hựu bổ sung, trong 《Vương Nham Tẩu tập》 và di cảo không có. 《Cựu lục》 chép: Tiên đế gửi ngựa cho dân, bãi bỏ tất cả các trại, tiết kiệm được nhiều chi phí, đến nay lại khôi phục. 《Tân lục》 biện luận: Việc bãi bỏ và khôi phục chính sách bảo mã, chỉ dựa vào chương sớ của các quan không đủ để hiểu hết. Từ câu “Tiên đế gửi ngựa cho dân” đến “đến nay lại khôi phục” mười tám chữ[9], đều xóa bỏ.)

[36] Chiếu rằng: “Các quân đã về hưu, bị cách chức, hoặc có di biểu hợp lệ cho con trai được hưởng ân trạch, nếu sau năm năm mới xin thì không được ban ân.”

[37] Tri phủ Đại Danh Hàn Chẩn tâu: “Quan chức quân sự các lộ, tướng quan không được ra ngoài tiếp khách, gần như bị giam cầm, e rằng không phải là cách đối đãi tướng lĩnh, xin bãi bỏ lệnh cấm này để tỏ lòng ưu ái.” Chiếu rằng: “Các quan quân sự các lộ, phó tướng, đô giám biên giới, võ quan tri huyện thành và chủ các trại, nếu không phải là quan tại chỗ, không được đến thăm hoặc tiếp khách. Nếu có việc công liên quan hoặc là thân thích, thì được phép qua lại. Ai vi phạm điều này hoặc tiếp khách trái phép, đều bị đánh một trăm trượng.”

[38] Diên Phúc cung sứ, Lưu hậu Vũ Tín quân, Phó đô tổng quản Mã bộ quân lộ Vĩnh Hưng Lý Hiến tâu: “Đã nhiều lần tâu xin, vì bệnh lâu ngày xin được hưởng nửa bổng lộc về hưu, và xin tránh tiếp xúc với Phó chuyển vận sứ Lộ Xương Hoành.” Chiếu cho ông làm Đề cử Sùng Phúc cung, và lệnh cho ông ở tại Tây Kinh.

(Việc của Lý Hiến cần xem xét, ngày 18 chức quan của ông bị giáng.)

[39] Chiếu cho Đại Lý tự, kho tàng tư liệu hình án bên trái giao cho Chủ bạ quản lý, các cơ quan đài, tự, giám có kho tàng cũng làm theo.

[40] Lại chiếu cho các lộ thuộc phủ giới, kiểm tra và tuyển mộ cung thủ, cấp tiền đúc bạc và chi trả từ tiền phường trường, bến đò, đầu tử, lấy tiền từ một lộ để chi trả, theo lệnh nguyên phong.

(Bản Tân lược bỏ.)

[41] Ngày Nhâm Thìn, vì mưa không đều, xét xử tù nhân trong kinh, các tội từ tử hình trở xuống giảm một bậc, đến tội đánh trượng thì tha.

[42] Ngày Quý Tỵ, Quan văn điện đại học sĩ, Thủ Tư không, Tập Hi quan sứ, Kinh quốc công Vương An Thạch qua đời. Tư Mã Quang viết thư tay gửi Lữ Công Trước rằng: “Văn chương và tiết nghĩa của Giới Phủ (Vương An Thạch) vượt xa người thường, nhưng tính tình không hiểu việc mà lại thích theo cái sai, khiến người trung trực xa lánh, kẻ nịnh thần tụ tập, làm bại hoại trăm việc, đến nỗi như thế này. Nay đang sửa chữa sai lầm, cải cách tệ nạn, không may Giới Phủ qua đời, bọn phản phúc ắt sẽ trăm phương ngàn kế bôi nhọ. Tôi nghĩ triều đình nên đặc biệt ban ân điển trọng hậu, để chấn chỉnh phong khí hời hợt, nếu có điều gì đáng nói, xin chuyển lên trên[10], không biết Hối Thúc nghĩ thế nào? Không cần trả lời bằng thư từ, chỉ cần trước mặt Vua ra sức chủ trương, thì đều nhờ vào Hối Thúc vậy.” Triều đình xuống chiếu ngừng chầu lần nữa, truy tặng Thái phó, ban ân điển theo di biểu cho bảy người, lệnh cho nơi ông ở lo liệu việc tang.

(《Tân lục》 trong phần “Vương An Thạch truyện” biện bạch rằng: “Học thuật và chính sự của Vương An Thạch làm bại hoại thiên hạ, đến tận ngày nay, mà 《Cựu lục》 lập truyện lại phần nhiều lấy lời trong sử tư của An Thạch để tô vẽ.” Lại nói: “An Thạch ở Kim Lăng, đọc sách Phật, chợt có chỗ ngộ, vậy là chỗ ngộ ấy không nằm trong Lục kinh mà ở sách Phật. Người xưa học đạo, đem điều mình ngộ được thi thố vào chính sự, còn An Thạch lấy đạo tự nhận[11], mà chỗ ngộ được lại là sau khi làm tướng, đảo lộn như thế. Nay chỉ căn cứ vào sự thật trước sau trong 《Thần Tông thực lục》 mà chọn lọc sửa đổi, không dám lấy lời riêng mà thêm bớt.”

Trần Quán trong 《Tôn Nghiêu Tập Tự Lược》 viết: “Ngày xưa khi bắt đầu cải cách nguyên Hựu, lúc An Thạch vừa mất, mọi người đều đổ tội cho Huệ Khanh; hoặc cho rằng An Thạch chất phác, nên ban ân điển trọng hậu[12], để trấn an phong khí hời hợt. Thư từ của Tư Mã Quang còn đó, lời trách của Lữ Huệ Khanh vẫn còn, lời lẽ sâu sắc trong hàng ngũ, khoan dung uốn nắn nguyên đài. Trong số các bề tôi bàn luận lúc ấy, không một ai chỉ trích An Thạch, thường chỉ nói những lời nghi ngờ, hoặc can gián Vua, khiến Biện lấy việc rình mò làm tâm, ẩn giấu chờ thời, tô điểm kinh sử, bôi nhọ trung hiền. Những lời oán giận Tăng Bố, cùng lời mắng nhiếc Huệ Khanh, đều bị cắt bỏ, ý muốn vây bọc. Muốn khiến họ cùng viết sách riêng, để thỏa mãn dục vọng lớn. Bố và những người khác đều nằm trong kế ấy, mưu kế của Biện không gì không thực hiện. Thật là do lúc bàn việc ban tặng ban đầu, không xét đến tệ hại; nếu sớm tôn vinh danh phận, sao đến nỗi loạn lạc. Tội lỗi của Tư Mã Quang làm hại nước, sao kể xiết!

Tôi nghe rằng lúc đầu niên hiệu Hi Ninh, người luận tội An Thạch mà trúng tim gan ẩn giấu của ông ta, chỉ có Lã Hối mà thôi. Cuối niên hiệu Hi Ninh, người luận tội An Thạch mà trúng tim gan ẩn giấu của ông ta, chỉ có Huệ Khanh mà thôi.

Lời Lã Hối nói: ‘Kẻ đại gian tựa trung, kẻ đại nịnh tựa tín, bề ngoài chất phác, bên trong xảo trá, kiêu ngạo khinh trên, âm hiểm hại người.’ Lời Lữ Huệ Khanh nói: ‘An Thạch bỏ hết học vấn cũ, mà đề cao mưu lược tung hoành, cho là kỳ thuật. Đến nỗi gièm pha uy hiếp, che lấp hiền tài, kết bè đảng gian, chuyển giận làm hung, trái mệnh giả lệnh, lừa dối Vua, ép Vua, những tội ác ấy, không gì là không có. Dù kẻ thất chí làm ngược thời xưa, cũng chưa đến thế. Thanh danh một đời, một sớm tiêu tan, không biết An Thạch khổ sở vì điều gì mà làm thế. Mưu thân như thế, dùng để mưu nước, ắt không có kế lâu dài. Mà bệ hạ đã không thể thiếu ông ta, nên tôi khó nói.’

Lại nói: ‘Bệ hạ ngày thường đối đãi An Thạch như thế nào, An Thạch ngày thường tự nhận mình là người thế nào, không ngờ lúc nguy cấp lại đến thế!’ Lại nói: ‘Hiềm khích giữa Vua tôi, há vì An Thạch mà bỏ sao!’ Lại nói: ‘Những điều tôi nói, đều trúng tim gan ẩn giấu của ông ta.’

Tôi nghĩ rằng bề tôi nguyên Hựu, đối với lời Lã Hối thì khen quá, đối với lời Huệ Khanh thì chê quá. Hai vị bề tôi này, tuy hướng đi khác nhau, nhưng khi luận tội An Thạch, hiến trung với Thần Tông, thì lời nói của họ là một, sao có thể chỉ khen Lã Hối mà chê Huệ Khanh? Chê Huệ Khanh, đó là lý do khiến họ Vương càng thêm mạnh. Sự thiên lệch của Nguyên Hựu, há không đáng đau xót sao!”)

[43] Hữu Gián nghị đại phu Tôn Giác được bổ làm Cấp sự trung, vẫn kiêm chức Thị giảng như cũ. Hàn Chẩn đã bị bãi chức, Tôn Giác được thăng chức.

[44] Trung thư xá nhân Tô Thức được cử xem xét và định lại phép dịch.

Trước đó, Tô Thức tâu rằng:

“Thần trộm thấy khi Tiên đế mới ban hành phép dịch, quy định lấy tiền khoan thặng không được quá hai phần, để phòng khi có thiên tai, nhưng các quan thi hành quá mức, khắp thiên hạ lấy đến mười bốn, mười lăm phần. Tuy nhiên, phép này thi hành đã gần mười sáu, mười bảy năm, tiền tích trữ mà không dùng đến, lên đến hơn ba nghìn vạn quan thạch. Ý chỉ của Tiên đế vốn có dụng ý riêng, nhưng dân ngu không biết, cho rằng triều đình lấy danh nghĩa miễn dịch, thực chất là muốn thu thuế nặng. Lời này lan truyền, không thể để lại tiếng xấu cho hậu thế. Thần cho rằng số tiền này vốn xuất phát từ sức dân, lẽ ra phải trả lại cho dân dùng. Không may Tiên đế băng hà, ý chỉ muốn thi hành, dân không biết, chỉ thấy tích trữ mà không thấy phân phát. Đây là việc mà Thái hoàng thái hậu bệ hạ và Hoàng đế bệ hạ ngày nay nên xem xét lại, đem số tiền đó trả về phép dịch để phân phát, nhằm ngăn chặn lời nói vô tri của dân ngu, và tạo lợi ích lâu dài vô cùng cho đời sau.

Thần trộm thấy vào năm Hi Ninh từng thi hành phép cấp ruộng để mộ người làm dịch (Phép cấp ruộng mộ dịch bắt đầu thi hành vào ngày Tân Dậu, 24 tháng 5 năm Hi Ninh thứ 7, bãi bỏ vào ngày Quý Dậu, 13 tháng 4 năm Hi Ninh thứ 8). Phép này lấy ruộng công như ruộng bãi bồi, ruộng không có chủ, ruộng bị tịch thu, cùng với tiền khoan thặng mua ruộng của dân để mộ người làm dịch, đại thể giống như phép tuyển dân làm cung thủ ở biên quận. Khi thần làm Tri châu Mật Châu, đã tự thi hành phép này, trước hết mộ cung thủ, dân rất thuận tiện. Chưa đầy nửa năm, phép này lại bị bãi bỏ. Thần nghe nói rằng, phép này vốn xuất phát từ ý chỉ của Tiên đế, nhưng các đại thần bên cạnh muốn nhanh chóng thành công, lại muốn lợi dụng tiền khoan thặng cho việc khác, nên tranh cãi nhau, cuối cùng không thực hiện được.

Thần cho rằng pháp này thực hiện có năm điều lợi. Nếu triều đình vẫn theo phép miễn dịch cũ, thì mỗi khi tuyển một người, sẽ tiết kiệm được một phần tiền thuê, nhờ tích lũy số tiền tiết kiệm đó, càng mua càng tuyển. Xét đến cùng, vài năm tiền thuê không đáng kể, thì tiền dịch có thể giảm đáng kể. Nếu thực hiện phép sai dịch, thì mỗi khi tuyển một người, sẽ tiết kiệm được một phần tiền dịch[13], sắc dịch đã giảm[14], nông dân tự nhiên được nhẹ nhàng, đó là lợi ích thứ nhất. Dân ứng tuyển, giống như cung tiễn thủ, cả nhà ăn mặc đều nhờ vào ruộng công, bình thời coi trọng pháp luật, lúc nguy cấp không bỏ trốn, đó là lợi ích thứ hai. Hiện nay lúa rẻ làm hại nông dân, nông dân bán ruộng, thường khó bán được, nếu quan phủ mua, thì ruộng và lúa đều tăng giá, nông dân có thể đỡ khổ, đó là lợi ích thứ ba. Tiền tích trữ trong quan phủ, thường lo tiền nặng, nếu dùng để mua ruộng, thì tiền tệ sẽ cân bằng hơn, đó là lợi ích thứ tư. Pháp này thực hiện, dân hưởng lợi, nhớ lại việc tiên đế thu tiền khoan thặng, tất cả đều là vì ta dùng mà thôi! Nghi ngờ và chê bai sẽ giảm bớt, ân đức rõ ràng, đó là lợi ích thứ năm.

Chỉ có hai tệ nạn: Tham quan, gian lại cùng dân làm bậy, đem ruộng xấu nộp cho quan, thuê một kẻ lang thang tạm thời đi làm dịch, một năm nửa năm, rồi bỏ đi, đó là tệ nạn thứ nhất. Dân ngu thiển cận, thấy lợi quên họa, nghe quan phủ mua ruộng tuyển dịch, liền tranh nhau nộp ruộng, tự mình đi làm dịch. Nghề nghiệp không rời chủ, ban đầu không mất gì, lại đột nhiên được tiền quan, tất tranh nhau làm. Sau khi đi làm dịch, vĩnh viễn không nghỉ ngơi, họa đến con cháu, đó là tệ nạn thứ hai. Chỉ cần đặt ra biện pháp ngăn chặn hai tệ nạn này, còn pháp của tiên đế quyết không thể bỏ.

Ngày nay đã muốn bãi bỏ hoàn toàn tiền khoan thặng, tương lai sẽ không có kế sách gì. Mà số lượng ruộng đất thuộc quan lại không nhiều. Hiện tại tiền khoan thặng tuy có ba triệu quan thạch, nhưng từ khi có chiến sự đến nay, đã vay mượn gần một nửa. Thần nay đề xuất kế hoạch, muốn từ kho tiền bạc trong nội tàng khố, chi trả lại số tiền hộc đã vay mượn từ khi có chiến sự, khôi phục đủ ba triệu quan thạch, thực hiện pháp lệnh cấp ruộng và chiêu mộ dân phu ở ba lộ biên giới Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây, trong vòng năm đến bảy năm giảm bớt phần lớn lao dịch, nông dân giàu có, để phòng ngừa tình huống khẩn cấp, đây là lợi ích vô cùng vậy. Nay những người lính cung tiễn có giáp mã, được cấp hai khoảnh rưỡi ruộng, đây là lấy thân mạng đền đáp cho quan lại, mà vẫn có thể chiêu mộ, thì các loại lao dịch khác, chiêu mộ cũng không khó. Thần cho rằng hai khoảnh ruộng tốt, có thể chiêu mộ một lính cung tiễn, một khoảnh có thể chiêu mộ một tán tòng quan, như vậy ba triệu quan thạch có thể đủ dùng. Kính cẩn trình bày các việc cần thực hiện[15], vạch ra như sau: Một, cấp ruộng chiêu mộ dân phu, không cần nộp tô, vẫn nộp hai thuế như cũ, miễn chi di chiết biến.

– Nay tuy lấy một khoảnh hai khoảnh làm mức, nếu ruộng đất tại chỗ không tốt lắm, thì tùy thời xem xét, tăng thêm số mẫu, cốt sao cho việc chiêu mộ được thực hiện. Chỉ cần người lao dịch thu được lợi ích hơn một chút, thì pháp lệnh này sẽ bền vững lâu dài không hỏng.

– Nay nếu lập pháp, liền cho quan lại ba lộ thực hiện, nếu không có thưởng phạt, thì quan lại không chịu trách nhiệm, làm qua loa, có danh mà không có thực; nếu có thưởng phạt, thì quan lại sẽ tìm cách né tránh, hoặc ép mua ruộng, hoặc chiêu mộ kẻ lang thang, hoặc mua nhiều ruộng xấu, hoặc chỉ lo giải quyết tạm thời[16], không nghĩ đến hậu quả. Thần nay đề xuất kế hoạch, muốn chọn ba tri châu có tài năng và đức độ, cho họ tự chọn huyện lệnh thuộc quyền, mỗi lộ một châu, thực hiện trước, trong vòng một năm tạo nên quy củ. Một châu đã có quy củ, thì cả lộ có thể thực hiện. Vẫn giao cho chuyển vận, đề hình thường xuyên đôn đốc[17], nếu không thực hiện nghiêm túc, hoặc thực hiện sai phương pháp, triều đình phát hiện, sẽ xử phạt nặng.

– Những người ứng mộ lao dịch, đa phần là dân châu, huyện, ruộng đất mua của quan lại, nếu cách châu, huyện quá xa, thì lâu dần khó chiêu mộ. Xin quy định ruộng đất mua phải cách châu bao nhiêu dặm, cách huyện bao nhiêu dặm.

– Ra bảng cáo thị, dân bán ruộng nếu trong phạm vi quy định cách châu huyện, và đạt số khoảnh mẫu quy định, hoặc hai hộ ba hộ gần nhau, cộng lại đạt số khoảnh mẫu quy định cũng được. Phải báo trước với quan lại, lệnh, tá tự mình kiểm tra, xác nhận là ruộng tốt, mới được mua. Nếu giá quan định thấp, thì cho phép bán cho người khác, không được ép buộc. Nếu mua ruộng xấu, khiến lâu dần không chiêu mộ được, thì quan lại đều bị xử phạt vi chế, phân biệt cố ý hay sơ suất để định tội, và không được giảm tội vì đã thôi chức hoặc được ân xá.

– Trước tiên phải chuẩn bị số khoảnh mẫu ruộng sẽ cấp, ra bảng chiêu mộ người đăng ký ứng dịch, hộ thuộc đẳng cấp thứ hai trở lên được làm lính cung tiễn, vẫn theo quy định cũ chọn người tài. Hộ thuộc đẳng cấp thứ ba trở lên được làm tán tòng quan. Các loại lao dịch khác, không cần người bảo lãnh. Nếu đạt đẳng cấp, thì gọi một hộ đẳng cấp thứ nhất, hoặc hai hộ đẳng cấp thứ hai bảo lãnh. Nếu trong vòng bảy năm làm lao dịch mà bỏ trốn, thì bắt người bảo lãnh ban đầu phải nhận ruộng và làm lao dịch thay.

– Mỗi khi mua được ruộng, chưa được chi tiền, phải gọi người đăng ký nhận ruộng và làm lao dịch trước, rồi mới được chi tiền, và không được ép buộc. Một, bán ruộng cho quan lại, phải giao ruộng cho người ứng mộ, không cho phép người trong hộ nhận ruộng và làm lao dịch.

– Người ứng mộ lao dịch nếu già, ốm, bỏ trốn, chết, phạm tội đồ trở lên, thì phải bắt người trong hộ làm lao dịch thay. Nếu không có người, mới chiêu mộ người khác.

– Người ứng mộ sau khi nhận ruộng, được nghỉ nửa năm, để sửa sang ruộng đất.

– Ruộng đất thuộc quan lại như ruộng bãi bồi, hộ tuyệt, tịch thu, từ nay không được bán, và không giới hạn khoảng cách với châu huyện, vẫn căn cứ vào độ tốt xấu, cao thấp để định số khoảnh mẫu, cốt sao cho việc chiêu mộ được thực hiện.

– Ruộng đất thuộc quan lại nếu có người đang canh tác, phải hỏi người đó trước, nếu không có người để ứng mộ, hoặc tự nguyện không làm lao dịch, mới được chiêu mộ người khác.

Những điều trình bày trên về năm lợi, hai hại cùng mười hai sự việc cần thi hành, kính mong triều đình xem xét kỹ lưỡng rồi thi hành. Tuy nhiên, người bàn luận chắc sẽ có hai ý kiến: một là việc chiêu mộ không thực hiện được, hai là muốn giữ lại tiền và thóc dư để phòng việc khác. Thần xin có lời đáp lại. Nhà giàu có, với hai ba mươi mẫu ruộng, chia đôi lợi tức, sai khiến tá điền như nô lệ; nay quan phủ cấp hai khoảnh, một khoảnh ruộng tốt, có thuế mà không có tô, mà người ta không chịu nhận, lẽ nào có đạo lý như vậy?

Lại nữa, pháp lệnh về dân cung tiễn đã có sẵn, không có gì đáng nghi ngờ. Tiền dư từ việc sai dịch vốn không phải là khoản thu thường xuyên của ngân sách, cũng không phải là khoản quốc dụng cần chờ đợi để đủ dùng; nay giao cho các cơ quan, chi tiêu dần dần, rốt cuộc không thể lập nên việc lớn, tạo lợi ích vô cùng, giống như lửa đốt củi, ngày một tiêu hao; nếu dùng tiền mua ruộng để chiêu mộ dân làm dịch, ví như nhà tư đổi vàng bạc thành ruộng đất, đó mới là kế sách lâu dài vạn toàn. Thần tha thiết mong triều đình nhân lúc tiền chưa tiêu tán, lập nên việc này. Vài năm sau, tiền hết mà việc không thành, thật đáng tiếc.

Thần nghe nói người con hiếu là người khéo nối chí người, khéo kể việc người. Vũ Vương, Chu Công được ngàn đời ca ngợi, chỉ vì biết thực hiện chí của Văn Vương. Xưa Tô Xước vì nước Ngụy lập phép đánh thuế, bị cho là phiền phức nặng nề, sau đó than rằng: ‘Việc này như giương cung, người quân tử đời sau, ai có thể tháo được?’ Con ông là Tô Uy đứng bên, nghe vậy, cảm khái nhận lấy trách nhiệm. Đến khi Tô Uy làm Thượng thư Dân bộ dưới triều Tùy Văn Đế, tâu xin giảm thuế dịch, như lời Tô Xước, thiên hạ đều được lợi. Tô Uy làm bề tôi, còn biết hoàn thành chí của cha, nay việc cấp ruộng chiêu mộ dân làm dịch, đúng là ý của Tiên đế, Bệ hạ nên làm tốt việc của Vũ Vương, Chu Công, huống chi chữ hiếu nhỏ nhặt của Tô Uy, đâu đáng kể!

Thần được Tiên đế đối đãi, ơn bảo toàn, lại được Bệ hạ vượt bậc đề bạt, nghĩ đến mà rơi nước mắt, không biết lấy gì báo đáp. Mạo muội dâng kế, kính mong thương xét, thật may mắn! Chiếu đưa xuống cơ quan phụ trách pháp lệnh sai dịch.

(Nghị của Tô Thức đưa xuống cơ quan phụ trách pháp lệnh sai dịch, theo gia truyền của Thượng Quan Quân. Xét việc định rõ pháp lệnh sai dịch, vào ngày 28 tháng 2 năm Nguyên Hựu thứ nhất. Lại xét Tô Thức ngày 1 tháng 2 năm Nguyên Hựu thứ hai dâng nghị này, nói rằng soạn từ tháng 12 năm Nguyên Phong thứ tám, nhưng chưa kịp dâng lên. Nhưng Vương Nham Tẩu bác bỏ nghị của Tô Thức, nói rằng: “Vừa mới thi hành lại phép sai dịch được mấy ngày, Tô Thức đã có nghị này.”

Xét việc thi hành lại phép sai dịch, là ngày 6 tháng 2 năm thứ nhất, nếu Tô Thức không dâng nghị này, Vương Nham Tẩu làm sao bác được. Có lẽ Tô Thức soạn nghị này vào tháng 12 năm thứ tám, chưa kịp dâng, đến sau ngày 6 tháng 2 năm thứ nhất đã đưa ra.

Việc đưa xuống cơ quan phụ trách pháp lệnh sai dịch, hẳn là sau ngày 28 tháng 2, nay nhân việc Tô Thức định rõ pháp lệnh sai dịch[18], phụ vào ngày 6 tháng 4 năm thứ nhất. Cuối tháng 3 năm thứ hai, việc Vương Nham Tẩu bác nghị có thể khảo cứu.)

[45] Chiếu rằng: “Đã ban chỉ huy, Thái sư trí sĩ Văn Ngạn Bác đến kinh đô, được đứng riêng một hàng khi chầu, giảm lễ bái, lệnh cho các môn lấy chỉ, an trí tại viện Giới Đàn chùa Hưng Quốc để nghênh tiếp. Ngày triều kiến, ban yến tại viện Giới Đàn chùa Hưng Quốc. Tể tướng và các quan chấp chính dùng kiệu, đến chỗ xuống ngựa, có một người con cháu đỡ. Nghi thức ra vào theo như các tể thần đương nhiệm. Ban thêm cho Khách tỉnh theo lệ cấp mười ngày hầu cận, hai mươi quan đại trình, hai mươi người tùy tùng, mười quan tán tòng, tạm sai ba mươi binh sĩ Tuyên Vũ.”

[46] Trung thư tỉnh tâu: “Văn thư của Thượng thư tỉnh, từ trước đến nay do Tả, Hữu bộc xạ luân phiên chấp bút, nhưng chưa có thể lệ rõ ràng.” Chiếu lệnh cho Tả, Hữu thừa tạm thời luân phiên chủ ấn và chấp bút.

[47] Xu mật viện tâu: “Quân cấm ở kinh đô và phủ Khai Phong thiếu quân số, tuy đang chiêu mộ bổ sung nhưng chưa đủ. Dân bảo giáp trong kinh kỳ nhiều người đã thành thạo võ nghệ, có thể chiêu mộ bổ sung.” Chiếu rằng: “Lệnh cho các huyện do tri huyện và đô giám chuyên trách chiêu mộ bổ sung, lại ủy cho đề hình ty đề cử quản lý; các việc khác theo chỉ huy đã ban ở lộ Hà Bắc, những người đạt trình độ võ nghệ của thượng tứ quân, ngoài vật phẩm thường lệ, được tăng thêm tiền tùy theo mức độ.” Lại chiếu: “Bảo giáp ở phủ Khai Phong và ba lộ đã bãi bỏ việc tập trung huấn luyện, hàng năm không cử quan đến kiểm tra, chỉ lệnh cho họ tham gia các kỳ thi thử võ nghệ.”

[48] Ty Chuyển vận lộ Hoài Nam tâu: “Đề điểm nội tàng khố tấu, xin hạ lệnh cho ty thần các châu, quân theo đề cử ty chiết toán số tiền, lụa còn thiếu trong kho nội tàng, nhận khởi phát để bổ sung đủ hạn ngạch năm. Sau khi thấy chu sao của kho này, sẽ trừ khử, hoặc tính vào hạn ngạch năm sau. Mong rằng trong số còn thiếu được trừ khử, kéo dài thời hạn, dần dần khởi phát lên kinh; và ngoài số đã khởi phát của bản lộ, số còn thiếu chưa khởi phát, từ nay trở đi, chia đều làm năm năm để nộp. Nếu sau này tra cứu thấy kho nội tàng đã nộp chu sao, thì theo chỉ dụ ngày 20 tháng 10 năm Nguyên Phong thứ 7, lập tức trừ khử, hoặc tính vào hạn ngạch năm sau để thi hành[19].” Theo đó.

(Tân lục bỏ đoạn này.)

[49] Giám sát ngự sử Tôn Thăng tâu: “Tri quân Hưng Quốc Dương Hội, Thiêm thư sự phán quan sảnh Dương Châu Tiết độ Thẩm Quý Trưởng, phạm lỗi hình phạt nặng, tình hình không phải cố ý, bề tôi gần gũi khó tự trình bày, mong đặc cách cho họ được tố cáo và xử lý theo hồ sơ gốc đã thẩm tra.” Theo đó.

[50] Hình bộ tâu, xin lập pháp biên phối về việc tụ tập học sinh dạy văn thư kiện tụng và quy định về việc tố giác, bắt giữ. Theo đó.

[51] Ngày Giáp Ngọ, Triều tán đại phu Mã Mặc được bổ nhiệm làm Thiếu khanh Tư nông, Triều thỉnh đại phu, Thiếu khanh Tư nông Phạm Tử Uyên làm Tri châu Duyễn.

[52] Trung thư xá nhân Tô Thức tâu: “Thần xét, Tử Uyên hiện bị Điện trung thị ngự sử Lã Đào đàn hặc, vì việc tu sửa đê điều, khai sông, hao phí tiền của rất nhiều, cùng với việc người hộ đê bị chết đuối vô số. Từ năm Nguyên Phong thứ sáu khởi công, đến năm thứ bảy công trình vẫn không thành, tội của y còn nặng hơn Ngô Cư Hậu, Kiển Chu Phụ, xin hãy cách chức và đày đi. Nay lại được bổ nhiệm làm Tri châu Duyễn, thần muốn soạn lời trách phạt.”

Lại tâu: “Tấu chương của Lã Đào đã dâng lên, nhưng chưa có xử lý gì, mà châu Duyễn lại là trấn lớn, vốn là chức vụ dành cho các quan Giám ty trở lên, không phải là nơi để giáng chức những người có tội. Thần muốn không soạn lời trách phạt, nhưng vì Tử Uyên vô cớ bị bãi chức Thiếu khanh Ty Nông, đi nhậm chức ngoại quận, có lẽ là do việc bị đàn hặc này. Có điều nghi ngờ này, xin được chỉ thị rõ ràng.”

Cuối cùng soạn chiếu rằng: “Trẫm đối với sĩ đại phu chưa từng đòi hỏi hoàn hảo, chỉ muốn thử thách qua công việc để phát huy sở trường. Có ty tâu rằng ngươi trị thủy không có kết quả, hao tổn quốc khố, lao nhọc dân chúng mà công trình không thành. Trẫm nghĩ rằng chính sách thủy lợi khác với việc trị quận huyện, hãy xem ngươi cai trị dân chúng thế nào, hãy cố gắng lập công để chuộc tội trước.”

(Ngày Ất Dậu 28 tháng 3, Thực lục đã chép Mã Mặc làm Thiếu khanh Ty Nông, Phạm Tử Uyên làm Tri châu Duyễn, ngày 7 tháng 4 lại chép, không rõ vì sao. Tập của Tô Thức cũng nói là ngày 28, nay theo Thực lục, chỉ thấy vào ngày 7 tháng 4.)

Sau đó đổi làm Tri châu Hạp, chiếu cũng do Tô Thức soạn, rằng: “Ngươi dùng tài năng hạn chế, khởi công việc tất không thành; đuổi dân vô tội vào chỗ chết. Tiền của hao phí còn có thể bù đắp, nhưng dân đã chết không thể sống lại. Đó là lý do các nghị quan không thể bỏ qua, và Trẫm cũng không thể tha thứ cho ngươi.”

(Việc Tử Uyên bị giáng làm Tri châu Hạp không rõ ngày, nay phụ chép.)

[53] Ban cho A Lý Cốt một bộ y phục, một đai vàng 20 lạng, 200 lạng khí dụng bằng bạc, 200 tấm vải, mỗi loại trà cánh và trà bột 100 cân. Lại ban cho đại thủ lĩnh Lý Xa La Mạt, Trầm A Đương Lệnh 29.540 quan tiền.

[54] Ngày Ất Mùi, Triều phụng lang, Tả ty viên ngoại lang Cao Tuân Huệ được bổ nhiệm làm Trực Long đồ các, Thái bộc tự thiếu khanh.

(Tháng 4 năm Nguyên Phong thứ 8, Tuân Huệ mới được bổ làm Tả ty. Sách cũ chép rằng Tuân Huệ dâng sớ bàn về việc thay đổi pháp độ, việc có đúng sai, như việc thiết lập của Tiên đế, không nên bàn bạc sơ suất. Sách mới theo đó, nay ghi chép thêm ở đây. Tuân Huệ mất vào tháng 12 năm Nguyên Phù thứ 2, được đặc tặng Xu mật trực học sĩ, cáo từ chép rằng Tuân Huệ đầu năm Nguyên Hựu bàn việc rất ít, cần xem xét thêm.)

[55] Lại bộ lang trung Lương Đào được bổ làm Thái thường thiếu khanh, (Đào ngày 8 tháng 9 từ Công bộ chuyển sang Lại bộ.) Lại bộ lang trung Cố Lâm được bổ làm Bí thư thiếu giám, Thái bộc tự thiếu khanh Hàn Tông Đạo được bổ làm Tả ty lang trung, Ty huân lang trung Triệu Quân Tích được bổ làm Hữu ty lang trung.

(Cuối tháng 6 năm thứ 8, Tư Mã Quang tiến cử Quân Tích, Tông Đạo, Đào ba người.)

[56] Chiếu cho Khai Phong phủ giới và các lộ đề hình ty giao nộp việc của đề cử thường bình ty, nếu có việc nào có thể giảm bớt, hoặc việc cần chuyển giao cho chuyển vận đề điểm ty, thì lệnh phải trình bày rõ ràng tâu lên.

[57] Chiếu cho Trịnh châu và Hoạt châu đều thuộc về Kinh Tây lộ.

[58] Hộ bộ tâu: “Lại bộ thị lang Lý Thường tâu: ‘Dân bị lũ lụt trồng lúa mạch trên đất bãi giữa hai đê sông mới, mong thu hoạch một vụ để giúp đỡ người nghèo. Điều tra thấy lộ và châu, huyện thu thuế, đòi nợ, xin chiếu cho các cơ quan tạm tha, hoặc cử ngự sử cùng đi xem xét.’ Xin hạ lệnh cho Hà Bắc chuyển vận ty xem xét việc tâu, trình bày được hay không để tâu lên. Việc ủy thác cho quan ty thu thập, và cử ngự sử, xin lệnh triều đình chỉ đạo.” Chiếu ủy thác cho quan ty thu thập, lệnh bộ này thi hành, còn lại theo đó.

[59] Tri phủ Thành Đô là Hứa Tướng tâu: “Thiên Chương các đãi chế Lý Đại Lâm ở phủ này cư trú, là bậc tiên tiến nhất trong hàng nho thần, nay đã qua đời, sĩ luận đều tiếc thương, mong ban ân ghi chép và hỗ trợ việc tang lễ.” Chiếu ban đặc biệt 300 quan tiền, và tại phủ Thành Đô, khi cử hành tang lễ sẽ tùy nghi hỗ trợ.

(Lý Đại Lâm mất vào tháng 2 ngày Tân Tỵ, Lữ Công Trước ghi chép, khi xử lý việc nói: “Lý Đại Lâm e rằng nên có sự ban thưởng.”)

[60] Ty án sát lộ Giang Nam Tây và Kinh Hồ Nam tâu: “Thông phán Lộ Thích, quản câu việc muối ở Hưng Quốc quân, trong tờ trình có nói hộ buôn muối là Vương Cao cáo rằng ‘huyện này ép buộc phải đầu sung.’ Ty này đã gửi văn thư yêu cầu sửa đổi, nhưng lại nói Vương Cao vọng cáo, rõ ràng là ngu muội.” Chiếu lệnh Lộ Thích bị thay thế đặc biệt.

[61] Chiếu: “Điều luật về việc bảo chính, trưởng nhận hối lộ tài vật theo pháp biên phối của đoàn đầu không được thi hành nữa. Nếu phạm tội, xử theo luật thường. Những người đã bị biên phối theo điều luật trên, đều được đặc cách tha về.” Theo đề nghị của Tuyên Nghĩa lang Lưu Nghị.

(Sách mới không ghi.)

[62] Lễ bộ tâu: “Ngày Khôn Thành tiết của Thái hoàng thái hậu, đã có chỉ triều đình, các ân lễ đều tăng gấp đôi, ngoài ra, các vật phẩm cung phụng theo mùa cũng nên tăng gấp đôi. Xin ban xuống cho sở Tường định sắc thức biên soạn thi hành, không tăng thêm phụng.”

(“Không tăng thêm phụng”, chắc có sai sót. Sách mới và cũ đều ghi như vậy, cần xem xét.)

[63] Lại tâu: “Điều lệ về Thái học sinh ở Quốc tử giám[20], mỗi tháng thi riêng, một viên Thừa hoặc Bạ phụ trách niêm phong, quan Luật học tuần tra ngoại xá, vốn do Nội thị tỉnh cử một viên nội thần, và xin triều đình hai viên quan niêm phong, một viên văn thần tuần tra. Xét thấy việc tuần tra ngoại xá liên quan đến ngày thi đại nghĩa, chỉ là đánh số riêng, việc cử quan nên theo pháp thi riêng.” Được chấp thuận.

(Sách mới không ghi.)

[64] Kinh Hồ Nam Lộ chuyển vận ty tâu: “Theo điệp của Quảng Đông đề cử thường bình ty, y theo pháp luật về muối, đã ứng phó tiền cước thặng và tiền vốn muối Quảng Đông, điệp bản ty mua bạc để khởi phát lên kinh đô nộp. Tuy đã hạ lệnh các nơi thu mua, nhưng đến nay số bạc mua được không nhiều. Xin chỉ dùng tiền hiện có thêm vào theo số lượng cũ, khởi phát lên kinh đô nộp. Từ nay về sau, nếu không có bạc để thu mua, xin khởi phát tiền hiện có.” Triều đình đồng ý.

(Không có trong bản mới.)

[65] Môn hạ, Trung thư ngoại tỉnh tâu: “Lấy được các điều lệ về quan chế của Hộ bộ Tả hữu tào, Độ chi, Thương bộ, cùng các văn bản từ các nơi gửi đến và các án quyển, sắc lệnh tiếp tục ban hành sau khi thi hành quan chế cũ của Tam ty, tổng cộng mười lăm nghìn sáu trăm mấy chục bản. Trừ những sắc lệnh đã được ghi chép trong Hải hành sắc lệnh sở và đã được xóa bỏ, các cơ quan khác đang biên soạn thì gửi văn bản riêng, còn những việc chưa thuận tiện và thuộc về các tào khác cần giao cho cơ quan có thẩm quyền, đều được sửa đổi, xóa bỏ những phần trùng lặp, bổ sung những chỗ thiếu sót. Đã biên soạn được một nghìn sáu trăm mười hai bản sắc lệnh, cách thức, cùng xóa bỏ các chỉ thị tạm thời, tổng cộng sáu trăm sáu mươi hai tập, và một tập giải thích rõ ràng, xin ban hành trước, lấy tên là Nguyên Phong Thượng thư Hộ bộ Độ chi Kim bộ Thương bộ sắc lệnh cách thức. Tất cả các điều lệ trước cuối tháng sáu năm Nguyên Phong thứ bảy, đã được sửa đổi, sẽ không được sử dụng nữa. Các điều lệ từ tháng bảy trở đi sẽ trở thành sắc lệnh sau.”

Lại tâu: “Vật phẩm cung cấp cho triều đình, trước đây Tam ty tuy có đặt lại để thúc giục, nhưng không có người tổng quản. Chỉ căn cứ vào các án gửi đến để ghi vào sổ, nếu có việc không đến, thì theo thói quen; qua thời gian dài, quan lại thay đổi, không có cách nào kiểm tra. Nay Hộ bộ tuy có phân chia chức trách, Độ chi quản lý kế hoạch hàng năm, Kim bộ căn cứ vào số liệu từ Độ chi để thúc giục, nhưng không có quy tắc rõ ràng. Bản tỉnh trước đây đã lấy các tài liệu, muốn biên soạn thành sách, nhưng các văn bản trong các án không có gì để đối chiếu. Đã hỏi các kho vụ, tìm kiếm các sổ sách cũ, đối chiếu lẫn nhau, biên soạn thành quy tắc. Trong đó có những việc chưa đầy đủ, tuy căn cứ vào những gì thấy được gửi về bộ xem xét, nhưng vì liên quan đến các lộ, vẫn lo có những việc chưa thống nhất. Xin lệnh cho bộ lấy các tài liệu để kiểm tra, nếu có những việc chưa đầy đủ, không thống nhất, thì bổ sung thêm.” Đều được chấp thuận.

[66] Ty Đề điểm hình ngục lộ Hà Bắc Tây trình bày: “Theo chỉ dụ triều đình, các quan đề cử tích trữ tiền, lương thực, tài vật, đều chuyển thành tiền vật của kho Thường Bình, nhưng không nói đến việc thay đổi việc phong trang và chuyển đổi ở năm lộ. Chỉ dụ triều đình, Bộ Hộ xét ba lộ, lệnh các khoản tiền, lương thực của Thường Bình, miễn dịch, trường vụ, dùng số dư chuyển đến nơi các quan suý thần và các châu biên giới trọng yếu để phong trang. Xem xét các loại tiền, đã có chỉ dụ trên, tức không còn số dư để chuyển đổi.” Chiếu lệnh văn trước đây, không thi hành nữa.

[67] Lang trung Tả ty Bộ Hộ là Trương Nhữ Hiền tâu: “Thần nghe nói từ đầu niên hiệu Hi Ninh, triều đình bàn luận, ban đầu vì quốc dụng không đủ, nên đặt ra các phép quản lý tài chính, sau đó lợi tức ngày càng nhiều, chi phí cũng tăng theo, không còn như trước. Nay đã có sự thay đổi, từ nay về sau, thu nhập sẽ lại có hạn, chi phí điều độ không thể không tiết kiệm. Xin các ty Chuyển vận ở các lộ, tính toán xem trước niên hiệu Hi Ninh, mỗi năm thu được bao nhiêu? Chi tiêu bao nhiêu? Ngoài các khoản thường cung của triều đình, các khoản không thường xuyên cần thiết, mỗi năm là bao nhiêu? Sau niên hiệu Hi Ninh, mỗi năm thu được bao nhiêu? Chi tiêu bao nhiêu? Các khoản không thường xuyên cần thiết của triều đình, mỗi năm là bao nhiêu? Và nêu rõ chi phí của từng việc, do phép nào mà có, nay phép đó đã thay đổi, thì chi phí đó có thể bãi bỏ. Cốt yếu là tiết kiệm những khoản không cấp thiết, lượng thu để chi, thì sẽ không còn lo thiếu hụt về sau.” Triều đình nghe theo.

(Cựu lục chép: “Tiên đế quản lý tài chính, tiết kiệm chi tiêu, Nhữ Hiền phụ họa cho là những khoản không cấp thiết, muốn bãi bỏ.” Tân lục biện rằng: “Tính toán chi tiêu từ niên hiệu Hi Ninh, so sánh với thu chi niên hiệu Nguyên Hựu, những khoản nên tiết kiệm thì tiết kiệm, đó là tuân theo ý của Thần Tông về quản lý tài chính và tiết kiệm, cho là phụ họa là không đúng. Từ ‘Tiên đế quản lý tài chính’ đến ‘muốn bãi bỏ’ xóa bỏ 19 chữ.”)

[68] Giám sát ngự sử Thượng Quan Quân tâu: “Thần nghe rằng tài chính xuất phát từ một cơ quan, thì việc có hay không, nhiều hay ít đều có thể thông suốt, sai sót hay trộm cắp đều có thể kiểm tra, do đó tài sản không bị lãng phí, và quốc gia không lo lắng về việc thiếu hụt. Sau đó mới có thể làm giàu sức dân, và ân trạch của nhà Vua sẽ lan tỏa khắp thiên hạ. Thời Chu, Thái phủ quản lý chín loại cống nạp, chín loại thuế, và chín loại công lao, tiếp nhận các loại bảo vật, dùng để phục vụ cho việc ăn mặc của nhà Vua, tiếp đãi khách, tế tự, ban thưởng, và các đồ chơi quý giá, tất cả đều do Thái phủ quản lý. Cuối năm, họ kiểm kê số lượng bảo vật xuất nhập, có thể nói là tài chính xuất phát từ một cơ quan. Do đó, việc có hay không, nhiều hay ít đều có thể thông suốt, sai sót hay trộm cắp đều có thể kiểm tra, và quốc gia không lo lắng về việc thiếu hụt.

Từ thời Hán đến thời Đường, việc quản lý tài chính và thiết lập chức quan không được chi tiết và đầy đủ như thời Chu, việc tính toán thu chi cũng không được chặt chẽ như thời Chu, nên triều đình và dân chúng luôn lo lắng về việc thiếu hụt[21], chẳng phải là điều dễ hiểu sao? Triều đình trước đây từ khi thiết lập chế độ quan chức mới, đã có ý định hợp nhất việc quản lý tài chính vào một cơ quan; do đó, Kim bộ Hữu tào phụ trách việc tiếp nhận bảo vật từ nội tàng, chi trả, và đôn đốc thu thuế, còn Phụng Thần và Nội tàng khố tiếp nhận, lại thuộc về Thái phủ tự. Tuy nhiên, xét về nhiệm vụ của họ, chỉ là báo cáo số lượng bảo vật nhập vào, số lượng còn thiếu, và đôn đốc thu thuế hàng năm mà thôi. Còn việc chi tiêu nhiều hay ít, không được kiểm toán, sổ sách sai sót, không được kiểm tra, bảo vật lâu ngày hư hỏng, không được chuyển đổi. Người quản lý tổng thể chỉ là vài chục quan viên trong cung[22], họ chỉ biết cẩn thận khóa cửa, bịt kín cửa sổ, cho rằng như vậy là an toàn.

Thời bình lâu dài, bảo vật chất đống như núi, nhiều đến mức không thể kiểm kê, đến nỗi mục nát, hư hỏng, mà không ai biết, làm sao có thể kiểm tra được số lượng xuất nhập và số lượng dự trữ? Thần nghe nói gần đây, nội tàng bán các loại lụa cũ từ nhiều năm trước, mỗi tấm chỉ được hai ba trăm đồng. Từ các quận xa xôi vận chuyển đến kho nội tàng, giá mỗi tấm lụa phải gần hai ngàn đồng, nay bán đi chỉ được một phần mười hoặc hai phần mười, đây là do không biết cách chuyển đổi và sử dụng. Không biết quản lý tài sản trong kho, lại đòi hỏi từ dân, không biết cách tiết kiệm, lại tính toán thu nhiều, đây là tội của các quan chức. Thần cho rằng nên theo ý của chế độ quan chức, lệnh cho Hộ bộ và Thái phủ tự kiểm tra các kho nội tàng, và chuyển đổi các loại tiền tệ cũ, như vậy kho tàng sẽ có nhiều tài sản, mà không lo lắng về việc hư hỏng, quốc gia đủ dùng và dân chúng giàu có.”

(Lời tấu của Quân được cân nhắc ghi chép ở đây, không rõ ngày tháng và việc có được chấp thuận hay không.)


  1. Cũng là cách thần tử có thể an nhiên xử sự, 'cũng' nguyên là 'nhất', âm gần mà lẫn, theo bản các và 《Trung túc tập》 quyển 4 《Thỉnh Văn Ngạn Bác bình chương trọng sự sớ》 sửa lại.
  2. Thần nghĩ rằng kỳ thi mùa thu năm tới 'thi' chữ này nguyên bản thiếu, căn cứ vào các bản và 《Tống sử》 quyển 339, truyện Tô Triệt bổ sung.
  3. Tấu chương của Tư Mã Quang vào ngày 5 tháng 2 '2', các bản chép là '3'.
  4. Việc đặt quan chức là gốc 'đặt' nguyên bản là 'trị', căn cứ vào các bản sửa.
  5. 'thực' nguyên là 'thảng', theo bản trong các kho và 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 quyển 52, tờ chẩn tế sửa lại.
  6. 'Lợi' nguyên là 'Biệt', theo 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 sửa lại.
  7. Trong sách 《Tống sử》 quyển 158, phần Tuyển cử chí, chữ 'ty' có thêm chữ 'Ngoại'.
  8. 'Quảng' trong 'trại Quảng Bình ở Minh Châu' nguyên bản là 'Đông', căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 198, chí Binh chế, Mã chính sửa lại.
  9. Từ 'Tiên đế gửi ngựa cho dân' đến 'đến nay lại khôi phục', chữ 'đến' trước 'đến nay' nguyên bản thiếu, căn cứ ý văn bổ sung.
  10. Chuyển lên trên: 《Ôn Quốc Văn Chính Tư Mã Công Văn Tập》 quyển 63, thư gửi Lữ Hối Thúc, chữ 'chuyển' viết là 'triếp'.
  11. Lấy đạo tự nhận: chữ 'nhận' nguyên là 'tại', theo bản hoạt tự và ý văn sửa lại.
  12. Ban ân điển trọng hậu: chữ 'tặng' nguyên là 'tăng', theo các bản khác và bản hoạt tự sửa lại.
  13. tiết kiệm được một phần tiền dịch 'tiền dịch', trong 《Đông Ba tấu nghị tập》 quyển 2, bài 'Luận cấp điền mộ dịch trạng' viết là 'sắc dịch'. Xét thấy đã tuyển dân làm dịch, tự nhiên sẽ tiết kiệm được sắc dịch, và câu sau cũng nói đến 'sắc dịch', nghi ngờ bản in gốc có sai.
  14. sắc dịch đã giảm 'sắc' nguyên bản viết là 'miễn', căn cứ vào bản các và 《Đông Ba tấu nghị》 sửa lại.
  15. 'Kiện' nguyên là 'bạn', theo các bản và bản hoạt tự sửa lại.
  16. 'Biện' nguyên là 'biện', theo các bản và bản Đông Ba tấu nghị sửa lại.
  17. 'Thiết' nguyên là 'thiết', theo các bản và bản Đông Ba tấu nghị sửa lại.
  18. nên là sau ngày 28 tháng 2 nay nhân việc Tô Thức định rõ pháp lệnh sai dịch 'sau nay' hai chữ nguyên bản đảo ngược, văn tự không thông, theo bản các sách sửa lại.
  19. hoặc tính vào hạn ngạch năm sau để thi hành, các bản đều giống nhau. Xét ý văn, chữ 'dữ' dưới dường như thiếu chữ 'lí', câu trên đã có 'hoặc tính vào hạn ngạch năm sau'.
  20. Bản các không có chữ 'sinh'.
  21. 'lo lắng' nguyên văn là 'ti ti', theo các bản khác sửa lại
  22. 'chỉ' nguyên văn là 'chính', theo các bản khác và ý nghĩa sửa lại

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.