VII. TỐNG TRIẾT TÔNG
[BETA] QUYỂN 446: NĂM NGUYÊN HỰU THỨ 5 (CANH NGỌ, 1090)
Từ ngày Quý Tỵ tháng 8 năm Nguyên Hựu thứ 5 đời Triết Tông đến ngày Đinh Mùi cùng tháng.
[1] Tháng 8, ngày Quý Tỵ (mùng 1), Hộ bộ tâu: “Ruộng cấp cho người quy thuận, nếu có chỗ trở ngại hoặc cằn cỗi không thể cày cấy, xin quan xét thực để cấp lại.” Vua theo.
[2] Ngày Giáp Ngọ (mùng 2), xuống chiếu cho quyền Thị lang cùng tham gia hội nghị hàng ngày.
[3] Chiếu cho Viên ngoại lang Hộ bộ Mục Diễn đến Hi Hà Lan Mân lộ thay Tôn Lộ bố trí ruộng đất cho dân quân cung tiễn.
(Theo bài văn bia Mục Diễn của Trương Thuấn Dân chép: “Năm Nguyên Hựu thứ nhất (1086), cùng Tôn Lộ đến Hi Hà, xem xét bố trí tài chính biên phòng. Bấy giờ có đại thần muốn bỏ đất Hi Hà, bàn cãi chưa ngã ngũ, một đồng liêu đã tin theo ý ấy, bảo ông rằng: ‘Chuyến đi này có thể tự quyết định, nếu không, sẽ thành gánh nặng.’ Ông từ tốn đáp: ‘Chỉ xét lợi hại thế nào, việc vương sự chưa xong, đâu rảnh lo cho thân?’
Khi về triều, ông xin giao việc kinh lược lại cho Tào ty, đề xuất bãi bỏ 27 việc gây hại cho công tư, giảm chi phí hàng năm hơn 1.900.000 quan tiền. Lại cùng Tôn Lộ bàn việc biên giới, đại lược cho rằng bỏ Lan Châu thì Hi Hà nguy, bỏ Hi Hà thì Quan Trung rung động. Nhà Đường từ khi mất Hà Hoàng, hễ Thổ Phồn, Hồi Hột bất phục thì giặc đã đến cửa khuyết. Đến nay hơn 200 năm, nếu không nhờ tiên đế anh vũ thì ai có thể khôi phục? Nay một sớm giao cho kẻ địch tham lam không chán, e chẳng ngăn được giặc, chỉ thêm họa sau này. Việc Hi Hà, Lan Châu cuối cùng không bỏ, là nhờ sức ông vậy.”
(Ngày 12 tháng giêng năm thứ nhất, Tôn Lộ và Mục Diễn cùng nhận mệnh, việc này đã phụ chép vào ngày đó.)
Năm thứ tư (1089), người Hạ sai sứ vào chầu, muốn đổi bốn trại cùng Tắc Môn trại đã trả lại để lấy đất ban thưởng, triều đình lo lắng, chưa quyết định. Sai ông tiếp sứ, ông dùng lý lẽ bẻ gãy, sứ giả không biết nói gì phải ra về.
Sau đó, sứ Hạ vào chúc mừng tiết Hưng Long, Khôn Thành, đều sai ông tiếp đón, sứ giặc có điều muốn nói nhưng đều sợ ông nên thôi.“
Theo truyện Mục Diễn, đây là việc người Hạ muốn đổi bốn trại đã trả lại để lấy Lan Châu, chỗ này chép “cùng Tắc Môn trại” là lầm chữ.
Văn bia lại chép: “Việc phân chia địa giới Hi Hà bàn mãi không xong, sai ông đi xem xét. Khi về, ông tâu rằng Chất Cô, Thắng Như chiếm hai dải ruộng tốt[1], thực là đất Hán – Phiên tất tranh, từ khi thất bại ở Tây Quan liền bỏ không giữ, nên đặt giới hạn giữa hai lũy, xây thành Lý Nội Bành để khống chế yếu địa. Lại tâu các nơi Nạp Khắc Mật, Nỗ Trát, Thiển Tỉnh, Long Nặc Đặc đều nên dựng đồn ải để thông viện binh Kinh Nguyên. Năm sau xây Lý Nội Bành, đặt tên là Định Viễn thành, là dùng kế của ông vậy.” Bản truyện dựa theo đây.)
[4] Ngày Ất Mùi, Thái hoàng thái hậu ban chiếu, do việc hoàng đế sắp lập hoàng hậu, nên lệnh cho quan Thái thường và các quan Lễ bộ tra cứu kỹ lục lễ xưa nay, tham khảo điển lệ trong 《Thông lễ》, ghi rõ các nghi tiết, định thành quy thức, các ty xét kỹ rồi mới thi hành. Theo đề nghị của Tể tướng Lã Đại Phòng và các quan.
[5] Hộ bộ tâu: “Quan viên xin chuyển lương bổng sang châu khác, phải có ba quan bảo lãnh. Nếu không đủ quan cùng ngạch, thì được phép dùng quan khác ngạch.” Được chấp thuận.
(Bản mới không ghi.)
[6] Hình bộ tâu: “Đại tướng trong quân sung chức sứ thần sai phái, vốn đã có phép, nếu đáng được thưởng thì đều theo phép của sứ thần giảm một nửa. Nếu theo phép được chỉ định sai phái, thăng thứ bậc hay miễn nhiệm vụ ngắn hạn, cũng xin áp dụng theo điều lệ sứ thần.” Được chấp thuận.
[7] Đề điểm hình ngục lộ Quảng Nam Đông là Trình Chi Nguyên tâu: “Các quan trong triều dâng sớ nói quan lại các quận huyện châu Thiều giao kết với Thái Thạc, ở nơi bán dầu lương, mỗi 1.000 chiếu thiếp chỉ bán vài trăm, rồi liều pháp vượt cấp cấp tiền kho cho Thạc, thu lợi dư hơn 1.000 quan. Đã giao cho lộ này điều tra tâu lên. Thần tra xét việc Thạc mua hội tử chì, thiếc ở trường Tư Khê, Mật Trại châu Thiều, trong đó có mua chì của lò chưa nộp, làm giả tên để bán nộp. Những lò này tuy đã lập văn tự bán chì cho người, đáng lẽ được nhận 5 phần giá trị, nhưng quan không có tiền cấp, chuyển vận ty lệnh chi 4 phần, mà Thạc lại xin 10 phần, tổng 16.000 quan, tính lời dư hơn 7.000 quan.” Lại bộ Kim cũng tâu Thạc còn nợ tiền vật liệu quân khí hơn 10.000 quan, vàng 55 lạng, bạc 638 lạng, sa the v.v.
Chiếu lệnh: số vốn mua hội tử chì thiếc của Thạc phải đền nộp vào số nợ quan, số lời dư 7.000 quan sung công, các quan lại châu Thiều đều giao cho Ty đề điểm hình ngục tra xét tâu lên.
(Sách 《Chính mục》 ngày 18 tháng 5 đã chép việc tra xét Thái Thạc; ngày 4 tháng 8 lại chép: quan hình Quảng Đông là Trình Chi Nguyên xét việc Thạc mua chì thiếc trả giá 4 phần mà 3 lần xin 10 phần tiền 16.000 quan, lời quan hơn 7.000 quan, giao ty này tra xét, đem vốn trả nợ quan, số còn sung công, các quan chi trái phép phải tra tâu. Ngày 18 tháng 5 là do tờ tâu của Tôn Thăng, ngày 4 tháng 8 Trình Chi Nguyên lại tâu đủ.)
[8] Ngày Bính Thân, ban chiếu rằng: “Môn hạ thị lang Lưu Chí nhiều lần dâng sớ xin ra ngoài nhậm chức, đã có chiếu không chuẩn. Nay lệnh cho các nơi liên quan, nếu lại có văn thư [xin từ chức] thì không được nhận hay chuyển dâng lên.” (Theo《Ngự tập》.)
Điện trung thị ngự sử Dương Khang Quốc tấu: (Biên vào loại chương sớ ngày 4 tháng 8.) “Thần nghe Môn hạ thị lang Lưu Chí từ chối ân sủng, khẩn thiết xin ra ngoại quận, việc lan truyền khắp kinh đô, trên dưới đều kinh ngạc. Bởi Chí tài cao thức rộng, công chính không thiên vị, có điều vượt trội người thường, không chỉ thiên hạ đều biết mà Bệ hạ cũng đã biết từ lâu. Vì thế từ Thị ngự sử được thăng lên Chấp chính, trong ba bốn năm trải khắp ba tỉnh, thanh danh càng lớn. Ông tự thấy ân sủng dày trách nhiệm nặng, dám xin lui, tuy với Chí là việc tốt nhưng với người khác thì khó. Việc này trong triều rất hệ trọng, há nên dễ dàng nghe theo? Thần nghe Dương Uyển ở triều đình, lòng người tự hóa; Cấp Ám tại chức, Hoài Nam ngừng mưu. Đức vọng của đại thần khi tiến khi lui đều quan hệ đến vận nước, sao có thể không thận trọng? Thần ngu chức trách can gián, là tai mắt của Bệ hạ, thấy nghe điều gì đâu dám sợ tội im lặng? Kính mong Bệ hạ xét lại, sớm ban chỉ dụ, lệnh các nơi không nhận văn thư xin từ chức của Chí, bắt ông trở lại tỉnh như cũ, cùng hai ba vị Chấp chính chung sức phò tá, cùng đạt thái bình, thiên hạ may lắm thay!”
Thiếp hoàng: “Lời thần hôm nay không vì Lưu Chí mà vì thể chế triều đình. Mong Bệ hạ soi xét.”
[9] Đề điểm hình ngục lộ Lưỡng Chiết Vương Du được bổ làm Hình bộ viên ngoại lang.
(Ngày 2 tháng 9, Tôn Thăng có nói việc này.)
[10] Ngày Đinh Dậu, rợ Long ở Tây Nam cống vật địa phương.
[11] Hình bộ viên ngoại lang Vương Bách được bổ làm Đề điểm hình ngục lộ Hoài Nam Tây.
[12] Hộ bộ tâu: “Các trường vụ đấu thầu bị thua lỗ, không có người nhận mua, cho phép tự trình báo, cử quan viên khảo sát giảm định số tiền để tiếp tục nộp, sau đó niêm yết số giảm đó để chiêu mộ người, hoặc tăng giá cho người nhận mua. Nếu không có ai nộp đơn, lại cử quan viên giảm định tiếp. Nếu giảm đến hơn 5 phần mà vẫn không có người nộp đơn, thì báo lên Đề hình ty cử quan cùng châu huyện đó giảm tiếp, niêm yết như quy định trước. Nếu giảm đến 8 phần mà vẫn không có người nhận mua, thì báo Đề hình ty xem xét tạm đình chỉ hoạt động rồi tâu lên.” Được chấp thuận. (Không ghi trong 《Tân》).
[13] Ngày Mậu Tuất, Tam tỉnh và Xu mật viện tâu: “Số tiền, lụa từ biên chế khuyết của Cấm quân trước thuộc Xu mật viện, chỉ để phong tồn, chưa từng chi dùng. Xin theo cách thu thuế, nếu có khoản chi phi thường thì cùng Tam tỉnh, Xu mật viện xin chỉ để thi hành.” Được chấp thuận.
[14] Cùng ngày (6 tháng 8), Môn hạ thị lang Lưu Chí trở lại nhiệm sở làm việc như cũ.
[15] Lưu Chí giữ chức Trung thư thị lang, ban đầu do việc ở phòng định biên chế quan lại bất đồng quan điểm với Tả bộc xạ Lã Đại Phòng, sau đó Chí được điều làm Môn hạ thị lang. Khi các quan ngự sử cùng công kích Đại Phòng, Đại Phòng cáo bệnh không ra triều, Chí thường tâu trình trước mặt Vua về đầu đuôi việc định biên chế, nói: “Đây đều là do những người bị giảm biên chế xúi giục oán hận, lời đồn đại quá sự thật, không đáng trị tội nặng.”
Sau này Đại Phòng nói với người khác: “Khiến thánh thượng hiểu rõ không nghi ngờ, phần lớn là nhờ công sức của Lưu Môn hạ.” Tuy nhiên, những kẻ sĩ đại phu ham lợi tranh giành giữa họ, cho rằng Đại Phòng và Chí từ đó sinh hiềm khích, bèn dựng lên luận điệu bè phái. Chí nói với Đại Phòng: “Chúng ta trong lòng biết không có gì khác, nhưng dư luận bên ngoài như thế, không phải là điều triều đình nên có, mong tạm lánh đi.” Đại Phòng đáp: “Tôi cũng định xin từ chức.”
Ngày Canh Dần tháng 7 (27 tháng 7), sau khi tâu việc xong, Chí ở lại một mình, tâu rằng: “Thần ở gần bệ rồng đã lâu, bình đầy ắt đổ, xin được nghỉ hưu, nhường đường cho người hiền.” Lui ra, liên tiếp dâng sớ, ra ở nhà riêng, quyết xin được chấp thuận.
Vua sai hoạn quan triệu Chí vào gặp, Thái hoàng thái hậu dụ rằng: “Thị lang chưa được đi, phải đợi khi hoàng đế thân chính, sau đó mới được đi.” Sai nhiều sứ giả thúc giục vào làm việc, Chí đành phải nhận mệnh. Không lâu sau, Đại Phòng xin từ chức, không được chấp thuận. Đến khi Chí thăng Hữu bộc xạ, cùng Đại Phòng đồng chức, chưa đầy một năm, các quan gián nghị tranh nhau công kích Chí, Chí sớm bị bãi chức, luận điệu bè phình từ đó không thể phá bỏ, căn nguyên bắt đầu từ việc định biên chế.
(Theo hành trạng của Lưu Chí do Lưu Phỏng soạn và lời tựa tập văn của Lưu An Thế, bản truyện mới về Lưu Chí đại thể dựa theo sách của Lưu Phỏng. Lưu Phỏng nói “Chí ra ở nhà riêng ngày 1 tháng 8”, nhưng theo ghi chép của Chí là ngày 2 tháng 7, nay theo ghi chép của Chí. Chí làm Trung thư thị lang ngày 6 tháng 4 năm thứ 3, làm Môn hạ thị lang ngày 17 tháng 11 năm thứ 4, làm Hữu bộc xạ ngày 2 tháng 2 năm thứ 6. Việc định biên chế ghi ở cuối tháng 6, và ngày 18 tháng 8 ghi riêng.
《Nhật ký Lưu Chí》 chép: “Ngày 27 tháng 7, trai giới ở bản tỉnh để chuẩn bị tế lễ mùa thu. Sáng sớm hôm đó, tâu việc ở điện Diên Hòa xong, ở lại xin ra ngoài, được dụ không cho, khẩn khoản cầu xin, lạy hai lạy rồi lui, nộp biểu ở ty Thông tiến. Có chỉ: Không cho phủ Đông dọn ra. Ngày hôm sau, theo Vua từ cung Cảnh Linh về đến cửa Đoan, liền vào, rồi quay ngựa về phía nam, tạm trú ở vườn họ Tào chờ mệnh.
Ngày Quý Tỵ mùng 1 tháng 8, lại dâng biểu, phê không chấp thuận. Hoạn quan Diêm An từ vườn Tào áp giải vào, theo ban tâu việc xong, ở lại một chút, lại khẩn khoản. Được dụ vỗ về nhiều lần, vẫn không có chỉ chấp thuận. Lui ra, lại dâng trát tử rồi lên ngựa. Hôm đó, có chỉ các nơi không được nhận chương tấu bên ngoài. Ngày mùng 5 canh năm, niêm phong trả lại sớ tấu, Trần Diễn áp giải vào, gặp Diễn ở hậu đường bản tỉnh, dâng sớ ở điện Thùy Củng. Ngày mùng 6, tâu việc xong, ở lại một chút để gặp mặt.”
Sách 《Chí tư ký》 chép: “Ta xin từ chức, lẽ nào là tùy tiện? Ta xuất thân hàn vi, được đề bạt bốn năm rồi, thực quá sức mình, với nước chẳng có công lao gì rõ rệt, lại ngăn trở đường của người hiền, nên biết dừng, đó là lý do thứ nhất có thể từ chức. Việc chính sự thời Nguyên Hựu, những người tham gia từ đầu đến cuối còn lại không mấy, chỉ còn ta với Vi Trọng, những người khác đến sau, người xa nhất mới chỉ một năm.
Tuy chưa thấy khác biệt lớn, nhưng không thể nói là chí hướng giống nhau. Kẻ thì thờ ơ hai lựa, kẻ thì giấu kín ý mình, khó lường, hoặc kẻ có ý khác ngấm ngầm gây hại, công khai chê bai. Gần đây Chí nhân có tờ tấu chương bàn việc chính, nói rằng: ‘Xin răn các đại thần, cùng giữ vững đạo này, đừng cho rằng không dự vào việc thay đổi, rồi ôm lòng khác biệt.’ Do đó những người đến sau đều không vui, không vui thì ắt sinh ra ý khác. Nên bàn luận chính sự không thống nhất, ngấm ngầm chia bè kết đảng, mà tể tướng Lữ cũng từ sau vụ biên chế lại ở Đô ty, đã nghi ngờ ta.
Trong sáu người cùng làm chính sự, đã có lòng khác; chỉ hai người cùng chung lợi hại, lại có lòng nghi. Há chỉ riêng việc đứng đơn độc là khó, mà thực sự lo việc nước sẽ sinh họa. Người xưa có chí an quốc, trí toàn thân, phần nhiều đều tránh đi, đó là lý do thứ hai có thể từ chức.
Tháng sáu năm ngoái Phạm Nghiêu Phu bãi chức, đến nay khuyết chức Hữu quỹ, từ khi An Hậu Khanh để tang, gần đây Tôn Hòa Phụ lại mất, địa vị ta bỗng thành cao nhất, người bàn tán có kẻ cho rằng sẽ luân phiên đến lượt, tình thế há được yên? Đó là lý do thứ ba có thể từ chức. Nghe bên ngoài xôn xao, cho rằng ta vì bất đồng trong nghị sự triều đình mà đi, lại nói thấy Vi Trọng mấy lần ở lại, có điều lo sợ mà đi, đều không phải. Lại có kẻ bảo vì lâu không bổ nhiệm, tức giận mà xin đi, đó là lời vô tri. Sĩ đại phu vui vì việc này của ta, cũng không phải là ít.”
Đoạn này dùng nhật ký của Chí thêm vào, phần còn đã ghi đủ ở chú thích trên. Chí nói “tờ tấu chương bàn việc chính của Trung ty”, là chỉ tờ tấu của Tô Triệt ngày 22 tháng 6.)
[16] Ngày Kỷ Hỵ, Thượng thư tỉnh tâu: “Quan viên không vì phạm tội bị xét xử mà thôi chức, nếu bị nhầm lẫn theo lệ bãi nhiệm hoặc thay thế, sau được bổ nhiệm chức khác, ai muốn bù đủ số ngày tháng nhiệm kỳ trước thì cho phép. Quá một tháng sau sẽ không được tính. Người bù chưa đủ hai năm, nếu muốn làm đủ thêm một nhiệm kỳ nữa cũng cho phép. Người đáng được thăng chức hoặc cải nhiệm, kể từ ngày nhận nhiệm kỳ mới sẽ được tính theo thứ bậc thăng chức hoặc cải nhiệm, đồng thời phải báo lên cơ quan chủ quản ở kinh thành. Nếu trong nhiệm kỳ bổ sung chưa có người thay thế thì thi hành ngay. Người nhận chức mới ở nơi có quy định thời hạn, nếu thuộc diện so sánh để thưởng phạt thì đợi hết hạn mới thay.” Đều được chấp thuận.
(Sách 《Tân》 không chép.)
[17] Ngày Canh Tý, Vua triệu tập các tể thần đến vườn sau xem lúa.
[18] Các môn tâu, ngày này các ban lên điện nếu không gấp thì không dẫn vào. Vua xuống chiếu không được ngăn các ban lên điện.
(Chép trong 《Ngự Tập》.)
[19] Chiếu rằng: “Các lộ còn nợ, cho phép đóng thóc gạo tăng giá để chiết nạp.”
(Việc ngày mồng 8 theo 《Chính Mục》.)
[20] Hình bộ xét việc xử lý không đúng trong vụ cho Cao thị được tự do đi lại, các quan lang, lại viên bị phạt đồng, lại viên ở Đô tỉnh và Trung thư được tha.
(Việc ngày mồng 8 theo 《Chính Mục》. Vụ Cao thị xem ngày mồng 5 tháng 3.)
[21] Bản tấu của Đô chuyển vận ty lộ Hà Bắc: “Theo tờ trình của châu Định[2], sau khi kiểm tra thấy thiếu các dụng cụ phòng thủ thành: 141.062 cân rưỡi đuốc thông, 1.144.052 cây nến bạch dương, ước tính giá vật liệu cần dùng là 22.997 quan 27 đồng, xin chia làm ba đợt để chuẩn bị. Còn thiếu 42.000 thước vải để may màn vải, bóng vải…, xin mua sắm để ứng phó.
Ty này xét thấy những dụng cụ phòng thành nêu trên, châu này đã kiểm tra và thấy từ năm Nguyên Phong thứ 3 theo chỉ dụ triều đình, ty An phủ của lộ này tâu xác định số lượng cần dùng, cùng chỉ dụ ngày 15 tháng 6 năm Nguyên Hựu thứ nhất, dụng cụ phòng thành phải hoàn thành chế tạo trong vòng ba năm.
Ty này tuy đã gửi văn thư yêu cầu châu Định căn cứ vào số thợ hiện có để mua sắm dần và chế tạo, nhưng châu này cần số lượng đuốc thông, nến bạch dương… lên tới hàng vạn, cùng lượng vải may màn, bóng… không nhỏ, nay khó có thể chuẩn bị một lần. Nếu căn cứ vào số thợ hiện có để mua vật liệu dần và chế tạo từng phần, cũng lo rằng sẽ kéo dài nhiều năm, lại dễ hư hỏng; hơn nữa đây là những thứ không cần gấp, huống chi số lượng lại quá lớn, sợ rằng sẽ lãng phí tiền công, vùng biên giới cũng khó kiếm tiền mặt, vì thế chưa dám chuẩn bị đủ số lượng theo yêu cầu. Kính mong triều đình xem xét chỉ đạo.”
Tờ bạch thiếp nói: “Gần đây theo đoạn trích chỉ dụ, lều chiên của 20 tướng… vì là thứ không thể để lâu, tạm ngừng chế tạo. Nay nến bạch dương… cùng với lều chiên nêu trên là việc tương tự, xin được chỉ đạo[3].” Chiếu rằng đuốc thông, nến bạch dương tạm ngừng chuẩn bị chế tạo, ngoài ra đều thi hành theo chỉ dụ ban đầu, các lộ đều theo đó.
(Ngày 8 tháng 8.)
[22] Ngự sử trung thừa Tô Triệt tâu:
“Trước sau bốn lần tâu luận việc xử trí biên sự ở Hi Hà sai trái, xin điều chuyển Phạm Dục, Chủng Nghị đến nơi khác, đến nay vẫn chưa được thi hành. Nhưng trước đây thần chỉ nói về việc xử lý sai lầm hiện tại, chưa đề cập đến sai lầm căn bản từ trước. Nếu im lặng không nói, sợ rằng bệ hạ chưa thấu hiểu, ba lần phiền tâu, tội đáng muôn chết.
Thần trộm xét, trước đây triều đình ra lệnh: khi quân Hạ ngang ngược, cướp bóc chưa dứt thì cốt khoan dung, sợ mất lòng chúng; đến khi quân Hạ tỏ ra thuận phục, triều cống đúng kỳ, lại đòi hỏi đủ điều, chỉ muốn thu lợi riêng. Bởi vậy mọi việc ban cho hay thu lại đều không hợp lẽ. Tại sao? Năm Nguyên Hựu thứ 3, triều đình sai sứ ban chiếu phong, thế mà quân Hạ ngang nhiên ngạo nghễ, không cử sứ tạ ơn, lại đem quân cướp phá Kinh Nguyên. Triều đình vẫn cố nuôi dưỡng, không trừng phạt, đến năm thứ 4 mới lại sai sứ, xin đổi bốn trại được ban cho lấy Tắc Môn và Lan Châu.
Triều đình tuy không nghe theo, nhưng liền sửa đổi chiếu trước, chưa phân chia địa giới đã ban cho tuế tứ, lại bảo Mục Diễn theo ý chỉ của Tam tỉnh và Mật viện giải thích cho sứ giả, cùng nói rõ số dân bị bắt ở Vĩnh Lạc đã qua nhiều năm, có thể không đúng số cũ, cứ theo số giao nộp; còn việc phân định biên giới, tuy có lệ cũ về khoảng cách xa gần, nhưng nếu núi dốc không đều thì không cho quan biên giới cố tranh chiếm.
Ba việc ấy, quân Hạ chưa xin mà triều đình đã vội ban cho. Khi Phu Diên lộ xin theo lời quân Hạ, dùng lệ cũ của Tuy Châu, lấy 20 dặm làm biên giới, trong 10 dặm xây đồn trạm, ngoài 10 dặm để hoang, gần Hoàng Hà thì lấy sông làm ranh giới, triều đình đều nghe theo.
Thần thấy trước kia khi phân chia Tuy Châu, khoảng cách biên giới đều giao quan tướng xem xét, điều tra kỹ rồi mới theo. Nay phân định biên giới từ Phu Diên qua Hoàn Khánh, Kinh Nguyên, Hi Hà bốn lộ, triều đình không giao cho các lộ xét lại, chỉ căn cứ vào tiện lợi của Diên An một lộ mà bảo quân Hạ, mệnh lệnh ban ra không thể sửa đổi, khiến quân Hạ lấy đó làm bằng. Đó là điều thần gọi ‘khi quân Hạ ngang ngược, cướp bóc chưa dứt thì cốt khoan dung, sợ mất lòng chúng’.
Còn như việc Hi, Lan xin lấy 20 dặm bắc Hoàng Hà thuộc Lan Châu làm biên giới, thần cho rằng qua sông phòng thủ đã khó, chiếm đất phiên lại càng không nên, chắc triều đình không dám nghe theo. Chỉ có ruộng cày cấy của dân cung tiễn ngoài thành Định Tây, Thông Tây, Thông Vị, xa đến 70-80 dặm, gần 30-40 dặm, không thể lấy 20 dặm làm biên giới. Quan biên giới nói thế, nhưng có người bảo Lan Châu mỗi lần sai dân cung tiễn đến cày cấy đều bị quân Hạ giết; nếu đã có người cày thì dân cung tiễn phải có sổ sách, thuế thu hàng năm bao nhiêu?
Hai ý kiến trái nhau, khó xác định, nên bàn trước với quân Hạ, tùy tiện từng lộ, không thể đều lấy 20 dặm. Triều đình đã không tính trước, mệnh lệnh ban ra lại muốn sửa, trước sau đều sai, sinh ra mầm họa.
Quan tướng Hi Hà dám không đợi lệnh triều đình, ngoài lời xin trước, lại sửa hai trại Thắng Như và Chất Cô. Hai trại này đã bỏ từ năm Nguyên Phong thứ 5, ghi rõ trong 《Cửu vực đồ chí》, hiện không có quan quân đóng giữ, thế mà dám nói quân Hạ trước vẫn giữ, triều đình nghe theo, cho 《Cửu vực đồ chí》 là sai. Lại bộ cử quan quản câu hai trại kiêm Tuần kiểm sứ coi việc phòng thủ[4].
Thần cho rằng dối trá với quan lại triều đình còn được, chứ dùng đó bịt miệng quân Hạ khiến chúng phục thì khó. Đó là điều thần gọi ‘khi quân Hạ tỏ ra thuận phục, triều cống đúng kỳ, lại đòi hỏi đủ điều, chỉ muốn thu lợi riêng’.
Tuy nhiên, thần trộm nghĩ ý triều đình, hai trại Thắng Như và Chất Cô chắc khó bàn việc tu sửa lại; ba trại Định Tây, Thông Tây, Thông Vị cùng khu vực giới tuyến hơn hai mươi dặm cũng không thể nhất quyết đòi lại từ nước Hạ. Bởi triều đình ban ân lộc lớn hàng năm, đã vô cớ trao cho người ta lúc yên ổn, đến khi cấp bách lại không có gì làm áp lực, đúng là ‘sai một ly đi một dặm’. Việc phân định biên giới thế tất sẽ giằng co không ngã ngũ, gặp khi sứ giả triều cống lại sang, vào lúc giao mùa thu đông, ngựa giặc béo khỏe, thường xuyên ra cướp phá, bị rợ di địch khinh nhục, biết bao giờ mới chấm dứt?
Theo ý kiến ngu muội của thần, xin xét lại tấu chương trước, điều Hồ Giáng Dục và Hồi Nghị sang lộ khác, chọn tướng giỏi khác, giữ vững tín nghĩa, đồng thời tu sửa phòng bị biên cương. Việc nghị bàn biên giới bản lộ, thực ra không phải chỗ đang phòng thủ có thể nhượng cho họ[5], để giữ vững lời ước trước; những việc khác thì yêu cầu giữ lòng công, dâng điều lệ kế hoạch lâu dài tâu lên, sau đó triều đình chọn mà thi hành, như thế Hi Hà may ra còn yên ổn.
Nay thần thấy triều đình vốn không có quyết sách rõ ràng, khi biên sự Hi Hà nổ ra, vội triệu suý thần về làm ở Hộ bộ; đến khi thần nói thưởng phạt không đúng, lại vội sai Giáng Dục trở lại trấn thủ Hi Hà. Như Trủng Phác vốn cùng Giáng Dục, Hồi Nghị gây ra biên sự, nay lại điều Phác sang Kinh Nguyên, chỉ giữ lại Giáng Dục và Hồi Nghị.
Nếu cho rằng triệu Giáng Dục là đúng, thì nay sai đi là sai; nếu điều Trủng Phác là phải, thì chỉ giữ Giáng Dục, Hồi Nghị là lầm. Chính lệnh như thế, rốt cuộc nên theo thế nào? Chỉ phái những người như Tôn Lộ, Mục Diễn đến đó xem xét, đại kế của triều đình há lại quyết định theo lời Diễn sao? Muôn một sự việc thất bại, dù có giết Diễn cũng ích gì cho nước nhà?
Thần trước đây từng tâu việc Đường Lý Đức Dụ bàn đánh Lưu Chẩn, có người cùng chức dâng ý kiến khác, Đức Dụ thưa: ‘Nếu không thành công, thần xin lấy cái chết đền tội.’ Nay trong ngoài đều cho rằng giữ chữ tín bền vững là lợi ích của Trung Quốc, nếu có đại thần muốn cậy dùng Giáng Dục, không nghĩ đến họa biên cương, thần mong bệ hạ lấy lời thỉnh cầu của Đức Dụ mà yêu cầu họ. Nếu họ dám như thế, thì dùng kế của họ, sau khi sự việc ổn định, xét công luận tội. Nay lời thần đã cạn, thế không thể lay chuyển, không rõ bệ hạ đã từng lấy lời thần trước mà yêu cầu họ chưa? Việc biên cương cực kỳ trọng yếu, an nguy chưa thể lường, chỉ mong bệ hạ lưu tâm.
Thần lòng thành cô trung, may được đề bạt, không dám không hết lời, sợ phụ sự tín nhiệm, nhưng đụng chạm nhiều người, chết vẫn còn tội.”
(Ngày 2 tháng 8, Mục Diễn thay Tôn Lộ đi Hi Lan. Triệt tâu mặt rằng đại thần bao che Giáng Dục, phụ vào cuối tháng.)
[23] Ngày Quý Mão, Trung đại phu, Môn hạ thị lang Lưu Chí tâu:
“Thần có một việc, chất chứa trong lòng đã lâu, không tránh uy phủ việt, xin được trình bày. Thần thấy trước đây Đặng Ôn Bá được bổ làm Hàn lâm thừa chỉ, dư luận xôn xao, đến nỗi phải cách chức ba bốn quan đài gián, dù có thăng chút ít nhưng đều không dám an vị, đến nay vẫn chưa yên ổn. Thần xin trình bày rõ đầu đuôi sự việc.
Ôn Bá là người tuy có chút văn nghệ, cũng không có tội trạng gì, nhưng tính nết nhu nhược, xu nịnh, tùy thời cơ mà thay đổi thái độ, mọi người đều biết. Trước đây khi bàn việc bổ nhiệm, bọn thần cùng bàn bạc, cho rằng người đã mãn tang nên khôi phục chức cũ, không thấy có gì không ổn, lại từng được bệ hạ dặn riêng rằng đây là người cũ của Diên An cung, nên cứ thế thi hành không nghi ngờ.
Đến khi các quan Ngự sử và Gián quan dâng tấu chương nói về tội gian của y, cho rằng sẽ gây rối loạn triều chính, nhưng lại không có bằng chứng cụ thể, nên bọn thần cũng từng tâu rằng lời bàn của Đài gián quá đáng. Tuy nhiên bệ hạ nghe lời can gián, liền đổi Ôn Bá làm Thị độc, sau lại đổi làm Tri Nam Kinh, lại được tuyên dụ rằng: “Hãy ghi nhớ, đợi ngày khác sẽ bổ nhiệm chức khác”. Sau đó Tam tỉnh lại tâu trình, cho rằng chiếu chỉ bổ nhiệm chức Hàn lâm Thừa chỉ đã ban hành trước đó, nên được chỉ dụ tiếp tục thi hành mệnh lệnh cũ. Các quan ngôn lộ thấy lời tâu không được chấp thuận, khó lòng an vị, từ đó mới sinh ra nhiều rối ren.
Thần thấy nay Ôn Bá đã nhậm chức lâu ngày, Lương Đào và những người khác cũng đã được bổ nhiệm chức mới, lẽ ra mọi việc đã yên ổn, nhưng trong ngoài lòng người vẫn chưa yên. Nguyên do là trước đây có người nói thẳng Ôn Bá thực là đồ đảng của Vương An Thạch, nên mỗi khi thăng giáng, bè cánh rất đông, việc phân biệt chính tà, thịnh suy của quân tử tiểu nhân đều hệ ở việc này. Đã có lời đồn như vậy thì lòng người trong ngoài đương nhiên có khuynh hướng.
Hai ba tháng nay, sĩ phu dưới triều xôn xao, bịa đặt lời đồn, rình rập lẫn nhau, lòng người bất an, đều căn cứ vào việc Ôn Bá và Lương Đào ở lại hay ra đi để ngầm đoán ý chỉ triều đình. Vừa thấy Ôn Bá nhậm chức, liền cho rằng triều đình có ý lung lay chính sự, bè đảng gian nịnh không ai là không hả hê đắc ý; thấy Lương Đào và những người khác bị cách chức Gián quan, liền bảo là xa lánh lời can gián, những bề tôi lo nước từ trước, không ai là không nghi ngờ sợ hãi.
Thần biết rõ việc triều đình bổ nhiệm Ôn Bá vốn không có ý gì khác, chỉ là người mãn tang thì nên khôi phục chức cũ, nhưng nay lòng người suy đoán bậy bạ đến thế, tuy Ôn Bá không có tội trạng gì, nhưng việc thăng giáng của y, hệ lụy cũng không nhỏ. Thần lo rằng bệ hạ chỉ biết việc bổ nhiệm Ôn Bá không có gì quá đáng, mà không nghe được tình hình lòng dân trong ngoài như vậy, nên thần canh cánh trong lòng, ngày đêm lo nghĩ.
Thần xét kỹ lại, Ôn Bá vốn là kẻ tầm thường, dù mang lòng gian tà, nhưng nếu bệ hạ thường xuyên soi xét, chưa hẳn đã thành mối họa lớn cho triều đình; còn Đào, Quang Đình, An Thế nếu quyết không nhận chức, bổ nhiệm ra ngoài cũng không ảnh hưởng đến việc sử dụng sau này.
Điều thần lo lắng là lòng người đã lấy việc này để đoán ý chỉ triều đình, việc ở lại hay ra đi sẽ khiến trong ngoài dò xét, lay động thời cơ, không gì nghiêm trọng hơn. Nay bệ hạ sáng suốt thánh minh, không trách tội ngông nghênh của Đào, cho họ nhận chức mới, vẹn toàn ân nghĩa với Ôn Bá, thật là may mắn. Nhưng đạo tiến thoái của bề tôi, tiết tháo liêm sỉ cũng không phải chuyện nhỏ. Mấy người này giữ trách nhiệm can gián, lời nói không được nghe, lại đứng cùng người bị can gián trong triều, không sợ công luận, còn Ôn Bá liều nhục tiến thân, bị công luận khinh rẻ, khiến cả hai bên đều bất an.
Huống chi Đào đều là bề tôi trung thành ngay thẳng, được bệ hạ bồi dưỡng từ chức nhỏ đến nay, đúng lúc nhân tài hiếm hoi, nếu vì Ôn Bá mà bỏ họ, thỏa lòng kẻ gian tà oán hận, tuy mấy người này không đáng bàn, nhưng thể diện triều đình thật đáng tiếc. Thêm nữa, lòng người trong ngoài xôn xao, cần phải trấn áp. Thần mong bệ hạ suy nghĩ thấu đáo, sai đại thần bàn bạc, phân rõ chính tà, minh định phải trái thì thiên hạ mới phục. Nếu giữ cả hai, e rằng chưa ổn, nên thần dâng tờ tâu này, mong bệ hạ lưu tâm xem xét, thật hết sức may mắn!“
Lời thiếp hoàng: “Thần lúc tâu việc khó trình bày chi tiết, gần đây tạ ơn cũng không dám ở lại lâu, nên không thể tâu mặt. Trong lòng băn khoăn, nếu sợ hãi im lặng thì phụ ủy thác, nên viết tờ này xin bệ hạ lưu tâm.”
Lại tâu: “Thần xét kỹ việc ôn bá cùng đào đẳng thế tất không thể cùng tồn tại. Đào đẳng ra sức xin đi nhậm chức ngoài, nhưng bệ hạ luôn bảo toàn, không cho ra ngoài. Ơn Vua tuy hậu, nhưng họ không dám nhận chức, vì chưa có lý do hợp lý để đuổi người. Thần có ý ngu, xin bệ hạ tạm cho ôn bá ra ngoài, chọn một quận lớn giao việc, để ông ấy bổ nhiệm ngoài? Một khi ôn bá đi rồi, mọi người tự nhiên yên vị. Mọi người đã yên, thì có thể triệu ôn bá về. Vì trước sau sự việc không liên quan, cả hai đều không hiềm nghi, mỗi người yên vị. Không chỉ thành tựu đức yêu quý người trung trực của hai bậc thánh, mà còn bảo toàn được tiết tháo thanh liêm của ôn bá, không ngại dùng lại sau này. Nếu được nghe theo, xin chọn trong các nơi cần điều động các quan trấn thủ, sai ôn bá đến đó. Cách bổ nhiệm như thế không phải vô cớ, kính xin xem xét, sớm ban chỉ dụ, hoặc truyền miệng cho tam tỉnh thi hành.”
Lại tâu: “Trước đây thần cùng mọi người tiến cử ôn bá nhận chức, chỉ thấy người ấy hết tang được triệu về chức cũ, không có gì quá đáng, không thấy sau này dư luận bàn tán có hại như vậy. Nay thực không dám im lặng giữ lỗi, làm sai chính sự của bệ hạ. Hơn nữa, việc bổ nhiệm ôn bá và đào đẳng đã định từ lâu, tam tỉnh chưa dám thay đổi, lại phải kín đáo tâu trình, làm phiền trung chỉ.”
Lại tâu: “Thần tham gia phụ chính, không dám phân biệt riêng với ai. Đào đẳng đã thôi chức gián quan, nên nói ra không ngại. Trong đó, Lương Đào thực là bạn cũ của thần; Chu Quang Đình, Lưu An Thế, thần trước không quen, đều do Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ dẫn tiến; Cổ Dịch thì đến giờ thần chưa từng gặp; Đặng Ôn Bá thì thần quen biết lâu, rất thân, coi như anh mà kính trọng.”
(Đào, Quang Đình cùng ra nhậm chức ngoài ngày 18, An Thế nhận chức phụng từ, Cổ Dịch thì từ ngày 8 tháng 7 đã được bổ làm Hiến ty Hoài Đông. Tuy Chí có tâu trình, nhưng cuối cùng không theo.)
[24] Ngự sử trung thừa Tô Triệt tâu: (Tô Triệt tâu việc Hộ bộ thiếu quan, không rõ thời điểm, ghi kèm ngày 11 tháng 8, việc theo hay bỏ cần tra cứu, hoặc có thể xóa đi không dùng.)
“Thần nghĩ rằng Hộ bộ là nơi ra vào của tài phú, một bộ quan trọng trong thiên hạ, là cơ quan nắm mạng sống của dân. Một ngày không trị, trăm ngày sẽ loạn. Nay quyền Thượng thư Lương Đào đang từ chối không ra nhậm chức, hai Thị lang mới bổ nhiệm chưa đến, chỉ có một mình Hàn Tông Đạo kiêm nhiệm từ Hình bộ.
Như vậy, việc của bốn người thường ngày dồn cả vào một người. Hơn nữa, Hình bộ công việc bề bộn, Tông Đạo vào Hộ bộ chỉ được nửa ngày. Các quan lại trong bộ vốn từ trước đến giờ làm việc từ sáng đến tối mới nghỉ, nay không có người chỉ đạo, các Lang quan phần nhiều theo nhau về sớm; bàn luận không thống nhất, mọi việc không có người quyết đoán, khiến công văn bị đình trệ, tù nhân bị giam giữ lâu ngày.
Thần ngu nghĩ rằng trong lúc chờ quan chính thức chưa đến, nên cử thêm một hai người tạm quyền. Hiện các Học sĩ, Cấp sự trung, Xá nhân tổng cộng sáu người, công việc ít nhẹ, nên chọn người am hiểu công việc để tạm đảm nhiệm chức vụ, mong việc trọng yếu về tài phú không bị bỏ bê. “
(26 tháng 5, Lương Đào quyền Hộ bộ Thượng thư. 4 tháng 6, Lý Chi Thuần làm Hộ bộ Thị lang, được triệu từ Thành Đô về; 28 tháng 6, Phạm Dục làm Hộ bộ Thị lang, được triệu từ Hi Châu về, đến 12 tháng 7 thì bãi chức. 12 tháng 7, Miêu Thời Trung làm Hộ bộ Thị lang, được triệu từ Thiểm Tây về.)
[25] Ngày Giáp Thìn, Lý Vĩ – quan phụ trách đào sông Đông Lưu cũ – tâu: “Sông lớn từ sau tháng 5, nước ngày càng dâng cao, bắt đầu vỡ đê ở trạm thứ 7 đê Nam Sa thuộc Bắc Kinh, nước chảy ra ở trạm thứ 3, thứ 4 và cửa Thanh Phong, cùng đổ về phía đông. Lòng sông cũ sâu từ 3 trượng đến hơn 1 trượng, so với năm ngoái càng sâu và chảy xiết, đã giảm bớt nạn nước Bắc Lưu tràn ngập. Nhưng nay đã cuối thu, nước sắp rút, nếu không kịp xử lý, e rằng sẽ bị cạn kiệt, khiến sông Đông Lưu lại bị bồi lấp. Kính mong bệ hạ hạ lệnh cho quan ty phụ trách xem xét lợi hại của việc phân nước tại các cửa đê cát v.v…, may ra tránh được việc lòng sông cũ bị bồi lắng, làm tổn hại việc nước.”
Vua xuống chiếu cho Ngô An Trì – sứ giả đô thủy cùng các giám ty của lộ, ty thừa Bắc Ngoại và Lý Vĩ đi khảo sát, ghi chép đầy đủ các việc cần làm rồi dâng tâu chung.
(Sách 《Cựu lục》 chép: “Trước đây, vào năm Nguyên Phong thứ 4, do đê Tiểu Ngô vỡ lớn, có người bàn khôi phục dòng sông cũ thời Vua Vũ. Thần Khảo nói: ‘Núi sông đổi dời, dù Vũ thần sống lại cũng không thể cứng nhắc theo dòng cũ. Bởi nước chảy xuống là tính tự nhiên, nay chỉ vì châu huyện ngăn trở, bức bách dòng nước, khiến nó không theo tính tự nhiên, đó là cách chế ngự nước chứ không phải đạo trị thủy. Nếu xét theo đạo, nước chưa từng gây họa.’ Bèn hạ chiếu rằng: ‘Dòng chảy phía đông đã bị bồi lấp, không thể khơi lại, từ nay không đóng cửa đê Tiểu Ngô nữa, đợi khi sông lớn trở lại dòng, những đoạn đê cần đắp, giao cho Lý Lập Chi lo liệu rồi tâu. Các châu huyện liên quan tu sửa đê bảo vệ thành đều nghe theo phân xử của Lập Chi.’ Thời Nguyên Hựu thay đổi hỗn loạn, dấy lên ý khơi dòng đông, hao tổn sức dân Hà Bắc để theo điều trái lẽ, cuối cùng không thành, đúng như chiếu chỉ tiên đế.”
《Tân lục》 bác lại: “Chiếu thư đã chép trong 《Thần Tông thực lục》, không cần ghi lại. Đã không chép chiếu thư thì đoạn đầu đuôi này không có chỗ để ghép vào, nên xóa bỏ toàn bộ.”
《Ngọc điệp》 chép: “Xuống chiếu cho các giám ty lộ Hà Bắc, quan đô thủy khảo sát lợi hại của việc phân dòng đông bắc, xử lý rồi tâu.” [Ghi chép vào các ngày] 26 tháng 9, 22 tháng 12.)
[26] Học sĩ điện Tư chính, Trung đại phu, Thủ Lại bộ Thượng thư Tăng Hiếu Khoan mất. Ngừng triều một ngày, truy tặng Hữu quang lộc đại phu.
[27] Ngày Bính Ngọ, Điện trung thị ngự sử Dương Khang Quốc tâu: “Trước đã bàn việc bổ nhiệm Vương Củng không thỏa đáng, nghe nói đổi sai làm Quản câu Thái Bình quán, dư luận chưa thuận, xin giao về Lại bộ.” Chiếu lệnh cho Củng do Lại bộ bổ nhiệm chức Thái Bình quán.
[28] Ngự sử trung thừa Tô Triệt tâu: “Thần trộm nghĩ hiện nay nhân tài suy giảm, cầu toàn vẹn thật khó, phàm có tài năng gì đều không nên bỏ phí. Thần thấy Hữu thừa nghị lang Vương Củng sinh trưởng nơi phú quý, chí khí kiên định, ham học giỏi văn, thông hiểu việc đời.
Trước đây vào đầu niên hiệu Hi Ninh, tể thần Vương An Thạch nắm quyền, nhiều lần muốn dùng Củng, nhưng Củng biết mình giữ đạo chính trực không hợp nên từ chối. Mỗi lần dâng sớ bàn việc đều trúng thời bệnh, Ngô Sung, Bằng Kinh quý trọng tài năng, thường cùng bàn việc nước.
Đến khi Vương Khuê, Thái Xác chấp chính, Lý Định, Thư Đản làm Ngự sử, muốn hãm hại Sung và Kinh nên dựng đại án, gieo vạ khắp nơi để lần lượt hại hai người, Củng vì thế mà bị tội, đi xa vạn dặm phương nam, ba năm sau mới về, khí tiết vẫn vững vàng, bàn việc như xưa. Lúc ấy hai Thánh ngự trị, Tư Mã Quang phụ chính, Củng lại tham gia bàn luận với Quang, Quang rất khen ngợi, tâu lên triều đình, thăng làm Tông chính tự thừa. Vừa định cất nhắc thì Củng vì tính cương trực ghét ác nên bị nhiều người ghen ghét, nhân lúc Quang mất, mọi người bới móc lỗi nhỏ để bài xích.
Thần thầm buồn vì những người Quang tiến cử trước đây nay đều giữ chức vụ trong triều, riêng Củng gặp vận xấu không được dùng, hai lần bị cách chức. Những điểm mạnh của Củng đều là điều khó có ở kẻ sĩ, còn điểm yếu phần nhiều mờ ám không rõ, hoặc là lỗi thường thấy ở tuổi trẻ. Tiền Tri Dương châu Tạ Cảnh Ôn từng cùng làm việc với Củng, đã dâng chương biện minh cho nỗi oan khuất, nên lời yêu ghét không thể tin một bên.
Thần giữ chức phong hiến, lòng thành mong mỏi muốn giúp Bệ hạ thu nạp nhân tài bị bỏ quên để sẵn sàng sai khiến. Thần quen biết Củng đã lâu, hiểu rõ tài năng của ông, cúi xin Bệ hạ gột rửa vết nhơ, lượng dùng một chút, ắt sẽ cảm kích ơn Vua, gặp việc sẵn sàng xả thân để báo đáp muôn một.”
(Tạ Cảnh Ôn nguyên được bổ làm Tri Dương châu ngày 28 tháng 6 năm Nguyên Hựu thứ 2, đến ngày 25 tháng nhuận 12 năm thứ 3 quyền Hình bộ. Việc tiến cử Củng hẳn là năm thứ 4. Lời tâu của Triệt không rõ thời gian, nhân việc Củng lại bị đưa về Lại bộ và nhận chức cung quan nên phụ chép ở đây. Trước đó ngày 4 tháng 7 bãi chức ở Cổ viện, đưa về Lại bộ. Củng nhờ Triệt tiến cử được làm Tri Túc châu; ngày 8 tháng 6 năm thứ 6, vì bị dâng sớ đàn hặc nên bãi chức. Việc Triệt tiến cử Củng hẳn là sau tháng 10 năm thứ 5, hoặc dời đến cuối tháng 10).
[29] Hữu chánh ngôn Lưu Đường Lão tâu: “Thần trộm thấy một thiên《Đại học》, bàn về thứ tự tu đức, xin chiếu cho các bề tôi giảng sách giải thích sách này dâng lên, để lúc nhàn rỗi có thể xem xét.” Theo lời tâu.
[30] Xuống chiếu từ nay bảo giáp phủ Khai Phong đều được miễn tập luyện mùa đông.
(Cựu lục chép: “Xét phép bảo giáp của Tiên đế, ba mùa làm ruộng, một mùa luyện võ. Nay miễn tập mùa đông, bảo giáp không còn luyện võ nghệ nữa, không phải là phép của Tiên đế.”
Tân lục biện rằng: “Chiếu miễn tập bảo giáp mùa đông, cách chép đã đủ, những lời sau là ý riêng của sử quan, không phải thực lục. Từ chữ ‘Xét’ đến chữ ‘vậy’ gồm 31 chữ nên bỏ.”
Vương Nham Tẩu trong《Triều luận》chép: “Tôi từ khi làm Tả ty gián, đã tâu xin bãi bỏ bảo giáp phủ giới, Phạm Nghiêu Phu làm Hữu tướng cũng tâu, La Thích làm Đề điểm phủ giới cũng tâu, nhưng đều bị Hậu Khanh ngăn trở, không thi hành được. Mùa thu năm Nguyên Hựu thứ 4, tôi làm Xu mật đô thừa chỉ kiêm Đồng tri viện, ra sức khuyên bãi bỏ, nhưng ở Môn hạ Thị lang Tôn Hòa Phủ lại có ý kiến khác[6], việc bèn đình lại.
Mùa thu năm thứ 5, tôi lại từ Trung thư xá nhân thăng làm Thừa chỉ, Hàn Sư Phác làm Đồng tri viện, phấn khởi muốn bãi bỏ, bàn luận, tôi đưa ý kiến. Hôm sau, hẹn cùng Tam tỉnh cùng tâu trình, Sư Phác một mình tâu rằng: ‘Từ khi Bệ hạ nghe chính sự đến nay, bãi bỏ việc tập luyện bảo giáp, nên lòng người yên ổn vui vẻ. Phủ giới mỗi năm gặp thiên tai tạm miễn tập mùa đông, nếu một năm được mùa, đột ngột khôi phục tập luyện, lòng người ắt kinh nghi, chi bằng bãi hẳn đi.’ Thái hoàng thái hậu nói: ‘Được.’ Ngày 14 tháng 8 năm thứ 5 bãi bỏ, từ năm đầu tiên trải qua bốn năm mới quyết định, nhưng danh hiệu bảo giáp vẫn còn.”)
[31] Hộ bộ tâu: “Vận tải lương thực sông Quảng Tế nếu có thiếu hụt phải chiết hội, theo điều lệ sông Biện, hàng năm ghi vào sổ sách.” Vua theo.
(Tân kỷ không chép.)
Lại tâu: “Việc thụ lĩnh tăng cấp khởi chi, nếu có lệ thì trình lên Hộ bộ; chưa có lệ thì tâu lên. Sau khi đã tâu trình, nếu có thêm bớt gì cũng phải báo lên bộ.” Vua theo.
(Tân kỷ không chép.)
[32] Ngày Đinh Mùi, Phụng nghị lang Thạch Ngạc tâu: “Người tham gia tuyển cử theo phép thi Tiến sĩ, ba người trở lên làm một bảo. Từ chức Thừa vụ lang trở lên và người dự tuyển muốn thi luật phú thì cho phép, cách chấm thi và phân loại đều theo lệ cũ. Võ quan thi nghĩa lý hình luật cũng giảm còn một trường năm đề, cách chấm thông thường và phân loại theo phép Nguyên Phong. Nếu là quan tuần bộ, tùy số người dự thi lúc đó mà tăng giảm số lượng. Mỗi một trăm người dự thi nghĩa lý hình luật thì cử một viên điểm kiểm quan.” Vua đều theo.
- 'Ruộng tốt' nguyên bản chữ 'tiện', theo bản trong các các và 《Tống sử》 quyển 332 truyện Mục Diễn sửa lại. ↵
- Theo tờ trình của châu Định, chữ 'trình' nguyên bản là 'trung', căn cứ vào bản trong các để sửa. ↵
- Xin được chỉ đạo, chữ 'được' nguyên bản thiếu, căn cứ vào bản trong các để bổ sung. ↵
- Lại bộ kiến sai quản câu nhị trại cung tiễn thủ đạo lộ tuần kiểm sứ thần vi thủ bả 'câu' Tự nguyên thoát, cứ 《Loan thành tập》 quyển 43 《Luận tiền hậu xử trí Hạ quốc quai phương tráp tử》 cải. ↵
- chữ 'khả' (có thể) nguyên bản thiếu, theo sách trên bổ sung ↵
- Ở Môn hạ Thị lang Tôn Hòa Phủ lại có ý kiến khác: 'Hòa Phủ' nguyên bản chép là 'Tri Phủ'. Xét: Theo《Tống sử》quyển 212 biểu Tể phụ, mùa thu năm Nguyên Hựu thứ 4 làm Môn hạ Thị lang là Tôn Cố, tự Hòa Phủ. Chữ 'Tri' rõ là sai với chữ 'Hòa', nên sửa. ↵