VII. TỐNG TRIẾT TÔNG
[BETA] QUYỂN 470: NĂM NGUYÊN HỰU THỨ 7 (NHÂM THÂN, 1092)
Từ tháng 2 năm Nguyên Hựu thứ 7 đời Vua Triết Tông đến hết tháng.
[1] Tháng 2, ngày Bính Thìn, ban chiếu cho miếu thờ Ngô Thái Bá lấy tên hiệu là “Chí Đức”. Trước đó, Tri châu Tô Châu là Hoàng Lý tâu: “Ngô Thái Bá dùng lễ nghĩa để thay đổi phong tục của người Di, nay miếu thờ tuy được tôn sùng nhưng danh hiệu chưa chính thức.” Vì thế có chiếu này.
[2] Ban chiếu cho phép thương nhân được ra nước ngoài, nhưng không được mang sách vở, vật phẩm gửi về cho quan lại Trung Quốc.
[3] Ngày Đinh Tỵ, ban chiếu rằng vào ngày công chúa Ôn Quốc Trưởng xuất giá, Hoàng thái phi sẽ tiễn đến ngoài cửa phủ, các mệnh phụ không cần đi theo.
[4] Thủ lĩnh nước Chiêm Thành dâng biểu nói: “Nếu thiên triều đánh dẹp Giao Chỉ, xin được đem quân hợp lực tấn công.” Lúc này, vì Chiêm Thành và Giao Chỉ có mối thù cũ, mà Giao Chỉ hiện đang vào cống, không đoạn tuyệt thần tiết, nên khó bàn việc xuất quân. Lệnh cho Học sĩ viện đợi đến khi ban sắc thư cho Chiêm Thành thì trả lời theo ý này.
[5] Điện trung thị ngự sử Dương Úy tâu: “Thần nghe nói lấy Tả triều nghị đại phu Ngụy Quảng làm Thị giảng cho phủ Từ Vương. Mệnh lệnh vừa truyền ra, dư luận chưa đồng tình. Thăm dò được biết Quảng tuy tuổi tác đã cao, nhưng đức hạnh không nổi bật, tầm thường không có gì đáng kể. Có người nói ông ta hơi giỏi văn chương, nhưng thường dâng thơ văn để cầu cạnh địa vị cao. Nếu quả như vậy, thì thấy rõ ông ta không có phong thái chín chắn, tự trọng. Triều đình đang muốn cẩn thận chọn người có đức hạnh sâu dày, mà gần đây những người từ chức quan phủ vương lại thường được thăng tiến. Như Quảng chỉ là người tài năng bình thường, lại được làm chức này, nên sĩ phu bàn tán cho là không hợp lý. Kính mong chọn người khác có thanh danh và đức hạnh lớn để phò tá hiền vương.”
[6] Hữu chánh ngôn Diêu Miễn tâu: “Thần cho rằng chức Thị giảng phủ vương nên dùng người thông hiểu kinh thuật, văn học, có đức hạnh trong sạch để đảm nhiệm. Nay Quảng nhân tài thấp kém, học vấn hời hợt, chỉ vì từng lang thang nơi chợ búa, quen thuộc đường tà, quen thói xấu của bọn tiểu nhân trong xóm làng. Không có đức hạnh đáng khen, cũng không có kinh thuật đáng học, hành vi tầm thường xấu xa, sao đủ làm quan khuyên giảng? Kính mong đặc biệt thu hồi mệnh lệnh để hợp với công luận.” Quảng sau đó được đổi làm Quân khí thiếu giám.
(Việc đổi làm Quân khí thiếu giám vào ngày 18 tháng 3, nay ghi chung vào đây.)
[7] Ngày Kỷ Mùi, Lễ bộ lang trung Diệp Tổ Hạt được bổ nhiệm làm Tri châu Hải Châu. Trước đó, Hữu chánh ngôn Diêu Miễn đã hai lần dâng tấu hặc tội Tổ Hạt, và Ngự sử cũng tâu rằng Tổ Hạt tham lam hèn hạ, không giữ được liêm tiết, nuông chiều vợ hung dữ, bạc đãi cha mình, không thể để ông ta làm bẩn cửa triều.
(Cựu lục chép: “Ngự sử tâu rằng Tổ Hạt tham lam hèn hạ, không giữ được liêm tiết, không thể để ông ta làm bẩn cửa triều, nên mới có mệnh lệnh này.” Xét theo Nguyên Hựu mật sơ, Hữu chánh ngôn Diêu Miễn đã dâng hai chương tấu về Tổ Hạt, một vào ngày 3 tháng 12 năm thứ 6, và một vào ngày 12 tháng 1 năm thứ 7, kể chi tiết về việc Tổ Hạt tham lam hèn hạ, không giữ được liêm tiết, quá nuông chiều vợ thiếp, bạc đãi cha mẹ, nhưng lời lẽ quá thô tục, không đủ để ghi chép, và không thấy tên của Ngự sử, nay sửa lại như trên.)
[8] Chiếu chỉ rằng các lộ biên giới khi cử Tổng quản, Thống chế quân mã ra vào, cho phép theo lệ cử một viên Tẩu mã thừa thụ sứ thần đi theo quân.
[9] Xu mật viện tâu: “Các lộ thám báo nhiều tin không chính xác, do thưởng quá ít, không có gì để khích lệ. Xin cho Kinh lược ty Thiểm Tây, Hà Đông lấy tiền thưởng từ kho phong trang hoặc quân tư của bản ty để chi dùng cho việc thám báo, các tướng phó ở các châu, thành, bảo, trại biên giới trước đây được chi dùng cũng ước lượng số tiền chia đều. Nếu thám báo có công hoặc báo tin không chính xác, đều tùy theo mức độ nặng nhẹ mà thưởng phạt, nếu việc quan trọng hợp lệ thì xin triều đình thưởng phạt.” Được chấp thuận.
[10] Hình bộ tâu: “Những người phạm tội tham nhũng hai lần bị đánh trượng, đều bị cách chức, nếu cùng thời gian được phục chức với người phạm tội một lần thì không công bằng. Xin cho những người phạm tội tham nhũng hai lần bị đánh trượng và bị cách chức, khi phục chức phải kéo dài thêm hai kỳ so với thời hạn ban đầu, võ thần cũng theo đó. Những người phạm tội trước khi có quy định kéo dài thời hạn này thì vẫn theo luật cũ.” Được chấp thuận.
[11] Ngày Canh Thân, quyền Thiểm Tây chuyển vận sứ Lý Nam Công tâu: “Đồng tiền và sắt tiền ở biên giới có giá trị khác nhau. Xin được dùng đồng từ Hưng Châu và thiếc đen từ Thương Châu, Quắc Châu, chuyển đến Thiểm Châu để đúc tiền, mỗi năm đúc hai vạn quan, cung cấp cho Thiểm Châu và hai trạm dịch ở Thiểm Hữu, cùng để đổi tiền sắt sử dụng, đồng thời tiêu giảm lượng thiếc đen tích trữ ở Thương Châu và Quắc Châu.” Được chấp thuận.
[12] Ngày Tân Dậu, Thái phủ thiếu khanh, Bí các hiệu lý Vương Cổ được bổ nhiệm làm Bí thư thiếu giám, Thiếu phủ giám Yến Tri Chỉ làm Tri Dĩnh Châu[1], Hữu trung tán đại phu Trần Hoành làm Thiếu phủ giám, Tả trung tán đại phu Trình Tự Cung làm Thái phủ thiếu khanh, Tả triều nghị đại phu Lý Chi Kỷ làm Đồn điền lang trung, Tả triều thỉnh đại phu Lưu Thục làm Từ bộ lang trung.
[13] Trước đó, Kinh lược sứ Hoàn Khánh lộ là Chương Tiết tâu:
“Theo tờ trát của Xu mật viện ngày 30 tháng giêng năm Nguyên Hựu thứ 7: ‘Chương Tiết tâu, kiểm tra hồ sơ thấy tờ trát của Xu mật viện ban xuống ngày 24 tháng 12 năm Nguyên Hựu thứ 6, giao cho các lộ suý thần xử lý các sự việc cơ yếu về phòng thủ biên giới, trong đó có những điều khoản ước thúc mà thần đã ban hành sau khi đến lộ này, đại ý tuy giống nhau, nhưng cách xử trí có chỗ hơi khác, nên xin tâu bày.
Thần nghĩ rằng giặc Tây Hạ xảo quyệt, chưa dám chuyên quyền thi hành, kính xin triều đình xem xét kỹ lưỡng rồi chỉ thị. Xu mật viện xét thấy tờ trát trước đây ban xuống, đại khái lệnh cho các lộ khi gặp giặc hợp binh xâm nhập, thì củng cố thành lũy, dọn sạch đồng ruộng, đợi khi khí thế giặc suy yếu, tìm cơ hội đánh úp.
Nay xét thấy những điều khoản ước thúc đã ban hành ở lộ này, ngoài việc tùy cơ ứng biến, tự thuộc về việc suý thần xử trí thi hành, xét kỹ thấy giặc Tây Hạ đã đem đại binh xâm nhập, thì quân Hán ở địa phương đó đương nhiên là ít không địch nổi nhiều.
Nếu lệnh cho các tướng trại quan chia quân đóng giữ nơi hiểm yếu để quan sát, thần e rằng giặc Tây Hạ dò biết được tình hình, trước hết sẽ sai quân nhẹ đi cướp bóc rải rác, dụ quân quan ra đánh, rồi phát đại binh hợp lực chống cự, hoặc chặn đường về của quân ta đóng ở nơi cao hiểm. Nếu chẳng may quân quan không đủ sức, lại không thể nhập thành theo lệnh, thì không rõ quân ra trận sẽ rút lui như thế nào? Hoặc nếu giằng co nhiều ngày, thế giặc chưa tan, không biết lương thảo cấp phát ra sao? Như vậy có phải là kế sách kiên bích hay không?
Hơn nữa, khoảng cách từ phủ suý các lộ đến biên giới có xa có gần, nếu để giặc kéo dài, tiến thẳng đến dưới thành phủ suý hợp binh, thì e rằng các tướng quan sứ thần sau khi nhận được lệnh này, khi gặp giặc xâm nhập, sẽ chần chừ tránh việc, không dám tiến lên, chỉ lo rút lui. Đến khi hợp binh ở phủ suý, không những vùng bị giặc tấn công thiếu người ra trận, mà những vùng gần đó cũng sẽ bị tàn phá. Lại có những nơi xa phủ suý, không biết có nên lệnh cho các tướng phó cũng đến phủ suý hợp binh hay không?’
Tờ trát giao cho thần xem xét kỹ lưỡng những việc trên, bàn bạc kỹ càng để có lợi ích hoàn toàn, rồi thi hành, đồng thời tâu bày những việc đã làm, gửi trạm dịch nhanh tâu lên.”
Lúc đó, Tiết lại tấu rằng:
“Thần xét theo chiếu chỉ gần đây (ngày 18 tháng 10, cần tra cứu), dự đoán người Tây có thể huy động đại quân tiến đánh, nhưng nếu có thể kiên cố phòng thủ, bảo vệ thành trại không bị nguy hiểm, thì đã là toàn thắng. Thần nghĩ rằng những năm trước giặc đánh vào Trấn Nhung quân, và năm ngoái xâm lược vùng Hà Ngoại, không phải là không kiên cố phòng thủ, nhưng dân chúng vẫn bị tàn phá không ít, đó là việc đã xảy ra.
Thêm nữa, vào năm Hi Ninh, giặc Tây xâm phạm Khánh châu, bao vây chín nơi thành trại dọc biên giới, lúc đó quân tướng bị giam chặt trong thành trại, không thể ra ngoài, khiến giặc chia quân nhẹ vào sâu cướp bóc, không còn kiêng sợ gì. Thần lo sợ rằng từ nay về sau, quân tướng một khi đã kiên cố phòng thủ ở trong, bị bao vây khắp nơi, không có cách nào ra ngoài, lại có nguy cơ giặc tiến sâu vào, nên thần đã xin trình bày sự việc trên.
Huống hồ vùng biên giới của bản lộ này có địa thế núi non hiểm trở, rất thuận lợi cho việc phòng thủ. Nay đã xem xét và phân chia binh mã của các tướng thành các cấp, bố trí tại các trấn thành và trại để phòng thủ, còn tinh binh thì xuất chiến, cử các tướng quan chỉ huy.
Nếu gặp giặc phương Tây xâm phạm, lập tức ra lệnh xuất chiến[2]. Khi tướng quan dẫn quân ra khỏi thành, cũng không để họ đối mặt trực tiếp với quân địch, mà lệnh cho các tướng cùng sứ thần và quan lại địa phương phân chia quân mã, chọn nơi cao hiểm để đóng quân, không tập trung một chỗ.
Nếu quân địch truy đuổi, lại lệnh cho quân ta tránh né, khiến địch biết rằng quân chiến đấu của ta đang ở bên ngoài, chúng sẽ lo sợ rằng các nơi hiểm yếu đều có phục binh. Nếu chúng muốn tấn công thành thì sợ bị đánh từ phía sau, muốn cướp bóc thì quân ta sẽ theo hướng chúng di chuyển, bày mưu đánh úp, tìm cơ hội tấn công, sao chúng dám phân tán đi cướp phá? Nếu chúng muốn giao chiến, ta có thể tránh né hoặc chiếm cứ nơi hiểm yếu, không tranh phong với chúng, làm sao chúng có thể dụ ta ra để chặn đánh?
Đây chính là kế sách để đối phó khi địch dùng đại binh xâm lược, ta ít địch nhiều, nên phải phân tán quân chiến đấu ra bên ngoài, khiến chúng tiến sâu vào đất ta, không thể giao chiến, không dám tấn công, cướp bóc cũng không được gì, chỉ sau vài ngày sẽ tự rút lui. Quân xuất chiến mang theo lương khô, đủ dùng trong mười ngày, dù chúng chưa rút, ta là chủ, chúng là khách, quân ta ở nơi thôn dã, không lo thiếu lương.
Nếu chúng tập trung, quân các tướng sẽ tìm cơ hội đánh vào chỗ yếu; nếu chúng phân tán, ta đã chiếm cứ các nơi hiểm yếu, có thể ngồi chờ chúng suy yếu. Đại để, khi quân chiến đấu ở bên ngoài, quân phòng thủ mới dám cố thủ; nếu bên ngoài không có quân chiến đấu mà chỉ cố thủ, địch sẽ tiến sâu, cả vùng sẽ bị hại. Điều thần lo lắng chính là kế sách phòng thủ gần biên giới.
Hơn nữa, nếu tướng quan trong thành trại có người nhút nhát, thì có thể vin cớ bị vây hãm mà không xuất binh, đứng nhìn để tránh việc. Nếu ở bên ngoài, dù là người nhút nhát cũng không có lý do gì để từ chối. Huống chi những tướng quan được cử ra trận hiện nay đều là người được tuyển chọn có tài năng và mưu lược, có thể tin cậy. Việc lệnh cho họ rút lui tránh né, đến thẳng phủ Nguyên soái để hội hợp với đại quân, chỉ là phòng khi có việc cần thiết phải làm như vậy, để xem xét tình thế mà hành động, chứ không phải bắt buộc tất cả đều phải làm như thế. Thêm nữa, những nơi bị giặc cướp đánh phá, quân ta ít không địch nổi nhiều, dù tướng quân ở trong thành cũng khó có thể xuất binh.
Huống chi, dọc biên giới các châu Hoàn, Khánh thuộc bản lộ, có khoảng hơn ba mươi thành trại gần và xa. Giả sử giặc tập trung toàn lực đánh vào bản lộ, ước tính quân giặc mạnh nhất cũng không quá hai mươi vạn người. Nếu chia quân bao vây hết các thành trại, thì sau khi trừ đi số quân lớn nhỏ, mỗi thành trại không đầy một vạn người. Quân ta đã ở bên ngoài, mà quân giặc dù mỗi nơi có đầy một vạn người, liệu dám công khai tiến sâu vào hay không, chẳng lẽ không lo quân ta đánh úp phía sau?
Nếu không dám bao vây hết, thì quân các tướng tự có thể hỗ trợ lẫn nhau. Giặc thấy quân ta phân tán ở những nơi hiểm yếu, tự nhiên không dám tiến sâu. Nếu giặc dám tiến sâu, chính là rơi vào kế của ta, ta sẽ dựa vào địa thế hiểm yếu để đánh chặn, chặn đường rút lui của chúng, có thể tiêu diệt sạch, không để sót một mống. Chúng đã bị đánh cả trước lẫn sau, tất sẽ tan rã, còn đâu thời gian để cướp bóc, há chẳng phải là mười phần thuận lợi? Nay theo chỉ dụ trước đây, chỉ là quy định đại thể cho tướng quan, còn những việc nhỏ nhặt khác thì tùy cơ ứng biến. Thần thấy nên tiếp tục bàn bạc kỹ lưỡng rồi mới thi hành.”
Tờ thiếp hoàng: “Kiên bích thanh dã vốn là sách lược của các tướng giỏi từ xưa để chống lại giặc ngoại xâm. Tuy nhiên, không thể chỉ tuân theo một khuôn mẫu, khiến giặc biết rằng ta không có cách thay đổi linh hoạt, ngược lại bị giặc khống chế. Trong năm Nguyên Hựu thứ hai, quân Trấn Nhung bị vây hãm, mười một tướng quân đều ở trong thành, giặc ngoại xâm cướp bóc hơn ba trăm dặm, như đi vào chỗ không người. May mắn là giặc không biết rõ tình hình thực hư, nếu chúng tiến sâu hơn để cướp bóc, thì hậu quả sẽ càng lớn. Bởi vì quan quân đều ở trong thành, không có cách nào ngăn chặn. Khi giặc chuẩn bị rút lui, chúng đốt lửa trong trại như thường ngày, dùng quân bao vây, rồi một đêm sau bỏ trốn.
Trong thành biết giặc rút lui, nhưng đến ngày thứ hai mới xuất quân truy đuổi, không thấy một người một ngựa nào. Đây là minh chứng cho việc chỉ dùng kiên bích mà bên ngoài không có quân tướng. Tháng chín năm ngoái, giặc xâm phạm vùng Hà Ngoại, tình hình cũng không khác gì.
Lại nói về Khánh Châu, nơi đặt trị sở của suý thần. Hiện nay, Khánh Châu quản lý hơn sáu nghìn quân địa phương và quân khách, cùng với các quan viên được phân công tuần tra ở các huyện và làm nhiệm vụ trong thành, đều nằm trong số sáu nghìn người này.
Các châu Bân, Ninh, Diệu có tổng cộng bốn nghìn quân hạ phiên. Nếu trừ đi số quân được giữ lại ở các châu và quân Đông binh để ứng phó tình huống khẩn cấp, cũng như bổ sung cho các thành trại biên giới, thì số quân còn lại không đầy năm sáu nghìn người, đóng quân ở vùng gần biên giới, liệu có lo lắng về nguy cơ giặc Tây tiến sâu vào không? Nếu chỉ dùng quân mã đóng ở Khánh Châu, có thể điều động không quá ba bốn nghìn người, làm sao chống lại được giặc Tây?
Vì vậy, lệnh cho các tướng biên giới rút dần quân mã ra chiến trường, lui về hợp quân với quân của suý phủ để ứng cứu, nhằm tạo thanh thế lớn. Xét tình hình thực tế, cần phải đóng trọng binh ở suý phủ, mới có thể tương ứng trong ngoài. Vì thế, nhiều lần tấu xin thêm một hai tướng quân mã, nhưng đến nay triều đình vẫn chưa thi hành, xin được chiếu cố.
Lại như gặp giặc Tây đại quân xâm lấn, tuy đã đưa hết dân chúng các bộ tộc ven biên giới và quân lính vào trong thành trại, chỉ là kế sách ‘kiên bích thanh dã’ của các trại biên giới. Huống chi trong phạm vi hai ba trăm dặm gần đó, dân cư rất đông đúc, nếu sơ tán trước thì ắt sẽ gây xáo trộn, lo sợ; nếu không sơ tán, lại vì gần đó không có quân trọng yếu ứng cứu, nên phải phân bố quân lính ven biên giới ra chiến đấu phòng thủ. Ví như một trại có một vạn quân, điều đáng lo nhất là không có người bên ngoài trông nom, không biết quân giặc tiến thoái thế nào. Dù quân giặc rút lui, cũng phải thăm dò kỹ lưỡng mới dám xuất quân.
Hơn nữa, quân trong thành giữ cổng thành, chỉ có thể cùng lúc cho người và ngựa đi qua, kéo một vạn quân ra phải mất hơn nửa ngày mới tập hợp đủ để đuổi theo. Quân giặc đã vượt biên giới xa rồi, làm sao có thể gây hại cho chúng được?
Lại xét năm Hi Ninh thứ 3, giặc Tây xâm phạm vào lộ này, công phá vây hãm thành trại cũng giống như năm Nguyên Hựu thứ 2 xâm lấn vào quân Trấn Nhung.”
(Ngày 8 tháng 2 năm thứ 7, Tiết dâng tấu này, nay phụ vào ngày tháng này, cần phải chỉnh sửa.)
[14] Ngày Nhâm Tuất, Viện Xu mật tâu: “Lộ Hi Hà gặp giặc Tây xâm lấn vào lộ khác, lộ này nên xuất quân để kiềm chế. Nhưng vì châu Lan cách sông lớn, lúc cấp bách qua sông có thuyền bè hay không, đã từng chuẩn bị trước để ứng phó lúc cấp bách hay chưa, xin hạ lệnh cho Kinh lược ty của lộ này xét lại, nếu chưa chuẩn bị gì thì lập tức lo liệu.” Theo lời tâu.
[15] Ngày Giáp Tý, Ty Chuyển vận lộ Thành Đô phủ tâu: “Tiến sĩ Đặng Tông Cổ ở châu Giản được làng xóm khen là hiếu thảo, cha mẹ mất, ông đắp đất thành gò, mộ phần thường có cam lộ rơi xuống, việc sống chết đều giữ trọn đạo hiếu. Xin ban lời khen thưởng.” Chiếu ban cho 20 tấm lụa.
[16] Chiếu rằng các võ thần đang chịu tang, nếu đang giữ chức quản quân hoặc làm Tổng quản, Kiềm hạt, Đô giám ở các lộ, hoặc giữ chức Tri châu, Tri huyện, Thành quan sứ, Huyện úy, Đô giám, Trại chủ, Giám áp, Đồng tuần kiểm, Tuần kiểm trú bạc, Tuần phòng trú bạc, cùng các chức quản áp cương vận đại sứ thần thuộc hệ quân ban được đổi bổ, cùng các tiểu sứ thần không phải do ấm bổ hoặc thi võ cử nhập quan, cùng các chức Sai sứ, Tá sai, đều không phải giải chức. Riêng những người đang giữ chức ở biên giới hoặc quản áp cương vận thì được cấp 15 ngày nghỉ, còn lại được nghỉ 100 ngày. Những người thuộc diện không phải giải chức nhưng tự nguyện giải chức để chịu tang, trừ những người đang giữ chức ở biên giới phải tâu xin chỉ dụ triều đình, còn lại đều cho phép.
[17] Ngày Ất Sửu, chiếu cho quan biên tu điều lệ của Xu mật viện tiếp tục biên soạn sách 《Kinh vũ yếu lược》. Trước đây, vào niên hiệu Hi Ninh, Xu mật sứ Văn Ngạn Bác tâu xin lập cục biên soạn 《Kinh vũ yếu lược》, từ đầu triều đến năm Hi Ninh thứ 4, công việc chưa xong thì bị bãi bỏ. Đến nay, lại sai quan biên soạn để hoàn thành việc này.
[18] Chiếu rằng từ nay các huyện thuộc phủ, nếu hộ dân đủ tiêu chuẩn làm thủ lực nhưng chưa đủ 3 năm nhàn rỗi, thì dùng tiền trợ dịch để mộ người thay thế, theo đúng thời hạn của chức dịch, đến khi mãn hạn mà có hộ dân đã nhàn rỗi đủ 3 năm thì sẽ sai phái người đó thay thế.
[19] Ty Chế trí phát vận tâu: “Hàng năm, hai lộ Chiết Tây và Chiết Đông phải nộp số thóc theo định mức, theo chỉ dụ triều đình, cho phép nộp thay 50 triệu thóc bằng tiền mặt, và thu mua vàng, bạc, lụa, lĩnh để chuyển về kinh. Đến cuối năm, nếu còn tiền thu mua chưa chi hết, thì căn cứ số tiền còn lại chuyển về kinh. Xin quy định rằng tất cả số tiền dự trữ để chiết nộp thóc đều không được đem ra mượn hoặc chi dùng vào việc khác.” Triều đình chấp thuận.
[20] Ngày Bính Dần, phong Ôn Quốc trưởng công chúa lên làm Tào Quốc trưởng công chúa.
[21] Các ty Kinh lược sứ ở Thiểm Tây, Hà Đông và 6 lộ được ban 50 vạn quan tiền.
(Sự việc ngày 14 trong 《Chính mục》, cần tra cứu thêm.)
[22] Ngày Đinh Mão, Quyền Thiểm Tây chuyển vận sứ Lý Nam Công được bổ làm Trực bí các.
[23] Dẫn tiến sứ, Gia Châu phòng ngự sứ, Quyền Xu mật viện phó đô thừa chỉ Lý Thụ được bổ làm Thấp Châu phòng ngự sứ, bãi chức Phó đô thừa chỉ, lấy Trung Châu đoàn luyện sứ Tào Tụng thay thế.
[24] Bộ quân đô ngu hậu, Tín châu đoàn luyện sứ, Định châu lộ phó đô tổng quản Lưu Bân được quyền đồng quản câu Mã quân ty. Trước đó, Xu mật viện vì Bộ quân phó đô chỉ huy sứ Lưu Thuấn Khanh mất, chức vụ hoàn vệ khuyết người, muốn tiến cử bổ nhiệm, trước tiên tâu lên.
Thái hoàng thái hậu nói: “Còn có chỗ khuyết, đã lâu rồi, không bổ cũng không sao chứ? Chức tướng tương không phải việc nhỏ, sao có thể dễ dàng!” Vương Nham Tẩu tâu: “Từ thời tổ tông đến nay, ba chức suý chưa từng khuyết hai người, vì nếu chức điện suý khuyết, khó có thể từ dưới vượt cấp bổ nhiệm. Nay Diêu Lân là Điện tiền đô ngu hậu, nên thăng làm Bộ quân phó đô chỉ huy sứ, còn Lưu Bân vốn vì không có tài nên bị điều ra ngoài, nay bất đắc dĩ, lại muốn triệu về, cho cùng Lân kiêm quản.” Thái hoàng thái hậu nghe theo.
Thái hoàng thái hậu lại nói: “Quản quân phải là người có công biên cương, được mọi người phục mới được.” Nham Tẩu đáp: “Những người bọn thần tiến cử chính là những người như vậy. Bệ hạ coi trọng danh khí như thế rất tốt, nhưng người hợp dụng cũng cần từ từ tiến cử, để khi cần kíp mới có thể sử dụng. Nếu cách xa quá, cũng khó ứng dụng.”
Thái hoàng thái hậu nói: “Phải chọn người cẩn thận.” Nham Tẩu đáp: “Không dám vượt cấp, chỉ muốn theo thứ tự tiến cử mà thôi.”
[25] Chiếu cho quan quân ra khỏi trại, chiêu mộ người có thể đào kho lương của giặc Tây, tướng quan kiểm nghiệm nhận lấy, phân phát cho người và ngựa làm lương thực, mỗi đấu lương chi 150 đồng tiền đủ, mỗi đấu thức ăn ngựa chi 100 đồng tiền đủ, đều lấy từ tiền của tỉnh.
[26] Xu mật viện tâu: “Xét thấy vùng biên giới Thiểm Tây hiện có các con đường trọng yếu kiểm soát ngựa giặc, từ trước đến nay do nước Hạ giảng hòa nên chưa xây dựng đồn trại. Nay đã cắt đứt cống phẩm của họ, có thể nhân cơ hội này chọn địa điểm xây dựng.
Vâng theo thánh chỉ, lệnh cho các lộ Kinh lược Thiểm Tây, Hà Đông nhanh chóng chọn quan lại dẫn theo quân lính cần thiết, thân hành đến khu vực biên giới Hán và vùng đất sinh sống của người Hán, chọn những nơi có địa thế hiểm yếu có thể xây dựng đồn trại phòng thủ.
Trước hết chọn hai nơi trọng yếu trong khu vực người Hán và người Phiên, ước lượng quy mô thành trì, thời gian hoàn thành công trình, khoảng cách đến các đồn trại hiện có, vẽ bản đồ và trình bày chi tiết tấu lên. Đồng thời chuẩn bị vật liệu xây dựng lầu canh, chi phí tiền lương cần thiết cho một nơi, sau khi có số liệu cụ thể thì tấu lên. Thời gian khởi công sẽ nghe theo chỉ đạo của triều đình.”
(Theo tấu nghị của Chương Tiết, đây là chỉ đạo ngày 14 tháng 2 năm thứ 7, lúc đó ban hành khắp các lộ, được chép trong thực lục. Nay ghi đầy đủ nguyên văn, kèm theo chú thích từ thực lục: “Chiếu cho các vùng biên giới Thiểm Tây, Hà Đông: Nay giặc Hạ tự cắt đứt, nên nhân cơ hội tiến hành xây dựng, chọn những nơi có địa thế hiểm yếu có thể xây dựng thành trại phòng thủ, mỗi lộ chọn trước hai nơi, ước lượng quy mô thành trì, thời gian thi công và khoảng cách đến các đồn trại lân cận, vẽ bản đồ và trình bày; đồng thời chuẩn bị vật liệu xây dựng lầu canh, chi phí tiền lương cần thiết cho một nơi, tấu lên số liệu cụ thể; thời gian khởi công sẽ nghe theo chỉ đạo của triều đình.”
Ngọc điệp chép: “Tháng 2, chiếu rằng người Hạ tự cắt đứt, lệnh cho các lộ Thiểm Tây, Hà Đông tập trung xây dựng.” Đó là chiếu ngày 14 tháng 2 này.)
Sau sáu ngày, Xu mật viện tâu: “Lo ngại rằng các quan được cử đi ở các lộ không lượng định tình thế, vì thế mà đi sâu vào đất giặc, lại bị rơi vào bẫy phục kích của chúng.” Chiếu rằng: “Các lộ kinh lược ty, ngoài việc tuân theo chỉ huy trước đây về việc xây dựng trại ở biên giới, chỉ nên căn cứ vào ý kiến của bản ty, nghiêm ngặt ràng buộc. Các quan được cử đi nếu vào đất sinh giới để thăm dò, phải chỉ ở những nơi gần biên giới để xem xét địa lợi, lựa chọn, không được dễ dàng đi sâu vào.”
(Điều này cũng căn cứ vào tấu nghị của Chương Tiết, là chỉ huy ngày 20 tháng 2, nay gộp vào sau ngày 14. Cuối tháng bàn việc xây dựng Nhữ Già, tháng 5, thành Định Viễn hoàn thành.)
[27] Ngày Kỷ Tỵ, Xu mật viện tâu: “Gần đây, các lộ Kinh Nguyên, Hoàn Khánh vì biên sự chưa yên, xin tăng thêm bộ tướng, đội tướng. Đã có chỉ huy, mỗi tướng tạm thời tăng thêm một người, bộ tướng do kinh lược ty tiến cử, đội tướng do Lại bộ tuyển chọn, khi biên sự yên thì bãi bỏ.” Theo đó. Các lộ Phu Diên, Tần Phượng, Hi Hà Lan Mân cũng theo như vậy.
(Có thể xem ngày Đinh Tỵ tháng 4.)
[28] Ngày Canh Ngọ, chiếu rằng việc nạp hậu sắp tới, lệnh các quan lễ đem các nghi thức lục lễ gần đây gửi đến Học sĩ viện để tham khảo, tu chỉnh các từ ngữ phù hợp.
[29] Ngày Tân Mùi, Điện tiền đô ngu hầu, Uy Châu đoàn luyện sứ Diêu Lân được làm Định Châu quan sát sứ, sung chức Bộ quân phó đô chỉ huy sứ, theo đề nghị của Xu mật viện.
(Xem ngày 14.)
[30] Ngày Nhâm Thân, chiếu phong Ôn Quốc trưởng công chúa lên tước Tào Quốc, không làm lễ sách mệnh, lệnh Học sĩ viện ban chiếu, theo lời thỉnh cầu của bà.
[31] Ngày Ất Hợi, Tào Quốc trưởng công chúa hạ giá lấy Phò mã đô úy Hàn Gia Ngạn. Hai ngày sau, Đồng tri Xu mật viện sự Hàn Trung Ngạn tâu việc xong, ở lại tạ ơn, nhân đó xin tránh hiềm nghi, rồi về nhà riêng, sau đó lại được triệu vào làm việc như cũ.
[32] Ngày Bính Tý, chiếu lấy Thấp Châu làm thứ biên. Vì châu này tâu rằng hai cửa ải Thượng Bình, Vĩnh Ninh gần kề biên giới phía tây, việc phòng bị lâu dài không thể chậm trễ.
[33] Trước đó, nội giáng phó cho Tam tỉnh và Xu mật viện, anh của Hoàng thái phi là Tây Kinh Tả tàng khố sứ, Đái ngự khí giới Chu Bá Tài được đặc cách bổ nhiệm làm Dao quận Thứ sử, vẫn giữ chức Đái ngự khí giới; cháu của Hoàng thái phi là Ký ban Chi hậu, Tả thị cấm Chu Hiếu Tôn được đặc cách thêm chức Cán đương Hữu Kỳ Kỵ viện, sau khi hết nhiệm kỳ sẽ không bổ nhiệm người khác. Lã Đại Phòng và các quan đều cho rằng không nên.
Khi trình lên, Đại Phòng nói: “Việc này tuy là ân điển đặc biệt, nhưng không có danh nghĩa. Sau khi lễ nạp hậu hoàn tất, dùng dịp đại hỷ để ban ân cho ngoại thích thì có vẻ hợp lý hơn, hơn nữa cũng không chậm mấy tháng. Nếu ban trước, đến lúc đó lại ban nữa thì trùng lặp, không ban thì lại không hợp tình người.”
Thái hoàng thái hậu nói: “Ta cũng đã nói với Thái phi rằng không có tiền lệ thì không thể làm, dù là nhà Thái hoàng thái hậu hay Hoàng thái hậu cũng không được. Vì bất đắc dĩ nên mới ban đặc chỉ.” Đại Phòng nói: “Chi bằng đợi vài tháng nữa, có danh nghĩa thì việc sẽ hợp lý hơn.”
Thái hoàng thái hậu nói: “Tạm thời thu lại văn bản bên ngoài.” Đại Phòng và các quan đều khen hay. Sau khi lui ra, Xu mật viện tấu sự, Thái hoàng thái hậu lại tuyên dụ: “Vừa rồi đã nói với Tam tỉnh về việc thăng chức cho Chu Bá Tài. Khi Ôn Quốc hạ giá, mẹ đẻ của nàng nên được thăng một chức, nhưng Thái phi không có chức nào để thăng, nên ban cho em trai, thăng làm Dao quận Thứ sử cũng có vẻ hợp lý.” Hàn Trung Ngạn và Vương Nham Tẩu nói: “Như vậy càng ổn thỏa.”
Thái hoàng thái hậu lại nói: “Việc này phải là người có công ở biên giới mới hợp lệ.” Trung Ngạn nói: “Danh khí nên trân trọng.” Nham Tẩu nói: “Triều đình ban ân nên có danh nghĩa, tự nhiên người ta sẽ phục.” Sau khi lui ra, gặp Tam tỉnh nói: “Thái hoàng thái hậu tuyên dụ thêm một ý nữa, vì việc nạp hậu ban ân cho ngoại thích không có tiền lệ, không muốn họ Cao cũng dự phần, đức lớn như vậy.” Do đó, hai mệnh lệnh thăng chức cho Bá Tài và Hiếu Tôn đều bị bãi bỏ.
(Theo đó đã nói hai mệnh lệnh đều bị bãi bỏ, nhưng Bá Tài vào ngày Đinh Sửu lại được thăng làm Vinh quận Thứ sử, vì Bá Tài chỉ nhờ ân điển của Thái phi khi Tào Quốc hạ giá, không dùng đặc chỉ trước đó.)
[34] Ngày Đinh Sửu, Tây Kinh Tả tàng khố sứ, Đái ngự khí giới Chu Bá Tài được thăng làm Thứ sử châu Vinh. Đây là ân điển ban xuống do việc Công chúa nước Tào hạ giá.
(Sự việc Chu Bá Tài tâu về môn khách được ghi trong 《Long Xuyên Biệt Chí》 vào năm thứ 9.)
[35] Kinh Tây lộ Chuyển vận ty tâu: “Hàng năm, việc tu sửa cọc gỗ và đá ở bờ nam bắc sông Hà Dương đều do ty này chi tiền mặt[3], chiêu mộ dân bán, đợi khi hạ lệnh điều động phu xuân, vẫn theo lệ cũ ở hai lộ nam bắc thu tiền miễn phu để hoàn trả.” Công bộ xem xét và tâu: “Hà Dương vốn dựng đê đá thay cho đê gỗ, không có lý nào cùng lúc dựng cả hai loại đê. Nếu cho làm đê đá thì phải tháo bỏ đê gỗ, tốn kém công sức và tiền của.” Triều đình nghe theo.
[36] Chiếu cho Đô thủy giám ở những nơi ít khẩn cấp giảm bớt hai viên Đô đại, thay vào đó bổ nhiệm hai viên Đại sứ thần, cho phép họ kiêm nhiệm việc trồng cây du và liễu ở hai khu vực Nam Bắc thừa, đồng thời kiêm nhiệm việc kiểm tra đê điều, thu mua vật liệu và các công việc dọc sông.
[37] Ngày Kỷ Mão, chiếu không nhận chương tấu xin ra ngoài nhậm chức của Đồng tri Xu mật viện sự Hàn Trọng Ngạn.
[38] Ngày Canh Thìn, tướng thứ bảy của Hoàn Khánh lộ là Chiết Khả Thích dẫn hơn 8.900 quân vào đất địch, đánh dẹp quân giặc ở Ty Giám quân châu Vi, chém được 70 thủ cấp, bắt sống 4 người, thu được ngựa, trâu, dê, lạc đà tổng cộng hơn 2.130 con.
(Việc này được thêm vào theo tấu nghị của Chương Tiết[4].)
[39] Ngày Tân Tỵ, Hi Hà Lan Mân lộ Kinh lược An phủ ty tâu: “Sứ giả tiến cống nước Vu Điền gồm ba đoàn hiện đang ở biên giới, trong đó đoàn Đả Tư Man Lãnh Di Tứ Xướng Tư Ba đã được triều đình đặc cách cho phép tiến cống. Hai đoàn còn lại, do đã có chỉ dụ cho phép tiến cống cách năm, xin chỉ cho phép họ buôn bán ở châu Hi và châu Tần xong rồi trở về nước.” Triều đình nghe theo.
[40] Chiếu cho các lộ Kinh lược Hoàn Khánh, nếu gặp việc cần điều động bảo giáp để phòng thủ, trước hết hãy điều động những người vận chuyển lương thực để ứng phó; nếu vẫn không đủ, thì tuyển chọn từ các hộ thuộc đẳng cấp thứ tư trở lên có hai đinh tráng, nhưng chỉ được phục vụ tại các châu lân cận.
[41] Trước đó, Du Sư Hùng xin từ Lý Nặc Bình, Lan Châu về phía đông đến Thông Viễn quân, giữa thành Định Tây và trại Thông Vị xây dựng ba trại Nhữ Già, Nạp Mê, Kết Châu Long và đặt bảy pháo đài bảo vệ nông nghiệp để củng cố biên giới. (Theo 《Trương Thuấn Dân chí Du Sư Hùng mộ》 ghi rằng tấu chương không được phúc đáp, nhưng xét theo bản tường trình tham khảo của Phạm Dục thì không phải là không được phúc đáp. Không rõ vì sao Trương Thuấn Dân lại nói như vậy.)
Mục Diễn lại xin xây thành Lý Nặc Bình giữa hai đồn Chất Cô và Thắng Như để khống chế vị trí then chốt, và nói rằng Nạp Mê, Nhữ Già, Thiển Tỉnh, Long Nặc đều nên xây đình chướng để thông viện cho Kinh Nguyên. (Theo 《Mục Diễn mộ chí》 và bản truyện.)
Chiếu lệnh cho Phạm Dục tham khảo ý kiến của Du Sư Hùng. Phạm Dục tâu:
“Du Sư Hùng đã khảo sát và đề xuất xây dựng 11 pháo đài và trại trên địa bàn lộ này, trong đó Lan Châu cần xây dựng ba nơi là trại Nạp Mê, Đại Liễu Bình và pháo đài Nhữ Già Quỵ; Thông Viễn quân cần xây một trại Kết Châu Long, phù hợp với chỉ dụ triều đình ngày 23 tháng 10 năm ngoái về việc xây dựng một pháo đài phòng thủ giữa thành Định Tây về phía đông đến pháo đài Long Nặc, và giữa thành Định Tây về phía tây đến Lý Nặc Bình, cùng hai pháo đài nhỏ bảo vệ, tổng cộng sáu pháo đài, phù hợp với lợi ích của lộ này.
Ngoài ra, Thông Viễn quân cần xây một trại Nhữ Già, phù hợp với chỉ dụ triều đình về việc xây một pháo đài bảo vệ lương thực trên nền đất đã khảo sát trước đó, chỉ khác là Du Sư Hùng đề nghị xây rộng 700 bước, còn lộ này đề nghị 600 bước, chu vi thành có chút khác biệt.
Còn sáu nơi mà Du Sư Hùng đề xuất xây dựng tại Thông Viễn quân là Triết Đồ, Bác Tích, Nhược Lan, Tán Chiếm, Thiềm Mâu Sơn, thì không phù hợp với chỉ dụ triều đình và khảo sát của lộ này về hai nơi là Kết Châu Long Quỵ và Hoa Xuyên, địa danh và lợi hại có sự khác biệt rõ rệt.
Thần nay xét lại việc bàn luận xây dựng tu sửa của bản lộ trước đây, là vì từ Lan Châu về phía đông đến Định Tây thành, từ Định Tây thành về phía đông đến Long Nặc bảo của Tần Châu, trong khoảng ba trăm dặm, là nơi quân địch có thể xông pha, chỉ có một Định Tây thành, ngoài ra không có hàng rào biên giới vững chắc, giặc có thể tiến sâu vào, nên thần đã hết sức trình bày lợi hại, muốn dần dần hoàn thiện thành lũy để ngăn chặn quân địch, củng cố thế biên giới.
May mắn được triều đình chấp nhận, nhân lúc mùa thu năm ngoái quân địch vừa tập hợp lại tan rã, thế chưa thể tập trung, liền ban chiếu cho bản lộ gấp rút xây thành Định Viễn, và lệnh sắp xếp thứ tự các bảo trại. Thần cho rằng triều đình chú ý đến đại kế biên phòng, rất hợp thời cơ, từ đó bản lộ đã có thế mạnh an toàn, đủ để chế ngự quân địch, bảo vệ biên giới và yên dân.
Vì vậy, thần nhiều lần tấu trình, muốn nhân lúc mùa xuân năm nay cỏ xanh chưa mọc, ngựa gầy, quân địch khó tập hợp, trước tiên tu sửa các thành trọng yếu, nhân thời cơ và lượng sức, không tốn nhiều công sức mà hoàn thành.
Và lại tuân theo mệnh triều đình, tiết kiệm công sức và chi phí, mong hoàn thành nhanh chóng, đến nay chưa nhận được chỉ dụ triều đình, thần đã trình bày việc chậm trễ, xin đợi mùa thu năm nay hoặc mùa xuân năm sau nhân cơ hội khác để tu sửa[5], đã tấu trình xong. Thần nay lại xem kỹ tấu trình của Du Sư Hùng, có năm điểm giống với bản lộ, sáu điểm khác biệt, suy xét nguyên nhân giống và khác, cũng có lý do.
Vì lúc đầu bản lộ đề xuất kiến nghị, có bốn luận điểm: Thứ nhất, chiếm giữ nơi hiểm yếu. Thứ hai, bảo vệ dân cư. Thứ ba, tương trợ lẫn nhau. Thứ tư, giữ chữ tín. Như trấn Định Viễn bảo vệ Kim Thành, chặn giữ Hi Châu, khống chế Đại Xuyên[6]; Nhữ Già là nền tảng của Thạch Giáp, củng cố Định Tây, chặn đường giặc, đó gọi là chiếm giữ nơi hiểm yếu. Định Viễn bảo vệ Kham Cốc, Chất Cô, Thắng Như, Nạp Mê che chở cho sáu tộc Dụ Lặc Tàng, Kết Châu Long Xuyên bảo vệ các xạ thủ cung tên, đó gọi là bảo vệ dân cư. Đại Liễu Bình, Nhữ Già Quỵ, Hoa Xuyên đông tây nằm giữa các trại, đó gọi là tương trợ lẫn nhau. Chất Cô, Thắng Như thường xây dựng thành quách nhà cửa, Định Viễn xây dựng bên trong, Nhữ Già nằm phía nam trại thứ hai, Kết Châu Long Xuyên cũng nằm giữa các vách núi, bên ngoài đều là đất canh tác của các xạ thủ cung tên.
Theo thần thường bàn với người Hạ, xin lấy các vách núi, đồn canh hiện đang canh tác làm ranh giới, nên các trại đều nằm trong đó, không xâm phạm đất giặc, đó là điều bản lộ giữ vững, không xâm lấn lẫn nhau, là đạo lý của chữ tín và công bằng.
Lại có chiếu chỉ ngày 8 tháng 9 năm ngoái, không được tu sửa, di dời, xây dựng đồn lũy vượt ra ngoài ranh giới đã thương lượng với Sái Nhân, đó là tuân theo chiếu chỉ. Dù sau này có tha tội xâm lấn cho giặc Hạ và phân chia ranh giới, vẫn giữ vững ý kiến nhất định, đó gọi là giữ chữ tín. (Sái Nhân đi sứ Thiểm Tây vào ngày 24 tháng 7 năm thứ 6.)
Bốn điều này đủ để củng cố phòng tuyến, giữ vững thế biên, lại không đánh mất chữ tín để khống chế người xa. Tấm lòng nhỏ bé của thần, thực sự ở chỗ này.
Thần lại nghe rằng: ‘Kết Châu Long Xuyên’, người Tây gọi mười tám là ‘kết châu’, gọi thung lũng là ‘long’, ý nói các thung lũng cùng đổ về một con sông. Vì thế, Du Sư Hùng muốn ở những nơi giặc ngựa qua lại, chiếm giữ chỗ hiểm yếu, xây dựng thành một pháo đài, như vậy thì vùng Kết Châu Long Xuyên sẽ không còn nạn giặc cướp.
Tuy nhiên, phần lớn đất đai đó lại nằm ngoài khu vực được quy hoạch thẳng thắn. Do bàn luận của thần tuân theo mệnh lệnh triều đình, không vượt quá phận sự của mình, nên không tránh khỏi sự cứng nhắc, đó là điều không thể tránh khỏi. Nếu Du Sư Hùng vâng mệnh Vua để bàn về lợi hại, thì không thể không hết lời trình bày với triều đình, đó là lý do có sự khác biệt trong ý kiến.
Nhưng nếu sau này giặc Hạ quy phục, mọi việc sẽ tuân theo điều ước cũ, thì ý kiến trước đây của thần lúc nào cũng có thể áp dụng. Nếu trị tội chúng vì phạm pháp và làm loạn, đổi mới hiệu lệnh, thì ý kiến của Sư Hùng chính là kế sách tối ưu cho biên phòng. Nếu lại có thể từ bỏ sự bảo thủ nhỏ nhen, phá bỏ những ý kiến cứng nhắc, thì ngoài sáu pháo đài, sẽ có cách chế ngự giặc mà không cần tốn sức, điều này thần không thể nói rõ được.
Thần xét việc bàn về mười một pháo đài, vốn có việc gấp việc chậm, việc lớn việc nhỏ. Mười cái kia tạm gác lại thì còn có thể được, riêng lợi ích của Nhữ Già, nói lớn thì dù muốn quét sạch Thiên Đô, khôi phục Hội Châu, định yên Hà Nam, cũng không thể không xây thành; nói nhỏ thì giữ vững hiệp ước đã ký, hoàn thiện một mặt phòng tuyến, cũng không thể không xây thành.
Thần lại từng tìm hiểu lợi ích của Nhữ Già, vì Nhữ Già đã xây dựng, dù phía tây không xây ba pháo đài Nạp Mê, phía đông không xây ba pháo đài Kết Châu Long Xuyên, chỉ vì chưa tương ứng với nhau, nhưng vẫn có thể ngăn chặn nạn biên giới. Nếu Nhữ Già không xây, thì phía tây phải xây riêng ba pháo đài Nạp Mê, để bảo vệ các tộc Dụ Lặc Tàng, lại phải ở dải Thiểm Can Than, Đốc La Xuyên xây riêng ba bốn pháo đài, để chặn đường giặc; phía đông dù xây ba pháo đài Kết Châu Long Xuyên, chỉ có thể bảo vệ dân cày, lại phải như Du Sư Hùng bàn, ở đường ngựa giặc đến xây dựng các pháo đài, để chặn đường tiến của giặc. Như thế thì công phí càng lớn, phòng thủ càng nhiều, e không phải là kế sách dễ làm.
Nếu hoàn toàn không làm, thì may mà giặc Tây không có mưu kế thì thôi, hoặc mưu gian một khi mở ra, chúng sẽ dẫn mấy vạn quân ra Thạch Giáp, qua Nhữ Già, đến Thiểm Can Than, thẳng tấn công Thục Dương, Vị Nguyên, thì Hi Châu nguy rồi; chiếm Thiềm Mâu Sơn, tập kích Thông Vị, qua Tam Sá, chia quân cướp Vĩnh Ninh, Lai Viễn, thẳng đến Thông Viễn, thì cả vùng dao động. Quân bản lộ chia nhau giữ ba trăm dặm biên giới, thế không thể hợp lại chống giặc, chạy ngược xuôi thì mệt, giữ nguyên chỗ thì hỏng, thần e không đủ ngăn giặc, đây là nỗi lo lớn nhất của bản lộ.
Thần vì thế ngày đêm lo lắng, đói không kịp ăn, ngủ không yên giấc, tính toán kế xây dựng, mong triều đình chấp thuận. Nay đã lỡ thời cơ, sau này việc khó lường. Thần vì triều đình phòng thủ, không thể dốc sức tranh thủ việc lớn này, thần e ngày sau nỗi lo Hi Hà không thể kể xiết. Thần ngu si không kìm được phẫn uất, kính mong triều đình suy tính kỹ càng. Lại nghĩ thần trí thức nông cạn, tài năng vụng về, lạm nhậm chức tướng, vốn có chỗ không đủ.
Kính mong triều đình chọn người tài xem xét lợi hại, vạch kế lâu dài, mong không lỡ đại kế biên phòng.”
(Trương Thuấn Dân viết bài văn bia Du Sư Hùng rằng: Từ khi triều đình bỏ bốn trại[7], Hi Hà và người Hạ chia địa giới, đến nay chưa phục. Sai ông đi xem xét, trình bày lợi hại lên triều đình, từ đó những nơi hiểm yếu đều thuộc về ta.
Năm thứ 6, giặc Hạ cướp Kinh Nguyên, lại vào Hi Hà, giết cướp rất nhiều. Ông dâng sớ nói: “Nguyên Phong lấy mở mang đất đai làm trước, nên việc bàn xây dựng lược bớt; Nguyên Hựu lấy hòa hiếu với rợ làm việc cần, nên việc bàn xây dựng bỏ đi. Nay Lan Châu cách đất giặc một dặm, mà Thông Viễn quân chưa đầy trăm dặm, lại không có núi non hiểm trở ngăn cách, thế người Hạ có thể lén nhòm ngó và xông vào dễ dàng, dân biên giới không yên ổn đã nhiều lần. Nên từ thành Định Viễn Lan Châu phía đông đến Thông Viễn quân, Định Tây thành[8], cùng khoảng giữa trại Thông Vị xây ba trại Nhữ Già, Nạp Mê, Kết Châu Long và đặt bảy pháo đài bảo vệ dân cày, để củng cố phòng tuyến, đây là cái lợi vô cùng của biên phòng.” Sớ dâng lên không được trả lời.)
Bấy giờ, Vương Nham Tẩu cùng Lã Đại Phòng bàn việc tiến hành xây dựng các đồn Nhữ Già. Nham Tẩu cho rằng từ khi mở mang Hi Hà đến nay, hàng rào phòng thủ chưa hoàn chỉnh, nên nhiều lần bị xâm lược, dân chúng không được yên ổn. Các quan biên thần nhiều lần tâu xin, triều đình cũng nhiều lần cử sứ giả đi xem xét, đều cho rằng nên xây dựng đồn Nhữ Già trước, sau đó đến các đồn Nạp Mê. Người từ phương Tây đến đều đồng ý như vậy, nhưng Hàn Trung Ngạn lại cho rằng mười năm không xây dựng cũng không sao, nếu khi xây dựng bị giặc ngăn trở, không thể thành công, thì trách nhiệm thuộc về triều đình.
Đại Phòng ban đầu còn do dự, sau đó lại ra lệnh xây dựng một đồn nhỏ ở đất Nhữ Già, hỏi ý kiến các tướng biên thùy, các tướng nói: “Xây đồn nhỏ không có ích gì. Nếu đã xây, chi bằng xây thành trại phòng thủ, chiếm giữ nơi hiểm yếu để dứt hậu họa.” Lại hỏi: “Gỗ để làm lầu canh, cùng các chi phí xây thành đã chuẩn bị đủ chưa?” Trả lời: “Đã có.” Lại hỏi: “Dù đã chuẩn bị, nhưng để ở đâu?” Trả lời: “Để ở thành và đồn bên cạnh, chuyên dùng cho việc này.” Lại đem việc này tâu lên, lý lẽ đều rất thiết thực. Nham Tẩu xin Đại Phòng sớm ban chỉ dụ cho các tướng, lệnh họ chọn thời cơ thuận tiện mà thi công. Bỗng nhiên thay đổi ý kiến, nói: “Đợi sau khi xây xong một đồn, rồi mới xây tiếp, để răn đe.”
Nham Tẩu nói: “Nay giặc Hạ đã phụ ơn gây họa, nhân cơ hội này nên tu sửa hàng rào phòng thủ, để ngăn ngừa hậu họa. Nếu trong vòng một năm chúng đến xin hòa, thì không thể xây dựng được nữa, hàng rào của ta sẽ bị chúng phá hủy, hàng rào mới chưa kịp xây. Không làm được việc gì, lại phải hòa hoãn với chúng, chịu thiệt hại như cũ, thật đáng tiếc.”
Đại Phòng nói: “Nếu chúng đến hòa, không xây cũng không sao.” Tô Tụng, Tô Triệt cho rằng lời của Đại Phòng là đúng. Trung Ngạn lại nói: “Chúng ta từng trách Vương Khuê, Thái Xác khuyên tiên đế mở mang, nay Ngạn Lâm lại cũng muốn mở mang.” Nham Tẩu nói: “Không phải mở mang, mà là chiếm giữ nơi hiểm yếu để tự bảo vệ. Không xây dựng thì tốt, nhưng triều đình không làm xong việc cần làm, e rằng sẽ bị chê trách.”
(Vương Nham Tẩu tranh luận về việc xây dựng đồn Nhữ Già, sách 《Hệ Niên Lục》 chép vào ngày 24 tháng 2, nay phụ chép vào cuối tháng. Ngày 14 đã có chiếu cho các lộ chọn địa hình xây dựng, nhưng ngày 24 Nham Tẩu vẫn còn lời này, không rõ vì sao. Nay kèm theo tấu chương của Du Sư Hùng, Mục Diễn, Phạm Dục. Hành trạng của Lương Đào cũng có chép việc này, nhưng lúc đó Đào chưa giữ chức tể tướng, làm Tả Thừa vào ngày 9 tháng 6. Hi Hà xin xây dựng các đồn Nhữ Già, các quan biên thần xin triều đình chiếm giữ trước thì sẽ thắng, tướng Tần Phượng lại xin xây đồn Kết Châu Long, Nạp Mê. Xu phủ xin trị lý Tần Phượng trước, vì những nơi Hi Hà muốn xây đều là đất mà người Tây Hạ nhất định sẽ tranh giành, chưa thể xây được.
Thượng thư Tả Thừa Lương Đào nói: “Trị lý biên giới là để chế ngự di địch, nên làm việc cấp bách trước, việc không gấp sau. Nay lại trị lý Tần Phượng trước, Hi Hà sau, là làm ngược lại. Để thắng lợi, phải chiếm giữ nơi hiểm yếu, tạo thế mạnh. Người Tây Hạ phản nghịch, nhiều lần xâm phạm biên giới, đúng lúc phải xây dựng, không phải lúc không có việc gì, đây là cơ hội không thể bỏ lỡ, không cần nghi ngờ.”
Bèn hạ lệnh cho các lộ không cần theo địa giới đã vạch sẵn trước đây, cứ chiếm giữ nơi hiểm yếu, nhân thời cơ mà xây dựng. Phủ Diên An là Lý Nam Công tâu, quân Bảo An báo rằng nước Hạ xin cống nạp, mọi người đều nên đồng ý. Đào cho rằng trong văn thư không nên dùng từ “giải hòa” của phương Bắc, e rằng chúng có ý gian trá, không thành thật, chưa thể vội nghe theo, nên bảo các quan biên thần dụ chúng đổi lại văn thư. Lại dò xét ý chúng, nếu thật sự thành khẩn, không gian trá, thì đồng ý cũng chưa muộn. Việc này kéo dài nhiều ngày chưa quyết định, gặp lúc Đào nghỉ phép, bèn theo lời tâu của Nam Công.
Hôm sau Đào vào chầu, tâu với hoàng đế: “Từ khi cắt đất hiểm yếu, một khi đã mất, người Khương nhiều lần xâm phạm biên giới, triều đình không thi hành được ân tín, uy thế không lập được, sao có thể hôm nay lại xử trí sai lầm? Giặc Tây Hạ đã xin nạp cống, lại lấy việc “giải hòa” của phương Bắc làm cớ, đây là việc rất nguy hại, e rằng sẽ mở đầu cho việc sinh sự sau này, không thể không lo, huống chi người phương Bắc chưa từng dính líu đến việc phương Tây. Xin thu hồi chỉ dụ đã ban, bảo chúng đổi lại văn thư, lại dò xét ý chúng, việc tuy có chậm, nhưng không để hối hận về sau.”
Chú thích này nên chuyển vào tháng giêng năm thứ 8, ngày 7 tháng 10 năm trước có thể tra cứu.)
[42] Ngày hôm đó, Môn hạ tỉnh trình lên số lượng người được bổ nhiệm vào các chức vụ.
(Sự việc ngày 28 trong 《Chính mục》, cần xem xét thêm.)
[43] Ngày Nhâm Ngọ, Kinh lược sứ Phu Diên lộ là Phạm Thuần Túy tâu:
“Theo văn bản tóm tắt từ tờ trát của Xu mật viện: “Quyền Phát khiển Kinh lược sứ Kinh Nguyên lộ là Tạ Lân cùng các quan tâu rằng, sau khi xem xét kỹ lưỡng về lợi hại của việc phối hợp, ứng viện và phòng bị, kính xin triều đình xem xét kỹ lưỡng và chỉ đạo. Xin xem xét kỹ lưỡng những điều đã tâu trước đó, giao cho Phu Diên cùng Hoàn Khánh, Kinh Nguyên các lộ xem xét có thể hay không thể dựa vào đây để hỗ trợ lẫn nhau như thế? Vâng theo thánh chỉ, hãy nghiên cứu kỹ lưỡng và tâu lên những lợi hại lâu dài.
Thần gần đây từng tâu trình, các lộ mỗi khi nhận được tin báo khẩn cấp về tình thế lớn, liền chuẩn bị sẵn quân đội trong ngoài biên giới, trang bị đầy đủ áo giáp, vũ khí, lương khô và các vật dụng cần thiết, khiến mỗi người đều sẵn sàng ứng phó bất ngờ.
Giặc Tây nghe tin các lộ ở biên giới nhà Hán đang điểm binh, có ý xuất quân đánh dẹp, chúng tất chia quân phòng thủ. Dù chúng tấn công một lộ, thế lực của giặc đã bị phân tán. Khi nghe tin giặc từ lộ khác báo về, lệnh cho quân đội mặc giáp, chỉnh đốn trang bị, tiến đến biên giới, đóng quân ở nơi thuận tiện, chờ lệnh từ lộ bị tấn công.
Hơn nữa, các Kinh lược ty của từng lộ cần thường xuyên thăm dò tình hình đối phương, biết được nơi giặc đóng quân. Nếu có cơ hội thuận lợi, có thể tiến sâu đánh dẹp; nếu không có lợi thế, cũng nên xuất quân ra biên giới để tạo thanh thế. Vì tinh binh của giặc chắc chắn tập trung ở lộ bị tấn công, quân đóng ở các lộ khác sẽ không mạnh, việc quyết chiến với chúng có lẽ không khó. Đó chính là kế sách ‘ỷ giốc’ mà Tạ Lân đã đề cập. Kính mong triều đình xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng.“
Thiếp hoàng: “Trước đây, Triệu Nguyên Hạo dẫn quân qua phía đông Vị châu, có ý định tiến sâu vào Bân, Ung. Lúc đó, tiền thần trấn thủ Hoàn Khánh, dẫn đại quân đến cứu viện Kinh Nguyên, giặc liền rút lui. Sau đó, triều đình lập ra pháp ứng viện, thực sự áp dụng kế sách này. Đến thời Nguyên Phong, do Lữ Huệ Khanh, Từ Hi sắp xếp biên phòng và triều đình bàn luận, đã ra lệnh các lộ không được ứng viện, dù có trận Vĩnh Lạc[9].
Lúc đó, thần đang phụng mệnh ở Thiểm Tây, từng trình bày rõ ràng[10], được triều đình ban chỉ, nhưng không được thực hiện. Đến khi thần trấn thủ Hoàn Khánh, vào tháng 2 năm Nguyên Hựu thứ nhất, lại trình bày ý kiến trước, đồng thời nêu rõ lợi ích của việc kiềm chế, trình bày nhiều lần, mới được triều đình cho phép ứng viện. Năm đó, giặc 40 vạn tấn công Trấn Nhung, nhưng Trương Chi Giám với 11 tướng quân đóng cửa thành, để giặc cướp bóc Hoàn Khánh.
Thần nghe tin báo, liền phái 2 vạn quân ra biên giới 300 dặm, thực hiện kế đánh vào chỗ trống, lại phái 1 vạn quân nhưng nói là 5 vạn, đến Trấn Nhung ứng viện, giặc liền giải vây rút lui.
Thần cho rằng, chỉ một Hoàn Khánh ứng viện lân cận đã khiến giặc lo ngại, huống chi nếu mỗi khi phòng thủ mùa thu hoặc phát hiện giặc tập trung quân, lệnh cho sáu lộ nghiêm chỉnh chuẩn bị, nghe tin một lộ bị tấn công thì năm lộ cùng xuất quân, lợi ích rõ ràng, chỉ cần triều đình quyết tâm thực hiện hay không. Kính mong triều đình xem xét kỹ.” (Tấu trình ngày 29 tháng 2 năm Thuần Túy thứ 7, nay phụ lục vào ngày tháng này.)
- Thiếu phủ giám Yến Tri Chỉ làm Tri Dĩnh Châu, 'Chỉ' nguyên bản viết 'Chính', theo các bản khác và bản in hoạt tự sửa lại. Xem 《Tống sử》 quyển 311, truyện Yến Thù, con của Thù tên là Tri Chỉ. ↵
- 'Lệnh' nguyên bản là 'tướng', theo bản khác sửa lại ↵
- 'Bản' nguyên văn là 'Mộc', theo các bản khác và bản chữ in sửa lại. ↵
- Chữ 'Tăng' nguyên văn bị thiếu, theo các bản khác và bản chữ in bổ sung. ↵
- xin đợi mùa thu năm nay hoặc mùa xuân năm sau nhân cơ hội khác để tu sửa 'xin' nguyên tác 'phục' , 'xuân' nguyên tác 'thu' , theo các bản sửa. ↵
- 'Xuyên' nguyên bản là 'Châu', theo bản khác sửa lại. ↵
- Từ khi triều đình bỏ bốn trại, 'bốn' nguyên là 'tây'. Cứ 《Tống sử》 quyển 486 truyện nước Hạ, năm Nguyên Hựu thứ 4 'tháng 6, trả lại những người bị bắt ở Vĩnh Lạc, bèn đem bốn trại Gia Lô, Mễ Chi, Phù Đồ, An Cương cho họ', chỗ này 'tây' rõ là sai của 'bốn', theo đó sửa. ↵
- Thông Viễn quân Định Tây thành, 'Thông' nguyên là 'Định', 'Định' nguyên là 'An', theo các bản, bản hoạt tự và sách trên sửa. ↵
- chữ 'tuy' ở đây khó hiểu, nghi ngờ có sai sót ↵
- chữ 'liệt' nguyên là 'biệt', theo các bản sửa ↵