"

VII. TỐNG TRIẾT TÔNG

[BETA] QUYỂN 471: NĂM NGUYÊN HỰU THỨ 7 (NHÂM THÂN, 1992)

Bắt đầu từ tháng 3 năm Nguyên Hựu thứ 7 đời Triết Tông đến hết tháng đó.

[1] Tháng 3, ngày Giáp Thân, mùng một, Thị độc Cố Lâm đọc 《Nhân Tông bảo huấn》, đến đoạn nói về việc phát hành tiền giấy, Tả bộc xạ Lã Đại Phòng tâu rằng: “Thần nghe Cố Lâm đọc việc về tiền giấy mua muối, thần xin trình bày đầu đuôi của phép tiền giấy, mong bệ hạ hiểu rõ lợi hại. Lúc đầu nhà nước vận chuyển hương liệu, thuốc men, trà, lụa, ngà voi, vàng bạc đến Thiểm Tây để đổi lấy lương thảo, mỗi năm ít nhất cũng phải hai trăm bốn mươi vạn quan. Từ khi thi hành phép tiền giấy, mới cho phép thương nhân ở biên giới nộp tiền mặt, lương thảo, rồi đến kinh đô hoặc Giải Trì xin muối, đem về biên giới bán. Một là dân chúng không bị quấy nhiễu bởi việc mua bắt buộc, hai là thương nhân không bị thiệt hại, ba là biên giới không lo thiếu lương thảo, bốn là hàng hóa không phải vận chuyển nặng nhọc, năm là giảm chi phí vận chuyển muối, thật sự có lợi cho cả nhà nước lẫn tư nhân.” Vua rất khen ngợi.

(Trương Thuấn Dân nói: “Phạm Tường phụ trách chế trí hai trì muối Giải, khởi đầu phép tiền giấy, năm đầu thu được một trăm hai mươi vạn, năm cuối một trăm sáu mươi lăm vạn. Ông cho rằng lợi từ tiền giấy mua muối chỉ đến thế là đủ, nếu thu thêm thì phép ắt sẽ hỏng, nên dừng ở một trăm sáu mươi lăm vạn. Kế sách của ông không chỉ là dùng tiền giấy để xin muối, mà còn là dùng như tiền chuyển khoản.

Nay dùng trăm ngàn quan tiền chuyển đến châu khác, đã là gánh nặng, đổi thành tiền giấy thì chỉ vài tờ giấy, từ đó cấm tuyệt muối tư, đặt biên bác vụ ở biên giới, bổ nhiệm quan lại bán muối, bán tiền giấy. Phép này chuyên bán tiền mặt, không được đổi lấy thóc, khách có tiền không thể mang đi xa, ắt phải đến mua tiền giấy, nhờ đó lương thảo biên giới không thiếu, phép tiền giấy thông hành.

Đến thời Hi Ninh, biên sự hơi động, dùng tiền giấy ngày càng nhiều, năm đầu Nguyên Phong cứu đói dân, cũng dùng tiền giấy mua muối, từ đó quân nhu quốc dụng, không gì không nhờ vào thương nhân nộp tiền giấy vào kinh, giá tiền giấy sụt giảm, bộ Kim mỗi năm xuất ba mươi vạn quan tiền mặt để bù đắp, tiền mặt không đủ, giá tiền giấy lại giảm. Thời Thiệu Thánh, lụt lội ở Giải Trì, lại mất nguồn lợi lớn. Xét thời vận và nhân sự hợp lại như vậy, thật đáng tiếc.”)

[2] Thiêm thư Xu mật viện Vương Nham Tẩu tấu rằng: “Bệ hạ trong cung lấy gì để tiêu khiển ngày tháng?” Vua đáp: “Chẳng có gì ham thích, chỉ xem sách mà thôi.” Nham Tẩu nói: “Đại để việc học của bậc thánh cốt ở chuyên cần. Gạt bỏ việc khác thì có thể gọi là chuyên; lâu ngày không mệt mỏi thì có thể gọi là cần. Như thế, thiên hạ thật may mắn.”

[3] Ngày Bính Tuất, Kinh lược sứ đường Hoàn Khánh là Chương Tiết tâu: (Ngày 3 tháng 3 năm thứ 7.) “Bản ty tra xét, trong tháng 12 năm trước, có người phụ nữ bị bắt sang phương Bắc là A Thanh từ Hà Đông trở về, nghe người phương Tây nói, thủ lĩnh Khánh Đỉnh Sát Hương nói: ‘Người và ngựa nước Tháp Thản vào tháng 8 đã ra ngoài, cướp bóc dân cư và gia súc ở khu vực Giám quân ty Lâu Bác Bối phía sau núi Hạ Lan thuộc biên giới phương Tây.’ Đã trình bày đầy đủ và tâu lên.

Sau đó, lại có người phương Tây là Tô Ni thông báo: ‘Người và ngựa nước Tháp Thản đã vào vùng Hữu Sương của phương Tây, cướp bóc dân cư và gia súc, không rõ số lượng.’ Bản ty chưa dám hoàn toàn tin tưởng.

Nay lại bắt được thủ lĩnh phương Tây là Y Đặc Hương khai rằng: ‘Vào tháng nhuận năm ngoái, Lương Ất Bô dẫn quân đến đường Lân Phủ, đến cuối tháng thì đến Đạt Nhĩ Kết La, có sứ giả mang ngân bài báo với Lương Ất Bô rằng, người và ngựa nước Tháp Thản đã vào Lâu Bác Bối của phương Tây, cướp bóc hơn một nghìn hộ dân, số lượng gia súc không rõ, sứ giả mang ngân bài lập tức quay về.’

Y Đặc Hương không biết rõ việc Lương Ất Bô chỉ huy. Bản ty xem xét lời khai của từng người, đều phù hợp. Nước Hạ phản mệnh, trái đạo trời, nên bị tiêu diệt. Phía tây nam có Mạc Xuyên, phía đông bắc có Tháp Thản, đều là nước láng giềng, nay không thể hòa hợp mà lại xâm phạm biên giới, đây là điều mà trời đất không dung.

Lại tra xét thời gian Bảo Nguyên, Khang Định, Nguyên Hạo phản nghịch, cũng từng sai sứ đến nước Thổi, lúc đó rất có hiệu quả, vì dùng người xa đánh người xa, là thượng sách của người xưa. Nay Mạc Xuyên đã quy phục uy đức của triều đình, có thể sử dụng, còn Tháp Thản vì cách xa, chưa biết đường hướng hóa. Nay nếu ở Hà Đông hoặc Mạc Xuyên tìm đường tắt, sai sứ đến Tháp Thản, trình bày uy đức của Đại Tống, dùng vàng bạc và tước vị để phủ dụ, khiến họ xuất quân đánh phá nước Hạ, cùng với Mạc Xuyên tạo thành thế gọng kìm, thì nước nhỏ bé này sẽ bị ba mặt uy hiếp, lưng bụng đều thù địch. Họ biết trong nước có nhiều việc, ắt sẽ tự khuất phục, có thể khiến họ sớm xin quy phục.

Đây là một cách để khốn địch. Kính xin triều đình xem xét thi hành.”

Thiếp hoàng: “Xin thẩm tra xem nước Hạ có thực sự có ý quy phục, tạm thời không sai sứ đến triều đình. Giao cho quan chức Phu Diên trước hết định ra nghị luận, các lộ trước hết định ra biên giới, sau đó ban chỉ huy.”

[4] Ngày Đinh Hợi, ban chiếu khôi phục lại hai chỉ huy thứ 67 và 68 của quân Chấn Vũ ở châu Thương, lấy 500 người làm định mức.

[5] Ban chiếu rằng các quan phụ trách văn tự ở các lộ chuyển vận ty, trừ ba lộ, còn lại đều giảm bỏ, công việc giao cho quan trướng ty kiêm nhiệm. Các quan kiểm pháp ở các lộ đề hình ty và quan câu đương công sự ở phát vận ty vẫn giữ nguyên như cũ. Riêng quan phụ trách văn tự ở phát vận ty, ngoài một viên được giữ lại, cùng với một viên phụ trách việc mua bán lương thực, đều giảm bỏ, giao việc này cho quan câu đương công sự kiêm nhiệm.

[6] Phùng Kinh, Trung Thái nhất cung sứ, được phong làm Thái tử Thiếu sư, vẫn giữ chức Tuyên Huy Nam viện sứ về hưu, theo lời thỉnh cầu của ông.

[7] Điện trung Thị ngự sử Dương Úy tâu: “Tả Triều phụng đại phu, nguyên quyền Tri châu Hòa là Tôn Bôn, khi mới nghe tin em mất, trong thời gian để tang vẫn dùng ca kỹ uống rượu, xét về hình phạt tuy nhẹ, nhưng vi phạm đạo nghĩa rất nặng, Bôn lại thản nhiên không cho là sai. Quan khám án là Nghê Bôn xử sự cẩu thả, không chịu tra xét kỹ. Nghe nói Bôn kết giao với quyền quý, có nhiều người giúp đỡ, e rằng không có thế lực thì không dám ngang ngạnh như vậy. Kính mong triều đình xét tình đo lẽ, tra xét kỹ lưỡng, đặc biệt trừng phạt để răn đe những người đương chức.” Chiếu chỉ Tôn Bôn đặc cách thay thế.

[8] Ngày đó, ba tỉnh tiến trình việc Trình Di mãn tang, muốn bổ nhiệm làm chức quán, phán đăng văn kiểm viện[1]. Thái hoàng thái hậu không cho phép, bèn bổ nhiệm làm Trực bí các, phán Tây Kinh quốc tử giám. Ban đầu, Trình Di ở kinh diên, người theo học rất đông, còn Tô Thức ở Hàn lâm cũng có nhiều người theo, từ đó nảy sinh luận bàn về Lạc đảng và Thục đảng. Hai đảng này đạo khác nhau, đả kích lẫn nhau, cuối cùng Trình Di bị cách chức. Khi tiến trình danh sách bổ nhiệm, Tô Triệt vội nói: “Trình Di vào triều, e rằng sẽ không yên tĩnh.” Thái hoàng thái hậu nghe theo lời này, nên Trình Di không được triệu lại.

(Theo 《Vương Nham Tẩu nhật lục》, cần xem xét. Vương Nham Tẩu nói Trình Di cuối cùng bị Thục đảng bài xích, đây không phải lời khách quan, nay sửa lại. Ngày 4 tháng 5, Trình Di tìm thầy thuốc. Ngày 22 tháng 3, Ngô Lập Lễ nói; ngày 14 tháng 4 lại nói; ngày 4 tháng 5, Đổng Đôn Dật nói.

《Tống sử toàn văn》 giảng nghị thường nói từ xưa đến nay bè phái nhiều, nhưng chưa có bè phái nào khó phân biệt như bè phái thời Nguyên Hựu. Bởi vì kẻ tiểu nhân công kích người quân tử thì bè phái đó dễ phân biệt; người quân tử công kích kẻ tiểu nhân thì bè phái đó cũng dễ phân biệt; chỉ có người quân tử công kích người quân tử thì mới khó phân biệt. Vả lại, trong triều đình ta, bè phái Khấu, Đinh, những người theo Khấu đều là quân tử, những người theo Đinh đều là tiểu nhân; bè phái Lã, Phạm, những người theo Phạm đều là quân tử, những người theo Lã đều là tiểu nhân. Ở thời đó tuy chưa dễ phân biệt, nhưng xem xét kỹ thì cũng không khó phân biệt. Còn bè phái thời Nguyên Hựu là những ai? Trình gọi là Lạc đảng, Tô gọi là Thục đảng, còn Lưu gọi là Sóc đảng. Họ đều là quân tử, nhưng lại bài xích lẫn nhau, khiến kẻ tiểu nhân có cớ để chê trách người quân tử. Trình Minh Đạo nói việc thi hành tân pháp, bè phái ta có lỗi; tôi cho rằng họa Thiệu Thánh, bè phái ta cũng có lỗi. Nhưng lỗi của quân tử thời Hi Ninh nhỏ, lỗi của quân tử thời Nguyên Hựu lớn. Tranh cãi về tân pháp thời Hi Ninh còn xuất phát từ công tâm; còn việc tự lập bè phái thời Nguyên Hựu đều xuất phát từ tư lợi.)

[9] Phụ mã đô uý Hàn Gia Ngạn được bổ nhiệm làm Thứ sử chính nhiệm.

(Việc này được ghi chép trong 《Chính mục》 ngày mồng 4, cần xem xét thêm.)

[10] Ngày Mậu Tý, sứ giả tiến cống của nước Chiêm Thành là Lương Bảo Cố Luân Yết Đan và phó sứ Bàng Mộc Tri Đột được phong làm Bảo Thuận Lang tướng.

[11] Ngày Kỷ Sửu, ban chiếu: “Các quan hiệu đối sách vở hoàng bản ở Bí thư tỉnh, từ chức Thừa vụ lang trở lên, nhậm chức đủ ba năm thì được xem là một nhiệm kỳ, sẽ được bổ nhiệm làm Chính tự; những người được tuyển chọn đều theo điều lệ của Thái học bác sĩ để thăng chức.”

[12] Hà Đông chuyển vận sứ Hồ Tông Hồi tiến cử Tẩu mã thừa thụ sứ thần Phùng Hi tái nhiệm. Trong nội phê có lời tấu của Tông Hồi rằng: “Tẩu mã thừa thụ sứ thần, nếu có người liêm chính cần mẫn được chọn để tái nhiệm, thì phải xuất phát từ chỉ dụ đặc biệt của triều đình, không phải việc quan ngoài có thể tiến cử. Hồ Tông Hồi không hiểu thể chế, nên răn dạy và thi hành.” Hôm đó, Xu mật viện trình lên xin tạm tha tội, cũng đủ để răn dạy. Được chấp thuận.

[13] Ngự sử trung thừa Trịnh Ung tâu: “Thần trộm xem xét các bậc quân vương thời cổ đại, hưởng quốc thịnh vượng, đặt đời vào cảnh an vinh, chưa từng không lấy nhân tài làm trọng. Đức thánh của Vua Nghiêu, sáng suốt nhận biết người tài; sự minh mẫn của Vua Thuấn, tham vấn bốn vị đại thần. Vua Vũ siêng năng tìm kiếm hiền sĩ, Vua Thang dùng người tài không theo khuôn phép, thì hai vị đế vương và ba vị vương thời xưa chưa từng không coi trọng điều này. Kính nghĩ Hoàng đế bệ hạ khiêm tốn nhún nhường, ủy thác việc nước cho các phụ tướng mà tìm kiếm người hiền, phép dưỡng sĩ dường như chưa bằng thời cổ.

Nay biên cương may mắn không có loạn lớn, giả sử một phương có biến, thì có thể sai ai làm tướng cầm quân? Thiên hạ tài chính khó khăn, dân chúng lâm vào cảnh khốn cùng, thì có ai không làm hao tổn tài sản, không hại dân? Sông Hoàng Hà chưa yên, bàn luận chưa ngã ngũ, thì có ai có thể xét kỹ lợi hại, tiết kiệm sức dân? Triều đình có công trình lớn, thì có ai có thể bàn bạc, trau chuốt làm rạng rỡ quốc gia? Những điều này đều là những gì triều đình từng tìm kiếm mà chưa được.

Gần đây Tư Mã Quang dâng sớ xin các quan thị tòng dùng mười khoa để tiến cử hiền sĩ, nay phép ấy tuy còn, nhưng chỉ là hình thức mà thôi. Tại sao vậy? Triều đình không tin lời của các quan cận thần, các quan cận thần không dùng người thực tài để báo đáp triều đình, muốn tìm được người tài thật khó.

Thần xin ban chiếu cho các tể thần, chấp chính đại thần, mỗi người chọn người hiền tài, không hạn chế số lượng, kịp thời tâu lên. Lại lệnh các quan trong ngoài từ chức đãi chế trở lên, theo phép mười khoa, tùy tài năng của mỗi người, mỗi năm tiến cử ba người. Trong triều lập sổ sách, ghi rõ người được tiến cử và người tiến cử, để bệ hạ xem xét. Mỗi khi ba tỉnh tiến cử người, bệ hạ có thể xem xét kỹ, và từ đó biết được năng lực của các quan cận thần. Đừng để thành lời nói suông, hãy tỏ rõ sự tin tưởng, thì các bề tôi của bệ hạ đều sẽ dốc lòng tìm kiếm người hiền, và nền trị vì như Nghiêu, Thuấn có thể đạt được.”

[14] Ngày Canh Dần, Thái thường tự tâu: “Xem xét về ngày tế gọi là triều nhật, tế nguyệt gọi là tịch nguyệt. Bởi triều là tên gọi buổi sáng, tịch là tên gọi buổi tối. Nói triều nhật, tịch nguyệt thì ý nghĩa tế tự có thể hiểu được, nên trong 《Chu lễ》 chương Chưởng thứ có viết: ‘Triều nhật, tế ngũ đế, thì bày đại thứ, tiểu thứ.’ 《Lễ ký》 viết: ‘Triều nhật ở ngoài cửa đông.’ 《Quốc ngữ》 viết: ‘Đại thái triều nhật, thiếu thái tịch nguyệt.’ Giả Nghị đời Tiền Hán cũng nói: ‘Xuân triều triều nhật, thu mộ tịch nguyệt.’ Nay trong quy chế của Thái thường tự và việc chọn ngày, vẽ ngày của Thái sử cục đều ghi là ‘Xuân phân tế triều nhật’, ‘Thu phân tế tịch nguyệt’, đều thêm chữ ‘tế’, nay muốn bỏ chữ ‘tế’ đi, để hợp với ý nghĩa cổ xưa.” Vua nghe theo.

[15] Ngự sử trung thừa Trịnh Ung, Điện trung thị ngự sử Dương Úy tâu rằng, An Đỉnh, tri châu Giáng Châu, trong biểu nhậm chức có lời lẽ vu khống, xin trị tội.

Ung nói: “Đỉnh dâng biểu kể lại việc bãi chức Ngự sử hôm qua, trong đó nói muốn xin đối chất nhưng bị quan trên ngăn cản. Thần là quan trưởng của Ngự sử đài, thấy lời của Đỉnh có ý vu khống, nên cần phải biện minh. Hôm qua vì chiếu chỉ triều đình xử việc Vương Củng, thần cùng với Dương Úy, An Đỉnh của đài này bàn bạc. Việc Vương Củng liên quan đến Tạ Cảnh Ôn, Tô Triệt, ngoài ra Hữu bộc xạ Lưu Chí là thông gia với Củng, trong ngoài đều đang chờ xem. Che giấu Củng, kéo dài hơn hai năm, mà Chí không chính thức xử tội Củng.

Nên xét cả ba người, chỉ có Dương Úy cho là đúng, riêng Đỉnh nói Đỉnh đã từng nói về Tô, Tạ, Lưu Chí có thể nói sau. Thần cùng Úy nói, đã bất đồng ý kiến thì khó cùng đối chất, cũng không có lời ngăn cản Đỉnh. Huống chi từ trước đến nay, quan ngôn sự nghe thấy gì đều có thể tâu trình, không cần quan trưởng đồng ý, sao có thể nói thần ngăn cản Đỉnh?

Lại nói trời cao đất rộng, không có đường thông, càng thấy sự lừa dối. Đỉnh lại nói không chịu theo thế lực mà bỏ bê chức trách[2], thần xét việc Lưu Chí không công bằng, đã tâu trình trước sau, Điện trung thị ngự sử Dương Úy, Tả chánh ngôn Diêu Miễn, Hữu chánh ngôn Ngu Sách đều có tấu hặc, riêng Đỉnh không nói, há chẳng phải là theo Chí? Đáng nói mà không nói, há chẳng phải là bỏ bê chức trách? Đến khi thấy tình thế không ổn, mới dâng một chương, đại ý nói đến Lưu Chí, là vì mưu lợi cho mình.

Trước đây Cổ Dịch mang tư tình tâu việc, Đỉnh chuyên theo Dịch, triều đình thấy rõ sự gian tà của Dịch, Đỉnh vẫn nhiều lần khen Dịch là bề tôi ngay thẳng, làm mê hoặc thánh thính. Xét Đỉnh là thông phán, triều đình ưu ái cho làm Tri châu Giáng, vẫn không biết lỗi cảm ơn, tự cho mình là trung thành trong sạch, che đậy lỗi lầm, theo phép không thể dung. Kính mong triều đình đặc biệt xem xét.”

[Dương] Úy nói: “Đỉnh tự cho rằng mình cô đơn đắc chí, cho là thời cơ ngàn năm có một, ngu dốt không có mưu lược, không nhận ra mình đơn độc giữa đám đông; lại nói muốn xin đối chất thì bị trưởng quan ngăn cản, định bàn bạc thì đồng liệt lại có ý kiến khác. Về việc thần cùng Trịnh Ung, Diêu Miễn, Ngu Sách luận tội tể thần Lưu Chí bất công, trong mấy tháng liền, dâng sớ liên tiếp, riêng Đỉnh không nghe nói một lời.

Đến khi Chí bị bãi chức tể tướng, ngày tuyên bố, Đỉnh lại cáo bệnh không đến, vẫn không tự nhận lỗi, không nói tội của Lưu Chí, chỉ tự nhận là nói việc Tô Triệt không làm nên xin ra ngoài mà thôi. Lúc đó thần đã biết hắn kết bè với Chí, nhưng vì hắn vừa nói xấu Tô Triệt, nếu thần theo đó mà công kích, thì là giải cừu cho Triệt, không khỏi có điều đáng ngại.

Sau đó hắn bị bãi chức giữ chức ở Giáng, thần cũng đáng lẽ phải luận tội, nhưng thần thực sự cho rằng kẻ đại gian đã bị trừ, bè đảng tuy nhiều, cần phải giữ yên ổn, không muốn tiếp tục công kích; lại cùng làm quan với Đỉnh, trong lòng thực có ý tiếc nghĩa khí, không lập tức đàn hặc, phụ lòng triều đình.

Không ngờ Đỉnh càng ngu muội hơn, hoàn toàn không biết tự trách, đến nỗi trong biểu tạ ơn vẫn buông lời tà thuyết, trên thì lừa dối triều đình, dưới thì xúi giục bè đảng, lại còn đưa ra luận điệu cho rằng thần là đồng liệt có ý kiến khác. Đỉnh làm ngự sử, muốn đối chất thì có thể đối chất, muốn nói thì có thể nói, đồng liệt sao có thể có ý kiến khác được!

Đã không từng muốn cùng thần và mọi người lên tiếng mà lại từ chối, lại không nghe nói một lời về tội lỗi của Lưu Chí mà bỏ đi, lại nói trời cao đất rộng, thân không có đường thông. Không biết ngự sử mà nói trời cao đất rộng, thì dân chúng phương xa biết đường nào mà kêu oan!

Huống chi Đỉnh làm quan ở ngự sử đài, a dua với tể tướng, đã được miễn trừ trách nhiệm, mà vẫn buông lời gian trá, không ngừng mong muốn, không phải là nghĩa của bề tôi.”

[16] Ngày Tân Mão, xuống chiếu cho An Đỉnh nhận chức Tri Cao Bưu quân.

(Đỉnh nhận chức Tri Giáng châu vào ngày 16 tháng 11 năm thứ 6.)

[17] Ngày Nhâm Thìn, châu Đường tâu: “Thần thấy ở huyện Bí Dương thuộc châu này, con gái của Ngô Phí, nguyên là Tư pháp tham quân phủ Giang Ninh, năm 24 tuổi lấy Vương Lệnh, một người dân thường. Chưa đầy một năm thì Lệnh mất. Lúc đó Ngô Phí mới 25 tuổi, có một người con trai còn trong bụng mẹ. Anh trai muốn cướp đứa bé đi để cô tái giá, nhưng cô khóc lóc không chịu. Cô về sống với cha mẹ, ẩn mình làm ruộng dâu, phụng dưỡng anh chị, như vậy đã 32 năm. Hiện cô sống ở Hoàng Trì Pha, mỗi năm vào lúc nông nhàn, tự mình dẫn hàng nghìn nông dân đào phá lấy nước tưới ruộng, mang lại lợi ích cho cả vùng, mọi người đều nghe theo lời dạy bảo của cô. Xin triều đình đặc biệt ban tặng biểu dương.” Vua ban chiếu thưởng 10 tấm lụa và 20 hộc gạo.

[18] Ngày Giáp Ngọ, Kinh lược sứ lộ Hoàn Khánh là Chương Tiết tâu:

“Theo tờ trát của Xu mật viện ngày 5 tháng 3 năm Nguyên Hựu thứ 7: ‘Kinh lược ty tâu xin sai tướng thứ hai là Chiết Khả Thích thống lĩnh quân mã vượt biên giới đánh phá. Nay theo báo cáo của Chiết Khả Thích, ngoài việc chém được hơn 50 thủ cấp, số ngựa và dân chăn nuôi còn lại của giặc đã biết và bỏ chạy. Xét rằng nếu quả thực có thể thăm dò kỹ lưỡng được quân Tây Hạ đang tập trung và chăn nuôi ở đối diện biên giới, phái binh tướng đến đó đánh phá, khiến chúng hoảng loạn, thì không cần tính toán nhiều ít về số thủ cấp chém được, chỉ cần khiến giặc không dám tập trung và chăn nuôi trong vòng 200 dặm, tự nhiên sẽ có lợi cho ta.

Lần này Chiết Khả Thích dẫn hơn 8000 quân vượt biên đánh phá, nếu nói là đánh vào nơi chúng tập trung, thì lại không gặp phải đại quân của giặc; nếu là để phá hoại việc canh tác của chúng, thì số quân dẫn theo lại quá nhiều, e rằng sau này giặc sẽ dò xét, rồi dùng một số ít quân và gia súc giả vờ tập trung ở biên giới, dần dần dụ ta vượt biên, chúng lại bày nhiều mưu kế phục kích, cùng đến chống cự, ắt sẽ rơi vào kế gian của giặc, làm tổn hại uy phong của quân ta.

Xin bản ty càng thêm nghiêm khắc răn dạy các tướng, thường xuyên thăm dò kỹ lưỡng tình hình tập trung của giặc, suý ty tham khảo xác thực, nếu quả thực có lợi thì mới cân nhắc phái quân, không được khinh suất tự chuốc lấy nhục nhã.’

Thần xét rằng yếu lược dùng binh, điều quý là bí mật. Kín đáo và bí mật thì động tĩnh của ta địch không thể dò biết, còn mọi hành động của địch đều nằm trong tầm mắt ta, nhân cơ hội chớp thời cơ, ra tay bất ngờ, sau đó mới có thể nói đến thắng lợi. Trước đây, tin thám báo nói rằng ở biên giới châu Vi có tập hợp ba vạn quân mã, sau đó lại sai người dò xét thì biết việc tập hợp quân ở châu Vi chỉ là hư thanh. Dọc biên giới châu Vi, các trại dã ngoại cách nhau hai ba mươi dặm, mỗi trại thực có hơn tám trăm người, bốn trăm ngựa, để bảo vệ người làm ruộng; lại thấy ngựa của người Phiên ở khắp nơi đều gầy yếu, số có thể chiến đấu rất ít.

Khi bắt được thủ lĩnh quan Phiên ở biên giới phía Tây để tra hỏi, biết rõ tình hình, nên sai Chiết Khả Thích thống lĩnh hơn tám nghìn người, chia đường tiến đánh các trại dã ngoại, nhân đó quấy nhiễu việc cày cấy và chăn nuôi. Huống chi quân mã tập trung ở các trại biên giới Phiên không ít, lại cách nhau rất gần, phải đề phòng viện binh. Nếu số quân cử đi ít, ắt sẽ bị tập kích đánh úp, nên xét kỹ hư thực của địch, số lượng quân tập hợp, địa hình hiểm trở[3], đều đã nắm rõ, mới dám phái quân đi ngày đêm, trong một ngày một đêm đến nơi ở của ty Giám quân châu Vi, không ngờ quân địch do thám phát hiện trước, nên đã bỏ chạy.

Quân ta vừa rút về, quả nhiên có quân truy kích, nhưng tướng được phái đi đã bố trí phục binh ở nơi hiểm yếu, hợp lực đánh trước sau, quân địch đại bại, bắt sống hai thủ lĩnh, mười hai ngựa giáp, chém được mười thủ cấp, quân địch chạy xa, không còn một người một ngựa nào dám đuổi theo quân quan. Chiết Khả Thích ra khỏi biên giới, tuy chỉ chém được bảy mươi thủ cấp, nhưng bắt sống hai thủ lĩnh chính và phó, một trăm ngựa, ba mươi con lạc đà, khoảng hơn ba mươi con trâu dê, đốt phá hơn nghìn trướng tộc. Quân về chỉ hơn hai trăm dặm, như đi trong chốn không người, người Phiên không ai dám đến gần quân quan, đều biết không thể đấu với quân ta. Như vậy, thiệt hại của quân địch không phải ít, bọn dê chó đã biết sợ hãi tránh né.

Nay theo chỉ thị trong tờ trát, nói rằng việc quấy nhiễu cày cấy dẫn nhiều quân mã, thần lo rằng triều đình chưa biết các trại dọc biên giới phía Tây đều tăng thêm quân mã, nếu muốn quấy nhiễu cày cấy, không có số quân như trước cũng không thể xuất quân. Nay xin trình bày rõ những điều đã phụng mệnh răn dạy, đang tuân theo thi hành.”

Thiếp hoàng: “Việc biên cương đang dấy lên, thần không dám không hết lòng báo quốc, tức không phải mong may được ân thưởng. Từ mùa đông năm ngoái phái quân ra biên ải, may không làm nhục quốc uy, không có công trạng kinh thiên động địa, nhưng kẻ hiềm khích ganh ghét đã nhiều, có người cho là khinh suất tiến sâu, không phải kế sách an toàn; có người cho là kết oán với địch, ắt sẽ bị báo thù nặng. Thần nghĩ rằng rợ Địch không biết chán, không uy thì không sợ, không giết thì không phục.

Triều đình bao dung nhẫn nhục, không phải không đến nơi, một ngày kia đem đại quân xâm phạm Hà Đông, thẳng đến dưới thành hai quận, giết hại không kể xiết, thì Hà Đông nào có kết oán với giặc, dân hai quận đã bị tàn sát trước? Vậy thì chỉ xem kế sách phòng bị thế nào mà thôi, không phải ở chỗ kết oán hay không kết oán.

Còn việc tu sửa thành lũy trong nội địa, đều là di tích của danh thần đời trước, đều có ý sâu xa. Có người lại đem so sánh việc kiểm kế thành trại biên giới với việc xây mới thành lũy, công liệu nhiều ít khác nhau, không biết rằng thành trại biên giới đã từng bị vây hãm, không có sơ hở gì, chỉ cần tu sửa thêm mà thôi. Những lời đồn đại như vậy, mỗi người một ý, mà triều đình ở xa, sao có thể xét biết tường tận, lâu ngày, sao không nghi ngờ? Hành động sinh nghi, bề tôi biên cương ai dám làm việc, ắt phải lo tự toàn.

Kính mong triều đình xét năng lực của các tướng, nhanh chóng sàng lọc, nếu quả có kẻ bất tài bất chức, hoặc sinh sự lừa dối, xin sớm cách chức; nếu cho là còn có thể dùng được, thì xin giao việc biên cương cho các tướng chuyên trách, để trách nhiệm quy về một mối, dù chết cũng không tránh.”

(Ngày 11 tháng 3 năm Nguyên Hựu thứ 7 tấu việc này.)

[19] Ngày Đinh Dậu, Thái thường tự tâu: “Trong sáu lễ nạp hậu, năm lễ là mệnh sứ nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp thành, cáo kỳ. Vào ngày đó, Thái hoàng thái hậu mặc lễ phục ngự tại Sùng Khánh điện, đặt năm bản chế thư lễ. Nội thị quan trước tiên dâng chế thư nạp thái và vấn danh, ra cửa Đông nội theo nghi thức thường lệ, các chế thư còn lại đặt tại trướng bên ngoài cửa Sùng Khánh điện. Sứ và phó nhận chế thư, bưng ra ngoài cửa triều đường, đặt chế thư lên xe, sứ ngồi xe theo lễ đến hành đệ. Ngày hôm sau, tiến hành nạp cát, nạp thành, cáo kỳ theo nghi thức. Việc mệnh sứ phụng nghênh, hoàng đế ngự tại hiên cùng sứ và phó làm lễ sách, đều cử đi trong cùng một ngày. Bản tự tham khảo, ngày nạp hậu sắp tới, sau khi hoàng đế ngự tại hiên cử sứ làm lễ sách xong, sẽ cử sứ phụng nghênh tiếp theo.” Được chấp thuận.

[20] Ngự sử trung thừa Trịnh Ung tâu: “Thần thấy Hữu triều thỉnh lang Vương Cừ được bổ làm Tri châu Tú Châu, Tả triều phụng lang Vương Ung được bổ làm Chuyển vận phán quan Lợi Châu lộ. Xét Vương Cừ hiện đang ở thứ tự thông phán sơ nhiệm, trước đây vì bệnh xin nghỉ hưu, đã qua ba năm, nhờ Lưỡng Chiết lộ chuyển vận ty tâu xin được tái nhiệm, không dựa vào thành tích gì, vượt qua hai nhiệm kỳ, được đường trừ làm Tri châu. Vương Cừ kết thân với hào dân huyện Giang Âm, dựa vào tài sản của họ, không màng đến danh tiết, nay lại được bổ nhiệm vô cớ vào quận danh tiếng phía tây Chiết Giang, khiến cả lộ nhìn vào, khinh nhạo mệnh triều đình. Còn Vương Ung tuy ở thứ tự thông phán nhiệm thứ ba, nhưng thành tích trị lý qua các nhiệm kỳ chưa từng nghe nói gì.

Triều đình đặt chức Giám ty, giao phó cả một lộ, cần người tài thực sự được mọi người khen ngợi, hoặc từng trải qua các chức vụ ở tỉnh, phủ, tự, giám và các nhiệm vụ khó khăn, mới có thể phụng sứ một lộ. Hiện nay, những người đủ thứ tự Tri châu và từng trải qua các nhiệm vụ khó khăn, có chút thành tích trị lý còn rất nhiều, chưa nghe nói được đặc cách thăng chức để khuyến khích sĩ phu. Dư luận bên ngoài đều cho rằng Vương Cừ và Vương Ung đều nhờ thân thích với các quan chấp chính.

Thần nghĩ rằng nếu tài năng của họ đáng khen, thành tích trị lý đáng thăng, thứ tự đủ tiêu chuẩn, thì cũng không nên vì thân thích mà bỏ qua. Nhưng Vương Cừ thì thú tính thấp hèn, Vương Ung thì thành tích trị lý không ai biết đến, việc bổ nhiệm có nguyên nhân riêng, dư luận không phục.”

Lại có Điện trung thị ngự sử Ngô Lập Lễ tâu rằng: “Ung, Cừ đều là người tài năng bình thường, được bổ nhiệm vượt cấp, xét theo dư luận, đều cho là không nên. Xét Ung vốn là một kẻ cuồng sinh từ Sơn Đông, không có tài năng xuất chúng hay hành vi khác thường, chưa từng được triều đình trọng dụng, bỗng nhiên được thăng chức, giao phó trách nhiệm khảo sát một vùng, đó là điều không thể chấp nhận thứ nhất.

Còn Cừ, nhân phẩm lại càng thấp kém. Ở huyện Giang Âm, châu Thường có một quả phụ, gia đình giàu có, tài sản không dưới mấy vạn, Cừ tham tiền của, cúi mình làm rể, tham lam đến mức ấy, vốn bị giới sĩ phu khinh bỉ. Năm ngoái vì bệnh đau lưng, xin về hưu, may mắn không chết, mà hai năm sau lại xin làm quan.

Xem cách tu thân hành xử của hắn, đã rõ ràng, nay lại từ chức thông phán mà được bổ làm tri châu, đó là điều không thể chấp nhận thứ hai. Người bàn tán lại cho rằng Ung và những người khác nhờ có thân thích trong hai phủ chấp chính, nên không cần là người tài, đều được bổ nhiệm không theo thứ tự, nếu quả như vậy, thì không phải là cách để tỏ rõ sự công bằng với thiên hạ.”

Lại có Điện trung thị ngự sử Dương Úy tâu: “Vương Ung làm quan không có thành tích gì nổi bật, nếu như các quan chấp chính biết tài năng của ông ta, thì cũng nên thử dùng ít lâu, nay từ chức thường điều mà bổ làm Giám ty, thật là quá vội vàng.

Hơn nữa, các chức quan trong kinh sư như Tự, Giám thừa, trên dưới sai khiển không ít, đều đã qua thử thách, có người làm quan mấy năm, hoặc mãn nhiệm bị bãi chức mà chưa được bổ nhiệm, mong được làm Chuyển vận phán quan cũng không được, lẽ nào tài năng của họ đều không bằng Vương Ung sao! Việc bổ nhiệm Vương Ung này nên bàn luận chưa thỏa đáng.

Lại nữa, Lư Cừ từng lợi dụng tài sản kếch xù của con gái nhà giàu, lấy làm vợ, không khác gì làm rể, chưa nghe có tài cán gì khác, mà đã được ân điển này, dường như cũng không có lý do. Hiện nay những người từng được bổ nhiệm ở đường đường còn nhiều ở kinh sư, ngồi chờ năm tháng, phần lớn không được sai khiển, lẽ nào tài năng của họ đều không bằng Lư Cừ sao! Việc bổ nhiệm Lư Cừ này nên bàn luận chưa thỏa đáng.

Nghe nói Vương Ung là em họ của Hàn lâm học sĩ Lương Đào, là chú họ của vợ Thiêm thư Xu mật viện Vương Nham Tẩu, Lư Cừ là anh của con rể Hữu thừa Tô Triệt là Vương Thích. Xét như vậy, thần e rằng những kẻ sĩ nghèo ở phương xa nghe tin này sẽ động lòng.” Chiếu cho Lư Cừ làm Tri quân Vô Vi, Vương Ung làm Tri châu Toại.

(Vương Ung được bổ làm Lợi lộ Chuyển vận phán quan vào ngày 28 tháng 2, Vương Ung đổi làm Tri châu Toại theo Chính mục ngày 14 tháng 4[4].)

[21] Kinh lược ty Hà Đông tâu: “Những việc liên quan đến biên phòng hoặc quân chính cơ mật, do các quan suý thần một mình xét xử, các Giám ty không được kiểm tra, nếu điều tra thấy có oan uổng, thì tâu lên.” Theo lời tâu.

[22] Tả triều nghị đại phu, Trực Long đồ các Tạ Khanh Tài làm Thái bộc khanh. Lại bộ lang trung Triệu Xưng quyền làm Hà Bắc lộ Chuyển vận phó sứ.

[23] Hôm đó, các quan phụ chính tâu việc ở điện Diên Hòa, Thái hoàng thái hậu rất lo lắng về nạn hạn hán.

[24] Ngày Mậu Tuất, có nguyệt thực. Thiêm thư Xu mật viện Vương Nham Tẩu tâu rằng: “Thần trộm thấy năm ngoái có nhật thực vào ngày mùng một tháng năm, năm nay có nguyệt thực vào ngày rằm tháng ba, lại là nguyệt thực toàn phần. Xem trong bài thơ 《Thập nguyệt chi giao》 có câu: ‘Nhật nguyệt cáo hung, bất dụng kỳ hành. Tứ quốc vô chính, bất dụng kỳ lương.’ Lời truyền rằng: ‘Nước không có chính sự tốt, không dùng người hiền, thì tự chuốc lấy tai ương từ nhật nguyệt, nên chính sự không thể không thận trọng.’ Lại nói: ‘Mặt trăng kia mà thực, đó là lẽ thường. Mặt trời này mà thực, sao lại không tốt?’ Xét về điềm báo hung qua nhật thực, đều lấy đó làm răn; xét về lời nói ‘lẽ thường’, thì dường như chỉ răn về nhật thực, mà không coi nguyệt thực là đáng sợ. Có lẽ thời của thi nhân, sự việc khác với ngày nay.

Nay hai cung cùng nghe chính sự thiên hạ, thực là đạo của nhật nguyệt cùng sáng, đều không nên có biến cố nhật nguyệt thực. Thần nghĩ rằng Hoàng đế bệ hạ với đức sáng trong thuần khiết, lặng lẽ trị vì, Thái hoàng thái hậu bệ hạ với hành vi nhân nghĩa trung thứ, thi hành chính sự, đều hợp với lòng trời. Vậy thì tại sao lại có điềm báo qua tai ương nhật nguyệt? Thần e rằng đạo của kẻ tiểu nhân đang thịnh, che lấp sự sáng suốt, mà Thánh tâm không nghi ngờ, nên trời hiện điềm dị thường để cảnh báo. Đây là lòng nhân ái của trời đối với bệ hạ, muốn bảo toàn mỹ đức của Thánh nhân, việc tiêu trừ tai họa nên thực hiện ngay lúc này.

Mong bệ hạ khi dùng người thì xét kỹ tà chính, để chắc chắn dùng đúng người, khi nghe lời nói thì xem xét phải trái, để quyết định hợp lý, xua đuổi kẻ tiểu nhân, đề phòng sự che lấp, để đáp lại lòng trời. Thần vô cùng mong mỏi.”

Lời dán thêm: “Thần lại xét sách 《Hán lịch chí》 ghi chép về nguyệt thực toàn phần, thường sau 23 lần thực thì lại thực toàn phần. Xét năm Nguyên Phong thứ 8, tháng 8 ngày rằm từng có nguyệt thực toàn phần, nay chưa đủ 23 lần thực mà lại thực toàn phần, ấy là không nên thực toàn phần mà lại thực, nên thần e rằng ý trời muốn cảnh báo sâu sắc với bệ hạ.”

(Lời của Nham Tẩu chắc chắn ở sau đây, nay tạm ghi kèm. Lời này có thể liên quan đến Tôn Thăng, Hàn Xuyên, khi họ bị biếm chức mới nói ra. Nếu dời ghi vào tháng 6 cũng được, cần xem xét thêm.)

[25] Ngày Kỷ Hợi, xét xử và quyết định các tù nhân bị giam giữ ở kinh thành và các phủ giới, những người phạm tội tử hình trở xuống đều được giảm một bậc, đến mức đánh trượng thì được tha.

(Vương Nham Tẩu nói rằng ý của Thánh thượng chắc chắn là muốn ban ân vào ngày 16, vì có hiện tượng nguyệt thực, nhưng không nói rõ. Sách 《Chính mục》 ghi vào ngày 14.)

[26] Ngày Canh Tý, Kinh lược sứ Phạm Thuần Túy của Phu Diên lộ tấu rằng:

“Theo tờ trát của Xu mật viện: ‘Xét thấy các lộ Thiểm Tây, Hà Đông dọc biên giới hiện đều có những con đường quan trọng kiểm soát ngựa giặc, vì từ trước đến nay nước Hạ đã giảng hòa nên chưa từng xây dựng các trại bảo. Nay đã cắt đứt cống phẩm của họ, có thể nhân cơ hội này tìm địa điểm xây dựng. Tam tỉnh và Xu mật viện cùng phụng chỉ của Thánh thượng, lệnh cho các lộ Phu Diên, Hoàn Khánh, Kinh Nguyên, Tần Phượng, Hà Đông sai quan dẫn quân đến vùng đất sinh giới của Hán, chọn những nơi có địa thế hiểm yếu có thể xây dựng trại phòng thủ, ước lượng thời gian và quy mô xây dựng, vẽ bản đồ và trình bày chi tiết để tâu lên.’

Thần xét thấy tình hình biên phòng của lộ này thực sự có những chỗ thiếu sót chưa được chuẩn bị. Nếu muốn đảm bảo an toàn, thì có thể chọn nơi thuận lợi để xây dựng. Tuy nhiên, thần có một ý kiến nhỏ, xin được trình bày. Trước đây, triều đình vì chán nản việc quân sự lâu ngày nên tạm thời muốn ngừng chiến, do đó đã quyết định ban tặng một số thành trì đã thu hồi, nhưng nước Hạ vẫn không ngừng đòi hỏi, cuối cùng làm hại đến việc giảng hòa. Nay nếu để các lộ xâm phạm lãnh thổ của họ và lại khởi công xây dựng, thần lo rằng có bốn điều đáng lo ngại:

Một là, trong các lộ ắt sẽ có họa Vĩnh Lạc. Vì sao? Năm Nguyên Phong thứ tư, năm lộ cùng tiến quân, trực tiếp lấy Linh Châu, Hưng Châu làm mục tiêu. Lúc đó, người Hạ biết rõ Trung Quốc dồn hết binh lực vào việc này, nên khi thấy gió đã sợ hãi bỏ chạy, ngàn dặm đều trống không. Vì thế, phía bắc Hoành Sơn, những nơi hiểm yếu như thành cũ, trại cũ đều bị quân Hán chiếm đóng, đến khi giặc quay lại thì ta đã phòng thủ vững chắc, giặc không thể làm gì được. Nếu giặc chưa đến đã sợ hãi bỏ chạy, dù chạy không xa, liệu ta có thể hoàn thành việc xây thành này không? Một năm sau, giặc dần quay về phía nam, Thẩm Quát và Từ Hi khinh suất bàn việc tiến quân xây dựng, dẫn đến thất bại, đó là bằng chứng.

Nay triều đình lại lệnh cho các lộ tiến hành xây dựng, thần thấy không nên. Có người nói các lộ cùng tiến, giặc ắt sẽ chia quân ứng phó, thế giặc đã phân tán thì không có họa Vĩnh Lạc. Thần cho rằng không phải vậy. Tính toán sức giặc, tuy không thể nhất định gây hại cho việc xây dựng của các lộ, nhưng nếu chúng bỏ các lộ mà tập trung đánh một lộ, thành chưa kịp vững, hào chưa kịp sâu, kế hoạch phòng thủ chưa kịp chuẩn bị, lực lượng đã kiệt quệ, các lộ đều bận việc xây dựng, liệu có thể bỏ mình mà cứu lân bang không? Thế thì lộ bị tấn công ắt sẽ gặp nguy hiểm, điều này rõ ràng. Đó là nỗi lo thứ nhất của thần.

Hai là, ngày sau càng không có thời điểm ngừng binh. Vì sao? Thần nghĩ rằng việc triều đình ngày nay kiên quyết diệt giặc mà không ngại dùng binh nghiêm khắc, há phải là bất đắc dĩ sao, há phải thực sự là kế hoạch diệt tận gốc sao? Chỉ là muốn trừng phạt sự may mắn, dứt bỏ tham vọng, để tạo thế cho ngày sau. Trước đây, bốn trại Gia Lô, Mễ Chất, Phù Đồ, An Cương, triều đình bỏ qua mà không coi là quan trọng, vì có điều quan trọng hơn. Những gì bỏ qua không phải là ít, nhưng chúng vẫn đòi hỏi không ngừng, chống cự và xưng binh. Nay nếu lại lệnh cho các lộ tăng cường xây dựng thành lũy, không dưới mười cái, sau này hai bên lấy bỏ, lấy gì để biện minh? Đó là cách làm cho giặc thêm kiên cố. Đó là nỗi lo thứ hai của thần.

Thứ ba là nhân lực không đủ. Tại sao vậy? Các lộ chính binh không nhiều, ngày thường còn phải dùng binh lính từ phía đông để tăng cường phòng thủ, từ khi Nguyên Phong dùng vũ lực đến nay, số lượng tăng lên gấp bội so với thổ binh; không chỉ vốn không phải là những người lính thiện chiến, lại còn bị chia ra thuộc về các tướng, đồng thời phân bố đều cho các thành, bảo, trại để hỗ trợ phòng thủ, nên mỗi khi tướng ra trận, thổ binh thường không đầy hai nghìn người, khi có việc khẩn cấp thì thường lo lắng vì thiếu quân. Nay nếu lại tăng thêm số lượng phòng thủ thành trì, thì thế binh càng bị chia cắt, mà kế hoạch chiến đấu và phòng thủ càng thêm sơ hở. Đây là nỗi lo thứ ba của thần.

Thứ tư là chi phí khó đảm đương. Tại sao vậy? Triều đình từ khi mở rộng Hi Hà đến nay, cho đến việc thu phục các châu, thành, bảo, trại ở các lộ, nơi nào cũng tăng thêm chi phí, có thể nói là không nhỏ. Đã vắt kiệt sức lực công tư của Quan Thiểm, mà triều đình lại phải vận chuyển vàng bạc gấp rút trên đường, thế mà quan coi việc vận chuyển vẫn báo thiếu, chưa có lúc nào ngừng, dù đã bỏ bốn thành, vẫn chưa nghe nói có dư dả. Nay lại có việc xây thêm mười thành, thì chi phí hiện tại và lâu dài biết tính sao cho hết. Thần e rằng trong ngoài đều khốn đốn, lý lẽ không thể chống đỡ, để lại hối hận vô cùng cho triều đình, năm nào đó gặp nạn đói kém, thì tình cảnh sẽ rất đáng lo. Đây là nỗi lo thứ tư của thần.

Thần trộm nghĩ rằng triều đình bàn bạc lẽ nào không nghĩ đến điều này, chỉ sợ triều đình tạm thời làm ra vẻ như vậy để khiến giặc biết ta không vội cầu hòa, nhằm phá tan mưu đồ của chúng[5]. Nếu quả thật như vậy, xin triều đình bí mật ra chỉ dụ để răn dạy thần, thần sẽ giả vờ làm ra thế lớn để cho chúng thấy, tuy không có lợi ích gì lớn, nhưng cũng không gây hại gì. Nếu triều đình thực sự cho rằng việc nhân thời cơ tiến hành xây dựng là có lợi cho biên phòng, thì đó không phải là điều thần có thể biết được, thần chưa dám vâng chiếu, xin trình bày rõ ràng để báo lên.”

(Thuần Túy vào ngày 17 tháng 3 năm thứ 7 dâng tấu này, việc theo hay không theo cần xem xét thêm.)

[27] Ngày Tân Sửu, Phò mã đô úy Quách Hiến Khanh được làm Minh Châu quan sát sứ, Hữu đại trung đại phu Trương An Thượng được làm Đô quan lang trung, (ngày 24 tháng 7 làm Kinh Tây chính. Hữu triều phụng lang, Khai Phong phủ suy quan Dương Cảnh Mô được làm Chức phương viên ngoại lang.

(Ngày 18 tháng 6 năm thứ 8 làm Giang Đông hình.)

[28] Lễ bộ tâu rằng: “Ngày 18 tháng 5 năm thứ 5, có chiếu cho bàn bạc cùng Thượng thư, Thị lang, Tam tỉnh, Thị tòng quan về điển lễ tế Hoàng Địa Kỳ. (Ngày 18 tháng 5 chỉ chiếu cho Lễ bộ, Thái thường tự, đến ngày 12 tháng 6 mới chiếu cho Thượng thư, Thị lang, Tam tỉnh, Thị tòng quan.) Theo điệp văn của Lễ bộ Thượng thư Triệu Ngạn Nhược, kiểm tra lại chiếu chỉ ngày 9 tháng 5 năm Nguyên Phong thứ 6, Thái thường tự tu định nghi lễ tế Giao tự, vào năm có tế Giao, ngày Hạ chí, Hoàng đế thân hành đến Bắc giao tế Hoàng Địa Kỳ tại phương khâu, và nghi lễ do Thượng công đảm nhiệm, chiếu theo những điều đã định để xem xét. Nếu gặp năm có tế Giao, thân hành tế tại phương khâu hoặc do người khác đảm nhiệm, đều hợp với điển lễ chính thức, tùy theo chỉ huy tạm thời của triều đình.

Nay Thái thường tự chỉ nói rằng năm có thân hành tế Bắc giao, thì Nam giao viên khâu cũng hợp lý. Về việc Thượng công đảm nhiệm và thay đổi nhạc vũ, xin cùng tu định nghi chú. Như vậy thì không còn gì để bàn, xin không cần họp bàn nữa.

Lại có trạng của Lễ bộ Lang trung Thôi Công Độ tố cáo việc đề nghị hợp tế Trời Đất ở Nam giao là trái lễ, thấy rằng nhiều lần họp bàn chưa hợp, nếu sau này Nam giao hoặc có đại lễ khác, xin dùng tấu của Tư chính điện học sĩ Trần Tiến, vẫn hợp tế Trời Đất như cũ, và tòng tự trăm thần. Về việc họp bàn lần này, Công Độ không đến bộ, vì chưa có chỉ triều đình, nên chưa dám tập hợp quan lại bàn kỹ.

Công Độ từng nói: Kính xét lời tựa trong 《Chu Tụng – Hạo Thiên Hữu Thành Mệnh》 rằng: ‘Hạo Thiên Hữu Thành Mệnh, là tế Trời Đất ở Giao tự.’ Lại trong 《Chu Lễ》, ngày Đông chí tế Hạo Thiên Thượng Đế ở viên khâu, ngày Hạ chí tế Hoàng Địa Kỳ ở phương khâu.

Hán Vũ Đế trong 《Giao Tự Ca》 nói: ‘Duy Thái Nguyên tôn, Ảo Thần phiền li, kinh vĩ Trời Đất, tạo thành bốn mùa.’ Lại nói: ‘Quyên tuyển hưu thành. Trời Đất cùng sáng, chỉ ta có lòng mến, xây đàn tử, tìm đường đi.’

Lại nói: ‘Trời trên ban phát, Đất sau thành tựu, dồi dào năm tốt, bốn mùa hưng thịnh.’ Đều là lời hợp tế Trời Đất ở Nam giao. 《Chu Tụng》 hợp tế, là tình của lễ; 《Chu Lễ》 tế riêng, là văn của lễ. Văn ắt có tình, tình ắt có văn. Như vậy tế Trời Đất hoặc hợp hoặc riêng, tùy thuộc vào Vua đương thời, nhưng lễ thì chỉ một.

Nay tế riêng khó thực hiện, nên theo lệ cũ hợp tế, và theo nghi lễ cũ của tổ tông, làm điển lễ vạn đời không thay đổi.”

(Trạng của Thôi Công Độ theo 《Chính Hòa Hội Yếu》, sau lời của Triệu Ngạn Nhược nói không cần họp bàn nữa, khác với trạng của Công Độ được chép trong thực lục hiện nay, nay để cả hai. Tháng 7 năm thứ 5, Triệu Ngạn Nhược làm Lễ thư, tháng 2 năm thứ 6 đổi làm Nội hàn. Công Độ làm Lễ trung vào ngày 24 tháng 12 năm thứ 4, đổi làm Thị giảng Từ vương phủ vào ngày 2 tháng 8 năm thứ 6. Điệp trạng của Ngạn Nhược và Công Độ chắc chắn cùng thời.)

[29] Lễ bộ lại tâu: “Lang trung bộ thần là Diệp Tổ Hiệp bàn rằng, xin triều đình khôi phục lễ tế thường kỳ năm vị đế ở Minh Đường. Thái thường thiếu khanh Thịnh Đào, Thái thường bác sĩ Trương Hoàn, Tống Cảnh Niên nói rằng, nếu tế Hạo Thiên Thượng Đế kiêm tế năm vị đế theo nghi thức cũ, thì đạt được sự biến hóa của lễ, cùng với đại lễ hưởng tế của tổ tông trước sau tương thành, điển lễ không thiếu sót. Thái thường bác sĩ Chu Ngạn xin vào mùa thu tế tông ở Minh Đường, để phối hưởng với Thượng Đế, lấy hợp với các kinh, về nghĩa là thỏa đáng. Bộ thần xem xét kỹ, nếu tế tông ở Minh Đường, Hạo Thiên Thượng Đế, năm vị Thượng Đế phương cùng với năm vị Nhân Đế phương, năm quan theo tế, thì đạt được sự biến hóa của lễ.”

Lại tâu: “Thái thường bác sĩ Tôn Ngạc xin tế Thái Xã, Thái Tắc thiết đặt cung giá, và ở trên đàn Thái Xã thiết đặt nhạc đăng ca[6], lại bỏ đi đàn nhỏ, rất là thỏa đáng, bộ thần vì chưa nhận được chỉ dụ triều đình, nên chưa dám tập hợp quan lại bàn bạc kỹ.” Chiếu cho các quan thị tòng cùng Thượng thư, Thị lang, Cấp xá, Đài gián, Lễ quan tập hợp bàn bạc tâu lên.

(Ngày 8 tháng 9 năm thứ 7, Bành Nhữ Lệ, Cố Lâm cùng bàn về việc hợp tế, ngày 7 tháng 3 năm thứ 8 bàn về việc Chu Ngạn xin.)

[30] Binh bộ tâu: “Theo tờ trát của đô tỉnh, các quan tâu rằng: ‘Binh khí của các lộ, xin mỗi lộ cử một viên quan đề điểm hình ngục chuyên trách việc này. Mỗi quý, quan đề cử chọn trong số các quan triều đình ở bản châu người tài giỏi, cẩn thận để kiểm tra, sắp xếp đúng phép, mài giũa đúng thời, những thứ cần sửa thì sửa riêng, những thứ cần có biện pháp để bảo toàn lâu dài thì phải tâu lên triều đình, kịp thời xử lý.’ Bộ này xét theo sắc của Binh bộ, xem xét ba châu Đại Danh phủ, Thiền, Định ở Hà Bắc và Thái Nguyên phủ ở Hà Đông, mỗi nơi đều có 20 tướng quản lý binh khí và đồ dùng, xin bộ này mỗi nửa năm một lần, cử quan văn võ triều thần trở lên ở các lộ lân cận, mỗi nơi một viên, đến các lộ kiểm tra, vâng theo thánh chỉ. Bộ này xét thấy ngoài 20 tướng quản lý binh khí và đồ dùng ở ba châu Hà Bắc và Thái Nguyên phủ Hà Đông đã có chỉ dụ trên, còn binh khí dưới quyền các tướng ở các lộ[7], xin được thi hành theo như đã tâu.'” Đều theo đó.

[31] Chiếu cho Tướng tác giám biên soạn 《Doanh tạo pháp thức》 tổng cộng 251 quyển, trong đó 116 quyển là điều khoản tinh giản, cho phép ban hành.

[32] Tri Dĩnh Xương phủ, Tư chính điện Đại học sĩ Hàn Duy được làm Thái tử Thiếu phó về hưu, theo lời xin của ông.

[33] Ngày Giáp Thìn, chiếu rằng: “Những người thuộc bảo giáp, trừ những người được chỉ định rõ ràng, thì cho Kinh lược an phủ ty và Vận ty tự ý điều động, rồi báo lên Đề cử bảo giáp ty. Những việc cần điều động khẩn cấp không kịp báo, thì tạm ứng phó rồi tâu lên, nhưng phải xem xét năng lực của người được điều động, phân bổ công việc hợp lý, sao cho công bằng.”

[34] Chiếu rằng: “Con cháu nuôi theo nghĩa nên rời khỏi nhà nuôi mà không có họ để về thì được theo họ của người nuôi. Nếu cùng ở chung đủ mười năm, vẫn cho quan châu huyện cấp một phần tài sản. Dù có họ mà không có nhà để về cũng theo quy định này[8].”

[35] Ngày Ất Tỵ, Điện trung thị ngự sử Ngô Lập Lễ tâu: “Thần thấy người vừa mãn tang Đinh ưu là tiền Thông trực lang Trình Di được bổ nhiệm làm Trực bí các, phán Tây Kinh Quốc tử giám, thăng chức không có lý do, khiến sĩ luận xôn xao. Xét Trình Di vào đầu niên hiệu Nguyên Hựu, nhờ đại thần tiến cử mới được bổ làm quan mạc chức, sung chức Tây Kinh giáo thụ. Ông ta coi thường chức quan nhỏ, ban đầu từ chối, đến khi triều đình lại triệu ông ta làm Thông trực lang, Sùng Chính điện thuyết thư, liền vui vẻ nhận mệnh. Đó là vì ông ta có chí tiến thân nhanh chóng, nên từ chối chức nhỏ để giữ chức lớn, mong sớm được hiển đạt.

Khi ông ta từ thân phận thường dân được tiến cử giảng kinh trong cung, được bổ dụng không theo thứ tự, có thể nói là đãi ngộ hậu hĩnh. Thế mà ông ta không an phận tuân theo đạo lý, báo đáp ân sủng, lại cậy thế lực, ngày ngày lui tới nhà các quan chấp chính, gián quan, ngự sử, lấy việc du thuyết làm sự nghiệp, tùy ý vui giận, tự cho mình có quyền tiến cử hay cách chức người khác. Lời nói của ông ta giả dối mà khéo léo, học vấn sai lầm mà rộng rãi, đủ để kích động sĩ phu, lừa dối đương thời.

Khi giữ chức trong kinh diên, ông ta dám tự coi mình là bậc thầy, muốn được ngồi giảng. Lúc ấy, gián quan Khổng Văn Trọng dâng sớ chỉ trích sự cuồng vọng của ông ta, quả nhiên không thể qua mắt sự sáng suốt biết người của bệ hạ, liền bị cách chức rõ ràng. Trước đây ông ta bị biếm về Tây Kinh, là để ông ta lui về suy nghĩ, tự xét lại mình.

Nay đã mãn tang, trừ phục, cho ông ta trở lại chức cũ là đủ, bỗng nhiên ban cho chức vị không có lý do, thăng lên chức vụ cao trong nho quán, thì lấy gì để trừng phạt kẻ cuồng vọng, khuyến khích nhiều sĩ tử? Huống chi chức Trực bí các, theo lệ cũ triều trước phải do bậc túc nho đức cao vọng trọng đảm nhiệm, để Trình Di chiếm giữ chức này, thì dư luận sao không bất bình? Kính mong bệ hạ xét sự cuồng vọng của ông ta không có ích gì cho thánh thế, bãi bỏ chức vị của ông ta để thỏa lòng công luận.”

[36] Ngày Bính Ngọ, Mã Tông, Chuẩn bị Sai sứ của Kinh lược ty thuộc Hoàn Khánh lộ, cùng những người khác, dẫn quân vượt biên giới tấn công trại Diệp Kết Bối Uy Dã, chém hai thủ lĩnh lớn nhỏ và năm mươi thủ cấp.

(Đoạn này được thêm vào dựa theo tấu nghị của Chương Tiết.)

[37] Ngày Đinh Mùi, An Đào, Quan văn điện Học sĩ, nhậm chức Tri châu Trịnh Châu, được bổ nhiệm làm Tri phủ Dĩnh Xương.

[38] Ngày Mậu Thân, các quan thần tâu rằng: “Theo chế độ cũ về việc bổ nhiệm con em, theo lệnh thời Thiên Thánh, những người được bổ nhiệm chức vụ do ơn huệ của tổ tiên, khi đã đủ điều kiện tuyển chọn hoặc được ân điển bổ nhiệm, hoặc do tấu xin, đều phải đủ 25 tuổi mới được phép bổ nhiệm làm quan. Thời Hi Ninh, đặt ra quy định khắt khe về thi cử, những người thi đỗ đều được phép bổ nhiệm làm quan từ năm 20 tuổi, do đó số quan lại tăng lên một cách vô hình. Thần xin khôi phục lại quy định thời Thiên Thánh.”

Chiếu chỉ Lại bộ soạn thảo pháp luật trình lên Thượng thư tỉnh. Bộ này nay soạn thảo các điều khoản sau: “Những người có xuất thân từ 20 tuổi trở lên, người không có xuất thân từ 25 tuổi trở lên được phép tham gia tuyển chọn. Những người không được miễn thi phải đợi thi đỗ mới được bổ nhiệm làm quan, nếu chưa đủ tuổi nhưng muốn thi trước thì được phép.

Những người không có xuất thân nộp đơn xin thi thì gửi đến Thị lang Tả tuyển, gặp kỳ thi khoa trường thì gửi đến Viện thi.

Những người lần đầu được bổ nhiệm làm sứ thần, theo độ tuổi quy định dưới đây được phép tham gia tuyển chọn và nhận chức vụ.

Những trường hợp không nêu rõ thì áp dụng tương tự: Thân thuộc của tông thất, con rể tông thất, hậu phi, mỹ nhân, tài nhân, thân thuộc của Đại trưởng công chúa, Trưởng công chúa, Công chúa, Quận huyện chủ, thân thuộc của phu nhân thân vương, hậu duệ của các đế vương tiền triều, thân thuộc của quan lại có phẩm hàm, hậu duệ của các huân thần, người được đặc chỉ ban chức, người được ban chức do công lao, văn thần được đổi chức (nếu vốn có xuất thân từ 20 tuổi trở lên), thư lệnh sử trở lên của Tam tỉnh và Xu mật viện, người thuộc hàng lưu ngoại, từ 25 tuổi trở lên; người thi võ cử trình diễn võ nghệ, các quân ban trực, tán trực, người được đổi chức do chiến công, thân nhân của người hy sinh vì vương sự, người nhiều lần báo bắt trộm cướp, người quy thuận hoặc bị bắt rồi trở về được phong làm phiên quan, người Dao ở Khê Động được chiêu dụ, từ 20 tuổi trở lên.

Những người lần đầu nhận chức vụ phải thi, nộp đơn và bài thi về nghề nghiệp đã học, gửi đến Điện tiền ty và Thị lang Tả tuyển, gặp kỳ thi khoa trường thì gửi đến Viện thi, đợi thi đỗ rồi mới được bổ nhiệm và tuyển chọn.” Đều được chấp thuận.

Sau đó, Đô tỉnh phê chuẩn: “Ngày 2 tháng 4 gửi đến Lại bộ, đều theo như đã tâu. Những người nêu trên được phép tham gia tuyển chọn, nếu không được miễn thi thì đợi thi đỗ mới nhận chức vụ, nếu chưa đủ tuổi nhưng muốn thi trước thì được phép.” (Thực lục chỉ ghi lại 40 chữ của điều khoản đầu tiên, còn lại đều bị lược bỏ, nay ghi chép đầy đủ.)

[39] Ngày Kỷ Dậu, Thái thường thừa, Tập hiền hiệu lý Trần Sát được quyền làm Chuyển vận phán quan Lộ Lợi Châu.

(Ngày 16 tháng 8 đổi sang Giang Đông, Khổng Vũ Trọng nói…)

[40] Ngày Canh Tuất, Lễ bộ tâu: “Theo trạng của Thái thường tự, đã soạn xong nghi thức nạp hoàng hậu. Sai sứ đi nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp thành, cáo kỳ, phát sách phụng nghênh, Thượng cung dẫn hoàng hậu đến đại thứ ở điện Phúc Ninh để chờ. Đến buổi chiều, xe hoàng hậu vào cửa Tuyên Đức, Lễ trực quan và Thông sự xá nhân dẫn Thị trung tấu xin nghiêm trang, nội thị chuyển tấu. Hoàng đế mặc áo thông thiên quan, ráng sa bào ngự ở điện Phúc Ninh, cung nhân thị vệ theo nghi thức thường lệ. Thượng cung dẫn hoàng hậu ra khỏi thứ, đến phía đông sân điện, đứng hướng tây. Thượng nghi quỳ tấu xong việc bên ngoài, xin hoàng đế xuống ngai tiếp đón.

Thượng cung dẫn hoàng hậu đến phía tây sân điện, hướng đông nam chào hoàng hậu rồi vào. Hoàng đế dẫn hoàng hậu lên từ bậc phía tây vào phòng, đứng trước giường, Thượng thực quỳ tấu dâng đồ ăn[9]. Hoàng đế chào hoàng hậu, cùng ngồi. Thượng thực dâng đồ ăn, hoàng đế và hoàng hậu đều ăn ba miếng. Thượng thực dâng rượu, hoàng đế và hoàng hậu cùng nhận chén uống. Thượng thực dâng đồ ăn tiếp, uống lần thứ hai như lần đầu.

Lần thứ ba uống rượu như lần thứ hai. Thượng nghi quỳ tấu lễ xong, hoàng đế và hoàng hậu cùng đứng dậy. Thượng cung xin hoàng đế mặc thường phục, Thượng tẩm xin hoàng hậu cởi lễ phục vào màn. Hôm sau, theo lễ triều kiến Thái hoàng thái hậu[10], Hoàng thái hậu, tham kiến Hoàng thái phi theo nghi thức trong cung.” Chiếu y theo.

(《Chính mục》 nói Lễ bộ soạn xong nghi thức nạp hoàng hậu.)

[41] Ngày Tân Hợi, Tri Hà Trung phủ, Tư chính điện[11] Học sĩ Bồ Tông Mạnh làm Tri Vĩnh Hưng quân.

[42] Chiếu truy tặng cố Nam Dương quận quân Chu thị làm Mỹ nhân.

[43] Phạm Tổ Vũ tâu: “Thần giữ chức chưởng quốc sử, kính cẩn xem xét, thấy Nhân Tông hoàng đế tại vị bốn mươi hai năm, công lao to lớn, đức độ cao dày, thật khó mà kể hết. Những điều có thể thấy rõ, gồm năm việc: Kính sợ trời, yêu thương dân, phụng thờ tông miếu, ham học hỏi, nghe lời can gián.

Nhân Tông thực hiện năm việc này trong thiên hạ, nên được gọi là Nhân. Bệ hạ lên ngôi đến nay đã tám năm, sớm tối nghe triều chính, ngày đêm học tập, không quản mưa gió, không ngại nắng lạnh, có thể nói là rất chăm lo tu dưỡng đức hạnh.

Tuy nhiên, ý trời sâu xa, đức độ thánh nhân cao vời, người trong ngoài chưa biết được ý tốt đẹp của Bệ hạ như năm điều của Nhân Tông đã thể hiện rõ trong thiên hạ. Quần thần dù muốn đóng góp chút ít, cũng không biết bắt đầu từ đâu. Hiện nay, bốn biển đều ngóng trông, mong mỏi thái bình. Thần mong Bệ hạ lưu tâm sâu sắc, noi gương tổ tông, ngày càng rạng rỡ, tỏ rõ điều mình yêu thích, để đáp ứng nguyện vọng của muôn dân.”

Đọc xong tờ tấu, lại tâu: “Thần thấy Nhân Tông thường nhân việc mà tỏ rõ yêu ghét. Năm Hoàng Hựu, Dương An Quốc giảng rằng: ‘Ngay thẳng thay Sử Ngư! Nước có đạo thì thẳng như tên, nước vô đạo cũng thẳng như tên. Quân tử thay Cừ Bá Ngọc! Nước có đạo thì ra làm quan, nước vô đạo thì có thể thu mình lại.’ Nhân Tông nói: ‘Cừ Bá Ngọc đúng là quân tử, nhưng không bằng Sử Ngư ngay thẳng. Theo lời Khổng Tử, thì Sử Ngư không bằng Cừ Bá Ngọc là quân tử.’

Lời của Nhân Tông là lời của bậc nhân nhân quân tử. Bậc quân Vua chỉ muốn bề dưới thẳng thắn, nên nói Cừ Bá Ngọc không bằng Sử Ngư, để mở đường cho bề dưới thẳng thắn. Nhờ đó, thiên hạ biết Nhân Tông thích ngay thẳng, không ưa nịnh hót. Đó là đức lớn của bậc thánh nhân. Những việc như thế, thần mong Bệ hạ lấy Nhân Tông làm gương.” Vua nghe theo.

[44] Trước đó, vào ngày Tân Hợi tháng 11 năm thứ 6, sao khách xuất hiện ở độ sao Tham, xâm phạm sao Thoái. Thái sử nói rằng điềm này chủ về binh đao bạo loạn, giá gạo đắt đỏ, vùng Tấn sẽ gặp tai họa binh đao. Ngày Nhâm Tý, sao khách xâm phạm sao Cửu Du. Tháng 12 ngày Quý Dậu, sao khách di chuyển vào độ sao Khuê, Thái sử nói rằng điềm này chủ về binh lính biên giới động loạn. Tháng giêng năm nay, sao khách theo thiên vận di chuyển vào vùng trọc mà không thấy nữa. Đến ngày Tân Hợi tháng này, sao khách ở độ sao Khuê tiêu tan.


  1. Phán đăng văn kiểm viện, 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 103, đài gián nói về Trình Di; 《Thái bình trị tích thống loại》 quyển 25, xuất xứ bản mạt của Trình Di; và 《Tống sử toàn văn》 quyển 13 hạ đều ghi là 'phán đăng văn cổ viện'.
  2. Đỉnh lại nói không chịu theo thế lực mà bỏ bê chức trách 'không' chữ này nguyên bản thiếu, căn cứ vào văn dưới bổ sung.
  3. 'Dịch' chữ này nguyên bản thiếu, theo bản khác bổ sung.
  4. Chữ 'tứ' dưới ngày 14 tháng 4 nguyên bản thiếu, theo các bản khác bổ sung. Xét: Ngày Giáp Thân tháng 3 năm Nguyên Hựu thứ 7, ngày Đinh Dậu là ngày 14.
  5. Phá tan mưu đồ của chúng 'Phá' nguyên bản là 'Đại', theo bản khác sửa lại.
  6. Ở trên đàn Thái Xã thiết đặt nhạc đăng ca, chữ 'đăng' nguyên là chữ 'tế', theo 《Tống hội yếu》 lễ 23-2, 《Tống sử》 quyển 102, Lễ chí sửa.
  7. chữ 'chư' ở 'chư lộ chư tướng hạ binh khí' nguyên là 'thỉnh', theo bản các sửa.
  8. Dù có họ mà không có nhà để về cũng theo quy định này, chữ 'dù' nguyên bản thiếu, căn cứ vào bản trong các và 《Tống hội yếu》 Thực hóa 61/61 bổ sung
  9. Chữ 'thực' dưới câu 'Thượng thực quỳ tấu thực cụ' vốn bị thiếu, căn cứ theo 《Hoàng triều biên niên cương mục bị yếu》 quyển 23 bổ sung.
  10. Chữ 'Thái' dưới 'Thái hoàng thái hậu' vốn bị thiếu, căn cứ theo điều Đinh Dậu trong quyển này bổ sung.
  11. Chữ 'chính' trong 'Tư chính điện' vốn viết là 'chính', căn cứ theo các bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 99 điều đình sửa.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.