VII. TỐNG TRIẾT TÔNG
[BETA] QUYỂN 475: NĂM NGUYÊN HỰU THỨ 7 (NHÂM THÂN, 1092)
Bắt đầu từ tháng 7 năm Nguyên Hựu thứ 7 đời Vua Triết Tông đến hết tháng đó.
[1] Mùa thu, tháng 7, ngày Quý Mùi, lễ triều hiến đầu mùa thu, vì trời mưa, Vua sai các quan chấp chính chia nhau dâng lễ.
[2] Ngày Bính Tuất, ba tỉnh tâu: “Đã lệnh cho chuyển vận ty chuẩn bị lương thực cho năm năm ở các châu Lân, Phủ, Phong. Nay mùa thu có triển vọng thu hoạch tốt, nhưng lo ngại tiền lương dự trữ ở các châu quân gần kinh thành khó chuyển đổi.” Vua ra chiếu, ngoại trừ việc chuyển đổi tiền lương ở các châu quân gần đó, lệnh cho Hộ bộ chi 1 triệu quan tiền dự trữ để ứng phó.
[3] Ngày Đinh Hợi, Vua ra chiếu: “Trong các vụ án, nếu có việc xét lại hoặc cần lấy lời khai riêng, hoặc bàn bạc về hình phạt mà chưa quyết định được, cũng như những vụ án do Đại Lý xét xử mà hình phạt chưa thích đáng cần gửi trả lại, thì những người cùng vụ án nhưng không liên quan, đều được xét xử trước.”
[4] Ngày Mậu Tý, Vua ra chiếu lấy ngày 14 tháng 12 làm lễ tế Nam Giao.
[5] Chuyển vận ty Hà Đông lộ tâu: “Theo sắc lệnh, các trường thuế sản vật địa phương ở Giang Nam lộ đã bãi bỏ và ngừng việc mua bán, thương nhân nhờ đó mà đi lại thuận lợi. Nay so sánh số thuế thu được năm Nguyên Hựu thứ 6 ở các trường thuế do quan giám sát, đã tăng hơn 3 vạn quan, e rằng các lộ khác cũng có thể áp dụng cách này.” Vua ra chiếu, các lộ nếu có người mua bán sản vật địa phương ở các trường thuế, đều theo chỉ huy của Giang Nam Tây lộ.
(Ngày 27 tháng 4 lần đầu bãi bỏ việc mua bán ở Giang Nam, ngày 5 tháng 8 Tô Thức nói…)
[6] Ngày Kỷ Sửu, Bành Thứ Vân, chuyển vận ty Hoài Nam, được quyền phái làm Phát vận sứ các lộ Giang, Hoài, Kinh, Chiết.
[7] Ngày Canh Dần, nước Liêu sai sứ là Tiêu Địch, Tiết độ sứ Sùng Nghĩa quân, phó sứ là Vương Khả, Trung đại phu, Thái thường thiếu khanh, sung chức Đãi chế Các Văn, đến chúc mừng lễ Khôn Thành.
[8] Ngày Nhâm Thìn, Điện trung thị ngự sử Dương Úy tâu: “Ở kinh đô, việc hình ngục có nhiều gian tệ, gần đây huyện Khai Phong báo cáo việc Lý Bảo chết vì bệnh ung thư, nhưng bản đài gửi văn thư cho phủ sai quan khám nghiệm lại, thì ra là do bị tra tấn đến chết, không thể không xem xét. Việc giám sát hình ngục ở kinh đô vốn do một ty phụ trách, nay đã giao cho đài giám sát chuyên trách, xin từ nay về sau nếu có tù nhân chết trong ngục, thì giao cho Ngự sử đài định đoạt, các quan viên vốn có trách nhiệm khám nghiệm sẽ tiến hành khám nghiệm theo quy định.” Được chấp thuận.
[9] Ngày Quý Tỵ, lấy Hàn lâm học sĩ Phạm Tổ Vũ, Xu mật trực học sĩ Triệu Ngạn Nhược tu soạn 《Thần Tông hoàng đế chính sử》. Tể tướng Lã Đại Phòng làm đề cử, Trứ tác tá lang Trương Lỗi làm biên tu, hạn trong một năm hoàn thành.
Thị ngự sử Dương Úy tâu: “Thần nghĩ rằng tiên đế thiên tư thông tuệ, văn võ song toàn, công lao sự nghiệp vượt xa các đời gần đây, nếu không dùng văn từ nghĩa lý để lấy được lòng tin của thiên hạ, thì không thể dùng ngòi bút chân thực để lưu truyền cho hậu thế. Năm ngoái thần từng bàn về việc con của Triệu Ngạn Nhược là Triệu Nhân Thứ làm lệnh, tàn ác tham nhũng, lại dám gửi thư cho các quan giám sát, cầu xin cứu giúp con trai, ỷ vào quan hệ thân thiết với Lưu Chí, coi thường triều đình. Nay lại để cho kẻ vu cáo hiểm ác như vậy bàn luận về công đức của tiên đế, thần e rằng các đại thần chưa suy nghĩ thấu đáo.”
Lại dâng sớ nói: “Thần Tông thông minh thánh triết, công lao hiển hách, nên tìm người trung thực để hoàn thành bộ sử đáng tin. Kẻ vu cáo không ngay thẳng lại được tiến cử, thần e rằng chưa nghĩ xa cho tiên đế.” Chiếu bãi bỏ lệnh cho Triệu Ngạn Nhược tu soạn quốc sử.
(Vương Chí trong 《Nguyên Hựu bát niên bổ lục》 ghi việc này vào tháng 5 năm Nguyên Hựu thứ 8, lại xưng Triệu Ngạn Nhược là Hàn lâm thị giảng học sĩ.
Xét: Triệu Ngạn Nhược tu soạn sử là ngày 12 tháng 7 năm Nguyên Hựu thứ 7, thăng Hàn lâm thị giảng học sĩ là ngày 24 tháng 11 năm Nguyên Hựu thứ 7. Vương Chí nhầm. Nay phụ chép vào lúc Triệu Ngạn Nhược mới được bổ nhiệm tu soạn sử, để tiện tra cứu thêm. Ngày 4 tháng 8, Triệu Ngạn Nhược lại lấy chức Xu mật trực học sĩ làm Quốc sử viện tu soạn.)
[10] Chiếu phục chức Hàn lâm Thị giảng học sĩ. Hàn lâm học sĩ Phạm Tổ Vũ được bổ nhiệm làm Hàn lâm Thị giảng học sĩ kiêm Tu quốc sử. Tổ Vũ cố xin tránh việc bổ nhiệm Phạm Bách Lộc ra ngoài, nên dùng lệ cũ của Vương Châu khi tránh việc bổ nhiệm cháu là Nghiêu Thần, đặc cách có sự bổ nhiệm này.
(Hành trạng của Lương Đào chép: “Việc phục chức Hàn lâm Thị giảng học sĩ thực ra là do Đào đề xuất.”)
[11] Kinh lược an phủ sứ Hi Hà Lan Mân lộ Phạm Dục tâu: “Đoàn sứ giả tiến cống của nước Vu Điền là Hòa Nhĩ Tế Cần Khắc Y Thực bí mật trình bày rằng trên đường đi bị quân Miến Dược cướp bóc, xin báo lên triều đình sai đoàn sứ giả cùng quân của Hắc Hãn vương phát binh tiêu diệt Miến Dược. Thần xin giải tán đoàn sứ giả này về kinh để thẩm vấn.” Chiếu cho ty này chọn sứ thần áp tải Hòa Nhĩ Tế Cần Khắc Y Thực và đoàn sứ giả về kinh trước.
(Sách mới không chép.)
[12] An phủ kiềm hạt ty Kinh Hồ Nam lộ tâu: “Giặc Dao ở các châu Toàn, Vĩnh, Hoành, Đạo gây loạn, quan lại đã có công dẹp loạn: Tả Triều thỉnh lang, Tri châu Vĩnh Lưu Mông, Suy quan châu Hoành Từ Kỵ, Tả Tuyên đức lang, Thiêm phán Tiết độ sứ Vũ An quân Lưu Trung, Phán quan châu Hoành Tả Phu, Huyện úy Vũ Cương châu Thiệu, Tá chức Ngụy Diên Khánh, v.v.” Chiếu giảm thời gian thăng chức, ban tặng lụa có khác nhau.
(Sách mới không chép.)
[13] Ngày Giáp Ngọ, chiếu rằng các quan viên đương nhiệm và công nhân không được mua lương thảo, ngựa quân của các quân, vi phạm sẽ bị phạt tù hai năm, cho phép người tố cáo, tịch thu vật phẩm. Vì Thượng thư tỉnh tâu: “Theo chiếu năm Nguyên Hựu, tội đáng bị trượng quá nhẹ, dẫn đến việc vi phạm, không thể răn đe.” Nên lập ra luật này.
(Sách mới không chép.)
[14] Ngày Đinh Dậu, tướng thứ ba Hoàn Khánh lộ là Chiết Khả Thích thống lĩnh sáu nghìn quân ra khỏi biên giới, đánh bại giặc ở ải Đinh Tụng, chém được bốn trăm bốn mươi chín thủ cấp, bắt sống bảy mươi ba người.
(Theo tấu nghị của Chương Tiết thêm vào.)
[15] Ngày Kỷ Hợi, vì mưa, bãi bỏ yến tiệc ở điện Tập Anh.
[16] Chiếu lấy đền thờ Hàn Dũ làm miếu Xương Lê Bá.
[17] Ngày Canh Tý, Tả Triều thỉnh lang, Quyền phát khiển Giang Đông lộ Đề điểm hình ngục Vương Tổ Đạo được bổ nhiệm làm Quyền phát khiển Phúc Châu.
(Nên bỏ đi, chính mục chép vào ngày 18 tháng 8.)
[18] Ngày Quý Mão, lấy Thượng thư Tả bộc xạ kiêm Môn hạ thị lang Lã Đại Phòng làm Nam giao đại lễ sứ, Lễ bộ Thượng thư Hồ Tông Dũ làm Lễ nghi sứ, Long đồ các Học sĩ Tô Thức làm Binh bộ Thượng thư sung Lỗ bạ sứ, Ngự sử Trung thừa Lý Chi Thuần làm Nghi trượng sứ, Quyền Tri Khai Phong phủ Hàn Tông Đạo làm Kiều đạo đốn đệ sứ.
[19] Chiếu cho Kinh Nguyên lộ Kinh lược sứ Tạ Lân: “Từ mùa xuân năm nay, giặc Tây xây thành đắp lũy, thường xuyên ra vào, dụ dỗ quân Hán. Nghe nói từ tháng hai, bản lộ đã cho người vào thành tập hợp nhân mã, khiến nhiều người thất nghiệp, gia súc chết nhiều. Xét kế hoạch của giặc Tây, chính là muốn làm cho quan binh và dân biên giới không được nghỉ ngơi. Hãy bàn bạc kỹ lưỡng, tìm cách phòng bị, rồi tâu lên.”
[20] Ngày Ất Tỵ, lấy Tả Triều phụng lang Trương Nguyên Phương làm Kim bộ Viên ngoại lang, Hiệu thư lang Dương Quốc Bảo làm Tập hiền Hiệu lý, Quyền Phát khiển Khai Phong phủ Suy quan.
[21] Chiếu lập đền thờ cho cố Tri Ung châu, Hoàng thành sứ Tô Giam tại bản châu, ban tên hiệu là “Hoài Trung miếu”. Tô Giam hai lần giữ chức Tri Ung châu, vào niên hiệu Hi Ninh, quân Giao Chỉ xâm phạm biên giới, ông chiến đấu hơn bốn mươi ngày, giết nhiều giặc, lương thực hết, không chịu khuất phục mà chết. Việc này là theo lời thỉnh cầu của dân châu.
[22] Tả Ty gián Ngu Sách tâu: “Khi chỉ có một người, xin theo lệ cùng một viên quan Ngự sử đài lên điện, và từ nay về sau, các quan Gián quan khi chỉ có một người cũng làm theo như vậy.” Được chấp thuận.
[23] Giám sát Ngự sử Hoàng Khánh Cơ và Điện trung Thị ngự sử Ngô Lập Lễ lại tâu về việc Tri Lân châu Tôn Hàm Ninh và Quản câu Quân mã Trương Nhược Nột, canh giữ biên giới không rõ ràng, không chuẩn bị sẵn sàng, khiến giặc Tây tự do cướp bóc, xin cách chức và đày đi xa để cảnh cáo quan lại biên giới. Chiếu: “Tôn Hàm Ninh bãi chức Kinh Nguyên lộ Chuẩn bị sứ, thêm sai Giám Thiệu châu Tửu thuế.”
(Trương Nhược Nột không bị xử lý, cần xem xét, bản mới bỏ tên Nhược Nột.)
[24] Phó tướng thứ tư của Phu Diên lộ, Cung uyển phó sứ Hướng Hoài Đức bị giáng một chức, sung làm Chuẩn bị sai sứ của Phu Diên lộ. Do Kinh lược ty tâu rằng ông ta tư lợi sử dụng cấm quân, mượn tiền công sứ, và khi giặc Tây xâm phạm thành Tuy Đức, Hoài Đức không kịp thời ứng phó. Vì ông ta có nhiều chiến công nên được đặc cách miễn tra xét, nhưng vẫn bị giáng chức.
[25] Chiếu rằng: “Các nhân viên tiết cấp của cấm quân tựu lương ở Thiểm Tây, Hà Đông lộ, bị giáng làm bản thành, đã lệnh cho Kinh lược ty của Thiểm Tây, Hà Đông lộ tuyển chọn người dưới 50 tuổi, kỹ năng không suy giảm, có khả năng chiến đấu, thu quản ngoài biên chế cũ, cấp lương theo tiêu chuẩn sương quân, khi có việc thì bắt buộc phải tận tâm. Những người phạm tội nhẹ trong cấm quân tựu lương bị giáng làm bản thành lao thành trưởng hành cũng áp dụng theo quy định này. Những người này không được hưởng lương theo tiêu chuẩn cũ, mà bị giáng một bậc chức vụ. Thập tướng theo quy định của ngu hậu, từ tướng ngu hậu đến trưởng hành trước đây hưởng 500 đồng tiền lương, nay cấp 300 đồng tiền lương theo tiêu chuẩn hạ quân; những người trước đây hưởng 300 đồng tiền lương, được phép hưởng toàn bộ.”
(Không có trong bản mới.)
[26] Lại chiếu rằng: “Từ nay, các Kinh lược ty của Thiểm Tây, Hà Đông lộ, khi có việc xây dựng ở biên giới cần thuê cấm quân, phải báo cáo rõ lý do thiếu nhân công, trình bày đầy đủ để xin chỉ thị. Nếu việc gấp không thể chờ báo cáo, được phép thuê ngay, nhưng cũng phải tâu lên. Nếu quan chức kiểm tra lại thấy có điều gì không đúng sự thật, sẽ bị xử theo pháp luật.” Trước đây, chỉ khi việc xây dựng khẩn cấp ở biên giới không kịp chờ báo cáo mới được phép thuê cấm quân, nhưng các lộ không phân biệt việc gấp hay không, đều thuê cấm quân làm việc, nên nay quy định lại nghiêm ngặt hơn.
[27] Ngày Mậu Thân, chiếu rằng: “Những vụ án xét xử trước khi ân xá, các nơi xin không được hưởng ân xá, hoặc quan ty cố tình trì hoãn, hoặc người bị tra xét bỏ trốn, đều lệnh cho Hình bộ chờ hồ sơ đến để xin chỉ thị.”
(Không có trong bản mới.)
[28] Ngày Kỷ Dậu, Tả triều thỉnh lang Đinh Quyền được bổ làm Tư phong viên ngoại lang. (Ngày 8 tháng 5 năm thứ 6, được bổ làm Tri châu Túc.) Tri quân Đức An là Thượng Quan Quân được bổ làm Đề điểm hình ngục lộ Hà Bắc Tây, sau đó đổi sang lộ Đông. (Đổi sang lộ Đông vào ngày 14 tháng 8.) Quyền Khai Phong phủ suy quan Triệu Đồng được bổ làm Chuyển vận phán quan lộ Tử Châu, sau đó đổi làm Quyền Đề điểm hình ngục lộ Quỳ Châu. Lại có chiếu rằng từ nay về sau, những người chưa đủ tư cách làm Tri châu mà giữ chức Khai Phong phủ suy quan thì chỉ được bổ làm Chuyển vận phán quan.
(Việc đổi làm Đề điểm hình ngục lộ Quỳ Châu diễn ra vào ngày mùng 4 tháng 8, nay ghi chung vào đây.)
[29] Chiếu rằng trong lễ Nam Giao, sẽ dùng áo lễ Đại Cừu, không dùng da dê đen nữa, mà dùng lụa đen để may.
[30] Chiếu ban cho các lộ An phủ, Kiềm hạt ty, cùng Tây Kinh và Nam Kinh, mỗi nơi một bộ sách 《Tư trị thông giám》.
[31] Ngày Canh Tuất, Đại Tông Chính ty tâu: “Việc phân chia tài sản trong hoàng tộc từ trước đến nay chưa có quy định rõ ràng. Nay xin xem xét, trừ những người trong phạm vi tang phục Tí Ma trở lên không được phép chia tách ra ngoài, còn những người trong phạm vi tang phục Đản Miễn trở xuống, ngoài ruộng vĩnh nghiệp và đồ dùng cúng tế không được chia cắt, thì phần còn lại cho phép chia đều.” Được chấp thuận.
[32] Tháng này, Long Đồ các học sĩ, Tri châu Dương Châu Tô Thức tâu:
(Tô Thức dâng tấu vào ngày 27 tháng 7, nay ghi vào cuối tháng. Ngày 23 đã có chiếu bổ làm Binh bộ thượng thư, nhưng chưa vào triều.)
“Thần trộm nghĩ rằng luật kho là một chính sách mạnh tạm thời của thánh triều, khiến thiên hạ kinh hãi, xưa nay chưa từng có.
Từ khi bệ hạ lên ngôi, đầu tiên đã nới lỏng luật này, nhưng trong đó có những cơ quan trọng yếu, lại dịch sống nhờ vào bổng lộc hậu hĩnh, triều đình không muốn vội tước bỏ phần lương của họ, nên tạm thời duy trì đến nay. Đó là vì bất đắc dĩ mà lưu lại, chứ không phải cho rằng chính sách mạnh này có thể dựa vào để trị quốc.
Từ khi có hình phạt đến nay, đều căn cứ vào tội mà đặt ra luật, ví như cái cân, nặng nhẹ tương xứng, chưa từng có dân chúng phạm tội nhỏ mà báo ứng bằng hình phạt nặng. Nay luật kho, không đầy trăm tiền thì bị đi đày, đầy mười quan thì bị đày ra đảo Sa Môn. Há chẳng phải là dùng hình phạt nặng để báo ứng tội nhẹ sao? Thiên đạo báo ứng, không thể lừa dối, điều này chắc chắn không có lợi cho xã tắc.
Phàm là bề tôi, đều vì bệ hạ mà tiếc cho việc này, há có thể vì chút lợi hại nhỏ mà dễ dàng làm vậy sao? Thần trộm thấy luật kho đã bãi bỏ, như các lại dịch ở Ty Chuyển vận, Ty Đề hình, gần đây lại dần dần thi hành trở lại. Nếu các giám ty có người tài, lại dịch nào dám phạm tội?
Nếu không có người tài, dù có thi hành quân lệnh, phạm tội càng nhiều. Nay chấp chính không chú ý chọn lựa giám ty, mà chỉ thi hành luật kho, há cho rằng luật này có thể dựa vào để trị quốc sao?
Nay lại lệnh cho các đấu tử ở kho chuyển ban Chân, Dương, Sở, Tứ thi hành luật kho, việc vận chuyển bị hỏng, chấp chính rốt cuộc không chịu chọn một Phát vận sứ mạnh mẽ sáng suốt để lo liệu việc này, chỉ tin vào tiểu lại ở Bộ Kho, dám tùy tiện trình bày xin phép, liền thi hành luật kho, điều này thần không hiểu.
Thần nay đến tâu, chỉ là để làm rõ lại sắc lệnh biên soạn từ thời Nguyên Hựu, không quá việc mỗi năm bỏ ra một vạn quan tiền thuế lương thực mà chuyển vận ty thu trái phép, nhưng có thể khiến sáu trăm vạn hộc đấu cung nạp không bị thất thoát lớn, lại có thể cứu sống hàng nghìn người kéo thuyền và hàng vạn binh lính kéo xe ở sáu lộ khỏi bị xử phạt nặng, cũng như bảo toàn sinh kế của hàng trăm nhân viên áp tải và sứ thần, từ đó thương nhân được lưu thông, kinh sư trở nên giàu có. Lý lẽ rất rõ ràng, không có gì đáng nghi ngờ, chỉ sợ các vị chấp chính không vui.
Thần là người ngoài cuộc, dám bàn luận về chính sách đã thi hành, chắc chắn sẽ bị gửi về Hộ bộ, hoặc bắt bản lộ giám ty xem xét, gây nhiều khó khăn, quyết không thể thực hiện được.
Thần tài cán kém cỏi, tuổi già bệnh tật ngày càng nặng, thường lo không báo đáp được ân đức lớn, mang hận xuống đất, nên trong lúc chưa chết, đặc biệt dâng lời mù quáng, chỉ mong có thể giúp ích cho thánh đức trên, cứu giúp dân chúng dưới, dù thần vì thế mà phạm tội, chết muôn lần cũng không hối hận.
Nếu bệ hạ cho lời thần là đúng, xin hãy giữ lại tờ tấu này trong cung để xem xét, đặc biệt ban bố ân đức, chủ trương thi hành. Nếu cho lời thần là sai, xin hãy đưa tờ tấu này ra ngoài, bàn luận tội của thần.”
[Tô Thức] Lại tâu:
“Thần nghe rằng vào thời Đường Đại Tông, Lưu Yến làm chức Giang Hoài Chuyển vận sứ, bắt đầu đóng thuyền chuyển vận ở Dương Châu, mỗi thuyền chở được một nghìn thạch[1], mười thuyền làm thành một cương, Dương Châu cử quân tướng áp tải đến Hà Âm. Mỗi lần đóng một thuyền, tiêu tốn một nghìn quan tiền, nhưng thực tế chi phí chưa đến năm trăm quan. Có người chê ông phung phí, Lưu Yến nói: ‘Nước lớn không thể dùng cách nhỏ để quản lý, phàm những gì sáng tạo đều phải tính toán lâu dài. Xưởng thuyền đã mở, người làm việc không phải một, cần có dư dật để nuôi sống mọi người, tư dụng không thiếu thốn thì của công mới bền vững.’ Ông bèn lập mười xưởng thuyền ở huyện Dương Tử, cử mười viên quan chuyên trách, chỉ trong vài năm, tất cả đều trở nên giàu có. Trong hơn năm mươi năm, xưởng thuyền không hư hỏng, việc vận chuyển lương thực cũng không bị gián đoạn.
Đến cuối niên hiệu Hàm Thông, có viên Thị ngự họ Đỗ, bắt đầu chia một thuyền chở một nghìn thạch thành hai thuyền chở năm trăm thạch, thuyền bắt đầu hư hỏng. Còn Ngô Nghiêu Khanh làm quan ở viện Dương Tử, bắt đầu kiểm tra vật liệu cần dùng cho mỗi thuyền, ước tính số lượng thực tế để cấp phát, tiền không còn dư thừa, mười gia đình quan chuyên trách lập tức lâm vào cảnh đói rét, xưởng thuyền đổ vỡ, việc vận chuyển lương thực không tiếp tục được, từ đó dẫn đến loạn Hoàng Sào.
Lưu Yến dùng một nghìn quan đóng thuyền, tiêu tốn năm trăm quan làm của riêng cho những người liên quan, nếu đem bàn luận với những người quân tử thời nay ít thấy biết, có thể nói là cực kỳ sơ suất. Nhưng Lưu Yến vận chuyển bốn mươi vạn thạch, cần dùng bốn trăm thuyền, năm năm đóng mới một lần, mỗi năm đóng tám mươi thuyền. Mỗi thuyền dư ra năm trăm quan, mỗi năm mất bốn vạn quan.
Còn Ngô Nghiêu Khanh chỉ là giúp triều đình tiết kiệm bốn vạn quan mỗi năm mà thôi, được mất rất nhỏ, nhưng việc vận chuyển lương thực không tiếp tục được, gây nên đại họa cho thiên hạ. Thần từ đó biết rằng những kế sách lớn của thiên hạ, chưa từng không thành công bởi những người có tầm nhìn rộng, mà thất bại bởi những kẻ tiểu nhân hẹp hòi. Việc lớn tài chính của quốc gia, liên quan đến an nguy, mong rằng luôn không bàn bạc với những kẻ tiểu nhân hẹp hòi, như vậy mới có thể duy trì lâu dài mà không đổ vỡ.
Thần trộm thấy vào năm Gia Hựu, Trương Phương Bình làm chức Tam ty sứ, dâng tấu luận về việc dự trữ quân lương ở kinh sư rằng: ‘Kinh sư ngày nay, tức là đất Trần Lưu thời xưa, là nơi bốn phương thông suốt, tám hướng giao nhau, không như đất Ung, Lạc có núi sông hiểm trở để nương tựa. Chỉ dựa vào trọng binh để lập quốc mà thôi. Binh lính dựa vào lương thực, lương thực dựa vào vận chuyển đường thủy, nếu việc vận chuyển đường thủy bị thiếu hụt, triều đình sẽ không biết xoay xở ra sao.’ Nhân đó, ông vạch ra mười bốn kế sách, trong đó có một điều nói rằng: ‘Lương thực vận chuyển về kinh, mỗi năm thiếu hụt không dưới sáu bảy vạn thạch, đều dùng tiền chiết khấu để bù đắp, Phát vận ty không còn chịu trách nhiệm như trước nữa, đây không phải là chế độ cũ của tổ tông.’
Thần từ đó biết rằng trước năm Gia Hựu, mỗi năm vận chuyển sáu trăm vạn thạch, mà thiếu hụt sáu bảy vạn thạch đã là nhiều. Nghe nói năm ngoái chỉ vận chuyển được hơn bốn trăm năm mươi vạn thạch[2], phép vận chuyển đã hỏng đến mức này. Lại nữa, thần mới nhậm chức chưa được bao lâu, mà đã xử án những người liên quan đến việc thiếu hụt lương thực vận chuyển, số người bị lưu đày không thể đếm xuể. Quần áo, lương thực đều cạn kiệt vì chiết khấu, thuyền xe đều bán hết để bù đắp, vợ con phải bán đi, đói khát lầm than, tụ tập thành kẻ ăn xin, tan tác thành giặc cướp. Thần trộm tính rằng kinh sư và các quận dọc sông đều như vậy.
Đại kế của triều đình, đại họa của dân chúng, như bọn thần đây, há có thể ngồi nhìn mà không cứu giúp sao? Thần bèn hỏi lại các quan lại, thì ra Kim bộ dám tự ý đặt ra điều lệ này, không xin chỉ dụ của hoàng thượng, công khai ban hành, không chỉ là hành vi bóc lột vô lý, làm hỏng pháp độ của tổ tông, mà ý riêng của bề tôi lại có thể phế bỏ chế sắc. Các Giám ty, châu quận đều tuân theo, không ai dám hỏi han, đây há phải là chuyện nhỏ sao!
Thần xét rằng một đoàn thuyền ba mươi chiếc, mà quan thuế vụ chỉ có một người, không rõ làm sao có thể kiểm tra hết ba mươi chiếc thuyền cùng một lúc, mà không bắt dừng lại ở bờ. Một chiếc thuyền bị kiểm tra, thì hai mươi chín chiếc thuyền còn lại đều phải dừng lại chờ đợi, rõ ràng là vi phạm điều lệ, lợi dụng pháp luật, phân tích luật lệ, phá hoại chế sắc. Nếu lấy cớ kiểm tra theo thuyền, công khai bắt dừng lại kiểm tra, thì chẳng khác gì trò trẻ con.
Nghe nói các châu, phần nhiều từ năm Nguyên Hựu thứ ba trở đi mới bắt đầu kiểm tra thu thuế, thực hiện được vài năm, thì tệ hại mới lộ ra. Thuyền trưởng và thủy thủ đều trở nên trắng tay, vợ con ly tán, tính mạng không bảo toàn, dù có dùng đến đao búa, cũng không thể ngăn cản họ trộm cắp. Nếu không sửa đổi tệ nạn này, thần e rằng sau này thiếu hụt không chỉ hơn ba mươi vạn thạch, quân lương ở kinh sư không kịp tiếp tế, họa lớn sẽ khó lường.
Việc thu thuế ở Dương châu, từ tháng 7 năm Nguyên Hựu thứ 3[3], bắt đầu kiểm tra và thu thuế, đến cuối năm thứ 6, trong khoảng 3 năm, tổng cộng thu được hơn 4.700 quan tiền thuế lương thực, bù trừ qua lại, mỗi năm thu không quá 1.600 quan.
Nếu tính cả vùng Hoài Nam, 6 châu quân Chân, Dương, Cao Bưu, Sở, Tứ, Túc thu được không quá 10.000 quan, nhưng các nơi thu thuế nhân việc Kim bộ và Chuyển vận ty cho phép kiểm tra, nhân đó làm bậy, đòi hỏi và vơ vét gấp 10 lần quan thuế, khiến các thuyền chở lương đều cùng khốn, không còn thương nhân giàu có nào chịu giao hàng hóa để vận chuyển, chỉ trông vào việc cướp lấy gạo quan, không hạn chế, bán phá thuyền bè, dùng hết sạch, việc bại lộ thì vào ngục, lấy mạng đền bù cho quan.
Rõ ràng Kim bộ và Chuyển vận ty vi phạm điều luật, bóc lột, thu được 10.000 quan tiền thuế lương thực, nhưng khiến triều đình mất hơn 30 vạn thạch gạo vận chuyển, lợi hại rõ ràng.
Nay Thương bộ không điều tra nguyên nhân thiếu hụt việc vận chuyển, lại nói do nhân viên kho xin tiền của thuyền chở lương, dẫn đến thiếu hụt, bèn lập pháp lệnh cho các kho chuyển vận ở Chân, Dương, Sở, Tứ đều áp dụng luật kho, các nhân viên kho chỉ giữ lại một nửa. Ngày lệnh ban xuống, 40 nhân viên kho chuyển vận ở Dương châu đều đến trình bày với thần, xin về làm ruộng.
Thần tuy đã dùng nhiều cách ngăn cản và giải thích, trả lại đơn, nhưng xét thấy nếu pháp này thi hành, thì nhân viên kho hiện nay sẽ tan rã, dù có tuyển mộ người khác, cũng chỉ là những kẻ phóng đãng, không sợ pháp luật, tiền lương không đủ nuôi gia đình, ắt sẽ đòi hỏi. Đã phạm pháp nặng, ắt phải hối lộ nhiều, giao dịch bí mật. Những người áp tải, thuyền chở lương biết rằng nếu nhân viên kho không nhận hối lộ, sẽ không có dư dả, việc nộp thuế khó hoàn thành, ắt phải hối lộ nhiều, không đợi đòi hỏi mới dùng, đó là lẽ tất nhiên.
Thần xét kỹ các điều khoản gần đây do bộ Thương lập ra, đều là những chi tiết nhỏ nhặt, không phải là vấn đề lớn liên quan đến lợi hại. Tại sao vậy? Từ trước niên hiệu Hi Ninh, trong ngoài đều không có luật về kho, cũng không có các điều khoản do bộ Thương lập ra như hiện nay, mà hàng năm vận chuyển sáu triệu thạch, thiếu hụt không quá sáu bảy vạn thạch. Đó là do triều đình bớt lợi nhỏ từ thuế thương mại để nuôi sống các thuyền viên, và các cơ quan dọc đường tuân thủ pháp luật, không dám vi phạm điều khoản kiểm tra thu thuế, khiến thuyền viên no ấm, yêu quý tính mạng, bảo toàn tài sản công, sự việc rõ ràng.
Thần đã nhận được báo cáo từ cơ quan thuế của châu này, việc kiểm tra theo thuyền chỉ kiểm được một thuyền, còn hai mươi chín thuyền khác không tránh khỏi phải dừng lại bờ chờ đợi, rõ ràng là có trở ngại. Thần đã căn cứ vào sắc lệnh niên hiệu Nguyên Hựu, ra thông báo từ nay về sau không được lấy cớ kiểm tra theo thuyền để vi phạm điều khoản bắt dừng lại bờ kiểm tra. Các quan lại thuế vụ theo chỉ đạo của châu này và bộ Thương, phát vận, chuyển vận ty, không phải tự ý đặt ra điều khoản, nên chưa dám tiến hành điều tra. Các cơ quan thuế vụ ở các châu quân khác không thuộc quyền quản lý của thần, không thể ra lệnh chung.
Xin triều đình tuyên bố rõ sắc lệnh niên hiệu Nguyên Hựu, không được bắt dừng lại bờ kiểm tra, nghiêm khắc răn đe. Đồng thời xin bãi bỏ luật kho gần đây do bộ Thương đề xuất, và hỏi tội các quan lại bộ Kim, không xin chỉ dụ, tự ý đặt ra luật kiểm tra theo thuyền, bóc lột binh lính, làm hỏng việc vận chuyển, gây tổn hại cho quốc kế, cũng như xử lý các quan lại phát vận, chuyển vận ty theo tội trạng, để từ nay về sau các quan lại tàn ác không dám tự ý hành động, vì lợi nhỏ mà gây hại lớn, được một mà mất trăm.
Thần nghe nói việc vận chuyển lương thực từ phương Đông Nam liên quan rất lớn đến quốc kế, nên từ thời tổ tông đến nay, đặc biệt lập ra Ty Phát vận để chuyên trách việc này, chọn người rất kỹ, uy lệnh tự thi hành, như các bậc Hứa Nguyên ngày trước đều có thể kiềm chế các lộ, chủ trương việc vận chuyển. Các Giám ty, châu quận và các trường vụ đâu dám vô cớ khắc nghiệt gây khó dễ, chỉ cần Ty Phát vận có người tài, tạm giao quyền hành, thì kế hoạch lớn ở phương Đông Nam tự nhiên sẽ được thực hiện, đâu cần triều đình lại ban hành thêm luật kho. Việc này rất đơn giản, chỉ cần triều đình lưu tâm mà thôi. Kính trình biên soạn sắc lệnh thời Nguyên Hựu và chỉ huy của Kim bộ về việc kiểm tra tùy thuyền như sau:
1. Theo sắc lệnh biên soạn thời Nguyên Hựu, các thuyền vận chuyển lương thực đến bến phải kiểm tra và nộp thuế, nếu vi phạm thời hạn, hoặc trong thời hạn mà vô cớ trì hoãn và kiểm tra vô lý, cùng với việc đòi tiền thuế không tên, đều phải chịu tội đồ hai năm. Các đoàn vận chuyển tiền mới và lương thực, dọc đường không được ép buộc dừng lại kiểm tra[4], dù có mang theo vật cấm lậu, nơi đi qua cũng không hỏi tội, đến kinh thành thì khóa cửa Thông Tân Môn cũng theo quy định này.
2. Theo lệnh của Kim bộ Thượng thư ngày 19 tháng 11 năm Nguyên Hựu thứ 5, Bộ xem xét, các đoàn vận chuyển muối và lương thực tuy không được ép buộc dừng lại, nhưng nếu kiểm tra tùy thuyền thấy có vật phẩm chịu thuế, thì phải theo lệ mà thu thuế, không có lý do không thu thuế, nếu không có vật phẩm chịu thuế, thì không được vi phạm lệ mà đòi thuế, lý lẽ rất rõ ràng.
Các điều khoản trên, kính trình đầy đủ như trước.
Nếu triều đình thực hiện hết lời thần nói, ắt sẽ có năm lợi ích:
Thứ nhất, thủy thủ no ấm, biết quý trọng thân mình và sợ pháp luật, việc vận chuyển lương thực sẽ không bị thất thoát lớn.
Thứ hai, giảm bớt hình phạt lưu đày, tiêu trừ nạn trộm cướp và lưu vong.
Thứ ba, thủy thủ đủ ăn đủ mặc, ai nấy đều tự trọng, coi thuyền như nhà, không còn bán phá thuyền, lại thường xuyên tu sửa, tiết kiệm chi phí cho các xưởng đóng thuyền khắp nơi.
Thứ tư, thủy thủ vận chuyển lương thực được phép chở thêm hàng hóa của thương nhân, quan lại không kiểm tra, không bị cản trở hay đòi hối lộ, nhưng thủy thủ phải tự đến nộp thuế, phòng ngừa việc tố cáo. Tích tiểu thành đại, số thuế thu được chưa chắc đã ít hơn hiện nay.
Thứ năm, từ cuối năm Nguyên Phong, bãi bỏ Ty Đạo Lạc và các kho hàng, người ta cho rằng thương nhân sẽ dần dần thông thương, nhưng đã tám năm nay, vẫn chưa thấy chút hiệu quả nào. Thuế rượu ở kinh đô đều bị thiếu hụt, nhà cửa và cửa hàng đều trống rỗng, vì sao? Vì từ thời tổ tiên, đã cho phép thuyền vận chuyển lương thực được chở thêm hàng hóa, không đánh thuế, lại phí vận chuyển rẻ, nên hàng hóa lưu thông dễ dàng. Dọc đường tuy mất thuế thương mại, nhưng kinh đô vẫn được sung túc. Từ khi Ty Đạo Lạc bị bãi bỏ, Ty Chuyển Vận Hoài Nam âm thầm chiếm lợi, mấy năm nay, ngân khố nhà nước khó khăn, Ty Chuyển Vận thúc ép các cơ quan thu thuế ngày càng gấp gáp, nên thương nhân hoàn toàn không hoạt động, kinh đô trở nên khô kiệt. Nay nếu thực hiện kế sách của thần, thương nhân phương Đông Nam vốn bị bế quan lâu ngày bỗng được thông thương[5], ắt sẽ đến gấp bội, thì kinh đô về cả công lẫn tư, vài năm sau ắt sẽ khôi phục như xưa, đó là lợi ích thứ năm.
Thần thấy gần đây, quan lại và dân chúng đều coi thường pháp luật, thành thói quen. Nếu triều đình cho lời thần là sai, thần không dám tránh tội nói càn, xin bị trừng phạt nặng. Nếu cho lời thần là đúng, xin hãy thực hiện đầy đủ, nếu có vi phạm, ắt phải trừng phạt không tha, thì năm lợi ích kia có thể thấy ngay trong ngày.”
Thiếp hoàng nói:
“Bản châu đã có 20 người đẩu tử ở kho chuyển vận, nhưng không đủ dùng, chắc chắn sẽ dẫn đến thiếu sót và sai lầm trong công việc, nên xin được giữ lại 40 người như cũ. Về pháp lệnh kho mà đẩu tử đang thực hiện, thần đã tìm hiểu và hỏi những người am hiểu về việc vận chuyển, họ đều nói rằng sau khi thi hành pháp lệnh kho, tổn thất càng nhiều. Nếu đẩu tử thực sự không nhận tiền, thì việc đóng gói và phát hành sẽ không có hộc diện, binh lính và thủy thủ khó tránh khỏi việc ăn cắp, và tổn thất chắc chắn sẽ nghiêm trọng hơn hiện nay. Nếu đẩu tử không thể tránh khỏi việc nhận tiền, thì trước đây chỉ cần một quan, nay phải nhận hai ba quan mới chịu nhận. Tuy nhiên, họ không dám trực tiếp đòi tiền, nên phải nhờ người khác xoay xở, giảm bớt và chia chác, gây hại càng sâu. Kính xin triều đình xem xét kỹ lưỡng, sớm bãi bỏ pháp lệnh này và trở lại theo pháp lệnh cũ.’
Lại tờ thiếp hoàng:
“Thần nay xem xét, bộ Thương hiện nay đề xuất các điều khoản, thi hành pháp lệnh kho, chi tiêu tiền và gạo không ít, lại thêm việc bổ nhiệm các tiểu sứ thần giám môn, cấp nhật khoán, lại cho phép mọi người tố cáo và bắt những kẻ hội họp để đòi tiền, trước tiên cấp 50 quan tiền công làm phần thưởng. Lại cấp 20.000 quan tiền thượng cung của tỉnh để chiêu mộ cương sao. Những việc như vậy, chi phí rất lớn, nhưng đều không nắm được điểm then chốt của lợi hại, thi hành vài năm chắc chắn sẽ không có kết quả. Điều thần xin hiện nay, chỉ là giảm bớt 10.000 quan tiền thuế thu trái điều lệ của ty Chuyển vận Hoài Nam, cương sao no đủ, của công tự nhiên được bảo toàn, lợi ích rất lớn.” (Mộ chí chép: Triều đình nghe theo, nên kiểm tra lại.)
[Tô Thức] Lại tâu rằng:
“Thần gần đây có tấu trình về những lợi hại của việc thiếu hụt và tổn thất trong vận chuyển lương thực ở Giang, Hoài. Thần cho rằng gốc rễ của việc thiếu hụt và tổn thất xuất phát từ sự nghèo khó của các thuyền trưởng, mà nguyên nhân của sự nghèo khó[6], bắt nguồn từ việc thu thuế trái pháp luật.
Nếu nghiêm khắc thực hiện việc này, thì trong vòng một năm, những thiệt hại của công và tư sẽ giảm đi bảy tám phần, đây là gốc rễ của lợi hại, còn những việc khác chỉ là chi tiết nhỏ nhặt. Nếu triều đình mỗi khi nghe một việc, liền lập ra một pháp luật, pháp luật ra đời thì gian tà nảy sinh, có hại mà không có lợi, thì như pháp luật về kho đấu tử mà bộ Thương lập ra trước đây, cùng các điều ước khác, là ví dụ.
Thần ngu muốn xin triệt để bãi bỏ, chỉ xin ban chiếu minh cho Phát vận sứ, trách nhiệm về lỗ lãi mà thưởng phạt, trao quyền hành để giúp họ nắm bắt tình hình. Như vậy, kế hoạch lớn về vận chuyển lương thực có thể thực hiện được.
Thế nào là trách nhiệm về lỗ lãi mà thưởng phạt? Đó là vì nhiệm vụ hàng năm của Phát vận sứ, nên lấy số lượng lương thực đến kinh làm mức chuẩn, chứ không nên lấy số lượng xuất phát làm mức chuẩn. Hiện nay, những thiếu hụt và tổn thất đều được bù đắp bằng tiền, mà Phát vận sứ không còn phải chịu trách nhiệm về số lượng đó, chỉ cần đảm bảo số lượng xuất phát đủ, thì dù trên đường có xảy ra hàng vạn sơ suất, Phát vận sứ cũng không phải chịu trách nhiệm.
Hiện nay, các lộ Chuyển vận ty hàng năm vận chuyển lương thực, đều lấy số lượng thực tế đến Phát vận sứ làm mức chuẩn, mà riêng Phát vận ty lại không lấy số lượng thực tế đến kinh và phủ giới làm mức chuẩn, đây là nghĩa lý gì?
Thần muốn xin lập pháp, từ nay về sau, Phát vận ty hàng năm vận chuyển lương thực, tính toán số lượng thiếu hụt và tổn thất đến kinh, để quyết định thưởng phạt, thì Phát vận sứ tự nhiên sẽ ra sức kiểm tra.
Những tệ hại trong việc vận chuyển lương thực, tóm lại có năm điều: Một là nhân viên ty Phát vận làm bậy, nhận hối lộ, gây oán hận, không công bằng. Hai là các kho chứa dùng đấu đo lường gian lận, thay đổi đấu đo. Ba là các trường vụ, ty Bài ngạn làm bậy, kiểm tra không kỹ, gây trì trệ. Bốn là các sứ thần áp tải làm bậy, cắt xén tiền lương và gạo của phu phen. Năm là các kho chứa ở kinh đô và phủ giới làm bậy, cân đo quá mức, phơi phóng không hợp lý. Những việc như thế đều có thể loại bỏ. Dù chưa loại bỏ hết, cũng tốt hơn nhiều so với việc đặt ra luật lệ mà không ai tuân theo.
Sao gọi là trao quyền để hỗ trợ giám sát? Vì đường vận chuyển dài hơn nghìn dặm, mà chỉ có hai viên Phát vận sứ ở hai châu Chân và Tứ, trong khi đó nhiều người làm bậy, quấy nhiễu thuyền vận chuyển từ xa, nên những người này không thể rời khỏi đoàn vận chuyển để đi khiếu nại xa, huống chi là nghìn dặm.
Thần xin triều đình chọn cử, hoặc cho Phát vận sứ tiến cử hai viên quan kinh triều, làm chức Công đương cương vận. Từ châu Chân đến kinh đô, đi lại kiểm tra, mỗi châu dừng không quá năm ngày, đến kinh đô và bản ty dừng không quá mười ngày, lấy thuyền làm nơi làm việc, thường xuyên trên đường, chuyên tâm kiểm tra. Những người làm bậy, tội trượng trở xuống cho phép xử lý ngay, tội đồ trở lên giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý. Để thuyền viên, sứ thần và nhân viên thường có nơi khiếu nại, còn những người làm bậy thường có chỗ sợ hãi, không dám công khai làm bậy. Lấy số lượng lương thực vận chuyển đến kinh đô đủ và thiếu hụt làm tiêu chuẩn thưởng phạt. Thực hiện hai điều này, thì việc chính sách được thực hiện tốt, ắt sẽ có lợi lớn.
Thần mong triều đình lưu tâm việc vận chuyển lương thực quan trọng, đặc biệt xem xét lại bản tấu trước, cùng bàn bạc kỹ lưỡng để thi hành. Thần là người hầu cận, có điều gì thấy được, không dám không nói hết. Nhiều lần làm phiền thiên uy, vô cùng lo sợ chờ tội.”
Thiếp hoàng:
“Thần trước đây đã tâu xin thi hành quy định trong 《Nguyên Hựu Biên Sắc》, tiền lương không được kiểm tra chỉ huy. Thần lo rằng người bàn luận sẽ cho rằng nếu tiền lương không kiểm tra, thì từ nay về sau hàng hóa đông nam sẽ đều chất lên thuyền vận chuyển, như vậy thương thuế sẽ mất nhiều.
Thần cho rằng không phải vậy, từ thời tổ tông đến nay, biên sắc đều không cho phép kiểm tra, lúc đó không nghe nói thương thuế bị thiếu hụt, chỉ vì Ty Đạo Lạc bị bãi bỏ, mà Ty Chuyển Vận âm thầm thu lợi.
Lại từ tháng 10 năm Nguyên Hựu thứ 3 về sau, mới tự tiện đặt ra điều khoản kiểm tra theo thuyền ngoài pháp luật, từ đó thương nhân không đi lại, công tư đều bị hại.
Nay nếu theo biên sắc thi hành, không chỉ thuyền chở hàng tự phải đến nộp thuế như đã bàn trước, mà thương nhân sẽ tụ tập ở kinh sư, hàng hóa trên đường về không có cách nào lại chất lên thuyền rỗng[7], thương thuế thu được chắc chắn sẽ tăng gấp đôi, đây là lẽ tất nhiên.” Triều đình nghe theo.
《Huy Tông Thực Lục》 chép truyện Tô Thức rằng: Thức làm Tri Dương Châu, Ty Phát Vận chủ trì việc vận chuyển đông nam. Trước đây, việc vận chuyển cho phép tư nhân chở hàng, thường coi thuyền quan như nhà, thường xuyên tu sửa, nên hàng hóa chở đi không lo hỏng hóc. Những năm gần đây, cấm tư nhân chở hàng nghiêm ngặt, thuyền hỏng người nghèo, công tư đều khốn đốn. Thức tâu xin khôi phục, nên triều đình nghe theo.
《Mộ Chí》 chép: Ty Phát Vận trước đây chủ trì việc vận chuyển đông nam, pháp luật cho phép người chèo thuyền chở hàng tư, thuế thương không được làm khó, nên người chèo thuyền giàu có, coi thuyền quan như nhà, sửa chữa chỗ hỏng, giúp đỡ người chèo thuyền khi khó khăn, nên hàng hóa chở đi thường không lo hỏng hóc mà đến nhanh. Những năm gần đây, không nỡ để thương thuế mất ít, nên cấm tất cả, thuyền hỏng người khốn, nhiều người trộm hàng để cứu đói rét, công tư đều khốn đốn. Thức tâu xin khôi phục, nên triều đình nghe theo. Truyện này dựa theo 《Mộ Chí》.
Thức trước đây vào ngày 27 tháng 7, bàn về phép kho và việc thuyền chở hàng bị thiếu hụt, lại vào ngày 5 tháng 8, bàn về việc vận chuyển hàng năm đến kinh thành. Nay gộp ba bản tấu vào cuối tháng 7. Ngày 1 tháng 8, lại xin bãi bỏ phép kho chuyển vận. Bản tấu trước đã đủ, không cần nêu riêng.
《Lý Trĩ Sư Hữu Đàm Ký》 cũng chép việc này, nay phụ chép. Trĩ nói: Triều đình phát thuyền vận chuyển, không cho phép dừng lại, khi đi qua trạm thuế, không được kiểm tra thuế, lương thực của quân lính cho phép mượn từ số gạo vận chuyển, tính theo đầu người, đến ngày dỡ hàng sẽ khấu trừ vào lương của mỗi người. Vì thuyền không dừng, nên việc vận chuyển rất nhanh, không kiểm tra thì cho phép tư nhân chở hàng, tuy không có điều khoản rõ ràng, nhưng có ý dung hòa, để người nhỏ mọn được lợi, có cách sai khiến họ. Việc mượn lương thực, tuy cho phép rõ ràng, nhưng việc vận chuyển đã nhanh, ăn được bao nhiêu? Đều là ý sâu xa của pháp luật.
Từ khi Ty Đạo Lạc đặt thuyền, quan chở hàng khách, thuế vật dọc đường đều bị thu hết, nên quân lính không còn chở hàng riêng. Gần đây Ty Đạo Lạc đã bãi bỏ, nhưng các trạm thuế vẫn kiểm tra theo thuyền, người nhỏ mọn không được lợi, ăn gạo quan rất nhiều, nên nạn trộm bán gạo nổi lên. Vừa ăn, vừa trộm, mà việc nộp vào kho chuyển vận thường kéo dài hàng tháng, không cân đo, thường khoét lỗ tự đắm thuyền để xóa dấu vết. Quan lại trị tội, ngày càng nhiều người bị đánh đòn và lưu đày, thu nhập hàng năm của triều đình không đủ, bắt phạm nhân khấu trừ lương hàng tháng để bù vào, sao có thể đủ.
Trương Văn Định làm Tam Ty Sứ, nói rằng mỗi năm thiếu 6 vạn hộc, nay những năm gần đây không dưới 50 vạn hộc, mà nguyên nhân là do quân lính vận chuyển. Đông Pha làm Dương Châu, từng tâu lên triều đình về tệ nạn trước đây, xin bãi bỏ việc kiểm tra thuế theo thuyền dọc đường, tệ nạn ở Giang, Hoài thường được loại bỏ. Nhưng khoản thiếu 50 vạn, chưa thể khôi phục ngay, vài năm sau sẽ thấy hiệu quả. Các châu Hoài Nam, Sở, Dương, Tứ, mỗi ngày xử phạt quan lại vận chuyển, không dưới trăm người, nếu cứu được tệ nạn này, hình phạt tự nhiên giảm.
Lời nói của người nhân đức, lợi ích thật lớn thay!)
- chữ 'mỗi thuyền' nguyên bản thiếu, theo 《Tô Đông Pha tập - Tấu nghị tập》 quyển 12, bài 'Luận cương sao khiếm chiết lợi hại trạng' bổ sung. ↵
- Năm ngoái chỉ vận chuyển được hơn bốn trăm năm mươi vạn thạch, trong sách trên chữ 'thạch' có thêm mười hai chữ: 'mà thiếu hụt nhiều ước chừng đến hơn ba mươi vạn thạch'. ↵
- Tháng 7 năm Nguyên Hựu thứ 3, sách trên ghi là 'tháng 10'. ↵
- dọc đường không được ép buộc dừng lại kiểm tra, chữ 'lộ' nguyên là 'canh', theo các bản và sách trên sửa lại ↵
- Thương nhân phương Đông Nam vốn bị bế quan lâu ngày bỗng được thông thương: chữ 'sạ' nguyên bản là 'bất', theo sách trên sửa lại. ↵
- Nguyên nhân của sự nghèo khó, hai chữ 'nghèo khó' vốn bị thiếu, căn cứ theo 《Tô Đông Pha tập tấu nghị tập》 quyển 12, 'Khất tuế vận ngạch hộc dĩ đáo kinh định điện tối trạng' bổ sung. ↵
- lại chất lên thuyền rỗng 'thuyền rỗng' hai chữ nguyên bản đảo ngược, theo sách trên sửa lại. ↵