"

VII. TỐNG TRIẾT TÔNG

[BETA] QUYỂN 491: NĂM THIỆU THÁNH THỨ 4 (ĐINH SỬU, 1097)

Bắt đầu từ tháng 9 năm Thiệu Thánh thứ 4 đời Vua Triết Tông đến hết tháng đó.

[1] Tháng 9, ngày Tân Hợi mùng một, Tư nông thiếu khanh Vương Đắc Thần được cử quản lý Sùng Hi Quan.

[2] Lại bộ lang trung Hàn Trị được bổ nhiệm làm Hiệu lý Bí các, nhậm chức Tri châu Hình Châu. Việc này là do Trị tránh thân thuộc.

[3] Tả ty gián Quách Tri Chương tâu rằng hai vùng Chiết Đông và Chiết Tây bị hạn hán, Hoài Nam cũng không được mùa, xin triều đình xuống chiếu cho các ty giám sát địa phương xem xét. Nếu cần cứu tế, thì sớm thi hành các biện pháp. Chiếu rằng: “Các ty Chuyển vận và Đề cử thường bình của hai lộ Chiết Đông và Chiết Tây phải xem xét các việc cần thiết để ổn định tình hình[1], cùng chuẩn bị dự trữ lương thực để cứu tế. Đồng thời xem xét nếu trong lộ có kênh đào, sông ngòi bị cạn đọng cần nạo vét, thì sắp xếp trả công hậu hĩ, chiêu mộ nhân công để khơi thông.”

[4] Phủ Giang Ninh tâu rằng đã phụng chiếu thúc giục đạo sĩ Mao Sơn Lưu Hỗn Khang đến kinh đô, phủ này đã thúc giục ông lên đường. Chiếu cho ty Chuyển vận cấp 100 quan tiền, giao cho Hỗn Khang làm lộ phí.

(Có thể xem thêm ngày 14 tháng 6.)

[5] Ngày Nhâm Tý, ban chỉ dụ xuống ba tỉnh: “Trời giáng điềm lạ, sao chổi xuất hiện ở phương Tây, tai ương cảnh cáo lớn lao, Trẫm thực sự lo sợ! Có thể tránh chính điện, giảm bớt bữa ăn thường ngày, bãi bỏ yến tiệc mùa thu. Các công khanh nên hết lòng tu sửa chính sự, giúp Trẫm sửa chữa lỗi lầm, đồng thời cho phép các quan lại trong ngoài thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót trong triều chính, Trẫm sẽ tự xem xét. Hãy thể hiện ý này, lệnh cho Học sĩ viện ban chiếu xử lý.”

Chiếu viết: “Trẫm kém đức, kế thừa sự nghiệp lớn, ngày đêm run sợ, không dám yên ổn, chỉ sợ không đủ để đáp ứng lòng trời, làm hổ thẹn đức thánh của tiên đế. Đến đêm trung thu, sao chổi xuất hiện ở phương Tây, xét theo kinh điển, đây là điềm đại dị. Mãi suy nghĩ về lỗi lầm, chưa thấu hiểu nguyên nhân, há chẳng phải do chính sự có sai sót, làm trái với ánh sáng của tam quang? Lời cảnh cáo đến, Trẫm thực sự lo sợ! Sách chẳng nói rằng, ‘Chỉ có bậc vương giả trước hết phải sửa chính sự của mình.’ Trẫm đã tránh chính điện, giảm bớt bữa ăn thường ngày, bãi bỏ yến tiệc mùa thu, các công khanh hãy hết lòng tu sửa chính sự, giúp Trẫm sửa chữa lỗi lầm. Các quan lại trong ngoài đều được phép thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót trong triều chính, Trẫm sẽ tự xem xét, lắng nghe để sửa đổi, mong rằng có thể xóa bỏ điềm biến của thiên văn.”

[6] Lại có chiếu cho Trung Thái Nhất cung thiết lễ cầu đảo, ngày khai mở và ngày kết thúc, cử một vị chấp chính quan đến cung đốt hương. Hôm đó, sao chổi đi vào Thiên Thị viên, các phụ thần vào chầu sớm, Vua hỏi: “Các khanh có thấy sao chổi không?” Đều trả lời thật. Vua nói: “Dài hơn một trượng.” Và nói: “Ban đầu xuất hiện ở chòm sao Đê, quét qua sao Ba, thiên biến rất lớn, nên tránh triều chính, giảm bớt ăn uống, cầu lời nói thẳng, tha tội để đáp lại lời răn của trời.” Lại nói: “Đã lập đạo trường ở nhiều nơi, nên lại thiết lễ cầu đảo ở Văn Đức điện.”

Tăng Bố nhân đó nói việc tha tội thời Hi Ninh đã có tiền lệ. Lại nói: “Năm Ất Mão thời Hi Ninh, tháng 10, ở chòm sao Dực, Chẩn, ngoài khu vực phân dã của Ngô, Sở, sau đó có biến cố ở Giao Châu. Ánh sáng quét qua Trường Sa, năm sau mùa xuân, dân chúng đói kém lớn, người chết vì dịch bệnh chất đống. Từ mùa xuân năm Bính Thìn xuất quân đánh Giao Chỉ, mùa xuân năm Đinh Tỵ quân về, người chết đến hàng chục vạn. Nay sao chổi quét qua sao Ba, thì Ba, Thục cũng không thể không lo, chúng thần nên xem xét lại việc chuẩn bị quân bị. Thêm nữa, sao ở chòm Đê, Khương, việc biên giới thật không thể không cảnh giác. Thần vẫn nói Kinh Nguyên chưa tu sửa hàng rào, cần phải xây dựng đồn lũy, các công trình xây dựng khác nên tạm nghỉ, chưa thể động thổ.” Vua đều rất tán thành. Lui về nói với Chương Đôn, cho rằng việc tha tội không thể không làm, Đôn nói: “Năm Nguyên Phong thứ 3 không tha tội.” Bố nói: “Tháng 7 có thiên biến, tháng 9 có lễ Minh Đường, nên không tha tội.”

Hôm đó, Bố lại tâu với Vua: “Năm Hi Ninh thứ 7 tế Nam Giao, năm thứ 8 mùa đông lại tha tội, sau đại lễ một năm. Nay cách đại lễ còn hơn một năm, rất giống nhau.”

Vua nói: “Thiên biến còn cần gì bàn đến năm tháng.” Lại nói: “Việc tha tội thời Hi Ninh, không chỉ vì thiên biến, còn vì việc Hoa Sơn sụp đổ.” Bố nói: “Năm ngoái Giang Biểu đại hạn, sông suối đều cạn kiệt, năm nay kênh đào Lưỡng Chiết cũng cạn, nhân đó tha tội một lần cũng không quá đáng. Xưa Đông Hải Hiếu Phụ vì oan mà chết, cả vùng đại hạn, một người phụ nữ oan chết đủ gây tai biến, huống chi cả thiên hạ? Nay chính sự có chỗ bất tiện với dân, hình phạt có chỗ quá đáng, đây là điều đại thần nên tu tỉnh sửa đổi, để xứng với ý kính sợ thiên biến của bệ hạ.” Vua rất khen ngợi và tiếp nhận.

[7] Chiếu rằng: Các lộ nếu thiếu quan đề cử, thì lệnh cho Ty đề điểm hình ngục tạm quyền; ở phủ giới, thì lệnh cho thuộc quan của ty đó tạm quyền; Ty chuyển vận và Ty đề điểm phủ giới nếu thiếu quan, thì lệnh cho quan Ty đề điểm hình ngục và Ty đề cử tạm quyền.

(Bản mới bỏ đi.)

[8] Binh bộ tâu: “Những người dùng xe và súc vật của Ty xa doanh trí viễn vụ và Ty đà phường để vận chuyển vật phẩm công, nếu chở vật tư hoặc tuy là vật công nhưng vốn không nên dùng sức ngựa xe công để chở, mà tự ý chở, thì xử theo luật dùng ngựa, trâu, xe công để chở. Nếu quá tải súc vật, thì đánh 80 trượng; quá tải xe, thì phạt đi đày 1 năm; cứ quá 20 cân thì tăng thêm một bậc, tội tối đa là đi đày 2 năm, vật phẩm tịch thu. Nếu súc vật vì chở nặng mà chết, thì đánh 80 trượng, và bắt phạm nhân cùng những người liên quan biết rõ đều phải bồi thường. Cho phép người tố cáo và bắt giữ, nếu là tội đánh roi, thì thưởng 3 quan tiền; tội đánh trượng, 5 quan; tội đi đày, 10 quan.” Được chấp thuận.

(Bản mới bỏ đi.)

[9] Ngày Quý Sửu, Ty tài định lục tào tự giám văn tự tâu: “Các châu nộp thuế hạ thu, mỗi tháng phải kê khai số lượng ban đầu, đã nộp, còn thiếu các loại thuế và gửi lên Bộ để kiểm tra. Nếu hết hạn mà còn thiếu, thì lệnh cho Ty chuyển vận thi hành theo biên sắc. Nếu Ty chuyển vận không thi hành, thì Bộ sẽ kiểm tra và xử lý.” Được chấp thuận.

[10] Đại Lý tự tâu xin cho chức Đô hạt sứ thần nhiệm kỳ 3 năm một lần. Nếu Đô hạt sứ thần Hữu trị ngục hết nhiệm kỳ mà không phạm tội đi đày trở lên hai lần và không phạm tội tham nhũng, thì giảm 2 năm khảo hạch. Được chấp thuận.

[11] Chiếu rằng: Từ nay những người quy minh chưa được cấp ruộng, cho phép tạm mượn nhà công để ở.

[12] Đại Tông Chính ty tâu: “Tông thất Thúc Truân vì phạm tội bị giam cầm, con cái và mẹ đẻ đều không có bổng lộc, xin áp dụng điều khoản cô di bần phạp, đặc biệt cấp tiền gạo theo đầu người, đợi khi Thúc Truân được phục chức thì giảm bỏ. Nếu trong thời gian Thúc Truân chưa phục chức mà con gái đi lấy chồng, con trai nhận chức, cũng xin bỏ đi theo đầu người.” Được chấp thuận.

[13] Ty kinh lược Hi Hà Lan Mân lộ tâu rằng Miêu Lý đã hoàn thành việc mở rộng Kim Thành quan, chiếu ban thưởng cho Lý và những người khác bạc lụa có khác nhau.

(Ngày 11 tháng 4, ngày 27.)

[14] Ngày Giáp Dần, ba tỉnh tâu rằng nghe nói châu Hoài, châu Vệ năm nay được mùa, giá gạo rẻ, sợ rằng sẽ đều rơi vào tay những nhà giàu có. Chiếu cho Ty Chuyển vận Hà Bắc, Ty Thố trí Địch tiện, Ty Đề cử Thường bình Tây lộ kịp thời tính toán mua đủ.

[15] Ngày Ất Mão, đại xá thiên hạ.

[16] Quyền Điện trung thị ngự sử Thái Đạo tâu: “Thần trộm nghĩ gần đây thiên văn biến đổi, bệ hạ lo sợ, thể hiện qua chiếu lệnh, thậm chí tránh triều, giảm bớt ăn uống, tham vấn lời nói thẳng, có thể nói là rất cần mẫn.

Tuy nhiên vẫn cho là chưa đủ, lại ban đại xá thiên hạ, ân đức tràn đầy, tha tội cho tù nhân, đây thực là việc mà các bậc minh quân xưa dùng để ứng phó với thiên mệnh. Thần trộm đọc chiếu xá, tội đấu sát đến chết vẫn được sống, còn dân lành nơi thôn dã lại không được hưởng ân trạch, là ơn huệ đến với kẻ có tội mà không đến với người vô tội, ban cho sự sống nhưng không làm dày thêm cái gốc của sự sống.

Thần ngu muội thấy các đại thần năm Nguyên Hựu muốn thay đổi phép tắc tốt đẹp của triều trước, nghĩ cách để được lòng dân, nên miễn trừ hết các khoản nợ của dân. Nay xin lấy việc thị dịch làm ví dụ, ban đầu dân dùng tài sản thế chấp để vay tiền gạo, lâu ngày không trả, tài sản đáng lẽ phải thu về quan, nhưng người cầm quyền muốn ban ân huệ đặc biệt, vô cớ trả lại tài sản thế chấp, dân đã lấy lại được tài sản của mình, tự do đem cầm bán. Từ năm Thiệu Thánh trở lại đây, phát hiện ra sự gian trá của người cầm quyền, bèn truy thu, đến nay đã nhiều năm, chỉ còn tên tuổi trên giấy tờ, việc truy thu rối rắm, cuối cùng chẳng ích gì. Đây không phải lỗi của dân, mà trước đây triều đình vô cớ miễn trừ, dẫn đến tệ nạn ngày nay, lỗi tại người cầm quyền.

Thần ngu muội xin bệ hạ xem xét kỹ, đặc biệt hạ chiếu cho các cơ quan hữu trách, xem xét các hộ dân ở những nơi bị hạn hán năm nay hiện còn nợ tiền thị dịch, nếu đã điều tra mà không thấy tài sản thế chấp, hoặc đã qua tay hai hộ, chủ cũ không biết, hoặc người nợ chính và người bảo lãnh đã mất mà con cháu nghèo khó không có gì nộp, thì xin tuỳ mức độ mà giảm bớt. Như vậy ân trạch sẽ đến được với kẻ khốn cùng, mọi người đều được yên ổn, cũng đủ để triệu hòa khí mà ngăn chặn biến cố vậy.”

(Lời tâu của Đạo được chép thêm, việc theo hay không cần xem xét.)

[17] Ba tỉnh tâu rằng các châu ven biển thuộc Thiểm Tây lộ mùa thu hoạch lúa, lo thiếu vốn mua lương thực. Triều đình ra chiếu chỉ cấp 4 triệu quan tiền phong trang từ kho Nguyên Phong, lệnh cho Hộ bộ in và cấp giấy dẫn muối Giải theo lệ, giao cho Thiểm Tây chuyển vận ty, phân phối cho các lộ kịp thời mua nhiều lương thực.

[18] Ngày Bính Thìn, Kinh lược ty Hi Hà Lan Mân lộ tâu rằng sứ giả mang bài Thiên sứ Mục Nạp Tăng Cách từ biên giới phía tây quy phụ, theo pháp nên bổ làm Nội điện Sùng ban. Triều đình ra chiếu chỉ rằng Mục Nạp Tăng Cách là thủ lĩnh đầu tiên quy thuận sau khi ban sắc dụ, đặc cách phong làm Lễ tân phó sứ, giữ chức Tuần kiểm bộ lạc tử ở Lan Châu, ban thêm đai vàng và đồ bạc.

[19] Ngày Đinh Tỵ, Tể thần Chương Đôn và các quan dâng biểu nhận tội vì thiên biến, triều đình ra chiếu chỉ không chấp nhận. Ba lần dâng biểu, mới thôi.

[20] Triều đình ra chiếu chỉ: “Những người phạm tội trước ngày 5 tháng này đã bị xử, nếu hợp lệ được phục chức, thì theo ân xá đặc biệt mà phục chức. Các quan từ Thừa vụ lang trở lên và các sứ thần lớn nhỏ, nếu không vì tội tham nhũng mà bị giáng làm Giám đương, sau này không phạm tội tham nhũng hay tư lợi, sau hai năm nhậm chức, được phục chức theo điều lệ. Các quan và sứ thần bị biếm trích, trừ những người thuộc đảng Nguyên Hựu và những người có chỉ đặc biệt, chưa được điều động, chưa được bổ nhiệm, phải nộp đơn lên cơ quan chủ quản để xử lý theo lệ. Các quan và sứ thần, lệnh cho Hình bộ liệt kê số lần được ân xá trước đây, kể cả ân xá ngày 5 tháng này, tính là một lần ân xá, tâu lên Thượng thư tỉnh và Xu mật viện để xử lý. Những việc trên đều thực hiện theo điều khoản giản phóng. Các quan bị cách chức, nếu tội nặng thì giảm xuống nhẹ, nếu tội nhẹ thì được bổ nhiệm ngay, sứ thần cũng xử lý tương tự.”

(Nhật lục của Tăng Bố ngày Canh Thân, gửi Xu mật viện, trừ những người thuộc đảng Nguyên Hựu và những người có chỉ đặc biệt, đều theo ân xá đặc biệt, tính là ba kỳ phục chức. Tuy nhiên, các nghị viên vẫn không hiểu rõ về “đảng Nguyên Hựu”, e rằng việc này sẽ còn kéo dài. Sau đó nói: “Đảng Nguyên Hựu chỉ là An Đào, Trịnh Ung và những người tương tự.” Nay ghi lại để tham khảo.)

[21] Kinh Nguyên lộ Kinh lược sứ Chương Tiết tâu rằng Du Sư Hùng trong niên hiệu Nguyên Hựu đã nhìn thấu thời cơ, đầu tiên đề xuất kế hoạch tiến quân, từ đó phá được châu Đào, bắt được Quỷ Chương. Nay ông đã qua đời, xin bổ nhiệm một người con của ông làm quan. Chiếu chỉ cho lục dụng một người con hoặc cháu của Sư Hùng làm Giao Xã Trai Lang.

[22] Chiếu giáng chức Cung bị khố Phó sứ, Quảng Tây Kinh lược ty Chuẩn bị Sai sứ Hồ Do Hướng làm Tả Kỵ Kỵ sứ, Thứ sử châu Tuần, Tri châu Đỉnh, vì xin bãi bỏ các trại Cừ Dương nên bị giáng chức và điều động. Việc khôi phục chức vụ và điều động của ông đều không áp dụng theo quy định thông thường.

[23] Chiếu chỉ rằng từ nay các Quốc tín sứ và Phó sứ theo quy định niên hiệu Hi Ninh, được phép mang theo một người thân làm Tiểu để, bãi bỏ quy định niên hiệu Nguyên Hựu. Đây là theo yêu cầu của Quốc tín sứ Phạm Thang.

[24] Ngự sử đài tâu rằng những người không phải là người xét án mà vô cớ vào cửa xét án, xin xử theo pháp lệnh vào Lục tào. Được chấp thuận.

(Mới bãi bỏ.)

[25] Tam Môn, Bạch Môn Ba Đô đại Đề cử Liễn vận sứ tâu xin Đô đại ty Cương vận, xin áp dụng theo pháp lệnh hành [y đại] Cương. Được chấp thuận.

(Mới bãi bỏ.)

[26] Ngày Mậu Ngọ, Tam tỉnh tâu rằng gần đây có chiếu chỉ cho các Ty đề cử ở phủ giới và các lộ, trong một quý phải xem xét lại các trường vụ đã mua từ niên hiệu Nguyên Hựu trở về trước, trừ những tài sản đã thu giữ và bảo lãnh để bồi thường, căn cứ vào số nợ thực tế hiện nay, chia làm ba năm để thu nộp tiền lãi và tiền phạt. Chiếu chỉ gia hạn thêm ba năm ngoài thời hạn ban đầu.

[27] Công bộ tâu rằng các công cụ phòng thủ như lầu, lỗ chiến, hiện đang giao cho các Tri huyện lệnh quản lý và sửa chữa, việc thưởng phạt khi thay thế đều áp dụng theo pháp lệnh của Đô giám, Trại chủ. Được chấp thuận.

[28] Hôm đó, Tăng Bố tâu: “Bệ hạ lo sợ vì thiên tai, lời dạy ân cần, chưa từng không lấy việc sửa sang chính sự, không ngại sửa lỗi làm răn, từ xưa thánh đế minh vương dụng tâm, thật không gì hơn thế. Nhưng chính sự có chỗ chưa yên, hình phạt có chỗ chưa đúng, đại thần có chịu vì thiên tai mà thay đổi cho bệ hạ không? Người ngay thẳng, thiên hạ muốn tiến cử mà đại thần vốn không muốn, có chịu vì thiên tai mà thu dụng cho bệ hạ không? Kẻ nịnh hót không chính đáng, đang nắm giữ chức vụ quan trọng, mọi người ghét mà đại thần vốn thân cận, có chịu vì thiên tai mà đuổi đi cho bệ hạ không? Theo thần thấy, chắc chắn không có lý nào như vậy. Thần e rằng chưa đáp ứng được ý tu tỉnh của bệ hạ.” Vua nghe xong, sắc mặt đổi khác.

Bố lại nói: “Bệ hạ vừa ban chiếu cầu lời nói thẳng, nhưng gần đây nghe những người bàn luận đã có ý sợ rằng các sĩ đại phu nhân việc thiên biến muốn lay động chính sự. Như vậy thì ai còn dám nói? Nay Bệ hạ muốn rộng cầu người tài trong thiên hạ, nhưng lại nói trước những lời này để ngăn chặn, khiến Bệ hạ trước đã có lòng nghi ngờ và giận dữ với người nói, thì dù có người nói cũng không hy vọng được thu nhận.

Thần từ khi nắm chính quyền đến nay, thấy các quan đài gián nói việc, chưa từng có một lời nào được thi hành. Trong mấy năm qua, lẽ nào không có một lời nào đáng nghe, huống chi hiện nay những người có trách nhiệm nói, đều không a dua với kẻ cầm quyền, được mọi người khen ngợi, không nên như vậy. Các quan nhỏ không a dua với đại thần đã là khó, huống chi lời nói của họ hàng ngày đối địch với kẻ cầm quyền, điều này há dễ được sao! Lời nói đã không được thi hành, lại không được thăng chuyển, khiến họ hổ thẹn, không thể gặp mặt sĩ đại phu, hầu như không thể tự lập được.

Nhưng những người này nếu không được Bệ hạ ủng hộ, thì làm sao giữ được vị trí, họ đã nhiều lần muốn bị đuổi đi, nhưng lại đặt họ ở đây, khiến họ chịu nhục, cũng là điều khó chịu. Như Chu Chúng, Đặng Tuân Vũ, ba bốn tháng một lần được thăng chức, sao lại khác biệt như vậy! Nay bảo các quan theo cử ngự sử, đều không dám cử, vì những người được mọi người khen ngợi thì đại thần không vui, còn những người đại thần vui thì không được mọi người khen ngợi, vì thế nên không dám cử.”

Lâm Hi nói: “Bệ hạ chỉ cần dựa vào công luận mà đề cử hai ba người vào chức vụ gián quan, không cần bàn với kẻ cầm quyền, thì chắc chắn sẽ có ích lợi.”

Trước đó, Bố từng nói: “Trong số những người đỗ cao khoa, chỉ có Trần Quán, Trương Đình Kiên, Vương Hoán Chi ba người là đáng khen, nhưng đều bị đuổi ra ngoài. Trương Đình Kiên vô cớ bị bãi chức, điều làm Thông phán Hán Châu, lại phải đợi hai năm mới được bổ nhiệm, điều này càng đáng lạ. Thần già yếu, tự biết không thể phụng sự bệ hạ lâu dài, nhưng luôn lấy lòng trung báo quốc, dốc hết gan dạ, không giấu giếm gì. Như khi bàn về các quan ngôn sự, người khác có thể tránh hiềm nghi không dám mở miệng, thần nghĩ không có cách nào giao thiệp với họ[2], cũng không dám tránh né, nên mới dám trình bày nhiều lần, mong bệ hạ xem xét.” Vua rất hài lòng.

[29] Ngày Kỷ Mùi, ra chiếu cho các cung, tự viện trong kinh, từ ngày mùng một0 tháng này trở đi, đặc biệt mở cửa năm ngày, đều lập đạo trường cầu phúc cho dân, và dành một ngày trong đó để nghỉ việc.

[30] Sao chổi xâm phạm vào khu vực Thiên Thị Viên, nơi các hoạn quan.

[31] Ngày Canh Thân, sao chổi xâm phạm vào ngôi Đế Tọa trong khu vực Thiên Thị Viên.

(Sách 《Ngọc Điệp》 chép rằng ngày Canh Thân sao chổi biến mất, là sai. Sao chổi biến mất vào ngày Mậu Thìn.)

[32] Ngày Tân Dậu, ra chiếu rằng các hộ dân ở các huyện thuộc phủ giới năm nay mùa màng thất bát, nếu thấy cỏ khó nộp, cho phép họ tùy ý nộp tiền mặt theo lệ tại huyện mình. Hộ bộ tính toán số cỏ hàng năm, nếu chi dùng có thiếu, cho phép dùng số cỏ dự trữ trong kho để chi trả.

[33] Tân Tri Dương Châu Trình Tự Cung tâu xin rằng từ nay về sau, khi Lại bộ bổ nhiệm Huyện lệnh, nếu gặp trường hợp người được bổ nhiệm do thi đỗ mà không có Chủ bạ, thì không được cho người ngoài lưu làm Úy. Chiếu cho Đô ty lập pháp.

(Pháp này xem ở ngày Tân Mùi tháng giêng năm Nguyên Phù thứ nhất.)

[34] Ngày Nhâm Tuất, ra chiếu cho các quan Suý thần các lộ, nếu dám tiến hành xây dựng ở nơi không an toàn và đường sá hiểm trở, sẽ bị xử theo quân pháp.

[35] Trước đó, Tăng Bố tâu việc, Vua cho rằng sự biến đổi của sao chủ yếu liên quan đến binh đao, rất lo ngại Lữ Huệ Khanh khinh suất hành động sẽ làm hỏng việc. Lại nói rằng Chương Đôn thường dùng thư riêng để liên lạc với các tướng tá, trong trận đánh ở Trác Khắc Sách Lâu, sao có thể không có chỉ huy của triều đình, lại tin vào thư riêng, nên dùng quân pháp để răn đe. Tăng Bố bèn soạn chiếu chỉ dâng lên, Chương Đôn xem bản thảo chiếu chỉ, muốn thêm vào nhưng không được, vì đã có chỉ huy này, lại ở chỗ vạn toàn cũng do dự không tiến đánh, nếu vi phạm, cũng sẽ bị xử phạt nặng. Vua vừa thấy liền nói: “Đây chắc chắn là phần thêm vào.”

Từ mùa hè đến mùa thu, Tăng Bố nhiều lần trình bày: “Xây dựng thành trại, tuy là kế sách làm khốn địch, nhưng việc vận chuyển tài vật, cỏ lương, không tránh khỏi phải huy động bảo giáp, thuê người vận chuyển, khiến dân chúng đã khốn đốn trước. Nên tạm nghỉ ngơi, dưỡng sức cho cả công tư, như Trác Khắc Sách Lâu ở ngoài sông, việc vận chuyển đường thủy và đường bộ đều không đảm bảo thông suốt, đem quân vào sâu thật là nguy hiểm.” Vua mỗi lần đều cho là phải. Gần đây vì sự biến đổi của sao, càng thêm lo lắng, muốn nhất định phải thực hiện. Tuy nhiên, Chương Đôn hoàn toàn không coi sự biến đổi của trời là đáng sợ.

(Ngày 11 Tân Dậu, ban chiếu trước, ngày 21 Nhâm Thân, lại ban chiếu. Trận đánh ở Trác Khắc Sách Lâu, cần xem xét. Tháng 6 Giáp Thìn, Tăng Bố nói: Chương Đôn quyết tâm kinh doanh Trác Khắc Sách Lâu, ngày 18 tháng 8 năm thứ 3, răn dạy Hi Hà xây thành Nhữ Già, phải đảm bảo vạn toàn mới được tiến hành. Trong chỉ huy có nói: “Người bàn luận lại muốn nhân cơ hội huy động quân nhiều lộ, đánh dẹp vùng Điệt La Hòa Thiển Tỉnh, xây dựng pháo đài, thông suốt biên giới hai lộ Kinh Nguyên và Hi Hà.” Không biết Điệt La có phải là Trác Khắc Sách Lâu không? Lại ngày 11 tháng 3 năm Nguyên Phù thứ nhất, nói đến Thiển Tỉnh, Điệt La Tư Bá Lặc, đều cần tham khảo.)

[36] Ngày Quý Hợi, ban chiếu: “Quan lại đương chức nếu tùy tiện sử dụng văn thư trong kho giá các hoặc quan lại chuyên quản làm thất lạc văn thư trong kho giá các, đều theo luật Nguyên Phong để xử tội. Chiếu lệnh thời Nguyên Hựu không được thi hành.” Theo đề nghị của Thượng thư tỉnh.

[37] Hôm đó, Tăng Bố một mình tâu việc, nhân đó nói: “Từ khi có biến động sao trời đến nay, thần đã nhiều lần lặp đi lặp lại về vấn đề nhân tài và chính sự, làm phiền thánh thính nhiều lần, chỉ vì bệ hạ lo lắng thương xót, hy vọng có thể đóng góp một phần nhỏ. Tuy nhiên, thần cho rằng Chương Đôn và Thái Hạ chắc chắn không thể vì bệ hạ mà sửa đổi chính sự, thăng giáng nhân tài để đáp ứng ý nguyện của bệ hạ.”

Vua nói: “Người ta nói rằng việc cấp bách nhất là những người trong triều phải không?” Bố đáp: “Các quan trong đài tỉnh phần lớn không xứng với lòng người, việc cấp bách nhất là con đường ngôn luận, hiện nay quan gián và điện trung chỉ có một người, e rằng cần phải tăng thêm.” Vua rất tán thành.

Bố lại nói: “Thần liều chết, còn có một việc muốn tâu lên bệ hạ.” Vua hỏi: “Việc gì?” Bố đáp: “Lã Đại Phòng và Lưu Chí ban đầu bị biếm đến Hoài Nam, Hồ Bắc, đến khi có lệnh ân xá trong lễ Minh Đường, vừa qua một năm, nên có chỉ thị không được thăng chức. Hiện nay họ đều ở vùng đất xấu phía nam núi, khác với trước đây, nay nhân dịp thiên biến mà ân xá, thần cho rằng nên dời họ đến những nơi gần hơn, đủ để cảm hóa khí hòa.”

Vua cười nói: “Lưu Chí làm sao có thể dời được!” Bố nói: “Thần thấy như vậy, còn tùy bệ hạ quyết định. Việc biên chế và phối tội nhân cũng chia làm hai loại: Quảng Nam và những nơi xa xôi ác địa. Nếu dời họ đến vùng giáp giới Đoan, Khang, Anh, Liên, cũng là phía nam núi, có lẽ cũng không quá đáng.” Vua rất khó xử.

Lại nói rằng từ mùa xuân năm nay, Tam tỉnh nhiều lần tâu rằng Tư Mã Quang có ý đồ lật đổ. Lại nói Phạm Tổ Vũ và Lưu An Thế muốn làm hại bệ hạ, đều có tâm địa gian trá, ngấm ngầm lâu ngày. Vua hỏi trong cung, cũng cho rằng có dấu hiệu này, nên đều bị biếm nặng. Sau đó lại biếm Vương Khuê và Cao Sĩ Anh, lời nói của Tam tỉnh dần lan đến cả Tuyên Nhân.

Lại có Thái Vị dâng thư của Văn Cập Phủ, nói rằng Lưu Chí có ý như Tư Mã Chiêu, mà Cập Phủ nghe từ cha mình, việc này càng đáng tin. Hình Thứ từng nói với Tăng Bố rằng: “Khi Vương Khuê còn lưỡng lự, Thái Xác và Chương Đôn nhờ Thứ để thông tin, ra sức chủ trương việc định sách. Khi Chương Đôn sắp đi, Hàn Chẩn cũng đã không yên vị, sợ Tư Mã Quang sẽ có ý lung lay, Thứ bèn cùng mưu thuyết phục Lữ Công Trước, dẫn Văn Ngạn Bác và những người khác để bảo vệ chúa thượng[3]. Sau đó Ngạn Bác đến, Lưu Chí và Vương Nham Tẩu ra sức công kích, tuy không thể đoạt quyền, nhưng cuối cùng vẫn dùng chức Bình chương trọng sự để xử lý, thực chất là đoạt quyền. Ngạn Bác đi rồi, Cập Phủ viết thư cho Thứ nói rằng…”

Cập Phủ đã bị tra hỏi, lời khai đều giống với lời Thứ, vì Thứ muốn mượn việc này để chứng minh công lao bảo vệ, nên dẫn nhiều người như Cập Phủ để làm chứng. Cập Phủ lại thấy Ngạn Bác không được người thời Nguyên Hựu ủng hộ, muốn dùng việc này để giải quyết mâu thuẫn, nên lời khai không thể không giống nhau. Vua từng tuyên dụ với Tây phủ, cho rằng lời của Cập Phủ là đáng tin. Lại nói Chương Đôn từng viết thư mời Ngạn Bác, gần như khớp với lời Thứ, vậy thì Lưu Chí sao có thể hy vọng được khoan hồng! Tăng Bố lại nói: “Chương Đôn từng nói với Bố rằng Vương Nham Tẩu từng tâu với Thái hậu: ‘Chúa thượng có lỗi lầm, nên tuyên dụ với đại thần.'” Bố nói: “Nếu thực có việc này, thì ý đồ phế lập đã rõ ràng, nhưng không biết lời này từ đâu mà ra?” Đôn chỉ nói: “Mọi người đều biết.”

(《Bố nhật lục》 trước ghi là Lã Đại Phòng, sau lại ghi là Lưu Chí, xét ngày 16 tháng 4, Đại Phòng mất, ngày 2 tháng 7 đã có chiếu cho Đại Phòng về quê chôn cất, ở đây vẫn ghi là Đại Phòng là sai. Nếu chỉ Lưu Chí thì được, Chí mất ngày 3 tháng 12, nay sửa thành Lưu Chí. Gián quan và Điện trung đều chỉ một người, Gián quan là Quách Tri Chương, tháng 6 năm Thiệu Thánh thứ 3 làm Tả ty gián, tháng 12 năm thứ 4 đổi làm Công thị; Điện trung là Trần Thứ Thăng, tháng 11 năm Thiệu Thánh thứ 2 làm Điện trung, tháng 12 năm thứ 4 thăng làm Ty gián.)

[38] Ngày Ất Sửu, Phó Tiếp, chức Chuyển vận phó sứ lộ Quảng Nam Đông, được bổ làm Thiếu khanh ty Nông. Miêu Lí, chức Tây thượng các môn phó sứ, được bổ làm Đô giám lộ Phu Diên.

[39] Quyền Điện trung thị ngự sử Thái Đạo tâu rằng: “Thần trộm thấy gần đây có chiếu chỉ bổ nhiệm, lấy Triều thỉnh đại phu Chu Ngạn Bác làm chức Đề điểm khanh dã chú tiền sự các lộ Giang Hoài, Kinh Chiết, Phúc Kiến, Quảng Nam. Thần kính cẩn xét thấy, Ngạn Bác tính tà vạy, quen thói gian trá, thích tranh chấp kiện tụng, làm hại người lương thiện, làm quan đến đâu đều để lại tai họa cho dân và quan lại. Năm Nguyên Phong từng giữ chức Giám ty Giang Tây, Tô Triệt ở trong bộ của ông ta, Triệt từng vì việc bị triều đình xét hỏi, Ngạn Bác ra sức che chở, cuối cùng được may mắn thoát tội. Triệt đã đắc chí, Ngạn Bác dựa vào đó để được giúp đỡ, nên khi làm Tri châu Kiền, muốn dùng mưu kế hãm hại Đề hình Lý Duyệt, nhân Duyệt đến Kiền Châu, Ngạn Bác lệnh cho các huyện thuộc quyền sai thủy thủ kéo thuyền của Duyệt, sau đó tâu rằng Duyệt vi phạm pháp lệnh sai thủy thủ, và lệnh cho cung thủ tập hợp kỳ tráng, thổ binh.

Đến khi mở ngục xét hỏi, mọi người đều chứng minh là vu khống, ba lần hỏi cung đều không nhận tội, lẽ ra phải bắt giữ, nhưng Ngạn Bác chống cự không đến, khiến những người liên quan bị giam cầm oan uổng, kéo dài nửa năm. Quan ngục tâu lên đầy đủ, nhưng triều đình chỉ lấy lời khai của những người liên quan làm căn cứ, liền xử phóng thích, cuối cùng không thể bắt Ngạn Bác phải chịu tội.

Còn Đề hình Lý Duyệt là quan án phát, chưa từng có lời nào không đúng sự thật, mà bị cách chức hoàn toàn. Nếu không phải Ngạn Bác dựa vào Tô Triệt để được giúp đỡ, và Triệt cố báo ân riêng, thì triều đình nghị pháp không công bằng, không thể nghiêm trọng đến thế, sĩ đại phu trong thiên hạ nghe chuyện này, không ai là không bức xúc.

Thần xin trình bày lại: Chu Ngạn Bác vâng chiếu giữ đất, còn dám khinh nhờn giám ty, nay lại để ông ta tự liệt kê giám ty, thì các quan lại thuộc quyền sẽ không tránh khỏi bị hại. Thần nay chỉ bàn một việc, nếu ông ta tại chức tham ô, gian trá vô sỉ, thì không thể kể hết. Các quan trong triều không ai không biết. Chức vụ đề điểm liên quan đến các lộ, huống chi nay việc khai mỏ nhiều, cần phải có người công bằng tuân pháp, thanh liêm tinh tường mới có thể làm tròn chức trách, giao cho Ngạn Bác, không hợp với dư luận. Thần ngu muốn mong bệ hạ quyết đoán, thu hồi mệnh lệnh đã ban, tìm người hiền khác, thiên hạ may mắn biết bao!

Chiếu cho Ngạn Bác làm tri châu Quắc. Lý Đạo lại liệt kê tội trạng của Ngạn Bác, xin đưa ông ta về Lại bộ để bổ nhiệm chức vụ thích hợp, nhưng không được chấp thuận.

(Cựu lục chọn lấy chương tấu của Lý Đạo, nay hợp lại ghi chép bản tấu đầu tiên, và chú thích cựu lục ở sau: Quyền điện trung thị ngự sử Thái Đạo tâu: “Chu Ngạn Bác vừa được bổ làm đề điểm khai mỏ đúc tiền các lộ Giang Hoài, tính tà vạy, quen thói gian trá, thích tranh chấp kiện tụng, làm hại người lương thiện, đến đâu cũng để lại tai họa cho dân và quan lại. Chức vụ đề điểm liên quan đến các lộ, giao cho Ngạn Bác, không hợp với dư luận.” Chiếu cho Ngạn Bác làm tri châu Quắc. Lý Đạo lại tâu, xin đưa về Lại bộ để bổ nhiệm chức vụ thích hợp, nhưng không được trả lời. Ngày 5 tháng 10, Lữ Công Nhã vì mới được bổ làm đề điểm tiền tệ nên đổi sang làm tri châu Tề, hoặc Ngạn Bác sớm được bổ nhiệm chức vụ khác, nhưng thực lục không ghi rõ.)

[40] Ngày Bính Dần, Quyền Công bộ thị lang Vương Tông Vọng được làm Tập hiền điện tu soạn, quyền tri châu Vận.

[41] Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Thái Kinh cùng các quan vâng chiếu điều tra việc của Văn Cập Phủ, đã có kết quả bước đầu, nhưng vì việc liên quan đến tội bất thuận, mà Cập Phủ chỉ nghe lời cha mình, không có người khác làm chứng, nên xin cử quan khác đến cùng thẩm vấn. Chiếu cho Kiển Tự Thần thẩm vấn, và cử một viên sứ thần cấp cao của Nội thị tỉnh cùng đi.

(Ngày 16 tháng 8, ngày 3 tháng 2 năm Nguyên Phù thứ nhất. Ngày 17 tháng 4. Ngày 4 tháng 3. Ngày 9 tháng 7.)

[42] Chiếu rằng từ nay những kẻ cướp mạnh và binh lính sương quân, cấm quân đào ngũ bị bắt, cũng theo địa lý mà phân phối đi nơi khác.

(Đã bỏ mới.)

[43] Ngày Đinh Mão, ba tỉnh tâu: “Binh bộ Thị lang Hoàng Thường tâu rằng, nay sách 《Cửu Vực Chí》 chép rất sơ lược, xin chiếu cho Chức phương thu thập các núi sông, phong tục, dân sự, địa vật, cổ tích của các châu quận bốn phương, tìm hiểu chi tiết, biên tập thành một quyển sách, để bổ sung cho 《Cửu Vực Chí》.” Chiếu cho Bí thư tỉnh chép các sách như 《Sơn Hải Kinh》 v.v., gửi đến Chức phương lưu trữ, để tiện tra cứu.

[44] Ngày Mậu Thìn, Giám sát Ngự sử Đặng Bùi[4] tâu: “Đại Lý tự xét thấy Đại học sĩ Tô Thiên Dân nhận tiền thay Cao Mậu bổ sung lời khai, thật là thay bút truyền nghĩa, hối lộ công khai, làm bại hoại phong khí sĩ tử, điều mà đời đều ghét[5], triều đình dùng hình phạt nghiêm khắc và thưởng lớn, nhất định mong cấm tuyệt. Thế mà Thiên Dân v.v. dám phạm vào pháp điển, không chút sợ hãi. Nếu vì ơn mưa móc mà tha tội, e rằng về sau không có gì để răn đe, xin trọng gia biên quản[6], gặp ân xá cũng không tha, thì may ra phong khí này có thể thay đổi.” Chiếu cho Đại Lý tự xem xét kỹ, kết án, tâu lên đầy đủ.

[45] Hôm ấy, sao chổi tan biến không thấy nữa.

[46] Lại bộ Thượng thư kiêm Thị độc Hình Thứ tiến đọc 《Ngũ triều bảo huấn》, đến đoạn Nhân Tông từng dụ bảo các phụ thần, đại ý nói rằng bậc nhân quân nên tu sửa chính sự, còn như nhật thực, nguyệt thực, tinh tú biến đổi thì không đáng lo. Thứ bèn tâu lên Vua: “Đây là lời nói nhất thời của Nhân Tông, không biết thánh ý nghĩ sao?” Vua đáp: “Cũng không thể không lo.” Thứ liền nói: “Bệ hạ thánh huấn đến thế, thật là phúc của xã tắc và dân chúng. Nếu cho rằng chính sự tu sửa thì tinh tú biến đổi không đáng lo, thì từ xưa đến nay, bậc quân chủ nào lại tự nhận mình không tu sửa chính sự? Như thế thì thiên biến sẽ bị bỏ qua.” Vua nói: “Hiểu rồi.” Thứ lui ra, lại dâng sớ, suy luận rằng: “Bậc quân chủ phụng sự trời, như con phụng sự cha, thì trời cũng sẽ phù hộ. Giống như cha nhìn con vậy.” Tất cả mấy ngàn chữ, Vua khen ngợi và tiếp nhận.

(Lời của Thứ không rõ thời điểm, phụ chép sau khi sao chổi biến mất.)

[47] Ngày Kỷ Tỵ, Quan văn điện Đại học sĩ, Tả Quang lộc đại phu, Trung Thái nhất cung sứ Tô Tụng dâng biểu xin nghỉ hưu. Chiếu cho Tụng làm Thái tử Thiếu sư, vẫn giữ chức Quan văn điện Đại học sĩ nghỉ hưu.

(Thái Hưng Tông nói: Tể tướng nghỉ hưu trước đây, quan đến chức Bộc xạ thì thăng lên Tam sư, Tam công. Quan đến chức Thượng thư thì bổ làm Thái tử Thái phó. Thừa lang thì bổ làm Thái tử Thái bảo, ưu đãi đặc biệt thì bổ làm Thái tử Thái sư. Chương Đôn nắm quyền, bèn theo ý riêng bỏ phép cũ. Tụng là tể tướng nghỉ hưu, vẫn bổ làm Đông cung Tam thiếu, gần đây vẫn theo lệ này.)

[48] Ngày Canh Ngọ, Đại Lý tự tâu: “Trong ngoài kinh thành, có kẻ giả mạo quan sai đi bắt người rồi đánh trói cướp của, nên xử theo tội cướp không cầm vũ khí, kẻ bị xử tử thì giảm một bậc, tội lưu đày đều phạt đi nghìn dặm, tội đồ đều phạt đi năm trăm dặm. Nếu kẻ quản hạt hoặc người liên quan nhận hối lộ mà biết tình thì cùng chịu tội[7].” Vua nghe theo.

[49] Ngày Tân Mùi, triều đình ra chiếu cho Cung bị khố phó sứ Lưu Vĩnh An được Lại bộ bổ nhiệm thêm chức Dương Châu đô giám. Vĩnh An vốn là người theo hầu Vua từ thời tiên triều, có lời thỉnh cầu nên mới có mệnh lệnh này.

[50] Ngày Nhâm Thân, quần thần dâng biểu xin Vua ngự tại chính điện và khôi phục việc dùng bữa như thường lệ. Chiếu chỉ đáp lại không chấp thuận, nhưng sau ba lần dâng biểu, Vua mới đồng ý.

(Đến ngày Đinh Sửu, Vua mới ngự điện và khôi phục việc dùng bữa.)

[51] Kinh lược sứ Lữ Huệ Khanh của Phu Diên lộ tâu rằng việc xây dựng trại mới ở sông Hạnh Tử đã hoàn thành. Triều đình ra chiếu đặt tên trại là Bình Nhung Trại, và sai nội thần mang hộp bạc cùng trà thuốc ban thưởng cho Huệ Khanh và các quan dưới quyền. Đồng thời, chiếu chỉ các lộ rằng: “Nếu có hành động tùy tiện sẽ bị xử theo quân pháp.” Chỉ có Hậu Thạch Môn và Cửu Dương Cốc ở Kinh Nguyên cùng Điên Nhĩ Quan ở Hi Hà, vì thông với biên giới Kinh Nguyên, nếu thấy có lợi thì được phép tiến hành xây dựng.

Trước đó, các đại thần cùng tâu: “Tẩu mã Lợi Tuân của Phu Diên tấu rằng Lữ Huệ Khanh sai Vương Mẫn và những người khác vượt biên giới, tiến hành xây dựng ở sông Hạnh Tử, bắt đầu từ ngày 20 tháng 9[8].” Vua rất ngạc nhiên. Tăng Bố nói: “Nếu đúng vậy, thì đây là việc của Vĩnh Lạc!” Chương Đôn nói: “Có lẽ chỉ là hư thanh, nếu thật thì sẽ thất bại.” Tăng Bố nói: “Tấu chương của Tuân rất chi tiết.” Vua cũng nói: “Chắc chắn là đã làm rồi.” Tăng Bố nói: “Như vậy thì trời đã đoạt mất hồn phách của họ.” Sau đó, triều đình hạ chiếu chất vấn, việc này xảy ra vào ngày Giáp Dần trong tháng.

Bốn ngày sau, Lợi Tuân lại tấu: “Sông Hạnh Tử đã tiến hành xây dựng, nghe nói còn muốn tiến hành xây dựng trại mới ở khu vực của tướng thứ năm và thứ sáu. Từ mùa xuân năm nay đến nay, binh sĩ đã vất vả, và giặc đang tập trung, xin đợi đến mùa xuân năm sau mới khởi công.”

Vua rất ngạc nhiên, nói: “Như thế ắt sẽ hỏng việc.”

Bố bèn tâu hết: “Việc biên giới không thể khinh động, hiện nay đã mở mang bờ cõi, như khu vực Bình Hạ, Linh Bình, hàng rào chưa đầy đủ, thì Hậu Thạch Môn, Cửu Dương Cốc cần phải xây dựng, mùa đông này hoặc mùa xuân năm sau, nhất định phải làm. Những việc khác không liên quan đến lợi hại, nên tạm nghỉ ngơi.

Tiếp theo là thông suốt biên phòng hai lộ Hi Hà, Kinh Nguyên, lợi hại không nhỏ, cũng có thể dần dần kinh doanh, để thu liễm kế hoạch. Như Trác La cách Kim Thành 120 dặm, muốn ngược sông Hoàng Hà vận chuyển lương thực đến Chước Long, rồi vượt sông đánh dẹp Trác La và khu vực Cái Chu Thành, giữa có sông Hoàng Hà, hai bên bờ đều là vách đá, không có đường xe. Miêu Lý nói không thể đào được, nhưng Chung Truyền sai Trương Chiếu đi khảo sát, nói có thể đóng cọc kéo thuyền, lại nói có đường xe có thể đi.

Trước đây, thành Bình Hạ cách biên giới hơn 30 dặm, dùng hàng nghìn xe thái bình, hàng vạn xe nhỏ cùng lạc đà, ngựa, trâu, lừa vận chuyển một ngày mới đủ chi phí một ngày. Nay đường xá hiểm trở xa xôi như thế, đường thủy đã không thể đi, đường bộ còn có đủ xe cộ như thế không? Hơn nữa, Trác La, Cái Chu, Chung Truyền tự mình chưa biết có thể đánh hay giữ được không, như thế là liều lĩnh hy vọng may mắn, e rằng không nên làm.”

Vua nói: “Ai bảo làm như thế? Chỉ cần ban chỉ huy, chủ tướng khinh động hỏng việc, sẽ thi hành quân pháp, thì họ ắt không dám.”

Lần tâu sau, Vua lại nhắc đến việc Trác La, nói: “Đây là Chương Đôn dùng thư riêng bảo Chung Truyền kinh doanh như thế, triều đình vốn không có chỉ huy này, làm sao ổn thỏa được? Chỉ cần răn đe bằng quân pháp, Trẫm cũng sẽ dùng chỉ huy ngự tiền để răn đe.”

Trước đó, trong trận chiến ở sông Hạnh Tử, Vua đã hỏi: “Có phải là Chương Đôn bảo Lữ Huệ Khanh làm việc này không?” Tăng Bố đáp: “Chương Đôn có gửi thư cho thần, nói rằng: ‘Việc này chắc chắn là do Huệ Khanh mất trí.’ Lại viết thư cho Huệ Khanh rằng: ‘Việc ở Vĩnh Lạc thật đáng lo lắng! Bài học trước đây không xa, không hiểu sao lại có thể vội vàng như vậy.’ Và đã đưa cho thần xem, niêm phong rồi gửi vào Viện Mật, xem xét việc này, e rằng không phải ý của Chương Đôn.” Vua gật đầu đồng ý.

Sau đó, Huệ Khanh tấu xin xây dựng xong, Vua đã ban tên, liền hạ chiếu này. Rồi Huệ Khanh (phần sau bị thiếu). Từ đó việc xây dựng ở sông Hạnh Tử không trái với chỉ dụ triều đình. Tăng Bố nói: “Huệ Khanh trong lúc phòng thủ mùa thu mà tiến hành xây dựng, may mà không thất bại, nên tự cho là kế hay. Mọi người đều nói việc này thật đáng lo, nếu đã biết trước là không có gì nguy hiểm, sao không tấu trình trước?” Vua cũng cho là đúng. Chỉ có Chương Đôn ra sức biện giải.

(Nhật lục của Tăng Bố ghi vào ngày Giáp Thân tháng 9, nay phụ chép. Có thể tham khảo ngày Mậu Tuất 16 tháng 6 và ngày Mậu Dần 28 tháng 7.)

Ban đầu, Huệ Khanh tiến hành xây dựng thành Hạnh Tử Hà, công việc đang tiến hành thì Xu mật viện cho rằng lúc quân Tây Hạ đang tập trung, chưa biết hướng tấn công, nếu năm trại cùng khởi công, e rằng sẽ thất bại. Triều đình hạ chỉ cho Huệ Khanh, yêu cầu phải đảm bảo an toàn tuyệt đối mới được hành động.

Huệ Khanh bèn tâu: “Thần xét thấy vào mùa thu, ngựa chiến của giặc đang béo tốt, lúc chúng tập trung mà chưa biết hướng tấn công, không nên tiến hành xây dựng, càng không nên đánh sâu vào lãnh thổ địch. Tuy nhiên, lộ này có việc đầu hàng ở Nỗ Khổng Mật Lũy thuộc Hựu Châu và Hạnh Tử Hà, là do các lộ đều báo rằng quân địch đang tập trung binh lực định đánh Kinh Nguyên, cùng với việc lộ này đã hội đủ binh lực biên giới, nếu có việc gấp thì có thể tập hợp được 11.773 quân tinh nhuệ, gồm cả bộ binh và kỵ binh, phân tán đóng giữ nơi hiểm yếu, nếu đánh sâu vào thì có nguy cơ không kịp triệu tập; nếu tập trung giữ nơi then chốt thì lại lo bị địch chia quân cướp phá, không kịp ứng cứu.

Còn quân trấn thủ các thành trại, nơi ít chỉ có hai ba trăm người, đã từng tâu lên triều đình. Sau khi bàn bạc với các tướng, nếu bị địch tập trung binh lực đánh trước, thì chưa có kế sách gì toàn vẹn. Binh pháp nói: hư mà tỏ ra thực, thực mà tỏ ra hư, yếu mà tỏ ra mạnh, mạnh mà tỏ ra yếu. Binh lực chiến đấu và phòng thủ của lộ này như vậy, không thể gọi là mạnh và thực, nên khó mà che giấu hình tích, tỏ ra yếu hư để dụ địch đến.

Vì vậy, nhân lúc mùa thu, địch ỷ vào ngựa chiến đang béo tốt, tập trung binh lực mà chưa biết hướng tấn công, cho rằng ta không dám hành động, nên đánh sâu vào nơi chúng đóng quân, phá hủy châu quận và trại của chúng, lại xây dựng nơi hiểm yếu để tỏ ra ta mạnh mẽ, nhằm phá vỡ âm mưu tập trung binh lực của địch.

Đó đều là do thần tự suy nghĩ, cho rằng nên làm như vậy, chứ không phải các tướng tham công, dám tự ý hành động. Hơn nữa, Kinh Nguyên tuy có tập trung binh lực, nhưng quân Tây Hạ nếu không có số quân gấp nhiều lần, tất không dám xuất kích. Tuy nhiên, lấy ít địch nhiều, cũng là điều khó trong binh pháp, nếu chúng đắc chí, thì mối lo của lộ này vẫn chưa dứt.

Thần cho rằng lúc chúng đang tập trung binh lực, mà tiến hành xây dựng Nỗ Khổng Mật Lũy ở Hựu Châu và Hạnh Tử Hà, không chỉ vì mưu lợi cho lộ này, mà còn để phân tán quân địch của Kinh Nguyên. Phân tán quân địch của Kinh Nguyên, chính là vì mưu lợi cho lộ này.

Hơn nữa, Hạnh Tử Hà lại gần với Ô Diên Khẩu, nếu xây dựng thêm một hai nơi như vậy, thì người Hạ Hựu sẽ không còn đất canh tác và chăn nuôi, tất sẽ tự đến đầu hàng.”

Thành Hạnh Tử chu vi hơn 1.700 bước, công trình hơn 120.000 ngày công, xây xong trong 12 ngày. Huệ Khanh tự cho rằng việc khởi công thần tốc chưa từng có như vậy.

[52] Ngày Quý Dậu, Vua ngự đến Trung Thái Nhất cung để cầu phúc cho dân và đốt hương.

[53] Hộ bộ tâu: “Các quân tạm thời được điều động đi công tác, được cấp riêng gạo và đậu làm lương thực, không được dùng các loại thóc khác để thay thế. Nếu ai muốn nhận tiền mặt, thì căn cứ theo giá gạo mới trên thị trường để chi trả, phần lương thực của gia đình họ không được phép chia cắt.” Vua đồng ý.

(Bản Mới bỏ đi.)

[54] Ngày Bính Tý, Chương Tín quân Tiết độ sứ, Tế Ẩn quận vương Tông Cảnh được phục chức Khai phủ Nghi đồng Tam ty.

[55] Ngày Đinh Sửu, Vua ngự điện và dùng bữa.

[56] Tứ phương quán sứ, Thành châu Đoàn luyện sứ Vương Trạm được làm Dẫn tiến sứ, Thành châu Đoàn luyện sứ[9]; Đông thượng các môn sứ, Uy châu Đoàn luyện sứ Vương Văn Chấn được lĩnh chức Hùng châu Phòng ngự sứ; Hoàng thành sứ, Xương châu Thứ sử Tần Quý được lĩnh chức Quả châu Đoàn luyện sứ; Hoàng thành sứ, Tri Đức Thuận quân Diêu Hùng được làm Đông thượng các môn sứ, lĩnh chức Tần châu Thứ sử; Văn tư sứ, Quyền Tri Nguyên châu Diêu Cổ được làm Tây thượng các môn sứ, lĩnh chức Uy châu Thứ sử. Do việc xây dựng thành Bình Hạ và trại Linh Bình ở Kinh Nguyên lộ, đánh giặc lập công.

(Thành Bình Hạ và trại Linh Bình được ban tên vào ngày 20 tháng 4.)

[57] Thị ngự sử Đổng Đôn Dật tâu: “Khảo công lang trung Phương Trạch vừa được bổ nhiệm làm Đại Lý tự thiếu khanh, dư luận xôn xao. Bởi Trạch trước đây từ chức thường được đưa vào tỉnh tào một cách bất hợp lý, gần đây mới thăng làm Khảo công lang trung mới được mấy chục ngày, nay lại có mệnh lệnh này, không chỉ vì tư cách còn non nớt, danh vọng còn nhẹ, không phải là người có đức hạnh sâu dày, không xứng với chức vụ, mà còn vì thời tiên đế, ông ta thường được cử làm việc sai dịch, do không làm tròn chức trách[10], bị đưa đến Thẩm quan đông viện. Xin thu hồi mệnh lệnh mới, để phù hợp với công luận.”

Chiếu chỉ cho Trạch vẫn giữ chức Khảo công lang trung như cũ. Tăng Bố nói với Chương Đôn: “Bãi chức Trạch là rất tốt[11].” Đôn nói: “Trạch là người hay thay đổi, sao có thể tin cậy được.”

(Trạch được bổ nhiệm làm Đại Lý thiếu khanh vào ngày 21, nay ghi chung lại.)

[58] Hình bộ tâu: “Nguyên Châu tra xét việc, Hoàng thành sứ, Thành Châu phòng ngự sứ Chiết Khả Thích, Kinh Nguyên lộ tiến trúc, sung chức Đồng thống chế quan, nghe lệnh Vương Văn Chấn tiết chế. Khả Thích tự ý sai Văn tư phó sứ Khúc Sung làm tiên phong, sau đó dẫn quân truy đuổi giặc, mất 133 người, bắt được 160 thủ cấp. Quan tra xét là Thông phán, Triều thỉnh lang Lý Chi Nghi xét việc cẩu thả. Đô tổng lĩnh Thông Viễn quân phiên binh Tân Thúc Hiến chiếu ứng Chiết Khả Thích, dễ dàng xuất trại, dẫn đến mất quân mã. Hi Hà lộ Đồng thống chế quan Miêu Lí tăng thêm người ngựa, dẫn đến thương vong nhiều.”

Chiếu rằng đã hai lần được ân xá, Khả Thích, Thúc Hiến đặc cách truất chức các ty phó sứ trở lên, lệnh đình chỉ, đợi đến ngày hợp phục chức thì phục chức hiện tại, không được dùng phép phục chức. Khúc Sung đặc cách giáng hai chức. Lý Chi Nghi đặc cách thay thế. Miêu Lí, theo lệ ân xá hợp phục chức Tứ phương quán sứ, Cát Châu phòng ngự sứ, lấy công bù lỗi, thông phục chức, chuyển làm Tứ phương quán sứ, Dao quận đoàn luyện sứ, thăng làm bản lộ Kiềm hạt kinh lược sứ. Chương Tiết vì sơ suất, kết án Chiết Khả Thích không đúng, đặc cách phạt 20 cân vàng.

(Việc bại binh của Khả Thích xảy ra vào ngày Giáp Ngọ, 11 tháng 4.)

Ban đầu, Chiết Khả Thích bại trận, Bao Thành và những người khác đều không biết sống chết, Vua rất lấy làm lạ. Chương Đôn tâu với Vua: “Khả Thích nên xử pháp ngay.” Tăng Bố nói: “Cần phải khoan dung.”

Vua nói: “Việc này sao có thể khoan dung?” Đôn nói: “Nên đày đi biên giới.” Bố nói: “Thần nói khoan dung, chính là tha chết cho hắn thôi.” Đôn nói: “Cho đày đến lao thành, lại cho lưu dụng ở bản lộ.” Bố nói: “Triều đình tự nên thi hành pháp luật, nếu bản lộ xin giữ lại, thì có thể nghe theo.” Vua rất tán thành, nói: “Các khanh nên dùng thư dụ bảo các tướng.” (Sách lục của Bố, tháng 4, ngày Nhâm Thìn.)

Hai ngày sau, Vua biết Bao Thành và những người khác đều đã chết, rất tiếc nuối, liền nói: “Khả Thích có thể chém.” Đôn nói: “Muốn tạm đày lên núi Điểu.”

Vua nói: “Hỏi thăm cũng chưa thấy là tướng quan có sức mạnh lớn.” Bố nói: “Tuy vậy, nhưng người chết không thể sống lại, tạm đày lên núi Điểu, không nên lưu dụng.” Vua chưa hoàn toàn đồng ý. Bố nói: “Đợi án tới sẽ xin chỉ.”

Trước đó, Bố dùng thư bạch với Đôn rằng: “Việc của Tồn Bảo có thể làm gương, đừng để sau hối hận.” Đôn hứa đày lên núi Điểu, nên mới có lời này.

Sau đó, Miêu Lí tâu: “Chỉ huy cung tiễn thủ Vân Thành mang hai mũi tên của quyền tướng quan Vương Đạo tử trận, nói rằng Khả Thích đã lầm lẫn khiến quân mã Hi Hà vào địa giới phía tây, rồi tự mình bỏ chạy về.” Chương Đôn và Hoàng Lí đều nói: “Tội của Khả Thích nặng, đáng chém.” Tăng Bố nói: “Khả Thích lập công trước rồi về, còn Vương Đạo tự ý tiến sâu nên thất bại, e chưa đủ để định tội nặng cho Khả Thích.”

Vua nói: “Chém cũng chẳng đáng tiếc.” Tăng Bố nói: “Không cần bàn đáng tiếc hay không, nhưng thi hành pháp luật không thể không đúng, một khi chết thì không thể sống lại. Hơn nữa, từ thời tổ tông đến nay, ta luôn coi trọng mạng người, e rằng chưa thể nhất định phải giết.”

Vua nói: “Chỉ vì làm mất mạng người.” Tăng Bố nói: “Thần từ khi nghe tin Bao Thành bị hãm hại, nhiều ngày ăn ngủ không yên. Nhưng bàn về tội của Khả Thích, thần không dám hời hợt.” Chương Đôn nói: “Không cần hỏi gì khác, chỉ việc vi phạm quân lệnh là đáng chém.” Tăng Bố nói: “Nếu vậy, thì hôm qua đã nên cho là đáng chém. Nếu vì lời của Vân Thành mà tăng nặng tội, thì thần chưa thấy là hợp lý.”

Vua lại nhìn các quan nói: “Chém cũng chẳng hại gì.” Mọi người đều vâng dạ. Chương Đôn vẫn giữ ý kiến như trước, còn Hoàng Lí cho rằng tình tiết nặng. Tăng Bố nói: “Lời của Vân Thành chưa thể tin ngay, hãy đợi tra xét rồi xin chỉ.”

Vua nói: “Chương Tiết không lập tức chém Khả Thích, mà lại cho tra xét, hẳn là muốn minh oan, chắc chắn không chịu tra xét như vậy.” Tăng Bố tâu lại, cùng Lâm Hi trình bày rằng tình tiết của Khả Thích có chỗ đáng nghi, chưa thể nhất định phải giết, tranh luận rất lâu, Vua dần nguôi ngoai.

(Việc này thấy trong 《Tăng Bố lục》 ngày Giáp Ngọ, Ất Mùi, tháng 4.)

Đến khi Kinh Nguyên tra xét vụ án Khả Thích, thì thấy rằng Văn Chấn sai đi, không có tội vi phạm quân lệnh. Chương Đôn ghét án nhẹ, muốn lập lại ngục để tra xét nặng hơn. (Việc này thấy trong 《Bố Lục》 ngày Mậu Tuất tháng 6.)

Tăng Bố tranh luận cho rằng không nên. Chương Đôn rất tức giận nói: “Như thế này, thì quân đội hành động sẽ không còn kỷ luật nữa.” Tăng Bố nói: “Từ thời tổ tiên đến nay, những vụ án chiếu chỉ khởi tố, chưa từng nắm được tình hình, bởi vì người trên có ý thiên vị, nên án thường không công bằng. Nay lại hặc tội Khả Thích không có gì khác, chỉ ghét án nhẹ mà thôi. Như thế này, thì quan tra xét chỉ cốt làm cho nặng thêm mà thôi.”

Đến khi ba tỉnh đối chất, Chương Đôn tâu lên Vua: “Kinh Nguyên tra xét Khả Thích quá nhẹ, chưa muốn lập lại ngục.” Vua nói: “Lập ngục cũng không sao.” Tăng Bố lại đối chất, nhân đó nói đến việc này. Vua nói: “Tra xét lại cũng không sao, đây là do Chương Tiết bao che.” Tăng Bố nói: “Việc có thể như thế, nhưng tra xét lại chỉ vì ghét án nhẹ, tra xét lại ắt sẽ nặng thêm, còn có thể tin được không? Khả Thích không vi phạm quân lệnh, có chứng cớ rất rõ ràng, như thế này lại sợ mất sự thật. Thần vừa nói với Chương Đôn, không cần tra xét lại. Khả Thích là quan thống chế, thấy quân tướng Hi Hà tiến sâu vào, tự mình rút lui mà không đuổi theo, khiến họ bị tiêu diệt, tự có thể xử nặng, hơn là thay đổi lời khai để hợp với pháp luật.”

Vua nói: “Không tra xét thì làm sao định tội?” Tăng Bố nói: “Tội trạng rất rõ ràng, không cần tra xét lại.” Vua gật đầu.

Tăng Bố lui ra, lại viết thư cho Chương Đôn, nói: “Việc hôm nay, bảo vệ biên cương mới là việc cấp bách nhất, mà giữa lúc phòng bị mùa thu lại khởi tố, bắt giữ tướng tá, thì sẽ làm mất khí thế, tan rã, việc biên cương nguy hiểm.” Chương Đôn cũng nghe theo, (《Bố Lục》 ngày Kỷ Hợi tháng 6.) bèn cùng trình án Khả Thích muốn xét tình hình để định tội.

Nhưng Chương Đôn vẫn cho là nhẹ, nói: “Viện Mật sơ án không đầy đủ sự việc nên rõ ràng, nhưng vẫn sợ Khả Thích không phục, thêm nữa triều đình bỏ án mà dùng xem xét để định tội, sợ không thể làm khuôn phép.” Mọi người đều nói: “Tội trạng rất rõ ràng, chỉ cần xử như thế cũng tiện lợi.” Vua và Chương Đôn vốn muốn xử nặng tội Khả Thích, rất khó xử. Tăng Bố nói: “Như lời bàn của Chương Đôn rất hay, triều đình bỏ án không dùng, mà dùng triều đình xem xét nặng nhẹ, ra vào tội người, thật không nên mở đầu phong tục này. Nhưng giữa lúc phòng bị mùa thu, há có thể khởi tố? Thêm nữa Viện Mật xem xét nói như thế, thì quan tra xét lại cũng chỉ theo đó kết án mà thôi, sợ không có ích gì.”

Chương Đôn muốn tạm gửi đến Lũng Châu biết rõ, đợi qua mùa thu phòng bị rồi tra xét lại. Tăng Bố nói: “Như thế càng kéo dài bất tiện, nếu sợ Khả Thích không phục, thì sai quan hỏi Khả Thích, kết tội trạng. Nếu không phục, thì tra xét lại cũng chưa muộn.” Bèn sai Đại Lý chính Hứa Công Tôn, Khai Phong phủ Tư lục Tào Điều, đến Nguyên Châu hỏi Khả Thích, kết án xong tâu lên, mà có lệnh này.

(Kết án tâu lên, 《Bố Lục》 ngày Kỷ Mùi, Canh Thân tháng 7.)

Sau đó theo lời xin của Chương Tiết, lưu Khả Thích ở Kinh Nguyên hiệu dụng, chuẩn bị sai khiến.

(Để lại làm hiệu dụng, chuẩn bị sai khiến, vào ngày Tân Sửu 21 tháng 10. Nay ghi chung, không tách riêng. Chương Bích biên soạn tấu nghị của cha là Tiết, trong phần doanh cứu có ghi việc Tiết cứu Khả Thích, nay phụ lục vào đây. Tấu của Tiết quá dài, không chép lại.

Chương Tiết lúc đầu hội quân Kinh Nguyên, Hi Hà, Tần Phượng, tiến đến sông Hồ Lô, ra lệnh cho các tướng rằng: ‘Quân giặc ở gần bốn lộ Hoàn Khánh, cân nhắc tiến đánh, không được vượt quá trăm dặm.’ Các tướng đều muốn truy kích tận diệt, nói với Tiên công rằng: ‘Từ năm Nguyên Phong đến nay, hỏi tội Tây Hạ, chưa từng tập hợp binh mã bốn lộ vào một đạo, nay được như vậy, binh lực hùng mạnh như thế, sao không tiến đánh? Sao không thành công? Xin hãy đánh chiếm trước rồi mới xây thành.’ Tiên công không cho là phải, đến khi ra lệnh này, chủ tướng Hi Hà là Miêu Lí tiến lên nói: ‘Đánh giặc mà bó buộc trong trăm dặm, chẳng phải quá hẹp sao? Xin đổi thành trong ngoài trăm dặm.’ Tiên công cười bảo rằng: ‘Như lời ngươi nói, thì chạy đến tận Hưng, Linh cũng ở ngoài trăm dặm.’ Lí xấu hổ bỏ đi. Nhưng ý định truy kích xa của các tướng vẫn còn.

Quân hành quân được năm sáu ngày, Khả Thích sai người báo với quan thống chế rằng gặp giặc ở Mộ Hóa, xin viện binh. Báo chưa đến, đã cùng Khúc Sung xuất quân. Quan thống chế là Từ lại điều thêm nghìn kỵ binh Hi Hà, cũng nói là ứng cứu Mộ Hóa, nhưng Miêu Lí tự ý phát hai nghìn kỵ binh. Khi tiến quân, không gặp quân Kinh Nguyên, đánh không cần phối hợp. Khả Thích, Sung gặp giặc đánh nhau, giết và bắt được tương đương rồi rút về, quân Hi Hà bị đại bại. Lí sợ tội tự ý phát nghìn kỵ binh, bèn đổ tội cho Khả Thích, bảo quân sĩ là Vân Thành giả vờ là tướng Vương Đạo bị bắt, đến mạc phủ, cầm bốn mũi tên làm tin, nói rằng: ‘Gặp Khả Thích trên đường, thúc giục quân Hi Hà giao chiến, khi quân giặc đông đến, quân Khả Thích bỏ chạy, vì thế mà thua trận.’ Thực ra quân Hi Hà không hề giao chiến, tham công tiến thẳng, lại lạc đường, gió bụi mù mịt, tự rơi xuống vực Hậu Hạp mà chết.

Tiên công biết rõ tình hình các tướng, tướng sĩ các lộ khác không muốn truy cứu, chỉ tội Khả Thích khởi sự, cách chức, áp giải đến Nguyên Châu, giao cho quan khảo xét, mong rằng lời khai sẽ làm sáng tỏ sự việc. Triều đình vì tướng sĩ Hi Hà tử trận, đang đau xót, không biết đổ tội cho ai, mà Thừa tướng Thân công nghe lời Vân Thành, giận dữ vì Tiên công không chém Khả Thích ngay trong quân, cho rằng không có tài tướng soái, chỉ như bà già. Viết thư bốn năm lần, lại dạy rằng giết tướng yêu quý, nên khóc lóc tỏ ân, giết để thi hành pháp luật. Nhiều lần nói ở hậu đường, phải chém Khả Thích rồi mới có thể khích lệ tướng sĩ. Mùa thu, bèn sai quan xét xử việc này. Tiên công biết chắc sẽ bị khép tội nặng, âm thầm biện bạch. Lâu sau, lại xin không khảo xét nữa, dùng thư riêng gửi triều đình, minh oan và tiến cử tài năng của Khả Thích. Việc xét xử này, may mà giữ được tính mạng, chỉ bị cách chức mà thôi. Lại dâng sớ xin để Khả Thích ở lại Kinh Nguyên dùng. Năm sau, bắt được hai tù trưởng, lập đại công. Người đời sau bàn về danh tướng đều khen ngợi.”)

Chương Tiết tâu: “Trước đây tiến hành xây dựng thành Bình Hạ và trại Linh Bình, tất cả các quan chức đầu tiên cùng bàn luận với thần và lo việc cung ứng lương thảo, các chủ tướng các lộ, hai tướng, hai quan đề cử thành trại, đều là những người có công lao rõ rệt, ra sức nhiều, xin ban ơn đặc biệt.”

Chiếu rằng: “Theo thứ bậc thăng chức, giảm năm thâm niên, thăng chức và bổ nhiệm, tiến sĩ đặc cách ban chức Giả Thừa Vụ Lang, không tính vào hạn tuyển chọn. Những người từ chức Hoàng Thành Sứ trở lên được thăng chức và giảm năm thâm niên, có thể chuyển cho con trai đang làm quan. Nếu chưa có người hưởng bổng lộc, đợi khi có quan chức thì thi hành. Người được giảm năm thâm niên, cơ quan chủ quản cấp giấy chứng nhận, nếu thời hạn khác nhau thì theo quy định mà điều chỉnh.”

(Theo 《Bố Lục》: Thưởng công cho thành Bình Hạ và trại Linh Bình, hơn 80 người được thưởng, nhưng tướng tá Hi Hà không được dự.)

[59] Ngày Mậu Dần, Thị lang Lại bộ Diệp Tổ Hợp tâu: “Thấy rằng bên Tả tuyển của Thị lang, theo chỉ dụ triều đình năm Nguyên Phong, lập sổ ghi theo họ. Tả và Hữu tuyển nên thống nhất, nhưng Hữu tuyển lại không có, xin lập sổ để quản lý công tội.” Theo lời tâu.

[60] Ngày Kỷ Mão, Uyển nghi Lưu thị được tiến phong làm Hiền phi.

[61] Xu mật viện tâu: “Các tướng hiệu, quân đầu, thập tướng trong cấm quân được thăng bổ, giao cho quan chức tại chức xem xét, theo pháp lệnh quản lý cấm quân. Nếu không bệnh tật, sử dụng cung nỏ thành thạo, thông thạo thương bài, thì đặc cách thăng bổ. Nếu có bệnh hoặc tinh thần suy nhược, hoặc đã quá tuổi, hoặc sau khi thăng bổ phạm tội tham nhũng nặng, thì đều bị loại. Cấm quân trưởng hành phạm tội trượng hoặc bị đi đày, hoặc thăng quân phân mà không có lỗi, thì đều được xếp hàng.” Theo lời tâu.

(Bản cũ ghi chi tiết, nay theo bản mới.)

[62] Tháng đó, Vua vì sao biến, nhiều lần răn bảo các đại thần phải sửa sang chính sự, lại hạ chiếu cầu lời nói thẳng. Tăng Bố nhân việc tấu sự tâu với Vua: “Những kẻ cuồng vọng, tuy không cầu nói, nhưng không gì không nói, trong đó kẻ cuồng vọng vốn nhiều, nay chiếu cầu lời nói thẳng, thì những người có học thức có thể có điều trình bày, mong bệ hạ xem xét. Tuy nhiên, trong đó cũng có lời gian trá, không thể không xem xét. Nghe nói Lâm Hi nói rằng Phương Thiên Nhược, vừa lên thuyền định đi, nghe chiếu liền ở lại dâng thư. Những điều ông ta trình bày chẳng qua chỉ muốn giết hết những người thời Nguyên Hựu, và muốn quét sạch những kẻ tà đảng có ý kiến khác. Sau đó nghe nói Lâm Tự quả nhiên có lời bàn như vậy, mà Ngự sử Đặng Phỉ bèn nhân đó ứng chiếu, cho rằng quét sạch những người có ý kiến khác, đủ để ứng với tượng trừ cũ bày mới. Phỉ vốn là đảng của Biện, do Kinh tiến cử, lời nói của ông ta phần nhiều giống như vậy.” Lâm Hi bèn tâu rằng: “Bệ hạ kính sợ như vậy, chưa biết các đại thần có thể phụng hành ý chỉ của thánh thượng không?” Vua liền nói: “Không sợ thiên biến, há chẳng phải là Chương Đôn sao?”

Gần đây, Vua thường cho rằng lời bàn của Đôn về việc biên cương là không đúng, lại chê trách ông ta hay nói khoác, không có ý cẩn trọng. Đôn từng tâu: “Công Tôn Lộ có thư đến nói, chí nhỏ nhoi chỉ muốn diệt giặc.” Vua rất không cho là đúng, nói với Bố rằng: “Giặc sao có thể diệt được?” Bố tâu: “Thần từng trình bày[12], cho rằng địch chưa thể khinh thường. Mùa thu năm nay có thể chưa hành động, cũng chưa thể cho là họ đã suy yếu, hoặc có mưu sâu không thể lường được. Hơn nữa, những vùng đất triều đình khai phá và xây dựng, chỉ là mấy chục dặm gần biên giới, chưa nắm được yếu lĩnh, sao có thể bảo đảm bắt được giặc! Như việc Phu Diên xây dựng bốn thành trại, chỉ mở ra đông tây đối diện với Tuy Đức trại, đối với người Khương chưa thấy có hại gì lớn. Hơn nữa, sức dân đã mệt, quân sĩ mỏi mệt, ý chỉ của thánh thượng thường răn bảo, thật nên như vậy.” Vua cũng rất cho là đúng.

(Lâm Tự lúc đó làm Chính tự, ngày 11 tháng 11 được bổ nhiệm.)

[63] Phụng Nghị lang, quyền Thông phán Thông Viễn quân Lý Thâm dâng thư nói:

“Thần gần đây nhận được chiếu thư, vào đêm trung thu, sao chổi xuất hiện ở phương tây, suy xét từ kinh điển, đều là điềm báo lớn. Các quan trong ngoài đều được phép thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót của triều đình. Ngày chiếu thư ban xuống, dân chúng đều vui mừng, cho rằng sự nghiệp thái bình sắp đến. Thần vốn chất phác, học thuật nông cạn, dù chạy vạy nơi xa ngàn dặm, nhưng lúc nào cũng không quên nơi triều đình, vì nghĩa yêu Vua, không dám im lặng, kính dâng lời trung thành, xin chịu tội chết.

Thần thấy từ khi bệ hạ thân chính đến nay đã năm năm, ngày đêm cẩn thận, chỉ mong ít sai lầm, nhưng trời vẫn dùng biến cố để cảnh báo bệ hạ. Thần thấy điều này chứng tỏ trời yêu thương bệ hạ, muốn giữ gìn an lạc, không gì là không làm. Biến cố xảy ra chưa được bao lâu, bệ hạ đã ban lời đức âm, hạ chiếu minh, răn bảo quan biên giới không được tùy tiện hành động, khuyến khích trong ngoài không ngại nói thẳng, giảm bớt yến tiệc, tránh điện, ban ân xá.

Thần thấy bệ hạ kính sợ uy trời, lo sợ tu tỉnh, không gì là không làm. Trời người tương thông như vậy, thì tai dị sẽ biến thành điềm lành. Sáu việc tự kiềm chế, sánh với Thành Thang, gió ngược cây đứng, nối gót Thành Vương. Thiên hạ may mắn thay! Thiên hạ may mắn thay! Xem xét từ xưa, các bậc Vua hiền trí ban chiếu cầu lời nói thẳng, mà các bề tôi lớn nhỏ dám dâng lời trung thực, không phải là ít, nhưng Vua có thể khiêm tốn tiếp nhận thì khó. Khiêm tốn tiếp nhận đã khó, mà thực sự làm theo lại càng khó hơn.

Bệ hạ thánh chiếu nói: “Trẫm sẽ tự xem xét, khiêm tốn sửa đổi.” Như vậy đã vượt xa trăm Vua trước, thần đâu dám tiếc thân mình, lo cho con cháu, mà không dám nói hết với bệ hạ?

Thần nghe rằng: Càn là Vua, Khôn là tôi; Vua là dương, tôi là âm. Mặt trời là thái dương, nên là tượng của Vua. Sao thì thuộc về âm, nên là tượng của bề tôi. Nay sao yêu hiện ra biến đổi, là tai họa của âm thịnh. Thần sợ rằng trời cảnh cáo bệ hạ không phải ở nơi xa xôi bốn biển muôn dặm, mà là ở ngay bên cạnh trước sau của bệ hạ. Thần trộm nghĩ rằng sự thiếu sót hiện nay, không gì lớn hơn việc đạo Vua quá mềm yếu, mà đạo bề tôi quá thịnh.

Bệ hạ tin dùng đại thần, ủy thác và tin tưởng hoàn toàn, chưa từng nghi ngờ. Lòng nhân ái đối với bề tôi đã đến cực điểm rồi. Nhưng nghĩa trị bề tôi thì dường như chưa thi hành. Nay trong thiên hạ nhân tài không thiếu, đều muốn tự nguyện hiến thân như chó ngựa để giúp thời thánh. Nhưng có nghe rằng bệ hạ muốn thăng chức cho một hai người, mà những kẻ thân cận không thích và ghen ghét, ắt sẽ nhiều lần ngăn trở, khiến họ không thể tiến cử được.

Bệ hạ muốn cách chức một hai người, mà những kẻ thân cận thích và thiên vị, ắt sẽ ra sức bảo vệ, khiến họ không bị tổn hại. Kẻ nào khéo nịnh hót, giỏi xu nịnh, ngày đêm chạy chọt cửa quyền thần, dù hèn kém cũng được tiến cử. Kẻ sĩ nào đứng đắn, ngay thẳng, không a dua, ít lui tới xin xỏ, dù được mọi người kính phục, ắt cũng bị đẩy lui. Bệ hạ xem các bề tôi không phân biệt thân sơ, không tỏ ra yêu ghét, nhưng bọn thân cận và đảng phái đầy rẫy nơi trọng yếu, thỏa mãn ân oán, tùy ý dùng sự vui giận, như vào chỗ không người. Thiên hạ uất ức, bóp cổ tay, câm lặng không dám nói. Thần xin kể sơ lược một hai sự thật, mong bệ hạ xem xét.

Thần trộm nghĩ rằng bệ hạ rộng xem xét và lắng nghe, muốn nghe những điều chưa từng nghe, chỉ dùng các quan đài gián, lập nên nơi phong hiến, làm quan tai mắt mà thôi. Theo chuyện cũ của tổ tông, phàm việc thăng giáng các quan ngôn sự, dù là chấp chính cũng không được dự vào, là để ngăn chặn việc đài gián tư thông với tể tướng. Những năm gần đây, Thái Biện đã làm chấp chính, lại để anh là Thái Kinh tiến cử quan đài, những người được anh tiến cử, há không tư vị cho em mình sao?

Huống chi thường nghe bệ hạ sai Hoàng Lý, Thái Kinh mỗi người tiến cử ba người có thể làm ngự sử, nhưng hai người do Lý tiến cử không được triệu, dù có triệu cũng chỉ làm giám ty mà thôi. (Ngày 17 tháng giêng, sai Lý, Kinh mỗi người tiến cử một người và Lâm Hi.) Ba người do Kinh tiến cử đều được triệu đối, hai người làm ngự sử, một người làm giám ty, bốn phương trông ngóng, ai nấy đều muốn vào cửa nhà họ Thái, chỉ sợ không kịp. Như thế thì những lỗi lầm của chấp chính, bệ hạ làm sao biết được?

Bệ hạ sai giám ty đi xét các lộ, muốn biết nỗi khổ của dân chúng, sự tốt xấu của quan lại, dù xa xôi muôn dặm, cũng như ở trước mắt, không gì không biết, nên đặt ra lệnh, phàm những chức vụ có quan hệ thống thuộc, và những việc liên quan, đều phải tránh thân thích, là muốn giám ty và bộ thuộc không che giấu lừa dối nhau. Nay Chương Tiết làm nguyên soái Kinh Nguyên, lại dùng con rể là Lưu Hà tạm quyền, lại để ông ta chuyên lo việc ứng phó quân nhu Kinh Nguyên, trước đây tiến đắp thành Bình Hạ, bị giặc cướp phá, mà tấu báo không đến triều đình, thì những việc khác có thể biết được. Như thế thì những sai lầm của nguyên soái, hoặc việc quân nhu thiếu thốn, bệ hạ làm sao biết được?

Bệ hạ thưởng công phạt tội, thăng giáng quần thần, để khuyến khích và ngăn chặn thiên hạ, lẽ ra không nên có chút sai sót nào. Nhưng hiện nay, các tướng lĩnh biên cương như Phu Diên, dùng binh lực và dân lực của một lộ để xây dựng ba thành, mà mỗi lần thưởng chỉ được thăng một bậc quan chức. Kinh Nguyên Chương Tiết dùng binh lực của bốn lộ và dân lực của ba lộ, tổn thất rất nhiều, chỉ xây được một trại thành An Tây, nhưng phần thưởng lại được thăng từ chức Triều Tán lên Triều Nghị, từ chức Tu Soạn lên Mật Trực.

Bệ hạ đối với Phu Diên sao lại bạc bẽo, còn đối với Kinh Nguyên sao lại hậu đãi như vậy? Há chẳng phải vì Chương Tiết là anh của Tể tướng Chương Đôn nên được ưu đãi sao? Bệ hạ phân công các Giám ty ứng phó việc cung cấp lương thảo cho các lộ, như Thiệu (Dược Ti) ở Phu Diên, đích thân đến kiểm tra việc vận chuyển, đến khi công thành, phần thưởng chỉ là một chức quan. (Ngày 18 tháng 5.) Trương Tuân ở Hi Hà, an nhiên nằm ngủ, chưa từng đến biên cương, nhưng phần thưởng Kim Thành[13], từ Quyền Phát Khiển Vận Phó, thăng lên Đô Chuyển Vận Sứ, lại được thêm chức Bí Các. (Ngày 11 tháng 4.)

Bệ hạ đối với Phu Diên sao lại xa cách, còn đối với Hi Hà sao lại thân thiết như vậy? Há chẳng phải vì Trương Tuân là em rể của Tể tướng Chương Đôn nên được đặc biệt ưu đãi sao? Đây là sự sai lầm trong việc thưởng công của Bệ hạ.

Bệ hạ khích lệ nhân tài, dùng danh tiếng để khuyến khích, dùng vinh dự để thu hút, đó là chính sách đổi mới hàng ngày. Vì vậy, danh tiếng của văn thần là được làm Lưỡng Chế, còn danh tiếng của võ thần là được làm Hoành Hành. Những người đội mũ Nho, phải có học vấn uyên thâm hoặc tài năng xuất chúng, từng làm quan Thị Tòng hoặc Biên Soái, Phát Vận Sứ Phó nhiều năm, mới có thể được làm Lưỡng Chế. Những người đeo kiếm võ, phải có công lao lớn hoặc uy tín cao, được triều đình tin cậy, mới có thể được làm Hoành Hành.

Thần thấy Lữ Gia Vấn được điều làm Phát Vận Sứ, (Ngày 19 tháng 1.) chưa đầy vài tháng, không phải do tấu kế hay làm Phó khanh Lục Bộ, đã được thăng làm Đãi Chế. (Ngày 15 tháng 5.) Thiên hạ đều nói, con trai của Gia Vấn cưới con gái của Vương Bàng, Thái Biện cưới em gái của Vương Bàng, lại thêm Gia Vấn và Thái Biện kết thành đảng phái từ lâu, năm ngoái vô cớ cách chức Hộ Bộ Lang Hà Uyển, là Thái Biện trả thù cho Gia Vấn. Thần không biết việc Gia Vấn đột nhiên được làm Lưỡng Chế, có phải là ý của Bệ hạ không?

Thần lại thấy Trương Phó, vừa từ chức Tả Tàng Khố Phó Sứ, không do công lao, cũng không có tài năng gì, đã được làm Hùng Châu Soái với chức Cáp Môn Phó Sứ. Thiên hạ đều nói Trương Phó là em vợ của Chương Đôn, cuối năm Nguyên Phong, nhờ Chương Đôn làm Tể tướng mà được thăng chức, từ khi Chương Đôn làm Tể tướng, chưa đầy ba năm, đã nhiều lần thay đổi chức vụ, chẳng phải là để nắm quyền ở các quận trọng yếu và binh quyền sao? Thần không biết việc Trương Phó đột nhiên được làm Hoành Hành Biên Soái, có phải là ý của Bệ hạ không? (Ngày 19 tháng 8.)

Chương Đôn khi còn làm quan nhỏ, có người tên Lý Tham từng tiến cử ông, nay con cháu của Lý Tham là Lý Xung, Lý Diên Tự đều làm Giám ty. Lý Xung trước đây vì không đủ năng lực bị cách chức, nay đột nhiên được làm Hà Bắc Vận Phán, Lý Diên Tự đang làm Giám Đương, đã được làm Hoài Đông Đề Cử Quan. Đây là việc ai cũng biết Chương Đôn báo đáp ân tư. Thái Biện là con rể của An Thạch, có người tên Đặng Uyển từng tiến cử Biện với Tiên Đế, để lấy lòng An Thạch, Tiên Đế thấy rõ sự gian trá, nổi giận đuổi đi, lời dụ chỉ rõ là gian thần, thiên hạ đến nay vẫn truyền tụng. Nay con của Uyển là Tuân Nhân, Tuân Vũ cùng được triệu đối, một người làm Hiệu Thư Lang, một người làm Đề Cử Quan, Tuân Vũ lại kiêm chức Tu Sử Kiểm Thảo. Đây là việc ai cũng biết Thái Biện báo đáp ân tư.

Thần kính nghĩ rằng từ khi Bệ hạ lên ngôi, trong thì sửa sang chính sự, ngoài thì đánh dẹp xa xôi, phúc lớn của thiên hạ không gì hơn thế. Bệ hạ lại thi hành chính sách miễn dịch, vốn là để khoan thứ cho dân, nhưng việc thu thuế của dân thì không nhẹ. Bệ hạ chú ý an định biên cương, vốn là để nuôi dưỡng dân, nhưng tai họa đến với dân lại trước tiên. Nguyên nhân của việc này là do dùng Thái Kinh làm người định chế độ, dùng Chương Tiết làm tướng, nên không thể không như vậy.

Tại sao vậy? Thái Kinh khi mới nghe chính sự trong màn trướng, thực sự là người phụ trách việc ở Khai Phong phủ, lúc triều đình thay đổi chế độ thuê mướn, Thái Kinh liền thi hành chế độ sai dịch, làm gương cho thiên hạ. Lúc đó, tờ tấu của Chương Đôn nói rằng ở huyện Tường Phú có hơn một nghìn một trăm người làm dịch vụ, trong vài ngày đã được phân công xong xuôi, thực sự là do Thái Kinh chủ trì việc này. Vậy thì người như Thái Kinh, có thể để ông ta định chế độ được không?

Vì thế trước khi sách dịch ban hành, Thái Kinh đã đơn độc dâng tờ tấu, xin định số người và tiền thuê theo nguyên tắc thời Nguyên Phong, để che đậy việc cũ. Lại ngầm tạo ra lời vu cáo, nói rằng đồng liêu cũng thi hành chế độ sai dịch, khiến nghị luận rối ren, trì hoãn thời hạn, lời nói không đúng, bị thiên hạ chê cười. Đến khi sách dịch ban hành, Bệ hạ tuy có chiếu cho các lộ, cho phép phân tích lợi hại, tâu lên triều đình, nhưng quyền lực của Thái Kinh có thể thăng giáng chức vụ của các giám ty, ai dám trái ý ông ta? Đó là lý do chế độ dịch chưa hoàn thiện, mà trái với ý định ban đầu của Bệ hạ.

Chương Tiết vào thời Nguyên Hựu làm Chuyển vận sứ Thiểm Tây, khi Phu Diên bỏ hai trại Mễ Chi và Phù Đồ, Tiết ở thành Tuy Đức triệu tập các tướng tá, bày tiệc lớn, vui mừng chúc tụng. Lại dâng biểu chúc mừng, coi việc bỏ đất là việc lớn, được thăng làm tướng Khánh Châu, gặp giặc xâm phạm mà bố trí sai lầm, giết hại dân chúng không kể xiết, triều đình sai sứ đi xét nghiệm, sự việc rất rõ ràng. Vậy thì người như Chương Tiết, có thể để ông ta làm tướng được không?

Vì thế Chương Tiết mới đến Vị Châu được nửa tháng, đã vội xin tiến hành xây dựng, để chuộc tội trước, lại tâu xin bổ nhiệm con của Triệu Tiết làm Cán đương công sự quan, muốn bịt miệng ông ta. Vội vàng không chuẩn bị, làm phiền triều đình điều động quân mã bốn lộ Hoàn Khánh, Tần Phượng, Hi Hà, Kinh Nguyên để phòng thủ[14], lại đuổi xe cộ và nhân phu ba lộ Hi Hà, Tần Phượng, Kinh Nguyên để chở lương, chở trăm thứ, hao phí vô cùng, mà giữa đường lại dừng lại, vườn tược và mồ mả trong lộ bị chặt phá không kể xiết, rốt cuộc cũng không dùng đến. Già trẻ than thở oán hận, đầy rẫy trên đường, binh lính chết chóc, tướng tá bị giết, vợ con khóc lóc, tiếng kêu vang khắp nơi.

Năm nay Ung, Hoa mất mùa mà nông dân lưu lạc chưa dễ dàng ổn định, chỉ vì việc xây dựng ở Kinh Nguyên, lao động dân chúng, các lộ lân cận sợ bị liên lụy, chưa dám trở lại làm ăn! Đó là lý do việc biên cương chưa yên, mà để lại nỗi lo sâu xa cho Bệ hạ. Thái Kinh là tội nhân của chế độ dịch, Chương Tiết là tội nhân của biên phòng, thiên hạ đều biết, triều đình và dân chúng đều giận, nhưng không ai dám nói, chỉ vì Thái Kinh là anh của Thái Biện, Chương Tiết là anh của Chương Đôn, ai dám nói ra để chuốc họa? Các bề tôi can gián, từ khi Thượng Quan Quân, Tôn Ngạc vì việc tâu trình mà bị điều ra ngoài, dám bàn luận về cận thần, ắt cũng ít rồi.

Thần nghe rằng các bậc hiền tài hòa hợp trong triều, thì vạn vật hòa hợp ngoài đồng nội, chín chức quan đông đủ, là thời thịnh trị của Vua Nghiêu, Vua Thuấn. Nay các đại thần bàn việc trước ngai vàng, có khi tranh cãi ồn ào không dứt, lúc ở trong chính sự đường, lại dùng lời ác ý xúc phạm nhau. Bệ hạ chưa gia hình trách phạt, vốn là do đức độ bao dung, nhưng kỷ cương triều đình không nghiêm, biết làm sao đây? Các vị tể tướng đều có lòng riêng, thì sao có thể cùng nhau kính cẩn, để lo việc nước? Thiên hạ trông vào, sẽ nghĩ thế nào?

Khổng Tử nói: “Thiên hạ có đạo, thì lễ nhạc chinh phạt đều do thiên tử quyết định.” Những năm gần đây, việc biên cương khởi sự, là việc lớn của chinh phạt, bệ hạ không tự mình quyết định được sao? Bàn về việc quan trọng của biên thần, quyền bính quân sự, thì Hà Bắc không đâu bằng Hùng Châu, Thiểm Tây không đâu bằng Kinh Nguyên, Hi Hà. Nay Hùng Châu dùng em vợ của tể thần, Kinh Nguyên dùng anh của tể tướng, Hi Hà dùng em rể của tể tướng, Hi Hà tuy nói là quyền nhiếp, nhưng thực tế đã nắm việc chỉ huy quân đội hơn một năm rồi. Ba vị tướng đều là thân thích của tể tướng, mọi mệnh lệnh về việc biên cương, chỉ dùng thư riêng mà thôi.

Bệ hạ không lo nghĩ cho muôn đời sao? Tổ tông có việc như thế này chăng? Trong một năm, mùa xuân thì Hi Hà động đất, mùa thu thì trong cung có tai họa lớn, lại có sao chổi xuất hiện ở phương Tây, đều là điềm dị lạ của âm khí cực thịnh, bệ hạ không thể không lo nghĩ.

Thần trước đây đã trình bày, chỉ nêu ra một hai việc thực tế để trình lên bệ hạ nghe mà thôi. Như Vương Bàng bị bệnh tâm thần mà vẫn được giữ chức quán chức (ngày 3 tháng 10 năm thứ 3), Thiệu Tài mắc bệnh hay quên mà được bổ làm Tri châu Việt Châu, Lương Chi Mĩ làm Đề điểm hình ngục (ngày 6 tháng 4 năm thứ 3), Chu Chi Đạo làm Hình bộ thị lang (ngày 17 tháng 7), những việc như thế này đều là do ý riêng của tể tướng, không thể kể hết, không dám kể chi tiết, sợ làm phiền bệ hạ. Đó đều là do bệ hạ đối đãi với cận thần quá nhân từ nhu nhược mà bị họ khống chế.

Kinh Thư nói: “Chỉ có Vua mới tạo phúc, chỉ có Vua mới tạo uy.” Khổng Tử nói: “Chỉ có danh và khí, không thể cho người khác mượn.” Kính mong bệ hạ nghĩ đến công lao khó nhọc tích lũy của tổ tiên, tự mình nắm lấy quyền uy phúc lộc của bậc nhân chủ, chọn lựa những bậc hiền sĩ chính trực để làm người can gián, ủy nhiệm những bậc hiền thần trung thành để giúp đỡ, điều khiển anh hùng khiến họ vui lòng dốc sức, bài trừ gian nịnh khiến họ không thể thi thố mưu kế. Như thế thì trời đất hòa hợp, tai họa không xảy ra, điềm lành liên tiếp đến, mùa màng bội thu, những biến động thiên văn cũng không đáng lo ngại. Thần lại thấy sao chổi xuất hiện báo điềm chưa đầy mười ngày thì mặt trời che khuất nó, khiến nó không còn thấy nữa.

Bệ hạ như mặt trời, bề tôi như sao, bệ hạ tự thu lấy uy phúc, giảm bớt quyền lực của đại thần, khiến đạo Vua ngày càng thịnh, đạo bề tôi ngày càng suy, đó chính là ứng nghiệm của việc mặt trời che khuất sao chổi. Kính mong bệ hạ lưu tâm!”

(Lưu Hà, ngày 6 tháng 5, được thăng một chức từ chức Đề hình Vĩnh Hưng. Thiệu {Dược Lộc}, ngày 17 tháng 2 nhuận, từ chức Phó sứ Hà Bắc được bổ làm Phó sứ Thiểm Tây, ngày 6 tháng 5, được thăng một chức từ chức Phó sứ Thiểm Tây.

Trương Tuân[15], ngày 8 tháng 10 năm thứ 2, được bổ làm Phó sứ Thiểm Tây từ chức Phát vận sứ, ngày 11 tháng 4 năm thứ 4, được bổ làm Trực bí các, Đô vận sứ Thiểm Tây.

Lữ Gia Vấn, ngày 19 tháng 1, được bổ làm Phát vận sứ từ chức Tri châu Vận Châu, ngày 15 tháng 5, được bổ làm Bảo chế, Tri châu Thanh Châu. Trương Phó, ngày 19 tháng 8, được bổ làm Cáp sứ, Tri châu Hùng Châu.

Lý Trọng, ngày 21 tháng 2 nhuận, được bổ làm Đề cử khai tu Ngự hà từ chức Thừa nghị, ngày 24 tháng 3, được đổi làm Vận phán Hà Bắc.

Lý Diên Tự, ngày 26 tháng 12 năm thứ 4, được bổ làm Chuyển vận phán quan Thành Đô phủ lộ từ chức Đề cử thường bình Hoài Nam Đông lộ. Đặng Tuân Nhân, ngày 8 tháng 3 năm Nguyên Phù thứ nhất, được đổi làm Vận phán Kinh Nam từ chức Đề cử Hà Đông.

Đặng Tuân Vũ, ngày 14 tháng 5 năm thứ 3, được bổ làm Bí thư thiếu giám từ chức Hữu sử. Vương Bàng, ngày 3 tháng 10 năm thứ 2, được bổ làm Chính tự.

Thiệu Tài, ngày 6 tháng 8, được bổ làm Hình ngoại. Lương Tử Mĩ[16], ngày 6 tháng 4 năm thứ 3, được bổ làm Đề hình Quảng Tây từ chức Đề cử Hồ Nam.

Chu Chi Đạo, ngày 16 tháng 7, được bổ làm Hình bộ thị lang.)


  1. Theo 《Tống hội yếu》 phần Thực hóa 68-49 ghi chép chiếu này, nhưng ở dưới 'Đề cử thường bình ty' có thêm 'các chính sách cứu đói cần thiết phải thi hành'.
  2. Thần nghĩ không có cách nào giao thiệp với họ 'cách' bản Các chép là 'dấu vết'.
  3. dẫn Văn Ngạn Bác và những người khác để bảo vệ chúa thượng, chữ 'bối' trong bản các bản viết là 'Đổng', 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 107 viết là 'ký'
  4. Giám sát Ngự sử Đặng Bùi, xem 'Đặng Bùi' ở dưới viết là 'Đặng Phỉ'.
  5. Đời đều ghét, chữ 'ghét' nguyên bản viết là 'tăng', căn cứ vào bản trong các kho và ý nghĩa văn mà sửa.
  6. Xin trọng gia biên quản, 'trọng gia' trong các bản viết là 'đặc hành'.
  7. Nếu kẻ quản hạt hoặc người liên quan nhận hối lộ mà biết tình thì cùng chịu tội. 'Phân nhược' nguyên bản đảo ngược, 'can' nguyên bản viết 'Thiên', theo các bản khác sửa lại.
  8. Ngày 20 tháng 9, các bản khác chép là ngày 2
  9. 'Thành châu', bản các bản ghi là 'Uy châu'.
  10. Do không làm tròn chức trách 'chức' nguyên bản là 'thức', căn cứ vào các bản và 《Tống hội yếu》 chức quan 67-20 'ngồi không biết chức trách' sửa lại.
  11. Bãi chức Trạch là rất tốt 'tốt' nguyên bản là 'mừng', căn cứ vào các bản sửa lại.
  12. Thần từng trình bày 'từng' nguyên là 'lỗ', theo các bản sửa lại.
  13. 'Thưởng' nguyên là 'phí', theo bản khác và ý văn sửa lại.
  14. Kinh Nguyên tứ lộ quân mã dĩ vi phòng thác 'Quân mã' nguyên đảo ngược, theo các bản và tham khảo Tống sử quyển 328, truyện Chương Tiết sửa lại.
  15. Trương Tuân nguyên bản là 'Trương Tuân', theo văn trên, quyển 350 truyện Vương Chiêm trong 《Tống sử》 và 《Tống hội yếu》 binh 14-6 sửa lại.
  16. Lương Tử Mĩ trong văn trên viết là 'Lương Chi Mĩ'.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.