"

III. TỐNG CHÂN TÔNG

QUYỂN 84: NĂM ĐẠI TRUNG TƯỜNG PHÙ THỨ 8 (ẤT MÃO, 1015)

Từ tháng giêng năm Đại Trung Tường Phù thứ 8 đời Chân Tông đến hết tháng 6 cùng năm.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Nhâm Ngọ (mùng 1), chuẩn bị xe loan giá, đến điện Thái Sơ ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, dâng biểu tấu cáo tôn hiệu Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế. Bày trí như nghi lễ đại tế, chỉ có ba lần dâng rượu và uống rượu phúc đều dùng chén vàng. Các quan mặc triều phục đứng hầu, sứ giả các nước, người thi cử, tù trưởng các bộ tộc, đạo sĩ, tăng ni, người già và dân chúng trong các phường phố đều tập trung trước cửa cung. Theo nghi thức cũ, hoàng đế lạy hai lần trên điện, còn các quan không lạy. Vì muốn làm gương cho thần dân, các quan định rằng hoàng đế lạy hai lần, cả trong và ngoài đều lạy. Lệnh cho các châu đều lập đạo trường, thiết lễ cúng tế và dâng biểu, các nhà thần dân đều đặt bàn hương, thắp hương hướng về cung lạy, các quan kiểm tra việc này. Ngày hôm đó, đưa thiên thư khắc ngọc vào an vị tại gác Bảo Phù, tạc tượng hoàng đế mặc triều phục đứng hầu. Hoàng đế lên gác, chuẩn bị nhạc đăng ca, dâng lễ. Sau đó, trở về điện Sùng Đức nhận lễ chúc mừng. Đại xá thiên hạ, trừ những tội như thập ác, tham nhũng và giết người, còn lại đều được tha. Các quan văn võ trong ngoài đủ ba năm, các quan sẽ khảo sát và tâu lên. Những ruộng dân ở ven sông Hoàng Hà, Giang Nam, Hoài Nam và Lưỡng Chiết bị thiên tai lũ lụt đều được miễn thuế.

[2] Ngày Đinh Hợi (mùng 6), ban cho cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng và Quốc Tử Giám mỗi nơi một bộ kinh sách in.

[3] Ngày Kỷ Sửu, Xu mật viện tâu: “Theo chiếu, định lệ ơn huệ cho con em được tập ấm trong dịp lễ Thừa Thiên và Nam Giao: Tể thần, Xu mật, Tiết độ sứ kiêm Bình chương sự, con trai được bổ làm Đông đầu cung phụng quan, em trai, cháu trai, cháu nội làm Tả thị cấm; Xu mật sứ, Tham tri chính sự, Xu mật phó sứ, Tuyên huy, Tiết độ sứ, con trai được bổ làm Tây đầu cung phụng quan, em trai, cháu trai, cháu nội làm Hữu thị cấm; Tả, Hữu bộc xạ, Thái tử tam thiếu, Ngự sử đại phu, Văn minh điện học sĩ, Tư chính điện đại học sĩ, các hành Thượng thư, con trai được bổ làm Tả thị cấm, em trai, cháu trai, cháu nội làm Tả ban điện trực; Tam ty sứ, Hàn lâm, Tư chính điện, Hàn lâm thị độc, thị giảng, Long đồ các, Xu mật trực học sĩ, Tả hữu thường thị, Thượng tướng quân, Thống quân, Thái thường, Tông chính khanh, Ngự sử trung thừa, Tả hữu thừa, các hành Thị lang, Lưỡng sứ lưu hậu, Quan sát sứ, Nội khách tỉnh sứ[1], con trai được bổ làm Hữu thị cấm, em trai, cháu trai, cháu nội làm Hữu ban điện trực; Cấp sự, Gián nghị, Trung thư xá nhân, Tri chế cáo, Long đồ các trực học sĩ, Đãi chế, Tam ty phó sứ, Phòng ngự, Đoàn luyện, Khách tỉnh dẫn tiến, Tứ phương quán, Cáp môn sứ, Xu mật đô thừa chỉ, con trai được bổ làm Hữu ban điện trực, em trai, cháu trai, cháu nội làm Tam ban phụng chức; Đại khanh, Giám, kiêm chức Thiếu khanh, Giám, các châu Thứ sử, con trai được bổ làm Tam ban phụng chức, em trai, cháu trai, cháu nội làm Tá chức.

Dịp Nam Giao, từ Thứ sử trở lên theo lệ Thừa Thiên tiết, còn các vệ Đại tướng quân, Thiếu khanh, Giám, các hành Lang trung, kiêm chức Viên ngoại lang, Nội các ty sứ, Xu mật các phòng Thừa chỉ, con trai được bổ làm Tam ban phụng chức, em trai, cháu trai, cháu nội làm Tá chức; các vệ Tướng quân, các ty Phó sứ, con trai được bổ làm Tá chức; Xu mật các phòng Phó thừa chỉ, con trai lần đầu được bổ làm Đồng học cứu xuất thân, qua lần ơn huệ tiếp theo được bổ làm Tá chức. (Chiếu ban tháng 11 năm Cảnh Đức thứ 4).”

[4] Ngày đó, Trung thư dâng lên danh sách Ngự sử trung thừa Phùng Chửng ứng chiếu cử Thái thường bác sĩ, Tri Quế châu Vương Chuyên, Đại Lý tự thừa, Hà Nam phủ Quân tuần phán quan Triệu Dụ. Vua nói: “Những người được cử này nên được đối xử khác thường, đều cho thăng chức, Chuyên làm Chuyển vận phó sứ[2], Dụ làm Thông phán sai khiển.” Vương Đán nói: “Vương Chuyên trước sau có 16 người bảo cử, thăng chức đã ba năm, xứng đáng như thánh chỉ xử phân. Triệu Dụ mới được chức kinh quan, nên chỉ thăng sai khiển. Từ nay về sau, việc cử quan nên dựa vào thành tích và kinh nghiệm để tiến trình.” Vua đồng ý.

[5] Ngày Canh Dần, yến tiệc các cận thần ở Hội Linh Quán, vì lễ tấu cáo ở Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung đã hoàn tất.

[6] Thiết lập hai chỉ huy Tả Hữu Thanh Vệ trong cấm quân, đứng trên Hùng Vũ Nỗ Thủ, lương tháng 500 tiền, để phụng sự việc quét dọn cung quán.

[7] Tam ban phụng chức Viên Chiêu Khánh dâng lên cáo sắc của tổ tiên là Ngạn Chu được ban từ triều trước, trong đó có tên huý của hai vị thánh. Ngày Nhâm Thìn, chiếu thăng chức cho Chiêu Khánh, giao cáo sắc cho Tu sử viện.

[8] Chiếu rằng từ nay, phán quan Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung khi dự yến tiệc, xếp dưới các đãi chế Long Đồ các.

[9] Ngày Giáp Ngọ, sai Binh bộ Thị lang, Tu quốc sử Triệu An Nhân làm Tri Lễ bộ Cống cử, Hàn lâm học sĩ Lý Duy, Tri chế cáo Thịnh Độ, Lưu Quân cùng làm Đồng tri. Vua xem số người dự thi ở các đạo giảm so với năm thường, bèn nói: “Quan lại ngoại quận chưa hiểu ý Trẫm sao? Gần đây chiếu mệnh ban xuống nhiều lần, chỉ răn họ đừng thiên vị tư tình. Nếu có thể chọn lựa kỹ càng người tài nghèo hèn, dù nhiều cũng có hại gì?” Lại nói: “Nghe nói trong các bài thi các khoa, những quyển đạt sáu phần trở lên, nếu có chút vết bẩn dính dính, hoặc có dấu hiệu đánh dấu thì lập tức bác bỏ. Nếu thực sự do sơ suất, cũng đáng thương. Nên bảo chủ ty đừng vội bác bỏ, đến trường thi sau sẽ cho thi lại để phân biệt thật giả.” Năm đó, bắt đầu đặt ra Viện Đằng lục, lệnh quan Phong di ấn phong các quyển thi giao cho viện[3], tập hợp thư lại chép lại bản sao, các ty cung cấp lều trại, hai nội thị giám sát. Sai quan kinh đô hiệu đối, dùng ấn Phụng sứ hai kinh đóng xong, lại gửi về Viện Phong ấn, rồi mới gửi đến quan Tri cử để khảo xét.

(Việc đặt Viện Đằng lục, Thực lục không thấy chép, nghi là bản gốc thiếu, nên khảo cứu thêm ngày tháng.)

[10] Ban đầu, con nhà dân ở Tần Châu là Triệu Bão Nhất chăn trâu ngoài đồng. Một đêm, có người gõ cửa gọi, dùng gậy dẫn đi, đầu gậy có khí như khói, mùi thơm dễ chịu. Chốc lát đến đỉnh núi cao, thấy mấy người đang uống rượu, âm nhạc hòa tấu, không khác gì nhân gian, Bão Nhất sợ hãi mà không hiểu nổi. Gặp lúc Tuần kiểm sứ đi qua dưới chân núi, nghe tiếng nhạc, nghi là bọn cướp tụ họp vui vẻ, bèn tập hợp dân làng leo lên vách núi, đến nơi thì chẳng thấy gì, chỉ còn Bão Nhất ở đó, đưa xuống hỏi, kể lại đầy đủ sự việc, cả đêm như chỉ trong chốc lát. Từ đó không thích ăn đồ chín, những gì nấu bằng lửa chưa từng đưa vào miệng, chỉ ăn hoa cúc, lá bách, quả cây, nước giếng[4], thỉnh thoảng cũng uống rượu, mặt mũi như trẻ con, vốn không học văn chương, nhưng ứng khẩu thành thơ, có hứng thú đạo gia, từ đó không làm ruộng nữa, đi lang thang ngủ ngoài trời.

Năm Vua tế ở Phần Âm, đến kinh sư, vẫn còn để tóc trái đào, được triệu kiến ban tên, cho làm đạo sĩ. Từ đó mỗi năm hoặc một lần đến kinh sư, thường cho ở Thái Nhất cung. Nói chuyện với người thì phần nhiều là việc dưỡng sinh, không có lời lẽ kỳ dị ngoài đời. Bấy giờ, có chiếu miễn thuế nhà hắn.

[11] Ngày Ất Mùi, trước một ngày lễ ở Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung, sai các quan theo hầu đều kiêng thịt, nhân đó đến Thượng Thanh cung, chùa Khai Bảo Cảnh Đức. Vương Đán cho rằng xa giá đến cung chùa thắp hương tất phải lạy trăm lần, bèn xin từ nay ở chính điện lạy hai lần, các điện khác sai tể tướng phân ra lạy, Vua không cho, lại dâng biểu xin, bèn hạ chiếu cho Lễ nghi viện xét định, giảm bớt số lần lạy.

[12] Hôm ấy, con gái nhỏ của Vua là Diệu Nguyên xuất gia.

[13] Ngày Đinh Dậu, thăng Thiên thư khắc ngọc đô giám, Nội điện thừa chế, Nhập nội áp ban Chu Hoài Chính làm Như Kinh phó sứ. Các quan Mô lặc, Ngự thư viện đãi chiếu Thịnh Lượng đều được thăng chức. Ban đầu, khắc ngọc xong, Vua muốn từ Vương Đán trở xuống đều được thăng quan, Đán cố từ, lại nói Hoài Chính rất chăm chỉ, xin ban thưởng, Vua nghe theo.

[14] Ngày Mậu Tuất, Vua từ điện Tư Phúc đem sách văn thánh hiệu Ngọc Hoàng đến hậu trướng điện Triều Nguyên để khắc in, sai Chu Hoài Chính chuyên trách việc này.

[15] Có người dâng thư nói rằng từ nay các quan văn vũ nhận chức ở Xuyên Hạp mà gia thuộc có nơi nương tựa mà vẫn mang theo, xin không cho phép nhận tội. Vua đồng ý.

[16] Dời thành Lệ Châu. Trước đó, Hà Bắc chuyển vận sứ Lý Sĩ Hoành, Trương Sĩ Tốn tâu: “Sông nước cao hơn thành châu hơn một trượng, triều đình mệnh lệnh nhiều năm bắt lính sửa chữa, vì nghĩ đến việc dời thành sẽ làm dân mệt nhọc. Mùa đông năm ngoái rất lạnh, nước vẫn còn chảy xiết, nếu băng tan, ắt sẽ vỡ đê, gây họa lớn. Nay xin ở phía bắc châu bảy mươi dặm, thuộc địa phận huyện Dương Tín, nơi gọi là chùa Bát Phương, tức là chỗ đất cao, đổi xây thành châu, dùng quân lính đắp đê năm nay để giúp việc, thì sẽ có lợi lâu dài.”

Chiếu cho phép. Lệnh quyền Độ chi phán quan Trương Tích, Nội thị áp ban Chu Văn Chất đi ngựa trạm cùng Sĩ Hoành, Sĩ Tốn lo việc này, ba tháng thì xong việc. Lúc đó, thành cũ tích trữ lương thực rất nhiều, có người lo việc dời khó khăn, Sĩ Tốn thấy mấy châu ven sông đang thiếu lương, bèn tính số thừa để cho dân vay, hẹn năm sau nộp ở trị sở mới, cả công tư đều tiện lợi. Tôn Xung sau khi dời đến làm tri Tương Châu, lại dâng sớ bàn việc dời châu là không tiện, lại soạn sách về sông để dâng, sau đó nước lớn ngập thành cũ hơn một trượng.

(Theo bản truyện của Tôn Xung: Sông vỡ ở Lệ Châu, Tri Thiên Hùng quân Khấu Chuẩn xin dời châu đến Trích Hà, lệnh Xung đi xem xét, về, tâu rằng dời châu động dân, cũng không tránh khỏi việc đắp đê, không bằng đắp đê ngăn sông là tiện, bèn cho làm Tri Lệ Châu. Từ thu đến xuân, bốn lần vỡ đê, đều đắp lại.

Đến khi Chuẩn làm Xu mật sứ, cuối cùng dời châu đến Dương Tín, còn Xung vì giữ đê quá nghiêm, dân đi lại trên đê đều bị đánh, bị sứ giả tâu lên, dời đến Tương Châu. Xét theo Thực lục, Hội yếu và bản chí, thì việc bàn dời châu là do Vương Thự, Lý Ứng Cơ đề xuất, không phải do Chuẩn. Thự là con rể của Chuẩn, lẽ nào lúc đó việc bàn thực sự do Chuẩn? Đến lúc này, Thự đã đi rồi, mọi người thấy Chuẩn ở Xu mật, Lệ Châu cuối cùng dời, nên cho rằng việc dời châu thực sự do Chuẩn đề xuất, e rằng không hẳn vậy.

Xung sau khi dời đến Tương Châu, vẫn tranh luận việc dời châu là không tiện, nhưng thành cũ ngập nước hơn một trượng, thì châu há lại không dời được sao? Truyện của Xung không xét đến đầu đuôi, dường như dựa vào bia ký, hành trạng do người đương thời soạn rồi sửa chữa chút ít mà thôi, nên không đáng tin, cần xét lại.)

[17] Chiếu rằng: “Nghe nói các quân có binh lính đào ngũ, mỗi khi bắt được, thường hay vu cáo những người cùng đánh bạc. Bắt bớ quá nhiều, há chẳng phải là hình phạt lạm dụng? Từ nay các cơ quan không được truy cứu thêm, chỉ xử theo tội chính.”

[18] Ngày Giáp Thìn, Trung thư dâng danh sách các quan được cử theo chiếu, xin lấy những người đã từng nhậm chức và được nhiều người tiến cử, bổ vào các chức Tri châu đại phiên, Đề điểm hình ngục làm một bậc; Thông phán đại phiên, Tri châu tiểu quận làm một bậc; các chức Mạc chức, Châu huyện quan có đủ năm hạn và theo chiếu cũ từng nhậm chức không phạm lỗi lớn, thì giao cho Ty thuyên bổ nhiệm thay thế, xét duyệt rồi dẫn vào yết kiến. Vua theo lời tâu.

(Sự việc này ghi trong 《Hội yếu》 ngày 23 tháng giêng năm thứ 8.)

[19] Ngày Mậu Thân, sai các quan thị thần đi cầu mưa ở Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung và các đền miếu thần xã.

[20] Ngày Canh Tuất, chiếu cho Vương Khâm Nhược, Trần Nghiêu Tẩu, Phùng Chửng, Triệu An Nhân và Lâm Đặc mỗi người tiến cử một người từ chức Cung phụng quan đến Điện trực có tài võ.

[21] Trước đó, Tần Châu sai quân đi sâu vào đất địch, xây dựng trại sách, nhưng có những binh lính đào ngũ của châu làm hướng đạo để xâm phạm dân biên giới. Kiềm hạt Sầm Bảo Chính tâu xin cùng Tri châu đi tuần biên. Vương Khâm Nhược bàn theo lời xin. Vua nói: “Trẫm nghe Tần Châu mỗi năm tuần biên, việc rất trọng đại, nên giao riêng cho quan giữ chức ấy là có lý do. Nếu cùng Kiềm hạt đều đi, thì các bộ tộc phiên nhận lệnh không thống nhất, lâu ngày ắt sinh sự.” Bèn hạ chiếu dụ Bảo Chính, việc lớn nhỏ đều được tham gia bàn bạc, chỉ việc tuần biên thì chỉ cho Tri châu đi một mình, việc gì tiện lợi thì làm xong rồi báo lên Bộ thự và Kiềm hạt ty.

(《Hội yếu》 ghi việc này vào tháng giêng, nếu là tháng giêng thì Vương Khâm Nhược không nên tham gia bàn bạc; lời bàn của Khâm Nhược là do 《Bảo huấn》 chép, e chưa hẳn là Khâm Nhược, hoặc nên chuyển vào sau khi Khâm Nhược lại giữ chức Xu mật.)

[22] Lấy Tây thượng các môn sứ Hạ Thủ Uân làm Đô đại đề cử thảo trường. Trước đó, Thủ Uân giữ chức Sùng nghi sứ, cùng các Cáp môn chi hậu Lưu Thừa Ác, Lý Cư Trung cùng làm Đề điểm thảng trường. Đến nay thăng chức, nên sai giáng bậc, lại lệnh cho Thừa Ác mỗi khi có công việc thì trình báo, Thủ Uân không được ký liên đới.

[23] Tháng 2, ngày Quý Sửu, Tam ty tâu: “Việc nhập lương thóc ở Thiểm Tây, số lượng giao sao quá nhiều, dân giàu ép giá, mua rẻ rồi lại giữ lại, gây hại cho thương nhân, khiến việc nhập lương khó khăn, cần phải cải cách để trừng trị tệ nạn này. Nguyên định 100 quan giao sao, quan phủ cấp 19.000. Nay xin theo giá thị trường, mỗi 100 quan có tăng giá thì quan phủ cấp 12.000; không tăng thì cấp 11.000 để thu mua.” Vua lo việc này sẽ đoạt lợi của dân, chỉ cho tạm thời thi hành, không được lập thành định lệ.

(《Hội yếu》 mục Giác dịch cho là tháng 2 năm thứ 7, nay theo 《Thực lục》. Xét bản chí cũng có chỗ khác, cần tra cứu thêm.)

[24] Ngày Giáp Dần, nước Chiêm Thành sai sứ đến cống.

[25] Chùa Tông Chính bị cháy, các quan phụng cất ngọc điệp và sổ tịch sang nơi khác nên không bị thiệt hại, quan phụ trách chùa bị cách chức. Lệnh cho Phó sứ Diêm Thiết là Đoàn Diệp chọn đất xây lại chùa Tông Chính, từ nay quan phụ trách chùa không được mang gia đình đến ở. Nhân đó ban chiếu cho các ty khố vụ phải tăng cường phòng cháy.

[26] Chiếu cho Nội thị tỉnh chọn quan làm Lệnh cung vi Thái miếu, ai hết nhiệm kỳ mà không có sai sót thì sẽ được khen thưởng.

[27] Chuyển vận sứ lộ Quỳ Châu tâu: “Tộc người Phiền ở châu Mật, phía tây nam Kiềm Châu là Trương Thanh Tiến sai sứ đến cống ngựa.” Vua cho phép vào triều. Sau lại tâu: “Thanh Tiến đến châu Nam Ninh, bị Long Hán Sài chặn cướp, rồi giết hại lẫn nhau không ngừng.” Bèn ban sắc thư an ủi.

(Việc ban sắc an ủi là vào tháng nhuận 6, nay ghi chung. Như vậy, ngựa mà Trương Thanh Tiến cống chưa từng được đưa vào. 《Thực lục》 và 《Chính sử》 đều ghi châu Mật phía tây nam là châu Nam Ninh, nay tạm theo 《Hội yếu》. Xét 《Cửu vực chí》, Kiềm Châu quản 49 châu ki mi, riêng không có châu Mật, cần tra cứu thêm.)

[28] Kinh Tây chuyển vận sứ Trần Nghiêu Tá[5] bàn việc đào sông nhỏ ở Hoạt Châu để phân tán dòng nước, nhưng Hà Bắc chuyển vận sứ Lý Sĩ Hoành cho rằng sẽ gây họa lụt cho Ngụy, Bác, xin bãi bỏ.

Vua nói: “Mỗi người chỉ lo bảo vệ bộ phận mình, không phải là công bằng.” Ngày Bính Thìn, sai Hộ bộ phó sứ Lý Cập và Tây thượng các môn sứ Hạ Thủ Uân đi xem xét lợi hại của việc đào sông. Lý Cập và những người khác trở về, tâu rằng việc đào sông là tiện lợi, bèn quy hoạch từ phía bắc Dương Thôn, lại đào sông Hốc ở thượng nguồn để tháo nước ứ đọng, Vua chuẩn y.

[29] Vua ra chiếu cho các khoa cử nhân cũ nên tổ chức lại kỳ thi sau khi kết thúc trường thi, những người đã qua kỳ thi của Vua thì kết thúc trường thi sẽ được dẫn vào thi lại.

[30] Các thủ lĩnh Tây Phiên là Thốc Tư La, Lập Tuân, Ôn Bô Kỳ, Mộc La Đan đều sai nha lại dâng ngựa quý, ước tính giá trị khoảng 760 vạn tiền, Vua ban cho Thốc Tư La và những người khác áo gấm, đai vàng, đồ dùng trong trướng, trà và thuốc với số lượng khác nhau, tổng cộng 7.000 lạng vàng, các vật khác tương đương.

[31] Ngày Đinh Tỵ, Vua ra chiếu rằng các quan ở Lễ bộ Cống viện nếu bị bệnh đột ngột, thì giao cho sứ thần Giám môn và các quan không liên quan xem xét tình trạng của họ, nhanh chóng cho về nhà.

[32] Tam ty mượn 15 vạn quan tiền từ kho Nội tàng.

[33] Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung tâu rằng, Thái Sơ và Minh Khánh điện chỉ khi có lệnh triều đình mới được lập đạo tràng, còn hoàng thân và cận thần được phép ở Tử Vi điện và dưới gác Bảo Phù, những người khác chỉ được ở các điện nhỏ và nhà của đạo quan để làm lễ cầu đảo, Vua đồng ý.

[34] Ngày Nhâm Tuất, cấp cho thành Lung Can thuộc lộ Kinh Nguyên 20 vạn quan tiền công dụng mỗi năm. Lúc đó, Đô kiềm hạt Tào Vĩ và những người khác tâu rằng, dân trong thành này bán rượu mỗi năm được 230 vạn quan, xin lấy số tiền dư ra để cấp cho công dụng, nên có lệnh ban này. Tào Vĩ lại tâu rằng, bốn tăng nhân Tây Phiên ở biên giới Kinh Nguyên là Lý Thạc Lâm Bố Tề và những người khác xin ban áo cà sa tía và hiệu sư, Vua chuẩn y.

[35] Ngày Bính Dần, phong Sở vương Nguyên Tá làm Thiên sách Thượng tướng quân, Hưng Nguyên mục, ban cho đặc quyền mang kiếm lên điện, chiếu thư không gọi tên. Thời Đường và Hậu Đường, chức Thiên sách Thượng tướng quân đều được mở phủ, nhưng lúc này Nguyên Tá đã lâu ngày bệnh nặng, nên chỉ ban thêm hiệu mà không mở phủ, vẫn xếp tước hiệu trên hàng công thần. Hoàng đế nói với các tể thần: “Sở vương được gia ân, Hưng Nguyên phủ chắc chắn sẽ cử người đến, gây phiền nhiễu, nên nhanh chóng ngăn lại.” Từ đó bắt đầu chức phủ mục.

[36] Dân chúng Hoài Nam, Lưỡng Chiết bị đói. Ngày Đinh Mão, sai Tri chế cáo Trần Tri Vi, Hộ bộ phán quan Ngu bộ Viên ngoại lang Viên Thành Vụ cùng bốn người khác đi các nơi tuần phủ, đến nơi xem xét chỗ thiếu lương thực, quy hoạch chuyển cấp, đồng thời xem xét khả năng của các sứ thần tuần kiểm, nếu có người lơ là chức trách thì thay đổi và báo lên.

[37] Tăng thêm 50 vạn tiền công dụng hàng năm cho châu Thiền, theo lời thỉnh cầu của Tri châu Cận Hoài Đức. Hoàng đế từng nói với Vương Đán: “Hoài Đức làm quan liêm chính, siêng năng, không khoe khoang quyền thế, tự mình đi tuần tra phu dịch trên sông, nếu có ai tố cáo thì lập tức xử lý ngay giữa đám đông, vì thế dưới quyền không ai dám phạm lỗi. Gần thành có một khu vườn nhỏ, nội thị đi qua, hỏi người làm vườn, người ấy nói: ‘Trước đây phải nộp rau cho châu, từ khi Hoài Đức đến thì bãi bỏ.’ Người cẩn thận như vậy, có thể giao việc quan trọng.” Vương Đán nói: “Hoài Đức xuất thân từ kinh học, thông thạo mọi việc, năm nay mới 70 tuổi, càng tinh thông việc quan, thật đáng khen ngợi.”

[38] Ngày Mậu Thìn, ban chiếu cấm các cơ quan tấu việc xin chỉ thị mà còn do dự không rõ ràng. Trước đó, Lại bộ dẫn tuyển nhân, Trung thư vì có nhiều người tiến cử, việc tra xét chưa xong, lại phạm tội nhầm lẫn khiến người khác bị án tử, theo chiếu được tha, sai bổ nhiệm chức nhỏ, Lại bộ tấu xin chỉ thị. Hoàng đế nói: “Việc này nên theo chiếu mà xử.” Nhân đó ban chiếu cấm rõ ràng hơn.

(Sự việc ngày 17 tháng 3, ghi theo 《Hội yếu》, cần xem xét thêm.)

[39] Ngày Quý Dậu, Hoàng đế thân hành đến cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, viếng chùa Khai Bảo và cung Thượng Thanh để cầu mưa.

[40] Ngày Giáp Tuất, lệnh cho châu Đăng xây dựng quan thự ở cửa biển Bát Giác Trấn để đón tiếp sứ giả Cao Ly và Nữ Chân.

[41] Ngày Ất Hợi, xuống chiếu cho lộ Hoài Nam dùng thóc trong kho nấu cháo để cứu đói dân. Sai quân đóng giữ năm châu Dương, Sở, Tứ, Lư, Nhuận, mỗi châu một chỉ huy để phòng ngừa trộm cướp.

[42] Ngày Bính Tý, xuống chiếu cho Lễ bộ Cống viện, những người thi tiến sĩ sáu lần, các khoa chín lần trở lên, tuy không đỗ, đều cho phép tâu tên lên.

[43] Trần Nghiêu Tư, người coi quân Vĩnh Hưng, Long đồ các Trực học sĩ, thường hay lấy khí thế áp chế người khác. Chuyển vận sứ Nhạc Hoàng Mục dâng biểu tâu việc này, xin được giải chức, nhưng chiếu không cho phép. Ngày Kỷ Mão, đổi Nghiêu Tư làm Tri phủ Hà Nam kiêm Lưu thủ ty sự. Vua nghe tin Nghiêu Tư thường buông thả, làm nhiều việc trái phép, bèn xuống chiếu cho Hoàng Mục điều tra, thu thập đầy đủ chứng cứ. Vua không muốn xử nặng, chỉ cách chức, đổi làm Tri châu Đặng.

Một hôm, Vua nói với tể tướng: “Có người nói Hoàng Mục ở Thiểm Tây quy định việc biên giới, ngay cả chủ tướng cũng ít khi được khoan dung.” Vương Đán nói: “Thời Thái Tổ, các quan biên giới thường ngang ngược, nếu có được một văn thần hơi chấn chỉnh kỷ cương, đã là xứng chức.” Vua nói: “Gần đây nghe nói các quan ngoài thường hay do dự, Hoàng Mục nếu có thể như vậy cũng đáng khen. Nhưng không nên quá đáng sinh sự, nên bí mật răn bảo ông ta.”

(Việc Nghiêu Tư đổi làm Tri châu Đặng vốn là ngày Nhâm Thân tháng tư, nay gộp lại viết.)

[44] Ngày Canh Thìn, mưa lớn, Vua làm bài thơ “Cam trạch ứng kỳ ca” ban cho các quan cận thần.

[45] Tháng ba, ngày Tân Mão, Trung thư dâng lên danh sách các quan được quần thần tiến cử theo chiếu chỉ. Vua xem xong, nói: “Hoàng Phủ Tuyển, người ta nói ông ấy thích bàn luận về chính sự dân sinh. Trần Ráng, cũng nghe nói có tài năng làm quan.” Vương Đán và các quan nói: “Tuyển thích noi gương người xưa, nhưng khi xử lý công việc thì xa rời thực tế, không có ích gì. Ráng đỗ kỳ thi chế sách loại ưu, làm quan ở ngoài có tiếng tốt, nhưng tính tình kiêu căng.” Lúc đó Lý Vĩnh Tích cũng nằm trong danh sách tiến cử, Vương Đán và các quan nói: “Vĩnh Tích chính là người trước đây dâng sớ bậy bạ nên bị cách chức.” Vua bèn nói: “Các bậc sĩ phu, nhiều người thích chê bai, gần đây lại hay a dua với người có chức vụ, lâu ngày sẽ thành bè phái, nên ngăn chặn từ gốc.” Vương Đán và các quan nói: “Đời Đường Văn Tông, hai họ Lý kết bè kết phái, thay nhau thăng chức giáng chức, đến cuối đời không tránh khỏi họa, chính là do vậy.”

[46] Ngày Giáp Ngọ, Vua lại soạn văn tế cáo các núi, đều sai sứ khắc vào bia đá trong miếu.

[47] Ngày Đinh Dậu, ban cho Ung Châu 20 vạn tiền công dụng, vì đất này quản lý các động người Man, để dùng vào việc khao thưởng.

[48] Ngày Mậu Tuất, Triệu An Nhân và các quan dâng lên danh sách tên họ những người đỗ kỳ thi của Lễ bộ. Vua quay lại nói với tể tướng: “Kỳ thi năm nay, dường như ít lời chê bai. An Nhân và các quan vừa tâu, Trẫm cũng đã nói với họ như vậy.” Vương Đán nói: “Quy chế đầy đủ, có thể tuân theo mà thi hành, công bằng vô tư, thực sự là nhờ vậy.”

[49] Ngày Quý Mão, Vua ngự điện Sùng Chính để phúc khảo, loại bỏ nhiều người; lại nghi ngờ những chỗ chấm phẩy có chỗ chưa đúng, bèn sai tể tướng xem xét lại. Vương Đán nói: “Quan khảo thí quá khắt khe, Bệ hạ cũng ở trong số đó.” Do đó, lấy đỗ tiến sĩ Thái Trạch trở xuống 197 người, đều ban cho đỗ đệ, 6 người đồng xuất thân.

Lại ban cho 78 người đỗ đặc cách tiến sĩ có 6 lần dự thi trở lên được đồng Tam lễ xuất thân, ban cho 363 người đỗ các khoa khác được đỗ đệ và đồng xuất thân, thí làm Chủ bạ Tương tác giám, bổ nhiệm chức quan theo chế độ năm đầu.

Khi Thái Trạch đã được định đỗ, Vua hỏi Vương Đán rằng: “Có ai biết tên họ của họ không?” Đều trả lời: “Không ai biết, thật là tìm kiếm người tài nghèo khó vậy[6].”

[50] Theo lệ cũ, khi ban đỗ, phải triệu vài người đỗ cao đến yết kiến, lại xem xét tài năng rồi mới ban đỗ nhất. Lúc đó, người Tân Dụ là Tiêu Quán cùng Thái Trạch vào yết kiến, Thái Trạch dáng vẻ tuấn tú, cử chỉ đoan trang, Vua đã có ý chọn. Tri Xu mật viện Khấu Chuẩn lại nói: “Người phương Nam không nên đứng đầu sĩ tử.” Thái Trạch bèn đỗ nhất.

Vua vui mừng bảo Khấu Chuẩn: “Được người tài rồi!” Đặc chiếu cho Kim Ngô cấp 7 ngựa, ra hai tiết truyền hô, từ đó thành lệ. Khấu Chuẩn tính tự phụ, rất ghét người phương Nam khinh bạc, sau khi ra, bảo đồng liêu: “Lại đoạt được một trạng nguyên của Trung Nguyên.”

Thái Trạch là người Giao Thủy.

[51] Hoàng đế thân hành khảo thí tiến sĩ, triệu Kiểm thảo Sùng văn viện là Phùng Nguyên giảng quẻ Thái trong《Chu Dịch》[7]. Nguyên nhân đó suy luận rằng: “Đạo của Vua là tối cao, đạo của bề tôi là rất thấp, phải lấy thành tín cảm hóa lẫn nhau thì mới có thể phụ tá giúp đỡ thành công.” Hoàng đế vui mừng, đặc biệt ban cho áo mũ ngũ phẩm.

[52] Ngày Giáp Thìn, ban chiếu tăng thêm 20 vạn tiền công dụng hàng năm cho quân Trấn Nhung. Ban đầu, quân này được cấp 130 vạn mỗi năm, vì địa phương nằm ở vùng biên giới xa xôi, quân đồn trú khá đông nên tăng thêm. Lại ban thêm 1.000 lạng bạch kim để chuẩn bị khí dụng.

[53] Lại ban thêm tiền thiêm chi cho các trưởng lại ở phủ Phượng Tường, Hà Trung và châu Thanh Đàm với số lượng khác nhau.

[54] Ngày Ất Tỵ, ban chiếu rằng những binh sĩ ở các châu biên giới bị bộ tộc phiên đưa về quan, nếu thực sự đầu hàng phiên thì xử theo sắc lệnh cũ; nếu vì trốn tránh nghĩa vụ thì xử phạt và ghi vào sổ bộ của chỉ huy đó. Đây là theo đề nghị của Tri quân Trấn Nhung là Lý Dư Ý.

[55] Tháng 4 mùa hạ, ngày Tân Hợi, bổ nhiệm Điện trung thị ngự sử Liêu An Thế làm Tri châu Thái Bình. Trong ngày thi cử nhân ở triều đình, An Thế làm quan phong di, không kịp thời xin vào chầu, mong cầu ân sủng nên bị điều đi.

[56] Ngày Quý Sửu, triệu tập tể tướng đến Ngọc Thần điện xem sách, xem các bài luận do hoàng đế soạn như《Hoàng vương》, 《Đế bá》, 《Ngũ thần》, rồi đến hiên bên nước làm thơ, ban cho mỗi người y phục, đai lưng, khí tệ. Lại bộ thượng thư Vương Khâm Nhược, Hộ bộ thượng thư Trần Nghiêu Tẩu, Hình bộ thượng thư Phùng Chửng, Binh bộ thị lang Triệu An Nhân đều tham dự.

[57] Ngày Ất Mão, Vua ban yến cho các quan cận thần ở điện Trường Xuân. Vương Năng, chức Trấn định lộ Đô bộ thự, Bộ quân Phó đô chỉ huy sứ, Tiết độ sứ Chấn Vũ, đến triều. Theo lệ cũ, các tiết độ sứ vào chầu đều được ban yến, nhưng những người nắm binh quyền thì không được dự. Đến đây, Vua đặc cách cho dùng lệ của phiên thần. Các quan hữu ty tâu rằng Vương Năng đã được mời ngồi dự yến, nhưng các tướng chỉ huy mã quân ở điện tiền như Tào Xán đều phải đứng hầu, điều này không tiện về phẩm trật. Vua bèn hạ chiếu cho Tào Xán và các tướng khác đều được ngồi dự yến. Từ đó, những người nắm binh quyền đều được theo lệ này.

[58] Lệnh cho Hàn lâm học sĩ Trần Bành Niên đem những việc do Triệu An Nhân và các quan khác phụ trách khoa cử đề xuất, chép thành điều lệ.

[59] Hạ chiếu cho các chức Đô giám, Giám áp, Trại chủ ở các trấn, trại dọc biên giới Thiểm Tây, nếu biết quân phiên xâm phạm dân thục hộ, phải lập tức điều quân ứng cứu, ai vi phạm sẽ bị xử nghiêm theo pháp luật triều đình.

[60] Trước đó, các châu Hoài, Vệ, Tân vì trong bộ nội ít có quan thuộc đỗ tiến sĩ, nên tập hợp tiến sĩ của mấy châu lại để thi chung. Vua bèn hạ chiếu từ nay các châu cử người đi thi, nếu thiếu quan chấm thi, thì cho phép Ty chuyển vận chọn quan ở châu lân cận sung chức, không được dời thí sinh đến châu khác để thi chung.

[61] Ngày Bính Thìn, hạ chiếu cho Mã Lượng, chức Tri Kinh Nam, điều 500 quân Hổ Dực ở châu Đàm đến đóng ở châu Đỉnh, đợi khi châu Thần có biến thì đến ứng cứu, vì châu Thần tâu rằng man khê động loạn. Bấy giờ, Trương Luân, chức Tri châu Thần, xin vào triều trình bày lợi hại, xin thêm quân để tiễu trừ. Mã Lượng cũng xin thêm quân. Vương Đán nói: “Đây chỉ là bọn giặc man nhỏ, không đủ để phiền đến thiên uy, chỉ cần phòng bị cướp bóc, không cho chúng đến biên giới, ngăn chặn những đòi hỏi vô độ của chúng, thì sẽ yên ổn.” Vua nói: “Xem tờ tâu của Trương Luân, ắt là có thể vỗ về yên ủi, còn việc bàn đánh sâu, cần phải cân nhắc, không thể thi hành được.”

(Tháng 12 ngày Ất Dậu, sai Tào Khắc Minh, chức Đông nhiễm viện sứ, Thứ sử châu Bình, làm Tri châu Thần, có lẽ nên dời đoạn này đến đó.)

[62] Ngày Mậu Ngọ, Đinh Vị tâu xin Vua ban cho bài ký và bài tụng về Hội Linh quan, Vua đồng ý.

[63] Phó đô bố trí Bân Ninh là Vương Thủ Bân tâu rằng hai người chỉ huy sứ bộ lạc Tây giới là Lãng Mai Nương và Ma Mạnh Tang đã đầu hàng và quy thuận tại Hoàn Châu. Chiếu rằng những hộ dân bộ lạc trước đây đã bỏ trốn và được Tây giới thu nhận, có thể gửi văn thư đòi lại, đợi khi họ trả về thì giao Lãng Mai Nương và những người khác cho họ.

[64] Ngày Tân Dậu, ban cho tể tướng tác phẩm ngự chế 《Lương Thần, Chính Thần, Trung Thần, Gian Thần, Quyền Thần Luận》.

[65] Ngày Nhâm Tuất, lấy Xu mật sứ, Đồng bình chương sự Khấu Chuẩn làm Tiết độ sứ Vũ Thắng quân, Đồng bình chương sự.

Trước đó, Khấu Chuẩn ghét Lâm Đặc, Tam ty sứ, là kẻ gian tà, nên thường xuyên tranh cãi với ông ta. Lâm Đặc vì số lụa Hà Bắc hàng năm thiếu hụt, nên thúc giục rất gấp. Khấu Chuẩn lại thiên vị Chuyển vận sứ Lý Sĩ Hoành mà ngăn cản Lâm Đặc, lại nói rằng khi ở Ngụy từng tiến 5 vạn tấm lụa Hà Bắc nhưng Tam ty không nhận, dẫn đến thiếu hụt, xin trị tội các quan lại phụ trách trở xuống. Vua miễn cưỡng nghe theo lời xin của ông, nhưng dùng lệnh ân xá để tha cho họ, vì kinh sư hàng năm tiêu tốn 1 triệu tấm lụa, mà số lụa Khấu Chuẩn giúp chỉ có 5 vạn mà thôi. Khấu Chuẩn lại cho rằng việc Tam ty thả quân sĩ ở phường lạc đà mà không đợi cấp tiền trang bị là lỗi của Lâm Đặc.

Lâm Đặc đang được sủng ái, Vua không vui, bảo Vương Đán rằng: “Khấu Chuẩn tuổi cao, trải qua nhiều việc, Trẫm nghĩ ông ấy ắt sẽ sửa chữa lỗi lầm trước đây, nay xem việc làm của ông ấy, dường như còn tệ hơn trước.” Vương Đán đáp: “Khấu Chuẩn thích người ta mang ơn, lại muốn người ta sợ uy, đều là điều mà bề tôi nên tránh, nhưng Khấu Chuẩn lại lấy đó làm trách nhiệm của mình, đó là điểm yếu của ông ấy. Nếu không phải là bậc minh chủ nhân từ, ai có thể bao dung được ông ấy!”

Khi Khấu Chuẩn chưa làm Xu mật sứ, Vương Đán từng bị bệnh, lâu không khỏi, Vua sai người khiêng kiệu đưa ông vào cung, cho con ông là Ung cùng lại dịch Trực tỉnh đỡ ông, gặp ở điện Tiện, Vua hỏi thăm nhiều lần, rồi nói: “Khanh nay bệnh nặng, nếu chẳng may có điều gì, Trẫm sẽ giao việc thiên hạ cho ai đây?” Vương Đán tạ rằng: “Biết thần không ai bằng Vua, xin bệ hạ tự chọn.” Vua hỏi nhiều lần, ông không đáp.

Vua hỏi: “Trương Vịnh thì sao?” Ông không đáp, Vua lại hỏi: “Mã Lượng thì sao?” Ông không đáp, Vua nói: “Khanh thử nói ý kiến của mình xem.” Vương Đán gượng dậy cầm hốt nói: “Theo ý thần, không ai bằng Khấu Chuẩn.” Vua ngẫm nghĩ một lúc rồi nói: “Khấu Chuẩn tính tình cương trực hẹp hòi, khanh hãy nghĩ đến người khác xem.” Vương Đán nói: “Những người khác, thần không biết. Thần bệnh nặng, không thể hầu lâu được.” Rồi từ tạ lui ra.

Khi Khấu Chuẩn làm Xu mật sứ, Trung thư có việc gửi qua Xu mật viện, trái với chiếu chỉ, Chuẩn liền tâu lên. Vua bảo Vương Đán rằng: “Trung thư làm việc như thế, thi hành ra bốn phương, lấy gì làm khuôn phép?” Đán lạy tạ nói: “Đây thực là lỗi của thần.” Các lại viên Trung thư bị phạt, lại viên Xu mật viện hoảng sợ, báo với Chuẩn rằng: “Trung thư, Xu mật viện hàng ngày có việc liên quan, lệ cũ chỉ bảo các phòng sửa đổi, không ngờ tâu lên khiến tể tướng phải tạ tội.” Sau đó Xu mật viện có việc gửi qua Trung thư, cũng trái với chiếu chỉ, lại viên được việc ấy, vui mừng trình lên Đán, Đán bảo gửi trả lại Xu mật viện. Lại viên báo với Chuẩn, Chuẩn rất xấu hổ, hôm sau, bảo Đán rằng: “Vương Đồng Niên độ lượng lớn như thế sao?” Đán không đáp.

Mỗi khi gặp Vua, Đán đều khen tài của Chuẩn, còn Chuẩn thì nhiều lần chê bai Đán. Một hôm, Vua bảo Đán: “Khanh tuy khen ngợi hắn, nhưng hắn lại chuyên nói xấu khanh.” Đán tạ rằng: “Lẽ đương nhiên là vậy. Thần ở ngôi tể tướng lâu ngày, chính sự thiếu sót ắt nhiều, Chuẩn đối với bệ hạ không giấu giếm gì, càng thấy lòng trung trực của ông ấy, đó là điều thần coi trọng Chuẩn.” Vua từ đó càng quý trọng Đán.

Đến khi Chuẩn tự biết mình sắp bị bãi chức, bèn sai người bí mật đến gặp Đán, xin được làm Sứ tướng. Đán rất kinh ngạc, nói: “Sứ tướng há có thể xin được sao? Huống chi ta không nhận lời thỉnh cầu riêng tư.” Chuẩn vì thế rất oán hận.

Sau đó, Vua hỏi Đán: “Chuẩn bị bãi chức, nên cho làm quan gì?” Đán đáp: “Chuẩn chưa đến ba mươi tuổi đã được Tiên đế đề bạt vào Nhị phủ, lại có tài năng và danh vọng. Nếu cho làm Sứ tướng, để ông ấy trấn giữ một phương, phong thái của ông ấy cũng đủ làm rạng rỡ triều đình.” Khi chiếu chỉ ban ra, Chuẩn vào triều yết kiến, khóc mà nói: “Nếu không nhờ bệ hạ biết đến thần, sao có thể được như thế này!” Vua kể lại việc Đán tiến cử Chuẩn, Chuẩn mới cảm thấy hổ thẹn và than thở, ra ngoài nói với mọi người: “Khí độ và kiến thức của Vương đồng niên, không phải là Chuẩn có thể đoán biết được.”

(Tư Mã Quang ghi chép việc Đán tiến cử Chuẩn, cho rằng đó là lúc Đán sắp qua đời, và nói rằng lúc đó Trương Vịnh, Mã Lượng đều làm Thượng thư.

Xét ra, Vịnh mất vào tháng 8 năm Tường Phù thứ 8, còn Lượng lúc đó chỉ làm Công bộ thị lang, dù đến khi Đán mất, Lượng cũng chưa làm Thượng thư. Nếu quả thật Vua hỏi về Vịnh, thì chắc chắn phải là trước năm thứ 8, khi Chuẩn chưa làm Xu mật sứ. Việc Chuẩn được làm Xu mật sứ là nhờ lời tiến cử của Đán. Sau đó, Chuẩn lại vào Trung thư, cách khi Đán mất gần ba năm. Sách chép rằng hơn một năm sau khi Đán mất, Vua mới dùng Chuẩn, có lẽ là sai. Chuẩn được làm Xu mật sứ nhờ lời tiến cử của Đán, nên việc Vua hỏi về Trương Vịnh chắc chắn phải xảy ra trước đó. Nếu là trước đó, thì Mã Lượng đang làm Cấp sự trung, tri Hồng Châu, Vua chưa chắc đã có ý đề bạt vào Nhị phủ, e rằng không nên vội hỏi. Hoặc có thể Vua hỏi người khác, mà Lam Nguyên Chấn nghe không rõ, Tư Mã Quang cũng chỉ ghi chép tạm thôi? Sự việc có nhiều chỗ không khớp, nhưng việc Đán ốm yếu vào chầu, Vua hỏi về Trương Vịnh và Đán tiến cử Chuẩn, chắc chắn không phải là bịa đặt, chỉ là chắc chắn không phải lúc sắp qua đời mà thôi. Nay xin ghi chép thêm vào.

Khi Chuẩn bị bãi chức Xu mật sứ, cần phải xem xét kỹ hơn. Những ghi chép về Mã Lượng vẫn giữ nguyên. Tư Mã Quang ghi rằng Đán vào chầu ở Diên Hòa điện, xét ra Diên Hòa điện vốn là Thừa Minh điện, được xây dựng vào năm Tường Phù thứ 7, đổi tên vào năm Cảnh Hựu nguyên niên, lúc đó chưa có Diên Hòa điện. Nay chỉ gọi là Tiện điện.

Bản truyện chép rằng khi Đán sắp bãi chức Tể tướng, một mình vào chầu ở Tư Phúc điện, sai người bên cạnh đỡ dậy mà lên, tiến cử hơn mười hiền sĩ. Trước đó, chưa từng nói Đán được một mình vào chầu. Nay xin cho rằng việc tiến cử Chuẩn là lúc Chuẩn chưa làm Xu mật sứ, vì Đán vốn yếu đuối, nhiều bệnh tật, việc ông được đỡ vào chầu, e rằng không chỉ là lúc sắp bãi chức Tể tướng mới như vậy.

Nếu chỉ lúc sắp bãi chức Tể tướng mới được một mình vào chầu, thì cũng giống với ghi chép của Tư Mã Quang. Nhưng Trương Vịnh đã mất mấy năm, Vua không nên lại hỏi về ông ấy. Hơn nữa, tên điện là Tư Phúc, không phải Diên Hòa, chẳng lẽ Đán cũng từng một mình vào chầu ở Thừa Minh điện, không chỉ ở Tư Phúc điện? Căn cứ vào Thực lục và Bản kỷ, thì vào tháng 6 năm Thiên Hi nguyên niên, Đán hai lần được triệu vào chầu, một lần ở Sùng Chính điện, một lần ở Tư Phúc điện, nhưng Bản truyện không ghi đầy đủ. Vậy việc một mình vào chầu ở Thừa Minh điện, Bản truyện vốn không ghi, mà Bản kỷ và Thực lục cũng có chỗ thiếu sót, chưa thể biết được. Việc một mình tiến cử Chuẩn ở Thừa Minh điện, và tiến cử hơn mười người ở Tư Phúc điện, nghi ngờ là hai việc khác nhau, nhưng không dám khẳng định. Tuy nhiên, việc Vua hỏi về Trương Vịnh và Đán tiến cử Chuẩn, do Lam Nguyên Chấn nghe được, chắc chắn không phải bịa đặt. Chỉ là thời gian trước sau có chỗ đáng nghi, và việc hỏi về Mã Lượng cũng không rõ ràng.)

[66] Lấy Lại bộ Thượng thư Vương Khâm Nhược, Hộ bộ Thượng thư Trần Nghiêu Tẩu cùng làm Xu mật sứ, Đồng bình chương sự.

[67] Ra lệnh cho các quan tri châu, quân, tuần kiểm ở vùng biên giới, mỗi tháng đến các doanh trại quân đội để tuần tra và giảng dạy.

[68] Tăng thêm 50 vạn tiền công sứ hàng năm cho châu Giáng, theo yêu cầu của Tri châu Tiền Duy Tế.

[69] Ngày Giáp Tý, Vua nói với Vương Đán rằng: “Có người dâng thư nói rằng Trung thư không bàn việc, ít tiếp khách, chính lệnh thường bị trì hoãn.” Vương Đán và các quan tâu rằng: “Những việc Trung thư cần bàn, chỉ là tiến cử người hiền, loại bỏ kẻ bất tài, tấu trình việc biên giới, tình hình hạn hán lũ lụt ở các quận huyện, năng lực của quan lại, sự oan uổng trong hình pháp. Những việc này, hàng ngày đều tuân theo thánh chỉ, người ngoài không biết là vì bọn thần không để lộ lời nói. Việc ít tiếp khách, quả thực cũng có. Như các chuyển vận sứ phó, đề điểm hình ngục, thủ thần ở các quận biên giới trọng yếu, cùng các quần thần được mệnh lệnh đặc biệt, sau khi từ biệt bệ hạ, chưa từng không được tiếp kiến. Hoặc những người mang trát tử đến, xem nội dung họ trình bày, có thể hiểu rõ, sau đó lại hỏi thêm, tức là đã liên quan đến việc thỉnh cầu. Đại thể các việc ở Trung thư, đều tuân theo quy chế, không dám tùy ý thêm bớt, việc xử lý nhanh chậm, hàng ngày đều có tấu trình, nhưng do suy nghĩ chưa thấu đáo, việc có chỗ chưa tiện, không khỏi làm phiền thánh đoán, đó là lỗi của bọn thần.” Tất cả đều lạy tạ, Vua an ủi họ.

(Vương Khuê trong 《Hội yếu》 ghi việc này vào tháng 10 năm thứ 3, nay không theo.)

[70] Thượng lại bảo Vương Đán rằng: “Trẫm mỗi khi nghe được điều gì, đều không giấu giếm ở Trung thư, tất phải tuyên bố ra. Nhưng các bề tôi khi tâu việc, phần nhiều xin không giao cho Trung thư, sợ để lại oán trách, nhưng có khi lại bị lộ ra, là cớ sao?” Vương Đán tâu: “Chúng thần mỗi khi nhận được lời dạy bảo, hoặc có việc cần thi hành[8], đến khi làm việc ở các, đều đuổi hết tả hữu, tự tay ghi chép lệnh tiến chỉ, giao lại cho quan lại phòng, bên ngoài không ai biết. Hoặc lo ngại việc Xá nhân soạn thảo văn từ, lại viên chép bản, nên cần thêm lệnh cấm nghiêm ngặt. Nhưng triều đình bổ nhiệm quan chức, như Chuyển vận sứ phó, Tam ty phán quan, đều là người từng trải việc ở các châu quận, ngoại nhân có thể đoán trước được, đúng được năm sáu phần, nếu trùng hợp với dự đoán[9], thì không tránh khỏi bị gièm pha.”

Thượng nói: “Việc này không tránh khỏi, nhưng giữ lòng chí công, cũng không hại gì. Trẫm cần mẫn tìm hỏi, muốn các quan tại chức hết lòng công chính, để thiên hạ được yên ổn lâu dài, không có ý gì khác.”

[71] Ngày Ất Sửu, Binh bộ Thị lang Triệu An Nhân kiêm Tông chính khanh, quyền phán Đô tỉnh, đổi làm phán Tông chính tự. Triều đình cho rằng việc lăng miếu là trọng sự, người coi giữ tông miếu chức vị thấp không xứng, nên có mệnh lệnh này.

[72] Ngày Bính Dần, ban chiếu rằng: “Từ kinh kỳ của ta đến Hoài, Tứ, kho lương liên tiếp, việc vận chuyển rất nhiều. Nếu không có sự gian lận trong việc tăng giảm, thì làm sao có được tích trữ dư thừa. Hãy cân bằng việc thu chi, để thuận tiện cho công tư. Những nơi cần thu nạp vào kho, cùng các quan giám sát các kho trong kinh, đều phải thu nạp công bằng[10], không được xâm phạm. Số dư thu được, không được tính là thành tích[11]. Chỉ cần một nhiệm kỳ làm việc tốt, không có nợ nần, thì sẽ thi hành theo chiếu cũ.”

Trước đó, Giám Bách Vạn Thương, Quốc tử bác sĩ Hạ Hầu Thịnh, thu được số dư, xin được khen thưởng. Cơ quan chức năng căn cứ vào quy định thời Hàm Bình[12], cho rằng số dư thu được từ kho lương không được tính là thành tích. Đến nay, lại xác nhận điều này.

(Thịnh là con của Kiều.)

[73] Ngày Mậu Thìn, Chiêu Đức quân Tiết độ sứ, Tín Đô An Giản vương Đức Di qua đời. Đức Di cưới cháu gái của Vương Hiển, đã nhận lễ hỏi nhưng chưa đón dâu. Vua nghi ngờ về lễ nghi, hỏi Hàn lâm học sĩ Trần Bành Niên, Bành Niên nói: “Theo lễ, cưới dâu có ngày lành, nếu dâu chết, chồng mặc áo tang thô mà đi viếng, sau khi chôn cất thì bỏ tang. Nay xin cho dâu mặc áo tang thô trong nhà, sau khi chôn hoặc đợi thời gian rồi bỏ tang.” Vua đồng ý.

[74] Ban chiếu cho Bành Văn Uyển ở Trung Châu từ nay mỗi năm được ban áo gấm, lại ban chiếu khen thưởng Bành Nho Mãnh, Thứ sử Hạ Khê Châu, vì Châu Thần báo rằng ông đã bắt được giặc man.

[75] Ngày Kỷ Tỵ, ban cho Châu Nhung, Lô Châu và Giám Phú Thuận mỗi nơi một bộ 《Thánh Huệ Phương》, vì những nơi này nhiều bệnh dịch.

[76] Ngày Tân Mùi, bổ nhiệm Giám sát ngự sử Lý Trọng Dung làm Hữu ty gián, Trực sử quán. Khi Vua thân hành khảo thí tiến sĩ, trong cung đưa ra đề thi về thơ, phú, luận, trước hết lệnh cho các quan khảo thí phân tích ý nghĩa. Lý Trọng Dung đối đáp rất chi tiết và đầy đủ, Vua khen ngợi, đặc cách sai Trung thư triệu thí và ban chức này[13].

[77] Ngày Nhâm Thân, cung điện của Vinh vương Nguyên Nghiễm bị cháy, từ canh ba đến trưa hôm sau mới dập tắt, lửa lan sang kho Nội tàng, Tả tàng khố, cửa Triều Nguyên, Sùng Văn viện và Bí các.

[78] Cùng ngày, Vua mặc tang phục và tổ chức tang lễ cho Tín Đô quận vương Đức Di, các quan dâng lời an ủi, nhưng chưa kịp hoàn thành nghi lễ. Vương Đán và các quan xin được gặp Vua ở cửa Đông điện Tiện trong cung.

Vua nói: “Của cải tích lũy từ tổ tiên, Trẫm không dám lãng phí, nhưng một sớm một chiều tiêu tan hết, thật đáng tiếc.” Vương Đán và các quan tâu: “Bệ hạ giàu có thiên hạ, của cải không đáng lo, chỉ lo chính lệnh thưởng phạt có chỗ không hợp lý. Thần đây giữ chức tể tướng, gặp thiên tai như vậy, xin được cách chức. Nghe nói những người coi kho đã thu gom cứu được nhiều tiền lụa, các quân hiệu đều ra sức cứu hỏa, ai nấy đều dũng cảm.”

Vua nói: “Trẫm chỉ lo quân lương, tiền lụa tổn thất không nhiều, còn việc thưởng trong đại lễ cũng có thể dần dần bù đắp. Nếu quân lương không đủ, sẽ phải làm khổ dân, đó là điều Trẫm lo nhất.” Vua bèn hạ chiếu tự trách mình, lệnh cho văn võ bách quan dâng sớ bàn việc, không được giấu giếm.

[79] Sai Tham tri chính sự Đinh Vị làm Đại nội tu tập sứ, Điện tiền đô chỉ huy sứ Tào Xán, Mã quân chỉ huy sứ Trương Mân, Nhập nội đô tri Tần Hàn cùng quản lý việc tu sửa.

[80] Ban thưởng tiền cho các quân cứu hỏa và quan thân sự.

[81] Ngày Mậu Dần, bổ nhiệm Tỷ bộ viên ngoại lang, Phán Tam ty đô ma khám ty Vương Ưng làm Thông phán Đạo châu. Vương Ưng theo chiếu dâng sớ bàn việc, nhưng lời lẽ lộn xộn, trái ý chiếu chỉ, nên bị điều đi nơi khác. (Vương Ưng, cần tra cứu thêm).

[82] Tháng 5, ngày Tân Tỵ, mùng một, Hình bộ viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử tri lam sự Vương Tùy tâu: “Theo chiếu điều tra việc cháy cung của Vinh vương Nguyên Nghiễm, nguyên do là thị tì của Nguyên Nghiễm là Hàn ăn trộm bán đồ vàng, sợ việc bại lộ nên đã phóng hỏa. Những người liên quan đều đã khai rõ.” Chiếu rằng: Hàn thị bị chặt tay chân, bêu giữa chợ ba ngày, lăng trì xử tử, những người biết tình đều bị chém, còn lại đều xử phạt theo thứ bậc.

Trước đó, số người phải chết rất nhiều, Vương Đán một mình xin vào gặp, tâu rằng: “Lúc đầu khi xảy ra hỏa hoạn, bệ hạ đã ban chiếu tự trách mình với thiên hạ, mà chúng thần đều dâng chương chịu tội. Nay lại giết quá nhiều, e rằng trái với ý của chiếu trước. Hơn nữa, hỏa hoạn tuy có dấu vết, nhưng biết đâu chẳng phải là trời trách phạt!” Vua vui vẻ nghe theo, nhờ đó mà giảm án tử cho gần trăm người.

(Khi xảy ra hỏa hoạn, đã biết ngay là từ cung Vinh vương. Sai quan điều tra, là việc đương nhiên, không phải do đại thần đề nghị. Vương Đán can gián, là lo ngại việc liên lụy nhiều người, có thể đến cả người vô tội. Nếu nói không nên trị tội người, thì e rằng không đúng sự thật. Bài thần đạo bi của Âu Dương Tu là do con của Vương Đán là Tố dựa vào hành lược mà sửa chữa thêm bớt, nay lấy làm tham khảo, sửa đổi chút ít lời văn.)

[83] Tần Hàn tâu rằng y phục ngày Tết Đoan Ngọ của nội thần, xin tạm ngừng ban cấp, Vua đồng ý.

[84] Ngày Nhâm Ngọ, An Tĩnh, Vũ Tín quân Tiết độ sứ Vinh vương Nguyên Nghiễm bị tước chức Tiết độ sứ Vũ Tín, giáng phong làm Đoan vương, dời ra ở nhà cũ của Phò mã Đô uý Thạch Bảo Cát; Ký thất tham quân Thôi Hộ vì không làm tốt việc phụ đạo, cũng bị cách chức.

[85] Chiếu rằng: Người Hồi Hột từ phía tây mang cương sa, là vật cấm, đều tha tội, vì bộ lạc phiên chưa biết điều ước.

[86] Cấm người dân biên giới mua ngựa của sứ giả cống phụng Hạ châu.

[87] Ngày Quý Mùi, chiếu bãi bỏ khoa cử một năm.

[88] Trung thư môn hạ, Xu mật viện xin ngừng cấp lương tháng, không được chấp thuận, lại xin ngừng ban y phục Tết Đoan Ngọ, được chấp thuận.

[89] Ngày Giáp Thân, sai Khấu Chuẩn làm Tri Hà Nam phủ, kiêm Tây kinh Lưu thủ ty sự.

[90] Ngày Ất Dậu, Vua đến các cửa Đông Hoa, Tường Phù, Tả Ngân Đài, Thăng Long và điện Triều Nguyên, ban tiền cho thợ.

[91] Vua nước Chiêm Thành sai sứ Ba Luân Ha La Đế đến cống. Ha La Đế tự nói có em là Đào Châu, trước đây bị Giao Châu bắt giữ, đưa đi dẫn voi thuần đến kinh đô, nay may mắn được gặp, muốn đưa về nước. Vua cho phép, lại ban cho Đào Châu áo quần, tiền lụa và tiền trang bị.

[92] Ngày Tân Mão, Chuyển vận sứ Hà Bắc Lý Sĩ Hoành tâu rằng trong quản hạt các quân, ngoài số tiền chuẩn bị chi dụng, còn có 40 vạn quan tiền, 5.000 tấm lụa, 3.000 lạng tơ, 20 vạn tấm vải, xin dâng hết lên triều đình. Vua ban chiếu khen ngợi, lệnh cho bản lộ tích trữ số tiền lụa đó, không cần chở về kinh.

[93] Ngày Nhâm Thìn, Vua hạ chiếu xây dựng Sùng Văn Ngoại Viện bên ngoài cửa Hữu Dịch, đặt riêng kho sách của Tam Quán. Lúc đó trong cung cấm nghiêm ngặt việc phòng hỏa, Vua thấy quần thần thay phiên trực đêm, tháng lạnh giá, ăn uống không tiện, bèn sai Hàn lâm học sĩ Trần Bành Niên xem xét chế độ cũ đời Đường rồi sửa sang lại.

[94] Bãi bỏ chức Hoàng môn thuộc Nội thị tỉnh, đổi chức Cao ban Nội phẩm thành Tiền điện Chi hậu Cao ban Nội phẩm.

[95] Ngày Quý Tỵ, Vua ngự điện Sùng Chính, thân xét tù nhân, tha cho những người phạm tội chết nhưng tình tiết nhẹ.

[96] Bổ nhiệm Doanh Châu Đoàn luyện sứ Lý Diên Ác làm Hữu Lĩnh vệ Đại tướng quân, Diễn Châu Đoàn luyện sứ; Lệ Châu Đoàn luyện sứ Trần Trực làm Hữu Giám môn vệ Tướng quân, Thành Châu Đoàn luyện sứ, đều vì lâu ngày bệnh tật, làm quan không có thành tích.

[97] Vua hạ chiếu từ cung cấm đến nhà dân, tất cả đồ dùng, trang sức đều không được dùng vàng, nghiêm cấm việc này. Từ đó về sau việc này chấm dứt.

(Theo 《Đông Đô Sự Lược》 của Vương Xưng: Chiếu lệnh tông thất, hoàng thân và các quan lại, dân chúng không được dùng vàng cán, vàng chạm, chỉ vàng để làm quần áo, đồ dùng[14].)

[98] Tri chế cáo Tiền Duy Diễn dâng nhà Lễ Hiền mà cha ông được ban tặng, được ban chiếu khen ngợi, thưởng cho Duy Diễn năm mươi vạn tiền[15], lệnh chia đều cho sáu phòng, và mỗi phòng được ban thêm một khu nhà.

[99] Ngày Ất Mùi, Tư Đạc Đốc ở phủ Tây Lương phái sứ giả đến triều cống.

[100] Chiếu rằng các vật tín của nước Khiết Đan trước đây dùng vàng làm trang trí, nay đều đổi thành gấm vóc.

[101] Ngày Kỷ Hợi, ban chiếu: “Gần đây cấm dùng vàng, lo ngại người phương Bắc đến chợ biên giới không biết quy định, hoặc bán vật cấm, giao dịch với thương nhân gần biên giới. Nên lệnh cho Lý Doãn Tắc, Tri châu Hùng, dùng ý chỉ dụ người phương Bắc, và sao chép chiếu chỉ đã ban giao cho họ.”

[102] Ngày Canh Tý, thả 184 cung nhân.

[103] Ngày Nhâm Dần, Trung thư môn hạ xin lấy vải lụa và các vật dụng bị hư hỏng trong kho để chi trả lương tháng và áo quần ban tặng, chiết khấu năm phần. Các quan văn võ từ học sĩ trở xuống liên tiếp dâng sớ xin, chiếu không cho, sớ dâng lần thứ hai mới được chấp thuận.

[104] Ngày Giáp Thìn, kẻ gian ác Cốc Ẩn bị khắc chữ lên mặt và đày đến lao thành Quỳnh Châu, gặp ân xá cũng không được về; Cận Trọng Vinh đày đến Đinh Châu; Cận Hữu Phương đày đến đảo Sa Môn. Lại ban chiếu dụ dân chúng ở châu Giải, từ nay không được truyền dạy thuật gian ác. Trước đây, Cốc Ẩn bị tội biên quản ở châu Giải, dùng thuật gian ác mê hoặc dân chúng, Trọng Vinh theo làm thầy, Hữu Phương từng lừa lấy nhiều tài sản của Ẩn, đến nay, giao cho Ngự sử tra xét và xử tội.

[105] Ngày Đinh Mùi, Lễ nghi viện định rõ: “Từ nay, trong các đại lễ, nơi đặt chỗ ngồi của hoàng đế vẫn theo lệ cũ và chiếu riêng dùng lụa đỏ tía, còn khi không phải lễ lớn đến cung quán, chùa viện dâng hương, đều dùng chiếu lụa vàng. Các quan khi hành lễ trai tiếu, yến tiệc, tạ ơn, dâng biểu, đều dùng chiếu lụa tía. Làm thành quy định vĩnh viễn.”

[106] Trước đó, Nghi Loan ty xin đổi chế tạo chiếu gấm, Vua bảo Tam ty sứ Lâm Đặc rằng: “Trẫm ở nội đình chưa từng dẫm lên gấm vóc, chiếu này chỉ dùng ở ngoại đình, thật không đáng tiếc. Từ nay nên chiếu cho quan Lễ bộ chỉ dùng chiếu lụa vàng, lụa tía là được.” Nhân đó nói: “Đồ dùng của Nghi Loan ty, như đồ cúng tế gấm vóc trong đạo trường, vốn là để phụng thờ chân thánh, nhưng người quản lý lại tự lấy dùng, thậm chí dẫm lên. Vệ Thiệu Khâm từng quản lý Nghi Loan ty, một đêm, Trẫm nghe tiếng ồn ào bên ngoài cửa hoàng môn, thì ra là lấy trộm chiếu gấm, bị Thiệu Khâm đoạt lại. Lại có Ngụy Chiêu Dịch quản lý Ngự trù, thị vệ nhiều lần đổi thức ăn, nhưng Chiêu Dịch nhất quyết không cho. Tuy là việc nhỏ, nhưng giữ chức mà giữ gìn như vậy cũng thật không dễ. Một hào một li của quốc gia đều do dân đóng góp, người quản lý nếu biết tiết kiệm, đó chính là gốc của việc giảm thuế vậy.”

[107] Chiếu cho quân lính đóng ở Giang, Hoài, Lưỡng Chiết và quân tuần tra, đều phải cử người biết bơi lội đi, vì quân cũ không quen nước, khó sai khiến bắt giặc.

[108] Tháng 6, ngày Kỷ Dậu mùng một, nhật thực.

[109] Chiếu rằng từ nay những người được Lại bộ tuyển chọn mà phạm tội, Ty Thuyên chưa được định vào ngạch quan, phải trình bày rõ kết quả khảo hạch và tội đã phạm để xin chỉ dụ. Trước đó, Ty Thuyên xin rằng từ nay những người từng bị đình chỉ công tác, khi xét lại phải đủ hạn khảo hạch mới được vào ngạch lệnh lục. Vua nói: “Như vậy thì sẽ có nhiều người bị trì trệ. Trẫm gần đây thấy một người được tuyển chọn, đỗ khoa thi năm Thuần Hóa, hơn 20 năm không có việc công tư gì, đến nay vẫn chưa đủ 10 kỳ khảo hạch. Do đó mà nói, không nên tăng thêm số kỳ khảo hạch.” Nhân đó quy định điều lệ.

(Theo《Hội yếu》, việc ngày mùng một tháng 6.)

[110] Ngày Nhâm Tý, Đinh Vị tâu rằng việc tu sửa các điện trong đại nội đã hoàn thành.

[111] Ngày Quý Hợi, chiếu rằng những vũ khí do Cung nỗ viện chế tạo có dùng vàng trang trí, thì dùng vật khác thay thế.

[112] Phán quan phát vận Bạch Ba là Lâm Duy xin từ nay về sau, khi khơi thông cửa sông Biện, cho các cơ quan báo trước, triều đình sẽ cử quan đến làm lễ tế cáo, Vua nghe theo. Duy là con của Lâm Đặc. Lại ra chiếu rằng từ nay nếu nước sông Biện dâng cao quá 7 thước 5 tấc, thì phát 3000 quân lính đến phòng thủ đê sông. Lại cử nội thần chia nhau nắm giữ chìa khóa các cửa thành kinh đô, nếu nước sông Biện dâng cao, quân phòng thủ đê đến nơi, thì lập tức mở cửa điểm danh rồi cho qua.

[113] Ngày Giáp Tý, đổi tên cửa Càn Nguyên thành Chính Dương, điện Triều Nguyên thành Thiên An, cửa Nhật Hoa và Nguyệt Hoa thành Tả Thái Hòa và Hữu Thái Hòa. Lại kiêng tên húy của Thái Tông, đổi điện Hàm Quang thành Hội Khánh, cửa Thiên Quang thành Thái Ninh.

[114] Ngày Ất Sửu, quan Sát suy Hàng Châu mới được bổ nhiệm là Chu Xương Phù cùng 460 người vào tạ ơn. Vua nói với các quan phụ tá rằng: “Trong số họ, người có tài hay không, chưa thể biết hết được.” Vương Đán đáp: “Chọn lựa trong đám đông, được hai ba phần mười cũng đã là nhiều. Huống chi gặp thời thịnh trị, được lên bậc này, nếu tài đức đều đủ, thì đường công danh còn xa gì.” Nhân tiện nói Xương Phù là em của Chu Đài Phù. Vua nói: “Đài Phù có văn học, trước tác của ông ấy có thể tham khảo được.” Rất thương tiếc ông.

[115] Cấp sự trung, tri Kinh Nam là Mã Lượng tâu: “Thần thấy ruộng chức của các quan trong thiên hạ quá hậu, xin trong hai ba năm tạm ngừng cấp phát, để giúp thêm kinh phí. Năm nay thần được cấp 420 thạch lúa mạch, đã giao nộp cho phủ rồi.” Vua khen ngợi.

[116] Ngày Tân Mùi, lệnh cho các châu khắc bia ghi bảy điều do Vua chế định, theo lời thỉnh cầu của Chuyển vận sứ lộ Quỳ Châu là Tang Quý người Thiểm.


  1. Nội khách tỉnh sứ, chữ 'Khách' nguyên bản là 'Thị', theo Tống bản, Tống toát yếu bản sửa lại.
  2. Chuyên làm Chuyển vận phó sứ, 'phó sứ' nguyên bản là 'sứ phó', theo các bản và 《Tống hội yếu》 tuyển cử 27/13 sửa lại.
  3. Lệnh quan Phong di ấn phong các quyển thi giao cho viện, chữ 'di' nguyên bản thiếu, căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trị tích thống loại》 quyển 28 bổ sung.
  4. ăn hoa cúc, lá bách, quả cây, nước giếng 'nước giếng' nguyên bản là 'Cam tuyền', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản sửa.
  5. 'Trần Nghiêu Tá' nguyên là 'Trần Nghiêu Tẩu', căn cứ theo quyển 82, tháng 5 năm Đại Trung Tường Phù thứ 7, ngày Nhâm Thìn trong sách này và Tống hội yếu phương vực 14/6 sửa lại. Xét theo Đông đô sự lược quyển 44 và Tống sử quyển 284 bản truyện, Nghiêu Tá từng hai lần nhậm chức Kinh Tây chuyển vận, nên chỗ này viết 'Nghiêu Tá' là đúng.
  6. Thật là tìm kiếm người tài nghèo khó vậy, 'Hàn tuấn' nguyên là 'Hàn tuấn', 'Hàn tuấn' ở đây cũng thông dụng. Xét các bản và 《Trị tích thống loại》 quyển 28, 《Tục thông giám》 quyển 32 đều chép là 'Hàn tuấn', nay theo đó sửa lại.
  7. Triệu Kiểm thảo Sùng văn viện Phùng Nguyên giảng quẻ Thái trong《Chu Dịch》. 'Sùng văn viện' nguyên bản là 'Sùng văn quán', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và《Tống sử》quyển 294, truyện Phùng Nguyên sửa lại.
  8. hoặc có việc cần thi hành, chữ 'sở' nguyên bản thiếu, căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản bổ sung
  9. nếu trùng hợp với dự đoán, chữ 'dữ' nguyên là 'năng', căn cứ vào sách trên sửa
  10. đều phải thu nạp công bằng 'công bằng' nguyên là 'hai', theo 《Tống hội yếu》 thực hóa 62-6 sửa.
  11. không được tính là thành tích 'không' chữ ban đầu thiếu, theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Tống hội yếu》 bổ sung.
  12. cơ quan chức năng căn cứ vào quy định thời Hàm Bình 'thời' chữ ban đầu thiếu, theo sách trên bổ sung.
  13. Đặc cách sai Trung thư triệu thí và ban chức này: chữ 'thử' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản và Tống toát yếu bản bổ sung
  14. Không được dùng vàng cán, vàng chạm, chỉ vàng để làm quần áo, đồ dùng: hai chữ 'dĩ', 'khí' nguyên bản thiếu, căn cứ 《Biên Niên Cương Mục》 quyển 8, 《Đông Đô Sự Lược》 quyển 4 Chân Tông kỷ bổ sung
  15. Thưởng cho Duy Diễn năm mươi vạn tiền, chữ 'thập' nguyên là 'thiên', theo bản Tống, bản Tóm tắt đời Tống và quyển 32 của 《Tục thông giám》 sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.