III. TỐNG CHÂN TÔNG
QUYỂN 87: NĂM ĐẠI TRUNG TƯỜNG PHÙ THỨ 9 (BÍNH THÌN, 1016)
Từ tháng 5 đến tháng 8 năm Đại Trung Phù thứ 9 đời Chân Tông.
[1] Tháng 5, ngày mùng một Giáp Thìn, ban chiếu rằng vào ngày mùng một tháng giêng năm sau, sẽ đến cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, cùng với bề tôi và dân chúng trong thiên hạ kính dâng sách báu tôn hiệu Thánh của Ngọc Hoàng Đại Thiên Đế. Lại định ngày 17 làm lễ tế ở Nam Giao, thực hiện nghi lễ cung tạ. Các phần thưởng cho quân đội đều lấy từ kho nội phủ, Tam ty không được thúc giục các lộ nộp tiền và lụa. Các châu, quân, giám không được lấy cớ tu sửa cống phẩm hay trợ giúp tế lễ để thu thuế bừa bãi.
[2] Lệnh cho Ninh Hóa quân tu sửa đền thần Thiên Trì. Hằng năm, biên giới phía Bắc cử sứ đến tế một lần, nay đền đã đổ nát, nên biên giới phía Bắc xin tu sửa, vì thế mới có lệnh này.
[3] Ngày Ất Tỵ, xây dựng Viện Lễ Hội Hoàng Thân ở phường Tân Xương, ban tên là Gia Khánh.
[4] Binh bộ thự Ninh Hoàn Khánh là Vương Thủ Bân tâu rằng, 1.500 kỵ binh người Thổ từ Hạ Châu đến cướp phá Khánh Châu, bộ lạc nội thuộc đã đánh đuổi chúng.
[5] Ngày Đinh Mùi, Điện trung thị ngự sử Trương Khuếch tâu: “Các quan có tang cha mẹ, phần lớn được miễn để tang, không phải là đạo xưa. Kính xin từ nay trở đi, đều theo lễ lệnh mà giải chức để tang.” Chiếu theo lời tâu, nhưng các quan được khởi phục cùng võ thần và nội chức vẫn theo chế độ cũ.
[6] Ban chiếu tạm ngừng thi cử.
[7] Ngày Mậu Thân, Quảng Tây lộ chuyển vận sứ Du Hiến Khả tâu rằng, người Man ở Phủ Thủy chống mệnh, xâm lấn không ngừng, xin tăng thêm quân đồn trú ở Nghi Châu. Theo lời tâu, liền phong Đông Nhiễm viện sứ, Bình Châu thứ sử, Tri Thần Châu là Tào Khắc Minh làm Đô tuần kiểm sứ kiêm An phủ sứ các châu Nghi, Dung, Quế, Chiêu, Liễu, Tượng, Ung, Khâm, Liêm[1], Bạch. Điện trực, Cáp môn chi hậu Mã Ngọc (Mã Ngọc, không rõ lai lịch) làm Đồng tuần kiểm kiêm An phủ đô giám, cùng quản lý việc ở các động Khê. Hằng năm cấp 30 vạn tiền công dụng, điều 300 quân Hổ Dực đóng ở Đàm Châu giao cho họ.
Ban đầu, quân sĩ đánh nhau với người Man, có nhiều người bị thương. Vương Đán nói: “Người Man không có hàng ngũ, không dám đối địch với quan quân, chỉ ẩn nấp ở những nơi hiểm yếu trong núi rừng, bắn tên tẩm thuốc độc mà thôi.” Bèn ban cho Tuần kiểm Nghi Châu thuốc giải độc của đao kiếm, và căn dặn phải đề phòng trước. Khi Tào Khắc Minh đến nơi, tù trưởng người Man xin ngừng chiến, Khắc Minh không đồng ý. Tù trưởng lại dâng một hộp thuốc, nói: “Tên độc của người động trúng người, có thể dùng thuốc này để giải.” Khắc Minh hỏi: “Lấy gì để chứng minh?” Tù trưởng đáp: “Xin thử trên gà chó.” Khắc Minh nói: “Nên thử trên người.” Bèn lấy tên đâm vào đùi tù trưởng, rồi cho uống thuốc, tù trưởng chết ngay, các người Man xấu hổ và sợ hãi bỏ đi.
(Bản truyện về người Man chép: Hiến Khả xin đem quân Trừng Hải của bản đạo và chiêu mộ trai tráng tiến đánh, bèn xuống chiếu thêm 5.000 quân Đàm Châu, lệnh cho Tào Khắc Minh, Vương Văn Khánh, Mã Ngọc, Dương Thủ Trân làm An phủ sứ và Đô giám. Xét rằng Thủ Trân đến tháng 7 mới nhậm chức, lúc này chưa có. Vương Văn Khánh đầu tháng 6 vì tu sửa cung Minh Đạo xong, được thăng làm Nội điện Sùng ban, cũng không thấy được bổ làm An phủ Đô giám, không rõ truyện vì sao lại chép như vậy, e rằng có sai sót, nên số quân chỉ theo Thực lục.)
[8] Lý Phổ tâu: “Các xưởng đúc tiền ở bốn châu Nhiêu, Trì, Giang, Hàng mỗi năm đúc tổng cộng một triệu hai trăm nghìn quan tiền, dùng bốn triệu năm trăm ba mươi nghìn cân đồng. Bốn xưởng và các châu quân sản xuất đồng hiện quản lý tổng cộng một triệu năm trăm hai mươi mốt nghìn hai trăm cân đồng. Ngoài ra, các mỏ đồng ở Âm Sơn, Tín Châu[2], từ đầu niên hiệu Hàm Bình được khai thác, thương nhân đua nhau tập trung, quan trường mỗi năm mua năm sáu vạn cân, khai thác nhiều, sau đó chỉ còn hai ba trăm nghìn cân. Mong xét định mức trung bình.”
Vua nói: “Trẫm nhớ giữa niên hiệu Hàm Bình, Trần Thứ vì Giang Nam có nhiều đồng, xin quan phủ mua ít. Không lâu sau, mỏ đồng dần cạn, đến nay thường như không dồi dào. Như muối ở Giải Trì, giữa niên hiệu Cảnh Đức, thu được gấp mấy lần, bản châu cũng muốn trồng ít, chưa đầy một năm mưa hạn, đột ngột giảm so với định mức cũ. Điều này cho thấy những gì trời đất nuôi dưỡng đều quý ở chỗ sử dụng hợp lý, lẽ nào lòng người có thể đoán trước được sự tăng giảm sao!”
[9] Ngày Canh Tuất, khắc bia ngự chế 《Nguyên Phù Quan Tụng》 lên đá.
[10] Ngày Nhâm Tý, cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, cung Cảnh Linh và quán Hội Linh xin chọn ba trăm năm mươi người trong số thợ binh đang làm việc để chuẩn bị tu sửa. Chiếu định mức hai trăm người.
[11] Lý Phổ, chức Chế trí phát vận sứ của Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ, vì đã mãn nhiệm kỳ nên được tái bổ nhiệm. Phổ tự báo rằng số lượng trà nhập từ Giang, Hoài trong năm đã tăng hơn 5.700.000 cân so với định mức cũ. Lại nói rằng trước đây, thuyền vận chuyển thường do sứ thần hoặc đại tướng quân đội phụ trách, mỗi người quản lý một đoàn, thường xảy ra tình trạng tham nhũng. Từ khi Phổ hợp nhất ba đoàn thành một, giao cho ba người cùng quản lý, để họ giám sát lẫn nhau. Năm nay, ban đầu vận chuyển 1.250.000 thạch gạo, chỉ mất 200 thạch.
[12] Ngày Ất Mão, Vương Tòng Đức, chức Thừa thụ công sự ở Hoàn Khánh lộ, cùng những người khác tâu rằng: Lãng Mai, chức Quân chủ của tộc Mao Thi ở biên giới phía bắc, cùng Diệt Xướng, chức Phiên quan của tộc Cốt Mị, và Phùng Di Mai, chức Phiên quan của tộc Sào Mê, dẫn theo 1.190 người thuộc hạ, 1.830 con gia súc, và 114 bộ vũ khí đến quy phụ. Triều đình ban chiếu an ủi họ. Mấy tộc này trước đây đã từng quy phụ, sau bị Hạ Châu ép buộc phản bội, đến nay khổ cực vì lao dịch nên lại đến xin quy phụ.
(Vương Tòng Đức, không rõ lai lịch.)
[13] Ngày Bính Thìn, vì việc xây dựng xong Cảnh Linh cung, Hội Linh quan cùng Cảnh Linh cung và Thái Cực quan ở Duyện Châu, quần thần chúc mừng. (Số lượng khu vực của Hội Linh quan, bản chí không ghi, cần tra cứu thêm.) Ban ân xá, giảm án tử hình cho tù nhân trong thiên hạ, tha tù lưu đày trở xuống; miễn 3/10 thuế hạ cho các huyện Khai Phong, Tiên Nguyên, Phụng Phù, Hoành Sơn, Hoa Âm, Khúc Dương, Đăng Phong; miễn 2/10 thuế cho các huyện khác ở Đông Kỳ và năm châu phủ còn lại.
[14] Ngày Đinh Tỵ, lệnh cho Hướng Mẫn Trung, chức Trung thư thị lang kiêm Hình bộ thượng thư, Bình chương sự, làm Khánh thành sứ cho Cảnh Linh cung và Thái Cực quan ở Duyện Châu, trên đường đi kiểm tra việc quan lại trị dân, được tùy nghi xử lý. Khi từ biệt, Vua làm thơ để tỏ lòng yêu mến.
[15] Ngày Mậu Ngọ, ban chiếu khen thưởng Trương Sĩ Tốn, chức Vương hữu của Thọ Xuân quận vương, vì (quận) Vương đã đọc xong chương cuối của 《Hiếu Kinh》. Khi (quận) Vương mới làm thơ, đã tự viết thành bài, có câu “Nhân tâm hoài lễ nghĩa”, Vua vui mừng, kể lại với các quan phụ chính.
[16] Chiếu cho các quan kinh triều và sứ thần phụ trách việc tuần tra, thúc đẩy việc vận chuyển trên sông Hoàng Hà, Biện Hà, Quảng Tế, Thạch Đường, từ nay mỗi năm được phép vào triều tâu việc một lần; các phán quan phụ trách vận chuyển ở Tam Môn, Bạch Ba, mỗi năm được phép cho hai người thay phiên nhau vào triều tâu việc.
[17] Lâm Đặc tâu rằng huyện Tiên Nguyên, châu Duyễn đã chiêu mộ 531 quân sĩ để phục vụ việc quét dọn ở cung Cảnh Linh và đài Thái Cực, xin lập thành Thanh Vệ Tả Đệ Tam Chỉ Huy, được chấp thuận.
[18] Ngày Kỷ Mùi, Lý Sĩ Hoành, chuyển vận sứ Hà Bắc, dâng 60 vạn tấm lụa và 20 vạn quan tiền để hỗ trợ lễ Nam Giao, và nói rằng 60 vạn tấm lụa là phần phải nộp theo quy định, còn 20 vạn quan tiền là phần dư của địa phương, xin cử sứ thần đi vận chuyển. Trước đây, mỗi khi có đại lễ, Sĩ Hoành thường dâng vật phẩm quân dụng từ địa phương mình phụ trách làm cống phẩm, nhưng khi cơ quan kế toán kiểm tra, số lượng thường không chính xác, nên lần này ông tâu rõ từng khoản. Triều đình ban chiếu khen ngợi, và nói với các đại thần rằng: “Sĩ Hoành có tài ứng phó nhanh chóng, nhưng thường làm việc qua loa, nên mọi người thường cho là ông ta khoa trương. Tuy nhiên, những gì triều đình cần, ông ta đều có thể chuẩn bị nhanh chóng, đó cũng là điểm mạnh của ông ta.”
(Bản truyện cho rằng những lời khen ngợi về tài năng ứng phó nhanh chóng là lời của Vương Đán nói với Vua, nhưng nay theo lời ghi trong Thực lục.)
[19] Ngày Canh Thân, Hướng Mẫn Trung, sứ cung Cảnh Linh, và Đinh Vị, sứ tu sửa cung điện, đều được thăng làm Binh bộ thượng thư, các phó sứ trở xuống đều được thăng chức, ban thưởng y phục, đai lưng và khí tệ. Tổng cộng cung điện có 726 gian.
[20] Ngày Nhâm Tuất, Lưu Vĩnh, trại chủ Sương Dương, châu Kiềm, chức Hữu Ban Điện Trực, được thăng làm Hữu Thị Cấm, 31 quân hiệu, thổ đinh và tướng trại được thăng chức theo thứ tự, và được ban thưởng tiền, vì có công đánh giết giặc man.
[21] Tiết độ sứ Thiên Bình quân, tặng Thị trung Chu Oánh mất. Ghi công cho con cháu ông tổng cộng bốn người.
Khi ở cơ quan trọng yếu, Chu Oánh không có mưu lược gì khác, đến khi chỉ huy quân đội thì lấy sự nhút nhát để tự bảo toàn, trải qua nhiều chức vụ trấn giữ biên cương nhưng thường bỏ bê công việc. Ban đầu, hữu ty định thụy hiệu cho ông là Trung Mục, nhưng đương thời bàn luận cho rằng như vậy là quá khen, nên đổi thành Nguyên Huệ, chiếu chỉ phê chuẩn.
Theo lệ cũ, trong các dịp đại lễ ban ân, các phiên trấn bên ngoài không được ban thưởng vật phẩm. Năm Đông Phong, Chu Oánh trấn thủ Thiền Uyên, nơi xa giá đi qua, nên đặc biệt được ban thưởng áo bào, đai vàng, đồ dùng và tiền tệ. Khi tế lễ ở Phần Âm, Chu Oánh đang làm Tri châu Định, bèn dâng lời xin trước rằng sau khi lễ thành, phần thưởng xin được ban ngay tại nơi trị sở, nhiều người cười nhạo ông.
[22] Ngày Giáp Tý, ban chiếu khen ngợi Tào Vĩ. Tào Vĩ đã tu sửa và xây dựng thêm các trại Cung Môn, Dã Phường, (Quảng Hòa) Nhương, Tĩnh Nhung, Tam Dương, Định Tây, Phục Khương, Vĩnh Ninh, Tiểu Lạc Môn, Uy Viễn, đào hào tổng cộng ba trăm tám mươi dặm, đều dùng dân trại và quân sương để thi công, không làm phiền đến dân. Lại ra chiếu rằng nếu Cốt Tư La và Lập Tuân có việc cần đến Vị Châu, cũng giao cho Tào Vĩ quản lý.
[23] Ban đầu, Quách Mẫn từ Cam Châu trở về, liền được bổ nhiệm làm Tá chức, lại được cử đi mang vật tặng của khả hãn vào đất Thổ Phồn. Đến Tông Ca, Lập Tuân giữ lại. Khi ấy, khả hãn sai thủ lĩnh Lý Cát cùng chín người khác đưa Dương Tri Tiến về, nhưng Lập Tuân cũng giữ lại Lý Cát, rồi sai người nói với khả hãn bằng tiếng Hồi Cốt rằng: “Dương phụng chức ở Cam Châu năm năm, nay Quách Tá chức đến, nếu lại ở lâu, sẽ làm phiền triều đình đón tiếp. Khả hãn nên gấp viết biểu xin nhận vật tặng, đến lấy vật tặng, sẽ thả Lý Cát về.” Lại dịch nói với Tri Tiến rằng: “Đại nhân ở Tần Châu dẫn quân mã thẳng vào Tạt La Mang, e rằng bộ tộc Thổ Phồn sẽ gây chiến. Khi gián điệp trở về, mong ngài nói giúp, xin ngừng binh, và để Thổ Phồn và Hán làm một nhà[3], sẽ không ngừng cống phụng.” Rồi sai người cùng tộc là Đảng Thất Ty đưa Tri Tiến đến biên giới, và dâng ngựa.
Tri Tiến nói Lập Tuân lấy mười tám con gái bộ tộc Thổ Phồn làm vợ, Cốt Tư La lại lấy cháu gái của Lập Tuân. Lập Tuân cai trị nghiêm khắc và tàn bạo, bộ tộc Thổ Phồn không vui, năm hạn hán, nhiều người chết đói, chỉ còn hai ba ngàn lều trại, thế lực suy yếu.
[24] Ngày đó, trường cỏ ở Tả Thiên Cứu phường bị cháy, tướng sĩ dốc sức và bị bỏng được thăng cấp, còn lại được ban tiền, nhân đó lệnh cho các trường cỏ ở kinh thành phủ bùn lên.
[25] Ngày Ất Sửu, lấy Vương Đán làm Cung thượng bảo sách Nam giao cung tạ đại lễ sứ, Hướng Mẫn Trung làm Nghi trượng sứ, Vương Khâm Nhược làm Lễ nghi sứ, Trương Mân làm Lỗ bạ sứ, Tào Lợi Dụng làm Kiều đạo đốn đệ sứ. Lại lấy Vương Đán làm Thiên thư nghi vệ sứ, Vương Khâm Nhược làm Đồng nghi vệ sứ, Đinh Vị làm Phù trì sứ. Lại lấy Đinh Vị làm Tu phụng bảo sách cập tham tường nghi chế sứ, cùng Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung phó sứ Lâm Đặc, Hàn lâm học sĩ Trần Bành Niên làm Phó sứ.
[26] Trần Nghiêu Tẩu xin ngừng ban thưởng sinh thần vì bệnh. Chiếu ngừng yến tiệc, nhưng ban thưởng vật phẩm như lệ.
[27] Ngày Bính Dần, Vua đến yết kiến tại cung Cảnh Linh, ban yến cho các quan tùy tùng ở điện Minh Phúc, ban thưởng cho các quan từ cung sứ trở xuống các loại khí tệ và tiền tùy theo thứ bậc, sai quan đi báo cáo việc hoàn thành cung điện với trời đất, cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, Thái Miếu, Hậu Miếu, Xã Tắc, Hội Linh Quan và Thái Nhất Cung.
[28] Ngày Đinh Mão, phong Lý Phổ, chức Phát vận sứ Hoài Nam, Giang Chiết, Kinh Hồ, Bắc Tác phường sứ, Đoàn luyện sứ Tưởng Châu làm Cung uyển sứ; Lý Tương, chức Chuyển vận sứ Kinh Đông, Viên ngoại lang Ty Phong làm Từ bộ lang trung; Vương Trăn, chức Giám sát ngự sử, Tri châu Duyễn làm Điện trung thị ngự sử, để thưởng công lao tu sửa cung quán.
[29] Ngày Mậu Thìn, Vua nói với các quan phụ tá: “Các quan pháp quan mỗi khi xét các tấu chương của quần thần, thường dẫn chiếu chỉ các năm trước, nói rằng nếu không có lợi lớn thì không thay đổi quy chế cũ, nên các lời tâu xin đều không được chấp thuận.” Vương Đán nói: “Nếu lời thỉnh cầu quá nhiều, thì chiếu lệnh sẽ bị cản trở, nên các quan pháp quan rất thận trọng trong việc thay đổi.” Đinh Vị nói: “Gần đây Lý Phổ xin cho phép buôn bán muối và trà tư, nếu tài sản bị tịch thu thì toàn bộ sẽ được trao cho người khác làm phần thưởng, nhưng nhiều người lại giả mạo để đòi lại tài sản cho chủ cũ, gây ra nhiều tệ nạn, xin hãy thu hết vào quan. Pháp tự đã xem xét kỹ và đồng ý theo lời tâu của Lý Phổ.” Vua nói: “Việc đặc biệt chấp thuận lời tâu của Lý Phổ là vì sợ ông ta không phục. Khi cấp dưới có ý kiến, nên xem xét kỹ lợi hại rồi mới thi hành.”
[30] Ngày Tân Mùi, trong cung nhận được tấu của Ty Thiên nói rằng sao Tuế Tinh và Thái Âm mất độ, sao Thái Bạch cao, chủ về binh đao ở đất Tần. Vua nói với các quan phụ tá: “Đất Tần tiếp giáp với Tam Thục, biên giới rất xa, trong quân đội có những kẻ bất lương, e rằng sẽ tụ tập thành giặc, nên cảnh giác phòng bị. Cốt Tư La đã gây mâu thuẫn với các hộ quen thuộc ở Tần, Vị, Tào Vĩ xin tăng thêm quân đồn trú, nên chấp thuận theo lời xin. Các quan trưởng lại, giám áp, tuần kiểm ở Xuyên, Thiểm nếu có kẻ lơ là, hãy thay thế họ.”
[31] Ngày Nhâm Thân, đặt chức Phó sứ cung Cảnh Linh, phong Thượng thư hữu thừa Triệu An Nhân giữ chức này.
[32] Ban chiếu cho Trung thư, Xu mật viện, trong ba ngày nóng nhất được về nhà vào giờ Ngọ, ghi thành lệnh.
[33] Tháng 6, ngày Giáp Tuất, mùng một, ban chiếu rằng từ nay những người được Lại bộ tuyển chọn mà phạm tội, cơ quan tuyển dụng chưa được quyết định cho họ nhập vào ngạch quan chức, phải trình bày rõ thứ hạng khảo khóa và tội phạm để xin chỉ thị.
[34] Trước đó, Thuyên ty xin rằng những người từng bị truy cứu và đình chỉ, khi xét lại thời hạn khảo khóa, phải đạt chuẩn mới được nhập vào chức lệnh lục. Vua nói: “Nếu như vậy thì sẽ có nhiều người bị chìm đắm. Trẫm gần đây thấy một người được tuyển chọn, đỗ đạt trong niên hiệu Thuần Hóa, hơn 20 năm qua, vì công việc công và tư, đến nay vẫn chưa đủ 10 kỳ khảo khóa. Do đó mà nói, không nên tăng thêm số kỳ khảo khóa.” Nhân đó quy định điều lệ.
[35] Ngày Bính Tý, ban chiếu rằng năm được mùa, vật giá rẻ, nên ra lệnh cho dân chúng không được bỏ phí lương thực, ai vi phạm sẽ bị xét tội.
[36] Ngày Mậu Dần, Vua ngự đến Hội Linh quan dâng rượu tế, ban yến cho các quan theo hầu ở điện Chúc Hi.
[37] Ngày Tân Tỵ, Tỷ bộ viên ngoại lang, Tri Tề châu Phạm Hàng vì tội nhận hối lộ làm sai pháp luật, được miễn tội chết, bị đánh bằng gậy vào lưng, xăm mặt và đày ra đảo Sa Môn.
Hàng làm quan, ở đâu cũng tham lam tàn bạo, nắm được điểm yếu của người khác, mọi người đều sợ hãi. Khi Vua còn làm doãn ở kinh đô, Hàng làm huyện lệnh Đông Minh, có dân kiện ông ta bán giấy tờ giả để thu vật phẩm, sự việc rõ ràng, việc điều tra đã xong, các quan phủ đều nói: “Đây là kẻ hung ác, e rằng sẽ có phản ứng, cần phải kết án chắc chắn rồi mới có thể tâu lên.” Khi giao cho đài xét lại, sự việc quả nhiên có biến đổi, Hàng chỉ bị phạt tiền mà thôi.
Sau đó, ông ta được bổ nhiệm làm Đề điểm hình ngục Hà Đông, dâng biểu xin được làm huyện lệnh Liêu Thành thuộc Bác Châu, tuy nói là tiện cho việc mai táng, nhưng thực chất là vì huyện này giàu có, có lợi cho việc vơ vét. Ở Tề Châu, ông ta càng thêm xảo quyệt và phạm pháp, đánh đập vô độ, cưỡng đoạt tài sản. Con trai ông là Chiêu làm Thái thường bác sĩ, trực tập hiền viện, nghe tin xấu về cha, liền sai người nhà mang thư khuyên can. Hàng nổi giận, đánh đập người nhà nặng nề.
Đến lúc này, Đề điểm hình ngục Đằng Thiệp và Thường Hi Cổ phát giác được việc tham ô của ông ta, lại ra bảng yêu cầu dân chúng tố cáo, thu được hàng chục tội trạng. Triều đình cử Ngự sử Lý Tốc đến xét hỏi, xác minh sự thật rồi đày ông ta đi. Chiêu lúc đó đang làm Đề điểm hình ngục Giang Nam Đông Lộ, khi mãn nhiệm trở về, đến Nam Kinh, dâng sớ xin được làm lính biên ải để chuộc tội cho cha, xin đưa cha đến nơi tốt hơn. Các tể thần nói rằng tội của cha con tuy không liên quan đến nhau, nhưng cũng nên giáng chức của Chiêu, bèn ra lệnh cho Chiêu vẫn tiếp tục công vụ, triều đình đồng ý.
(Việc Chiêu bị giáng chức vào tháng 9 ngày Kỷ Mùi, nay ghi chung vào đây.)
[38] Ngày Giáp Thân, Lý Sĩ Hoành tâu: “Ở Hà Bắc, sâu bọ phần lớn không vào ruộng đồng, trong làng mạc có kiến ăn chúng. Lại có châu chấu bay trên không, có con bị đứt thân đầu mà rơi xuống, có con tự vỡ bụng, có con bị sâu nhỏ ăn, đó là do yêu không thắng được đức, nên hiện ra điềm lạ vậy.”
[39] Ngày Ất Dậu, quyền Tam ty sứ Mã Nguyên Phương tâu rằng sang xuân sẽ có đại lễ, xin mượn vật phẩm ban thưởng từ kho Nội tàng, theo lệ phụng tự, trong đó có các loại vải lụa nhiều màu. Kho Nội tàng tâu rằng từ niên hiệu Hàm Bình, Cảnh Đức trở lại đây, các lễ Nam Giao đều không chi trả, e rằng về sau sẽ thành lệ. Vương Đán nói: “Ban đầu có chiếu chỉ, lệnh cho kho Nội tàng cấp vật phẩm ban thưởng cho các quân, lúc đó Nguyên Phương nói rằng chức vụ của mình không thể không lo liệu, việc ban thưởng tạm theo lệ cũ mượn kho Nội tàng một vạn lạng vàng, ba mươi vạn lạng bạc[4], bảy mươi vạn quan tiền, một trăm vạn tấm lụa, còn lại thì do Tam ty quy hoạch.”
Vua nói: “Nguyên Phương ở Tam ty, bị nhiều người chê bai, tại sao vậy?” Đán đáp: “Nguyên Phương hết lòng vì việc công, nhưng tính nóng nảy mà ít suy nghĩ, đồng liêu có ý kiến khác, thường dùng lời lẽ xấu xa để chê bai, đó là nguyên nhân gây oán hận.” Vua nói: “Trong số Phó sứ, Phán quan, cũng có người tài giỏi, sao lại đối xử khinh thường như vậy!” Hơn một năm sau, cuối cùng vì quá khắt khe mà bị cách chức.
[40] Ngày Bính Tuất, nước lũ ở khe Độc Cô thuộc châu Tần làm hư hỏng cầu thành trấn Diêm Quan thuộc huyện Trường Đạo cùng nhà cửa quan lại và dân chúng hai trăm chín mươi hai khu, có hơn sáu mươi người chết đuối, ban tiền cho những gia đình có người chết đuối.
[41] Ngày Đinh Hợi, Tri châu Hứa Châu là Thạch Phổ xin đào kênh ở đập Đại Lưu, đặt hai cửa cống, dẫn nước sông Sa để vận chuyển lương thực về kinh đô. Sai sứ đi xem xét. Lại xin bỏ trấn Đoạn Gia, dời đến trấn Kiến Hùng. Chiếu hỏi Tri châu Trần Châu là Phùng Chửng, Chửng tâu rằng không có hại, bèn cho phép làm việc vào lúc nông nhàn.
[42] Ngày Kỷ Sửu, ban chiếu: “Từ nay, phái quan viên mang thanh từ, chúc bản, hương được Vua phong đến các nơi tế cáo, đều phải niêm phong cẩn thận, mỗi khi đến dịch xá, đặt ở nơi yên tĩnh, phải hết sức nghiêm túc, kẻ nào vi phạm sẽ bị trừng trị nặng. Nếu cần phái sứ thần, thì chọn người có chức vụ từ Phụng chức trở lên để hộ tống.” Trước đó, Điện thị Trương Tín nhận lệnh truyền đưa hương hợp, chúc bản đến Nam Hải để tế lễ, Tín đặt trên lưng ngựa, không giữ được sự cung kính, đến giữa đường thì bị sét đánh chết, người bên cạnh nghe thấy trong không trung có tiếng nói rằng: “Không được làm tổn hại chúc bản, hương hợp.” Triều đình nghe tin, nên có chiếu này.
[43] Ngày Tân Mão, Chu Văn Chất, Đô giám trú bạc ở Kinh Nguyên tâu: “Cốt Tư La phái người đến vùng biên giới Vị Châu xúi giục các hộ thục, bắt họ nộp con tin, nếu không sẽ phá hủy làng mạc của họ. Việc này tuy chưa thể tin cậy, nhưng tình hình của các tộc người phương Bắc, có thể sẽ tương tự. Những hộ thục này vốn dựa vào triều đình, nếu không được an ủi, sợ họ sẽ hoang mang, không biết theo ai, đột nhiên ly khai. Thần muốn thân hành đến thành Lung Can để tuyên dụ, lại bắt họ nộp con tin, nếu có quân phiên xâm lược, thì cho phép họ ứng cứu.” Chiếu cho Tào Vĩ quyết định rồi thi hành.
[44] Ngày Quý Tỵ, ở kinh kỳ có nạn châu chấu, lệnh cho các phụ thần đến cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, cung Cảnh Linh, quán Hội Linh lập đạo tràng để cầu đảo.
[45] Lệnh cho Quảng Châu xuất một vạn thạch gạo trong kho, chọn quan viên đem bán, để cứu giúp dân chúng, vì giá gạo đắt.
[46] Ngày Bính Thân, Vua nói với các đại thần phụ chính là Vương Đán rằng: “Thành biên giới báo rằng quân Khiết Đan đánh Cao Ly thất bại, có kẻ gian do thám nói rằng triều đình sẽ đánh phía bắc, nên họ đã phòng bị rất kỹ. Họ biết nhiều về thiên văn, gần đây các hiện tượng thiên văn cho thấy điềm báo biến động, đều chủ về kẻ địch chia rẽ, bên dưới ắt sẽ có binh biến, nên họ tự nghi ngờ.” Vương Đán và các đại thần nói: “Nếu Khiết Đan suy yếu, họ sẽ càng dựa vào triều đình, chắc chắn không dám phá vỡ hòa ước. Điều đáng lo là anh em trong nội bộ họ tự chia rẽ, như thời Hán Tuyên Đế, tranh nhau đến triều cống, đều là do suy yếu.”
[47] Ngu bộ viên ngoại lang Trương Hoài Bảo, Bí thư thừa Hàn Thứ, Hộ bộ phán quan Trứ tác lang Trực sử quán Lương Cố được phân công phụ trách ba ty Diêm thiết, Độ chi, Hộ bộ câu viện, ban cho Hàn Thứ áo tía và cá.
Trước đó, Khởi cư lang Nhạc Hoàng Mục phụ trách tam ty câu viện, Tam ty sứ Mã Nguyên Phương cho rằng ông không xứng chức, nên bãi chức. Vua nói với Vương Đán rằng: “Người ta nói rằng quan chức tam ty không nên thay đổi nhiều, vì các lại viên sẽ lợi dụng sự thay đổi để không thể xem xét hết những tệ nạn trong công việc. Hơn nữa, câu viện là cơ quan phòng ngừa, quan nhỏ quyền nhẹ, khó có thể hoàn thành nhiệm vụ.” Vương Đán nói: “Ba bộ câu viện hợp thành một ty, thực sự là công việc phức tạp, dù có dùng quan lớn cũng chỉ làm tăng thêm áp lực, việc kiểm tra sẽ càng sơ sài. Nếu lại chia ba bộ để bổ nhiệm quan chức, chọn người tài năng nhanh nhạy để phụ trách, có thể giảm bớt gánh nặng công văn, đạt được sự tinh tế hơn.” Vì vậy, Vua ra lệnh cho Trương Hoài Bảo và các quan khác phân công phụ trách.
(Hàn Thứ, không rõ lai lịch.)
[48] Ngày Đinh Dậu, Tri châu Trần Châu là Phùng Chửng tâu: “Trong địa phận có nạn châu chấu, liền sai quan làm lễ tế cáo, đốt và bắt đã hết, lúa má không bị hại. Gần đây mưa nhiều, lúa mạch và đậu tươi tốt.” Vua sai trung sứ đốc thúc các châu bắt châu chấu. Đến Tương Châu, Tri châu là Tôn Xung không ra đón, trung sứ giận, bèn tâu rằng châu chấu chỉ ở Tương Châu là nhiều nhất, mà quan châu lại thờ ơ[5], không đoái hoài đến ý dân. Vua nổi giận, hạ lệnh lập tức giam vào ngục. Xung nhận được báo cáo của các huyện thuộc quyền về tình hình được mùa, liền chạy trạm tâu lên. Vua tỉnh ngộ, sai đuổi theo sứ giả mà đánh.
(Việc này căn cứ theo bản truyện của Xung, phụ chép vào đây.)
[49] Ngày Canh Tý, bãi chức quan Đô đại đề cử tại kinh Thảng thảo trường, chỉ sai hai viên sứ thần làm chức Đề điểm.
[50] Ngày Tân Sửu, Thái thường bác sĩ Phạm Ứng Thần tâu: “Các lộ nhiều nơi thiếu gỗ quan, xin cho lính trạm ngựa trồng cây du và liễu dọc hai bên đường quan, hoặc tùy theo thổ nhưỡng mà trồng các loại cây tạp, năm bảy năm sau có thể sum suê, ngoài việc cung cấp vật liệu, những tháng nắng nóng cũng đủ che mát cho người đi đường.” Vua nghe theo.
(Phạm Ứng Thần, người Đức Hóa.)
[51] Mùa thu, tháng 7, ngày Ất Tỵ, Du Hiến Khả tâu: “Man ở Phủ Thủy Châu nhiều lần làm giặc cướp, đã ban chỉ dụ chiêu dụ, nhưng chúng vẫn không chịu cải tà quy chính. Gần đây lại tập hợp đám đông cướp bóc các trại Sương Dương thuộc Châu Dung, giết Tuần kiểm Phàn Minh[6]. Xin cho thần cùng Tào Khắc Minh tùy nghi đánh dẹp.” Vua hạ chiếu nghe theo.
[52] Ngày Đinh Mùi, tăng cường xây dựng thành mới ở kinh đô.
[53] Ngày Mậu Thân, Vua hạ chiếu dụ Thứ sử Nam Đan Châu là Mạc Hoài Bức, vì ông vốn có lòng trung thuận, sợ bị man Phủ Thủy dụ dỗ uy hiếp, nên sai Du Hiến Khả và Tào Khắc Minh đi an phủ.
[54] Ngày Kỷ Dậu, Điện trực, chủ trại Đoát Bộ thuộc châu Khâm mới là Vương Tố bị đày đến Kinh Nam. Trại này đã lâu không có quan, Du Hiến Khả tâu rằng đây là nơi xung yếu của các động, xin chọn người bổ nhiệm. Tam ban cử Tố đi nhậm chức, và lệnh cho ông đi ngựa trạm đến nhiệm sở. Tố cho rằng nơi đó nhiều chướng khí độc hại, không muốn đi, giả vờ ốm, trên đường đi hơn hai trăm ngày, đến Tương Châu lại xưng bệnh nặng xin miễn nhiệm, nên bị cách chức.
[55] Ngày Canh Tuất, Tri Quảng Châu Trần Thế Khanh tâu: “Các nước phiên ở hải ngoại dâng phương vật đến Quảng Châu, từ nay xin cho tê giác, ngà voi, châu ngọc, hương quý, báu lạ được đưa thẳng đến kinh đô. Còn các vật nặng khác, xin cho nạp vào kho của châu, định giá rồi tâu lên. Những vật không phải là cống phẩm thì đều thu thuế. Mỗi nước cử một sứ phó và một phán quan, còn quan phòng vệ thì các nước Đại Thực, Chú Liễn, Tam Phật Tề, Xà Bà không quá hai mươi người, các nước Chiêm Thành, Đan Lưu Mi, Bột Nê, Cổ La Ma Dật không quá mười người, và đều được cấp giấy tờ đi lại. Khách phiên ở Quảng Châu nếu có người mạo nhận thì trị tội. Những vật được ban thưởng[7], cùng các vật mua bán thì được miễn thuế, còn các vật riêng khác không thuộc trường hợp này.” Được chấp thuận.
[56] Trung sứ từ núi Tung Sơn về, tâu rằng châu chấu bay đến Sơn Nam, gặp mưa đều chết rụng xuống khe, khoảng vài ngàn hộc. Chuyển vận sứ Hà Đông tâu rằng ở Lộ Châu làm lễ tế, châu chấu đều bay khỏi địa phận, các châu lân cận hoặc tế hoặc đuổi, đều dần tan rã.
[57] Ngày Tân Hợi, châu chấu bay qua kinh thành, Vua đến cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, chùa Khai Bảo, tháp Linh Cảm đốt hương cầu đảo, cấm âm nhạc trong cung thành năm ngày.
Trước đó, Vua đưa xác châu chấu chết cho các đại thần xem, nói: “Trẫm đã sai người đi khắp nơi ngoài đồng xem xét châu chấu, phần lớn đều tự chết.” Hôm sau, có vị quan chấp chính giấu xác châu chấu chết vào tay áo rồi dâng lên, nói: “Châu chấu thực sự đã chết, xin báo cho triều đình biết và dẫn trăm quan đến chúc mừng.” Vương Đán nói: “Châu chấu xuất hiện gây tai họa, nay tai họa đã qua, đó là điều may mắn, sao lại phải chúc mừng!” Mọi người đều cố nài nỉ, nhưng Vương Đán kiên quyết không đồng ý, việc này mới thôi. Lúc đó, hai phủ đang tâu việc, châu chấu bay kín trời, có con rơi xuống sân điện. Vua quay lại bảo Vương Đán: “Nếu để trăm quan đến chúc mừng mà châu chấu lại như thế này, chẳng phải sẽ bị thiên hạ chê cười sao!” Các quan chấp chính đều cúi đầu nói: “Tầm nhìn xa của Vương Đán, không phải bọn thần có thể theo kịp.”
(Việc này không rõ ngày cụ thể, vì hôm đó sách Thực lục chép châu chấu bay qua kinh thành, nên ghi lại. Hôm đó là ngày Tân Hợi, mùng 9.)
[58] Ngày Quý Sửu, Vua nói với các tể thần: “Sứ giả từ Duyện Châu về, nói châu chấu bay đến nơi nào cũng không ăn lúa, chỉ ăn sạch lá đậu. Họ còn bẻ cành lúa mang về, bông lúa rất dài và to. Trẫm nghi ngờ việc này không đúng sự thật, bèn tra hỏi, họ đều nói đại khái là như vậy, có thể kiểm tra lại. Trong kinh thành, châu chấu non rất nhiều, nghe nói ở góc tây thành có nhà nông, chỉ có vài mẫu lúa, thấy châu chấu đến, nhìn nhau khóc, chốc lát chúng bay đi hết mà không gây hại gì. Cũng có nhà giàu đào hào dài để chôn châu chấu nhưng càng ngày càng nhiều.” Vương Đán nói: “Năm nay châu chấu hoành hành, nếu không có thần linh can thiệp, thì rau quả và lá cây hầu như không còn gì.”
[59] Diên Châu báo rằng châu và bốn trại Định Bình, An Viễn, Tắc Môn, Khảo Lão bị nước lũ tràn vào, làm hư hỏng đê và thành.
[60] Ban tặng sách 《Cửu Kinh》 cho Tương vương Nguyên Ốc và Bành vương Nguyên Nghiễm.
[61] Ngày Giáp Dần, sai quan đi khắp các chùa chiền, đạo quán trong kinh thành để đốt hương cầu nguyện, vì nạn châu chấu.
[62] Ra chiếu rằng lệnh ban rượu trước đây nên đợi đến mùa xuân năm sau.
[63] Vua xem tờ tấu của Tiết độ sứ Hà Tây, Tri Hứa Châu Thạch Phổ dùng ấn Quan sát sứ Hứa Châu, bèn hỏi các tể thần.
Vương Đán tâu: “Châu Tiết độ có ba ấn: ấn Tiết độ theo quan Tiết độ sứ, nếu chức Tiết độ sứ khuyết thì nộp cho Hữu ty; ấn Quan sát thì quan Trưởng lại của châu dùng; ấn châu ban ngày giao cho Lục sự giữ và dùng, tối thì nộp lại cho Trưởng lại. Phàm Tiết độ sứ tại bản trấn, việc binh trượng thì Chưởng thư ký, Suy quan của Tiết độ sứ ký tên vào tờ tấu, dùng ấn Tiết độ sứ; việc điền phú thì Phán quan, Chi sứ, Suy quan của Quan sát sứ ký tên vào tờ tấu, dùng ấn Quan sát sứ; việc phù thích thuộc huyện thì do Phán quan của Tiết độ sứ ký tên, dùng ấn châu. Cho nên khi bổ nhiệm Tiết độ sứ đều ghi rõ: Tiết độ sứ mỗ quân, Quan sát sứ quản nội mỗ châu, Thứ sử mỗ châu, nói quân là chuyên quản việc quân sự, nói quản nội là tổng quản việc phong tục, nói Thứ sử là quản lý việc châu[8]. Thạch Phổ ký tên vào tờ tấu, nên dùng ấn Tiết độ sứ Hà Tây.”
[64] Ngày Ất Mão, chia sai các quan nội thần, phủ Khai Phong, lộ Hà Đông, Hoài Nam mỗi nơi ba người, lộ Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Bắc mỗi nơi năm người, cùng với Chuyển vận sứ, các châu Thông phán, Chức quan đi xem xét tình hình mùa màng bị nạn châu chấu phá hoại rồi tâu lên, cho phép kịp thời cải tạo ruộng đất, miễn tất cả thuế. Lại ra lệnh cấm âm nhạc trong kinh thành mười ngày.
[65] Châu Nghi tâu rằng người Man Phủ Thủy vây trại Tư Lập, Giám áp Lưu Bân đem quân chống cự đẩy lui được; chúng lại đánh quân Hoài Viễn, cũng không thắng. Vua xuống chiếu khen thưởng các quan lại, tướng sĩ, lại ban cho muối, lụa, tiền.
(Chiếu khen thưởng ban vào ngày Canh Tý tháng 8, nay chép chung với việc quân Hoài Viễn.)
[66] Ngày Bính Thìn, Vua đến yết kiến ở cung Cảnh Linh, cung Thượng Thanh, quán Hội Linh.
[67] Phủ Khai Phong tâu rằng ở thôn Xích Cương, huyện Tường Phù, châu chấu bám vào cỏ chết dài mấy dặm, bèn hái cỏ đem dâng lên.
[68] Ngày Mậu Ngọ, Vua xuống chiếu đình chỉ các việc xây dựng trong kinh thành.
[69] Chuyển vận sứ Hà Đông là Trần Nghiêu Tá tâu: “Quân đồn trú ở bản lộ trước đây dùng lụa vận chuyển từ hai Xuyên để cấp phát áo, nay xin tự chuẩn bị trong bản lộ. Áo mùa đông năm nay, tính ra tiết kiệm được hơn năm mươi vạn xấp lụa bông, để dâng lên triều đình.” Đinh Vị nói: “Hà Đông vốn không có lụa bông, không thể tính toán được. Đây là do Ty Chuyển vận mỗi năm tính toán kỹ số lượng, nên tích lũy được thặng dư mà thôi.”
(Điều này cho thấy Đinh Vị và Nghiêu Tá không hợp nhau.)
[70] Tam Ty mượn bốn mươi vạn quan tiền trong kho Nội tạng.
[71] Ngày Tân Dậu, chiếu rằng những kẻ cướp bóc, tội đáng chết nhưng được giảm xuống lưu đày, sau khi xử xong, vẫn phải giam giữ tại thành ấy.
[72] Ngày Quý Hợi, vì nạn châu chấu, sai quan tế thần Cửu cung quý thần.
Có người dâng thư nói rằng nạn châu chấu và hạn hán là do con em các đại thần ngang ngược gây ra. Chiếu dụ tể tướng, lệnh Học sĩ viện ban chiếu để cảnh cáo các quan tại chức, chiếu viết: “Trẫm chăm chỉ tuân theo đạo trị quốc, mong đạt được sự thái bình. Nhưng gần đây châu chấu làm hại mùa màng, xem xét sách xưa ghi chép, là do bọn lại thuộc cướp bóc. Những quan quận huyện gần đây, phạm pháp không kiểm soát, con em họ ỷ thế tham lam. Dân chúng oán than, khí trời u ám, nếu theo phép nhẹ, e rằng tệ nạn sẽ lan rộng. Từ nay các sĩ đại phu hãy chăm lo tu dưỡng, nghĩ đến giáo dục con em, giữ gìn gia phong, đừng để mang tiếng xấu. Nếu phạm lỗi nặng, khó mà giảm tội. Vẫn lệnh các quan sở tại, cẩn thận xem xét.”
[73] Ngày Giáp Tí, chiếu cấm âm nhạc trong kinh thành đến hết tháng này.
[74] Bổ nhiệm Nhập nội Đông đầu cung phụng quan Dương Thủ Trân làm Quyền Đồng Tuần kiểm kiêm An phủ đô giám các châu Nghi, Dung, quản lý công việc các động Khê, đi nhậm chức bằng xe trạm.
[75] Ngày Ất Sửu, Điện tiền đô chỉ huy sứ Tào Xán và Tri châu Tần Châu là Tào Vĩ đều đang chịu tang mẹ, được khởi phục.
[76] Ngày Bính Dần, Kinh Triệu phủ và Hoa Châu đều tâu rằng lúa trong ruộng tươi tốt, châu chấu bay qua biên giới có con tự chết. Vua nói: “Các châu tấu chương đều nói châu chấu bay về hướng tây bắc, Trẫm lo chúng tụ tập ở núi non, sâu non sinh sôi nhiều, nên lệnh cho Hà Đông chuyển vận sứ Trần Nghiêu Tá lên kế hoạch đốt và chôn, không để chúng sinh sôi trở lại.”
[77] Chiếu rằng: Từ nay ruộng chức của các quan trong thiên hạ, đều phải tuân theo chế độ cũ, không được xâm phạm khách hộ, gặp thiên tai thì miễn giảm. Trước đó, Điện trung thị ngự sử Vương Kỳ xin thu ruộng chức để giúp cứu tế. Vua nói: “Trẫm dùng ruộng này để giúp đỡ quan lại, vốn muốn mỗi người đều đủ dùng, yêu cầu họ thanh liêm cẩn thận[9]. Kỳ chưa hiểu lý do cấp ruộng. Nhưng Trẫm mỗi khi xem tấu chương của Pháp tự, thấy các quan ngoài chiếm ruộng chức, nhiều vượt quá chế độ cũ, không tự chuẩn bị trâu giống, hoặc lúc hạn hán lũ lụt, lại không miễn giảm, khiến dân không có nơi kêu cứu.” Bèn bãi bỏ tấu chương của Kỳ, hạ chiếu nhắc nhở.
[78] Ngày Đinh Mão, Vua đến Thái Nhất cung, trên đường về đi qua gần thành xem dân cày ruộng, ban cho trà và lụa.
[79] Ngày Kỷ Tỵ, trung sứ Nhậm Thủ Trung từ Hà Đông về, tâu rằng thấy lúa, kê, đậu đều chắc và dài, đi qua Lộ Châu, chỉ có huyện Tương Viên có châu chấu bay qua, không thành tai họa. Lại có Tương Châu tâu rằng huyện An Dương có châu chấu ôm cỏ mà chết, khoảng hơn mười dặm. Các châu Từ, Hoa, Doanh, Bác đều tâu châu chấu không thành tai họa. Vương Đán nói: “Thần vốn quê ở Đại Danh, có người nhà nói ăn lúa rất ít. Gần đây phân phái trung sứ đi xem xét kỹ lưỡng, có thể thấy bệ hạ lo lắng rất sâu sắc, cầu đảo hết lễ. Hoặc nghe nói bệ hạ thường ăn chay, nay tấu báo đến, có thể làm nguôi ngoai lòng thánh.”
(Nhậm Thủ Trung, chưa rõ.)
[80] Ngày Tân Mùi, Hướng Mẫn Trung từ Duyện Châu trở về.
[81] Tháng 8, ngày Nhâm Thân, mùng 1, Tào Quý tâu rằng: “Bộ lạc Phiên ở trại Phục Khương là Tư Kê Ba cùng với Lý Ma Luận của tộc Tông Ca lập ra phép tắc riêng. Thần đem quân đến đánh, chúng đều tan vỡ, phá hủy thành trại của chúng xong.”
[82] Ngày Giáp Tuất, xuống chiếu cho các quan ở Lưỡng tỉnh cùng với các chức Long Đồ các đãi chế, Tam ty sứ trở lên, từ sau khi ở Phần Âm chưa được thăng chuyển, đều đặc cách thăng chức. Do đó, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Lý Duy cùng 10 người khác đều được thăng chức vì đã lâu không được thăng.
[83] Ngày Ất Hợi, lấy Tả ty lang trung, Tri chế cáo Chu Tốn làm Tri Ứng Thiên phủ, kiêm Nam Kinh lưu thủ ty sự; Hình bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Vương Tùy làm Công bộ lang trung, Tri chế cáo, Tri Dương châu.
[84] Trước đó, Vua nói với tể tướng rằng: “Vương Tùy ở Nam Kinh cai trị quá khoan dung.” Vương Đán nói: “Khi Phùng Chửng làm Trung thừa, Vương Tùy coi việc ở đài, Chửng nói Tùy xử lý công việc cẩu thả.” Vua nói: “Nghe nói Tùy sắp làm gì, đều bị người ta đoán trước, ở nơi đô hội, không thể trấn áp được.” Gặp lúc Tri Dương châu Tiết Ánh xin thay người, bèn lệnh cho Tùy, lại sai Chu Tốn truyền chỉ dụ răn dạy.
[85] Ngày Bính Tý, lấy Thiểm Tây đô chuyển vận sứ, Hữu gián nghị đại phu Lý Địch làm Hàn lâm học sĩ, đặt chức Hội linh quan phó sứ, lấy Địch làm chức ấy. Lại đặt chức Cảnh linh cung, Hội linh quan phán quan, lấy Tri chế cáo Lưu Quân, Nhạc Hoàng Mục làm chức ấy.
[86] Sùng nghi sứ, Nhập nội áp ban Chu Hoài Chính làm Ngọc thanh chiêu ứng cung đô giám; Tây Kinh tả tàng khố phó sứ, Đái ngự khí giới Vương Thừa Huân làm Đồng đô giám; Cung bị khố phó sứ Chu Hoài Tín làm Cảnh linh cung đô giám; Đông nhiễm viện sứ Đặng Thủ Ân làm Hội linh quan đô giám, đều thay nhau túc trực ở cung quán. Hoài Chính thường ở trong cấm cung, nên tăng thêm một người.
(Hoài Tín là em của Hoài Chính.)
[87] Xuống chiếu cho các lộ không được di chuyển thuế hai lần, lại cho phép dùng thóc, lúa mì, kiều mạch, đậu để thay thế cho nhau. Những vật phẩm mua của quan, nếu địa phương không sản xuất, phải báo số lượng lên.
[88] Lệnh cho Giang, Hoài phát vận ty mỗi năm để lại 50 vạn hộc gạo thượng cung để phòng năm đói cứu tế.
[89] Cấm giết gà trong kinh thành.
[90] Ngày Mậu Dần, Vua nói với các quan tể tướng: “Các sứ thần ở các lộ đều báo rằng châu chấu bay nhiều nhưng không ăn lúa.” Vương Đán và các quan tâu: “Tháng trước, châu chấu bay qua phía bắc sông Hoàng Hà, dân làng đang chuẩn bị đốt và đập chết chúng, nhưng những ngày sau đó gió mạnh từ tây bắc thổi tới, nên chúng không bay xa được. Từ Trạm Châu trở về bắc, ít có nơi nào bị hại lúa. Nay đậu và gai đã cứng chắc, không còn lo ngại nữa.”
[91] Cơ quan hữu trách định thụy hiệu cho cố Tuyên Huy Nam Viện Sứ, được tặng chức Thượng Thư Lệnh, truy phong tước Tiếu Vương là Quách Thủ Văn là Trung Vũ, chiếu chỉ đồng ý.
[92] Ngày Kỷ Mão, trung sứ Trương Văn Dục và các quan tâu: “Chúng thần chia đường đi kiểm tra những ruộng dân bị châu chấu phá hoại. Ở huyện Mật, phủ Hà Nam, có 1.200 hộ bị hại; huyện Yển Sư có 400 hộ; huyện Vĩnh An có 300 hộ. Ở Lệ Châu và quân Thuận An, châu chấu không ăn lúa. Ở Bác Châu và quân Thông Lợi, do sương lạnh, châu chấu đều chết hết ngoài đồng. Nói chung, thiệt hại khoảng một hai phần mười.”
Vua nói: “Trẫm lúc đầu thấy châu chấu bay tụ tập, tưởng ruộng đồng sẽ trống không. Gần đây các châu đều báo không bị hại, nên vẫn hy vọng thu hoạch được một nửa. Nay xem xét kỹ, thiệt hại thật đáng lo ngại.” Vương Đán tâu: “Bệ hạ tận tâm lo nghĩ cho dân, tức là biến tai họa thành phúc lành.”
Vua nói: “Số thuế được miễn giảm cần phải ưu đãi hơn nữa.” Các quan lui ra bàn với nhau: “Từ cuối hạ đến nay, sâu bọ gây hại, các tấu chương từ các lộ đều trình lên, ý lo lắng của bệ hạ không lúc nào nguôi. Các sứ giả được lệnh đi khắp nơi, đều thấu hiểu nỗi lo của bệ hạ, đến đâu cũng hỏi han dân tình, xem xét lúa má, hoặc hái lúa non mang về từ nghìn dặm, hoặc ghi chép việc nông để báo lên. Xưa kia, Vua chỉ cần nói một lời hay, sao tai họa cũng lánh xa, huống chi bệ hạ ngày đêm chăm chỉ, lấy việc cầu trời cứu dân làm ý nguyện! Các quan trung quý thời trước đi sứ, chỉ kiêu ngạo ngang ngược, quan lại không được tiếp đón, há chịu hỏi han dân tình! Nếu không phải nhờ đức lớn cảm hóa, sao được như thế!”
[93] Hàn lâm học sĩ Trần Bành Niên tâu rằng: “Trước đây theo chiếu xem xét các sắc lệnh mới và cũ, cùng lấy những sắc lệnh đã bị xóa bỏ và các văn kiện của Tam ty do Lâm Đặc biên soạn, cùng các sắc lệnh ban hành tiếp theo, đến hết năm Đại Trung Tường Phù thứ 7, tổng cộng 6.200 đạo (theo《Hội yếu》là 2.791 đạo, nay theo bản chí), 1.374 điều, chia thành 30 quyển. Các nghi chế, sắc thư, đức âm riêng làm 10 quyển, cùng với《Hình thống》và sắc lệnh ruộng đất Cảnh Đức ban hành đồng thời. Còn các sắc lệnh chỉ áp dụng tại kinh đô và các cơ quan Tam ty, thì biên soạn riêng. Các quy định về lệ sách Tam ty, cống cử, quốc tín vẫn tuân theo như cũ.”
Vua nói với tể tướng: “Trần Bành Niên đã bỏ bớt các văn bản rườm rà, rất tiện lợi. Tuy nhiên, có những sắc lệnh do yêu cầu khởi xướng, qua tranh luận, sửa đổi trước sau, đặc biệt giữ lại một sắc lệnh, nay đã bỏ đi, e rằng sau này cần chứng cứ thì không còn. Nên sao chép lại các sắc lệnh đã bỏ, giao cho quán các để phòng tra cứu.”
(《Thực lục》và《Bản kỷ》đều ghi là cùng Lâm Đặc, Phó sứ Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung, dâng lên. Nhưng sau đó Trần Bành Niên được ban ân, còn Lâm Đặc thì không. Nay chỉ theo《Bản chí》và《Hội yếu》, không ghi tên Lâm Đặc.《Bảo huấn》lại ghi việc giữ lại sắc lệnh đã bỏ là do Lưu Tổng đề nghị, nay cũng không dùng.《Thực lục》ghi việc lưu sắc lệnh đã bỏ vào tháng 6 năm thứ 6, ngày Mậu Tý, nay theo《Bản chí》ghi kèm ở đây.)
[94] Ngày Nhâm Ngọ, lệnh cho Kinh Đông chuyển vận sứ và Tri châu Duyện kiêm quản câu Tiên Nguyên huyện, làm sứ quản lý Cảnh Linh cung và Thái Cực quán.
[95] Xu mật sứ Vương Khâm Nhược tâu: “Người man ở Nghi Châu đầu tháng 5 vừa được chiêu an, chưa đầy mười ngày lại nổi loạn, tính người man không biết chán, biết rõ triều đình thường tha tội, nên khi nguy cấp thì xin quy thuận, khi lơi lỏng thì lại phản. Xin chiếu cho Du Hiến Khả, Tào Khắc Minh, nếu bắt được thủ lĩnh người man, thì giao lại những người và tài sản bị cướp cho các gia đình bị hại, bắt họ thề máu, rồi mới tha tội.” Vua đồng ý.
[96] Ngày Quý Mùi, vì kinh đô thiếu mưa, sai sứ đi cầu mưa tại các cung quán, chùa chiền.
[97] Chiếu rằng từ nay những kẻ giết trâu cày và trộm giết trâu, tội chưa đến mức tử hình, đều bắt giam để tâu lên, sẽ xử phạt nặng. Lúc đó, trung sứ Trịnh Chí Thành đi sứ Lạc Châu về, tâu rằng trên đường thấy nhiều người bán thịt trâu, lo rằng những kẻ bất lương sẽ nhân cơ hội giết trâu, nên ra lệnh cấm.
[98] Tể tướng Vương Đán vì già yếu bệnh tật xin từ chức, chiếu không cho phép, và bác bỏ tờ tấu của ông.
[99] Ngày Giáp Thân, Đô tuần kiểm sứ các châu Nhung, Lô, Tư, Vinh là Trương Nguyên Phổ xin xây thành ở Dục Tỉnh Giám, Vua lo ngại sẽ gây phiền nhiễu cho dân nên không cho phép.
[100] Ngày Bính Tuất, Vua tự tay soạn sách văn dâng lên tôn hiệu Ngọc Hoàng, triệu tập các đại thần cùng xem, từ trong cung cử nghi trượng đón rước, đưa đến điện Thiên An để sao chép khắc vào ngọc.
[101] Xu mật sứ, Đồng bình chương sự Trần Nghiêu Tẩu bị cách chức, giáng làm Hữu bộc xạ.
Nghiêu Tẩu vì bệnh lâu ngày xin ra ngoài làm quan, Vua sai Các môn sứ Dương Sùng Huân đến nhà an ủi và hỏi ý kiến. Nghiêu Tẩu nói lời chí thành, nên Vua đồng ý. Triệu con của Nghiêu Tẩu đến ban cáo điệp, sau đó sai ông làm Phán quan ở Hà Dương, cấp lương thực hàng tháng, mỗi năm ban tiền công sứ một trăm vạn. Việc đê điều ở Hà Dương giao cho Thông phán chuyên trách. Nghiêu Tẩu gắng gượng bệnh tật xin vào từ biệt, được ngồi kiệu đến điện Tiện, cho phép con trai là Vệ úy tự thừa Hi Cổ đỡ lên điện, có chiếu miễn lạy, ban ngồi lâu, lại ban thêm hai trăm vạn tiền, ban cho Hi Cổ áo tía, lại làm thơ tiễn ông lên đường.
Nghiêu Tẩu có dáng vẻ uy nghi, khỏe mạnh, tâu đối rõ ràng, nhiều mưu trí, lâu năm nắm giữ cơ mật, sổ sách quân mã đều nhớ hết[10].
[102] Bí thư thừa Hàn Thứ tâu: “Các châu xét án, phần nhiều do thuộc hạ của quan khám hỏi lại, lo rằng có oan sai, không thể phân minh. Xin chọn quan ở châu lân cận.” Vua đồng ý.
[103] Ngày Đinh Hợi, vì Hướng Mẫn Trung đi sứ trở về, Vua mở tiệc chiêu đãi các quan cận thần ở điện Trường Xuân, không cử nhạc, vì thương xót dân đang gặp hạn hán. Vương Đán và các quan tâu rằng: “Gần đây có nạn sâu bọ, triều đình đã miễn giảm thuế cho dân, nay lại có mưa thuận, cũng không ảnh hưởng đến việc nông, giá cả rất rẻ. Bệ hạ lo lắng quá mức, các tấu chương từ khắp nơi đều tự tay xem xét. Gần đây lại đặc cách ban chiếu chỉ miễn thuế cỏ khô cho dân buôn rượu ở kinh kỳ[11], thuế hạ còn thiếu của hạng trung và hạng dưới cũng được hoãn lại, dân chúng được ơn nhiều lắm. Thiên tai xảy ra, từ xưa đã có, bệ hạ thành tâm cầu khẩn, giảm bớt ăn uống, thần đây giữ chức tể tướng, thật hổ thẹn và lo sợ! Xin bệ hạ hãy nguôi ngoai phần nào.” Các quan lạy hai lần để thỉnh cầu, Vua an ủi hồi lâu.
[104] Ngày Mậu Tý, Vua hạ chiếu vì hạn hán nên bãi bỏ tiệc rượu ngày Xã của các quan cận thần, lại bãi cả tiệc mùa thu.
[105] Quan Tri châu Hứa Châu là Thạch Phổ dâng sớ bàn về lợi hại của việc bình định man ở Nghi Châu. Vua cho là viển vông, bãi bỏ.
[106] Ngày Nhâm Thìn, quần thần dâng biểu xin sang năm nhận sách bảo tôn hiệu, Vua không cho, từ đó dâng biểu năm lần, mới chấp thuận.
[107] Ngày Quý Tỵ, Vua hạ chiếu cho các lộ Chuyển vận sứ phải hiểu dụ các quan trưởng lại ở châu, phủ, quân, giám rằng, phàm có việc kiện tụng, phải xét xử công minh, cốt sao được công bằng; những tội đáng chết mà tình tiết nhẹ đáng thương hoặc có điều gì nghi ngờ, đều cho phép tâu lên để xét xử, để tỏ lòng thương xót.
[108] Ngày Giáp Ngọ, Viện Thẩm hình dâng tấu án, có viên quan được lệnh từ Thục trở về, dẫn đoàn vận chuyển về kinh, tự ý mở niêm phong, nhét lụa vào trong, sai lính trạm mang đi, mưu trốn thuế buôn. Quan Tri viện là Tôn Cận xin xử tội vi chế thất. Vua nói: “Việc này có thể gọi là thất sao?” Tôn Cận không trả lời được. Vương Đán nói: “Theo luật, lừa dối có trăm cách. Đại để nói là thất, là do suy nghĩ không đến. Đây là công khai lừa dối, không phải thất.” Bèn đổi xử theo tội vi chế.
[109] Ngày Bính Thân, Vương Trường Cát, Đề điểm hình ngục Giang Nam cùng các quan tâu rằng: “Tăng nhân Pháp Đoan ở huyện Thượng Do, quân Nam An, vì tức giận người đánh cá đòi tiền mua cá, bèn sai tăng nhân Thủ Quăng giết chó trong viện, rồi báo quan vu cáo người đánh cá ăn trộm. Huyện sai lí tư bắt người đánh cá cùng cha, trói giải về viện, Thủ Quăng đánh chết. Lại hối lộ điển lại huyện, tập hợp kì bảo, bắt giam hai em trai người đánh cá, rồi giết chết. Lại dùng dao làm bị thương mẹ người đánh cá. Nhân đó báo với huyện úy Cấp Tế là bắt được giặc cướp, Tế nhận lời xin của lại, khi khám nghiệm tử thi, sai người chủ trì giấu dấu vết trói buộc, cùng gia đình già trẻ đều bị gông xiềng giải về quân. Huyện lệnh Tôn Ngưng xem xét lại, lại vì già yếu bị lại lừa dối. Nhân quân bản xứ hặc tội, xét ra sự thật, Pháp Đoan, Thủ Quăng bị xử tử, còn lại đều được ân xá. Nay xét thấy gia đình người đánh cá có ba anh em, đều làm nghề đánh cá, còn lại đều còn nhỏ, nay bốn người bị giết, ba người bị thương, xét tình hình sự việc, thật là tội ác lớn. Mong ban chiếu chỉ đặc biệt, xử phạt nặng, không được giảm nhẹ vì ân điển.”
Chiếu đánh roi Cấp Tế, đày đi đạo Châu, Tôn Ngưng bị giáng làm Văn học, còn lại mười lăm người bị xăm mặt đày đi các châu xa xôi ác địa ở Quảng Nam, lấy năm mươi chín mẫu ruộng tư của Thủ Quăng cấp cho gia đình bị hại.
[110] Người dâng thư tâu rằng: “Gần đây các quan văn võ tiến cử tam ban sứ thần, phần nhiều không phải người tài năng quen thuộc, chỉ vì nhận lời xin, đến kinh đô, dâng chương tiến cử, rất trái với ý chỉ chọn người tài của quốc gia. Mong từ nay các quan đương nhiệm tri châu, thông phán, kiềm hạt, đô giám bản lộ, các ty sứ, phó trở lên, mới được dâng tấu, người được tiến cử phải trải qua hai nhiệm giám áp, tuần kiểm không có sai sót, người tiến cử đương nhiệm thì được sử dụng; nếu trong đó có người gặp sự cố, không được tính vào số người tiến cử.” Theo lời tâu.
[111] Ngày Đinh Dậu, Trương Kế Năng, Đông nhiễm viện sứ, Thứ sử Hội Châu, Nhập nội phó đô tri, vì trước đây hộ tu đường hầm lăng Trang Mục hoàng hậu bị sụp đổ, bị giáng làm Tây nhiễm viện sứ.
(Tháng tư ngày Kỷ Mão, trách Lam Kế Tông.)
[112] Ngày Mậu Tuất, sai quan nhập nội điện đầu là Triệu Hoài Bảo, Lý Doãn Văn dẫn 400 quân bộ kỵ đến hai châu Tịnh, Đại để bắt giặc.
[113] Ngày Kỷ Hợi, Đinh Vị tâu rằng: “Ngày sinh thần của thần được ban cho lễ vật, rượu, nhạc, lại cho phép mở tiệc tại nhà riêng, ân điển quá lớn, thần không dám nhận. Hơn nữa, từ khi có lệnh cấm nhạc đến nay, thần chưa từng được theo hầu du ngoạn, lại đang trai giới tại đạo tràng Hội Linh, xin bãi bỏ ân điển này.” Vua đồng ý. Vương Đán nói: “Mỗi khi đến ngày sinh thần, bọn thần đều được ban ân điển, lại còn sai các ty chuẩn bị yến tiệc. Huống chi, các quan hai chế gần đây đều kiêm nhiệm nhiều việc, việc riêng làm ảnh hưởng đến việc công. Xin đặc biệt bãi bỏ việc ban thưởng, chỉ cho phép tập hội với người thân cũ.” Vua chấp thuận, từ đó vẫn ban rượu và lễ vật như cũ, nhưng không tổ chức yến tiệc.
[114] Ngày Canh Tý, lấy Hình bộ lang trung, Trực sử quán Cao Thân làm Sử quán tu soạn, đồng phán Lại bộ lưu nội thuyên. Thân thân thiết với Xu mật sứ Vương Khâm Nhược nên được tiến cử, nhưng chỉ cho phán thuyên, thực tế không nắm việc tu soạn. Từ đó, người giữ chức tu soạn phải là quan Lưỡng tỉnh từ ngũ phẩm trở lên mới được nắm việc tu soạn, trở thành lệ. Đến năm sau, Thân xin ra ngoài nhậm chức, theo lệ cũ, chức tu soạn không được ra ngoài, nên lại được bổ làm Trực Chiêu văn quán, Tri châu Việt.
(Việc bổ làm Trực quán là vào tháng 3 năm sau, ngày Quý Hợi, nay ghi chung lại.)
[115] Trung thư cho rằng số quan đi tế lăng mùa thu ít người họ tông thất, muốn dùng Tri tạp ngự sử Triệu Chẩn. Vua nói: “Ngự sử ra vào đều có quy chế, việc ở phủ huyện rất quan trọng. Dương Lệ thường nói, từ thời Ngũ đại trở lại đây, ngự sử đi sứ thường lấn át phiên trấn, Chu Thế Tông khi ở châu Thiền từng chứng kiến việc này nên đã giảm bớt. Nếu để Chẩn đi sứ ngoài cũng không tiện.”
- Liêm nguyên bản viết 'Quảng'. Xét Quảng Châu thuộc Quảng Nam Đông lộ, không phù hợp với địa lý ghi trong sách này, căn cứ theo 《Tống hội yếu》 phần Phiên Di 5-5 và 《Tống sử》 quyển 272, truyện Tào Khắc Minh sửa lại. ↵
- Các mỏ đồng ở Âm Sơn, Tín Châu: Chữ 'Đẳng' nguyên bản là 'Tự', căn cứ theo bản Tống, bản Các và 《Trị tích thống loại》 quyển 29, 《Tổ tông dụng độ tổn ích》 sửa lại. 'Âm Sơn', các bản đều giống nhau, 《Trị tích thống loại》 chép là 'Duyên Sơn'. Xét 《Hoàn vũ ký》 quyển 107, Tín Châu có Duyên Sơn, còn gọi là Quế Dương Sơn, thời Đường núi này sản xuất chì, đồng và thanh lục. 《Tống hội yếu》 Thực hóa 33-3 chép về các mỏ đồng có trường Duyên Sơn, Tín Châu, nghi ngờ 'Âm Sơn' nên là 'Duyên Sơn'. ↵
- và để Thổ Phồn và Hán làm một nhà 'và' nguyên là 'Nhĩ', theo 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 26 về việc bộ tộc Thổ Phồn Cốt Tư La phản phục, 《Tống hội yếu》 Thổ Phồn 4 chi 7 sửa. ↵
- Ba mươi vạn lạng bạc câu này nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Trị tích thống loại》 quyển 29 bổ sung. ↵
- mà quan châu lại thờ ơ: Sách 《Tống sử》 quyển 299, truyện Tôn Xung chép là 'mà quan châu ngày ngày bày tiệc rượu'. ↵
- giết Tuần kiểm Phàn Minh: Chữ 'giết' nguyên bản chép là 'nói', căn cứ theo các bản khác và sách 《Tống hội yếu》 phần Phiên di 5/6, 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 26 phần Phủ Thủy man phản, 《Tống sử》 quyển 495 truyện Phủ Thủy Châu mà sửa lại. ↵
- nguyên văn là 'duyên tứ ư sở đắc', theo các bản khác và 《Tống hội yếu》 sửa thành 'duyên tứ dữ sở đắc' ↵
- nguyên văn chữ 'ngôn' viết nhầm thành 'kinh', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các sửa lại ↵
- yêu cầu họ thanh liêm cẩn thận, chữ 'thanh' nguyên là 'thỉnh', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và 《Trị tích thống loại》 quyển 5 《Chân Tông thánh chính》, 《Tục thông giám》 quyển 33 sửa ↵
- Sổ sách quân mã đều nhớ hết: chữ 'tất' nguyên bản thiếu, căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống sử toàn văn quyển 6, Biên niên cương mục quyển 8 bổ sung ↵
- chữ 'giáng' trong câu 'cận giả đặc giáng chiếu chỉ quyên kinh kỳ giác cô chi dân chiết thâu sô cảo' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào bản Tống và bản Tống toát yếu bổ sung. ↵