III. TỐNG CHÂN TÔNG
QUYỂN 89: NĂM THIÊN HI THỨ NHẤT (ĐINH TỴ, 1017)
Từ tháng giêng năm Thiên Hi thứ nhất đời Chân Tông đến tháng 5 cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Tân Sửu mùng một, đem Thiên thư lên điện Thái Sơ, làm lễ dâng hiến, dâng sách bảo và áo cổn. Lại đến điện Nhị Thánh dâng áo sa đỏ, dâng lễ vật và tiến rượu. Các lộ đều thiết lễ đại tiếu La Thiên. Trước đó, dựng đạo trường, bảy ngày trước lễ, trai giới, cấm giết mổ, thi hành hình phạt, ngăn chặn điều xấu xa, ba ngày trong phường chợ không được uống rượu ăn thịt. Quân hiệu, nha tướng, đạo sĩ, tăng ni, người già đều tập trung ở chùa chiền, quân doanh, nhà dân, đặt hương đèn trước cửa cúi lạy. Quan lại mặc đồ tang không phải tang cha mẹ đều tham dự, còn lại không được mặc đồ tang. Các lộ sai Chuyển vận sứ kiểm tra. Hôm đó, Vua trai giới ở cung Cảnh Linh. Ngày Nhâm Dần, dâng sách bảo và áo tiên ở điện Thiên Hưng. Lễ xong, xa giá về cung, quần thần vào chúc mừng ở điện Sùng Đức.
[2] Ngày Bính Ngọ, xuống chiếu định ngày 15 tháng này làm lễ tuyên đọc Thiên thư.
[3] Ngày Kỷ Dậu, sai Nhiếp Thái úy Hướng Mẫn Trung dâng sách bảo gia thụy cho sáu tôn miếu.
[4] Ngày Canh Tuất, Vua thân hành tế lễ sáu tôn miếu. Hôm đó, Vua trai giới ở Thanh Thành phía nam ngoại thành.
[5] Ngày Tân Hợi, đem Thiên thư hợp tế trời đất, lấy Thái Tổ và Thái Tông cùng phối hưởng. Xong lễ, Vua ngự ở cửa Chính Dương, đại xá thiên hạ, những tội thường xá không tha cũng đều được tha, ban thưởng như lệ Đông Phong. Miễn thuế ruộng và thuế mua gạo còn thiếu ở các châu quân bị thiên tai, giảm giá muối ở Kinh Hồ Nam lộ. Xóa bỏ các khoản nợ đọng trong thiên hạ, kể cả những khoản bị chiếm dụng đã qua 30 năm cũng được xóa. Sai Hữu ty nhanh chóng định ra điều lệ về trà và muối, chỉ cốt thuận tiện cho dân, không bó buộc vào chỉ tiêu hàng năm. Những người đủ tiêu chuẩn làm lệnh lục mà trải qua các nhiệm kỳ không phạm lỗi, Lại bộ xét khảo khóa rồi tâu lên. Gạo cống của Giang, Hoài, tạm thời miễn vận chuyển một lần trong mùa xuân năm nay.
[6] Trước đó, Trứ tác lang, Tập hiền hiệu lý Trương Sư Đức, phán Tam ty đô lý khiếm, Bằng do ty, (việc tháng 9 năm Tường Phù thứ 8), dâng lời rằng có người mắc nợ quan mà bị giam giữ, vốn không phải là trộm cắp, nếu là người cô độc nghèo khó bệnh tật không có gì để tự trả, xin nhân dịp xét tù mà miễn trừ cho họ. Vua nghe theo lời ấy, từ đó áp dụng khắp các lộ.
[7] Quần thần dâng tôn hiệu, sách bảo ở điện Thiên An.
[8] Ngày Nhâm Tý, Vua cùng tể tướng và các quan tam phẩm trở lên của các ty, tông thất, thứ sử, tri tạp ngự sử trở lên, phò mã đô úy trai giới. Lấy Vương Khâm Nhược làm Tuyên đọc thiên thư lễ nghi sứ. Đặt tượng Ngọc Hoàng ở điện Thiên An, vị trí thiên thư ở phía đông, vị trí Thánh tổ ở phía tây, dựng đạo trường.
Ngày Ất Mão, ba canh bốn trù, Vua đứng hướng tây trên điện, quần thần mặc triều phục lên điện đứng hầu, Nghi vệ sứ dâng thiên thư đặt trước Ngọc Hoàng[1], Nhiếp Trung thư lệnh Nhiệm Trung Chính quỳ tâu: “Tự thiên tử thần mỗ kính cùng tể tướng và các quan tuyên đọc thiên thư, giảng cầu thánh ý, kính cẩn suy nghĩ lời dạy của bậc thánh, nuôi dưỡng dân chúng.”
Vương Đán quỳ lấy thiên thư ở cửa Tả Thừa Thiên đặt lên án, Nhiếp Điện trung giám Trương Cảnh Tông, Trương Kế Năng bưng án, Nhiếp Tư đồ Vương Tăng, Nhiếp Tư không Trương Tri Bạch quỳ mở ra, Nhiếp Thái úy Hướng Mẫn Trung tuyên đọc. Mỗi câu xong, liền suy nghĩ ý chỉ, nói rằng câu này là thiên mệnh dạy hoàng đế việc gì, hoặc nói là phụng thiên, hoặc nói là yêu dân, Nhiếp Trung thư lệnh Vương Khâm Nhược cầm bút chép lại. Tuyên đọc xong, Nhiếp Thị trung Trương Mân quỳ tâu: “Tự thiên tử thần mỗ dám không kính cẩn tuân theo thiên mệnh.” Nghi vệ sứ quỳ đặt thiên thư vào hộp. Lại lấy thiên thư ở Công Đức các và Thái Sơn để tuyên đọc, Vương Khâm Nhược dâng lên bản chép ý chỉ thiên thư, Vua quỳ nhận, đăng ca dâng rượu, đặt thiên thư lên kiệu, ý chỉ thiên thư lên xe, trở về cung. Sau đó đến yết kiến ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, Vua làm bài 《Khâm thừa bảo huấn thuật》 để ban cho quần thần.
[9] Ngày Bính Thìn, Vua đến bái yết ở cung Cảnh Linh, rồi đến thăm Hội Linh Quan. (Vua làm bài 《Khâm Thừa Bảo Huấn Thuật》, bản ghi chép về bảo lục vào tháng 2 ngày Giáp Tuất, nay theo bản kỷ, ghi chép tại đây.)
[10] Ngày Đinh Tỵ, Vua đến bái yết ở viện Khải Thánh, nơi thờ thần vị của Thái Tông.
[11] Ngày Mậu Ngọ, Vua đến bái yết ở viện Phổ An, nơi thờ thánh dung của Nguyên Đức Hoàng Thái Hậu.
[12] Ngày Nhâm Tuất, Vua ban chiếu lấy ngày mùng một tháng 4 làm tiết Thiên Trinh, các quy chế đều giống như tiết Thiên Huống. (Thiên thư ở lầu Công Đức đến lúc này mới được ban bố khắp thiên hạ, không rõ vì sao.)
[13] Trước đó, Nội điện thừa chế Ngụy Hóa Cơ tâu rằng nước sông Biện chảy xiết, thường làm hỏng thuyền do cột cầu, bèn dâng lên kiểu cầu không chân, làm bằng gỗ đan lại, đóng đinh xuyên qua, Vua ban chiếu cho Hóa Cơ cùng Bát Tác Ty xây dựng. Đến lúc này, Tam Ty ước tính chi phí công sức vượt quá ba lần, bèn ban chiếu bãi bỏ.
[14] Ngày Quý Hợi, Vua ban chiếu tâu lên áo cổn của Thánh Tổ ở quán Linh Tiên, châu Thư.
[15] Ngày Giáp Tý, Vua lệnh cho các châu quân ở Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Bắc, Thiểm Tây, Hoài Nam, Giang, Chiết bị thiên tai, xuất rượu cặn từ các ty chuyên bán rượu để cứu tế dân nghèo.
[16] Ngày Bính Dần, Vua sai Tể tướng Vương Đán làm sứ phụng thượng sách bảo ở quán Thái Cực, châu Duyện, Thượng thư hữu thừa Triệu An Nhân làm phó.
[17] Quan Tri quân Kiến Xương[2] là Vương Cảnh dâng sớ nói về bảy việc trọng yếu trong thời chính: một là giảm bớt tai dị, hai là mở rộng đường ngôn luận, ba là rõ ràng việc tế tự, bốn là chỉnh đốn y phục, năm là xét đoán bè đảng, sáu là cẩn thận tu dưỡng, bảy là nghiêm ngặt phòng bị biên cương. Vua xem xong khen ngợi.
[18] Ngày Đinh Mão, Vua đến cung Thái Nhất, rồi đến thiền viện Phụng Tiên, bái yết chân dung của Thánh Tổ và Chiêu Hiến Hoàng hậu, dâng lễ ở mộ của phu nhân Thành Thánh Kế Minh nước Tần.
[19] Ngày Mậu Thìn, bãi bỏ việc khai thác đá Lô Cam ở Thiểm Tây.
[20] Miễn chức Nội điện thừa chế, Đái ngự khí giới của Phù Thừa Lượng, giáng một chức. Thừa Lượng là con của Chiêu Thọ, chồng của huyện chúa Gia Hưng, huyện chúa là con gái của Sở vương Nguyên Tá. Trước đó, Thừa Lượng xin ra làm quan ngoài, Vua ban chiếu giáng chức làm Đô giám châu Hoàng. Sau đó, lại nhờ huyện chúa vào tâu xin được ở lại kinh sư, Vua giận vì sự thay đổi của ông, nên trách phạt.
[21] Chuyển vận sứ Quỳ Châu lộ là Tang Quỳ tâu rằng lương thực ở địa phương mình đắt đỏ, Vua xuống chiếu cứu tế.
[22] Ngày Kỷ Tỵ, Cấp sự trung Tôn Cận mất. Vua nói: “Tôn Cận chuyên tâm Nho học, tính tình ngay thẳng, trung lập không tranh giành, thật đáng tiếc.” Sai thăng chức cho con ông ta.
[23] Các quan tâu: “Tế trời ở Viên Khâu vào ngày Đông chí, trước đây cử 14 viên quan dâng lễ, nay nghĩ rằng vị thần rất nhiều, lên xuống liên tục, chưa hết lòng thành kính, xin tăng thêm 7 viên ngoài số cũ. Lễ Vu tế và Đại hưởng, xin tăng thêm 1 viên. Lễ tế đất ở Phương Khâu vào ngày Hạ chí và lễ Tế trăm thần, xin tăng thêm 2 viên.” Vua chuẩn tấu.
[24] Tháng 2, ngày Canh Ngọ mùng một, Vua xuống chiếu rằng ở các châu quân bị thiên tai, bán thóc kho Thường Bình chỉ thu đúng giá mua ban đầu, thóc kho Tỉnh mỗi đấu không được quá 100 đồng.
[25] Ngày Tân Mùi, sai 29 sứ thần đi các lộ, tuyển chọn quân Sương về kinh [3].
[26] Tam ty mượn 50 vạn quan tiền kho Nội tàng.
[27] Ngày Nhâm Thân, Vua ngự ở cửa Chính Dương xem lễ Bộ, từ đó kéo dài 5 ngày.
[28] Ngày Giáp Tuất, cấp cho Tả, Hữu Tuần sứ mỗi người 3 người theo hầu thường trực, 2 viên quan trực ở đài, 1 chủ bạ, theo lời xin của đài ty. Vua nói: “Theo chế độ nhà Đường, các đài tỉnh có nhiều người theo hầu, đều là sai dịch dân biên chế, miễn thuế khóa cho họ. Nay đều do quan phủ cấp [4], để tiết kiệm chi phí.”
[29] Tào Vĩ tâu rằng thương nhân ở Thiểm Tây đưa lương thảo vào nộp, giấy giao dẫn càng ngày càng rẻ, tổng cộng tiền hư thực một trăm ngàn, bán đi chỉ được mười hai ngàn, xin cho quan phủ ở Vĩnh Hưng, Phượng Tường, Hà Trung xuất tiền mua lại, được chấp thuận. (Bản chí chép bán ở chợ chỉ được tám chín ngàn, nay theo Thực lục. Lời tâu của Tào Vĩ trong Hội yếu vào ngày Giáp Tuất tháng năm.) Sau đó, ty Tường định trà diêm lại tâu: “Giấy giao sao tổng cộng tiền hư thực năm ngàn[5], trước đây quan phủ cho mười ba ngàn đến mười chín ngàn để mua, nay bán ở chợ chỉ được tám chín ngàn, sợ rằng thương nhân giàu có sẽ nhân giá rẻ mà không đưa vào quan trường, lại lo quân lương ở biên giới phía tây thiếu hụt, xin quan phủ tự thu mua, lấy chín ngàn làm chuẩn.” Được chấp thuận.
(Thực lục chép vào ngày Quý Tỵ tháng hai, nay dời lại đây. Tào Vĩ từ tháng mười một năm ngoái đã được đổi làm Bộ thự ở Tần Châu, lệnh cho Lý Cập làm Tri châu Tần Châu, nhưng Thực lục ở đây lại chép là Tri châu Tần Châu Tào Vĩ[6], có lẽ là lời tâu của Tào Vĩ khi còn làm Tri châu Tần Châu.)
Giấy giao dẫn càng ngày càng rẻ, vì trà cấp cho phần nhiều không tinh, thương nhân ít được lợi. (Theo bản chí.)
[30] Châu Bạc tâu việc tu sửa cung Thiên Tịnh đã hoàn thành. Trước đây, huyện Lâm Hoán, châu Túc có cung Thiên Tịnh, nói là nơi mẹ Thái Tổ cảm ứng với sao, Vua định đến triều yết Thái Thanh cung, Đinh Vị vẽ đồ dâng lên, sai nội thị đến cung làm lễ cầu đảo, rồi xuống chiếu tu sửa lại, đến nay hoàn thành. Ban đầu cắt huyện Lâm Hoán thuộc châu Bạc, có người nói việc nộp thuế không tiện, bèn chỉ lấy một hương Đại Lý của Lâm Hoán để phụ thuộc vào châu Bạc, người châu Túc thấy tiện.
(Lời nói việc không tiện, theo 《Thực lục》, 《Hội yếu》 là lời tâu của Lại bộ Lang trung Lý Cập. Việc chỉ cắt một hương theo 《phụ truyền của Lý Địch》, là lời xin của Lý Địch khi làm Tri châu Bạc. Xét Lý Cập lúc đó đã ở Tần Châu, Lý Địch lúc đó lại ở Hàn lâm, nay đều bỏ tên không chép.)
[31] Ngày Ất Hợi, Tam ty tâu rằng: “Hà Bắc năm ngoái mua 30 vạn tấm lụa, nhưng vì nạn châu chấu và hạn hán, nên giảm bớt một phần ba. Nay xin lệnh cho Kinh Đông lộ mua 10 vạn tấm.” Vua nói: “Kinh Đông bị thiên tai còn nặng hơn Hà Bắc, sao có thể làm phiền dân ta thêm nữa? Hãy lập tức bãi bỏ việc này.”
[32] Ngày Đinh Sửu, ban chiếu đặt riêng 6 viên Gián quan và 6 viên Ngự sử, tăng lương tháng, không kiêm chức vụ khác. Mỗi tháng phải có một viên tâu việc, nếu có việc khẩn cấp thì được vào chầu bất kỳ lúc nào[7]. Sau ba năm thì cách chức những người không đủ năng lực.
Trước đó, Vua nói với tể tướng: “Trẫm vì nạn châu chấu mùa thu năm ngoái mà tự xét lại, thiên hạ rộng lớn, há chính sự dân sinh có thiếu sót chăng? Gần đây nghe lời bàn tán bên ngoài, nói triều đình ít tiếp nhận lời can gián, nhưng không biết rằng Trẫm luôn lắng nghe lời tâu của quần thần, nếu có điều gì khả thủ thì lập tức thi hành, chỉ là người trong ngoài chưa hiểu rõ mà thôi. Nay trong triều có nhiều người tài giỏi, gần đây xem các bài phú tụng, càng thấy văn phong thay đổi lớn, há không có người dám nói thẳng nói thật sao? Nên ban chiếu đặt riêng quan chức đài tỉnh chuyên lo việc can gián, nhưng phải chọn người cẩn trọng, đoan chính, hiểu đại thể, còn những kẻ xu nịnh, phù phiếm thì Trẫm không dùng.” Vương Đán và các quan tâu: “Thánh chính của bệ hạ ngày càng tốt đẹp, nhân tài đông đảo, mà bệ hạ vẫn cần mẫn tìm kiếm, như sợ không kịp, ắt sẽ có kỳ tài đáp ứng sự tuyển chọn.”
Lại bộ tâu rằng những người được bổ nhiệm làm Lệnh, Lục, nếu nguyện giảm bậc để làm Ty Lý Tham quân, từ nay xin cho hưởng bổng lộc như Lục sự, tối đa 5.000 quan, Vua đồng ý.
[33] Ngày Mậu Dần, các quan trong và ngoài triều đều được gia ân. Tư đồ, kiêm Môn hạ thị lang, Bình chương sự Vương Đán được gia phong Thái bảo. Trung thư thị lang, kiêm Binh bộ thượng thư, Bình chương sự Hướng Mẫn Trung được gia phong Lại bộ thượng thư. Sở vương Nguyên Tá được lĩnh chức Ung châu mục. Tương vương Nguyên Ốc được gia phong Thượng thư lệnh, kiêm Trung thư lệnh, làm Tiết độ sứ các quân Thành Đức, Trấn Ninh, tiến phong làm Từ vương. Bành vương Nguyên Nghiễm được gia phong Thái bảo, làm Tiết độ sứ Trấn Hải, Thiên Bình. Thọ Xuân quận vương Thụ Ích kiêm Trung thư lệnh. Xu mật sứ, Đồng bình chương sự Vương Khâm Nhược được gia phong Hữu bộc xạ. Định Nam tiết độ sứ Triệu Đức Minh được gia phong Thái phó. Ba chức Tam công đều bổ nhiệm hai người, bắt đầu từ Vương Đán và Nguyên Nghiễm. Chức Châu mục bắt đầu từ Nguyên Tá.
[34] Vua làm bài minh cho Hội Linh Quán, bài luận tụng Nguyên Phù, bài luận Tư Chính, lại xuất bản 10 quyển 《Chính Thuyết》, 3 quyển 《Xuân Thu Yếu Ngôn》, 100 bài thơ viết ở Thanh Cảnh điện, triệu tập các phụ thần đến Long Đồ các để xem.
[35] Ty Đề điểm hình ngục Hà Đông tâu rằng ở Tấn, Giáng có nạn châu chấu và hạn hán, giá cả tăng vọt, dân chúng lưu lạc, xin miễn thuế còn sót lại từ mùa thu năm ngoái, chiếu chuẩn. Vua nói: “Trước đây chuyển vận sứ nói không có thiên tai, tại sao vậy? Nên xem xét lại, để tỏ rõ ý Trẫm thương xót dân chúng.”
[36] Ngày Canh Thìn, bổ nhiệm người Tân La là Hồng Quất Tiên làm Đô tri binh mã sứ Ứng Thiên phủ, ban cho y phục và tiền. Quất Tiên từng làm chức Thừa chỉ ở nước mình, Vua nước ấy sai ông giả vờ trốn sang Khiết Đan để do thám việc cơ mật rồi trở về triều đình.
[37] Ngày Tân Tỵ, Vua làm bài luận Tam Hoặc, bài ca Tam Hoặc cùng chú giải, lại cho vẽ tranh, khắc bản in, để ban cho các phụ thần.
[38] Lấy Đông nhiễm viện sứ, Bình châu thứ sử Tào Khắc Minh làm Tri châu Quế châu kiêm Đô tuần kiểm sứ các châu Nghi, Dung, Điện trực, Cáp môn chi hậu Mã Ngọc làm Tuần kiểm đô giám các châu Nghi, Dung, kiêm quản việc Khê Động. Lấy hai chỉ huy Hổ Dực, Hùng Vũ thuộc quyền, nếu giặc Man quấy nhiễu thì tăng thêm quân đồn trú và quân Trung Cảm mới chiêu mộ để sử dụng, khi giặc yên thì trở lại như cũ. Ban cho Khắc Minh cùng nội thị Văn Khánh, Dương Thủ Trân khí vật và lụa, để thưởng công dẹp yên Phủ Thủy.
Ban đầu, Khắc Minh và Ngọc chia đường tiến đánh, Ngọc ra sức chiến đấu, nhiều lần đánh bại quân Man. Lúc đó, triều đình chủ trương chiêu dụ, nhiều lần ban chiếu dụ Khắc Minh, nhưng Khắc Minh cũng ngại tiến sâu, nhiều lần gửi văn thư ngăn Ngọc. Ngọc tiến đến Như Môn Đoàn, bị quân Man chặn đánh, không thể tiến lên. Khắc Minh chần chừ do dự hơn một tháng, đến Phủ Thủy Châu, cùng Mông Thừa Quý kết ước rồi rút quân. Tuy nhiên, sau đó quân Man Phủ Thủy vẫn nhiều lần xâm phạm. Người bàn luận cho rằng Ngọc dùng uy binh làm chấn động đất Man, người Man sợ hãi, đến mức gọi ông là “Mã Đại Vương”, nhưng bị Khắc Minh ngăn cản, không thể tiến lên, cuối cùng để lại họa biên giới. Nhiều người đổ lỗi cho Khắc Minh.
(Điều này căn cứ theo chính truyền của Khắc Minh. Mã Ngọc không rõ là người ở đâu, Ngọc đã được nhắc đến vào ngày Đinh Tỵ tháng 9 năm trước.)
[39] Phát thóc từ kho Thường Bình[8], lập 14 trường, bán thóc để cứu tế dân nghèo, vì giá cả ở kinh thành đắt đỏ.
[40] Lệnh cho ba cung quan giảm bớt giấy dùng trong lễ cúng, để giảm bớt nỗi vất vả của việc mua bán và vận chuyển.
[41] Ngày Nhâm Ngọ, ban chiếu cho các quan trong triều đổi chức, đến ngày 11 tháng giêng năm nay sau lễ tế giao và ba năm, không phân biệt trong ngoài, chỉ cần không phạm tội tham nhũng, đều cho Thẩm quan viện khảo xét trình lên, sẽ bàn việc thăng chức.
(Bản kỷ chỉ chép: Chiếu cho các quan trong triều đổi chức sau ba năm, không phân biệt trong ngoài, đều cho Thẩm quan viện khảo xét trình lên, không khác gì chiếu tháng 9 năm ngoái ngày Mậu Thìn, nay theo bản chí ghi rõ.)
Sau đó, Thẩm quan viện xin rằng những người bị thay thế đột xuất, hoặc bị giáng chức do tội lỗi chưa đủ một nhiệm kỳ; cùng những người đang tại chức bị giáng chức, dù đã tại chức ba năm, hoặc đã qua khảo xét mà không được thăng chức, thì không cần xét lại. Chiếu rằng những người bị thay thế đột xuất, bị giáng chức, đang tại chức đủ thời hạn mà chưa qua khảo xét, hoặc đã qua khảo xét mà không được thăng chức, sau đó lại đủ hai năm, không phạm tội tham nhũng, đều cho khảo xét trình lên.
Vua nói với tể tướng: “Các quan trong triều có người lười biếng không làm việc, mọi người đều biết nhưng không có lỗi rõ ràng, khi khảo xét, chỉ dựa vào thâm niên mà thăng chức, đây không phải là cách khuyến khích. Ta từng nhớ có viên quan tên là Triệu Nghiêm, ở Hà Sóc bị giáng chức do tội lỗi, năm ngoái Thẩm quan viện dẫn vào đối chất, cũng được đổi chức, gần đây nghe nói say rượu bỏ bê công việc. Những người như vậy, cần đặc biệt lưu ý.”
(Theo 《Bảo Huấn》. Việc Thẩm quan viện xin, 《Thực Lục》 chép vào ngày Nhâm Tý tháng 3, nay gộp lại chép.)
[42] Trước đó, các con của vương tử khi mới nhận chức, đều được phong làm chư vệ tướng quân, còn lại tùy theo chức vụ của cha và thân thuộc mà phân biệt cao thấp. Chiếu cho Tông chính khanh Triệu An Nhân tham gia bàn định chế độ, An Nhân xin rằng cháu của Tuyên Tổ, Thái Tổ khi mới được ấm phong thì làm chư vệ tướng quân, chắt làm Hữu thị cấm, chút làm Hữu ban điện trực, nếu cha có tước cao thì theo ấm phong cao, những việc do đặc chỉ thì không lấy làm lệ. Lại chiếu cho Trung thư, Xu mật viện xem xét quyết định thi hành.
[43] Ngày Quý Mùi, phong cho Trương Tri Bạch, vừa được bổ nhiệm làm Công bộ thị lang, Tham tri chính sự, làm Kim tử quang lộc đại phu, vẫn giữ chức Cấp sự trung như trước, thêm tước công thần và thực ấp, các chức vụ khác vẫn giữ nguyên.
Trước đó, Tri Bạch nhờ ơn tế giao được ban thêm bậc lương, nhiều lần dâng biểu từ chối, nhưng Vua không cho. Ông lại dâng chương khẩn thiết xin từ, nhiều lần vào chầu tự trình bày, Vua khuyên nhủ nhưng cuối cùng không thể thay đổi ý ông. Cấp sự trung, Tham tri chính sự Vương Tăng nói: “Thần cùng Tri Bạch đều mới được bổ nhiệm, nay lại được thăng bậc, thực không yên lòng, mong bệ hạ thu hồi ân mệnh.” Vua nói: “Tri Bạch khẩn thiết từ chối, không có ý gì khác, chỉ vì khanh làm Gián nghị đại phu, đứng trên; còn ông ấy làm Cấp sự trung, đứng dưới. Ông ấy cố từ chối là muốn thứ bậc được rõ ràng. Hơn nữa, vị trí của các cận thần đều lấy thứ tự trước sau làm thứ bậc, nếu kiên quyết như vậy, Trẫm cũng không tiếc gì.” Tăng lại nói: “Tri Bạch tài năng và kiến thức vốn đã xuất sắc, huống chi từ triều trước đã nổi danh, so với thần thực là bậc tiền bối, mong nâng Tri Bạch lên đứng trên thần, như vậy cả hai đều thỏa đáng.” Vua không đồng ý, bèn theo lời thỉnh cầu của Tri Bạch mà gia thêm danh hiệu và bậc lương.
(Truyện về Tri Bạch chép: Tri Bạch trong lòng không yên, nên cố từ chối chức vụ được thăng. Nay chỉ theo Thực lục, ghi đầy đủ lời Vua. Vị trí vốn có quy định, Tri Bạch sao lại không yên? E rằng sử quan có thêm thắt chăng.
Tống Mẫn Cầu trong 《Xuân minh thoái triều lục》 chép: Hai phủ trước kia lấy quan chức để định thứ tự. Lý Văn Chính công từ chức Văn minh điện học sĩ, Công bộ thượng thư làm Tham tri chính sự[9], còn Tống Huệ An công từ chức Tả Gián nghị đại phu, Tham tri chính sự thăng làm Hình bộ thượng thư, đứng trên. Đến cuối năm Tường Phù[10], Vương Nghi công cùng Trương Văn Tiết công cùng làm Tham tri chính sự, Vương chuyển làm Cấp sự trung, Trương chuyển làm Công bộ thị lang mà đứng dưới Vương Nghi công, trong lòng không vui, bèn thu hồi mệnh lệnh phong hai khanh, chỉ dùng chức cũ mà gia thêm bậc lương và thực ấp[11], từ đó về sau chỉ lấy thứ tự vào trước sau làm thứ bậc. Sử gia thêm thắt, có lẽ là theo lời chép của Mẫn Cầu, nay không theo.)
[44] Ngày Bính Tuất, Vua trai giới ở điện Trường Xuân, triệu tập các tể tướng đến phòng trai, nói rằng: “Hôm qua Trẫm sai trung sứ đến Thiểm Tây, mới biết rằng mùa thu năm ngoái có sâu bọ ẩn nấp trong các kẽ đá, lo rằng đến mùa xuân chúng sẽ sống lại và làm hại mùa màng. Nên lệnh cho các châu huyện nhanh chóng đốt bắt.”
[45] Ngày Đinh Hợi, đặt bài vị của Nguyên Thiên Đại Thánh Hậu ở điện Văn Đức, Vua thân hành dâng rượu tế, lạy và trao sách bảo cho Vương Đán, trao áo tiên cho Triệu An Nhân. Vương Đán và các quan quỳ nhận, rồi đưa lên xe, bày nghi trượng, nghi vệ. Trên đường đi, cấm giết mổ trong hai ngày, quan lại đón lạy. Đến Duyện Châu, sai 30 viên quan mặc áo ngắn dẫn đường. Ngày dâng sách, Vua không thiết triều.
[46] Ngày Canh Dần, phong Giao Chỉ quận vương Lý Công Uẩn làm Nam Bình vương.
[47] Tào Vĩ tâu rằng tộc Tông Ca là Mã Ba Sất Lạp dẫn quân đóng trại ở thung lũng Nhã Nhĩ Ô, liền tuyển 200 quân Thần Vũ đêm đến phá trại, bắt được nhiều người và gia súc.
[48] Ngày Tân Mão, Vua triệu Thái tử Trung Doãn, Trực Long Đồ các là Phùng Nguyên đến giảng kinh Dịch ở phía bắc cửa Tuyên Hòa, các quan đãi chế là Tra Đạo, Lý Hư Kỷ, Lý Hành Giản cùng dự. Từ đó, những lúc rảnh rỗi sau khi nghe chính sự, Vua thường làm như vậy, nhân đó hỏi thăm về tài năng của các đại thần. Hành Giản không oán ghét ai, luôn khen ngợi ưu điểm của họ, được mọi người kính trọng.
[49] Ngày Quý Tỵ, Vua nói với các tể thần: “Trẫm vì năm ngoái có hạn hán và châu chấu, mùa màng thất bát, đêm ngày lo sợ, không lúc nào quên. Nay đã giữa xuân mà mưa thuận chưa xuống, Trẫm trai giới cầu đảo nhưng lòng thành chưa thấu đến trời. Thực lo rằng chính lệnh có điều trái ý trời, nên nghĩ đến các điều cấm về trà và muối quá nghiêm khắc, cần phải sửa đổi.” Hướng Mẫn Trung tâu: “Thiên tai có lẽ là lẽ thường. Nay bệ hạ siêng năng khiêm tốn, lo lắng sớm khuya, nếu việc nước và việc người không có gì thiếu sót thì thiên tai cũng không làm tổn hại đến đức của bệ hạ. Xin bệ hạ bớt lo lắng.” Vua nói: “Phép trà đã thi hành lâu, nếu khó thay đổi ngay thì chỉ nên bỏ những điều gây bất tiện và thu thuế nặng cho dân là được.”
[50] Dân châu Vụ là Hoàng Cổn đánh trống Đăng Văn, kiện rằng dân châu là Viên Tượng nhà có chứa sách cấm, xem thiên văn, làm điều yêu hoặc để mê hoặc dân chúng. Vua xuống chiếu cho Điện trung thị ngự sử Vương Kỳ, Thị cấm, Cáp môn chi hậu Lý Trọng đi ngựa trạm đến tra xét. Tượng khai nhận cùng dân châu là Đồng Củng, tiến sĩ Ngô Xương Ngôn tự xem thiên văn lịch pháp, nói lời sai trái gây hại, lại dùng thuật truyền cho Từ Tán, Trọng Nghiêm, Lục sự Trương Đản, Tư lí Tào Doãn Cung từng sai xem mệnh. Vua xuống chiếu xử tử Tượng, Củng, Xương Ngôn, Tán, Nghiêm đày ra đảo, Đản, Doãn Cung bãi chức, đày đi châu Ân, Ngô, cho Cổn bổ làm Tam ban phụng chức.
[51] Trước đây có thầy bói dâng thư nói việc cung cấm, bị xử tử, tịch thu gia sản, thu được thư từ qua lại của các quan xem bói hỏi điềm lành dữ[12], Vua nổi giận, muốn giao hết cho Ngự sử xét tội. Vương Đán xin đem về, hôm sau tâu Vua: “Đây là chuyện thường tình, lại lời lẽ không liên quan đến triều đình, không đáng xét tội.” Bèn tự lấy những thư xem bói trước đây dâng lên và nói: “Thần lúc nhỏ hèn, không tránh khỏi làm việc này. Nếu cho là tội, xin bắt thần cùng vào ngục.” Vua nói: “Việc này đã phát giác, sao có thể tha được?” Đán nói: “Thần làm tể tướng, giữ quốc pháp, sao có thể tự mình may mắn không bị phát giác mà kết tội người khác?” Vua nguôi giận. Đán đến Trung thư, đốt hết những thư thu được.
Sau đó có đại thần muốn nhân việc này hãm hại người mình không ưa[13], hết sức xin xét tội, Vua sai đến Đán lấy thư, Đán nói: “Thần đã đốt hết rồi.” Nhờ vậy nhiều người được miễn tội. (Việc này theo 《Di sự lục》 và bia mộ, phụ chép.)
[52] Ngày Giáp Ngọ, Tào Vĩ tâu rằng: Thủ lĩnh quân chủ Đại Mã gia tộc ở trại Vĩnh Ninh là A Tư Đạc bắt được tù trưởng bộ lạc Tông Ca là Trác Tát Sấm Cách, xin phong chức Thứ sử, Vua đồng ý. (Theo Hội yếu, tháng 6 năm này A Tư Đạc mới được phong làm Quân chủ, khác với chỗ này. Lại không rõ nay phong làm Thứ sử châu nào, cần tra cứu thêm.)
[53] Ngày Ất Mùi, sứ giả phụng thượng sách bảo ở Thái Cực Quan là Vương Đán tâu: “Các châu huyện dọc đường điều động dân phu sửa đường. Thần thấy mùa xuân vừa đến, việc nông đang bắt đầu, nên đã cho giải tán hết.”
[54] Ngày Bính Thân, Tào Vĩ tâu: “Thủ lĩnh bộ lạc Tông Ca là Oát Tôn đang tập hợp quân ở Nhuận Nỗ Xuyên, định cướp bóc. Thần bí mật sai người bộ lạc, hứa ban thưởng, bảo họ giải tán quân và giết Oát Tôn. Gần đây nghe nói Oát Tôn bị thương nặng, quân lính cũng tan rã, muốn đợi khi đem đầu hắn về châu sẽ ban thưởng theo lệnh triều đình.” Vua nói: “Bảo họ giết người rồi lại ban thưởng, không phải là ý chiêu dụ. Hãy đợi khi họ lập công khác rồi sẽ thưởng.”
[55] Ngày Đinh Dậu, Khấu Chuẩn vừa được bổ làm Tiết độ sứ Sơn Nam Đông Đạo, tâu rằng: “Tên cha thần là Tương, cùng âm với tên châu, xin được giữ nguyên trấn cũ.” Tể tướng nói: “Xu mật sứ Vương Kế Anh tên cha là Trung, mà hiệu công thần có chữ ‘Suy Trung’, chiếu chỉ không kiêng húy. Huống chi Tương (湘) và Tương (襄) chỉ là âm gần, mệnh lệnh đã ban, không thể sửa lại.” Vua bèn ban chiếu dụ Khấu Chuẩn.
[56] Ban đầu, khi làm lễ dâng sách tôn hiệu cho tổ tiên, Hình bộ thị lang, Tham tri chính sự Trần Bành Niên, sau khi hầu Vua làm lễ Thiên thư, định đến Thái miếu, rồi lui về các trung thư, bỗng nhiên ngã xuống đất vì chóng mặt, được kiệu về nhà, Vua sai trung sứ đưa thầy thuốc đến chữa trị, ngày đêm thăm hỏi. Sau đó thăng chức Binh bộ thị lang, dâng biểu xin từ chức, Vua không cho. Ngày Kỷ Hợi, ông mất. Vua nghe tin, liền đến nhà ông, khóc lóc rất lâu, lại thấy nhà cửa ông nghèo nàn, than thở nhiều lần. Truy tặng chức Hữu bộc xạ, thụy là Văn Hi, cho con cháu và cháu ngoại được làm quan.
Bành Niên tính thông minh, nhanh nhẹn, trí nhớ tốt, đặc biệt thích nghiên cứu về nghi thức, chế độ, sự thay đổi qua các triều đại và học thuyết hình danh. Khi ở nhà, ông luôn cầm sách, viết văn chỉ trong chốc lát mà không cần suy nghĩ nhiều, ngưỡng mộ văn chương của bốn nhà thơ đời Đường, văn thể phong phú, trau chuốt. Vua thường sai ông tra cứu điển cố, từ sau niên hiệu Đại Trung Tường Phù, các nghi lễ lớn đều được tổ chức, Bành Niên đều tham gia. Khi Vua hỏi ở điện riêng hoặc qua thư tay của trung sứ, ông đều ứng đáp phù hợp, không chút ngập ngừng, đều hợp ý Vua. Những việc liên quan đến điển chương, văn pháp, Vua thường bí mật hỏi ý kiến ông. Từ khi thăng chức vào nội các, ông coi việc văn chương là trách nhiệm của mình, không muốn đảm nhận việc khác.
Khi Lý Tông Ngạc và Dương Ức còn tại triều, sau khi Tông Ngạc mất, Ức bệnh về hưu, Bành Niên một mình đảm nhiệm việc văn thư. Công việc ngày càng nhiều, ông càng chăm chỉ, để giữ vững ân sủng. Tay lật sách, miệng đối đáp với bạn bè, lại dịch trình bày việc đầy trước mặt, hoặc bí mật trả lời chiếu vấn, sớm tối đều như vậy, thân thể và tinh thần đều hao mòn. Lao tâm lâu ngày, cử chỉ thường sai sót, có lúc mặc áo ngược, tay bốc đồ ăn, dù mồ hôi ướt đẫm cũng không kịp tắm rửa, người nhà và tả hữu có người không nhớ tên ông. Chữ viết rất nhanh, mỗi ngày có thể viết hơn vạn chữ, người khác không hiểu được. Chỉ có lại dịch ở viện Khởi cư là Triệu Hanh đọc được, Vua cũng biết tên ông, sau đặc cách bổ làm Tam ban. Trước sau được Vua ban thơ ngự chế tổng cộng sáu bài[14], ân sủng như vậy.
Tính ông khiêm tốn, tiết kiệm, mỗi khi được lộc và ban thưởng, thường mua sách vở, dù ở địa vị cao sang vẫn không thay đổi thói quen cũ. Khi ông mất, Vua rất thương tiếc[15], vợ ông mỗi lần vào yết kiến đều được ban thưởng, có lần Vua đưa bức họa Bành Niên cho bà xem. Vua còn nói với Vương Khâm Nhược: “Bành Niên là người tốt, sao lại mất sớm như vậy. Về tài năng kiêm bị, học vấn uyên bác, nay hiếm người sánh được. Ở bên cạnh Trẫm, làm việc sớm khuya, lo lắng công việc quá mức, chưa từng nghỉ ngơi. Trẫm thường khuyên ông ấy nghỉ ngơi, nhưng tính ông ấy cần cù, cẩn thận, càng làm càng chuyên tâm, không may qua đời, há chẳng phải do mệnh trời sao?”
Tuy nhiên, Bành Niên vốn là kẻ gian ngoan xu nịnh, bấy giờ được gọi là “Cửu vĩ dã hồ”. Khi còn ở Hàn Lâm, ông từng đến Trung thư yết kiến tể tướng, Vương Đán từ chối không gặp. Hôm sau, ông lại đến, tự nói có việc cần trình bày, Vương Đán bảo ông đến gặp Hướng Mẫn Trung.
Một hôm, Mẫn Trung sai lại lấy những văn thư mà Bành Niên để lại đưa cho Vương Đán xem, Vương Đán nhắm mắt lấy giấy bọc lại. Mẫn Trung hỏi: “Sao không xem qua?” Vương Đán đáp: “Chẳng qua là những lời xưng tụng điềm lành, mưu cầu tiến thân mà thôi.” Ban đầu, Bành Niên chưa đạt được địa vị, xin làm quan tường đoạn ở Đại Lý tự. Trương Tề Hiền lúc đó đang nắm quyền, vừa gặp liền không đồng ý. Người ta hỏi nguyên do, Tề Hiền nói: “Người này ở triều, ắt sẽ làm loạn chính sự.” Có người nghi ngờ Tề Hiền quá khắt khe, nhưng sau này mới phục ông biết người.
(Lời của Tề Hiền, theo 《Vương Hạo bách nhất thiên》, ghi chép thêm.)
[57] Tháng 3, ngày Tân Sửu, Vua đem mạch đậu ở kinh đô cho các quan phụ chính xem, nói: “Nay rễ thân dù tốt, nhưng nếu mười ngày không mưa, sẽ mất hết. Thêm vào đó, việc gieo trồng mùa thu đang vào lúc này, nên sai quan đi cầu đảo khắp các miếu xã, danh sơn, đại xuyên trong thiên hạ, may ra được linh ứng.” Trung thư nói theo chế độ cũ thì không cầu đảo ở bốn biển, Vua nói: “Bách cốc là chủ, thấm nhuần vạn vật, sao có thể thiếu lễ?” Đặc mệnh làm lễ cầu đảo.
[58] Vương Tòng Đức, quan thừa thụ ở Hoàn Châu lộ, tâu rằng mấy chục kỵ binh giặc phương Bắc đến cướp bóc dân địa phương, quân biên giới đánh đuổi chúng, Tuần kiểm trung tá Chu Hưng bị giặc hại, xin tăng thêm quân đồn trú. Hướng Mẫn Trung nói: “Người Nhung cướp bóc lẫn nhau, vốn là chuyện thường, chỉ là các quan Tuần kiểm sứ thường không có mưu lược xa, thích chiến tranh khinh địch, gây việc cho nước. Mong hãy lệnh cho rút dần quân, để yên biên giới.” Vua rất tán thành.
[59] Vương Hoài Chánh, quan Nhập nội cao ban, tâu rằng năm ngoái ở Đồng Sơn, Chân Châu có nạn châu chấu, mùa xuân năm nay lại thấy một ít bay, cùng với ấu trùng. Vua lệnh cho châu đó làm lễ cầu đảo và đốt bắt.
[60] Ngày Nhâm Dần, Vua bãi yến tiệc vì lo lắng về việc thiếu mưa.
[61] Sứ giả nhận nhiệm vụ ở Tử Châu là Tang Hỗ tâu: “Công thự của Đô tuần kiểm sứ Nhung, Lô, Tư, Vinh Châu và Phú Thuận Giám đặt tại Nhung Châu, cách Dục Tỉnh Giám hơn trăm dặm, nếu giặc cướp nổi lên gây rối thì viện binh không kịp ứng cứu, xin dời đến huyện Giang An.” Triều đình đồng ý.
[62] Ngày Quý Mão, ban chiếu: “Nghe nói dân chúng chạy nạn đói kém, khi đi qua các cửa ải, thường bị ngăn chặn. Nên lệnh cho Khai Phong Phủ và các lộ chuyển vận ty thông báo rõ, không được làm như vậy nữa.”
[63] Ngày Giáp Thìn, Thường Hy Cổ, Đề điểm hình ngục Kinh Đông, Cáp môn chi hậu, tâu: “Năm ngoái, mùa hạ có châu chấu, mùa thu hạn hán, dân chúng thiếu thốn lương thực. Mong triều đình trách nhiệm chuyển vận sứ, tri châu, thông phán, lệnh tá khuyến khích việc cày cấy, trồng dâu, mong rằng đất đai không bỏ hoang, nhà nhà có dư thóc. Phàm các quan lại thân dân khi tâu cử, đều phải trình bày rõ thành tích khuyến nông, để làm cơ sở thăng giáng.” Vua nói: “Chiếu chỉ của triều đình không phải không đầy đủ, chỉ là châu huyện chưa tuân thủ mà thôi.”
[64] Ngày Ất Tỵ, mưa to.
[65] Ngày Đinh Mùi, bổ nhiệm Lăng Sách, Cấp sự trung, quyền Ngự sử trung thừa, làm Công bộ thị lang, tri Tuyên Châu. Sách bệnh nặng, dâng biểu xin được làm quan tại quê nhà, được đặc cách chấp thuận. Sau đó lại có chiếu tăng thêm 30 vạn tiền công dụng mỗi năm, cũng theo lời thỉnh cầu của ông.
[66] Lương Sở, Đồn điền lang trung, tri Hưng Châu, về kinh thay người khác, dâng chương tự tiến cử. Vua nhớ tên ông, bèn lệnh cho Sở làm phán quan ở Hộ bộ câu viện. (Sở xuất hiện lần đầu vào tháng 2 năm Hàm Bình thứ 3.)
[67] Ban chiếu từ nay, người đi du hành núi Nga Mi không được dừng lại ở Xuyên Hạp. Lúc đó có người đi quá năm không về, rồi làm giặc cướp, nên mới có điều ước này.
[68] Vệ Châu tâu dân đói, lệnh phát một vạn thạch thóc trong kho ra cho vay.
[69] Vương Đán tâu rằng từ mùa xuân, Duyện Châu hạn hán, đến đêm hành lễ thì mưa xuống hơn một thước.
[70] Ngày Canh Tuất, Thiểm Tây chuyển vận sứ Đoàn Duy Kỷ tâu rằng: “Bộ hạ mỗi năm cấp cho các quân hai trăm vạn tấm lụa may áo, đều do Xuyên Hạp chở đến. Nay xin lấy số dư bảy mươi vạn tấm dâng lên cung cấp[16]“. Vua xuống chiếu lệnh cho nơi đó cất vào kho riêng.
[71] Điện trung thị ngự sử Trương Khuếch tâu: “Mùa thu năm ngoái có nạn châu chấu, mùa xuân năm nay lại hạn hán. Xin chọn triều thần chia nhau đi các lộ, cùng với chuyển vận sứ, đề điểm hình ngục quan xem xét tình hình, cứu tế, không để dân chúng lâm vào cảnh khốn cùng.”
[72] Ngày Quý Sửu, Vua xuống chiếu tăng lượng bán gạo ở mười bốn trường trong kinh thành lên một trăm thạch.
[73] Hòa Châu tâu rằng châu chấu đẻ trứng, hình dạng như hạt lúa nhưng nhỏ hơn.
[74] Ngày Ất Mão, phong cho Dạ Lạc Cách Quy Hóa, Khả hãn vương nước Hồi Cốt Cam Châu làm Hoài Ninh Thuận Hóa Khả hãn vương, ban cho áo mặc, đai vàng, đồ dùng, ngựa có yên cương.
[75] Ngày Bính Thìn, Vua xuống chiếu: “Đạo sĩ và đồng hành không qua khảo thí mà được cấp mũ áo, từ nay trong vòng năm năm không được rời khỏi cung quán. Người được đặc biệt ban áo tía, trong vòng ba năm không được mượn cớ giả dối ra ngoài. Ai xin về thăm nhà thì căn cứ vào đường xa gần mà cấp phép.” Theo lời xin của Tri Vệ Chân huyện Trương Trung Phu.
[76] Ngày Đinh Tỵ, Đề điểm hình ngục hai lộ Chiết Đông, Chiết Tây là Chung Ly Cẩn người Hợp Phì tâu: “Hai châu Cù, Nhuận thiếu lương thực, quan phủ nấu cháo phát chẩn, dân chúng tranh nhau đến lấy, làm trở ngại việc nông. Xin hạ lệnh cho Chuyển vận ty cấp hai vạn thạch gạo để cứu tế, mỗi nhà không quá một hộc.” Vua nghe theo. Chuyển vận sứ Trương Bảo cũng tâu: “Dân chúng trong địa hạt bị đói, châu phủ nấu cháo phát chẩn, nhưng các huyện xa xôi, sợ bỏ bê việc cày cấy. Đã ra lệnh cấp gạo trực tiếp, mỗi người mỗi ngày ba hợp, giúp đỡ được nhiều người nghèo khó.” Vua nói: “Trước đây Chuyển vận ty tâu rằng châu chấu không thành tai họa, đều là bậy cả.”
[77] Ngày Mậu Ngọ, lấy Xu mật sứ Vương Khâm Nhược làm Hội linh quan sứ. Khi mới đặt chức Hội linh quan sứ, lệnh cho Tham tri chính sự kiêm nhiệm, lúc ấy đến lượt Vương Tăng, nhưng Khâm Nhược đang dựa vào điềm lành để củng cố ân sủng, muốn được chức này, nên Tăng cố từ chối. Vua không vui, bảo Tăng rằng: “Đại thần nên phò tá việc nước, sao lại vội tự làm khác đi?” Tăng cúi đầu tạ tội nói: “Vua nghe can gián là sáng suốt, bề tôi hết lòng là nghĩa. Bệ hạ không biết thần ngu hèn, cho thần ở trong triều đình, thần chỉ biết nghĩa mà thôi, không biết gì khác.”
(Sách 《Diệp Thanh Thần Vương Tăng Ngôn Hành Lục》 chép: Tăng vì việc này bị cách chức, đến ngày vào tạ, thuật lại việc Khâm Nhược muốn tự làm quan sứ, Vua chợt hiểu ra, bèn cho Khâm Nhược ra làm Tri châu Dư Hàng. Việc Khâm Nhược ra làm Tri châu Dư Hàng thực ra không phải vì lý do này, sách này chép sai, nay không theo.)
[78] Ngày Canh Thân, miễn thuế muối còn nợ ở Châu Triều là 3.732.000 cân[17].
[79] Ngày Tân Dậu, vì dân lưu tán từ Hoài, Vệ đến kinh thành, lệnh cho Tam ty nấu cháo cứu tế.
[80] Giang Nam đề điểm hình ngục, Thái thường bác sĩ Phạm Ứng Thần tâu rằng:
“Thần trộm thấy trong chiếu thư năm Tân Hợi, những tội thường xá không tha đều được xóa bỏ. Thần kính cẩn xét theo sách 《Lã Hình》 nói: ‘Hai bên đối chất đầy đủ, quan xét nghe năm lời khai, năm lời khai rõ ràng đáng tin, thì xử theo năm hình phạt; năm hình phạt không rõ ràng, thì xử theo năm mức phạt; năm mức phạt không phục, thì xử theo năm mức lỗi.’ Do đó, văn xá tội có thể hiểu rõ, nên nói: ‘Nghi ngờ về năm hình phạt thì có xá, nghi ngờ về năm mức phạt thì có xá.’
Thần nay xem xét các châu quân thuộc bộ từ trung tuần tháng giêng trở đi tâu lên, những người phạm tội do lỗi lầm mà được tha tuy nhiều, nhưng những kẻ gây hại nghiêm trọng mà được thả cũng không ít. Bọn gian ác này đã dò biết trước kỳ xá tội, trăm kế không gì không làm, muôn đường tàn bạo. Hoặc bộc lộ mối thù cũ, thỏa mãn lòng hận thù, kẻ yếu đuối vì thế mà chịu tội, kẻ cường bạo nhân đó được lợi. Hoặc giết cả nhà, hoặc cướp sạch của cải, hoặc cầm dao giết người, máu chảy đầy đất, hoặc phóng hỏa đốt nhà, tài sản tiêu tan. Có kẻ tập hợp bọn liều chết, làm cướp cường bạo, công khai gây hại để cướp của cải. Quan tuần cảnh trên dưới đều bức bách. Hoặc bày mưu bắt giữ, hoặc liều mình đối địch. Tra xét kỳ ngũ, ghi phạt lệnh úy, vừa mới bắt được, đáng lẽ phải xử theo luật. Gặp ân xá này, cũng được tha tội, lại còn được sung vào quân ngũ, đều được cấp áo quần lương thực. Nay những người cày cấy khắp nơi đang đói khổ, mà bọn này được cấp lương tháng, cấp quần áo, thì khác gì thưởng cho kẻ làm cướp? So với việc nghi ngờ thì tha, thật có khác biệt.
Mong từ nay những kẻ biết trước sắp có xá tội mà cố ý phạm tội, nếu sau khi xá tội mà việc phạm pháp rõ ràng, tình tiết nghiêm trọng, thì từ tội chết trở xuống, giảm một bậc xử phạt. Những kẻ trước khi xá tội giết người cướp của, sau khi xá tội tuy không tái phạm, nhưng nếu bị bắt vì việc khác, xin đều xử lưu đày đến châu quân xa xôi hiểm ác. Những kẻ ở các châu từng giết người phóng hỏa, cướp bóc tài sản, đã theo lệnh xá tội mà sung vào quân ngũ, xin chỉ bắt làm việc nặng tại chỗ, nếu lại phạm tội đào ngũ, cờ bạc, thì xử theo luật cấm quân.
Những kẻ đã được xá tội, nhưng tội nặng mà tình tiết nghiêm trọng, xin lệnh cho các quan địa phương tra xét những tội nhân phạm tội vào ngày xá tội, trong đó những kẻ nguyên phạm tội mưu sát, đấu sát, ghi tên họ, nếu lại phạm pháp[18], không kể tội danh lớn nhỏ, đều bắt giam tâu lên xử lý.
Các quan châu huyện trước đây vì đi kiểm tra thiên tai, nhận hối lộ, hoặc vụ án đã kết thúc hoặc chưa phát giác, xin theo lệnh xá tội tha tội nhưng cách chức, để răn đe.”
Vua nói: “Tiên đế nhân dịp tế giao, bàn việc xá tội, đêm trước khi trai giới[19], có quan triều là Tần Tái Tư dâng thư, xin đừng xá tội, lại dẫn chuyện Gia Cát Lượng giúp Lưu Bị mấy chục năm không xá tội, tiên đế rất nghi ngờ. Lúc đó Triệu Phổ làm tể tướng, nhân vào chầu, tâu rằng: ‘Thánh triều khai quốc đến nay, vẫn giữ chế độ cũ, cứ ba năm tế giao thì xá tội, đó là đạo nhân từ như trời, đạo của Nghiêu, Thuấn. Còn như Lưu Bị chiếm cứ một phương, dụng tâm nhỏ hẹp, thần trộm nghĩ bệ hạ không nên theo.’ Tiên đế khen lời tâu ấy, văn xá tội bèn định. Lời tâu của Ứng Thần, rất là tận tâm, nhưng nếu hoàn toàn không xá tội, e cũng khó thi hành.”
Trương Tri Bạch nói: “Người xưa nói nhiều thì không được, không có thì thật khó, đó là lời chắc chắn vậy.”
[81] Châu Túc tâu rằng ở trấn Linh Bích có nạn châu chấu sinh sôi.
[82] Ngày Nhâm Tuất, cấp cho 200 quân Uy Mãnh thuộc về Đô tuần kiểm sứ Kinh Đông và Tuần kiểm sứ đường thủy ở Bân, Lịch, những người có công bắt cướp thì được khen thưởng. Lúc đó có người dâng thư nói rằng ở các châu Bân, Lịch, Truy, Tề, Vận, Bác có nhiều cỏ rậm rạp, là nơi ẩn náu của bọn cướp, địa bàn tuần tra lại rộng, xin tăng thêm quân để phòng bị.
[83] Ngày Ất Sửu, Ty Thiên Giám tâu rằng năm nay là năm Đinh Tỵ, từ tháng 3 đến cuối năm, thiên đạo lợi cho khách. Vua xuống chiếu dụ các quan ở biên giới, nếu có giặc nhỏ xâm phạm thì chỉ nên cố thủ trong thành chống giặc, không được tự ý vượt ra ngoài biên giới. Vua lo rằng các sứ thần ở thành trại thích lập công, không cẩn thận xem xét, dễ dàng truy kích. Chỉ cần huấn luyện quân đội, kính sợ thiên đạo, tự nhiên tiếng tăm vang xa, phong tục yên ổn, đó là thượng sách.
[84] Ngày Đinh Mão, Ngự Sử Đài tâu rằng trong buổi chầu thường chỉ có một hai người thuộc ban võ, hoặc có người xin nghỉ thì không còn ai. Vua xuống chiếu chọn những người trong nội chức bị bệnh[20], bổ làm các chức Tướng quân các vệ và Suất phủ suất, tổng cộng 12 người.
[85] Vua xuống chiếu cho Thái Thường Lễ viện, từ nay các văn bản kiểm hội đều phải do quan phán viện bàn định và ký tên, mới được cung cấp. Lúc đó Từ Vương chọn ngày thành hôn mà phu nhân của An Vương mất, Nội Thị tỉnh gửi công văn hỏi Lễ viện, Lễ trực quan Lý Duy Cát dùng tờ tâu trắng trả lời, nên mới đặt ra điều ước này.
[86] Mùa xuân năm đó, kinh kỳ bị hạn hán.
[87] Mùa hạ, tháng 4, ngày Canh Ngọ, Vương Đán từ châu Duyễn về.
[88] Vua xuống chiếu rằng các nơi tâu lên công án, xử tội các quan kinh triều, sứ thần bị thay thế, rời nhiệm sở, các quan mạc chức, châu huyện phạm tội công trong nhiệm kỳ, hợp lệ được miễn tội khi rời chức, phải đợi chiếu xử án, thường bị chậm trễ, từ nay cho phép Đại Lý tự lập tức báo cho Thẩm quan, Tam ban, Lại bộ thuyên tào, theo lời thỉnh cầu của Đại Lý tự.
[89] Vua nước Tam Phật Tề là Hà Trì Tô Vật Trá Bồ Mê sai sứ dâng biểu chữ vàng xin cống.
[90] Ngày Tân Mùi, Vương Đán tâu rằng các châu Tào, Tế, Từ, Vận và quân Quảng Tế, Hoài Dương hàng năm vận chuyển bằng thuyền 37 vạn hộc đấu lương thực để cung ứng cho triều đình. Năm ngoái bị nạn châu chấu và hạn hán, xin miễn thuế hạ một phần và cho phép chuyển đổi chi phí. Chiếu chỉ chấp thuận.
[91] Ngày Nhâm Dần, chiếu chỉ cho phủ Đại Danh, các châu Từ, Tương, Thiền, quân Thông Lợi, các châu Việt, Mục, Xử bị thiên tai mùa thu năm ngoái, dân chúng thiếu lương thực, lệnh cho ty Chuyển vận vận chuyển gạo để cứu tế.
[92] Ngày Quý Dậu, Chuyển vận sứ Hà Bắc là Khấu Giam tâu rằng ở các châu Hoài, Vệ có ít sâu non, đã đốt và bắt giết.
[93] Ngày Giáp Tuất, Tam ty tâu: “Tiền nhập vào ty Giác hóa ở kinh đô[21], xin lấy số tiền hơn 261 vạn quan năm Đại Trung Tường Phù thứ 7 làm mức định. Hàng năm so sánh nếu không đạt, quan lại tại chức sẽ bị xử phạt theo điều lệ.” Được chấp thuận.
[94] Ty Tường định trà diêm tâu: “Tiền nhập trung trước đây đều thu theo ý muốn của thương nhân. Xin lệnh cho nộp 4 đến 5 phần 10 bằng tiền, và quy định mức chênh lệch về chiết khấu và phụ thu.” Được chấp thuận. (Theo 《Hội yếu》 và bản chí, nhưng 《Thực lục》 không ghi, nay phụ chép.)
[95] Ngày Ất Hợi, ban ra bảo bài vàng thần hóa của Thánh Tổ, chia cho các chùa chiền trong kinh thành và các danh sơn trong thiên hạ. Bài dài khoảng 2 tấc[22], rộng hơn 1 tấc, mặt trước khắc chữ “Ngọc Thanh Chiêu Ứng Cung Thành Thiên Tôn Vạn Thọ Kim Bảo”, mặt sau khắc chữ “Vĩnh Trấn Phúc Địa”, xung quanh có hoa văn rồng rắn và hoa lá nổi lên[23], được đựng trong hộp sơn đỏ và túi tía, do Vua đích thân đề tên.
[96] Tào Khắc Minh và những người khác dâng danh sách các sứ thần, tướng sĩ có công trong việc đánh dẹp giặc man ở châu Phủ Thủy, tổng cộng 1.816 người, đều được thăng bổ theo thứ bậc và ưu tiên bổ nhiệm, ban cho khí tượng, lụa và tiền, quan lại phụng sự trong quân đội được chiếu chỉ khen thưởng.
[97] Ngày Mậu Dần, Giám sát ngự sử người Tế Âm là Vương Bác Văn tâu: “Gần đây thần được cử làm Giám tế sứ, lo việc tế lễ tịch nguyệt (tế trăng vào buổi tối), ngày ấy làm lễ vào giờ Thìn, đến trước giờ Tỵ thì lễ xong. Thần nghĩ rằng, lễ gọi là tịch nguyệt, đàn hiệu là Dạ Minh, vốn thuộc về âm linh, lại cử hành vào ban ngày, theo ý thần, e là chưa hợp lẽ. Mong bệ hạ hạ chiếu cho các quan Lễ bộ và bác sĩ xem xét lại cho kỹ.” Việc này được giao xuống cho Hữu ty bàn bạc.
Vương Bác Văn lại tâu: “Theo lễ, ngày thu phân tế tịch nguyệt ở ngoại ô phía tây. 《Quốc ngữ》 có nói: ‘Đại thái triều nhật, thiếu thái tịch nguyệt.’ Lại nói: ‘Xuân triều triều nhật, thu tịch tịch nguyệt.’ Đường Liễu Tông Nguyên bàn rằng: ‘Tên gọi tịch là đối với triều bái. Xưa, sáng gặp gọi là triều, chiều gặp gọi là tịch. Vì thế 《Thi》 nói “Mạc khẳng triêu tịch“, 《Tả truyện》 nói “Triều nhi bất tịch“, 《Ký》 nói “Triều bất phế triều, mộ bất phế tịch“.’ Xét theo văn lễ, ngày thu phân tế tịch nguyệt[24], bởi lúc đó ngày đêm dài bằng nhau, mặt trời đúng ngọ mà âm phách đã sinh, nên cử hành lễ tịch bái để tế trăng. Trước giờ Mùi mười khắc, Thái quan lệnh dẫn các tể nhân dùng dao Loan cắt thịt tế, sau giờ Mùi hai khắc thì cử hành lễ. Đường Lưu Vũ Tích khi làm Ngự sử, giám sát việc tế đàn tịch nguyệt, có thơ ghi đầy đủ việc này, chú rằng: ‘Lễ này dùng ban ngày, có lẽ là cổ lễ dùng buổi tối để hành lễ triều tế.’ Lại xét theo lễ, từ giờ Tý đến giờ Tỵ là dương, từ giờ Ngọ đến giờ Hợi là âm, tham khảo điển lễ, nên cử hành lễ vào sau giờ Mùi ba khắc.” Triều đình nghe theo.
[98] Ngày Kỷ Mão, các lộ Hà Đông, Giang Nam, Ích Châu đều tâu rằng mưa đã đủ.
[99] Ngày Canh Thìn, điều chuyển Thứ sử Phong Châu, Tri châu Giáng Châu là Tiền Duy Tế đến làm Tri châu Lộ Châu. Trước đây, Duy Tế tự xin thử sức ở quận[25], được bổ nhiệm làm Tri châu Giáng Châu. Có người dân hái dâu, kẻ trộm cướp dâu không được, bèn tự cắt tay mình, vu cáo chủ nhân vườn dâu muốn giết mình, bị giam giữ lâu ngày không thể phân xử. Duy Tế bắt kẻ trộm và cho ăn, quan sát thấy kẻ trộm dùng tay trái cầm thìa. Duy Tế nói: “Người dùng tay phải cắt người khác thì vết thương trên nặng dưới nhẹ[26], nay vết thương của ngươi đặc biệt nặng ở phía dưới, chính là dùng tay trái làm thương tay phải, chẳng phải là ngươi tự làm sao?” Kẻ trộm liền thú nhận. Vua nghe chuyện, nói với Tể tướng Hướng Mẫn Trung rằng: “Duy Tế thử làm quận thủ đã biện minh rõ ràng, sau này ắt sẽ là quan lại tài năng.”
Sau đó, Duy Tế được điều đến Lộ Châu. Dân chúng hoảng sợ có giặc ngoài, chạy vào thành ngã lăn lộn, Duy Tế thong thả đi ra, tùy tùng rất ít, bí mật bắt những kẻ gây hoang mang đưa vào ngục, một lúc sau tự yên ổn. Nhà sư ở núi Bạch Cốt tự nói ngày chết, người gần xa đổ xô đến, tranh nhau cúng vàng lụa. Duy Tế sai người canh giữ, đến ngày mà không chết, bèn đánh trượng và đày đi. Anh của Duy Tế là Duy Diễn ở trong cung, từng tấu rằng: “Duy Tế lâu ngày ở ngoài, mong được đến kinh sư một lần để an ủi tình anh em.” Vua khen ngợi tình cảm anh em, ngay hôm đó triệu về.
[100] Hữu bộc xạ Trần Nghiêu Tẩu mất, được tặng chức Thị trung, thụy hiệu Văn Huệ (Tống triều yếu lục: Nghiêu Tẩu cương cường minh biện, siêng năng trong công việc, có tài năng, nhiều mưu lược, lâu năm nắm giữ sổ sách quân mã cơ mật, đều có thể nhớ rõ.)
[101] Ngày Tân Tỵ, lệnh cho Triệu Châu xuất một vạn thạch thóc trong kho để cứu tế dân nghèo.
[102] Ngày Nhâm Ngọ, ban cho tiến sĩ Dương Vĩ đỗ đệ nhất giáp, Giả Xương Triều đỗ đồng tiến sĩ xuất thân. Lúc đầu đại lễ, các cử nhân dâng phú tụng rất nhiều, Vua xuống chiếu cho các quan cận thần xem xét kỹ, chỉ có bài của Vĩ và Xương Triều là khả thủ, nên triệu vào học sĩ viện khảo thí rồi ban chức. Vĩ là người Kiến Dương. Xương Triều là người Hoạch Lộc, cháu của Liễn.
[103] Ngày Quý Mùi, xuống chiếu: “Các quan tại các trường, vụ, phường, giám ở kinh thành, nếu có tang cha mẹ thì được nghỉ 5 ngày, nghe tin tang được nghỉ 2 ngày; tang ông bà, chú bác, cô dì được nghỉ 3 ngày, nghe tin tang được nghỉ 1 ngày; tang anh em họ hàng xa đều được nghỉ 1 ngày.” Đây là theo lời xin của quyền Tam ty sứ Mã Nguyên Phương.
[104] Hữu ty lang trung, Long đồ các đãi chế Tra Đạo vì bị điếc, khó đối đáp, dâng biểu xin ra ngoài làm quan. Ngày Giáp Thân, được bổ làm Tri châu Quắc. Trước khi đi, Vua ngự tại Long đồ các ban tiệc tiễn. Lúc đó châu Quắc bị nạn châu chấu, Đạo đến nơi, không đợi tâu báo, liền mở kho lấy gạo nấu cháo chẩn cấp người đói, phát 4.000 hộc lúa mạch của châu làm giống, nhân dân nhờ đó được cứu giúp, số người được cứu sống hơn một vạn.
[105] Hàn lâm học sĩ, Tri thông tiến ngân đài ty kiêm Môn hạ phong bác sự Triều Huýnh, Lý Duy tâu: “Trung thư môn hạ có tờ trát gửi châu Đăng, theo lời khai của học cửu huyện Mâu Bình là Trịnh Hà, nói rằng dân châu này thiếu ăn, xin hiến 5.600 thạch thóc để cứu tế, mong ban cho em là Tốn một chức quan. Đã phụng thánh chỉ không chấp thuận. Thần trộm nghĩ, lấy của dư bù chỗ thiếu, ích lợi cũng lớn, mong cho tể thần bàn định, đặc cách chấp thuận lời xin, đợi đến mùa màng tốt thì ngừng lại. Như thế thì những nhà tích trữ sẽ được khuyến khích, cứu giúp lớn cho nạn đói kém, trên làm vơi bớt nỗi lo của thánh thượng.” Vua xuống chiếu bổ Tốn làm Tam ban tá chức. Từ đó, những người nộp thóc đều lấy đó làm lệ.
[106] Ngày Ất Dậu, Trứ tác lang Lưu Diệp được bổ nhiệm làm Hữu chánh ngôn. Lúc đó, theo chiếu chỉ riêng, chức gián quan được thiết lập, Lưu Diệp là người đầu tiên được chọn. Vua nói: “Chức vụ gián quan, ngự sử thực sự khó tìm được người phù hợp. Cần phải hiểu rõ đại thể triều đình, thông suốt yếu đạo chính sự và hình pháp, lời nói phải hợp lý, như vậy mới xứng đáng với chức vụ.” Lưu Diệp là con của Ôn Tẩu. Ông từng làm tri huyện Long Môn, khi bọn cướp giết người, Lưu Diệp bắt được chúng, định giải về phủ, sợ chúng bỏ trốn trên đường nên đều chém đầu, mọi người đều kính phục sự quyết đoán của ông.
Lưu Diệp làm thông phán ở Ích Châu, sau được triệu về kinh.
Lúc đó, Vương Thự đang cai trị Thục, có người nói chính sách của ông hà khắc và tàn bạo. Nhân dịp đối đáp, Vua hỏi về tình hình cai trị của Vương Thự so với Lăng Sách ai hơn[27], Lưu Diệp trả lời: “Lăng Sách ở Thục, năm được mùa, công việc đơn giản, nên có thể khoan dung với dân. Những năm gần đây mất mùa, trộm cướp nổi lên, nếu không giết thì không thể ngăn chặn được, nhưng những việc Vương Thự làm cũng không vượt ra ngoài pháp luật của bệ hạ.” Vua khen ngợi.
Vương Thự dùng pháp luật nghiêm khắc để trừng trị bọn cướp, bất kể tang vật nhiều hay ít đều xử tử, mọi người đều run sợ. Sau vài tháng, bọn cướp trốn chạy[28], ở Thục cửa ngoài không cần đóng. Có lần một tên lính ban đêm báo cáo rằng quân đội có âm mưu làm loạn, Vương Thự lập tức phát hiện là giả, liền chém đầu. Dân chúng yên ổn với chính sách của ông, so sánh với Trương Vịnh, gọi là “Trương trước Vương sau”.
[107] Ngày Mậu Tý, Thiệu Châu báo cáo có trúc dại ra quả, dân chúng hái ăn, giúp đỡ được phần nào nạn đói.
[108] Ngày Kỷ Sửu, Hà Đông chuyển vận sứ Trần Nghiêu Tá tâu rằng các châu Hà Dương, Hoài, Vệ vụ mùa thu trước bị thiên tai, nhưng các châu Giáng, Trạch trong lộ đều có thừa, xin vận 5 vạn thạch thóc từ Trạch Châu đến Hoài Châu, và 20 vạn thạch thóc từ Giáng Châu đến Hà Dương, Vua đồng ý.
[109] Thiểm Tây báo cáo các châu Thiểm, Giáng có sâu non sinh sôi[29].
[110] Ngày Tân Mão, Vua nói với các quan tể tướng: “Trẫm nghe nói Tri Quảng Châu Lý Ứng Cơ cai trị hà khắc. Trước đây khi làm Quảng Nam Chuyển Vận Sứ, ông ta từng nói dân Quảng Châu không nộp thuế đinh bằng gạo, bèn đề nghị thu thuế. Sau đó triều đình ra chiếu cho địa phương xem xét, nhưng nhiều lần bàn bạc đều thấy khó thực hiện. Nay Ứng Cơ nhậm chức ở quận, muốn thực hiện đề nghị trước đây của mình. Dân chúng vùng xa cần được yên ổn, nếu đột ngột tăng thuế, e rằng không tiện, nên bãi bỏ việc này.”
[111] Tào Khắc Minh tâu rằng Tri phủ Thủy châu Mông Hoài Tất xin đến kinh đô triều cống.
[112] Châu Thăng báo cáo có nạn châu chấu.
[113] Ngày Nhâm Thìn, cấp cho Đoàn Luyện Sứ châu Thái là Đức Ung, Đoàn Luyện Sứ châu Nhữ là Đức Văn, Đoàn Luyện Sứ châu Đường là Duy Chính mỗi người một trăm vạn tiền công dụng mỗi năm.
[114] Ngày Quý Tỵ, Hướng Mẫn Trung tâu: “Gần đây các quan trong triều tiến cử người làm quan, có người trong một năm tiến cử hơn mười người. Lại có quan giám sát tại địa phương tiến cử quan chức dưới quyền mình[30], hoặc quá lạm dụng, hoặc dễ gây hiềm nghi, xin sửa đổi tệ nạn này.” Vua nói: “Hãy xem xét lại chế độ cũ, đặt thêm điều khoản.”
[115] Ngày Giáp Ngọ, Viện Truyền Pháp dâng lên bản dịch mới kinh 《Tần Na Dạ Như》, Vua thấy trong kinh có lời dùng máu thịt để cầu khấn, trái với giáo lý, bèn ra lệnh đốt bỏ, và từ nay những kinh sách tương tự không cần dịch nữa.
[116] Vua nước Cưu Tư là Khả Hãn Vương Trí Hải sai sứ là Trương Diên đến triều cống.
[117] Ngày Ất Mùi, các phủ Hà Trung, châu Giải, châu Quắc ở Thiểm Tây bị hạn hán.
[118] Ngày Bính Thân, Phát Vận Sứ Lý Phổ tâu rằng năm ngoái vùng Giang, Hoài thiếu lương, có nhà giàu bỏ ra mười sáu vạn thạch thóc trong kho riêng để bán cứu đói cho dân.
[119] Ra chiếu rằng từ nay các quan được bổ nhiệm, sứ thần phạm tội tham nhũng, dù nặng hay nhẹ, đều phải xét lại người tiến cử[31], còn các tội từ trượng trở xuống thì không truy cứu người tiến cử, theo lời thỉnh cầu của Phán Đại Lý Tự Lý Hư Kỉ. (Việc này chép trong 《Hội Yếu》 tháng 4 năm Thiên Hi thứ 2).
[120] Tháng 5, ngày Mậu Tuất, mùng một, xuống chiếu rằng những nơi có dân lưu tán vì thiên tai, quan lại phải hết lòng cứu giúp, ai không có nhà ở thì cho tạm trú ở chùa chiền, đình công, không để họ lâm vào cảnh khốn cùng.
[121] Xuống chiếu khen ngợi Điện trực Trương Sùng Tuấn, tri huyện Tân Cam, quân Lâm Giang, vì đã thân chinh dẫn dân huyện bán thóc giảm giá để cứu đói.
[122] Viên ngoại lang đồn điền Tạ Thương tâu:
“Thần thấy năm ngoái nạn châu chấu gây hại, phá hoại mùa màng, tuy là thiên tai nhưng việc trừ diệt cũng do sức dân. Tuy đã sai quan lại cùng lệnh tá đốt bắt, nhưng nghe nói họ làm việc lơ là, ít ai tận tâm. Hoặc báo cáo chậm trễ, khiến sâu bọ sinh sôi, hoặc gây phiền nhiễu, dung túng cho nha lại tham nhũng, gần như mừng khi có tai họa, lỗi tại buông lỏng chức trách, lại còn để trứng rải rác ngoài đồng, khó tránh tái sinh.
Thần nghe nói Vua Nghiêu gặp lũ lụt, dẫn nước về Bá Trủng; Vua Thang gặp hạn hán, cầu đảo ở Tang Lâm. Tuy lòng Vua lo lắng, đức thánh không suy[32], nhưng mệnh lệnh diệt châu chấu, các đời đều có. Lo ngại kẻ lười biếng chỉ vin vào thiên tai, xúi giục dân chúng, càng thêm chậm trễ. Nên nhân lúc châu chấu non mới nở, cùng nhau ra sức tiêu diệt, mong rằng lúa mùa thu không bị hại, trứng chưa kịp sinh.
Mong ban chiếu đặc biệt, xuống các châu quận bị thiên tai năm ngoái, nơi nào có châu chấu non tái sinh, các kỳ trưởng, tráng đinh trong vùng phải báo ngay lên huyện. Huyện lập tức báo lên châu, quân sở tại, chọn quan chức, cùng lệnh tá dẫn dân phu đánh bắt cho hết, và ghi vào sổ sách, tính là công lao. Nếu có kẻ tham nhũng, thu góp lơ là công việc, xin xử theo luật uổng phí, lại ủy thông phán sở tại thân xuống huyện đốc thúc, chuyển vận sứ phó đi lại kiểm tra.”
Được chấp thuận.
[123] Ngày Kỷ Hợi, Quyền Kinh Nguyên lộ trú bạc kiềm hạt Hác Vinh tâu việc đào hào thành Lung Can từ Thượng Thạch Môn đến Trấn Nhung quân đã xong. Xuống chiếu khen thưởng, lại ban cho khí bạch, thưởng tiền cho tướng sĩ.
[124] Ngày Canh Tý, Tể tướng Vương Đán vì bệnh, dâng biểu xin từ chức, không được chấp thuận.
[125] Ngày Tân Sửu, xuống chiếu cho Lễ bộ tạm ngừng thi cử năm nay.
[126] Đô chuyển vận sứ Hà Bắc Lý Sĩ Hoành tâu: “Vâng chiếu, lấy 15 vạn thạch thóc ở Châu Giáng cấp cho vùng Kinh Tây đang thiếu hụt. Đường thủy khá xa, xin chỉ chở 5 vạn hộc lúa mạch ở Châu Hoài.” Vua đồng ý.
[127] Ngày Nhâm Dần, Vương Đán lại dâng biểu xin từ chức. Vua không cho.
[128] Quan Nhập nội cung phụng Thiệu Văn Nhã tâu rằng ở các châu Hoài, Vệ, Hình, Minh đã đốt và bắt hết châu chấu.
[129] Ngày Giáp Thìn, lấy Điện trung thừa Lưu Bình làm Giám sát ngự sử, theo chiếu mới. Bình từng làm Tri huyện Nam Sung, gặp lúc người Di cướp phá Giám Dục Tỉnh, Chuyển vận sứ ra lệnh cho Bình tạm quyền coi việc ở Châu Lô, Bình đem 3.000 dân đinh đánh đuổi chúng. Sau nhờ Khấu Chuẩn tiến cử, lại làm Tri châu Lô, người Di sợ thất bại trước nên không dám quấy nhiễu biên giới.
[130] Ngày Ất Tỵ, đổi Châu Phủ Thủy thành Châu An Hóa, theo lời thỉnh cầu của thủ lĩnh bản châu là Mông Thừa Quý.
[131] Ngày Bính Ngọ, Sở Tường định trà diêm tâu xin lệnh cho Lý Phổ tuân theo các chiếu chỉ đã ban, căn cứ vào các điều khoản Sở Tường định đã tâu, nhanh chóng xem xét quyết định, nếu không có gì trở ngại thì thi hành xong rồi tâu lên, nếu việc chưa tiện thì bàn bạc kỹ rồi tâu. Lúc đó Phổ đang ở kinh sư, Vua ra chiếu cho Phổ đi ngựa trạm về nhiệm sở lo liệu, nhưng Phổ cứ khăng khăng giữ chế độ cũ, ít thay đổi.
[132] Thái bảo, Bình chương sự Vương Đán được trọng dụng suốt mười tám năm, làm tể tướng gần một kỷ, tính cách khiêm tốn, cẩn trọng, mỗi khi được thăng chức hay ban thưởng, thường tỏ ra ái ngại và từ chối. Vốn thể chất yếu đa bệnh, lại thấy danh vị quá cao, nên thường lo lắng, bất an. Từ khi đi sứ Đông Lỗ trở về, càng gầy yếu, không đủ sức vào chầu, liên tục dâng sớ xin từ chức. Hoàng đế vốn trọng vọng đức độ của ông, tin dùng không ai sánh bằng, nghe tin ông xin lui, rất không vui, ban chiếu khen ngợi, rồi trực tiếp dụ bảo.
Ngày Mậu Thân, ban chế chỉ phong làm Thái úy, kiêm Thị trung, cho phép năm ngày vào chầu một lần, nhân đó vào Trung thư, gặp việc quân quốc trọng đại thì không hạn thời gian, được tham gia quyết định. Vương Đán nghe lệnh càng lo sợ, ở nhà không ra, viết sớ khẩn thiết xin từ chức, nói rằng trong nhà có trăm miệng ăn, bệnh tật lan khắp, muốn lui về để tránh tai họa, nay lại được phong chức cao như vậy, thì càng thêm tội lỗi, lời lẽ kiên quyết và khổ sở. (Sách 《Thực lục》 chép rằng ông được lệnh vào điện tạ ơn, nhưng cố từ chối chức mới. Theo bản truyện và thần đạo bi, ông không ra. Sợ 《Thực lục》 chưa đáng tin hoàn toàn, nay không theo.) Lại sai con đến Hướng Mẫn Trung phụ tấu, hoàng đế nói: “Muốn lui về thì chưa thể nói, nhưng thể chất yếu đuối cũng đáng lo. Vương Đán làm tể tướng lâu năm, trước sau như một, giữ yên trong ngoài, thực có công lao, chưa từng có việc gì làm phiền triều đình, nay cố từ chức, hoặc khó trái ý ông.” Sau mười ngày, mới ban chiếu chỉ gia phong ấp, các ưu đãi khác vẫn như trước.
(Theo lời từ chức của Vương Đán, chế thư ban ngày Canh Thân, nay gộp chép.)
[133] Kinh Triệu phủ tâu rằng đã bắt và chôn hết châu chấu.
[134] Ngày Canh Tuất, Vua ngự tại điện Sùng Chính xét án các tù nhân trong kinh thành, những người phạm tội chết nhưng tình tiết nhẹ thì đày ra đảo xa, tội đồ và lưu đều giảm một bậc[33], tội trượng trở xuống đều được tha.
[135] Xuống chiếu vì năm nào cũng có nạn châu chấu và hạn hán, dân chúng nhiều người phải lưu lạc, sai:
– Điện trung thị ngự sử Trương Khuếch đi Kinh Đông lộ[34], Tiết Khuê đi Hà Bắc lộ;
– Giá bộ viên ngoại lang, phán Tam ty Diêm thiết câu viện Trương Thân đi Lưỡng Chiết lộ;
– Thái thường bác sĩ, phán Tam ty Độ chi câu viện Hàn Thứ, Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Giả Tượng Chi đi Giang Nam lộ;
– Trứ tác lang, Tập hiền hiệu lý, phán Tam ty Đô lý khiếm bằng do ty Trương Sư Đức[35], Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Tào Tuân đi Hoài Nam lộ thể lượng an phủ, đến nơi không được yến tiệc vui chơi và mượn nhiều thuyền bè của quan quân, các quan địa phương cũng không được đón tiễn. (Tuân là con thứ sáu của Tào Bân.)
[136] Xuống chiếu miễn thuế hè năm nay cho các hộ bị hạn hán ở Kinh Đông Tây, Hà Bắc, Thiểm Tây, Giang Nam, Lưỡng Chiết, cho phép nộp thuế theo cách thuận tiện.
[137] Ngày Ất Mão, xuống chiếu rằng hàng năm Bắc Nhung dâng chim săn, thương xót chúng bị trói buộc, nên thả hết đi.
[138] Chiếu rằng các trạm thuế dọc sông được phép chi trả như cũ hai phần trà hao hụt. Lý Phổ vào từ biệt, Vua đưa chiếu cho Phổ mang đi thi hành.
[139] Cho dân quân Cao Bưu là Tuân Hoài Ngọc làm Trợ giáo của quân đó, vì người này đã xuất ra 3000 hộc gạo và lúa mạch để cứu đói dân, và ra chiếu từ nay lấy đó làm lệ. Trương Tri Bạch nói: “Từ xưa dâng thóc được phong tước, đều quy về kho công, nay thì không như vậy. Dân có khi đói kém, tự giúp đỡ nhau, quan nhận lấy rồi chia đều cho người nghèo. Bệ hạ rất thương xót, đặc biệt khen thưởng, đó là điển chương tốt.”
[140] Ngày Bính Thìn, phủ Khai Phong cùng các lộ Kinh Đông, Thiểm Tây, Giang, Hoài, Lưỡng Chiết, Kinh Hồ gồm 130 châu quân đều tâu rằng sau tháng hai có nạn châu chấu ăn lúa. Chiếu sai sứ thần cùng quan lại huyện đó đốt bắt, cứ ba đến năm châu thì sai một hoạn quan đứng ra phụ trách.
[141] Ngày Mậu Ngọ, Tri châu Minh Châu là Lưu Xước tâu xin từ nay các quan châu đến nhậm chức, được thay thế và vào ngày sóc vọng đều phải ăn chay sạch sẽ, đến bái yết rồi từ biệt, Vua nghe theo. (Lưu Xước, chưa rõ lai lịch.)
[142] Tại Tây Kinh, điện Thần Ngự của Thái Tổ hoàng đế ở chùa Ứng Thiền viện xây xong[36], gồm 991 gian. Ngày Kỷ Mùi, sai Tể tướng Hướng Mẫn Trung làm sứ Lễ nghi phụng an Thánh dung, Nội đô tri là Trương Cảnh Tông quản việc đón rước, Tả gián nghị đại phu Thích Luân cáo ở lăng Vĩnh Xương.
[143] Bí thư thừa người Tiếu là Lỗ Tông Đạo làm Hữu chánh ngôn, theo chiếu mới.
[144] Chiếu cho lộ Phúc Kiến mua trà của dân, mỗi cân tăng thêm 10 đồng, theo lời xin của Chuyển vận sứ Phương Trọng Tuân.
[145] Ngày Tân Dậu, Vua đưa số lượng cỏ khô và lương thực cho ngựa quân ở kinh thành cho các tể thần xem và nói: “Trước đây Trương Tri Bạch muốn biết số này, nên đặc biệt cho các khanh xem. Phàm việc quốc dụng có chuẩn bị thì mới không lo lắng.” Hướng Mẫn Trung nói: “Thần từng nhớ lúc đầu quốc gia dự trữ quân lương chỉ đủ dùng trong hai ba năm, so với nay thì có thể thấy kho lẫm đầy đủ.”
[146] Điện trung thị ngự sử Trương Khuếch tâu: “Phụng chiếu đi an phủ vùng Kinh Đông[37], dân có dự trữ lương thực, muốn khuyên họ cho vay để cứu giúp dân nghèo, đợi đến mùa thu sẽ trả lại theo lệ làng, nếu có thiếu nợ, quan phủ sẽ xử lý.” Được chấp thuận.
[147] Ngày Nhâm Tuất, Viên ngoại lang Hình bộ, kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Lữ Di Giản xin từ nay chỉ cho các chức Chuyển vận sứ phó, Đề điểm hình ngục quan, Tri châu, Thông phán được tiến cử quan thuộc trong bộ mình, còn các chức Giám đương vật vụ[38], Tri huyện là quan kinh triều và quan thường tham triều tại kinh thì không được tiến cử. Chiếu rằng những người bị giám sát do phạm tội không được tiến cử quan, các quan triều đình làm Tri huyện không được tiến cử Mạc chức, Tào quan trong châu quân mình[39], còn lại đều theo lệ cũ, những người được tiến cử chỉ cần có kinh nghiệm và qua bốn kỳ khảo sát thì đều được thi hành.
[148] Ngày Quý Hợi, lấy Xu mật sứ Vương Khâm Nhược làm Phụng an Thái Tổ thánh dung lễ nghi sứ, hướng dẫn xa giá. Ngày Ất Sửu, từ trong cung đưa thánh dung đến điện Văn Đức, chuẩn bị nghi vệ, nhạc Giáo phường dẫn đầu. Ngày Bính Dần, Vua mặc áo bào, dâng rượu tế, lễ xong, đưa lên kiệu mà đi, đầy đủ lỗ bộ, cổ xúy, uy nghi đạo sĩ và tăng nhân. Vua ra khỏi chỗ nghỉ để tiễn, quần thần bái biệt ở ngoài cửa vườn Quỳnh Lâm. Ngày phụng an, Vua không thiết triều. Từ đó, vào các ngày chính, chí, sóc, vọng, lệnh cho quan lại ở kinh phủ đến điện đốt hương, và riêng vào tháng giêng chọn ngày triều bái, ngày kỵ thì đến viện thiết trai hành hương.
- Nghi vệ sứ dâng thiên thư đặt trước Ngọc Hoàng 'Đặt' nguyên bản là 'Sách', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 18 Kiến Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sửa. ↵
- Chữ 'quân' trong 'Kiến Xương quân' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào bản Tống, bản Tống Toát Yếu và 《Tống Sử Toàn Văn》 quyển 6 bổ sung. ↵
- 'Quân Sương về kinh', chữ 'quân' nguyên bản viết là 'khố', theo bản trong các các mà sửa. Xem quyển 90 sách này, ngày Ất Hợi tháng 6 năm Thiên Hi thứ nhất, 'Chiếu tuyển quân Sương trong thiên hạ, cho nhập vào quân Cấm tổng cộng hơn 5000 người', 《Tống sử》 quyển 189 chí Binh chí cũng chép tương tự, có thể tham khảo. ↵
- 'Nay đều do quan phủ cấp', chữ 'nay' nguyên bản viết là 'lệnh', theo bản trong các các mà sửa. ↵
- Theo văn trên và chú thích nguyên văn, 'năm ngàn' có thể có sai sót. ↵
- Chữ 'tri' nguyên là 'cải', theo bản các mà sửa. ↵
- 'Đối' nguyên là 'Phong', theo bản Tống, Tống Toát Yếu và 《Tống Hội Yếu》 chức quan 17-31, 《Biên Niên Cương Mục》 quyển 8 sửa lại. ↵
- Chữ 'túc' nguyên bản là 'tây', căn cứ theo bản Tống, bản Tống Toát Yếu và 《Tống Sử Toàn Văn》 quyển 6, 《Trị Tích Thống Loại》 quyển 5 về Thánh Chính của Chân Tông mà sửa. ↵
- Lý Văn Chính công từ chức Văn minh điện học sĩ, Công bộ thượng thư làm Tham tri chính sự. 'Công bộ thượng thư' nguyên bản chép là 'Công bộ thị lang'. Theo 《Tống sử》 quyển 265, truyện Lý Phưởng và quyển 264, truyện Tống Kỳ, Lý Phưởng thực sự từ chức Công bộ thượng thư tham dự quốc chính, nay căn cứ 《Xuân minh thoái triều lục》 sửa lại. ↵
- Đến cuối năm Tường Phù. 'Đến' nguyên bản chép là 'Tại', căn cứ 《Xuân minh thoái triều lục》 sửa lại. ↵
- Chỉ dùng chức cũ mà gia thêm bậc lương và thực ấp. 'Chỉ' nguyên bản chép là 'Thượng', căn cứ sách trên sửa lại. ↵
- Thu được thư từ qua lại của các quan xem bói hỏi điềm lành dữ: 'Dữ' nguyên là 'Dĩ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tống sử toàn văn》 quyển 6, 《Tục thông giám》 quyển 33, 《Âu Dương Văn Trung công văn tập》 quyển 22 《Thái úy Văn Chính Vương công thần đạo bi minh》 sửa. ↵
- Muốn nhân việc này hãm hại người mình không ưa: 'Sở' chữ này nguyên thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tống sử toàn văn》, 《Tục thông giám》 và 《Biên niên cương mục》 quyển 8 bổ sung. ↵
- Trước sau được Vua ban thơ ngữ chế tổng cộng sáu bài, chữ 'chế' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tống sử》 quyển 287 《Trần Bành Niên truyền》, 《Biên niên lục》 quyển 3 bổ sung. ↵
- Vua rất thương tiếc, chữ 'rất' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản bổ sung. ↵
- Đều do Xuyên Hạp chở đến, nay xin lấy số dư bảy mươi vạn tấm dâng lên cung cấp. Mười sáu chữ này nguyên bản bị thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trị tích thống loại》 quyển 29, phần Tổ tông dụng độ tổn ích bổ sung. ↵
- Miễn thuế muối còn nợ ở Châu Triều là 3.732.000 cân, chữ 'thiên' nguyên bản là 'thập', theo bản Tống và bản Tóm tắt đời Tống sửa lại. ↵
- Nếu lại phạm pháp, chữ 'nếu' nguyên bản thiếu, chữ 'pháp' nguyên bản viết là 'cương', theo bản Tống, Tống toát yếu sửa bổ. ↵
- Đêm trước khi trai giới, chữ 'trai' nguyên bản viết là 'tề', theo sách trên sửa. ↵
- Chiếu chọn những người trong nội chức bị bệnh, 《Tống hội yếu》 chức quan 33-6 chép là 'Chiếu chọn những người trong nội chức già yếu', có lẽ đúng. ↵
- Chữ 'Tại' nguyên là chữ 'Tự', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách 《Tống hội yếu》 thiên Thực hóa 55 tờ 24 sửa lại. ↵
- Chữ 'Nhị' nguyên là chữ 'Tam', theo bản Tống, bản Tống toát yếu và sách 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 20 thiên Sùng phụng Thánh Tổ sửa lại. ↵
- Chữ 'Xà' nguyên là chữ 'Địa', theo sách trên sửa lại. ↵
- Chữ 'phân' nguyên là 'tự', theo 《Thái thường nhân cách lễ》 quyển 48 và 《Tống sử》 quyển 103 《Lễ chí》 sửa lại. ↵
- 'Thỉnh' trong 'Duy Tế tự thỉnh thí quận' nguyên bản là 'chư', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Tống sử quyển 480 Ngô Việt Tiền thị thế gia sửa lại. ↵
- 'Hữu thủ' trong 'Dĩ hữu thủ sáng tha nhân giả thượng trọng hạ khinh' nguyên bản là 'tả thủ', căn cứ theo Tống sử sửa lại. ↵
- 'trị' chữ nguyên bản thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống sử》 quyển 262, 《Tục thông giám》 quyển 33 bổ sung. ↵
- 'bình' nguyên bản là 'tịnh', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, các bản khác và 《Tục thông giám》 sửa lại. ↵
- 'sinh' chữ nguyên bản thiếu, theo ý văn và ví dụ 'Thăng Châu báo cáo sâu non sinh sôi' bổ sung. ↵
- chữ 'cử' nguyên bản là 'dữ', theo 《Tống Hội Yếu》 quyển 27 trang 16 sửa lại ↵
- chữ 'chủ' nguyên bản là 'chí', theo bản trong các tủ sách sửa lại ↵
- 'Võng' nguyên là 'Phụ', theo các bản và bản hoạt tự sửa. ↵
- Tội đồ và lưu giảm một bậc, chữ 'đệ' nguyên bản viết là 'trì', theo bản trong các sách sửa lại ↵
- Sai Điện trung thị ngự sử Trương Khuếch đi Kinh Đông lộ, 'Kinh Đông lộ' nguyên bản viết là 'Kinh Tây lộ', theo sách 《Tống đại chiếu lệnh tập》 quyển 152, chiếu 'Khiển sứ tuần hành các quận' sửa lại. Xem phần sau sách này có ghi: 'Điện trung thị ngự sử Trương Khuếch tâu rằng phụng chiếu đi an phủ Kinh Đông', 《Tống hội yếu》 chức quan 41-87 cũng có ghi: 'Điện trung thị ngự sử Trương Khuếch đi Kinh Đông lộ', đều có thể tham khảo chứng minh. ↵
- Trứ tác lang, Tập hiền hiệu lý, phán Tam ty Đô lý khiếm bằng do ty Trương Sư Đức, chữ 'lý' nguyên bản bị thiếu, theo bản sách tháng giêng ngày Tân Hợi bổ sung. Xem 'Lý khiếm ty' thuộc Tam ty. Năm Chí Đạo thứ 2, tháng 7 nhuận, để giảm bớt các cơ quan của Tam ty, sáp nhập với Đô bằng do ty thành một, gọi là Đô lý khiếm bằng do ty. Lại nữa, 'Lý khiếm ty', bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Tống đại chiếu lệnh tập》 dẫn trên cũng viết là 'Thôi khiếm ty'. ↵
- Tây Kinh Ứng Thiền viện điện Thần Ngự của Thái Tổ hoàng đế xây xong, chữ 'Thần' nguyên bản là 'Thánh', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và sách Tống hội yếu đạo thích quyển 2 tờ 10 sửa lại. ↵
- Phụng chiếu Kinh Đông an phủ, hai chữ 'an phủ' nguyên bản đảo ngược, căn cứ theo bản hoạt tự và 《Trị tích thống loại》 quyển 5, 《Chân Tông thánh chính》, 《Tục thông giám》 quyển 33 sửa lại. ↵
- Chữ 'vật vụ' nguyên bản đảo ngược, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Tống hội yếu》 tuyển cử 27/16 sửa lại. ↵
- Chữ 'bản' nguyên là 'tri', căn cứ theo các bản sửa lại. ↵