"

III. TỐNG CHÂN TÔNG

QUYỂN 90: NĂM THIÊN HI THỨ NHẤT (ĐINH TỴ, 1017)

Từ tháng 6 năm Thiên Hi thứ nhất đời Chân Tông đến hết tháng 12 cùng năm.

[1] Tháng 6, ngày Mậu Thìn (mùng một), có người dâng thư nói: “Thần thấy triều đình triệu Thái thường bác sĩ Hứa Thức và Vũ Định Cơ, muốn thăng họ lên các chức vụ trong đài tỉnh. Thần nghĩ rằng, các bác sĩ ở Khúc Đài nếu được bổ nhiệm vào chức gián quan, thì sẽ được phong làm Tư gián. Thời Đường, các chức Thập di, Bổ khuyết như Trần Tử Ngang, Nguyên Chẩn, Bạch Cư Dị đều là những người văn học kiêm toàn, hiền lương xuất chúng, mới được chọn vào các chức vụ này. Từ đó về sau, nếu không phải là bậc anh tài xuất chúng, thì ít khi được bổ nhiệm một cách dễ dàng.

Thần với Hứa Thức và Vũ Định Cơ vốn không có hiềm khích, cũng không quen biết sâu, chỉ vì muốn triều đình trân trọng danh khí. Hứa Thức và Vũ Định Cơ tuy không có tư chất của bậc gián thần, nhưng chắc chắn có năng lực làm việc, nên mới được tiếng tăm đến tai bệ hạ, được tham gia vào lời triệu tập long trọng. Nếu lời thần có thể được chấp nhận, xin hãy đổi họ sang một chức vụ khác trong các bộ, ưu tiên bổ nhiệm ra ngoài, như vậy việc tiến thoái sẽ hợp lý.”

Vua nói: “Hứa Thức và Vũ Định Cơ tuy không có tài văn chương, nhưng đều là người siêng năng, được nhiều người trong triều tiến cử.” Sau đó, chỉ thăng cấp bậc và thăng chức sai sứ cho họ.

(Hứa Thức, Vũ Định Cơ, không rõ lai lịch.)

[2] Đồn điền viên ngoại lang Quách Thừa tâu rằng các chuyển vận sứ và đề điểm hình ngục quan ở các lộ, khi đến các châu quân, thường hành xử hà khắc, không có lợi cho việc trị đạo, mong triều đình ban hành lệnh răn đe. Vua nói: “Việc chấn chỉnh kỷ cương, trông cậy vào người thực hiện. Nếu họ biết điều chỉnh hợp lý, thì cần gì phải răn đe? Trẫm ngày đêm mong mỏi, cẩn thận chọn người tài giỏi, chính là vì việc này.”

(Quách Thừa, không rõ lai lịch.)

[3] Ngày Nhâm Thân (mồng 5), ban ân xá: Tù nhân tử tội ở Tây Kinh được giảm xuống lưu đày, tù nhân lưu đày trở xuống được tha[1], người già từ 80 tuổi trở lên được ban trà và vải, miễn thuế và lao dịch.

[4] Tào Vĩ tâu rằng, thủ lĩnh đô bộ lạc Quách Tư Đôn ở Nam Thị đã quy thuận, dời nhà đến trại Dã Phường[2], quản lý một dải bộ lạc, mong được bổ nhiệm làm Tuần kiểm của bộ tộc này, mỗi tháng cấp 5.000 tiền, 5 thạch gạo và bột. Lại tâu rằng, ở Tần Châu có hơn 670 quan chỉ huy sứ của bộ lạc có thể điều khiển được, muốn chia làm hai chỉ huy. Đều được chấp thuận.

[5] Ngày Giáp Tuất, các cơ quan dâng lên điều lệ và biên soạn sắc lệnh ở kinh đô và Tam ty, tổng cộng 12 quyển.

[6] Ngày Ất Hợi, xuống chiếu tuyển chọn hơn 5.000 binh lính từ các đạo sương binh trong thiên hạ để bổ sung vào cấm quân.

[7] Ngày Bính Tý, Hữu chánh ngôn Lỗ Tông Đạo tâu: “Thần thường đọc sách gần đây, từ cuối đời Đường sang đời Ngũ Đại, hoặc ba bốn năm, hoặc năm sáu năm, loạn lạc khổ cực, oán hận kêu trời. Khí huyết vàng đã hao mòn hết sự hòa hợp, tiếng than khổ cầu mong được nghỉ ngơi. Trời giáng họa đã hối hận, bậc thánh nhân bỗng nhiên xuất hiện. Vì thế, Thái Tổ hoàng đế dùng thần vũ đại lược định thiên hạ, dễ như lật bàn tay; Thái Tông hoàng đế dùng lòng nhân từ kế thừa mở rộng cõi bờ, thành tựu nghiệp lớn. Bệ hạ kế thừa và giữ gìn, siêng năng thực hiện, đạo lý được sắp xếp. Vì vậy, đền Vân, đình Nê Kiểm, đất Thùy Nhưỡng kính cẩn tế lễ, đến điện Thái Thanh, dâng tôn hiệu Ngọc Hoàng. Đến việc tự mình nghe xử án, chăm chỉ trị đạo, coi việc sớm tối như yến tiệc, vui với sự thanh đạm mà được an lâu dài, từ xưa các bậc vương giả chỉ ghi chép trong sách vở mà thôi. Duy chỉ có quan lại gần dân, chính sự là cấp thiết nhất, nhưng chưa thấy sự phân biệt, làm sao giúp được dân?

Nay việc bổ nhiệm quan lại theo lệ, cử một tri châu, dù già yếu kém hiểu biết, dùng cách nào để giáng chức? Cơ quan tuyển dụng bổ nhiệm một huyện lệnh, dù không phân biệt được đậu lúa, cũng không có cách nào để loại bỏ. Nay xét các quan lại gần dân trong thiên hạ[3], nếu chia làm mười phần, thì có ba phần là những kẻ tham nhũng hại chính mà chưa bị trừng phạt. Trong số còn lại, có những kẻ thanh trọc lẫn lộn, giả dối khéo léo, khiến người trên biết mà không thể xử lý. Lại có những kẻ ngu muội không thể kiểm soát được lại nhũng nhiễu[4], không thể hiểu rõ pháp luật, bị vướng mắc vào vật chất. Lại có những kẻ thân thuộc quý tộc, thấy vậy mà bao che không dám nói. Như vậy, chỉ có những người kiên định giữ mình, tiết chế bản thân, không nịnh trên, không khinh dưới, vì Bệ hạ chăm lo việc dân, thì không được một hai phần mười. Muốn dân được yên, làm sao có thể được?

Hán Tuyên Đế mỗi khi bổ nhiệm Thứ sử, Thái thú, tất phải tự mình gặp mặt, xem xét lời nói, quan sát tài năng, nay có lẽ chưa làm được như vậy. Mỗi khi bổ nhiệm Tri châu, Thông phán, Kinh triều quan làm Tri huyện, đợi đủ ba năm năm người, hãy để đại thần tổ chức yến tiệc để tiễn đưa, hỏi han lời nói để xem cách ứng đối, quan sát khí chất để đánh giá tốt xấu, người có tài thì khen thưởng, kẻ bất tài thì cách chức. Đối với huyện lệnh, thì chọn các quan trong đài các có tầm nhìn và uy tín để chủ trì việc bổ nhiệm[5], tài năng hay không, đều phù hợp với thực tế[6], e rằng sẽ phù hợp hơn với chính sách của thánh nhân.

Lại nữa, việc tuyển dụng quan lại vốn là trách nhiệm của tể tướng, nên chọn người tài giỏi để giao phó, nhằm khích lệ điều tốt, loại bỏ điều xấu, dần dần có được những quan lại tốt, đó là điều may mắn lớn cho dân. Hoặc có chiếu chỉ tham gia vào việc tể tướng, lại lệnh kiểm tra, cũng không phiền phức. Theo chế độ cũ đời Đường[7], tể tướng kiêm nhiệm Binh bộ, Lại bộ, buổi sáng ở Trung thư, buổi chiều về bản ty làm việc, đó cũng là chế độ kiêm nhiệm cả trong lẫn ngoài[8]. Thần không dám làm điều cuồng vọng, xúc phạm đến uy nghiêm, chỉ sợ mắc tội mà thôi.”

Vua nói: “Quan gián chức cũng rất dùng tâm, nhưng vì triều đình không có việc gì khác để nói, nên chỉ nói đến việc này. Tuy nhiên, việc cẩn thận chọn lựa quan lại thực sự là việc cấp bách của triều chính.”

[8] Ngày Đinh Sửu, ban chiếu rằng các châu Hoa, Quắc v.v… bị hạn hán mùa hè, mất mùa, đặc cách miễn thuế.

[9] Ngày Mậu Dần, Đinh Vị, tri châu Thăng châu tâu: “Phía bắc thành có hồ Hậu, vì hạn hán, dân xin cày cấy, tổng cộng 76 khoảnh, nộp hơn 500 quan tiền. Nay xin theo như trước giữ nước[9], trồng sen, ấu, nếu gặp hạn lớn thì tháo nước tưới ruộng, lại tận dụng lợi từ cá và cỏ bồ, giúp đỡ dân đói. Mong sai quân sĩ đào sửa, tiền thuế xin đặc cách giảm bớt.” Được chấp thuận.

[10] Ngày Kỷ Mão, ban chiếu rằng các ao hồ ngoài thành châu Minh cùng các hồ đập ở huyện Từ Khê, Ngân được miễn thuế vĩnh viễn, cho phép dân tưới ruộng, hái sen, ấu, theo lời thỉnh cầu của châu này.

[11] Tào Vĩ và những người khác tâu rằng gần đây đã huy động binh lính sửa chữa các trại và đào hào các huyện, trấn, tổng cộng hết 1.373.369 công đã hoàn thành, ban chiếu khen thưởng.

[12] Ngày Canh Thìn, phát vận sứ tâu[10], các kho chuyển tải ở châu Chân v.v… cùng gạo cung cấp từ Giang, Chiết hơn 2.200.000 hộc[11], xin để lại các nơi để cứu đói, được chấp thuận.

[13] Kẻ trộm đào mộ Hán Cao Tổ, bắt được, xử theo luật, và hặc tội các quan lại. Sai nội thị Vương Khắc Nhượng cùng phủ Hà Nam làm lại y quan, minh khí an táng, tri chế cáo Lưu Quân đến lăng tế cáo, lại dùng số tiền trộm được để tu sửa, làm trai đàn. Nhân đó ban chiếu cho các châu huyện cấm chặt củi ở lăng tẩm.

[14] Lúc đầu, họ Tôn Diên Thế, một đại gia tộc ở Mi Châu, làm giả giấy tờ để chiếm ruộng của người trong họ, việc này kéo dài không thể phân xử được. Chuyển vận sứ sai Điện trung thừa, Tri huyện Cửu Lũng là Chương Tần điều tra xử lý. Chương Tần xem giấy tờ, thấy mực nổi trên chữ đỏ, nói: “Đây chắc chắn là trộm ấn trước, rồi mới viết.”

Sau khi khai nhận, án chưa trình lên mà gia đình họ lại kiện lên Chuyển vận sứ, nên lại sai Tri huyện Hoa Dương là Hoàng Mộng Tùng xét lại, kết quả không khác. Hoàng Mộng Tùng nhờ việc này được bổ làm Giám sát ngự sử, còn Chương Tần vì không kịp thời kết án nên bị giáng làm Giám thuế rượu ở Khánh Châu, rồi điều làm Tri huyện Trường Châu. Ngày Tân Tỵ, Vua triệu Chương Tần đến đối chất ở điện Thừa Minh, hôm sau phong làm Giám sát ngự sử.

Chương Tần là người Phố Thành.

[15] Ngày Giáp Thân, lấy Phó sứ Tiết độ sứ Vũ Xương là Biên Túc làm Tri châu Quang Châu, theo chiếu xá tội năm Tân Hợi. Khi ấy, Hình bộ tâu về tội cũ của ông, Vua nói: “Biên Túc khi ở Hình Châu, lúc quân phương Bắc xâm lấn, nhiều lần có chiếu bảo bỏ thành vào giữ, nhưng ông vẫn kiên cường phòng thủ, tỏ rõ lòng trung thành. Tuy có phạm tội hối lộ, nhưng cũng đã nhiều lần được xá tội, nên đặc cách bổ làm Tri châu.”

Hướng Mẫn Trung từng nói với Vương Đán: “Biên Túc cùng khoa, bị trách phạt đã lâu, có thể phục chức được không?” Vương Đán đáp: “Làm quan gần Vua mà phạm tội tham nhũng, sao có thể thăng tiến được nữa?” Mẫn Trung nhiều lần nhắc đến, Vương Đán nói: “Tôi không phải là không có tình cảm với người cùng khoa, nhưng nếu ông muốn dùng ông ấy, thì phải đợi tôi chết đã.” Mẫn Trung mới thôi.

(Việc này theo 《Di sự lục》.)

[16] Chiếu cho Kim bộ viên ngoại lang, Đề điểm Trung thư chế sắc viện ngũ phòng công sự Lưu Minh Thứ, từ nay gặp dịp lễ lớn, cho phép theo lệ của Xu mật phó đô thừa chỉ mà tiến phụng chúc thọ, và được tham dự yến hội. Đây là bắt đầu thay đổi chế độ cũ.

(Năm Tường Phù thứ 6, tháng 2, Vương Đán nói việc này không nên.

《Vương Tăng ngôn hành lục》 chép: Viên lại đường là Lưu Minh Thứ, tể tướng cho rằng ông ta phục vụ lâu năm, làm quan đến chức vọng lang, dẫn theo lệ của Xu mật đô thừa chỉ, muốn đổi lễ nghi. Vương Tăng cho rằng triều đình là nơi làm gương, không thể phá bỏ quy chế cũ; bèn bàn việc cho các lại buổi sáng vào chầu, riêng cho bước lên thềm, lại dựa vào ân lệ đổi sang tam phẩm phục, Vương Tăng đều cho là không nên. Do đó chỉ cho phép vào chầu trước thềm. Sau đó lại bàn việc chọn kỹ lại đường, muốn lấy những người đỗ tiến sĩ để bổ nhiệm. Vương Tăng nói: “Triều ta kế thừa chế độ nhà Đường, đặt khoa này, gọi là khoa tướng tương, há lại bắt họ làm việc chạy giấy cho lại sao?” Mọi người đều xấu hổ mà thôi.)

[17] Các lộ Thiểm Tây, Giang, Hoài đều tâu rằng trong địa phận có châu chấu ôm cây cỏ mà chết và bị gió lớn thổi ra biển.

[18] Ngày Kỷ Sửu, triệu Vương Đán vào đối ở điện Sùng Chính mấy khắc.

[19] Hướng Mẫn Trung từ Kinh Tây về.

[20] Ngày Nhâm Thìn, Tri châu Tô Châu Mai Tuân tâu rằng châu chấu bay vào địa phận, đều ôm cành cây mà chết, lại có đàn bay nhảy xuống hồ Thái Hồ.

[21] Ngày Quý Tỵ, tăng đạo và dân chúng ở Tần Châu, dựa vào công trạng của Bộ thự Tào Vĩ, xin lập bia ca tụng, có chiếu khen ngợi Tào Vĩ.

[22] Tháng đó, có người dâng thư nói: “Biên cương tuy yên ổn, nhưng việc võ bị không thể thiếu. Mong bệ hạ hạ lệnh cho quần thần tiến cử người có tài làm tướng soái, nếu biên giới chưa có chỗ khuyết, thì tạm thời sai phái đến các châu quân trong nội địa[12], khi cần kíp sẽ đủ người để lựa chọn.”

Vua bèn hạ chiếu cho Vương Đán và các quan tiến cử người mình biết, mỗi người hai ba người, ghi rõ tên để dâng lên. Sau đó, Xu mật viện lại xin lệnh cho từ tể tướng trở xuống, mỗi người trong số các quan kinh triều, mạc chức và các chức trên Cáp môn chi hậu, tiến cử người có thể làm tướng soái, mỗi người hai ba người. Mẫn Trung và các quan nói: “Nơi chấp chính, ngày ngày bàn bạc, nếu có chỗ khuyết, có thể tiến cử ngay. Nếu lại đặc biệt hạ chiếu chỉ, nói rõ trong thư tấu, không chỉ kết thành ân riêng, mà còn sợ nảy sinh dị nghị.” Vua cho là phải.

[23] Mùa thu, tháng 7, ngày Tân Sửu, vì sâu non sinh lại, sai quan chia nhau đến các cung quan, chùa chiền trong kinh thành cầu đảo, lại lệnh cho các châu quân đặt lễ tế ở công thự.

[24] Quân lính ở Thiền Châu là Vương Quý bắt được ấn ngọc, trên khắc chữ “Quốc chủ Triệu Vạn Vĩnh Bảo Ấn”, dài khoảng ba tấc, rộng hai tấc, ngọc mềm mại và hình dáng rất cổ. Vương Quý nói đến Tần Châu gặp đạo sĩ trao cho, nói là lấy được từ hồ Thông Thánh Sơn ở nước Vu Điền, Tần Châu đưa về kinh[13].

(Việc của Vương Quý, Thực lục chép quá rườm rà, nay theo bản chí.)

[25] Ngày Nhâm Dần, Tứ Châu báo hạn hán.

[26] Ngày Ất Tỵ, lệnh cho Phủ Châu đặt nạp chất viện.

[27] Ngày Đinh Mùi, chiếu rằng các lộ bị thiên tai, xét tù nhân mà nhiều trộm cướp, nên lệnh cho chuyển vận sứ xem xét các sứ thần tuần kiểm trong bộ, ai già yếu hèn nhát thì chọn sứ thần giám đương thay thế.

[28] Ngày Mậu Thân, Tào Vĩ tâu rằng từ mùa xuân đến mùa hạ, sai quân sĩ và dân trại đào hào dài, xây thành trại lớn nhỏ ở Lạc Môn và mang theo phòng thủ, rất vất vả, xin ban thêm tiền, Vua đồng ý.

[29] Ngày Kỷ Dậu, Hữu chánh ngôn Lưu Diệp, Lỗ Tông Đạo cùng các quan tâu rằng, mỗi khi có chương sớ, thường nộp tại cửa Cáp, việc này không tiện, xin được nộp tại Ty Thông tiến Ngân đài, được chấp thuận. Lại tâu rằng chương sớ thường phải viết tay, nhưng vì chữ viết không đẹp, sợ làm nhọc mắt Vua, xin được viết tay. Chiếu rằng nên để họ tự viết[14].

[30] Ngày Canh Tuất, chiếu rằng những người giữ chức Thượng tá, Văn học, Tham quân bị khiển trách đã mười năm, các châu báo lên, sẽ được xem xét bổ dụng.

[31] Tri quân Vĩnh Hưng Khấu Chuẩn tâu rằng trong bộ nội, dân chúng trồng trọt bị nạn châu chấu phá hoại, nhưng cây cối lại mọc lại tươi tốt, châu chấu nhiều con bám vào cỏ mà chết.

[32] Ngày Quý Sửu, Tể thần Hướng Mẫn Trung dâng biểu xin từ chức, chiếu không cho phép.

[33] Ty Tường định Diêm trà xin bãi bỏ việc mua cỏ lương thực ở Thiểm Tây bằng giấy giao dịch, lập chế độ lâu dài khác, cho phép thương nhân nộp hàng, được chấp thuận.

[34] Vương Đán vì bệnh, kiên quyết xin từ chức Tể tướng. Ngày Giáp Dần, Vua triệu vào điện Tư Phúc đối đáp, tả hữu đỡ ông lên. Vua thấy ông gầy yếu, thương xót nói: “Trẫm thấy trong người không khỏe, đang muốn giao việc lớn cho khanh, mà khanh bệnh như thế[15], biết làm sao!” Bèn sai hoàng tử ra bái. Vương Đán nói: “Hoàng tử đức lớn, ắt sẽ gánh vác việc của bệ hạ.” Rồi tiến cử hơn mười người có thể làm đại thần, về sau không vào được hai phủ chỉ có Lăng Sách và Lý Cập. Vương Đán lui ra, lại dâng sớ xin từ chức. Vua bèn đồng ý.

(Sách 《Đán di hành lục》 và bia thần đạo đều ghi là hoàng thái tử, xét lúc này chưa lập đông cung, nay chỉ ghi là hoàng tử. 《Hội yếu》 cũng ghi là hoàng thái tử, lại cho là việc năm Tường Phù thứ 9[16], càng sai lầm.)

[35] Ngày Đinh Tỵ, phong Vương Đán làm Thái uý, vẫn kiêm chức Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ, đặc cách cấp một nửa bổng lộc của Tể tướng. Lệnh cho quan Lễ bộ soạn thảo nghi thức, đến Thượng thư tỉnh nhận chức. Sai con trai ông là Đại Lý bình sự Vương Ung đến tư dinh ban cáo mệnh, ban thưởng khí vật và y phục, đều giống như Tể tướng. Vương Đán vào điện tạ ơn, quỳ lạy sát đất. Nội thị liên tục đến thăm hỏi, mỗi ngày ba bốn lần, ban cháo khoai mỡ từ ngự dược.

Vương Đán tính cách đoan chính, kiên định, thông hiểu việc trị quốc. Đối đãi với người rất hòa nhã, nhưng phong cách nghiêm túc. Khi xử lý công việc, nghiêm khắc không thể xâm phạm. Làm Tể tướng, ông luôn tuân thủ pháp độ, coi trọng việc cải cách, khéo léo trong việc tấu chương, lời lẽ ngắn gọn mà hợp lý. Mỗi khi bàn luận việc với các quan trong triều, nếu có ý kiến trái ngược, tuy không tranh cãi trực tiếp, nhưng vẫn giữ đạo ngay thẳng, không vì lời biện bạch mà thay đổi. Ông có tầm nhìn xa, giỏi ổn định đại sự.

Trong việc dùng người, không căn cứ vào danh tiếng, mà nhất định phải xem thực tài. Nếu người nào vừa hiền tài, ông sẽ để họ giữ chức lâu dài, xem xét phù hợp với vị trí nào rồi mới thăng chức. Dù kẻ sĩ có điều gì trái ý mình, cũng không vì tư lợi mà bỏ qua. Ông giữ chức Tể tướng lâu năm, Vua càng tin cậy, lời nói nào cũng được nghe theo. Dù các Tể tướng, đại thần khác có bàn luận việc gì, Vua cũng hỏi: “Vương khanh nghĩ thế nào?” Việc lớn nhỏ, không có lời của Vương Đán thì không quyết định. Lúc bấy giờ, bên ngoài không lo nạn biên cương, binh đao không dùng đến, trong nước giàu có thịnh vượng, trăm quan đều hoàn thành nhiệm vụ, nên thiên hạ đến nay vẫn khen ngợi ông là vị Tể tướng hiền tài.

(Việc vào điện đối đáp diễn ra sau ngày Đinh Tỵ 17 ngày, nay ghi chung vào đây.)

[36] Trước đó, sâu bọ gây hại, các lộ Chuyển vận sứ ra lệnh cho quan lại địa phương đốt bắt, có người bị đeo gông. Đến lúc này, Giám sát ngự sử Lưu Bình tâu việc ấy, Vua lập tức ra lệnh tha cho họ.

[37] Ngày Kỷ Mùi, Hướng Mẫn Trung dâng biểu xin từ chức lần nữa, Vua không cho.

[38] Xuống chiếu rằng từ nay các quan Mạc chức, Châu huyện được gia ân, đợi đến ngày tham tuyển, Lại bộ Nam tào sẽ xét duyệt và bổ nhiệm, không cần phải tự tâu xin.

[39] Ngày Tân Dậu, xuống chiếu cho Khai Phong phủ và các lộ Hà Bắc bị nạn châu chấu, được gia hạn nộp thuế hạ một tháng, người cô cùng nghèo khó thì được miễn thuế.

[40] Tam ty xin theo lệ thường năm mua đều cỏ hơn nghìn vạn bó trong khu vực phủ Khai Phong, Vua cho rằng nạn châu chấu gây hại, sợ làm phiền sức dân, sai Trung thư, Xu mật viện bàn xem có nên làm không. Hướng Mẫn Trung nói: “Quốc gia nuôi ngựa số lượng hàng vạn con, so với triều trước tăng gấp bội, tốn nhiều cỏ lương. Nếu cho Quần mục ty ước lượng số lượng bán ra, phân tán trong dân gian, khi cần thì lấy lại, cũng như chuồng ngựa bên ngoài vậy.” Vương Khâm Nhược nói: “Lời bàn của Mẫn Trung thật tiện lợi. Năm trước đã từng kiến nghị, nhưng vì ý kiến các quan gần gũi không thống nhất, nên việc bị bỏ dở. Nay đã nhất trí, xin cho thần soạn riêng bản tấu trình.” Vua đồng ý.

[41] Trước đó, Bảo Bình tiết độ sứ, Đồng bình chương sự, Phò mã đô úy Ngụy Hàm Tín làm phán quan ở Thiên Hùng quân, bị bệnh được triệu về, Vua đến tận nhà thăm hỏi, nói với tể tướng rằng: “Các con của Hàm Tín không biết vâng lời, sau này chắc chắn không hòa thuận.” Và than thở về việc giữ gìn gia đình khó khăn, rất thương xót. Ngày Giáp Tý, Hàm Tín mất, Vua đến viếng khóc, truy tặng Trung thư lệnh, cho con cháu cháu trai được bổ nhiệm, thăng chức bảy người. Hàm Tín khá hiểu biết sách vở, cũng đối đãi tốt với sĩ tử, nhưng keo kiệt, thích mưu lợi, các nhà khách do Nhân Phố xây dựng đều chiếm làm của mình, sau khi mất, nhiều lần bị các cháu kiện, người đời chê cười.

[42] Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ, Thái úy Vương Đán xin cho cháu là Thuần được bổ nhiệm chức quan, chiếu theo lệ tể thần phong chức.

[43] Tháng 8, ngày Bính Dần, mùng một, xuống chiếu giảm bớt số lượng công nhân hộ tống các quan thay thế ở các lộ (Năm thứ 5, tháng 8, ngày Nhâm Tý khôi phục như cũ).

[44] Ngày Đinh Mão, ban tặng tăng nhân Hoài Kiều ở huyện Dương Trạch trà và lụa, vì đã nấu cháo cứu đói dân.

[45] Ngày Canh Ngọ, lấy Xu mật sứ, Đồng bình chương sự Vương Khâm Nhược làm Tả bộc xạ, Bình chương sự.

Trước đây, Vua muốn cho Khâm Nhược làm tướng, Vương Đán nói: “Khâm Nhược được bệ hạ yêu quý, ân lễ đã dày, xin hãy để ông ấy ở lại Xu mật viện[17], việc dùng người ở hai phủ cũng đều nhau. Thần thấy từ thời tổ tông chưa từng để người phương Nam nắm quyền chính, tuy xưa nay nói rằng dùng người hiền không câu nệ phương hướng, nhưng phải là người hiền tài mới được. Thần ở ngôi nguyên tể, không dám ngăn trở người khác, nhưng đây cũng là ý kiến chung.” Vua bèn thôi.

Đến khi Vương Đán bị bãi chức, Vua cuối cùng vẫn cho Khâm Nhược làm tướng. Khâm Nhược từng nói với người khác rằng: “Vì Vương Tử Minh (tức Vương Đán) mà ta làm tướng muộn mất mười năm.”

[46] Xu mật phó sứ Trương Mân bị bãi chức, làm Tiết độ sứ Hà Dương Tam Thành.

(Việc này không rõ lý do, cần xem xét thêm.)

[47] Chiếu rằng từ nay những dân các lộ làm giặc mà hình dáng nhỏ yếu, đáng phải phối ngục ở bản thành thì đều phải phối ngục ở lao thành, theo lời thỉnh cầu của Tri châu Lộ Châu là Tiền Duy Tế.

[48] Ngày Tân Mùi, Hàn lâm học sĩ Triệu Huỳnh tâu: “Theo chiếu định rõ việc phong tặng cho mẹ đẻ và quan đã về hưu. Xin từ nay các quan văn võ ở kinh thành, không có mẹ đích hay mẹ kế, thì cho phép phong tặng mẹ đẻ; các quan về hưu từng giữ chức thăng triều quan thì theo lệ phong tặng, còn những người sau khi về hưu mới được thăng lên chức thăng triều quan thì không thuộc diện này.” Vua đồng ý.

[49] Lễ nghi viện tâu định rõ nghi thức Thái úy Vương Đán lên triều. Từ khi lập quốc đến nay, Tam công không kiêm chức Tể tướng, nên không có lễ lên triều. Vua ưu đãi đại thần[18], nên đặc biệt có mệnh lệnh này, nhưng Vương Đán cuối cùng vì bệnh mà không lên triều được[19].

[50] Tri châu Tịnh Châu là Chu Khởi tâu rằng dân Hà Bắc chạy đói đến địa giới châu, dân trong châu đã bố thí cơm một tháng. Vua ban chiếu khen ngợi Chu Khởi[20], lại lệnh cho mời những người bỏ gạo ra để khao thưởng. Chu Khởi lại xin phát một vạn thạch thóc trong kho, bán giá rẻ[21] để cứu đói, Vua cũng đồng ý.

[51] Ngày Nhâm Thân, Trung thư thị lang kiêm Lại bộ thượng thư, Bình chương sự Hướng Mẫn Trung được thăng làm Hữu bộc xạ, Môn hạ thị lang.

(《Thẩm Quát bút đàm》 chép: Mẫn Trung được bái làm Hữu bộc xạ, Vua bảo Lý Tông Ngạc rằng: “Trẫm từ khi lên ngôi, chưa từng bổ nhiệm chức Bộc xạ, Mẫn Trung ắt rất vui mừng.” Sau lại nói: “Mẫn Trung rất chịu được chức vụ.”

Xét thời điểm này Tông Ngạc đã chết năm năm rồi. Lại xét năm Chí Đạo thứ 3 tháng 4, Lã Đoan làm Hữu bộc xạ; năm Hàm Bình thứ 4 tháng 12 nhuận, Trương Tề Hiền làm Hữu bộc xạ; năm thứ 5 tháng 12, Lý Hãng làm Hữu bộc xạ; năm Đại Trung Tường Phù thứ nhất, Tề Hiền lại làm Hữu bộc xạ; năm thứ 4 tháng 4, Vương Đán làm Hữu bộc xạ, Tề Hiền làm Tả bộc xạ; năm thứ 9 tháng 8, Trần Nghiêu Tẩu làm Hữu bộc xạ; năm đó tháng 2, Vương Khâm Nhược làm Hữu bộc xạ; tháng này lại đổi làm Tả bộc xạ, còn Mẫn Trung làm Hữu bộc xạ[22]. Kể từ khi Vua lên ngôi đến nay, chức Tả Hữu bộc xạ đã có sáu người đảm nhiệm, Mẫn Trung là người thứ bảy. Điều Quát nghe được sai lầm nhiều, nay không theo.)

[52] Vua cho rằng những sứ giả trước đây được phái đi tuần tra các lộ đang bận thu hoạch mùa màng, có thể gây trở ngại cho việc nông, bèn triệu hết về kinh[23], dân chúng các nơi giao cho quan lại địa phương đặc biệt an ủi, không để xảy ra việc quấy nhiễu.

[53] Ngày Bính Tý, ban chiếu cấm vùng đất cỏ quanh bốn phía kinh thành, cho phép dân chúng canh tác và chăn nuôi.

[54] Lệnh cho Giang, Hoài phát vận sứ chở 30.000 thạch gạo bằng đường biển đến Đăng, Duy, Mật châu, theo yêu cầu của Kinh Đông an phủ sứ Trương Khuếch.

[55] Ngày Đinh Sửu, ban chiếu từ nay các quan chức hai tỉnh, cấp xá, tướng quân trở lên ở Nam cung, Bắc trạch được phép ngồi trên ghế lông nhung ấm áp, còn lại đều cấm, đồng thời nghiêm cấm việc săn bắt.

[56] Cơ quan Củ sát tại kinh hình ngục tâu: “Từ nay, Khai Phong phủ xét xử tội nhân, nếu có người bệnh nhẹ, xin cho phép cân nhắc xử lý. Hai quân tuần viện cần người làm chứng, nếu không phải là người của bản phủ hoặc Tam ty, thì không được tự ý bắt giữ.”

[57] Ngày Mậu Dần, miễn thuế mua bán trâu bò ở các lộ trong một năm.

[58] Ngày Canh Thìn, Hữu chánh ngôn Lỗ Tông Đạo tâu: “Hoàng thành ty thường cử người theo dõi việc công, cả những việc nhỏ nhặt trong dân gian cũng đều báo cáo, điều này không tiện. Xin ban hành quy định.” Vua nói: “Những việc vụn vặt, phần lớn đều bỏ qua không thi hành, nhưng chức trách của các cơ quan cũng không thể không nghiêm khắc.”

[59] Ngày Quý Mùi, Quần mục chế trí sứ xin bán những ngựa quân đã trên 13 tuổi, được chấp thuận.

[60] Ngày Bính Tuất, lấy Đô quan viên ngoại lang, phán Tam ty đô ma khám ty Hoàng Chấn làm Giang, Hoài, Lưỡng Chiết, Kinh Hồ chế trí phát vận sứ, ban cho kim tử.

Trước đó, Lý Phổ xuất thân từ tiểu lại trong Tam ty, làm phát vận sứ hơn mười năm, tham nhũng bừa bãi, Đinh Vị bao che, không ai dám nói. Chấn sắp lên đường, dâng thư tự trình, lời lẽ khá phẫn nộ. Vua biết ý ông nhắm vào Phổ, bảo rằng: “Khanh nên hòa hợp với mọi người.” Chấn đáp: “Liêm chính công trung, không phụ sứ mệnh của bệ hạ, thần đâu dám không hòa hợp.”

Đến nơi, ông phát giác hàng chục việc tham nhũng của Phổ. Vua xuống chiếu sai Ngự sử và Cáp môn chi hậu mỗi người một người đi điều tra.

Chấn là người Phố Thành. Ông từng làm thông phán ở Tuy Châu, gặp lúc có chiếu ban tiền cho quân sĩ hai xứ Xuyên. Chiếu đến Tây Xuyên, nhưng Đông Xuyên lại không được, quân sĩ định làm loạn. Chấn báo với thủ lĩnh: “Triều đình đâu quên Đông Xuyên, chỉ là chiếu thư bị chậm trễ thôi.” Liền mở kho phát tiền như Tây Xuyên, mọi người mới yên. Hôm sau chiếu thư đến.

(Chấn phát giác tội của Phổ là ngày Nhâm Ngọ tháng 10, nay ghi chung lại.)

[61] Ngày Đinh Hợi, xuống chiếu lấy Sùng Văn viện làm nơi chứa sách của Tam quán.

[62] Xuống chiếu rằng những người có kỹ thuật dù làm quan kinh triều, Thẩm quan viện không xét đến trong việc khảo khóa.

[63] Ngày Kỷ Sửu, lấy Từ bộ viên ngoại lang, trực Tập hiền viện Tiền Dịch làm phán Tam ty đô ma khám ty. Dịch kiến nghị: “Vật của quan trong sổ sách mà Tam ty gửi văn thư sửa đổi, hoặc số lượng nhỏ, thường nhiều năm không được phúc đáp, chỉ làm phiền châu huyện. Từ nay, tiền của quan một trăm[24], thóc một đấu, vải hai thước trở xuống, không phải là lừa dối[25], xin bỏ đi.”

[64] Ngày Tân Mão, xuống chiếu rằng các châu quân Hà Bắc năm nay lúa hè không được mùa, dân thiếu giống lúa, quan cho vay.

[65] Ngày Quý Tỵ, ban chiếu rằng từ nay, quân đồn trú và quân trú bạc ở Quảng Nam được cấp thêm 300 tiền cho mỗi tấm lụa may quân phục, còn các quân bản thành được cấp thêm 100 tiền.

[66] Tháng 9, ngày Mậu Tuất, ban chiếu rằng từ nay, các lệnh úy nếu tự mình chiến đấu giết được hơn 10 tên cướp có cờ hiệu, dù không phải toàn bộ bọn chúng, hoặc giết được hơn 7 tên trong toàn bộ bọn cướp, hoặc dưới 7 tên nhưng là những kẻ hung ác nguy hiểm, đều phải tâu lên để xin chỉ dụ.

[67] Hoàng đế bàn với tể tướng về việc giảm bớt quan lại. Hướng Mẫn Trung tâu: “Thời Thái Tổ, Thái Tông, số lượng Chi hậu ở Cáp môn chỉ có 3 đến 5 người, chỉ lo việc tuyên đọc, dẫn lối và chúc tụng mà thôi. Nay số lượng đã vượt quá hàng trăm mà việc bổ nhiệm vẫn chưa dừng lại, bổng lộc lại quá hậu, địa vị cũng cao, trong số đó không ít kẻ được thăng chức một cách bất hợp lý, xin bệ hạ hạ lệnh cắt giảm.” Hoàng đế nói: “Đây là do tập tục lâu đời, nên dần dần giảm bớt.”

[68] Ngày Quý Mão, Cấp sự trung, Tham tri chính sự Vương Tăng bị cách chức, giáng làm Lễ bộ Thị lang. Ban đầu, Vương Tăng nhường chức Hội linh quan sứ cho Vương Khâm Nhược, khiến Vua không vui. Đến khi Vương Khâm Nhược làm Tể tướng, muốn bài trừ người khác phe, nên nhiều lần gièm pha Vương Tăng. Khi ấy, Vương Tăng mua lại dinh thự cũ của gia đình Hạ hoàng hậu, nhưng gia đình họ chưa dọn đi mà Vương Tăng đã cho người chở đất đổ trước cổng[26], nhà họ Hạ vào cung tố cáo. Hôm sau, Vua nói chuyện này với Vương Khâm Nhược, rồi cách chức Vương Tăng. Vương Tăng sau khi bị cách chức, đến thăm Vương Đán, nhưng Vương Đán đang bệnh nặng, từ chối không tiếp. Sau đó, Vương Đán nói với người nhà: “Vương quân là người cương trực, sau này đức vọng và công nghiệp sẽ rất lớn, chỉ tiếc là ta không được thấy[27].” Vương Đán lại nói: “Vương quân trước đây nhường chức Hội linh quan sứ, tuy trái ý Vua, nhưng khi vào chầu đối đáp rõ ràng, lời thẳng khí hòa, không chút sợ hãi. Hơn nữa, Vương quân mới được trọng dụng đã có thể như vậy. Ta từ khi nhận chính sự đến nay gần hai mươi năm[28], mỗi lần vào chầu, nếu Vua hơi không vui, liền co rúm không yên, từ đó biết được khí độ lớn lao của ông ấy.”

[69] Hàn Lâm học sĩ, Hữu Gián nghị đại phu Lý Địch được bổ làm Cấp sự trung, Tham tri chính sự, vẫn giữ chức Hội Linh quan phó sứ. Lý Địch từng một mình vào chầu ở cửa Nội Đông, Vua đưa ra bản báo cáo số lượng thu chi tài chính hàng năm do Tam ty sứ Mã Nguyên Phương dâng lên để cho Lý Địch xem. Lúc đó, hạn hán và nạn châu chấu liên tiếp xảy ra, Vua lo lắng không đủ chi dùng[29], hỏi Lý Địch làm thế nào để cứu vãn. Lý Địch tâu: “Tổ tiên lúc đầu lập ra kho Nội tàng là để chuẩn bị quân lính khôi phục vùng đất cũ phía tây bắc và chi dùng khi gặp thiên tai. Nay biên giới không có chi phí gì khác, bệ hạ dùng kho này để hỗ trợ quốc dụng, thì thuế má sẽ nhẹ, dân chúng không bị lao dịch.”

Vua nói: “Trẫm muốn dùng Lý Sĩ Hoành thay Mã Nguyên Phương, đợi khi ông ấy đến, sẽ xuất ra vài triệu lượng vàng lụa để cho Tam ty mượn.” Lý Địch tâu: “Thiên tử đối với của cải không phân biệt trong ngoài, xin hạ chiếu ban cho Tam ty để tỏ rõ ân đức, sao cần phải nói là mượn?” Vua vui lòng. Lý Địch lại tâu: “Khi bệ hạ đi phong thiện ở phía đông, đã ra lệnh không chặt cây, dọn đường, chỉ dùng các trạm dịch hoặc dinh thự của châu làm hành cung, chỉ yêu cầu sơn phết lại mà thôi. Đến khi ngự giá đến Phần, Bạc, việc xây dựng đã tốn kém gấp trăm lần trước. Nay thiên tai hạn hán và châu chấu, có lẽ là ý trời cảnh cáo bệ hạ[30].” Vua nói: “Khanh nói đúng, chỉ vì một hai đại thần đã làm Trẫm lầm lỗi như vậy.”

(Theo phụ truyện và chính truyện của Lý Địch, việc đối đáp ở cửa Nội Đông xảy ra khi ông còn làm Hàn Lâm, và được ghi chép trước sự kiện sách lược của Tào Vĩ, có lẽ là sai. Vì nói rằng hạn hán và châu chấu liên tiếp xảy ra, nên sự việc này phải xảy ra vào năm nay mới hợp lý. Lại theo tháng 3 năm sau, Lý Sĩ Hoành mới bãi chức Đô tào Hà Bắc, nhậm chức Tri Thanh Châu, còn Mã Nguyên Phương đến tháng 7 mới bãi chức Tam ty sứ, e rằng lúc này chưa thể triệu Lý Sĩ Hoành trước. Phụ truyện không có đoạn này, chỉ chính truyện có, không rõ căn cứ vào đâu. Có lẽ lúc này Vua đã có ý triệu Lý Sĩ Hoành thay Mã Nguyên Phương, đến năm sau mới quyết định. Nay tạm theo đó, và ghi sự việc này sau khi ông nhậm chức Tham tri chính sự, đợi sau này khảo cứu thêm.)

[70] Dĩnh Châu phòng ngự sứ Mã Tri Tiết được bổ làm Tuyên huy Nam viện sứ, Tri Xu mật viện sự. Xu mật phó sứ Tào Lợi Dụng, Nhiệm Trung Chánh, Xu mật trực học sĩ Chu Khởi cùng làm Đồng tri Xu mật viện sự. Lợi Dụng được thăng làm Tuyên huy Bắc viện sứ, Trung Chánh giữ chức Hình bộ Thị lang, Khởi làm Cấp sự trung. Trước đó, Tri Tiết làm Tri Thiên Hùng quân, lúc ấy nạn châu chấu và hạn hán khiến dân đói khổ, bọn vô lại cướp bóc tích trữ, Tri Tiết xử tử ba kẻ cầm đầu ở chợ, từ đó việc cướp bóc chấm dứt.

[71] Hoàng Chấn tâu rằng, xin dừng tất cả các công trình xây dựng ở kinh thành, và đề nghị các châu ngừng cung cấp gỗ. Triều đình đồng ý.

[72] Thọ Châu báo rằng Tướng trấn Tây thành Lý Văn Lượng cùng Hiệu úy quân Dũng Tiệp Tôn Hưng kết bọn mười hai người, giết Tuần kiểm duyên Hoài là Điện trực Vương Kỵ, Quyền đô giám Hữu ban Điện trực Vương Nhật Dụng bắt giết bọn chúng. Nhật Dụng được thăng làm Tả ban Điện trực, Cáp môn Chi hậu, Bản châu Binh mã đô giám, và được ban tặng khí vật, lụa. Con trai của Kỵ là Nhân được bổ làm Tam ban Tá chức.

[73] Ngày Giáp Thìn, Tam ty tâu: “Những người ở Giang, Hoài, Lưỡng Chiết, Kinh Hồ nộp tiền và thóc để mua muối, xin theo lệ muối hạt ở Giải Châu, cấp trước giấy giao dẫn cho Giác hóa vụ. Khi có thương nhân đến tính toán, điền tên họ, châu quân sẽ cấp phát.” Triều đình đồng ý.

[74] Ngày Đinh Mùi, Tần Châu báo rằng Tông Ca Cốt Tư La dâng ngựa, xin hòa giải. Chiếu tha tội và trả tiền ngựa.

[75] Ngày Kỷ Dậu, Thái úy, Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung sứ Vương Đán qua đời.

Vài ngày trước, xa giá đến nhà ông, ban tặng năm nghìn lạng bạch kim. Đán bảo gia nhân trả lại, viết tấu xong, tự thêm bốn câu: “Đã sợ tích trữ nhiều, huống chi không dùng đến, muốn phân phát để tránh tai họa.” Lập tức sai khiêng vào trong cung. Chiếu không cho phép, nhưng khi đến cửa, Đán đã qua đời.

Vương Đán vốn thân thiết với Dương Ức, khi bệnh nặng, mời Dương Ức vào phòng, gửi gắm việc hậu sự, nhờ soạn di biểu, và nói: “Tôi kém cỏi làm tể tướng, ở ngôi thượng công, không thể dùng lời sắp mất để xin quan chức cho thân tộc, chỉ nên kể lại những gặp gỡ trong đời, mong ngày càng gần gũi việc chính sự, tiến cử hiền sĩ, giảm bớt phần nào nỗi vất vả lo toan.” Lại dặn dò con cháu rằng: “Nhà ta đời đời nổi tiếng thanh đức, phải giữ gìn sự giản dị, bảo toàn gia phong. Không được ỷ vào việc cha làm tể tướng mà sống xa hoa, không được chôn cất xa xỉ, không được để vàng ngọc trong quan tài.” Lúc đó ông 61 tuổi.

Vua vội đến viếng, bãi triều ba ngày, ban chiếu ưu ái truy tặng Thái sư, Thượng thư lệnh, tổ chức tang lễ riêng. Mấy ngày sau, Trương Mân đi nhậm chức ở Hà Dương, đáng lẽ phải tổ chức tiệc tiễn, nhưng vì Vương Đán nên Vua không cho bày nhạc.

Ông được truy thụy là Văn Chính, con cháu, cháu trai, cháu ngoại, học trò, thuộc hạ cũ được bổ nhiệm làm quan hơn mười người. Khi các con để tang xong, Vua lại ban chiếu cho mỗi người thăng một chức.

Vương Đán tính cách điềm đạm, ít ham muốn, sống rất thanh bạch. Nhà ở rất đơn sơ, Vua muốn sửa sang lại, nhưng ông lấy cớ là nhà cũ của cha ông, khẩn khoản từ chối. Quần áo đơn giản, người nhà muốn dùng gấm vóc trang trí chiếu, ông đều từ chối. Thấy họ hàng có người ăn mặc quá xa hoa, ông tỏ vẻ không vui. Cháu trai Vương Mục rất hiếu học, từng dâng thư xin thi tiến sĩ, ông nói: “Ta từng cho rằng trong nhà đã quá hiển hách, sao ngươi lại có thể tranh giành với những người tài giỏi nghèo khó?” Đến khi ông mất, con trai Vương Tố vẫn chưa làm quan.

Ông không cầu hôn nhân môn đăng hộ đối. Ông đối xử rất mực lễ độ với chị dâu góa, yêu thương em trai Vương Húc hết mực. Ông chú trọng văn chương và điển chương quan chức thời cận đại, chí hướng đề cao danh giáo. Trong ngoài đều kính phục đức độ của ông, xem ông là bậc tông thần của quốc gia, được Vua tôn kính, quả là vị tể tướng giỏi của thời thái bình.

Lúc đầu niên hiệu Hàm Bình, Đán nghe lời của Lý Hãng, vốn chưa tin sâu. Đến khi tận mắt thấy việc làm của Vương Khâm Nhược, Đinh Vị, muốn can gián thì đã cùng làm với họ, muốn rời đi thì được Vua đối đãi hậu hĩ, không nỡ bỏ đi, bèn than rằng: “Lý Văn Tĩnh quả là bậc thánh nhân.” Từ niên hiệu Tường Phù trở đi, mỗi khi có đại lễ, thường mang theo thiên thư để hành lễ, lại làm Nghi vệ sứ, thường buồn bã không vui. Khi lâm bệnh, di chúc cạo đầu, khoác áo cà sa để liệm, hẳn là hối hận việc làm trước kia. Các con muốn làm theo di chúc, Dương Ức cho là không nên, bèn thôi. Người bàn luận cho rằng Đán gặp thời được Vua tin dùng, lời nói được nghe, can gián được theo, yên vị ở địa vị quyền thế mà không thể giữ chính đạo đến cùng, có người so sánh ông với Phùng Đạo.

(Sách 《Long Xuyên Biệt Chí》 lại chép việc Đán mua thiếp và hỏi về đồ bạc của họ Thẩm. Xét Đán nổi tiếng thanh liêm, kiệm ước, e rằng việc này chưa chắc đã đúng, nay không chép.)

[76] Ngày Canh Tuất, xuống chiếu cho các hộ bị thiên tai ở Kinh Đông, Kinh Tây, Thiểm Tây, Hà Bắc được hoãn nợ thuế còn thiếu, các châu quân ở các lộ thiếu hạt giống lúa mạch thì phát kho quan cho vay.

[77] Ngày Tân Hợi, Đô giám trú bạc ở Hoàn Khánh lộ là Sầm Bảo Chính, Hàn Lệnh Tông, Đô giám trú bạc ở Hoàn châu là Lý Dụng Hòa đều bị phạt 30 cân đồng. Tuần kiểm, Phụng chức Lý Kế Minh bị giáng làm Tá chức. Chỉ sử, Điện thị Hà Khánh bị đánh trượng và cách chức. Vì họ tự ý dẫn quân đánh nhau với bộ lạc phiên, khiến sứ thần Trung tá bị thương.

[78] Xuống chiếu cho dân lưu vong ở Hà Đông trở về làm ruộng thì phát thóc cứu tế.

[79] Ngày Giáp Dần, lấy Binh bộ Viên ngoại lang, Long đồ các Đãi chế Lý Hành Giản làm sứ sang chúc thọ quốc chủ nước Khiết Đan, Tả Kỵ Kỵ sứ, Thứ sử Nghi châu Trương Cát làm phó. Thái tử Trung doãn, Trực Long đồ các Phùng Nguyên làm Chánh đán sứ, Nội điện Sùng ban, Các môn Chỉ hậu Trương Luân làm phó.

[80] Xuống chiếu: “Sông Biện chảy xiết, nhiều người bị chết đuối. Nay lệnh cho Tuần kiểm dọc sông chiêu mộ người giỏi bơi lội để kịp thời cứu giúp, cho nhận thưởng vật, nếu người chết đuối nghèo khó thì lấy tiền quan cấp cho.”

[81] Xuống chiếu từ nay những người được đặc chỉ triệu thi, đều hỏi một đạo sách lược thời vụ, lại thi riêng một bài phú luận hoặc tạp văn.

(Việc của Lưu Nhược Xung ngày Đinh Mão tháng 11 cần xét lại.)

[82] Ngày Đinh Tỵ, Vua ngự đến điện tiền ban, ban rượu cho các quan theo hầu[31], sai vệ sĩ thi bắn cung trên ngựa, ban tiền kẽm theo thứ bậc khác nhau.

[83] Lấy bài luận “Tư chính”“Chính thuyết” do Vua soạn ban cho các quan cận thần. Theo lời thỉnh cầu của Long đồ các đãi chế Lý Hư Kỷ.

[84] Ngày Kỷ Mùi, ở khu vực Bành Thành thuộc Trấn Nhung quân, mưa đá làm hại lúa của các dân binh cung tiễn, hơn 800 hộ, chiếu tạm miễn thuế lao dịch, lại cho vay tiền.

[85] Ngày Quý Hợi, có người dâng thư nói sách bán ở Quốc tử giám giá rất rẻ, xin cho tăng giá. Vua nói: “Việc này vốn không phải để kiếm lợi, chỉ muốn cho văn tự được lưu truyền thôi.” Không cho.

[86] Hữu chánh ngôn Lỗ Tông Đạo nói: “Thi phú mà tiến sĩ thi, không gần với đạo trị nước. Các khoa đối đáp nghĩa lý, chỉ lấy việc đọc thuộc lòng làm giỏi, không xét đến đại nghĩa.” Vua bảo các quan phụ chính rằng: “Trước đã có chiếu, tiến sĩ kiêm lấy cả sách luận, các khoa có người thông hiểu kinh nghĩa, thì cho khảo xét riêng. Có thể tuyên bố rõ lại.”

[87] Chiếu cho các hộ bán rượu ở thôn quê Hoài Nam, nếu số lượng bán hàng năm ít, thì đều bãi bỏ, theo lời thỉnh cầu của Tuần phủ sứ Trương Sư Đức.

[88] Mùa đông, tháng 10, ngày Bính Dần mùng một, chiếu cho quân Cao Bưu vì năm mất mùa dân đói, tạm miễn thuế muối tằm một năm.

[89] Tam ty xin cho Nam Kinh và các nơi mua cỏ làm lò 30 vạn, chiếu bãi bỏ.

[90] Phát vận ty nói các châu Hồng, Kiền, Cát hàng năm đóng tàu mới chở về kinh, việc kéo đẩy làm phiền dân, xin cho các châu ấy dùng lính khỏe mạnh thay phiên, chiếu cho.

[91] Ngày Đinh Mão, Thái thường thừa, Tập hiền hiệu lý Yến Thù vì năm qua có nạn châu chấu và hạn hán, Vua lo lắng, nay tai dịch đã hết, mùa màng được mùa, dâng bài tụng “Duy đức động thiên”, chiếu khen.

[92] Từ bộ viên ngoại lang Lưu Sở nói các châu quân bị thiên tai, dân bỏ trốn, theo lệ xá được nửa năm trở về làm ăn, nay đã quá hạn, xin gia hạn, chiếu cho đến mùa xuân năm sau.

[93] Ngày Mậu Thìn, chiếu rằng: “Ở Hà Bắc, Hà Đông, các quân Trung Liệt, Tuyên Dũng, người già yếu hưởng nửa bổng, thường gọi người khác thay, người nghèo khổ sở. Từ nay người già yếu đều cho về hưu.”

[94] Vua ngự ở điện Thừa Minh, dẫn các tướng sĩ các quân ban trực vào chầu, tổng cộng ba nghìn tám trăm mười người, căn cứ vào công trạng và lỗi lầm để thăng giáng, ba ngày thì xong.

[95] Ngày Canh Ngọ, Thượng thư Hữu thừa kiêm Tông chính khanh Triệu An Nhân tâu: “Hiện nay trung nguyên yên ổn, các nơi xa xôi đều quy phụ, bốn dân an cư lạc nghiệp, trăm quan đều chăm lo việc chức phận, thế là trị nước đã thành công, thời thế thái bình, đạo đức hòa hợp, thật đã vượt xa các đời trước. Thế mà bệ hạ vẫn càng tinh tường việc chính sự, còn chịu khó nhọc thân mình, sáng sớm ra triều xem xét việc nước, quên cả mệt mỏi, ngồi xử lý công việc, thường ăn uống không đúng giờ. Tuy ý trời khéo xếp đặt, không bỏ sót một việc gì, nhưng việc lớn của bậc nhân quân, nên giao cho các cơ quan phụ trách. Xin đặt ra quy chế chung, để làm khuôn mẫu lâu dài.

Mong rằng từ nay ngoài việc tâu bày ở tiền điện như cũ[32], ở điện Sùng Chính, Thừa Minh và chỗ ngồi thứ hai, các việc thường vụ của các cơ quan đã có điều lệ rõ ràng, thì cho cơ quan đó thi hành xong rồi tâu lên, còn các việc của Thẩm quan viện, Tam ban viện, Lại bộ thuyên chọn cũng cho phân ngày dẫn vào chầu.”

Vua xuống chiếu cho các quan từ nay ở hậu điện dẫn vào chầu việc công, mỗi ngày không quá hai cơ quan.

[96] Ngày Nhâm Thân, Nội điện Sùng ban, Các môn Chỉ hầu La Nguyên Phụ tâu: “Thần thấy các lộ lúa mới tốt tươi[33], liền tâu là được mùa, nhiều khi không đúng sự thật. Từ nay xin đợi đến khi thu hoạch xong, mới cho phép tâu lên.” Vua theo lời tâu, những nơi đã tâu được mùa mà gặp thiên tai dịch bệnh trái mùa thì phải tâu ngay, ai vi phạm sẽ trị tội nặng.

(La Nguyên Phụ, chưa rõ lai lịch.)

[97] Sáu người là Quách Kim Phong, Đô quân đầu Ngự tiền Trung tá Mã bộ quân, đều vì già yếu và phạm lỗi, các quan xin cách chức. Ngày Giáp Tuất, Vua đặc cách cho giữ chức ở Hoàn vệ, vẫn lĩnh chức Đoàn luyện sứ, Thứ sử.

[98] Ngày Bính Tý, ban chiếu rằng: “Nghe nói các ban trực, các quân phường, giám, trường, vụ, quan, kiện, thường uống rượu, đánh bạc, làm điều vô lại, hoặc bộ phận nào quản lý hơi nghiêm khắc thì liền bới móc kiện tụng. Từ nay về sau, những việc kiện tụng đều phải liên quan đến bản thân, có chứng cứ rõ ràng, quan ty mới được thụ lý, kẻ vi phạm sẽ bị trị tội. Nếu có tình tiết nghiêm trọng, phải tâu lên để xử lý.”

[99] Ngày Đinh Sửu, ban chiếu rằng các quan chức Ngự thư viện, Hàn lâm đãi chiếu, Thư nghệ, Chi hậu, v.v., nhập chức trên 10 năm mà không phạm lỗi riêng tư thì được xuất chức.

[100] Ngày Kỷ Mão, ban chiếu rằng do Kinh Đông bị thiên tai, tạm ngừng cung cấp vật phẩm.

[101] Ngày Nhâm Ngọ, phong Nội điện thừa chế, Cáp môn chi hậu Tào Nghi và Nội điện sùng ban, Cáp môn chi hậu Trương Chiêu Viễn cùng làm Tây thượng cáp môn phó sứ. Lúc này, Cáp môn sứ Dương Sùng Huân và Hạ Thủ Uân đều được thăng làm Xu mật đô thừa chỉ. Xu mật viện vừa tâu xin đề cử người làm phó sứ, Vua nói: “Trẫm đã có người rồi. Trương Chiêu Viễn hiểu biết việc biên cương, Tào Nghi quen thuộc nghi lễ triều đình, có thể dùng ngay.” Chiêu Viễn là con của Trương Ngưng.

[102] Hữu giám môn vệ đại tướng quân, Tưởng Châu đoàn luyện sứ, Phò mã đô úy Vương Di Trinh xin được bổ nhiệm làm quan ngoại để thử nghiệm việc dân. Ngày Giáp Thân, được lệnh làm Tri Đơn Châu. Vua triệu đến dặn dò, lấy việc hòa hợp dân chúng và trị an làm trọng.

[103] Ngày Tân Mão, Thọ Xuân quận vương đọc xong sách 《Luận Ngữ》, Vua làm thơ ban cho vương và vương hữu Trương Sĩ Tốn, v.v. [34].

[104] Bộ thự Tào Vĩ ở Tần châu tâu: “Người dân tộc thiểu số ở bản châu là Mạt Tinh tộc, Dĩnh Thành Tư Nạp, những người đã hiến đất để xây dựng hai trại Đại Lạc Môn và Tiểu Lạc Môn, xin được bổ nhiệm làm Đô quân chủ của bộ tộc mình, mỗi tháng cấp 3.000 tiền. Ngoài ra, các chức Chính phó quân chủ, Chỉ huy sứ của người dân tộc thiểu số đang quản lý các trại Vĩnh Ninh, Đại Lạc Môn, Tiểu Lạc Môn, Uy Viễn, tuy đã được bổ nhiệm chức vụ nhưng chưa được cấp lương bổng. Nay xin cho phép dân chúng xây dựng nhà cửa trên đất của ba trại này, trừ khu vực công sở và doanh trại, để thu tiền thuê đất cấp lương cho họ.” Đều được chấp thuận.

[105] Ngày Quý Tỵ, phong Lữ Tòng Giản, con của Lữ Mông Chính, làm Vệ úy tự thừa. Trước đây, Tòng Giản giữ chức Quốc tử bác sĩ, giám sát viện Khúc, bị cách chức vì tội ăn cắp của công. Đến nay, dâng biểu hiến tập văn của cha mình nên được xét lại.

[106] Tháng 11, ngày Ất Mùi mùng một, ban chiếu rằng từ nay các huyện ở Giang Nam có trên 5.000 hộ sẽ do quan triều đình trực tiếp quản lý. Đây là theo đề nghị của Tuần phủ sứ Hàn Thứ.

[107] Ngày Bính Thân, ban chiếu bãi bỏ việc mua cỏ với số lượng hơn 1.000 vạn ở các lộ Kinh Đông, Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây.

[108] Ngày Mậu Tuất, Chuyển vận sứ hai Chiết tâu rằng ruộng nước ở các châu Vụ, Xử bị hạn, lúa gặt xong lại mọc lại.

[109] Ngày Kỷ Hợi, do người Khê man ở Thần châu quấy nhiễu biên giới, giết Tuần kiểm sứ thần Văn Khánh, sai Thị cấm, Cáp môn chỉ hậu Lưu Vĩnh Sùng và Nội cung phụng quan Giang Đức Nguyên đến đó an phủ. Nếu họ dám chống lại, lập tức điều quân đồn trú ở Đỉnh châu đến đánh dẹp.

(Vĩnh Sùng là con của Đình Nhượng.)

[110] Hữu chánh ngôn, Trực tập hiền viện Tổ Sĩ Hoành tâu: “Thần thấy các tướng soái và sứ giả từ phương xa đến từ biệt hoặc yết kiến, đều được mở yến tiệc riêng ở nội điện, đến khi tan tiệc thì trời đã quá trưa. Các cơ quan đều trở về phủ, mà xa giá lại đến chỗ ngồi riêng để xử lý công việc, điều này trái với đạo lý quân nhàn thần lao. Xin từ nay trở đi, khi mở yến tiệc riêng thì tạm ngừng xử lý công việc, và lập thành quy định.” Được chấp thuận. Sĩ Hoành là người Thượng Thái.

[111] Ngày Canh Tý, Long Đồ các đãi chế Lý Hư Kỷ cùng các quan dâng lên bộ sách mới biên soạn 《Ngự tập》 gồm 120 quyển. Triều đình triệu tập các phụ thần đến Tư Phúc điện để xem, và ban thưởng cho Lý Hư Kỷ cùng các quan bạc lụa và bạc.

[112] Bổ nhiệm A Châu, Đô quân chủ của Phục Khương trại thuộc Tần châu, làm Thứ sử Hoạn châu.

[113] Ngày Tân Sửu, Tri tạp ngự sử Lữ Di Giản tâu: “Các vụ án do ngự sử đài xét xử, từ trước đến nay có những người cùng khoa thi và cùng năm đỗ đạt, thường viện dẫn chiếu chỉ nói rằng có điều trở ngại, xin ban hành quy định rõ ràng.” Chiếu chỉ rằng từ nay về sau phải tránh né[35].

[114] Tào Vĩ tâu rằng gia tộc Quỷ Lưu ở Tần châu nhiều năm liền chống lệnh, Vĩ đã dẫn quân bản bộ cùng dân trại và binh lính người Phiên đánh dẹp yên, được chiếu khen ngợi.

[115] Ngày Nhâm Dần, ban chiếu: “Các hồ phóng sinh cũ ở Hoài Nam, Giang, Chiết, Kinh Hồ, nơi nào đã bị bỏ hoang thì đều khôi phục lại; những nơi trước đây không có hồ, thì dọc theo sông Giang, sông Hoài, các châu quân gần thành, trên dưới mỗi nơi năm dặm, đều cấm đánh bắt.”

[116] Lễ nghi viện tâu: “Các hình phạt cấm trong các ngày lễ, nay xin ban hành các chiếu chỉ trước sau làm thành quy định. Đối với tội đại hình, nếu gặp các ngày lễ Thiên Khánh, Tiên Thiên, Giáng Thánh, Thừa Thiên, thì bảy ngày trước và ba ngày sau; các ngày lễ Thiên Huống, Thiên Tường thì một ngày, đều tạm ngừng xử quyết. Đối với tội đồ, lưu trở xuống, nếu phạm trong bốn ngày trước lễ, thì tại nơi xây dựng đạo trường[36], tạm chuyển đến nơi khác cử quan xét xử; nếu phạm trong ba ngày trước lễ, thì đợi đến ngày sau lễ mới thi hành. Trong ngày lễ, tội trượng trở xuống nếu tình tiết nhẹ thì tha bổng.” Chiếu chuẩn y.

[117] Ngày Quý Mão, dân Quảng Châu là Lý Diên Chí bị khắc chữ lên mặt và đày đến bản thành An Châu. Trước đây, vào niên hiệu Hàm Bình, Vương Quân làm loạn, Diên Chí ở Ích Châu, thường phục vụ dưới quyền phó tướng của Quân là Thôi Ma Hồ. Khi giặc yên, ông trở về nhà. Đến lúc này, cùng với binh sĩ Hoài Dũng của bản châu là Hứa Tú uống rượu, cùng nói về tình hình làm phản của Vương Quân và Vương Tiểu Ba. Tú nghi ngờ Diên Chí chính là thủ lĩnh giặc Lý Thuận, bèn báo lên châu, lại dẫn binh sĩ trong doanh làm chứng việc này. Tri châu Lý Ứng Cơ sai người áp giải về kinh, giao xuống ngục của Ngự sử, tra hỏi ra sự thật, nên Diên Chí bị sung quân, còn Tú bị đánh bằng gậy vào lưng rồi tha về.

Trước đó, Xu mật viện vì bắt được Lý Thuận thật nên dâng biểu chúc mừng, đến khi đài Ngự sử tra xét không phải, người chúc mừng muốn coi đó là Thuận, thúc giục kết án. Tri tạp sự Lữ Di Giản nói: “Việc này có thể lừa dối triều đình sao?” Cuối cùng tâu lên sự thật, vì thế trái ý các đại thần.

[118] Ngày Ất Tỵ, Vua vì nạn châu chấu đã hết, mưa thuận gió hòa, mùa màng thu hoạch tốt, nên đến yết kiến ở cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, rồi đến thăm tháp Linh Cảm ở chùa Khai Bảo.

[119] Ngày Kỷ Dậu, yết kiến ở cung Cảnh Linh[37], Hội Linh Quán, ban yến cho các quan tùy tùng ở điện Chúc Hi.

[120] Ngày Canh Tuất, cấm dân Xuyên Hạp nuôi chim ưng. Theo lời thỉnh cầu của Trứ tác tá lang, Tri Lô Châu Trịnh Chiêu Độ.

[121] Ngày Tân Hợi, Hàn lâm học sĩ Lý Duy dâng lên sách mới biên soạn là 《Đại Trung Tường Phù Giáng Thánh Ký》 50 quyển, 《Nghênh Phụng Thánh Tượng Ký》 20 quyển, 《Phụng Tự Ký》 50 quyển. Vua xuống chiếu khen ngợi, ban thưởng khí vật và lụa theo thứ bậc[38].

[122] Ngày Nhâm Tý, điều động binh lính đến đóng quân ở Thiên Hùng, Vĩnh Hưng Quân, Thiểm, Ký, Lệ, Hình, Minh, Từ, Tương, Hoài, Trạch, Lộ, Thấp, Thạch, Can, Diệu, Hoa Châu và Vĩnh Tĩnh Quân, vì nơi đó tích trữ nhiều cỏ khô và lương thực. Lại lệnh cho Ty An phủ vùng biên truyền dụ sang phương Bắc.

[123] Ngày Quý Sửu, xuống chiếu cho các châu quân dọc sông Hoàng Hà, những nơi thường năm điều động dân phu đốn gỗ để đắp đê, tạm ngừng một năm, vì dân chúng vừa trải qua thiên tai.

[124] Vì việc xây thành huyện Thanh Thủy ở Tần Châu đã hoàn thành, Vua xuống chiếu khen thưởng Bộ thự Tào Vĩ, Tri châu Lý Cập, những người phụ trách đều được thăng chức.

[125] Ngày Ất Mão, Vua ngự đến cung Thái Nhất, tuyết rơi dày hơn một thước. Vua bảo các tể tướng rằng: “Đây chính là điềm báo được mùa, nhưng lo rằng sức dân chưa đủ, bỏ lỡ việc gieo trồng, các khanh hãy cùng bàn cách cứu tế và khuyên bảo, đừng để lãng phí đất đai.”

[126] Xuống chiếu cho các châu quân ở Kinh Đông Tây, Hà Bắc, Thiểm Tây bị thiên tai, cho phép dân dùng vải lụa để đóng thuế.

[127] Lưu Nhược Xung, nguyên chủ bạ huyện Thụy Xương, châu Giang, dâng sách vở của mình, được lệnh thi ở viện Xá Nhân, vì bài luận sách lược khá tốt, đặc cách thăng hai bậc. Trước đó, Nhược Xung kiến nghị từ nay những người được triệu thi đều phải thi luận sách. Đến nay, dùng lời kiến nghị của ông mà ra lệnh.

(Nhược Xung, không rõ quê quán. Chiếu ngày Giáp Dần tháng chín, chính là do Nhược Xung đề xuất. 《Hội Yếu》 ngày 21 tháng 11 năm Thiên Hi nguyên niên. 《Thực Lục》 không chép việc này.)

[128] Ngày Mậu Ngọ, xuống chiếu cho các quan kinh triều và sứ thần từ biệt, yết kiến và tạ ơn, đều đến điện Sùng Chính.

(Việc ngày 24 tháng 11 trong 《Hội Yếu》.)

[129] Ngày Canh Thân, ngày Đông Chí. Trước đó, viện Thái Thường Lễ tâu rằng khi tể tướng xuất táng nên ngừng triều, Vương Đán chôn vào ngày này, xin theo lệ. Trung thư tâu rằng hôm đó hoàng đế đã có chiếu không nhận chúc mừng, nên không ra lệnh ngừng triều. Có người bàn rằng hôm đó nên bỏ lễ bái của bách quan, lúc đó Vương Khâm Nhược không hòa hợp với Vương Đán, nên bị chèn ép.

[130] Ngày Nhâm Tuất, Khiết Đan phái sứ giả là Hữu Giám Môn Vệ Thượng Tướng Quân Gia Luật Chuẩn, phó sứ là Hình Bộ Lang Trung Tri Chế Cáo Cừu Chính Kỷ đến chúc mừng lễ Thừa Thiên.

[131] Ngày Quý Hợi, Cao Ly vương Tuân phái Ngự Sử, Hình Bộ Thị Lang Từ Nột dẫn đầu thủ lĩnh Nữ Chân là Mai Tuân dâng biểu hiến phương vật, lại chúc mừng việc phong Thọ Xuân quận vương. Trước đó, Quách Nguyên trở về, Tuân liền phái sứ giả đến tạ, nói rằng thuyền bị gió biển đẩy trở lại, đến nay mới tới. Có chiếu, Từ Nột năm ngày một lần vào chầu.

(《Thực Lục》 cho rằng do Doãn Trưng Cổ trở về, sai vậy, nay theo 《Hội Yếu》.)

[132] Xuống chiếu cho những người được tuyển có quê quán ở Giang Nam, Lưỡng Chiết, Phúc Kiến, được phép nhận chức cách quê hương hơn ba trăm dặm.

[133] Tháng 12, ngày Ất Sửu mùng một, Lễ viện tâu: “Theo chiếu, sang năm ngày 17 tháng giêng làm lễ cầu mùa tế Trời, hai ngày trước đó tấu cáo Thái Tổ thất. Vì hàng năm ngày 15 tháng giêng triều bái Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung, nay xét lễ cầu mùa, từ năm Cảnh Đức thứ 4 trở về trước chỉ dùng ngày Thượng Tân, sau đó Trần Bành Niên dẫn thuyết ‘Khải chập nhi giao’, xin dùng ngày Tân sau Lập xuân, vì lúc đó chưa có chế độ triều bái cung quán. Vương Kiệm đời Nam Tề tâu: ‘Lệ gần đây không ngại việc cúng tế trước rồi mới đến xuân.’ Lại có ty đời Tống Hiếu Vũ tâu: ‘Đời Ngụy gặp mưa khi tế Trời, đổi dùng ngày Tân sau. Đời Tấn cũng đổi dùng ngày Tân.’ Xin từ nay nếu ngày Tân sau Lập xuân hoặc ngày Thượng Tân tháng giêng có việc trùng nhau, đều cho dùng lẫn nhau, trong điển lễ cũng không ngại.” Chiếu chuẩn.

[134] Ngày Mậu Thìn, trong cung đưa ra bông lúa tái sinh cho các quan phụ chính xem. Lúc đó, trung sứ từ Kinh Hồ về, nói nắng hạn hại mùa, đến mùa thu mưa đủ, lúa lại trổ bông.

[135] Ngưu Trung, chức Cáp môn chi hậu tuần hộ đê Hoàng Hà, tâu rằng các đê ở Đại Danh phủ, Thiền, Bộc, Hoạt châu và Thông Lợi quân vào mùa xuân, xin chỉ dùng quân Hà Thanh và quân châu, bãi bỏ việc điều động dân phu. Chiếu theo.

[136] Ngày Ất Hợi, chiếu cho các lộ Kinh Đông, Kinh Tây, Hà Bắc, Hà Đông, Thiểm Tây, Hoài Nam, việc vận chuyển vật phẩm cung đình bằng đường bộ đang gặp giá rét, sai sứ đi báo dụ, những người đang trên đường thì giao nộp tại chỗ, lương thực cấp cho các hiệu trưởng không ngừng, sang xuân chở về kinh.

[137] Ngày Bính Tý, vì rét quá nên bãi triều. Chiếu cho Khai Phong phủ và các lộ, hộ bị thiên tai nộp thuế mùa thu, hộ trung đẳng trở lên nộp tại địa phương, hộ dưới trung đẳng thì tạm hoãn.

[138] Ngày Đinh Sửu, chiếu cho các châu quân biên giới Hà Đông, châu Lân, Phủ thuộc Hà Tây, miễn cho dân phu vận chuyển một năm.

[139] Tri chế cáo Thịnh Độ tâu rằng: “Vâng chiếu miễn trừ các khoản nợ đọng, tổng cộng chín trăm bốn mươi ba vạn, giải thoát cho mười lăm nghìn năm trăm người.”

[140] Ngày Kỷ Mão, vì trời rét buốt, tạm dừng các công trình xây dựng ở kinh thành, đợi đến giữa mùa xuân sẽ tiếp tục như cũ.

[141] Trước đây, người Nữ Chân tên Hồn Hà Lô từ nước mình đến cống nạp, trên đường về gặp chiến tranh ở Bột Hải, bèn quay lại quy phụ, được sáp nhập vào Khiết Đan. Đến lúc này, sai sứ Cao Ly là Từ Nột đưa về, và cấp tiền lộ phí.

[142] Ngày Canh Thìn, sai sứ giảm giá bán mười vạn cân than[39]. Lúc ấy, mở cửa trường từ canh năm, lại giới hạn mỗi người mua một cân. Dân nghèo chạy đến trong giá rét, có người không kịp mang tiền, nhiều người đến mà không mua được, bèn hạ chiếu cho phép bán từ một cân trở lên, và lấy giờ Thìn làm thời hạn.

[143] Tri châu Quế Châu là Tào Khắc Minh tâu bắt được thủ lĩnh giặc man châu Phủ Thủy là Mông Trát[40], cùng thuộc hạ giải về kinh. Chiếu cho sáp nhập vào nha tiền châu Tế[41].

[144] Ngày Nhâm Ngọ, làm mới ấn “Hoàng đế chiêu thụ can phù chi bảo”, triệu tập các phụ thần đến điện Tư Phúc cùng xem. Trước đây, các biểu văn tế lễ đều dùng ấn “Ngự tiền chi bảo”, Vua cho là chưa đủ cung kính, nên đổi chế tạo ấn mới.

[145] Ngày Ất Dậu, quan thân tòng hoàng thành là Ngụy Mỹ, Hà Bân đêm ở cửa Trường Xuân, giấu dao trong tay áo, đục tường trộm pháp vật và châu báu trong thiên thư. Chặt tay bêu ba ngày, rồi chém. Các tướng hiệu bộ ấy đều bị giáng chức, quan ty Hoàng Thành bị phạt đồng rồi tha.

[146] Năm tế lễ ở Phần Âm, gia phong hiệu đế cho Ngũ Nhạc, có sách mà không có bảo, năm đó bắt đầu ra chiếu khắc ngọc. Ngày Đinh Hợi, lệnh cho Hội linh quan sứ Vương Khâm Nhược phụng an tại bản điện.

[147] Ngày Mậu Tý, ra chiếu cho các châu thuộc kinh kỳ xây đê sông, đều dùng quân sĩ làm việc, không được điều động dân phu.

[148] Trước đó, Tả Long Vũ quân tướng quân, Hoành Châu đoàn luyện sứ, Phò mã đô uý Lý Tuân Húc được làm Khang Châu đoàn luyện sứ, cấp bổng lộc và tiền công sứ như quan sát sứ. Khi đó, cha của Tuân Húc là Lý Kế Xương làm Tả Thần Vũ đại tướng quân, Tưởng Châu thứ sử, quyền phán Hữu Kim Ngô nhai trượng ty[42]. Tuân Húc xin được xếp dưới cha mình, được chấp thuận. Vào ngày sinh của công chúa, Tuân Húc mời Kế Xương đến phủ, đón tiếp, bái lạy và dâng lễ chúc thọ. Vua biết chuyện, bí mật ban cho áo mặc, đai vàng, đồ quý, trái cây và thức ăn ngon trong cung để giúp họ làm lễ.

Hôm sau, công chúa vào chầu, Vua hỏi thăm về việc ăn uống của Kế Xương, rồi than thở về sức khỏe của ông, bèn phong Kế Xương làm Liên Châu thứ sử, tri Kinh Châu. Kế Xương sắp lên đường, nói với mọi người: “Năm trước được hai lần triệu đến Diên An, nhưng không thể phụng chiếu, thường lấy làm hối tiếc, nay được chết nơi biên ải, đó là nguyện vọng của ta.”

[149] Ngày Kỷ Sửu, Khiết Đan phái sứ giả là Trưởng Ninh tiết độ sứ Tiêu Chất, phó sứ là Lễ bộ thị lang, tri chế cáo Dương Cát đến chúc mừng năm mới.

[150] Ngày Canh Dần, Hạ Tủng, Phán quan cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng, Lễ bộ lang trung, Tri chế cáo, bị giáng làm Viên ngoại lang bộ Chức phương, nhậm chức Tri châu Hoàng. Hạ Tủng cưới Dương thị, bà này rất giỏi viết lách và có tài mưu lược. Khi Hạ Tủng ngày càng thăng tiến, có nhiều thê thiếp, nên không hòa thuận với Dương thị. Dương thị cùng em trai viết thư tố cáo những việc xấu của Hạ Tủng[43], rồi bí mật đưa ra kiện. Mẹ của Hạ Tủng và mẹ của Dương thị cũng cãi vã nhau, cả hai đều đến phủ Khai Phong, phủ Khai Phong tâu lên triều đình[44], triều đình giao cho Ngự sử đài xét xử và trách phạt Hạ Tủng, đồng thời buộc ông phải ly dị Dương thị.

[151] Ngày Tân Mão, ban chiếu cho phép người dân vùng biên giới Thiểm Tây bán lúa mà không phải nộp thuế.

[152] Ngày Nhâm Thìn, sai sứ đi dọc sông Biện thu nhặt và chôn cất những xác chết trôi nổi, theo đề nghị của Chuyển vận sứ Hoài Nam Tiết Khuê.

(Sách 《Đông Trai Ký》 của Phạm Trấn chép: Năm Thiên Hi đầu tiên, Tiết Giản Túc công làm Phát vận sứ Giang, Hoài, khi từ biệt Vương Văn Chính công, Vương không nói gì khác, chỉ nói: “Dân lực phương Đông Nam đã kiệt quệ rồi.” Tiết Khuê lui ra và nói với mọi người: “Đúng là lời của một vị tể tướng chân chính.”

Xét rằng Tiết Khuê được bổ nhiệm làm Chuyển vận sứ Hoài Nam vào tháng 12 năm Thiên Hi nguyên niên, nhưng tháng 9 năm đó Vương Đán đã qua đời, Vương Tăng cũng đã bãi chức trước đó, còn việc bổ nhiệm làm Phát vận sứ là vào tháng 2 năm thứ hai[45], có lẽ Phạm Trấn nhầm lẫn. Có lẽ đây là lời Vương Đán nói với Trương Sĩ Tốn, xem sự kiện tháng 4 năm Tường Phù nguyên niên, nay không chép.)


  1. Theo 《Tống sử》 quyển 8, kỷ Chân Tông, ghi: 'Xá tù nhân ở Tây Kinh, tử tội giảm một bậc, lưu đày trở xuống được tha.' Ở đây có chỗ thiếu sót.
  2. Trại Dã Phường, chữ 'Dã' nguyên bản là 'Trị', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 binh 27-19 và 《Tống sử》 quyển 492, phần truyện Thổ Phiền mà sửa lại.
  3. 'Cử' trong 'Kim cử thiên hạ thân dân chi quan', các bản đều viết là 'dữ', căn cứ theo 《Tống sử toàn văn》 quyển 6 và 《Long bình tập》 quyển 6 truyện Lỗ Tông Đạo sửa lại. Xét 'cử' và 'dữ' thời xưa thông dụng, ở đây theo thói quen nên viết là 'cử'.
  4. 'Chế' trong 'ám noạ bất năng chế hoạt lại' nguyên bản viết là 'tri', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và các bản khác sửa lại.
  5. 'Vấn' trong 'Huyện lệnh tắc trạch đài các hữu phong giám vấn vọng thần liêu chủ khiển chi' nguyên bản viết là 'văn', căn cứ theo Tống bản và các bản khác sửa lại.
  6. 'Như' trong 'Các như kì trạng' nguyên bản viết là 'ư', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trị tích thống loại》 quyển 29 về sự thay đổi quan chế sửa lại.
  7. 'Cố sự' trong 'Đường cố sự' nguyên bản viết là 'Chính sự', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và các bản khác sửa lại.
  8. 'Diệc' trong 'Thị diệc nội ngoại kiêm lĩnh chi chế' nguyên bản viết là 'Tắc', căn cứ theo sách trên sửa lại.
  9. Nay xin theo như trước giữ nước, chữ 'tiền' vốn thiếu, căn cứ theo 《Tống hội yếu》 Thực hóa 7-5 bổ sung.
  10. Phát vận sứ tâu, 'phát vận sứ' vốn là 'phát khiển sứ', căn cứ theo bản Tống, bản tóm tắt Tống, bản các và 《Tống hội yếu》 Thực hóa 42-5 sửa.
  11. Các kho chuyển tải ở châu Chân v.v... cùng gạo cung cấp từ Giang, Chiết hơn 2.200.000 hộc, 'kho chuyển tải' vốn là 'kho chuyển thuyền', căn cứ theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Tống hội yếu》 dẫn trên sửa.
  12. Tạm thời sai phái đến các châu quân trong nội địa: 'tạm thời' nguyên bản là 'tại', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản và Tống hội yếu tuyển cử 27/16 sửa lại.
  13. Tần Châu đưa về kinh: chữ 'đưa' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản bổ sung.
  14. Chiếu rằng nên để họ tự viết, chữ 'nên' nguyên là 'cùng', căn cứ theo sách trên mà sửa
  15. mà khanh bệnh như thế, chữ 'bệnh' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống sử toàn văn》 quyển 6, 《Biên niên cương mục》 quyển 8 bổ sung
  16. 《Hội yếu》 cũng ghi là hoàng thái tử lại cho là việc năm Tường Phù thứ 9, chữ 'hội yếu' trên nguyên có chữ 'cứ', chữ 'sự' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu, các bản khác và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 28 huấn đạo thái tử mà bổ sung
  17. Xin hãy để ông ấy ở lại Xu mật viện, chữ 'viện' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt của Tống và quyển 3 của 《Biên niên lục》 bổ sung.
  18. Vua ưu đãi đại thần, chữ 'đại' nguyên bản viết là 'Nguyên', căn cứ theo sách trên sửa lại.
  19. Nhưng Vương Đán cuối cùng vì bệnh mà không lên triều được, chữ 'nhiên' nguyên bản viết là 'yên', căn cứ theo các bản khác và 《Biên niên lục》 dẫn trên sửa lại.
  20. Chiếu khen ngợi Chu Khởi, chữ 'Khởi' nguyên bản thiếu, căn cứ theo 《Tống hội yếu》 thiên Thực hóa 57 mục 6 bổ sung.
  21. Chu Khởi lại xin phát một vạn thạch thóc trong kho, bán giá rẻ, chữ 'lại' nguyên bản viết là 'vào', căn cứ theo bản các các và 《Tống hội yếu》 sửa lại.
  22. còn Mẫn Trung làm Hữu bộc xạ, câu này nguyên bản thiếu, căn cứ theo văn trên và bản Tống, bản Tống toát yếu bổ sung. Xét 《Tống sử》 quyển 8, Chân Tông kỷ cũng chép năm Thiên Hi thứ nhất tháng 8, Hướng Mẫn Trung được thăng làm Hữu bộc xạ.
  23. bèn triệu hết về kinh, chữ 'triệu' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu bổ sung.
  24. Từ nay, tiền của quan một trăm 'một trăm' nguyên là 'tiền', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản và 《Tống sử》 quyển 317 《Tiền Dịch truyền》 sửa.
  25. không phải là lừa dối 'không phải' nguyên là 'tội', 'dối' nguyên là 'cấp', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tống sử》 đã dẫn sửa.
  26. Gia đình họ chưa dọn đi mà Vương Tăng đã cho người chở đất đổ trước cổng, chữ 'nhi' nguyên bản là 'cư', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản và Biên niên lục quyển 3 sửa lại.
  27. Chỉ tiếc là ta không được thấy, chữ 'dư' nguyên bản thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Biên niên lục bổ sung.
  28. Ta từ khi nhận chính sự đến nay gần hai mươi năm, các bản và Tống sử toàn văn quyển 6 đều giống nhau. Biên niên lục chép 'Ta nhân tuần nhiệm sự gần hai mươi năm', nghi ngờ chữ 'tuần' nên là 'nhân tuần'.
  29. 'Cấp' nguyên là 'Cập', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và các sách 《Tống sử toàn văn》, 《Biên niên lục》, 《Biên niên cương mục》 quyển 8, 《Tục thông giám》 quyển 33 sửa lại.
  30. 'Sở' nguyên thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và các sách 《Tống sử toàn văn》, 《Biên niên lục》 bổ sung.
  31. Ban rượu cho các quan theo hầu, chữ 'ẩm' nguyên là 'khâm'. Theo chế độ nhà Tống, khi hoàng đế đến điện tiền các ban, sai vệ sĩ thi bắn cung trên ngựa, đều ban rượu cho các quan theo hầu, nay sửa lại
  32. 'Tiền điện' trong 《Tống hội yếu》 chép là 'tiền hậu điện', sách này quyển 93 tháng 6 ngày Bính Tuất cũng hai lần nói 'tiền hậu điện không ngồi', lại nói 'hoàng đế tiền hậu điện không xem việc', nghi là chép 'tiền hậu điện' là đúng.
  33. 'Tài' nguyên chép là 'tòng', theo bản khác sửa lại.
  34. 'Cập vương' hai chữ nguyên bản thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 28 bổ sung.
  35. Chiếu chỉ rằng từ nay về sau không cần phải tránh né (theo 《Tống hội yếu》 Hình pháp 3-58, có lẽ đúng là như vậy).
  36. Xây dựng đạo trường (theo 《Tống hội yếu》 Lễ 57-31 là 'công giải khai kiến đạo trường').
  37. Yết kiến ở cung Cảnh Linh: 'Yết' nguyên bản là 'Chiếu', căn cứ theo văn mà sửa.
  38. Ban thưởng khí vật và lụa theo thứ bậc: Chữ 'khí' nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản và Tống toát yếu bản mà bổ sung.
  39. sai sứ giảm giá bán mười vạn cân than: chữ 'sứ' nguyên bản thiếu, theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống sử toàn văn》 quyển 6 bổ sung. Câu này trong 《Tống hội yếu》 thiên Thực hóa 57 chép là 'sai sứ thần đặt trường giảm giá bán than công mười vạn cân'.
  40. Mông Trát: 《Tống hội yếu》 thiên Phiên di 5 chép là 'Mông Lễ'.
  41. Chiếu cho sáp nhập vào nha tiền châu Tế: 'Tế châu' nguyên bản chép là 'Tế Xuyên'. Tra thấy thời Tống không có 'Tế Xuyên', mà lộ Kinh Tây có châu Tế, 《Tống hội yếu》 cũng chép là 'Tế châu', theo đó sửa.
  42. Quyền phán Hữu Kim Ngô nhai trượng ty: chữ 'trượng' nguyên bản viết là 'phục', theo bản trong các sách sửa lại. Xem 《Tống hội yếu》 chức quan 22-13, ghi rằng: 'Kim Ngô nhai trượng ty, có tả hữu Kim Ngô dẫn giá trượng, phụ trách việc túc vệ trong điện, tuần tra khi xa giá đi tuần, kiểm tra tên và hô lệnh', chữ 'phục' và 'trượng' gần giống nhau nên nhầm lẫn.
  43. Dương thị cùng em trai viết thư tố cáo những việc xấu của Hạ Tủng: 'Em trai', bản Tống và bản Tống toát yếu chép là 'Nhân Vị', trong 《Tống sử》 quyển 283, truyện Hạ Tủng chép là 'Vị'.
  44. Phủ Khai Phong tâu lên triều đình: Chữ 'phủ' nguyên bản thiếu, căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu và bản các bản khác, cùng với 《Tống sử》 bổ sung.
  45. Bổ nhiệm làm Phát vận sứ là vào tháng 2 năm thứ hai: Hai chữ 'năm thứ hai' nguyên bản thiếu, căn cứ vào bản Tống, bản Tống toát yếu và quyển 91 năm Thiên Hi thứ hai, tháng 2, ngày Quý Dậu trong sách này bổ sung.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.