III. TỐNG CHÂN TÔNG
QUYỂN 93: NĂM THIÊN HI THỨ 3 (KỶ MÙI, 1019)
Từ tháng giêng năm Thiên Hi thứ 3 đời Chân Tông đến hết tháng 6 cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Giáp Tí, Tam ty mượn 15.000 tấm lụa từ kho nội tàng.
[2] Ngày Đinh Mão, Hàn lâm học sĩ Tiền Duy Diễn cùng ba người khác được cử quyền đồng tri cống cử.
[3] Ban tặng áo tía cho hai vị tăng người Thổ là Sách Lăng Ban Châu Nhĩ và Y Lãng Pha Oát ở trại Vĩnh Ninh, châu Tần, do Bộ thự Tào Vĩ tâu rằng họ đã nhiều lần được sai khiến.
[4] Ngày Ất Hợi, các thí sinh tiến cử từ các lộ là Quách Chẩn[1] cùng hơn 4.300 người khác được triều kiến tại điện Sùng Chính. Lúc đó, Chẩn mạo tang phục đi thi, bị đồng liêu tố cáo, Vua sai điển yết chất vấn. Chẩn liền nhận tội, giao cho Ngự sử đài xét hỏi, phạt đình chỉ thi ba khoa, những người cùng bảo lãnh đều phải nộp tiền chuộc và đình chỉ thi một khoa. Lúc đó, quan hữu ty muốn tha cho Vương Chu người Tống Thành, hỏi Chu rằng: “Có thật là bảo lãnh cho Chẩn không? Nếu không, có thể thay đổi.” Chu đáp: “Tôi bảo lãnh, không muốn thay đổi.” Vì thế, Chu cùng Chẩn đều bị cách chức.
(Truyện Vương Chu trong bản truyện nói Chẩn mạo tang bà nội, văn bia mộ ghi là tang dì[2], nay theo Thực lục. Quách Chẩn có truyện, người Tường Phù, e rằng đây là một người khác.)
Kinh Tây chuyển vận sứ Hồ Tắc tâu rằng tiến sĩ Dương Thế Chất ở châu Hoạt bị châu này đánh trượt, liền lấy bài thi gốc giao cho Thông phán châu Hứa là Thôi Lập xem xét. Thôi Lập cho rằng bài thi của Thế Chất không có sai sót, đã gửi văn thư cho châu Hoạt theo lệ giải đi.
Chiếu chỉ yêu cầu Ty chuyển vận trình bày rõ lý do không tâu xin trước mà trực tiếp cho giải đi, đồng thời nộp bài thi lên châu. Thế Chất vẫn chưa được giải đi. Khi lấy được bài thi, chiếu chỉ giao cho Viện Cống xét định. Viện Cống tâu rằng lý lẽ kém, không đủ tiêu chuẩn tiến cử.
Chiếu chỉ loại bỏ Thế Chất và xét tội Chuyển vận sứ cùng Thôi Lập.
Thôi Lập người huyện Yển Lăng, ban đầu làm Suy quan Đoàn luyện châu Quả. Binh lính vận chuyển vật dụng quan ra châu khác, đường hiểm trở, ông bèn lấy tiền của mọi người thuê thuyền chở về. Tri châu Khương Tòng Cách định tội theo luật thu tiền bừa bãi, ba người đáng chém. Thôi Lập nói: “Việc này không phải vì tư lợi, tội chỉ nên đánh trượng.” Tòng Cách ban đầu không nghe, tâu lên, chiếu chỉ theo ý Thôi Lập. Vua nhớ tên ông, khi về kinh, đặc cách thăng làm Thừa Đại Lý tự.
Niên hiệu Đại Trung Tường Phù, Vua đã phong thiền, các quan đua nhau tâu báo điềm lành, dâng thơ ca tụng, chỉ có Thôi Lập nói: “Lũ lụt ở Từ, Duyễn, hạn hán liên miên ở Giang, Hoài, gió lớn ở Vô Vi, cháy lớn ở Kim Lăng, đó là trời cảnh báo sự kiêu căng, mà trong ngoài lại nhiều người dâng tấu các điềm lành về mây sương, cây cỏ, chim muông, những thứ đó đâu đủ để nói về đạo trị nước! Xin hạ lệnh cho các cơ quan, những điềm lạ về cây cỏ dù lớn cũng không ghi chép, còn những biến cố về lũ lụt, hạn hán dù nhỏ cũng phải tâu báo.” Trước sau ông dâng tất cả hơn bốn mươi việc.
(Có thể ghép đoạn sau vào phần Trương Tri Bạch, Du Hiến Khả tâu năm Tường Phù thứ hai tháng giêng.)
[5] Ngày Kỷ Mão, chiếu chỉ rằng từ nay tội nhân phải phơi bày trước công chúng vào mùa đông thì được miễn.
[6] Ngày Bính Tuất, Tri phủ Giang Ninh là Đinh Vị tâu rằng, mở đạo trường chúc mừng ngày Thừa Thiên, có mưa ngọt rơi xuống, bèn dâng thơ ngũ ngôn. Có chiếu khen ngợi, lại ban thơ họa lại.
[7] Tháng đó, Tam ty tâu: “Sứ thần truyền tuyên lấy vật, trước đây chỉ là truyền miệng chiếu chỉ, không có bằng cớ, dẫn đến việc nhân cơ hội ăn cắp tiền vật. Nay xin lập ty Truyền tuyên hợp đồng ở Nội thị tỉnh, cử một viên nội thần chuyên trách. Nếu có yêu cầu, sẽ cấp một bản hợp đồng bằng cớ, giao cho các kho để cấp phát, sau đó nộp lại Tam ty. Tam ty lập ty Ngự bảo bằng cớ, chọn người chuyên trách việc xét duyệt, nhằm ngăn chặn gian lận.” Vua đồng ý.
(Theo《Hội yếu》. Lại theo《Bách nhất biên》của Vương Hạo, việc lập ty Ngự bảo bằng cớ liên quan đến Vương Khâm Nhược, chú thích vào tháng 2 năm Tường Phù thứ nhất, cần xem xét kỹ.)
[8] Cấm sứ thần Tẩu mã thừa thụ ở Xuyên Hạp từ nay buôn bán vật phẩm qua lại.
[9] Tháng 2, ngày Giáp Ngọ, chiếu rằng: “Giám áp trại Sa Môn không được vì tư thù mà hại người lưu đày, giao cho sứ thần Đề điểm Ngũ đảo thường xuyên kiểm tra. Người vi phạm báo cáo sự việc, sẽ xử phạt nặng.” Trước đó, Trứ tác tá lang Cao Thanh và Tương Châu văn học Tiêu Ung đều bị tội lưu đày, Giám áp Đổng Ngộ nhân việc giết họ. Đến lúc này, con của Thanh đánh trống Đăng văn, tâu rằng Ngộ đòi hối lộ không đủ, vu cáo mưu phản. Chiếu hỏi Ngộ, nhưng Thanh đã chết, không có chứng cớ, nên có mệnh lệnh này.
[10] Ngày Ất Mùi, cấm săn bắt chim sơn chá.
[11] Ngày Đinh Dậu, tộc Tông Ca Cốt Tư La và Lý Tuân sai tăng Cảnh Tuân đến cống.
[12] Ngày Kỷ Hợi, Châu Thần báo Phú Châu phòng ngự sứ, Ngũ Khê đô phòng ngự sứ Hướng Thông Hán mất. Chiếu ban tặng vải lụa, dê và rượu, lệnh cho con trai là Quang Thuấn quản lý việc Phú Châu. Quang Thuấn chẳng bao lâu cũng mất, đổi lệnh cho con thứ là Quang Hiến kế tập.
[13] Ngày Nhâm Dần, Tri châu Việt Châu, Hình bộ lang trung, Trực Chiêu Văn Liễu Cao Thân tâu rằng: “Thần nghe nói tăng ni trong châu sau khi thụ giới trở về nhà, liền nhận lễ bái của cha mẹ. Thần tra hỏi Tăng ty, họ đều nói có thật. Thần nghĩ rằng làm bề tôi, làm con, đạo trung hiếu phải đặt lên hàng đầu, dù ở nhà hay xuất gia, tình cảm với cha mẹ không khác. Nếu làm trái đạo này, tức là loạn luân.
Vả lại, con đối với cha mẹ, ân đức báo đáp đều như nhau, trong sách Nho nói ‘Hạo thiên võng cực’, trong Phật giáo nói ‘Ân trọng mạc báo’, sao có thể để kẻ nhỏ lấn át người lớn, kẻ dưới vượt lên trên? Có lẽ do dân Âu Việt, tăng tục xen lẫn, quá mê tín nên quên mất thứ bậc tôn ti. Thần thấy vào năm Trinh Quan thứ 5 đời Thái Tông, từng cấm tăng ni nhận lễ bái của cha mẹ. Nay đạo lớn đang thịnh hành, nên loại bỏ tệ nạn, mong ban chiếu chỉ, nghiêm cấm việc này.”
Vua xuống chiếu cho Thượng thư Từ bộ nghiêm cấm, kẻ nào vi phạm sẽ bị trừng phạt nặng.
[14] Ngày Bính Ngọ, phủ Hà Nam báo có động đất.
[15] Ngày Đinh Mùi, Vua ban cho tể tướng bài thơ do Hoàng thái tử viết. Vua làm bài “Học thư ca” ban cho Hoàng thái tử. Ngày Bính Thìn, lại làm bài “Khuyến học ngâm” ban cho thái tử.
[16] Tể tướng Vương Khâm Nhược dâng sách 《Hội linh chí》 100 quyển, Vua viết lời tựa, đặt tên là 《Ngũ nhạc quảng văn ký》.
[17] Tháng 3, ngày Mậu Ngọ, mùng một, có nhật thực. Trong cung đưa sách 《Thánh tổ giáng lâm nội ký》 cho tể tướng xem.
[18] Tri châu Lễ Châu Tào Khắc Kỷ tâu: “Trại Thạch Động của bản châu nằm sâu trong đất Man, không phải nơi trọng yếu, việc đóng quân ở đây chỉ tốn hao lương thảo. Xin cho phá bỏ, chỉ để lại 5 người canh giữ, có biến thì báo về trại Linh Khê.” Vua đồng ý.
[19] Trước đó, dân châu Bạc đồn đại có giặc nổi lên, hơn nghìn người già trẻ chạy về châu Trần ban đêm, sau đó tự trở về. Ngày Tân Dậu, Phán châu Trần Châu Trương Mân tâu việc này. Vua sai Giám sát Ngự sử Chương Tần đi điều tra, đồng thời đến các châu Tương, Đặng để an ủi dân lưu tán từ Thiểm Tây. Sau lại sai Khởi cư Xá nhân Lữ Di Giản đến châu Bạc xem xét, thấy dân chúng vẫn yên ổn như cũ, bèn trở về. Chuyển vận sứ và Đề điểm hình ngục quan Kinh Tây đều bị cách chức vì không phát hiện việc báo động giả trong khu vực, bị điều đi các lộ Quảng Tây, Phúc Kiến, Quỳ Châu.
[20] Kinh Châu tâu rằng: Tri châu Liên Châu là Lý Kế Xương bị trúng phong huyễn đột ngột. Vua vội sai sứ mang thầy thuốc đến thăm, lại lấy bảo đan đóng gói ban cho, và cho phép dùng kiệu đưa về kinh sư, nhưng chưa đến nơi thì mất. Vua lại sai trung sứ hộ tống tang lễ về[3], và bổ nhiệm con trai ông làm quan.
Kế Xương tính cẩn trọng, nhân hậu, đến đâu cũng lấy khoan dung, mềm mỏng để trị dân, được mọi người yêu mến. Khi nhậm chức ở Hiệp Lộ, cùng làm việc với Thượng Quan Chính. Chính nghiêm khắc, tàn nhẫn, thích giết người. Có lần một viên lại huyện hộ tống lương thực, vì đường xa đến muộn, Chính ra lệnh kéo ra chém. Kế Xương từ tốn khuyên giải, cuối cùng tha cho. Phò mã đô úy Tuân Húc nghe tin Kế Xương bệnh, lập tức đến thăm, không đợi mệnh lệnh. Vua sai sứ bảo ông đi ngựa trạm đến đó. Khi trở về, ông dâng biểu tự hặc tội. Vua sai phụ thần an ủi, khuyên bảo.
[21] Ngày Nhâm Tuất, xuống chiếu cho những người thi trượt ở Nam tỉnh, nếu đã từng qua thi đình và các khoa thi bảy lần đến cuối kỳ, thì đặc cách tâu tên lên.
[22] Ngày Ất Sửu, Tam ty mượn 13 vạn lượng bạc từ kho nội tàng.
[23] Tăng tiền công dụng của Hứa Châu lên 70 vạn, theo lời thỉnh cầu của Tri châu Lý Duy.
[24] Ngày Bính Dần, Vua ngự điện Sùng Chính, thân hành khảo thí những người thi đỗ do Lễ bộ tâu lên, làm thơ ban cho các quan khảo thí, sai hoàng tử viết thư cho tể tướng xem. Lấy đỗ 63 người tiến sĩ từ Vương Chỉnh trở xuống, ban cho đỗ đệ; 86 người đồng xuất thân. Lại ban cho 13 người học cứu xuất thân; 102 người các khoa đỗ đệ; 47 người đồng xuất thân. Khảo thí 5 người làm Chủ bạ Tướng tác giám. Bổ nhiệm chức quan như lệ trước.
(Vương Chỉnh, người Ngụy, 《Đăng khoa ký》 chép: Tháng 10 năm Minh Đạo thứ nhất, ngày Canh Tý, lục cháu Vương Đán là Chỉnh làm Chính tự. E rằng người đỗ đệ này không phải người Ngụy, hoặc là con của Chí.)
[25] Triệu Đức Minh báo tin mẹ kế mất. Vua sai sứ đến viếng tế, cho khởi phục, đều theo chế độ năm Cảnh Đức.
[26] Chiếu Lễ tân viện từ nay không được dùng người nước ngoài làm thông sự. Khi đó có dân Khai Phong phủ kiện thông sự Tân Vinh vốn là con em Hạ Châu, đầu nhập Lễ tân viện làm thông sự tiểu phiên, giả xưng là người ở kinh thành. Phủ chuyển văn đến Lễ tân viện, nói rằng không có điều khoản nào quy định. Chiếu rằng Vinh đã nhiều lần được ân xá, miễn đánh trượng, chỉ chích mặt, phối làm lính ở Hải Châu[4], do đó có chiếu này.
(Chiếu này được ghi chép kèm theo. 《Hội yếu》 chép là việc tháng này, không rõ ngày.)
[27] Ngày Tân Mùi, bổ nhiệm Công sĩ Dương Lượng ở Nhiêu Châu làm Tam ban tá chức, vì Chuyển vận sứ tâu rằng Lượng đã bắt được hơn trăm tên cường đạo.
(Lượng, đã thấy ở năm Tường Phù thứ 6.)
[28] Ngày Nhâm Thân, Khánh Châu tâu rằng giặc phiên Nhu Viễn xâm nhập biên giới, Tuần kiểm Dương Thừa Cát giao chiến không thắng, quân quan bị thương vong khá nhiều. Vua nói: “Đức Minh vốn tuân theo mệnh triều đình, sao bỗng nhiên xâm nhiễu, hay là tướng biên thất chức trong việc vỗ về yên ủi?” Liền sai Khách tỉnh sứ, Khang Châu phòng ngự sứ Tào Uỷ làm Hoa Châu quan sát sứ, Phu Diên lộ phó đô bộ thự, Hoàn Khánh Tần Châu duyên biên tuần kiểm an phủ sứ. Các tộc Uỷ Khất, Cốt Nhưỡng, Đại Môn nghe tin Uỷ đến, quy phụ hơn nghìn hộ.
(Tộc Uỷ Khất quy phụ vào tháng 8 ngày Quý Mão, tộc Cốt Nhưỡng, Đại Môn quy phụ vào tháng 9 ngày Bính Dần, nay gộp lại chép.)
[29] Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Triều Huýnh vì già yếu xin từ chức gần, chiếu không cho, đặc cách miễn việc túc trực, cho phép ba năm ngày mới đến viện một lần. Huýnh từ chối vì không đúng lệ cũ, bèn nghe theo, đợi đến mùa thu lại túc trực.
[30] Ngày Kỷ Mão, Công bộ lang trung Trần Nghiêu Tá và Hữu chánh ngôn Trần Chấp Trung đều bị tước một chức quan. Nghiêu Tá giữ chức Khởi cư lang, vẫn như trước giữ chức Trực sử quán, giám sát trà trường ở Ngạc Châu. Chấp Trung giữ chức Vệ úy tự thừa, giám sát thuế rượu ở Nhạc Châu.
Trước đây, Vua đã nhiều lần định ra quy chế thi cử, thí sinh nộp bài thi thì trước tiên giao cho Biên bài quan, bỏ phần đầu bài ghi quê quán, thay bằng số hiệu, rồi Phong di quan sao chép và hiệu đính, sau đó mới giao cho Khảo quan chấm điểm xong[5], lại niêm phong giao cho Phúc khảo quan chấm lại, rồi giao cho Tường định quan mở niêm phong, xem xét sự khác biệt, tham khảo rồi quyết định, sau đó giao lại cho Biên bài quan lấy phần ghi quê quán và số hiệu để ghép lại, rồi xếp hạng tên tuổi và thứ tự, cùng với bài thi trình lên, sau đó mới treo bảng vàng. Đại thể là muốn Khảo hiệu quan và Tường định quan không biết được tên tuổi và chữ viết của thí sinh, Biên bài quan tuy biết tên tuổi nhưng không được thay đổi thứ hạng, để tránh gian lận. Nhưng Nghiêu Tá và Chấp Trung làm Biên bài quan, không hiểu rõ quy chế này, lại thay đổi thứ hạng[6].
Hôm sau, trong cung kiểm tra lại, thấy nhiều chỗ khác biệt, bèn giao hết cho Trung thư, sai Trực long đồ các Phùng Nguyên và Thái tử hữu dụ đức Lỗ Tông Đạo xem xét, lại triệu Nghiêu Tá, Chấp Trung cùng Khảo hiệu quan và Tường định quan đến đối chất, Nghiêu Tá đều nhận tội. Vương Khâm Nhược tâu rằng: “Tội của Nghiêu Tá đúng là đáng bị trách phạt nghiêm khắc. Nếu giao cho quan lại xét xử, hình phạt sẽ rất nặng, xin chỉ căn cứ vào tội mà giáng chức.” Vua đồng ý.
Tông Đạo lại xin lấy việc Nghiêu Tá tùy tiện loại bỏ và giữ lại thí sinh để răn dạy các thí sinh. Bèn hạ chiếu cho Lễ bộ treo bảng ở Cống viện, những người đỗ đạt nhưng bị Biên bài quan loại nhầm, đều được ban cho đỗ phụ bảng; những người không đỗ nhưng bị Biên bài quan cho đỗ nhầm, đều bị thu hồi chiếu chỉ và bắt học lại; những người đỗ nhưng kém, được miễn thi Hội. Tổng cộng những người bị loại rồi lại được đỗ, Tiến sĩ và các khoa đều có hai người, được miễn thi Hội, Tiến sĩ có mười bốn người, các khoa có hai mươi ba người. Những người đã đỗ và được ban chức nhưng bị thu hồi có hai mươi mốt người.
(Bản Chí chép: Trước đây, Biên bài quan kiêm luôn Tường định và được phép kiểm tra sai sót. Năm nay, tách Biên bài và Tường định làm hai, nhưng Nghiêu Tá và Chấp Trung không hiểu ý chiếu, nhận được bài thi của Tường định quan, lại thay đổi thứ hạng, sau khi treo bảng vàng xong[7], trong cung kiểm tra lại, thấy nhiều chỗ khác biệt. Vì vậy Nghiêu Tá và Chấp Trung bị giáng chức. Khác với chép trong Thực lục, nay tạm theo Thực lục, cần xem xét thêm. Vương Cử Chính trong bài văn khắc trên mộ Nghiêu Tá chép: Khi sắp xếp bài thi có sai sót, tể tướng Vương Khâm Nhược xử lý việc này, giáng chức Tả sử, coi việc trà ở Ngạc Châu, chưa đến nơi thì mẹ mất.)
[31] Ngày Quý Mùi, Hàn lâm học sĩ Tiền Duy Diễn, Xu mật trực học sĩ Vương Thự, Công bộ thị lang Dương Ức, Tri chế cáo Lý Tư, Trực sử quán Trần Tòng Dịch đều bị giáng một chức. Tiến sĩ Trần Tổn, Hoàng Dị cùng năm người khác đều bị đánh trượng và phối lưu đến các châu, những người cùng ký đơn cũng bị đình chỉ một kỳ thi[8].
Ban đầu, Tổn, Dị cùng mọi người đánh trống Đăng văn, tố cáo Duy Diễn và những người khác chấm thi không công bằng. Vua sai Long đồ các trực học sĩ Trần Nghiêu Tư, Tả gián nghị đại phu Chu Tốn, Khởi cư xá nhân Lữ Di Giản tại Thượng thư tỉnh triệu tập Tổn, Dị và những người khác, bắt họ trình bày rõ ràng sự việc, đồng thời xem xét lại bài thi để tâu lên. Nghiêu Tư và những người khác tâu rằng trong số tiến sĩ do Duy Diễn và những người khác ở Cống viện gửi đến có năm người văn lý kém hơn, trong số tiến sĩ do Tòng Dịch ở biệt đầu gửi đến có ba người văn lý lộn xộn, còn lại đều đạt yêu cầu, nhưng Tổn, Dị và những người khác tố cáo có điều hư vọng, nên đều bị trách phạt.
[32] Ngày Giáp Thân, Đồn điền viên ngoại lang Trương Tông Hối tâu: “Các châu lấy lý trưởng đã hết hạn làm nha dịch, quản lý tài sản công, nhiều người bị phá sản gia nghiệp, trước sau không ít, xin ghi lại số lượng để tâu lên. Xin bãi bỏ việc này, cho phép tuyển người giỏi sổ sách để đảm nhiệm chức vụ.” Chiếu giao cho Tam ty.
[33] Ngày Ất Dậu, điều Phán Trần Châu, Vũ Ninh tiết độ sứ, Đồng bình chương sự Trương Mân làm Phán Tương Châu. Lúc đó có đá rơi ở Dĩnh, người xem bói cho rằng tai họa sẽ đến với quan địa phương lân cận, nên đặc biệt điều Mân đi để tránh, sau đó lại lệnh cho ông trở về trấn cũ.
[34] Nhập nội phó đô tri Chu Hoài Chính ngày ngày hầu cận trong cung, quyền thế rất lớn, những kẻ a dua theo ông rất đông, thường xuyên dâng tấu việc và được chấp thuận. Những người cùng chức vụ nhưng có địa vị cao hơn đều bị ông bài xích. Các kho tàng trong và ngoài triều đều do ông tùy ý lấy dùng, phần lớn đều đưa về nhà mình. Tính tình tầm thường, rất tin vào những điều mê tín dị đoan.
Có người tên là Chu Năng, vốn là gia nô của Đoàn luyện sứ Điền Mẫn ở Đơn Châu, tính tình hung ác xảo quyệt, nhờ hối lộ người thân tín của Chu Hoài Chính mà được gặp mặt, từ đó cùng với binh sĩ thân cận là Diêu Bân bàn luận những chuyện thần quái để dụ dỗ ông. Chu Hoài Chính bị mê hoặc, tiến cử Chu Năng làm Ngự dược sứ, kiêm chức Thứ sử Giai Châu, sau đó cho xây đạo quán ở núi Chung Nam, cùng với Điện trực Lưu Ích tạo ra phù mệnh, mượn danh thần linh, bàn về cát hung của quốc gia, hoặc phê phán các đại thần.
Lúc đó Khấu Chuẩn đang trấn thủ Vĩnh Hưng, Chu Năng làm Tuần kiểm, nhờ vào uy tín cũ của Khấu Chuẩn, muốn biến việc này thành sự thật. Khấu Chuẩn tính tình cương trực hiếu thắng, thích người a dua theo mình, nên thường không phản đối. Tháng đó, Khấu Chuẩn tấu rằng thiên thư giáng xuống núi Can Hựu, thực ra là do Chu Năng làm ra. Trong ngoài đều biết đó là trò lừa đảo, chỉ có Vua là không nghi ngờ.
(Lưu Ban viết truyện về Khấu Chuẩn nói rằng: Chu Năng dâng thiên thư, Vua hỏi Vương Đán, Vương Đán nói: “Người đầu tiên không tin thiên thư là Khấu Chuẩn. Nay thiên thư giáng xuống nơi Khấu Chuẩn, nên để Khấu Chuẩn dâng lên, thì dân chúng sẽ rất phục.” Vua bèn sai Chu Hoài Chính truyền ý cho Khấu Chuẩn. Khấu Chuẩn ban đầu không chịu, nhưng con rể của ông là Vương Thự ở trong triều thân thiết với Chu Hoài Chính, Vương Thự khăng khăng yêu cầu Khấu Chuẩn, nên Khấu Chuẩn mới nghe theo.
Xét rằng Vương Đán chết vào tháng giêng năm Thiên Hi thứ nhất, còn việc Khấu Chuẩn dâng thiên thư là vào tháng ba năm Thiên Hi thứ ba, Lưu Ban nhầm lẫn rất nhiều. Hoặc có thể là Vương Khâm Nhược thực sự làm việc này, chứ không phải Vương Đán.)
[35] Tháng tư mùa hạ, ngày Tân Mão, chuẩn bị nghi trượng đến vườn Quỳnh Lâm để đón thiên thư vào cung, Thái tử Hữu dụ đức Lỗ Tông Đạo dâng sớ, đại ý nói: “Đạo trời ban phúc cho người lành, giáng họa cho kẻ dâm, không nói mà vẫn thể hiện sự giáo hóa. Nhà Vua nếu thi hành chính sách đúng đạo lý, thì trời sẽ ban phúc để đáp lại, nếu sai lầm, thì sẽ xuất hiện điềm lạ để cảnh cáo, cần gì phải có thiên thư. Thần e rằng bọn gian thần lợi dụng sự mê tín để mê hoặc thánh thượng.”
[36] Tri Hà Dương là Tôn Thích dâng sớ nói: “Chu Năng là kẻ tiểu nhân gian xảo, tình cờ được sai khiến, bỗng chốc làm chức Mục Bá, đều do nói dối về điềm lành. Mà bệ hạ lại tin tưởng, cúi mình đón rước, đưa vào cung điện để thờ phụng, từ triều đình đến dân chúng, không ai không đau lòng, chỉ trích trong bụng, không dám nói ra. Thời Hán, tướng quân Văn Thành dùng lụa viết chữ cho trâu ăn, nói rằng trong bụng trâu có sách lạ, giết trâu xem thì được sách, thiên tử nhận ra chữ viết của ông ta. Lại có tướng quân Ngũ Lợi nói dối, nhiều phương thuật không ứng nghiệm. Cả hai đều bị xử tử.
Thời tiên đế, có Hầu Mạc Trần Lợi Dụng dùng phương thuật được sủng ái, một ngày phát giác gian trá, bị giết ở Trịnh Châu. Hán Vũ Đế có thể gọi là hùng tài, tiên đế có thể gọi là anh minh quyết đoán. Đường Minh Hoàng được bùa Linh Bảo, kinh Thượng Thanh Hộ Quốc, bảo khoán, đều là do Vương Nhiêu, Điền Đồng Tú làm ra, Minh Hoàng không thể xử tử, sợ hãi tà thuyết, tự cho rằng đức thực động đến trời, thần linh ắt ban phúc.
Lão Quân là bậc thánh nhân, nếu thực sự giáng lời, ắt không sai. Nhưng nhà Đường từ loạn An Lộc Sơn, thiên tử chạy loạn, hai kinh đô tan hoang, bốn biển sôi sục, há phải thiên hạ thái bình sao? Minh Hoàng tuy được về kinh, lại bị Lý Phụ Quốc ép dời, cuối cùng chết đói, há phải ‘thánh thọ vô cương, sống lâu muôn tuổi’? Minh Hoàng anh minh mà họa hoạn vẫn đến, không biết rõ, là do tại vị lâu, kiêu căng thành tính, cho rằng người khác không bằng mình, lời can không đáng nghe, lòng quen an nhàn, tai quen nghe nịnh, trong bị sủng phi mê hoặc, ngoài dùng gian thần, cung kính quỷ thần, quá sùng yêu vọng.
Hôm nay thấy Lão Quân trên lầu, mai thấy Lão Quân trong núi, đại thần ngồi không hưởng lộc để đón rước, ngồi yên sợ uy mà im lặng, đã mê tà đạo, tất loạn chính trị, lòng dân ly tán, biến loạn bất ngờ[9]. Lúc đó, Lão Quân há có thể chống giặc, bùa phép há có thể giải nạn sao? Nay việc Chu Năng làm, cũng giống như vậy. Mong bệ hạ nghĩ đến hùng tài của Hán Vũ, noi theo anh minh quyết đoán của tiên đế, xem xét việc Minh Hoàng gây loạn, để tai họa không sinh, biến loạn không xảy ra.”
Thích lại nói: “Trời vốn không nói, sao có sách? Thiên hạ đều biết việc Chu Năng làm, chỉ riêng bệ hạ không biết mà thôi! Xin chém Chu Năng để tạ thiên hạ.” Vua tuy không nghe, nhưng cũng không trị tội Thích.
(Bản truyện của Thích chép việc “Trời vốn không nói, sao có sách” vào đầu năm Tường Phù, e là sai. Chuyển đến trước việc tế ở Phần Âm, lại thấy ở đây. Việc Chu Năng dâng thiên thư, lễ đón rước không kém năm Tường Phù, nhưng quốc sử, Thực lục kiêng kỵ, nên không chép rõ, lại mất thời gian.
Theo 《Kỷ cổ lục》 vào tháng 3 năm đó chép Khấu Chuẩn tâu thiên thư giáng ở núi Can Hữu, nay dùng làm căn cứ, chép vào cuối tháng 3. Sớ can của Lỗ Tông Đạo, Tôn Thích cũng không rõ thời gian, nhân đó phụ chép.
《Quốc lão nhàn đàm》 cho rằng lời can của Tông Đạo là chỉ năm Tường Phù, thì sai[10], nay sửa lại.
《Ký văn》 chép lời can của Thích, so với chính truyện còn thẳng thắn hơn, e rằng Thích không chỉ dâng một sớ, nay chép cả, để thấy triều trước dung nạp bề ngay.
Xem 《Lý Duy tập》 có hai biểu chúc mừng thiên thư giáng, một nói ngày 4 tháng 4 đón vào cung, hai nói ngày 24 tháng 8 đón vào cung, nay dùng ngày tháng đó, chép vào 《Trường biên》.)
[37] Chiếu cho Thái tử Tả thứ tử Trương Sĩ Tốn trở xuống, mỗi khi gặp Hoàng thái tử đi theo xa giá, được phép theo như lệ nội điện, khởi cư và đi theo hầu.
[38] Ngày Quý Tỵ, đến yết kiến ở Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung, Cảnh Linh cung, rồi về thăm Khai Bảo tự. Ngày Giáp Ngọ, đến thăm Hội Linh quán, Thượng Thanh cung, Tường Nguyên quán.
[39] Miễn chức cho Khiêm hạt Phu Diên lộ, Tây thượng các môn sứ, Chiêu Châu đoàn luyện sứ Cao Kế Huân, đồng thời giáng một chức. Đô giám Tào Nhân Dụng, Giám áp Hồ Tòng Thức đều bị cách chức, phối lưu đến Quắc Châu và Kim Châu. Nhân Dụng và những người khác bị tội buôn bán giấy giao dịch, còn Kế Huân bị tội mua ngựa với giá thấp. Long Đồ các trực học sĩ, Công bộ lang trung Trần Nghiêu Tư từng tiến cử Nhân Dụng, bị giáng làm Binh bộ viên ngoại lang, chức vụ như cũ.
[40] Hà Đông chuyển vận sứ Lý Phóng dâng 30 vạn quan tiền, 120 vạn thạch lương, được chiếu khen thưởng.
[41] Ngày Ất Mùi, đến thăm Khải Thánh viện.
[42] Ngày Đinh Dậu, Tri Giang Ninh phủ Đinh Vị tâu rằng, trung sứ Lôi Doãn Cung đến Mao Sơn dâng Kim Long Ngọc Giản, khi đang làm lễ cầu đảo, có bảy con hạc bay lượn trên đàn. Vua làm thơ ban cho Đinh Vị.
[43] Ngày Kỷ Hợi, triệu Sơn Nam Đông đạo tiết độ sứ, Đồng bình chương sự, Phán Vĩnh Hưng quân phủ Khấu Chuẩn về kinh.
[44] Thẩm hình viện xin cho Khai Phong phủ từ nay nếu có điều lệ chưa rõ, chỉ cần gửi văn thư hỏi Đại Lý, không cần cử Pháp tào tham quân vào chùa như trước. Chiếu chuẩn y.
(Việc “lại cử người vào chùa” ghi trong 《Hội yếu》 vào tháng 9 năm thứ 4, nay ghi chung vào đây.)
[45] Ngày Tân Sửu, chiếu cho chuyển vận sứ phó, đề điểm hình ngục, các quan ở quán các, đài tỉnh khi mãn nhiệm kỳ ngoại nhiệm trở về, đều theo lệ của kinh triều quan, đến Thẩm quan viện nộp đơn để khảo khóa.
[46] Chiếu khen thưởng Tri Bảo Châu, Nội điện sùng ban Lư Giám, vì ông làm việc có năng lực.
[47] Ngày Nhâm Dần, triệu tập cận thần đến Chân Du điện, làm lễ bái yết Thiên thư.
[48] Vua làm thơ “Ngọc Thần điện quán Thụy Mạch” ban cho các cận thần.
[49] Ngày Mậu Thân, cấm các châu Kim, Thương thờ cúng tà thần, những kẻ cầm đầu và cường hào phạm tội đều xử tử.
[50] Ngày Nhâm Tý, cho con của cố Hữu thị cấm Đinh Duy Thanh là Đinh Tuân Vọng làm Tam ban phụng chức. Duy Thanh trước đây làm Tri Tây Lương châu, bị rơi vào tay người Thổ Phồn.
[51] Tháng 5, ngày Đinh Tị, mùng 1, nước Đại Thực phái sứ giả đến cống.
[52] Ngày Kỷ Mùi, Long, Thần Vệ tứ sương đô chỉ huy sứ Hạ Thủ Ân được bổ làm Phụng Nhật, Thiên Vũ tứ sương đô chỉ huy sứ, vẫn giữ chức Thái Châu phòng ngự sứ như trước. Lạc Uyển sứ, Cần Châu thứ sử, đồng câu đương Hoàng thành ty Lưu Mỹ được bổ làm Long, Thần Vệ tứ sương đô chỉ huy sứ, kiêm chức Chiêu Châu phòng ngự sứ.
Vua không khỏe, hoàng hậu tham gia chính sự, nên giao cho Thủ Ân nắm quân thân tín để dựa vào, vì thế cùng với Mỹ đều được bổ nhiệm. Thủ Ân sau đó được thăng làm Điện tiền đô ngu hầu, Mỹ được thăng làm Mã quân đô ngu hầu. Thủ Ân vẫn tạm quản lý Điện tiền bộ quân ty, Mỹ tạm quản lý Mã quân ty.
(Việc Thủ Ân, Mỹ được thăng chức vào tháng 7 ngày Nhâm Thân, tạm quản lý hai ty vào tháng 8 ngày Đinh Dậu, nay ghi chung lại. Bản truyện của Mỹ chép: Trước đây, Mỹ cùng Chu Hoài Chính cùng làm việc, Hoài Chính gian trá ngang ngược, nhiều người sợ hãi, Mỹ chưa từng a dua theo Hoài Chính, tả hữu có lỗi, ắt nghiêm khắc trừng trị. Những người lính thân tín đi tuần tra, phần nhiều không thay đổi kịp thời, Mỹ căn cứ vào sổ sách phân chia phiên trực đều đặn.
Vua nhiều lần muốn trao binh quyền cho Mỹ, nhưng vì hoàng hậu khẩn khoản nhường nhịn, nên nhiều lần bị gián đoạn. Đến lúc này, cuối cùng đã dùng Mỹ. Bản truyện này có lẽ là do sử quan đương thời viết để nịnh Thái hậu, nay không chọn.)
[53] Lễ nghi viện tâu: “Hàng năm vào tiết Đoan Ngọ, trăm quan nghỉ việc, hoàng đế không ngự ở tiền điện, chỉ có Trung thư, Xu mật viện tâu việc ở điện Thừa Minh. Nay biên giới yên ổn, việc kiện tụng ít, không có việc cấp bách, xin cho Trung thư, Xu mật viện ngày đó ngừng tâu việc, lập thành quy định.” Vua đồng ý.
[54] Ngày Nhâm Tuất, ra chiếu rằng từ nay các tướng hiệu quản quân, các chức bố trí, kiềm hạt ở biên giới, nếu phạm tội tham nhũng tư lợi phải bị giam cầm, thì giao việc của bản ty cho trưởng lại rồi mới bắt giam tra xét. Lúc đó, Phu Diên kiềm hạt Cao Kế Huân bị miễn chức, mới giao việc của bản ty cho tri châu, nhân đó ban chiếu này.
[55] Tả Gián nghị đại phu, tri châu Vận Châu Thích Luân bị giáng chức làm Nhạc Châu đoàn luyện phó sứ. Trước đó, có người tên Vương Tuân Hối, từng giữ chức ở biên giới phía tây, gia đình cư ngụ ở Vĩnh Hưng, việc trong nhà không nghiêm túc, sự việc sắp bị phát giác, tri phủ Khấu Chuẩn đã dàn xếp ổn thỏa. Đến lúc này, Tuân Hối làm đồng đề điểm hình ngục quan, Luân nhân lúc đùa giỡn, nhắc đến Chuẩn, Tuân Hối tức giận, cho rằng Luân chê trách mình, bèn cùng với đề điểm hình ngục quan Lý Trọng Dung tâu lên rằng Luân có lời lẽ xúc phạm bề trên[11], vì thế bị trị tội.
Luân chuyên tâm nghiên cứu cổ học, giỏi bàn luận về danh lý, thích nói về chính sự dân sinh, nhưng hơi thiên về lý thuyết xa vời. Ông đối xử với anh là Duy rất mực yêu thương. Khi Duy qua đời, nghe tin dữ, Luân đau buồn khóc lóc, mấy ngày không ăn. Giao thiệp với bạn bè cũ, ông nổi tiếng về chữ tín và nghĩa khí. Khi các sĩ tử đến yết kiến, ông đều hỏi han về công việc, tìm hiểu chí hướng của họ, rồi tùy theo tài năng mà khuyên bảo. Ông từng nói: “Khi về già, nếu có được mười năm ở quê nhà giảng dạy, cũng có thể góp phần phục hưng đạo lý và giúp đời.”
Trong niên hiệu Đại Trung Tường Phù, khi tiếp tục tu chỉnh các nghi lễ, Luân đều tham gia bàn bạc, cùng với Trần Bành Niên giữ chức vụ, nhiều lần được triệu vào đối đáp, đề xuất nhiều quy chế, được ân sủng rất lớn. Ông thích tiến cử người tài, mỗi lần tâu lên đều có mười mấy người, đều là những người nổi tiếng đương thời. Cuối đời bị những kẻ quyền thế bài xích, nên không còn được trọng dụng nữa. Hai năm sau, ông qua đời. Nhà không có của cải dư thừa. Người nhà tìm thấy trong tủ một bản di chúc, đại ý khuyên bảo con cháu chăm chỉ học hành.
(Bản truyện chép Tuân Hối làm khuyến nông phó sứ, lúc này chưa đổi tên chức quan, nay sửa lại cho đúng.)
[56] Ngày Canh Ngọ, Khoái Giam, chức Hà Bắc chuyển vận sứ, Binh bộ viên ngoại lang, được thăng làm Công bộ lang trung, lại được lưu nhiệm thêm một nhiệm kỳ. Sông Hoàng Hà vỡ đê ở Thiền Uyên, Khoái Giam đến xem xét việc đắp đê. Đê bị sụt lún mấy dặm, mọi người đều bỏ chạy, chỉ có Khoái Giam ở lại bình tĩnh, nước rút đi, mọi người đều lấy làm lạ. Ông từng nói rằng từ khi Khiết Đan kết hòa ước, quân số ở Hà Bắc giảm một nửa, nhưng lại tuyển thêm binh lính địa phương, thực chất tăng thêm một phần ba, trong khi quân lương ở biên giới không đủ, xin thi hành ba phương pháp nhập trung, tạc đầu và tiện địch.
(Có người nói rằng sông Hoàng Hà vỡ đê ở Thiền Uyên, sau đó Khoái Giam mới được thăng chức, e là sai. Theo 《Thực lục》, tháng giêng năm sau, ngày Tân Mùi, sai Cao Hán Mỹ giám sát việc sửa chữa đê vỡ ở châu Thiền, nhưng không thấy ghi chép về thời điểm vỡ đê lần đầu, nay tạm ghi chép thêm, cần xem xét thêm.
Về ba phương pháp nhập trung, từng xem xét lời của Thẩm Quát nói: Người đời truyền rằng tính toán việc buôn bán trà có ba phương pháp rất tiện lợi. Ba phương pháp đó đều cho rằng tiền mặt là một phương pháp, ngà voi, hương liệu, thuốc men là một phương pháp, trà là một phương pháp. Thực ra không phải vậy. Đó chỉ là phương pháp chia ba phần mà thôi. Nghĩa là ở vùng biên giới, khi nộp lương thảo, giá trị được chia làm ba phần, một phần trả bằng tiền mặt, một phần đổi bằng ngà voi, tạp hóa, một phần đổi bằng trà. Sau đó lại có thêm phương pháp chia bốn phần, bao gồm cả muối[12], thay đổi không nhất định, đều không phải là ba phương pháp.
Khi tôi ở Tam ty, đã tìm được hồ sơ cũ về ba phương pháp. Ba phương pháp đó thực chất là ba việc: Bác địch là một phương pháp, tiện địch là một phương pháp, trực tiện là một phương pháp.
1. Bác địch là ở vùng biên giới xa xôi, lương thảo hàng năm muốn đủ định mức, mỗi năm Tam ty đưa số lượng xuống kho, trước tiên phong tỏa tiền mặt, tiền tiện lợi, trà sao tiện lợi. Tiền tiện lợi là tiền ở những nơi thuận tiện cho thương nhân đường thủy. Trà sao tiện lợi là trà sao ở ba trường sơn trên, sau đó mới triệu tập người đến nộp.
2. Tiện địch là ở vùng biên giới gần, thương nhân trước tiên nộp lương thảo, sau đó đến kinh đô tính toán xin tiền tiện lợi chậm, trà sao chậm và tạp hóa. Tiền tiện lợi chậm là tiền ở những nơi không thuận tiện cho việc buôn bán đường bộ. Trà sao chậm là trà sao ở ba trường sơn dưới.
3. Trực tiện là thương nhân lấy tiện lợi ở vùng biên giới nộp tiền mặt, đến kinh đô nhận lãnh. Ba phương pháp trước tiên phải đủ số lượng bác địch, sau đó mới nghe theo tiện địch và trực tiện[13], nhờ đó thương nhân tranh nhau đến, tranh nhau đến vùng biên giới xa xôi để bác địch. Vì vậy lương thảo ở biên giới thường đủ trước, không chỉ các quận không bị chia cắt, giá lương thảo không tăng vọt, thuế khóa các lộ cũng đều dồi dào, đó là một phương pháp tốt.
Khi tôi ở Tam ty, vừa muốn nghiên cứu tìm hiểu, nhưng gặp lúc bị giáng chức, nên không kịp đề xuất.)
[57] Ngày Tân Mùi, Vua thân chính xét tù nhân, phần lớn đều được giảm tội.
[58] Ngày Quý Dậu, ra chiếu rằng những người từ ngày mùng 1 tháng 5 năm nay trở về trước đã được thay thế làm phán ty, bạ uý, đều được miễn tuyển chọn.
[59] Ngày Ất Hợi, Lý Hư Kỷ, Binh bộ viên ngoại lang, Long đồ các đãi chế, được bổ làm Hữu gián nghị đại phu, sung chức. Lưu Diệp, Hữu chánh ngôn, được bổ làm phán Tam ty Hộ bộ câu viện, ban tặng áo tía và cá. Hư Kỷ và Diệp đều dâng biểu xin được nhậm chức ngoài triều, Vua thấy Hư Kỷ là người nho nhã, cẩn thận, còn Diệp thường dâng sớ bàn việc[14], nên ban thưởng và giữ lại. Có người nói Diệp kiêm nhiệm chức khác, có lẽ là do những người nắm quyền không muốn ông chuyên trách việc can gián.
(《Thực lục》 năm Thiên Thánh thứ nhất, tháng 4, ngày Đinh Tỵ, chép rằng những người nắm quyền sợ hãi và kiêng kỵ các quan can gián, nên ban chức vụ tốt rồi cách chức, có lẽ là chỉ việc này. Dường như có điều gì đó kiêng kỵ, nay ghi chép cả hai. Cuối tháng 6, Phạm Ung có lời bàn, nên xem xét.)
[60] Ngày Tân Tỵ, Lưu Bình, Giám sát ngự sử, được bổ làm Diêm thiết phán quan; Chương Tần làm Độ chi phán quan, đều được ban áo tía và cá. Từ đó, Ngự sử lại kiêm nhiệm chức ở các bộ.
(《Lưu Bình truyện》 chép: Bình làm Ngự sử, nhiều lần dâng sớ bàn việc, bị Đinh Vị ghen ghét, lâu sau, được bổ làm Diêm thiết phán quan. Xét năm này, tháng 6, ngày Mậu Tuất, Vị mới tham chính, e là nhầm. Năm thứ nhất, tháng 2, ngày Đinh Sửu, có chiếu lập riêng 6 chức quan can gián và ngự sử, không kiêm nhiệm chức khác, nay Diệp cùng Bình, Tần đều kiêm nhiệm chức ở các bộ[15], có lẽ không đúng với ý chiếu ngày đó.)
[61] Ty An phủ duyên biên Hà Bắc tâu: “Theo chiếu, quy hoạch thành Ung của châu Hùng, đất đai rất rộng. Châu này trước đã có sẵn gỗ, xin cho dần dần xây dựng nhà cửa, để người đi lại có chỗ che chắn.” Vua đồng ý.
[62] Ngày Giáp Thân, Khấu Chuẩn từ Vĩnh Hưng đến triều. Khi Chuẩn sắp lên đường, có môn sinh khuyên rằng: “Nếu ngài đến Hà Dương, xin cáo bệnh cương quyết xin bổ nhiệm ngoại trấn, đó là thượng sách. Nếu vào triều yết kiến, liền vạch trần việc giả dối về sách trời Can Hữu, còn có thể giữ được danh tiếng chính trực cả đời, đó là thứ sách. Hạ sách là lại vào Trung thư làm tể tướng.” Chuẩn không vui, chắp tay rồi đứng dậy. Quân tử cho rằng Chuẩn gặp họa là do tự mình chuốc lấy.
(Điều này trích từ 《Tương Sơn Dã Lục》, lời lẽ có lý nên chép lại.)
[63] Chiếu rằng các quan kinh triều, mạc chức, châu huyện ở lộ Quảng Nam, Phúc Kiến có tang, giao cho chuyển vận sứ tạm cử người thay thế, cho phép rời nhiệm sở.
(Theo bản chí.)
[64] Tháng 6, ngày Bính Tuất mùng một, Lễ nghi viện tâu: “Trước đây theo chiếu chỉ, các ngày nghỉ hàng tháng, Thượng Tỵ, Xuân Thu nhị xã, Đoan Ngọ, Trùng Dương đều nghỉ việc một ngày. Trong đó, ngày nghỉ hàng tháng, hoàng đế không ngự triều ở tiền điện và hậu điện, các ngày khác bá quan không vào, Trung thư, Xu mật viện đến hậu điện chầu hỏi. Lại theo chiếu gần đây, ngày Đoan Ngọ, tiền điện và hậu điện không ngự triều. Nay xin tham tường, mong rằng mỗi khi gặp các ngày nghỉ việc nói trên, hoàng đế không xem xét việc triều chính ở tiền điện và hậu điện, Trung thư, Xu mật viện và các ty có việc công khẩn cấp cần tâu mặt đối mặt, xin đặc biệt lấy chỉ dụ.” Đều theo đó.
[65] Từ Châu tâu rằng ở Lợi Quốc giám có gió lớn từ tây nam thổi tới, làm hư hỏng hơn 200 khu nhà cửa công tư, quân dân bị chết đè có 13 người. Chiếu cho Trương Mân đi an phủ.
[66] Ngày Mậu Tý, Tiết độ sứ Bảo Tín quân Đinh Vị từ Giang Ninh đến triều, vì được triệu.
[67] Ngày Tân Mão, sao Thái Bạch hiện ban ngày, chiêm nghiệm nói: “Nữ chủ hưng thịnh.”
[68] Trước đó, Phát vận sứ Giang, Hoài là Giả Tông tâu: “Hằng năm, các lộ chở lương từ Chân châu, Dương châu vào Hoài, Biện[16], phải qua năm cái đập, việc bốc dỡ lương thực rất phiền phức, sức dân hao tổn vì kéo thuyền, thuyền bè của quan phủ cũng vì thế mà mau hư hỏng. Nay xin bàn việc đào lại sông cổ ở Dương châu, vòng qua phía nam thành nối với kênh vận tải, phá bỏ ba đập Long Chu, Tân Hưng, Thù Du, thông đường chở lương để điều hòa thế nước, mỗi năm tiết kiệm được mấy chục vạn quan tiền công quỹ, lợi ích rất lớn.”
Chiếu cho Đồn điền lang trung Lương Sở và Các môn chi hậu Lý Cư Trung đi xem xét[17], cho là phải. Việc đào sông xong, nước chảy vào sông mới, ngang bằng với ba đập, thuyền chở lương đi lại không bị ngăn trở, quan và dân đều khen là tiện lợi, ban chiếu khen thưởng. Giả Tông lại xin Vua làm bài văn, Vua đồng ý, nhưng chưa kịp làm thì Vua băng hà.
Ban đầu, Điện trung thị ngự sử Vương Trăn làm Hoài Nam chuyển vận sứ, Phát vận ty xin nạo vét kênh chở lương, bỏ các đập. Trăn tâu rằng phía bắc Dương châu có đập Triệu Bá do Tạ An xây dựng, người đời sau nhớ ơn không dám phá bỏ, xin thôi việc nạo vét kênh, hơn nữa việc nạo vét cũng chẳng có ích gì. Sau đó, Trăn vào làm Độ chi phán quan ở Tam ty, còn Phát vận ty thì vẫn nạo vét kênh để thông đường chở lương, vì trước đây có ý kiến khác nên bị giáng làm Giám sát ngự sử, tri Mục châu.
(Việc giáng chức không rõ thời gian, nay phụ chép vào đây. Việc làm Độ chi là vào tháng giêng năm nay, ngày Kỷ Mão. Trăn bị giáng làm tri Mục châu, trên đường đi được phục chức, điều làm tri Phúc châu, Thực lục cũng không chép.)
[69] Ngày Giáp Ngọ, Tả bộc xạ, Bình chương sự Vương Khâm Nhược bị bãi chức, giáng làm Thái tử Thái bảo. Lúc này, ân sủng của Khâm Nhược đã suy giảm, có người tố cáo ông nhận hối lộ. Khâm Nhược tự biện bạch trước mặt Vua, xin giao việc này cho Ngự sử đài điều tra xác minh. Vua không vui, nói: “Quốc gia lập Ngự sử đài, há chỉ để phân biệt hư thực cho người ta sao?” Khâm Nhược hoảng sợ, bèn xin ra trấn nhậm ngoài biên.
Khi ấy, châu Thương bắt được đạo sĩ Tiêu Văn Dịch cất giấu sách cấm, có thể dùng thuật sai khiến thần Lục Đinh, Lục Giáp. Hắn tự khai từng qua lại nhà Khâm Nhược, nhận được thơ và thư của Khâm Nhược. Vua hỏi Khâm Nhược, ông từ chối không nhận biết, bèn bị bãi chức. Chiếu chỉ viện lý do để ông nghỉ ngơi, ban ân lễ hậu. Sau đó, ông được lệnh làm Phán quan châu Hàng.
(Việc Khâm Nhược làm Phán quan châu Hàng, trong Thực lục không ghi rõ ngày, nhưng sau khi ông giữ chức Thái tử Thái bảo, có ghi “sau được lệnh làm Phán quan châu Hàng”, nay theo đó.
《Thực lục》 chép: Ban đầu, Chu Hoài Chính thấy Vua sùng tín việc tế tự, bèn cùng bọn yêu nhân Chu Năng ngụy tạo linh mệnh, mong được ân sủng, lại thường dâng thuốc thang. Khâm Nhược nhiều lần nói việc này là hư vọng, lại bí mật dâng sớ khuyên can. Hoài Chính sợ bị tội, bèn cùng nhau vu cáo, nói rằng bắt được đạo sĩ Tiêu Văn Dịch ở châu Kim, châu Thương cất giấu sách cấm, có thần thuật, Khâm Nhược vốn quen biết hắn. Vua không tra hỏi thêm, nên có lệnh này.
Đây chắc là sử quan đương thời thấy Khâm Nhược lại được làm tướng, nên ngầm viết lời biện hộ, kỳ thực không phải vậy, nay bỏ đi. Việc nhận hối lộ và điều tra xác minh, căn cứ theo lời Tô Tụng trong 《Ký văn》, chắc chắn không sai, nay theo đó.)
[70] Ngày Ất Mùi, sông Hoàng Hà vỡ đê ở phía nam thành Hoạt Châu.
(Sách 《Lưu Diệp chính truyện》 chép: Năm đó đói kém, sông Hoàng Hà vỡ đê ở Hoạt Châu, huy động lực lượng lớn sửa chữa, xác chết nằm la liệt trên đường. Lưu Diệp xin miễn chức tể tướng để ứng với thiên tai. Xét thấy Vương Khâm Nhược đã bị cách chức trước đó, lúc này Khấu Chuẩn chưa nhận chức, chỉ còn Hướng Mẫn Trung tại vị. Lúc đó Lưu Diệp thực sự là quan gián kiêm chức ở tỉnh, sách truyện chép việc này trước sự kiện Thánh Thủy, có lẽ là đảo lộn. Nay phụ chép vào lúc Lưu Diệp được thăng chức Tri tạp. Sách 《Thập triều cương yếu》 của Lý Đức chép: Nước lũ tràn vào Thiền, Bộc, Vận, Tế, đến Từ Châu rồi đổ vào sông Hoài, sai sứ cứu người bị chết đuối, ban thưởng cho gia đình họ.)
[71] Ngày Đinh Dậu, lấy Dẫn tiến sứ Lý Doãn Tắc làm Khách tỉnh sứ, vẫn giữ chức Cao Châu đoàn luyện sứ, tri châu Trấn Châu, kiêm chức Trấn Định kiềm hạt. Doãn Tắc ở Hùng Châu được 14 năm.
(Từ tháng 4 năm Cảnh Đức thứ 3 làm An phủ phó sứ, tháng 9 mới nhận chức Tri Hùng Châu, đến nay được 14 năm[18]. Tháng giêng năm thứ 2 từng làm Tri Hùng Châu, tháng 2 liền đổi mệnh cho Hà Thừa Củ, còn Doãn Tắc thì điều làm Tri Doanh Châu. Sách 《Ký văn》 của Tư Mã Quang chép Doãn Tắc ở Hùng Châu 18 năm, có lẽ là sai.)
Hà Bắc đã ngừng chiến sự, Doãn Tắc vẫn không ngừng sửa sang thành lũy. Liêu chủ hỏi tể tướng Trương Kiệm rằng: “Nghe nói Nam triều vẫn sửa sang thành trì, có phải là vi phạm lời thề không?” Kiệm đáp: “Lý Hùng Châu làm An phủ sứ, người ấy là bậc trưởng giả, không đáng nghi ngờ.” Sau đó có người tâu việc này, Vua xuống chiếu hỏi, Doãn Tắc tâu rằng: “Lúc mới thông hiếu không sửa chữa ngay, ngày sau nếu có đổ nát, lại dám động tay vào sao? Vì thế mà bỏ việc phòng thủ, thần e rằng người Liêu không thể lường được.” Vua cho là phải.
Thành phía bắc vốn có một tường thành hình vòm, Doãn Tắc muốn hợp nhất nó với thành lớn, trước tiên xây dựng đền Đông Nhạc, xuất trăm lượng vàng làm đồ cúng tế, dùng nhạc cụ dẫn đường, dân chúng tranh nhau dâng vàng bạc[19]. Sau một thời gian, bí mật dẹp bỏ, nói rằng có trộm từ phía bắc đến, bèn hạ lệnh bắt trộm, ba lần gửi văn thư sang biên giới phía bắc. Rồi khởi công xây dựng, nói là để bảo vệ đền, nhưng cuối cùng là đào hào quanh thành, xây đê hình trăng. Từ đó, dân trong tường thành vòm đều dời vào trong thành lớn.
Ban đầu, Chu Thế Tông lấy cửa ải làm châu, dân chúng thường lấy cỏ lợp nhà. Doãn Tắc lấy gỗ từ núi phía tây, xây dựng nhiều kho lương và doanh trại. Bắt đầu dạy dân làm ngói gạch, đánh dấu các ngõ xóm, xây chợ có mái che, nhà trọ, cối xay nước. Trên thành đều xếp gạch, dưới đào hào bao quanh, trồng gai, trồng cây du và liễu. Mở rộng đồn điền do Diêm Thừa Hàn tu sửa, dựng cầu dẫn nước, làm cầu đá, xây đình tạ, dựng đê để thông với quân An Túc, Quảng Tín, Thuận An. Hàng năm tổ chức lễ tế, mời thuyền chiến ở sông biên giới thi đua, cho người phương bắc đến xem, ngầm luyện tập thủy chiến.
Phía bắc châu vốn có hố bẫy ngựa, trên thành xây lầu canh, nhìn xa mười dặm, từ khi ngừng chiến, không ai dám lên. Doãn Tắc nói: “Nam bắc đã giảng hòa rồi, cần gì cái này!” Bèn hạ lệnh dỡ lầu, san bằng hố, biến thành vườn rau cho quân đội, đào giếng, khơi rãnh, xếp luống, xây tường thấp, trồng gai góc, khiến địa hình càng thêm hiểm trở. Nhân đó sửa sang phố xá, dời chùa lên tường thành phía bắc, dân châu sớm tối lên xem xa ba mươi dặm. Hạ lệnh cho An phủ ty[20], những đất trống trong khu vực quản lý đều trồng cây du. Lâu ngày, cây du mọc đầy biên giới, Doãn Tắc nói với thuộc hạ: “Đây là đất của bộ binh, không lợi cho kỵ binh, chẳng lẽ chỉ để lấy gỗ làm nhà sao?”
Thượng nguyên vốn không thắp đèn, Doãn Tắc cho dựng núi giả trang trí, tập hợp ca kỹ, để dân chúng được tự do vui chơi ban đêm[21]. Hôm sau, dò biết tướng Liêu muốn lén vào trong thành xem, Doãn Tắc cùng đồng liêu đợi ở ngoại ô, quả nhiên có người mặc áo tía từ phương Bắc đến, đến tối, cùng vào nhà trọ, không nói một lời, cho gọi kỹ nữ đến hầu hạ, uống rượu say rồi thôi, lại để con lừa của người đó dưới mái hiên, để hắn trốn đi, đó chính là Thống quân U Châu. Vài ngày sau, bị Liêu xử tử.
Có lần yến tiệc trong quân, kho vũ khí bị cháy. Doãn Tắc vẫn tiếp tục uống rượu vui chơi, Phó sứ xin đi cứu hỏa, ông không trả lời. Một lát sau lửa tắt, ông lệnh chôn hết những vật bị cháy, bí mật sai người mang tờ hịch đến Doanh Châu, dùng thùng trà chở vũ khí giáp, chưa đầy mười ngày, số lượng binh khí đã đầy đủ, không ai biết. Xu mật viện xin điều tra việc không cứu hỏa, Vua nói: “Doãn Tắc ắt có lý do, hãy hỏi ông ta.” Ông đáp: “Kho chứa binh khí, phòng hỏa rất nghiêm ngặt, đang yến tiệc mà cháy, ắt là do kẻ gian làm. Bỏ tiệc đi cứu hỏa, sự việc có thể bất ngờ.”
Lại bắt được gián điệp Liêu, tháo trói đối đãi hậu hĩnh, gián điệp nói là do Yên Kinh Đại Vương phái đến, rồi đưa ra số liệu quân lương, binh mã dọc biên giới. Doãn Tắc nói: “Những gì ngươi có được đều sai.” Gọi chủ lại lấy sổ ghi chép số thực đưa cho. Gián điệp xin đóng dấu niêm phong, rồi được ban thưởng hậu hĩnh bằng vàng, thả về. Không lâu sau, gián điệp vội đến, trả lại số liệu đã nhận, dấu niêm phong vẫn nguyên, lại đưa ra thông tin chi tiết về binh mã, tài lực, địa hình của Liêu làm báo cáo.
Một ngày nọ, có dân tố cáo bị người Liêu đánh bị thương rồi bỏ trốn, Doãn không xử lý, chỉ cho người bị thương hai nghìn tiền, mọi người đều cho là ông nhát. Hơn một tháng sau, U Châu đưa việc này đến chất vấn, ông trả lời là không có. Thực ra là do gián điệp khác muốn lấy việc đánh người làm bằng chứng, nhưng khi nhận được báo cáo cho rằng đó là vu khống, bèn giết gián điệp.
Một binh sĩ Vân Dực trốn sang Liêu, Doãn gửi văn thư đòi trả lại, Khiết Đan trả lời không biết ở đâu. Doãn nói: “Ở chỗ này.” Khiết Đan sợ hãi, không dám giấu giếm, liền trả lại binh sĩ, Doãn bèn chém đầu để răn đe, từ đó không ai dám trốn nữa.
Doãn không chú trọng uy nghi, thỉnh thoảng đi bộ ra ngoài, gặp dân có thể nói chuyện, mời ngồi nói chuyện, nhờ vậy hiểu rõ tình hình dân chúng. Khi có kiện tụng, dù lớn hay nhỏ, đều trực tiếp thẩm vấn và xử lý ngay. Ông khéo léo vỗ về binh sĩ, ai cũng được sử dụng đúng tài năng. Kẻ trộm cắp vừa phạm tội là bị bắt ngay, người ta cũng không biết vì sao. Ông không có quần áo dự phòng, không ăn uống xa xỉ, không tích trữ của cải. Trong số các quan biên thời đó, ít ai sánh được với ông.
(Không có quan biên nào bằng Doãn, theo ghi chép của Tư Mã Quang, nay ghi thêm vào. Chính truyện nói “không có quần áo dự phòng, không ăn uống xa xỉ, không tích trữ của cải” dưới việc của Doãn, nên ghi rải rác vào các năm, nhưng ngày tháng phần lớn không thể khảo cứu, nay ghi chung lại. Nếu có gì trùng với các năm khác, nên kiểm tra lại.)
[72] Ngày Mậu Tuất, lấy Sơn Nam Đông đạo tiết độ sứ, Đồng bình chương sự Khấu Chuẩn làm Trung thư thị lang, kiêm Lại bộ thượng thư, Bình chương sự, Bảo Tín tiết độ sứ Đinh Vị làm Lại bộ thượng thư, Tham tri chính sự.
Theo lệ cũ, tiết độ sứ khi được bổ nhiệm phải có chiếu chỉ. Hàn lâm học sĩ Thịnh Độ cho rằng Tham tri chính sự thuộc về ngoại chế, bèn sai Tri chế cáo Tống Thụ soạn văn từ, Vị rất hận việc này. (Việc của Độ, theo 《Quy điền lục》 của Âu Dương Tu.) Vị ở Trung thư, đối xử với Chuẩn rất cẩn thận. Một lần cùng ăn, canh dính vào râu Chuẩn, Vị đứng dậy từ từ lau đi. Chuẩn cười nói: “Tham chính là đại thần của quốc gia, lại đi lau râu cho quan trên sao?” Vị rất xấu hổ, từ đó mầm mống vu cáo bắt đầu nảy sinh.
[73] Ngày Tân Sửu, ban chiếu rằng: “Từ nay, kẻ nào bắt cóc bán người sang đất Khiết Đan, thủ lĩnh đều xử tử; kẻ dụ dỗ cũng đồng tội; kẻ chưa vượt qua biên giới thì xử phạt lưu đày đến lao thành các châu quân Hoài Nam.”
[74] Trước đó, sông Hoàng Hà vỡ đê ở phía tây bắc thành Hoạt Châu, gần núi Thiên Đài. Sau đó lại vỡ ở phía tây nam thành, bờ đê sụt đổ 700 bước, nước tràn vào thành châu[22], dân chúng bị cuốn trôi nhiều, nước chảy qua Thiền Châu, Bộc Châu, Vận Châu, Tế Châu, đổ vào Lương Sơn Bạc, lại hợp với sông Thanh Thủy và sông Cổ Biện, chảy về phía đông vào sông Hoài, gây thiệt hại cho 32 châu ấp. Do đó, sai trung sứ cứu người chết đuối, ban tiền cho gia đình họ, cận thần làm lễ tế sông vỡ đê, ngự sử hặc tội các quan lại, lệnh cho Mã bộ quân đô quân đầu, Thứ sử Hưng Châu là Thôi Loan dẫn 400 quân Tuyên Vũ đi tuần tra bảo vệ. Lại sai Quang lộc khanh Tiết Nhan, Tây thượng các môn sứ Trương Chiêu Viễn đi ngựa trạm cùng các chuyển vận sứ Kinh Đông, Hà Bắc tính toán báo cáo.
[75] Ngày Quý Mão, lệnh cho Đoàn luyện sứ Quắc Châu là Hác Vinh làm Tu hà bộ thự Hoạt Châu, Cung phụng quan, Các môn chi hậu là Tiết Di làm Đô giám.
[76] Ngày Đinh Mùi, lấy Đồng Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung phó sứ, Lại bộ Thị lang Lâm Đặc làm Thượng thư Tả thừa, Ngọc Thanh Chiêu Ứng cung phó sứ. Lâm Đặc tính tà hiểm, giỏi xu nịnh, nên Đinh Vị luôn yêu quý ông ta, nhiều lần tiến cử.
[77] Ngày Mậu Thân, triệu tập tông thất, cận thần, quan các, Tam ty, Gián quan, Ngự sử, Pháp quan, Kinh phủ quan đến điện Chân Du xem tượng đạo, mỗi người ban một bộ 《Thánh tổ giáng lâm ký》.
[78] Ngày Kỷ Dậu, dời Bộ thự ty Bân Ninh Hoàn Khánh lộ đến Khánh Châu. Ty này trước đặt ở Bân Châu, do Tào Vĩ nói rằng nó cách biên giới hơi xa.
[79] Chiếu cho Thẩm quan viện: “Các chức Chuyển vận sứ phó, Đề điểm hình ngục, quan lại trong ngoài mang chức ở Lưỡng tỉnh đài quan cùng các quan kinh triều, nếu đã chuyển chức được ba năm trở lên, nếu ở ngoài thì các nơi thu nhận văn trạng các nhiệm kỳ trước, gửi về Thẩm quan viện để khảo xét tiến trình. Nếu có người được thay về kinh hoặc đang tại chức ở kinh, cũng khảo xét dẫn kiến. Nếu ở kinh đã ba năm đã khảo xét chuyển chức, hoặc vẫn giữ chức cũ, thì đợi khi được thay và đủ ba năm trở lên, lại hợp khảo xét, theo lệ thi hành. Nếu trong ngoài có người chưa khảo xét, gặp khi triều đình sai sứ, nếu hợp khảo xét, thì khảo xét trước. Nếu trước đây đã khảo xét chuyển chức được bảy năm, đã từng tâu lên, hoặc vì công việc bị giáng chức, chuyển nhiệm không theo lệ khảo xét, thì không thuộc trường hợp này.”
(Hội yếu, ngày 24 tháng 6 năm Thiên Hi thứ 3, Thực lục không chép, nay phụ vào ngày Kỷ Dậu tháng này.)
Thẩm quan viện tâu: “Theo chiếu chỉ khảo xét các quan lại trong ngoài, cần phải trình bày rõ việc xin khảo xét các quan lại đang làm việc tại kinh đã được khảo xét và thăng chức, vẫn tiếp tục công việc hiện tại, đợi khi thay thế và đủ ba năm sẽ được khảo xét lại. Xin xem xét nếu hiện đang làm việc chưa kết thúc, thì theo chiếu chỉ trước, đợi khi thay thế sẽ khảo xét. Nếu triều đình đặc biệt lưu lại một nhiệm kỳ, hoặc ấn định thời gian lưu lại, mong rằng cứ mỗi ba năm cũng được khảo xét.
Lại nữa, quan lại kinh đô dù đã thăng chức đủ ba năm, đã từng được khảo xét và dẫn kiến, hoặc đã trình tên và đủ bảy năm xin tâu, dù chưa thăng chức, mong rằng từ khi khảo xét lần trước, tính lại ba năm mới được khảo xét. Nếu chưa được chỉ dụ, hoặc có chỉ dụ đặc biệt cho khảo xét, thì không thuộc trường hợp này.
Lại nữa, các quan lại kinh đô đang làm việc, từ khi có chiếu chỉ trước khi nhậm chức, thì theo chiếu chỉ trước mà khảo xét, sau khi có chiếu chỉ mới nhậm chức, trong khoảng thời gian đó có nhiều người đã thay đổi chức vụ đủ ba năm, xin xem xét trước khi nhậm việc, dù chưa đủ điều kiện khảo xét, mong triều đình xem xét, nếu sau khi nhậm việc đủ một hoặc hai năm, không có thiếu sót gì, thì cho phép tính cả thời gian trước đó, cũng được khảo xét.”
Chiếu rằng: “Các quan lại khảo xét lịch sử công vụ, hãy để viện này cùng trình bày rõ các công tội đã khảo xét trước đây. Sau khi có chiếu chỉ mới nhậm chức, thay đổi chức vụ đủ năm năm, làm việc đủ một năm, hoặc thay đổi chức vụ đủ ba năm, làm việc đủ hai năm, đều được đặc cách khảo xét. Còn lại đều theo tâu.”
(Hội yếu, việc tháng 7 năm Thiên Hi thứ 3, nay phụ lục sau ngày 24 tháng 6, cần sửa chữa mới được. Ngày 6 tháng 9 năm Thiên Thánh thứ 3 mới sửa đổi nghị định này.)
[80] Ngày Giáp Dần, Trưởng Thanh quận chúa mất, là con gái lớn của Tần Điệu Vương, gả cho Trang trạch sứ Điền Thủ Tín. Các quan tâu rằng, lễ phục tiểu công nên giảm bớt, nhưng Vua đặc biệt đến viếng và bãi triều. Trong tiệc mừng tiết Tiên Thiên, quần thần dâng lời chúc thọ, không cử nhạc, cho hai con của bà được ghi tên vào sổ và thăng chức.
(Con của Trọng Tiến, đã ghi trong năm Thuần Hóa thứ 4.)
[81] Tháng đó, Đồn điền viên ngoại lang, phán Tam ty Khai sách ty Phạm Ung tâu rằng từ nay các quan Gián quan, Ngự sử kiêm chức khác, xin cho họ vẫn giữ chức cũ và xin thêm chức Gián quan. Vua ra lệnh chọn người khác làm Gián quan, Ngự sử.
(Theo《Hội yếu》, cần tra cứu thêm. Tên các Gián quan, Ngự sử kiêm chức khác, ghi vào ngày Ất Hợi và Tân Tỵ tháng 5.)
[82] Chiếu chọn các triều thần sáng suốt, mạnh mẽ làm tri quân Vân An, không bổ nhiệm các quan thuộc hàng Bàng, theo lời thỉnh cầu của Chuyển vận sứ Điêu Trạm.
- Quách Chẩn nguyên bản viết là 'Quách Trinh', căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và 《Trị tích thống loại》 quyển 28, 《Tống sử》 quyển 294 truyện Vương Chu sửa lại. Dưới đây cũng sửa tương tự. Xét Quách Chẩn, 《Tống sử toàn văn》 quyển 6 viết là 'Quách Chẩn', 《Tống sử》 quyển 8 kỷ Chân Tông viết là 'Quách Chẩn', 《Tục thông giám》 quyển 34 thì giống nguyên bản viết là 'Quách Trinh'. Nguyên chú trong sách này viết: 'Quách Chẩn có truyện, người Tường Phù, e rằng đây là một người khác.' Như vậy, Quách Chẩn được ghi trong sách này và Quách Chẩn người Tường Phù chắc chắn là cùng tên. Tra 《Tống sử》 quyển 301 truyện Quách Chẩn: Chẩn tự Trọng Vi, người Khai Phong Tường Phù. Mồ côi từ nhỏ, mẹ đi lấy chồng khác. Khi mẹ mất, Chẩn từ quan để chịu tang. 《Tống hội yếu》 Lễ 36.10 và sách này quyển 117 ngày Tân Dậu tháng 8 năm Cảnh Hựu thứ 2 đều ghi chép việc này, đều viết là 'Quách Chẩn'. Nhưng phần sau không có việc Chẩn mạo tang đi thi bị kiện, phần trước cũng không ghi việc từ quan để chịu tang cho mẹ đi lấy chồng khác. Như vậy, nguyên chú nói có hai người cùng tên, có lẽ không phải là suy đoán. ↵
- Văn bia mộ ghi là tang dì, các bản đều giống nhau. Tống bản và Tống toát yếu bản không có chữ 'dì'. ↵
- lại sai trung sứ hộ tống tang lễ về, chữ 'sứ' dưới nguyên có chữ 'tốt', theo 《Tống sử》 quyển 257, truyện Lý Kế Xương mà bỏ. ↵
- Phối làm lính ở Hải Châu 'bản thành', 《Tống hội yếu》 chức quan 25-7 chép là 'lao thành'. ↵
- chữ 'quan' dưới nguyên có thêm chữ 'tái', theo 《Tống hội yếu》 chức quan 64-24 mà bỏ. ↵
- chữ 'đẳng' nguyên là chữ 'sai', theo sách trên mà sửa. ↵
- chữ 'phóng' nguyên là chữ 'cố', theo các bản khác mà sửa. ↵
- những người cùng ký đơn bị đình chỉ một kỳ thi, 'một kỳ' trong 《Tống hội yếu》 chức quan 64-25 chép là 'hai kỳ' ↵
- Biến loạn bất ngờ 'Biến loạn' nguyên tác 'Loạn biến', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 24 Chu Năng ngụy tạo thiên thư, 《Tống sử》 quyển 431 Tôn Thích truyện sửa lại ↵
- Thì sai 'Sai' nguyên tác 'Ngộ', theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 sửa lại ↵
- Toại dữ đề điểm hình ngục quan lý trọng dung tấu luân hữu san thượng ngữ 'tấu' hạ nguyên hữu 'luận' Tự, cứ tống bản, tống toát yếu bản, các bản cập tống sử quyển tam○ Lục thích luân truyền san. ↵
- Sau đó lại có thêm phương pháp chia bốn phần, bao gồm cả muối 'Sau' chữ nguyên bản thiếu, 'muối' nguyên bản viết là 'cái', căn cứ theo 《Bút đàm》 quyển 11, mục Quan chính 1 bổ sung và sửa lại. ↵
- Sau đó mới nghe theo tiện địch và trực tiện 'Và' nguyên bản viết là 'tiền', căn cứ theo bản các và 《Bút đàm》 dẫn trên sửa lại. ↵
- Chữ 'Diệp' trong câu 'Diệp thường dâng sớ bàn việc' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Tống sử》 quyển 262, truyện Lưu Diệp bổ sung. ↵
- Chữ 'Tần' trong câu 'Nay Diệp cùng Bình, Tần đều kiêm nhiệm chức ở các bộ' vốn viết là 'Loại', nay căn cứ vào bản Tống và bản tóm tắt Tống sửa lại. ↵
- 'Chân Dương' nguyên bản là 'Chân Dương'. Xét ra, Chân Dương thời Tống là huyện thuộc Thái châu, không phải nơi thông thuyền chở lương. Căn cứ theo ý nghĩa đoạn văn sau, 'Chân Dương' nên chỉ Chân châu và Dương châu, chữ 'Dương' là sai, nay sửa lại. ↵
- Chữ 'chiếu' nguyên bản thiếu, nay căn cứ theo bản Tống và bản Tống toát yếu bổ sung. ↵
- Chữ 'phàm' trong câu 'đến nay được 14 năm' vốn bị thiếu, nay căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác mà bổ sung ↵
- Dân chúng tranh nhau dâng vàng bạc, chữ 'tranh' nguyên bản là 'đẳng', căn cứ theo sách trên và 《Tống sử》 quyển 324, truyện Lý Doãn Tắc sửa lại. Xem 《Đông đô sự lược》 quyển 29 và 《Long bình tập》 quyển 16, bản truyện của Doãn Tắc đều ghi 'dân gian tranh nhau dâng đồ vàng bạc'. ↵
- Chữ 'hạ' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản tóm tắt Tống và 《Tống sử》 bổ sung. ↵
- 'ban đêm' chữ 'dạ' nguyên bản thiếu, căn cứ theo sách trên bổ sung. Xem lại sách 《Đông Đô Sự Lược》 và 《Long Bình Tập》 đều ghi là 'cho dân chơi đêm'. ↵
- 'tràn vào thành châu' theo 《Tống hội yếu》 phương vực 14-7 chép là 'nước tràn vào thành châu', 《Tống sử》 quyển 91, Hà cừ chí chép là 'nước tràn ngập thành châu'. ↵