"

III. TỐNG CHÂN TÔNG

QUYỂN 95: NĂM THIÊN HI THỨ 4 (CANH THÂN, 1020)

Từ tháng giêng năm Thiên Hi thứ 4 đời Chân Tông đến hết tháng 6 cùng năm.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Mậu Ngọ, vì sắp đắp đê ngăn sông vỡ ở Hoạt Châu, Vua sai Hàn lâm học sĩ Thịnh Độ đi xe trạm đến làm lễ tế.

[2] Ngày Ất Sửu, phong Hoa Châu Quan sát sứ Tào Vĩ làm Tuyên huy Bắc viện sứ, Trấn Quốc quân Lưu hậu, Thiêm thư Xu mật viện sự. Việc Thiêm thư kiêm lĩnh phiên trấn bắt đầu từ Tào Vĩ.

(Việc sứ kiêm lĩnh bắt đầu từ Tào Bân.)

[3] Lại bộ Lưu nội tuyển tâu: “Các quan hàm thí là Trai lang, người được tấu thụ xuất thân là Bạch y tuyển nhân, chưa từng trải qua chức vụ, không có gì để thăng giáng. Xin từ nay không cần dẫn đối, cứ theo cách sắc mà chú nghĩ.”

[4] Tri chế cáo Lữ Di Giản tâu rằng, các châu quân tiếp nhận sắc chỉ tiếp theo, phần lớn thiếu biên soạn ghi chép, mong lệnh cho các lộ Đề điểm hình ngục ty thường xuyên kiểm tra. Vua đồng ý.

[5] Ngày Bính Dần, lệnh cho Lợi Châu lộ Chuyển vận ty chẩn cấp cho dân nghèo, vì hạn hán.

[6] Ngày Kỷ Tỵ, Vua ngự đến Nguyên Phù Quan và Tư Thiện Đường.

[7] Ngày Tân Mùi, Phủ Diên Bộ thự tâu rằng tộc người Hữu Châu là Lạp Nhi dẫn quân cướp bóc tộc Mị Ngụy là dân thuộc hạ. Giám áp huyện Kim Minh, Diên Châu, Tây đầu Cung phụng quan Lý Sĩ Bân đem quân đánh, chém được Lạp Nhi, chặt đầu hơn 70 người, cướp được 300 con ngựa, bắt sống toàn bộ quân địch. Vua hạ chiếu cho Bộ thự ty báo việc này cho Triệu Đức Minh. Thăng Lý Sĩ Bân làm Đô giám, thêm chức Đông đầu Cung phụng quan, Cáp môn Chi hậu; em Sĩ Bân là Điện trực Lý Sĩ Quân làm Hữu Thị cấm, vẫn giữ chức Đề điểm tộc trướng sự như trước. Bổ nhiệm người tộc Sắc Y Lạt Lặc làm Quân chủ, những người khác thăng chức theo thứ bậc, ban cho y phục, trà, lụa và bổng lộc.

[8] Vua hạ chiếu: “Những dân gian lập khế ước ruộng đất giả, nhờ cậy vào thế lực của các hộ có quan chức để trốn thuế, hạn trong 100 ngày phải tự thú, đổi hộ để nộp thuế. Hết hạn mà không thú, cho phép người khác tố cáo, quan chức thì tước bỏ chức tước, người khác thì xử phạt. Nơi nào cũng phải dán bảng cáo thị.”

[9] Ngày Bính Tý, đổi chức Đề điểm hình ngục các lộ thành Khuyến nông sứ, Phó sứ kiêm Đề điểm hình ngục công sự. Vẫn ban chiếu đến nơi lấy sổ dân, xem xét sự chênh lệch, nếu có ai không đúng quy cách thì trừng trị cải cách. Khuyên nhủ nông dân cày cấy đúng thời vụ, chiêu tập những người bỏ trốn, kiểm tra thu thuế, tất cả các việc liên quan đến nông nghiệp đều do họ quản lý. Vẫn ban tặng mỗi người một bộ sách 《Nông điền sắc》.

[10] Chiếu cho Ty tuyển bổ tăng thêm chức quan mạc ở các châu Quế, Quảng thường đến năm người, chọn người trẻ tuổi có năng lực để bổ nhiệm, ngoài việc đảm nhiệm chức vụ chính, còn phải sẵn sàng để Ty chuyển vận và Ty hình ngục sai khiển.

[11] Ngày Canh Thìn, ban chiếu: “Các châu ở Tam Kinh chọn những người đỗ tiến sĩ, các khoa thi ba lần trở lên, từng qua kỳ thi của triều đình mà không phạm tội, xét tài nghệ, chọn người có tài viết chữ đẹp, giải về kinh, sẽ bàn bạc để bổ nhiệm vào hàng quan. Nếu số người từng qua kỳ thi của triều đình ít, cho phép chọn những người đỗ năm lần trở lên, những người thi ở Nam Tỉnh nhưng không đỗ, để bổ sung.”

[12] Ngày Tân Tỵ, sai Hữu gián nghị đại phu Trương Sĩ Tốn đến châu Hoạt tế sông. Chiếu cho Phùng Thủ Tín đợi khi sông yên, để lại một vạn quân bảo vệ.

[13] Tháng 2, ngày Quý Mùi mùng một, vì giá lúa ở Hoài Nam, Giang, Chiết đắt đỏ, dân đói kém, sai Đô quan viên ngoại lang Hàn Ức, Cáp môn chi hậu Vương Nhược Nột đi xe trạm đi an ủi, mở kho thường bình bán thóc giảm giá để cứu đói. Dân nào có lương thực cứu giúp mọi người, sẽ được ban thưởng. Những kẻ đói khát cầm vũ khí cướp lương thực, đều giảm tội.

[14] Ngày Ất Dậu, Quảng Châu báo nước Chú Liễn sai sứ đến cống phương vật, sứ giả đến châu thì chết, đem biểu văn dâng lên. Chiếu cho châu đó yến tiệc khao thưởng bộ hạ, ban tặng khí tệ, tiền rồi cho về.

[15] Ngày Đinh Hợi, Hộ bộ viên ngoại lang kiêm Thái tử Hữu dụ đức Lỗ Tông Đạo tâu: “Thần thấy Trại chủ Đại Châu là Ngô Thái Sơ vì bắt được muối tư mà bị xử phạt, bị cách chức Điện trực; Điền Mộng Trạch ở công đường dạy học trò trồng nửa mẫu lúa mạch, đều bị xử tội tham nhũng không được phục chức. Thần nghĩ rằng trong thiên hạ, quan lại như thế này rất nhiều. Lo rằng sẽ gây phiền nhiễu như cỏ thu, làm tổn hại đến sự giáo hóa của triều đình. Xin giao cho Hình bộ từ nay, ngoại trừ những quan lại cố ý phạm tội tham nhũng, những người vì việc mà tính tội tham nhũng, nếu có tình tiết đáng thương thì xin tâu lên để xét xử.” Vua đồng ý.

Tông Đạo lại tâu: “Thần trước đây làm Phán quan ở Hấp Châu, vì tội mượn trước lương bổng mà bị phạt 6 cân đồng. Khi đến điều chức, Hình bộ định là tội công, còn Đại Lý định là tội tư. Đến khi xét lại, Hình bộ lại đổi thành tội tư, Đại Lý lại đổi thành tội công. Hai cơ quan thay đổi lẫn nhau, gần như trò đùa, chỉ khiến cho người được tuyển dụng bị chậm trễ và tốn kém. Xin từ nay, nếu người được tuyển dụng có tội, hãy giao cho Thuyên tào chỉ hỏi một trong hai cơ quan là Hình bộ hoặc Đại Lý tự, để tránh bị chậm trễ.”

Vua xuống chiếu cho Thuyên tào từ nay, nếu Hình bộ và Đại Lý tự định tội danh không thống nhất, thì giao cho Thẩm hình viện xét lại nhanh chóng và tâu lên.

(Việc định tội danh xảy ra vào ngày Tân Dậu tháng 5, nay ghi chung vào đây.)

[16] Ngày Mậu Tý, các tăng nhân giảng kinh ở Hữu nhai là Bí Diễn dâng biểu xin cho các bài văn thánh chế và kinh điển Phật giáo được tăng nhân chú giải và đưa vào Đại tạng. Các quan căn cứ theo việc cũ thời Thái Tông, xin cho phép. Vua đồng ý, lại sai cận thần xét lại kỹ lưỡng, và giao cho trung quý nhân đảm nhiệm việc này.

[17] Ngày Tân Mão, Tham tri chính sự Lý Địch và các quan dâng lên 30 quyển sách mới biên soạn về các điều lệnh của một châu và một huyện.

(Bản chí ghi là một châu và một huyện[1], Hội yếu cũng nói là một ty, một vụ, một châu và một huyện, nay theo bản chí.)

[18] Từ bộ viên ngoại lang, Bí các hiệu lý Lý Thùy tâu: “Theo chiếu, đến Đại Danh phủ, Hoạt, Vệ, Đức, Bối châu, Thông Lợi quân, cùng với các trưởng lại tính toán việc khơi thông và ngăn chặn dòng sông xem có trở ngại gì không.

Thần đi đến nơi, đều nghe nói nước sông Hoàng Hà chảy vào sông Vương Mãng Sa, cùng với sông Tây Hà cũ đổ vào sông Kim, Xích Hà, chắc chắn lo ngại nước lớn mênh mông, ngập hại ruộng dân, khó lòng đắp đê phòng ngừa. Thần cho rằng nơi sông chảy qua, không thể không gây hại, nếu sớm sai người khơi thông trị thủy, thì các trưởng lại ở bản châu không thể chuyên quyền trên đất phong của họ. Nay, sông đã vỡ đê chảy về phía nam[2], gây hại đã nhiều, lại thêm phía đông đập Dương Vũ, phía tây đập Thạch Yển, địa hình thấp trũng[3], việc thoát nước về phía đông lại khó.

Có người nói chỗ vỡ đê hiện nay đáy sông sâu thẳm, dòng cũ chảy ngược lên, nếu bịt lại, chắc chắn sẽ vỡ chỗ khác. Như vậy, việc bàn bịt sông quả thật là khó. Nếu vỡ đê chảy về phía bắc, tuy gây hại ít hơn, nhưng một khi nước sông đổ vào sông Ngự, cuốn trôi sông Dịch, chảy qua quân Càn Ninh vào cửa Độc Lưu[4], sẽ đến biên giới địch.

Có người nói việc này sẽ làm rung động biên cương. Như vậy, việc bàn khơi thông sông lại càng khó hơn. Thần ở giữa hai cái khó, liền vạch ra một kế, xin từ thượng nguồn dẫn nước về phía bắc, đưa lên chỗ cao, về phía đông đến Đại Phi, rồi đổ vào dòng cũ ở Thiền Uyên, khiến phía nam không đến Hoạt châu, phía bắc không ra khỏi địa giới Thông Lợi quân[5].

Làm sao tính được? Thần xin từ phía đông giới Vệ châu, chỗ lồi lên ở bờ bắc sông cách kênh đào của Tào công năm dặm[6], dựa vào bờ đắp đất chắc, dẫn nước về chính bắc gần phía đông mười ba dặm, phá đê cổ của Bá Vũ, đổ vào đầm Bùi Gia, chảy qua đầm Mục Mã.

Lại về chính đông gần phía bắc bốn mươi dặm, đào núi Đại Phi, Tây Sơn[7], chia làm hai kênh, một kênh ép sát chân núi Đại Phi về phía nam, phá đê cổ, về chính đông tám dặm lại vào dòng cũ ở Thiền Uyên; một kênh ép sát cửa sông Khúc Hà phía bắc thành Thông Lợi quân, đến dòng cũ sông Tây Hà mà Đại Vũ đã đào, về chính bắc hơi chếch đông mười dặm, đào đê lớn nam bắc. Lại về phía đông bảy dặm vào dòng cũ ở Thiền Uyên, hợp với kênh phía nam. Như vậy, thì đưa nước lên chỗ cao về phía bắc[8], hai núi Đại Phi ở giữa như đùi vế, chia bớt thế nước, khơi thông hai kênh, đổ về đông bắc, không xa ba mươi dặm, lại hợp với dòng cũ ở Thiền Uyên, thì Hoạt châu không cần trị cũng tự khô.

Còn Thông Lợi quân, như thành giữa Hà Dương ở giữa hai sông, thêm hai núi Đại Phi ở giữa làm chỗ vững chắc, không thể hư hỏng được. Triều đình nếu muốn làm từ từ và hoàn thành chậm, trước hãy khơi thông một kênh ở chân núi Đại Phi về phía nam, thì Hoạt châu cũng đã không còn lo ngại.

Thần xin dùng hai vạn binh phu, từ tháng hai năm sau bắt đầu làm, trừ nửa công việc trong ba tháng hè, đến tháng mười thì xong. Việc san đều chỗ dày chỗ mỏng[9], đợi năm sau cũng được.”

Tấu dâng lên, triều nghị sợ phiền nhiễu[10], bãi bỏ.

[19] Ngày Quý Tỵ, vì dân chúng ở hai châu Giai, Thành thuộc lộ Lợi Châu bị đói kém, triều đình sai Thị ngự sử Khương Tuân và Cáp môn chi hậu Trương Sĩ An đi ngựa trạm đến vỗ yên dân chúng.

(Trương Sĩ An, chưa rõ lai lịch.)

[20] Ban chiếu cho Tri châu Kỳ Châu được vào triều từ biệt và lên điện tâu việc khi nhậm chức. Lúc đó, triều đình bổ nhiệm Cung phụng quan, Cáp môn chi hậu Trương Đạm Thành làm Tri châu. Theo lệ cũ, Tri châu không được lên điện, nhưng vì Trương Đạm Thành xin, nên đặc cách ban chiếu này.

(Theo 《Hội Yếu》, việc này xảy ra ngày 13 tháng 2. Trương Đạm Thành, cần tra cứu thêm.)

[21] Ra lệnh cho ba châu Tịnh, Đại, Hãn bán thóc ở kho Thường bình với giá rẻ để cứu đói dân chúng.

[22] Ngày Giáp Ngọ, Dương Quang Phụ, người am hiểu chín kinh ở núi Mã Kỳ, huyện Cử, châu Mật, được bổ làm Quốc tử Tứ môn trợ giáo, ban thêm lụa, và ra chiếu cho quan địa phương thường xuyên thăm hỏi.

Quang Phụ đã mở lớp dạy học hơn ba mươi năm, Tri châu Vương Bác Văn tâu lên, nên được bổ nhiệm làm quan. Vùng ven biển có trường muối, năm đói kém, dân chúng buôn bán muối lậu, quan lại bắt giữ thì họ nổi dậy chống cự, đều bị xử tử. Bác Văn xin nới lỏng lệnh cấm muối, đợi năm được mùa sẽ khôi phục lại. Triều đình đồng ý.

(Việc nới lỏng lệnh cấm muối không rõ ngày tháng, nay phụ chép vào đây.)

[23] Ngày Bính Thân, ban chiếu cho các châu Tào, Bộc, Vận, Đơn, Từ và quân Hoài Dương chẩn cấp cho dân nghèo, vì sông Hoàng Hà vỡ đê gây tai họa.

[24] Ngày Đinh Dậu, bổ nhiệm Xu mật trực học sĩ, Tả ty lang trung, Tri châu Tần Châu Lý Cập làm Hữu gián nghị đại phu, vẫn giữ chức vụ cũ.

[25] Châu Hoạt tâu rằng đê sông đã được đắp xong, ban chiếu khen thưởng. Ngày Kỷ Hợi, sai Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Triều Huýnh làm lễ tế. Lại sai quan đến tạ ơn tại các cung quán trong kinh thành, các lăng tẩm, núi sông linh thiêng và danh thắng.

[26] Ngày Canh Tý, quần thần xin đến điện Sùng Đức chúc mừng. Ban thưởng cho các quan lại, sứ thần thuộc bộ thự, kiềm hạt, chuyển vận, đô giám phụ trách việc đắp đê y phục, đai vàng bạc, đồ dùng và tiền lụa, tướng sĩ được tiền kẽm theo thứ bậc. Việc này, tổng cộng thu từ các châu củi, đá, cọc, tre, cỏ số lượng một nghìn sáu trăm vạn, dùng chín vạn dân phu. Vua tự soạn văn bia khắc đá để ghi công.

(Sách 《Lý Nhược Cốc truyện》 chép: Nhược Cốc làm Kinh Đông chuyển vận sứ. Sông vỡ đê Bạch Mã, điều lấy cỏ và cọc. Đồng liêu là Lô Sĩ Luân theo ý Tam Ty, hà khắc quấy nhiễu châu huyện, Nhược Cốc khoan dung. Sĩ Luân không vui, gièm pha với triều đình, điều Nhược Cốc làm Tri Thiểm Châu. 《Thực lục》 không chép việc này, nay không theo.)

[27] Ngày Tân Sửu, lệnh cho tám châu Đường, Đặng mở kho thường bình bán thóc giảm giá để cứu tế dân nghèo.

[28] Ngày Nhâm Dần, chiếu rằng: “Những binh lính trốn chạy vì việc đắp đê ở Hoạt Châu, hạn trong hai tháng phải ra đầu thú, sẽ được cấp lương thực đầy đủ, đưa về quân cũ. Những người bị bộ thự ty điều đi vì phạm tội cũng được đưa về nguyên quán. Nơi nào cũng phải dán bảng cáo thị cho biết.”

[29] Hộ bộ viên ngoại lang, tri chế cáo Lý Tư không được Khấu Chuẩn coi trọng, mỗi lần soạn thảo văn từ, đều bị bác bỏ nhiều lần, bắt phải thay đổi mới thôi.

Tư từng dùng chữ “Thục thận”, Chuẩn gạn hỏi rằng: “Thục thận là việc của phụ nữ.” Tư cầm sách Mao Thi đến cửa khuyết trình lên Chuẩn nói: “『Thục thận quân tử, kỳ nghi bất thắc』, đây nào có phải việc của phụ nữ?” Chuẩn tính cố chấp, lại còn chê bai thêm, cuối cùng bắt phải sửa lại. Tư vì thế tích tức giận, lại vì cha còn ở quê nhà, xin ra ngoài.

Ngày Ất Tỵ, sai Tư làm tri phủ Kinh Nam, thay cho cấp sự trung Nhạc Hoàng Mục làm tri châu Đàm[11]. Trường Sa trước đây lương tháng ít hơn Kinh Chử, đặc chiếu tăng thêm, lại dụ rõ ý giao phó việc binh phú phức tạp.

[30] Chiếu các châu những thứ cần dùng như gạo nếp vàng để nấu rượu, hoa hồng để nhuộm, cỏ tía, v.v., từ nay nhân lúc thuận tiện mua sắm, không được bắt ép dân nghèo.

[31] Ngày Bính Ngọ, châu Minh tâu rằng dân đảo Giáp Cốt của Cao Ly là Khoát Đạt bị gió đưa thuyền dạt vào bờ huyện Định Hải. Chiếu cho châu ấy hỏi thăm, cấp lương đi biển rồi cho về, từ nay gặp trường hợp tương tự, cứ theo lệ cấp phát rồi tâu lên.

[32] Ngày Kỷ Dậu, Mã quân đô ngu hậu, kiêm Đại phó đô bộ thự Dương Sùng Huân được làm Khách tỉnh sứ[12], vẫn giữ chức Anh Châu phòng ngự sứ, kiêm Quần mục sứ, cùng quản lý Tam ban viện, Hoàng thành ty, lương tháng theo lệ của quản quân phòng ngự sứ.

Ban đầu, chức Quần mục sứ đều do văn thần đảm nhiệm, chỉ có Sùng Huân từ chức Đô giám đến khi làm sứ tổng cộng chín năm. Khi ấy thiên hạ đã lâu không có chiến tranh, có người đề nghị bán ngựa trong chuồng, Sùng Huân nói: “Ngựa là vật dụng chiến tranh. Dù không có việc gì, có thể bỏ đi sao?” Do đó tấu chương ấy bị bãi bỏ.

[33] Ngày Canh Tuất, ban cho Quang lộc tự thừa Thẩm Duy Ôn danh hiệu đồng tiến sĩ xuất thân. Duy Ôn là cháu của Thẩm Luân, dâng lên sách do Thái Tổ, Thái Tông và Thẩm Luân đề tựa, xin ban cho danh hiệu khoa bảng.

[34] Tháng 3, ngày Mậu Ngọ, dân châu Truy bị đói, cho vay lương thực và trâu.

[35] Xuống chiếu rằng từ nay các quan từ Hàn lâm học sĩ trở xuống đến Long đồ các trực học sĩ trở lên, nếu chưa đến chức Cấp gián, khi được ban ân phong mẹ và vợ, đều theo lệ của Cấp gián. Ban đầu, Vương Thự đã cải cách chế độ cũ, Thịnh Độ lúc làm Binh bộ lang trung kiêm Học sĩ, nhân đó xin phong cho mẹ, được chấp thuận[13], nên ban chiếu này. Sau đó, Thiên chương các trực học sĩ cũng được áp dụng như Long đồ các trực học sĩ.

[36] Ngày Canh Thân, Khả hãn nước Hồi Cốt ở Cam Châu là Dạ Lạc Cách Quy Hóa sai sứ đến cống.

[37] Ngày Giáp Tý, lệnh cho châu Phủ chẩn cấp và cho vay lương thực cho các bộ lạc người Phiên, vì năm ngoái bị hạn hán.

[38] Ngày Ất Sửu, Hữu ty gián, Trực tập hiền viện Tổ Sĩ Hoành tâu: “Thần thấy trong các buổi yến lớn, khi Hoàng đế thay y phục và xuống ngồi, quần thần tạ ơn ban hoa, chỉ lạy tại chỗ ngồi. Xin từ nay mỗi lần thay y phục, quan phụ trách hướng dẫn quần thần xuống điện, đợi Hoàng đế xuống ngồi, thì quần thần xếp hàng ở sân điện; khi Hoàng đế lên ngồi mới lên điện, nếu ban hoa thì lạy ở sân.

Lại nữa, ngày thường triều hội ở điện Trường Xuân, Sùng Đức, ngày nghỉ ở hậu điện, Trung thư, Xu mật viện văn võ hợp ban, nhưng chỉ có một viên Cáp môn chi hậu đứng trước, theo ban lạy hai lần, đứng nghiêng xướng lệnh[14]. Theo ý thần, điều này chưa hợp lễ nghi. Xin từ nay cho thông ban, Cáp môn chi hậu ở tiền điện thì cùng với Nội điện cung phụng quan trở xuống đồng khởi cư, ở hậu điện thì cùng với Quân đầu ty quan đồng khởi cư, sau đó đứng ở sân điện xướng lệnh.” Được chấp thuận.

[39] Ngày Mậu Thìn, đổi Trinh Châu thành Huệ Châu.

[40] Bãi bỏ việc cấp muối tằm cho Dương Châu một năm, theo lời thỉnh cầu của Hàn Ức.

[41] Ngày Canh Ngọ, chiếu cho Thẩm quan viện, Lưu nội tuyển, từ nay những quan lại người Xuyên Hạp có khoa danh, từng giữ chức không phạm tội tham nhũng, được tiến cử, trong ba nhiệm kỳ cho phép một nhiệm kỳ được làm quan cách quê nhà hơn 300 dặm. Những người già về hưu cũng được phép về quê.

[42] Ngày Nhâm Thân, lệnh cho Tây Lương phủ[15] người Hồi Cốt, từ nay việc cống phẩm đều qua đường Tần Châu.

[43] Tần Châu tâu, bộ lạc Phiên là A Tư Đạc nộp con tin xin quy thuận.

[44] Trước đó, triều đình ban chiếu rằng những năm gần đây số cử nhân ở phủ Khai Phong tăng lên, dẫn đến nhiều vụ kiện tụng, nên lệnh cho Hàn lâm học sĩ thừa chỉ Triều Huýnh cùng các quan bàn định điều lệ.

Triều Huýnh và các quan tâu rằng: “Các châu, cử nhân phần nhiều vì có tang chế, khó được giải thí ở quê nhà, nên đổ xô về kinh đô, nhập tịch để ứng thí. Số người đông, lẫn lộn vào nhau. Các cơ quan chỉ xét tài nghệ, khi giải thí, số người bản địa trong phủ được ghi tên rất ít, tranh cãi nảy sinh cũng do đó. Xin từ nay, những người có tang chế đối với người thân thuộc hàng thấp hơn, cho phép được giải thí. Những người ứng thí không có hộ tịch, cho phép mời quan viên bảo lãnh, ngoài số người có hộ tịch trong phủ, lập riêng tỷ lệ tiến cử.”

Triều đình nghe theo, và lấy 3/10 số tiến sĩ và 5/10 số các khoa trong số người nhập tịch năm Đại Trung Tường Phù thứ 7 để giải thí. Ngày Quý Dậu, ban chiếu rằng từ nay các châu ở Xuyên Hạp, Quảng Nam ngoài việc giải thí cử nhân hợp cách theo quy định trước, nếu có người tài nghệ xuất sắc, đều được tiến cử.

(Bản chí không ghi về Quảng Nam, cần xem xét. Lại cần xem xét số lượng cử nhân hợp cách ban đầu.)

[45] Ngày Ất Hợi, vì giá cả ở các lộ Ích, Tử Châu tăng cao, lệnh cho Tri chế cáo Lữ Di Giản và Dẫn tiến phó sứ Tào Nghi đi thăm hỏi, cứu tế. Di Giản xin rằng đến nơi nào cũng thăm hỏi quan lại, tướng hiệu, lại xét tù nhân cùng với trưởng quan xem xét tình hình để xử nhẹ, dân chúng nào tự nguyện xuất thóc cứu đói thì theo chiếu trước mà ban thưởng, xin cấp sắc chỉ trống để mang theo. Triều đình nghe theo.

[46] Ngày Bính Tý, ban chiếu rằng từ nay, huyện úy nào bắt được toán cướp giết người, nếu đủ tư cách để bổ nhiệm làm lệnh, lục thì được thụ chức Tiết độ suy quan.

[47] Ngày Mậu Dần, Tam ty tâu rằng chiếu trước cho phép các điện thị ở năm lộ Giang, Hoài, Lưỡng Chiết, Kinh, Hồ được mang theo người nhà khi vận chuyển, những người áp tải than củi ở các sông Huệ Dân, Thạch Đường, Quảng Tế, Hoàng, Ngự, Thái cũng xin cho làm theo lệ này. Triều đình nghe theo.

(Chiếu trước là ngày 28 tháng 9 năm thứ 2, xem 《Hội yếu》.)

[48] Ngày Kỷ Mão, Tả bộc xạ kiêm Trung thư thị lang, Bình chương sự Hướng Mẫn Trung qua đời. Vua lập tức đến viếng, đau xót, truy tặng ông chức Thái uý, Trung thư lệnh, thụy hiệu Văn Giản. Năm người con và các con rể đều được thăng chức, người thân tộc được bổ nhiệm làm quan cũng có mấy người[16].

Mẫn Trung tính cách đoan chính, khoan hậu, hòa nhã, nhiều mưu trí nhưng ít giao du, đặc biệt được Vua trọng dụng, nên đạt đến địa vị cao. Ông từng trải qua nhiều chức vụ trong triều đình và địa phương, thông hiểu chính sự dân sinh, giỏi xử lý công việc phức tạp, biết nhìn xa trông rộng, giữ mình kín đáo, tránh xa quyền lực[17]. Ông nhiều lần giữ chức vụ trọng yếu, nhưng cửa nhà không có kẻ tư tình đến xin xỏ, các con ông cũng không được giao việc quan. Dù gặp việc lớn, ông cũng tỏ ra như không dính líu gì.

Ông cẩn trọng trong việc tuyển chọn nhân tài, không tùy tiện tiến cử ai. Dáng vẻ uy nghi, có phong thái, giỏi biện luận, làm quan lớn gần ba mươi năm, được người đời coi là bậc đức cao vọng trọng, được Vua đối đãi ưu ái. Vì thế, dù tuổi già bệnh tật, ông vẫn không được nghỉ hưu, cũng lấy đó làm điều hối tiếc. Khi chiếu truy phong được đưa vào, Vua đặc biệt phê thêm một dòng rằng[18]: “Mẫn Trung đoan chính, cẩn thận, ôn hòa, nên thêm ý này.” Ân sủng của Vua dành cho ông là như vậy.

[49] Mùa hạ, tháng tư, ngày Nhâm Ngọ mùng một, Hàn lâm học sĩ Tiền Duy Diễn tâu: “Thần trộm nghĩ, việc triều lăng vào mùa xuân và mùa thu đã được ghi trong điển lệ cũ, các công khanh thân hành đi là để tỏ lòng tôn kính tột bậc. Từ các đời trước đến nay, quốc chương vẫn còn đó.

Vào niên hiệu Hiển Khánh đời Đường, mới ban chiếu cho Tam công đi làm việc, từ niên hiệu Thiên Bảo về sau, cũng sai công khanh đi tuần yết, vì chọn đại thần trong triều, không nhất thiết phải cùng họ với Vua. Đời Hậu Đường dùng Thái thường khanh và Tông chính khanh, đời Tấn niên hiệu Khai Vận, cũng sai Lại bộ Thị lang Lý Tường, lệ này rất nhiều.

Những năm gần đây, chỉ sai quan Tông chính tự đi, người nhẹ chức thấp, thực là làm tổn hại điển chế cũ. Mong từ nay trở đi, chọn quan trong hàng Thừa lang, các ty tam phẩm trở lên, nếu thiếu quan thì sai quan Lưỡng tỉnh Gián xá trở lên. Mong rằng để phụng sự lòng hiếu thảo truy tôn, thành tựu vẻ đẹp của việc noi theo cổ nhân.” Chiếu giao cho Hữu ty bàn định.

Lại tâu: “Theo chiếu năm Hiển Khánh thứ 5 đời Đường, Tam công đủ nghi trượng đi chia nhau đến hai lăng, Thái thường khanh làm phó. Năm Trường Khánh thứ nhất, lấy các quan Tứ phẩm trở lên của Thượng thư tỉnh và các quan Ngũ phẩm trở lên của các ty có thanh danh để sung vào. Theo 《Khai Bảo Thông Lễ》, sai Thái thường khanh và Tông chính khanh.

Nay xin theo lễ, ba lăng dùng Thái thường khanh và Tông chính khanh, nếu thiếu quan thì sai quan Tứ phẩm trở xuống của Thượng thư tỉnh, Ngũ phẩm trở lên của Lưỡng tỉnh, Tam phẩm của các ty hoặc Khanh giám. Hai viên quan chia nhau đi bái, dùng quan Ngũ phẩm trở lên của Thượng thư tỉnh.” Chiếu chuẩn y, nếu thiếu quan Khanh giám trở lên thì lần lượt sai người tạm thay.

[50] Thẩm hình viện, Hình bộ, Đại Lý tự tâu: “Từ nay trở đi, những người được cử làm Mạc chức, Châu huyện quan sung vào chức Tường đoạn, Pháp trực quan, xin cho thi năm đạo luật, lấy ba đạo trở lên, lại xét hai mươi đến ba mươi vụ án, nếu tạm hợp cách lệ thì bảo đảm tâu lên.” Theo lời tâu.

[51] Ngày Bính Tuất, sai Hàng Châu tu sửa miếu cũ của Ngô Việt vương họ Tiền, theo lời thỉnh cầu của cháu ông là Duy Diễn.

[52] Vì hạn hán, sai các cận thần chia nhau đến các cung miếu, chùa quán cầu mưa.

[53] Ngày Đinh Hợi, gió lớn nổi lên từ hướng tây bắc, cát bay cây gãy, trời tối mịt mấy khắc, sai Trung sứ đến các cung quán lập đạo tràng để trừ tà.

[54] Hàn Lâm học sĩ Thừa chỉ Triều Huýnh nhiều lần dâng biểu xin từ chức gần, ngày Canh Dần, được bổ làm Công bộ Thượng thư, Tập Hiền viện Học sĩ, phán xử Ngự sử đài Lưu ty Tây Kinh, cho phép một con làm quan ở Hà Nam để phụng dưỡng.

[55] Lệnh cho Công bộ Thị lang Dương Ức làm Hàn Lâm học sĩ.

Cuối niên hiệu Đại Trung Tường Phù, Dương Ức từ Nhữ Châu trở về, lâu không được thăng chức, có người hỏi Vương Đán: “Sao không cho Dương Đại Niên giữ chức cũ?” Vương Đán đáp: “Đại Niên trước đây vì khinh suất rời xa bên cạnh hoàng thượng, lời người đời đáng sợ, nhờ hoàng thượng luôn bảo vệ. Nay chức này muốn xuất phát từ lòng thành của hoàng thượng, để giữ vẹn tình nghĩa quân thần.”

Sau sáu năm, mới lại vào cấm thự, lệnh cho Dương Ức xếp hàng dưới Tiền Duy Diễn[19], trên Thịnh Độ. Tiền Duy Diễn nói: “Dương Ức từ niên hiệu Cảnh Đức đã làm Học sĩ, huống chi nay cùng làm quan Thừa lang với thần, mong thăng Dương Ức lên trên thần”, được chấp thuận.

[56] Chiếu rằng: “Từ nay tâu cử người được tuyển, lệnh cho Hữu ty đợi đến ngày tham tuyển mới khảo xét. Nếu có tội tư và bị thay thế không đúng thời, thì nghe theo chỉ thị riêng. Còn lại báo lên Trung thư Môn hạ cử quan cùng phán xử với quan coi thi dẫn kiến.”

[57] Chia Giang Nam Chuyển vận sứ thành hai lộ Đông và Tây, theo lời thỉnh cầu của Hộ bộ Phán quan Đằng Thiệp, để tiện việc tuần tra.

[58] Xuất 7 vạn quan tiền trong kho nội phủ giao cho Kinh Tây lộ mua lương thực cho quân.

[59] Ngày Nhâm Thìn, chiếu rằng: “Từ nay các trà trường, chợ bán độc quyền, lệnh cho Tam ty Phó sứ, Phán quan, Chuyển vận sứ phó, Chế trí trà diêm ty cử người từng làm quan không có tội tham nhũng, giám sát chợ bán độc quyền do Kinh triều quan, Điện trực trở lên sung, trà trường do Mạc chức, Lệnh lục sung.”

[60] Kinh Tây Chuyển vận sứ tâu rằng, Tri Tương Châu Hạ Tủng khuyên dân trong hạt bán 8 vạn thạch thóc để cứu đói, chiếu khen thưởng.

[61] Ngày Bính Thân, đánh chết bằng gậy cựu Huyện úy Định Đào là Ma Sĩ Dao ở Thanh Châu. Anh của y là Đại Lý bình sự đã về hưu là Sĩ An bị tước tịch, phát phối đến Đinh Châu. Cháu của y là Hữu chính ngôn trực Sử quán Ôn Thư và Thái thường thừa trực Tập hiền viện Ôn Kỳ đều bị tước chức; Ôn Thư đổi làm Thái thường bác sĩ, giám Thăng Châu lương liệu; Ôn Kỳ giám Quang Châu tửu thuế. Gia đồng Phạm Tân cùng những người khác, cùng các điển cấp của Châu viện, Tư lý viện, những kẻ mạo danh mua trường vụ, cùng Tiến sĩ Vương Khuê đều bị khắc chữ lên mặt, phát phối đến các châu quân xa xôi, ác địa ở Quảng Nam, Phúc Kiến, vào lao thành; năm mươi gia đồng bị chia ra thuộc vào các quân. Cấp cho gia đình y một khu nhà ở Lâm Truy, lấy một phần ba tài sản từ các cửa hiệu, điếm trạ để chia đều cho họ tộc, còn lại đều sung công. Những điền trang vốn do đòi nợ, thôn tính, cầm cố, cho phép chủ cũ chuộc lại.

Các chức Khuyến nông sứ phó của bản lộ, Tri châu, Thông phán của Thanh Châu đều bị giáng cấp, điều đi nơi khác.

Ban đầu, ông nội của Sĩ Dao là Hi Mộng làm việc cho Lưu Thù, giữ chức phủ duyện, chuyên lo bóc lột, thu gom của cải cho mình, thôn tính đất đai, ngang ngược, nên trở nên cực kỳ giàu có. Đến đời Sĩ Dao, nhiều đời càng thêm ngang ngược, trong quận ai cũng sợ hãi, hơn cả quan phủ. Sĩ Dao vốn không tu sửa màn trướng, lại còn tư giấu sách cấm về thiên văn và vũ khí. Cháu của y là Ôn Dụ trước đây đã có hiềm khích, thường muốn kiện y, Sĩ Dao sợ hãi, bèn nhốt y vào phòng kín, sai ba tên gia đồng là Phạm Tân thay nhau canh giữ, không cho ăn uống, vài ngày sau chết, liền thiêu xác.

Lại từng giận Trấn tướng Trương Khuê, sai gia đồng Trương Chính dẫn dân phu đợi Khuê trên đường, đánh chết, vứt xác. Một lát sau, Khuê tỉnh lại, kiện lên châu, các điển cấp đều nhận hối lộ của Sĩ Dao, bỏ tội cho y. Các quan Mục, Tể trước đây đều tỏ lễ kính trọng, chưa từng dám trái ý.

Đến khi Trấn hải tiết độ suy quan Tôn Xương làm Tri huyện Lâm Truy, căm ghét sự hung ác của y, hễ phạm tội là tra xét. Sĩ Dao thường nói to sẽ sai người ám sát Xương, Xương bèn đưa gia quyến đến ở quận khác, mỗi tối ngủ ở huyện nha, bố trí người canh gác cẩn thận. Sĩ Dao lại cùng Vương Khuê vu cáo Xương làm việc không công bằng, lại mượn tên người cùng quê mua trường vụ.

Trước đó, Thị ngự sử Khương Tuân nghe tin đồn về việc Sĩ Dao bí mật giết cháu mình, bèn tâu xin cử Giám sát ngự sử Chương Tần và Suy trực quan Giang Quân đến điều tra. (Khương Tuân hặc tội họ Ma phạm pháp, sự việc được ghi trong Thực lục vào ngày Bính Tuất tháng 2, nay ghi chép kèm theo đây.) Do đó, phát hiện thêm các tội khác, nên đều bị xử tử và phạt nặng.

Triều đình còn ra chiếu chỉ cho Hình bộ thông báo khắp ba kinh và các lộ, dán bảng cáo thị để răn dân. Khương Tuân được thăng làm Công bộ Lang trung, Tôn Xương làm Đại Lý tự Thừa, vẫn giữ chức Tri huyện Lâm Truy, để thưởng công phát hiện và trừng trị kẻ gian.

(Quốc sử chép việc Ma Hi Mộng, có lẽ dựa theo sách 《Bách Nhất Biên》 của Vương Hạo. Tư Mã Quang trong 《Ký Văn》 ghi: Năm Cảnh Đức đầu tiên, quân Khiết Đan xâm lược Thiền Châu, quân địch kéo đến Lâm Truy, họ Ma đem hơn nghìn người trong trang ấp dựa vào thành lũy để phòng thủ, nhờ vậy dân làng được cứu giúp rất nhiều. Đến nay dấu tích vẫn còn, gọi là Trại họ Ma. Khi quân địch rút lui, họ Ma thu gom khí giới nộp hết cho quan phủ, chỉ giữ lại một hai phần để bảo vệ gia đình, dân làng nhờ họ Ma mà được cứu giúp. Việc này cần xem xét thêm, có thể bổ sung. Tuy nhiên, Tư Mã Quang chép rằng Khương Tuân làm Chuyển vận sứ, muốn nhân việc này để lập uy danh, thì sai rồi. Khương Tuân thời Nhân Tông mới làm Tào vận Kinh Đông, nay không lấy.)

[62] Dân huyện Phù Lương là Tang Hữu Kim vốn là người cậy giàu hung hăng, không chịu nộp thuế. Ông ta nuôi mấy chục con chó, mỗi khi lý trưởng đến gần cổng nhà, chúng liền sủa cắn. Xung quanh tường nhà, ông ta trồng dày đặc cây quýt và bưởi, người không thể vào được. Hàng năm, lý trưởng thường phải thay ông ta nộp thuế.

Đến khi Hồ Thuận Chi người Lâm Kinh làm huyện lệnh, lý trưởng báo việc này, Thuận Chi giận nói: “Các ngươi ghen ghét giàu có của ông ta, muốn khiến ta trở thành kẻ thù của ông ta thôi, làm gì có dân của Vua mà không chịu nộp thuế? Cứ đi đốc thúc ông ta.” Lý trưởng báo là không thể. Thuận Chi sai người tay chân đi tiếp, lại báo là không thể, sai Áp ty Lục sự đi tiếp, lại báo là không thể.

Thuận Chi buồn bã nói: “Vậy thì khoản thuế này nhất định phải để lệnh tự đi đốc thúc sao[20].” Bèn sai lý trưởng lấy rơm, tự mình đến nhà ông ta, dùng rơm chặn cửa rồi đốt. Họ Tang đều chạy tán loạn, Thuận Chi ra lệnh bắt hết, đuổi về huyện, những người đàn ông trong nhà từ 16 tuổi trở lên, đều bị đánh đòn đau đớn. Rồi gọi lại bảo: “Hồ Thuận Chi vô đạo, đã đốt nhà các ngươi, lại đánh đòn đau đớn cha con anh em các ngươi, các ngươi có thể nhanh chóng đến phủ tự kiện đi.” Họ Tang đều sợ hãi khuất phục, không ai dám đến phủ. Từ đó, thuế của họ Tang luôn là người nộp đầu tiên trong huyện.

Phủ từng sai Giáo luyện sứ đến huyện, Thuận Chi nghe tin, nói: “Đây chắc chắn là muốn đến quấy rối ta.” Bèn sai người lén theo, ghi chép việc ông ta vào dịch xá, và nhận đồ cung cấp của dịch lại. Khi đến nơi, vào yết kiến, vẻ mặt rất kiêu ngạo, Thuận Chi mời ngồi, từ tốn hỏi: “Giáo luyện là chức gì?” Đáp: “Là viên chức của bản châu thôi.”

Hỏi: “Có được vào dịch xá không?” Giáo luyện sứ lúng túng nói: “Trên đường không có quán trọ, tạm dừng ở dịch xá.”

Lại hỏi: “Có được nhận đồ cung cấp của dịch lại không?” Đáp: “Trên đường không có thức ăn cho ngựa, nên nhận.”

Lại hỏi: “Có được ngồi cùng với quan được phong chức không?” Giáo luyện sứ vội xuống, xin lỗi, Thuận Chi liền xiềng lại tống giam, nhốt trong phòng tối, đặt mười vò phân xung quanh, Giáo luyện sứ không chịu nổi khổ sở, nhân lúc Thuận Chi đi qua ngục, kêu lên: “Lệnh sao không hỏi tội tôi?” Thuận Chi cười xin lỗi: “Giáo luyện đừng lấy làm lạ. Nay đang nhiều việc, chưa rảnh hỏi.” Giam mười ngày, sau đó đánh hai mươi gậy. Giáo luyện sứ không phục, nói: “Tôi là viên chức, có tội, nên chịu đòn ở châu.” Thuận Chi cười nói: “Giáo luyện làm viên chức lâu, lại không biết pháp luật, tội đánh đòn không phải đưa về châu sao?” Cuối cùng đánh đòn. Từ đó, lại phủ không ai dám quấy rối huyện nữa, châu tuy ghét ông, nhưng không thể trị tội được.

Sau đó, ông làm mạc liêu ở Thanh Châu, phát giác tội của họ Ma[21], phá tan nhà họ, đều là nhờ sức của Thuận Chi vậy.

Cao Ly từng vào cống, đi qua địa phận châu, các quan trung quý nhân coi đó là việc trọng đại, bắt quan châu bái lạy ở ngoài thành. Thuận nói: “Thanh là trấn lớn. Thời Đường kiểm soát Tân La, Bột Hải, dù Vua nước ấy đến cũng phải giữ lễ ngang hàng. Nay gặp bồi thần, sao lại hạ mình đến thế!” Chỉ mình ông không lạy, bèn dâng sớ biện luận, triều đình cho là phải. Sau khi giết họ Ma, Vua nhớ tên ông, triệu vào gặp, đổi làm Trứ tác tá lang, ưu đãi sai phái.

(Chính sử chép truyện Thuận, kẻ cậy thế là họ Uông ở Hưu Ninh. Hưu Ninh thuộc Hấp châu, Phù Lương thuộc Nhiêu châu. Nay theo ghi chép của Tư Mã Quang, vì Quang chép việc này rất chi tiết. Truyện chép đổi làm quan tri huyện Thường Thục, Quang chép làm Thiêm phán Hồng châu, không rõ đâu đúng, cần xét lại.)

[63] Ngày Đinh Dậu, chiếu rằng từ nay Ký ban chi hậu theo quy định niên hạn khảo khóa của Tam ban sứ thần.

[64] Tam ty tâu: “Quan trang ở Phúc châu trước đây chỉ thu thuế như ruộng tư, xin định giá cho dân có ruộng mua lại.” Chiếu sai một viên Thường tham quan cùng Chuyển vận sứ theo lệ ở Chương châu, Tuyền châu, định lại thuế ruộng. Sau đó bãi bỏ, không sai nữa.

(Việc bãi sai sứ vào tháng 8 ngày Tân Sửu, nay chép chung.)

[65] Ngày Mậu Tuất, đến yết điện Thần ngự Thái Tông ở Khải Thánh viện, rồi đến yết Cảnh Linh cung và chùa Khai Bảo.

[66] Trước đây, Độ chi viên ngoại lang, Trực tập hiền viện Kỳ Vĩ ra làm Tri châu Duy, mẹ mất, táng ở phía nam thành châu. Vĩ từ quan, đến nơi táng dựng nhà nhỏ, khóc lóc canh giữ, ăn chay, đọc kinh Phật ba năm, đi chân đất suốt mùa đông, chân rụng hai ngón. Có chim trắng, thỏ trắng đến quấn quýt bên mộ, dân châu lấy làm lạ, tâu lên. Ngày Kỷ Hợi, ban chiếu khen ngợi. Khi đưa về quê táng, lại ban 30 tấm lụa, 30 thạch thóc, lệnh cho quan châu mỗi tháng đến thăm hỏi. Vĩ là người Giao Thủy.

[67] Ngày Canh Tý, đến yết cung Ngọc Thanh Chiêu Ứng.

[68] Ngày Quý Mão, Lợi châu lộ Chuyển vận sứ Lý Phòng xin khắc in sách 《Tứ thời toản yếu》, 《Tề dân yếu thuật》 giao cho các đạo Khuyến nông ty để khuyến khích dân làm ruộng, theo lời xin.

[69] Ngày Ất Tỵ, ban chiếu điều tra việc dân châu Hãn, châu Đại sau mùa thu kết bè đánh nhau, gọi là dã trường, có người bị thương chết, từ nay cấm tuyệt việc này.

[70] Ngày Đinh Mùi, Cáp môn xin từ nay các quan từ Thứ tử trở xuống đến Kinh quan, Cáp môn Chi hậu đến Tam ban Sứ thần, đều xếp thành một ban. Các quan văn võ nghỉ ba ngày, thì vào triều kiến từ tạ ở điện Sùng Chính, rượu thực lụa vải ban thưởng ở ngoài cửa, tâu xin được chấp thuận. Lúc đó Vua không khỏe, nên phần nhiều theo chế độ giản ước.

[71] Trước đó, Tả Chánh ngôn, Tri chế cáo Trương Sư Đức vì bệnh xin ra ngoài giữ chức ở Dĩnh Châu[22]. Tháng 5 ngày Quý Sửu, Sư Đức tâu rằng hoàng đệ Đức Ung hiện đang giữ chức Phòng ngự sứ ở bản châu, xin giáng quy chế về thứ bậc.

Trung thư môn hạ tâu, theo Ngự sử đài xưng, mỗi khi đại triều hội lập ban, hoàng thân Phòng ngự, Đoàn luyện sứ, Thứ sử, đều xếp sau Tiết độ sứ, lùi lại một chút mà đứng. Nhân đó ban chiếu cho Sư Đức xếp thứ bậc dưới Đức Ung, không theo điển cố. Phàm Tri chế cáo đứng chỗ, hai tỉnh thì xếp sau Cấp gián, Nam tỉnh, Ngự sử đài thì xếp sau Thừa lang, ngoại quan thì ở trên Quan sát sứ.

(Theo 《Dịch viên chí》.)

[72] Ngày Giáp Dần, ban chiếu cho Lễ bộ tạm ngừng thi cử một năm.

[73] Ngày Bính Thìn, ban chiếu khen thưởng Đô giám Lý Dư Ý ở lộ Kinh Nguyên, bổ nhiệm Chỉ sử, Điện thị Triệu Vinh làm Tam ban Tá chức, vì có công đánh giết giặc Phiên.

[74] Ngày Đinh Tỵ, lệnh cho Kinh Triệu, Phượng Tường giảm giá bán thóc, cứu tế dân lưu tán các châu Tần, Lũng.

[75] Ngày Mậu Ngọ, Khai Phong phủ xin dỡ bỏ nhà dân lấn chiếm đường phố, Vua cho là phiền nhiễu nên không cho phép.

[76] Tướng tác Giám thừa, Thông phán Quả châu Trương Quan tâu rằng: “Cha là Cư Nghiệp hiện giữ chức Chi sứ ở Việt châu, tuổi đã quá lục tuần, vẫn còn ở cửa tuyển. Thần nay được ơn ban chức Bí thư lang, xin được chuyển lại cho cha.” Ban chiếu cho Lưu nội tuyển triệu Cư Nghiệp khảo khóa dẫn đối, còn tờ cáo Bí thư lang thì giao cho Quan.

[77] Ngày Kỷ Mùi, Lữ Di Giản, An phủ sứ đạo Ích Tử, tâu rằng dân đói ở các châu Tần, Lũng, Lợi khá nhiều, xin cho các nơi đó chiêu mộ sung vào các quân bản thành. Vua nghe theo.

[78] Trước đây, Vương Tự Tông, Tiết độ sứ quân Cảm Đức, Tri châu Thiểm, vì già yếu lại dâng biểu xin vào triều, và nói rằng chỉ cần được gặp mặt một lần rồi sẽ về quê. Vua ban chiếu ưu đãi triệu về. Nhân dịp tế giao, đổi làm Tiết độ sứ quân Tĩnh Nan, lưu lại kinh sư mấy tháng, nhưng vì bệnh chân không thể vào chầu được. Lại dâng biểu xin được làm Tri châu Hứa lần nữa.

Tể tướng Khấu Chuẩn vốn ghét tính cách của ông, ngày Canh Thân, đặc cách cho ông về hưu với chức Tả Đồn Vệ Thượng tướng quân. Tự Tông xin được từ biệt mặt Vua, chiếu miễn lễ vũ đạo, cho phép con ông đỡ ông vào chầu, đối đáp một lúc, ban cho một trăm vạn tiền. Đến khi Khấu Chuẩn bãi chức tể tướng, lại đặc cách nghe theo lời xin của ông, cho cấp lương thực mỗi tháng năm mươi ngàn.

Tự Tông trải qua ba triều, là bậc lão thần lâu năm nhất, đi đến đâu cũng lấy sự nghiêm minh để trị dưới. Ông rất kiêu ngạo và hung hãn, thường dùng lời lẽ xấu xa để làm nhục người khác. Trong nhà có cuốn sổ ghi ân oán, ai đã báo đáp thì gạch đi, về già kết giao với ai đều ghi vào sổ thù.

Khi làm Trung thừa, ông từng tức giận vì Tống Bạch, Quách Chí, Hình Bính đều bảy mươi tuổi mà không xin về hưu, nhiều lần tâu với Vua, xin hạ chiếu cho họ về hưu, lại sai người thân thuộc đến châm chọc họ. Đến khi Tự Tông được hưởng bổng lộc hậu hĩnh không nỡ rời bỏ, thường nói với mọi người: “Ta chỉ có việc này không tránh khỏi bị người đời chê trách thôi.” Mọi người đều chê cười ông.

Ông rất thích làm văn, nhưng văn chương quê mùa thô kệch. Năm tế lễ, các quan gần Vua đều được lệnh làm bài tụng ký, tể tướng cho rằng bài của Tự Tông không đủ để phát huy đức lớn, sợ bị người đời sau chê cười, nên không cho khắc vào đá. Tuy nhiên, ông rất hòa thuận với họ hàng, đối xử với các cháu như con đẻ. Lúc sắp mất, ông viết di chúc, dặn con cháu không được chia nhà, lại bảo đem sách 《Hiếu Kinh》, cung tên, bút nghiên bỏ vào quan tài.

[79] Ngày Nhâm Tuất, Ty Chuyển vận và Khuyến nông của Quảng Nam Đông lộ tâu: “Theo chiếu, tính toán dời châu Xuân về cổ thành. Xin theo lệ, chọn trong dân địa phương những người không phạm tội tham nhũng, bổ nhiệm làm mạc chức, châu huyện quan kiêm chức Thông phán và Tri châu, ban ân tứ, cấp bổng lộc cho Lục sự tham quân. Khi mãn nhiệm, theo lệ ưu đãi như các huyện Long Nham thuộc châu Chương[23].” Được chấp thuận.

(Theo bản chí, năm Cảnh Đức thứ nhất dời trị sở về cổ thành Minh Thạch Tân thuộc địa giới Dương Xuân, năm Đại Trung Tường Phù thứ 9 lại sáp nhập vào châu Tân, năm Thiên Hi thứ 4 lại khôi phục.)

[80] Ngày Giáp Tý, tộc Thất Cữu thuộc dân thục hộ ở địa giới châu Hoàn, Quân chủ là Cận Nị nộp con tin xin quy phụ. Phong Cận Nị làm Thứ sử châu Thuận, thủ lĩnh Nha Đô cùng 15 người khác được bổ nhiệm làm Phiên quan theo thứ bậc khác nhau.

[81] Ngày Bính Dần, ban chiếu: “Từ nay, những kẻ phạm tội Thập ác, giết người cướp của, mưu sát, cố ý giết người, đánh nhau giết người, phóng hỏa, cướp bóc, quan lại tham nhũng, làm giả ấn tín, dùng bùa chú, tạo lời đồn nhảm, truyền bá yêu thuật, chế tạo thuốc độc, binh lính cấm quân và các quân đào ngũ làm giặc, tội đáng chết, mỗi khi đến tháng 12 tạm ngừng xét xử, đợi qua tiết Thiên Khánh mới xử quyết; những tội khác đáng chết, trong tháng 12 và mùa xuân hạ chưa được xử, tạm giam chờ tâu lên xin chỉ dụ.”

Lại ban chiếu: “Những kẻ phạm tội đáng chết trước đây theo chiếu lập tức xử trảm, từ nay trừ tội ác nghịch bốn loại theo luật dùng hình, còn lại tội trảm gặp mùa xuân hạ chỉ đánh trọng trượng đến chết, đợi đến tiết Thu phân mới xử như cũ.” Do có người dâng thư nói rằng tháng sinh thần hoàng đế và mùa xuân hạ là thời kỳ vạn vật sinh trưởng, nên nới lỏng hình phạt nghiêm khắc.

(Tấu nghị của Trương Tri Bạch và Triệu Tương có thể tham khảo. Tri Bạch xem tháng 11 năm Hàm Bình thứ 5, Tương xem tháng 9 năm Cảnh Đức thứ 4.)

[82] Ngày Đinh Mão, Khuyến nông sứ hai lộ Lưỡng Chiết, Hoài Nam là Vương Quán Chi cùng các quan dẫn nước từ đập Thạch Thát ở địa giới Hải Châu vào quân Liên Thủy để tưới ruộng dân. Tri huyện Định Viễn là Giang Trạch, Tri quân Giang Âm là Thôi Lập đều dẫn dân trong hạt sửa chữa đập bể, đào kênh đá để tưới ruộng cao. Vua xuống chiếu khen thưởng, lại sai khi mãn nhiệm kỳ thì khảo công dẫn vào chầu, nhân đó dụ các ty Khuyến nông ở các lộ rằng những đập nước nào có thể làm lợi cho dân thì đều theo lệ này mà sửa chữa.

(Việc của Thôi Lập xảy ra vào tháng 6 năm sau, nay theo bản chí, chép chung vào đây.)

[83] Ngày Giáp Tuất, vì mưa thuận, sai quan đến tạ ở miếu xã, cung quán, chùa chiền.

[84] Đô ngu hậu tộc Tiểu Hồ[24] ở quân Bảo An là Nhạ Ngôi, Tuần kiểm Hồ Hoài Tiết đánh giặc có công, đều được thăng chức.

[85] Ngày Kỷ Mão, xuống chiếu rằng các châu quân ven sông từ nay mỗi năm phải sai các quan trưởng cùng với sứ thần tuần hà và địa phương thân hành kiểm tra đê điều, chỗ nào cần đào đắp thì cùng ký tâu lên, không được giảm bớt vật liệu để mong được khen thưởng, kẻ nào trái lệnh sẽ bị trị tội nặng.

[86] Quang lộc tự thừa Tạ Giáng dâng tấu rằng: “Đế vương hưng thịnh, ắt suy xét đức lớn của ngũ hành, để phối hợp với trời đất, phù hợp với âm dương. Thần Nông lấy đức hỏa, có điềm lành sao Hỏa. Thánh tổ lấy đức thổ, rồng vàng và giun đất xuất hiện[25]. Nhà Hạ lấy đức mộc, thanh long dừng ở ngoại ô. Nhà Thương lấy đức kim, núi sông tự tràn. Nhà Chu lấy đức hỏa, có điềm chim ô đỏ. Quốc gia đón nhận sự khởi đầu tốt lành, nên bỏ Ngũ đại, nối theo đức thổ của nhà Đường để kế thừa Thánh tổ, như nhà Hán bỏ nhà Tần, nối theo đức hỏa của nhà Chu để kế thừa Vua Nghiêu.

Thần nghe rằng Thái Tổ sinh ra đã có khí vàng bao bọc[26], đến khi nhận mệnh, năm sao tụ ở chòm Khuê, sao Thổ là chủ. Bệ hạ lên đỉnh Thái Sơn, mặt trời ôm vầng vàng; tế tự ở Thái Thanh cung, có sao tên Hàm Dự, màu vàng tươi nhuận; còn lại thần quy, thú quý[27], từ xa đến, hoặc có lông hoặc có vảy, đều có điềm ứng, chẳng phải là bằng chứng của đức thổ sao? Việc này hệ trọng, xin Bệ hạ đừng nghi ngại việc thay đổi cổ lệ.

Vả lại, nhà Hán từ lúc hưng thịnh đến đời Vũ Đế, qua chín mươi năm, mới dần tìm hiểu về đức hỏa, đến đời Quang Vũ đã hai trăm năm, mới định rõ vận chính. Quốc gia nhận mệnh, còn trong năm kỷ. Bệ hạ khiêm tốn không đáp, khí tắc chưa thông, sông vỡ đê tràn, há chẳng phải là linh ứng sao?

Xét sáu phủ yểm trấn, nghiệm ngũ hành thắng khắc, cũng nên hưng vận thổ, ngăn tai ương thời vận, không thể theo lệ cũ, bỏ điềm lành trời người. Các quy tắc đo lường lịch pháp, phép tắc xe phục y quan, việc tế trời đất, chế độ minh đường tịch ung, thứ tự tế tự tông miếu, điển chế triều cống phương quốc, chính giáo lễ nhạc, văn chất tăng giảm, xin hạ lệnh cho các bậc đại thần học rộng, tham nghị dâng tấu. Sau đó lên đỉnh Tung Sơn, cáo với Thượng đế, tuần theo năm năm, gặp các chư hầu, để tỏ rõ vị trí trung ương, phù hợp với số dùng năm.”

Lúc đó, Đại Lý tự thừa Đổng Hành Phụ xin lấy thiên làm thống, lấy kim làm đức. Chiếu cho hai chế bàn, đều nói dùng thổ đức thì nên vượt nhà Đường để nối tiếp nhà Tùy, dùng kim đức thì nên vượt năm đời để nối tiếp nhà Đường, mà Thái Tổ thực sự nhận ngôi từ nhà Chu, há có thể không tuân theo thứ tự truyền nối. Cả hai ý kiến của Giáng và Hành Phụ đều bị bác bỏ, không dùng. Giáng là con của Đào.

(Hành Phụ, chưa thấy rõ.)

[87] Tháng 6, ngày Giáp Thân, Hữu gián nghị đại phu Lý Ứng Cơ tâu: “Các huyện Hà Nguyên thuộc Huệ châu, Ông Nguyên thuộc Thiều châu, huyện Hưng Ninh thuộc Tuần châu, các trường thiếc và huyện phân quản giới thuộc Mai châu ở Lĩnh Nam đều là nơi nhiều lam chướng. Xin cho các lệnh tá cùng tri châu và giám áp Mai châu đều dùng người Quảng Nam, để họ quen phong thổ.” Được chấp thuận.

[88] Ngày Ất Dậu, Thiểm Tây chuyển vận sứ Lưu Sở tâu: “Từ nay, những quân sĩ đào ngũ ở Dương Vũ Tảo, nếu có thân thuộc trong quân doanh, xin cho theo lệ tu sông ở Hoạt châu, cấp ba tháng tiền lương. Nếu có con muốn đi lính, xét tài chất mà thu nhận.” Chiếu chuẩn.

[89] Ngày Kỷ Sửu, Vua ngự ở điện Sùng Chính, tự xét các ngục án, giảm nhẹ tội đồ và lưu, tha tội trượng trở xuống.

[90] Ngày Nhâm Thìn, chiếu cho các hộ làm muối ở các châu Thông, Thái, Sở, vì thiên tai đói kém, đã xin trước tiền lương mà còn nợ, đều được miễn.

[91] Thẩm hình viện tâu: “Các quan xét án tuy đều cần mẫn, nhưng khi xét thực không tránh khỏi sai sót. Một khi có sai lầm, liền tra xét, làm tắc đường tự cải, e tăng thêm lời lẽ xảo trá. Xin từ nay, mỗi khi Đại Lý tự gửi án đến viện, nếu có trường hợp từ trượng chuyển sang đồ, từ đồ chuyển sang trượng, từ lưu chuyển sang tử, từ tử chuyển sang lưu, thì gửi trả lại bản tự. Nếu quan xét án biết rõ lỗi lầm, tự thú sửa chữa, thì không tâu hặc. Nếu không như vậy, đến khi bị tra hỏi lại, lỗi lầm rõ ràng, thì tâu hặc tên tuổi.” Được chấp thuận.

[92] Điện trung thị ngự sử Vương Bác Văn tâu: “Dân châu Mật từ sau năm Đại Trung Tường Phù thứ 9 liên tiếp gặp tai họa, đói kém, người thân ly tán trong dân gian, bị người khác thu nhận làm con nuôi hoặc làm nô tì, vợ con, vốn không có khế ước hay giấy ly hôn, xin cho họ được trả về ngay. Nếu có ai kiện tụng mà quan phủ không xử lý, đều xử tội vi phạm chế độ.” Vua nghe theo.

[93] Ngày Quý Tỵ, Tam ban viện tâu: “Từ nay, các sứ thần trú đóng trong nội địa bắt giặc, xin lấy những người đáng được bổ nhiệm làm Giám áp, Tuần kiểm ở vùng xa, từ chức Điện trực trở xuống, có kinh nghiệm việc quân để đảm nhiệm, vẫn được cấp thêm theo lệ Giám áp[28], khi về triều lại được bổ nhiệm ở vùng xa.” Vua nghe theo.

[94] Ngày Giáp Ngọ, lấy Thái thường thiếu khanh, Trực sử quán Trần Tĩnh làm Thái bộc khanh, Tập hiền viện học sĩ, Tri châu Kiến. Tĩnh là người được Đinh Vị quý mến.

[95] Xuống chiếu theo lời thỉnh cầu của Hàn lâm học sĩ Dương Ức và các quan, chọn quan chú giải tập văn ngự chế, lại sai Tể tướng và các quan tham khảo xem xét.

[96] Ngày Bính Thân, lấy Hữu bộc xạ, kiêm Trung thư thị lang, Bình chương sự Khấu Chuẩn làm Thái tử thái phó, tước Lai quốc công.

Trước đó, Chuẩn làm Xu mật sứ, Tào Lợi Dụng làm phó, Chuẩn vốn coi thường Lợi Dụng, khi bàn việc có chỗ không hợp, Chuẩn liền nói: “Ngươi chỉ là một kẻ tầm thường, làm sao hiểu được đại thể quốc gia.”

Lợi Dụng từ đó oán hận. Còn Đinh Vị vì chuyện hất râu, cũng hận Chuẩn, đến khi cùng làm Xu mật sứ, bèn hợp mưu muốn bài xích Chuẩn. Hàn lâm học sĩ Tiền Duy Diễn thấy Đinh Vị quyền thế lớn, bèn a dua theo, kết thông gia. Em gái Duy Diễn là vợ của Mã quân đô ngu hậu Lưu Mỹ.

Lúc đó Vua không khỏe, khó nói chuyện, chính sự phần nhiều do trung cung quyết định, Đinh Vị và đồng đảng giao thiệp mờ ám, bè đảng ngày càng vững chắc. Người nhà họ Lưu ở Thục cậy thế ức hiếp dân, cướp giếng muối, Vua vì hoàng hậu nên muốn tha tội, nhưng Chuẩn nhất định xin xử theo pháp luật, khiến hoàng hậu càng thêm bất mãn, Đinh Vị nhân đó thêu dệt tội Chuẩn. Chuẩn từng một mình xin gặp riêng nói: “Hoàng thái tử được lòng người, mong bệ hạ nghĩ đến trọng trách tông miếu, truyền ngôi báu để củng cố cơ nghiệp muôn đời. Đinh Vị là kẻ nịnh thần, không thể phò tá thiếu chủ, xin chọn bậc đại thần chính trực làm trợ thủ.” Vua nghe theo.

(Chính truyện chép: Đinh Vị, Tiền Duy Diễn là kẻ nịnh thần, không thể phò tá thiếu chủ. Xét lúc này Duy Diễn chỉ là Hàn lâm học sĩ, không đáng đem so với Đinh Vị, phụ truyện cũng không chép Duy Diễn, e rằng chính truyện thêm vào nhầm, nay không theo.

《Trương Đường Anh Nhân Tông chính yếu》 lại chép Chuẩn nói Đinh Vị cậy tài gian trá, Tào Lợi Dụng cậy quyền ngang ngược. E rằng Trương Đường Anh chép cũng không đúng. Lợi Dụng cậy quyền ngang ngược, nên là lúc thái hậu thùy liêm, bây giờ chưa đến mức đó.

《Trần Dịch Bái bãi lục》 cũng chỉ nói đến Đinh Vị.)

Chuẩn bèn nhờ Hàn lâm học sĩ Dương Ức soạn biểu, xin Thái tử giám quốc, lại muốn tiến cử Ức thay thế Vị. Ức sợ việc bại lộ, đêm đến đuổi tả hữu ra để soạn văn, đến nỗi tự mình đứng dậy cắt bấc đèn, trong ngoài không ai biết. Sau đó, Chuẩn uống rượu say, lỡ tiết lộ kế hoạch.

(Việc Ức tự đứng dậy cắt bấc đèn, chuyện này căn cứ theo phụ truyền, nay chính truyện đã bỏ đi.

《Long Xuyên Biệt Chí》 lại nói rằng Ức nói riêng với em vợ là Trương Diễn: “Vài ngày nữa, sự việc sẽ đổi mới.” Lời nói hơi bị lộ, Đinh Vị đêm đó ngồi xe của phụ nữ, bàn mưu với Tào Lợi Dụng. Không rõ 《Long Xuyên Biệt Chí》 căn cứ vào đâu. Nhưng 《Long Xuyên Biệt Chí》 nói việc lập Thái tử, phế Lưu hậu, là kế hoạch của Chu Hoài Chính sau khi Chuẩn bị bãi chức, còn biểu xin Thái tử giám quốc do Ức soạn. Dù phụ truyền cũng cho rằng việc Chuẩn cải trang đến gặp Lợi Dụng là vào lúc này, thực ra là sai lầm.

《Bái Bãi Lục》 và phụ truyền giống nhau, nay chính truyện đã sửa lại. Phụ truyền và 《Bái Bãi Lục》 đều nói là soạn chế, chính truyện chỉ nói soạn biểu, nay theo chính truyện.)

Vị và những người khác càng sợ hãi, ra sức gièm pha Chuẩn, xin bãi chức Chuẩn. Hoàng đế không nhớ lời hứa ban đầu với Chuẩn, đồng ý lời thỉnh cầu. Nhân lúc trời tối, triệu Tri chế cáo Yến Thù vào cung, đưa danh sách bãi chức cho xem, Thù nói: “Thần phụ trách ngoại chế, việc này không thuộc chức trách của thần.” Bèn triệu Duy Diễn, chốc lát, Duy Diễn đến, hết lời bàn về việc Chuẩn chuyên quyền ngang ngược, xin trách phạt nặng.

Hoàng đế hỏi: “Nên cho chức gì?” Duy Diễn xin theo lệ của Vương Khâm Nhược, phong Chuẩn làm Thái tử Thái bảo. Hoàng đế nói: “Cho Thái tử Thái phó.” Lại nói: “Thêm ưu đãi.” Duy Diễn xin phong tước Quốc công, rút trong tay áo ra sổ sách liệt kê quan chức dâng lên, Hoàng đế chỉ vào chữ “Lai” trong các nước nhỏ, Duy Diễn nói: “Như vậy thì trong Trung thư chỉ còn Lý Địch, e rằng phải bổ nhiệm Tể tướng khác.”

Hoàng đế nói: “Hãy tạm thời chậm lại[29].” Yến Thù vốn bị triệu nhầm, bèn nói: “Sợ lộ việc cơ mật, thần không dám ra ngoài nữa.” Bèn ở lại qua đêm tại Học sĩ viện. Đến khi tuyên chế, thì không phải là những gì Thù đã thấy trước đây, không rõ danh sách bãi chức mà Thù thấy là gì? Thù không nói với ai, nên cũng không ai biết rõ chi tiết.

(Phụ truyền Khấu Chuẩn trong 《Nhân Tông Thực Lục》, 《Trần Dịch Bái Bãi Lục》, 《Tư Mã Quang Ký Văn》, 《Trương Đường Anh Chính Yếu》, 《Tằng Thị Long Bình Tập》, 《Tô Thị Long Xuyên Biệt Chí》, đều nhầm lẫn việc Chuẩn bị bãi chức lúc đầu với kế hoạch của Chu Hoài Chính, vì không tra cứu kỹ ngày tháng.

Quốc sử chính truyện đã sửa lại đôi chút, nhưng không chi tiết, nay căn cứ theo 《Tiền Duy Diễn Nhật Ký》 và 《Giang Hưu Phục Tạp Chí》 bổ sung thêm: Việc xin Thái tử giám quốc là tấu của Chuẩn; việc truyền ngôi cho Thái tử, phế Hoàng hậu là kế hoạch của Chu Hoài Chính. Chuẩn vì tấu xin chức giám quốc bị lộ mà bị bãi chức, lại vì kế hoạch của Hoài Chính bị lộ mà bị biếm xa, hai việc này vốn khác nhau. Các sách thấy Chuẩn vì Hoài Chính mà bị biếm, liền cho rằng Chuẩn vốn có ý đồ như vậy. Thực ra kế hoạch là của Hoài Chính, Chuẩn chưa chắc đã biết. Tháng 4 năm Cảnh Hựu thứ nhất đời Nhân Tông, theo lời Vương Thự truy tặng Dương Ức, cũng chỉ nói soạn tấu xin Thái tử thân chính, không nói soạn chế.

《Long Xuyên Biệt Chí》 lại nói: sai Ức soạn chiếu thư, cử Thự đi sứ, giết những kẻ bất đồng, Thự giấu đi, e rằng không đúng sự thật, nay chỉ theo Thực lục.)

[97] Giám sát ngự sử Chương Tần từng nhận chiếu, xét việc nha hiệu ở Cung châu[30] kiện tụng về việc giếng muối, Lưu Mĩ dựa vào thế lực nhà Hoàng hậu nhận hối lộ, sai người mua chuộc vụ án. Chương Tần xin bắt giam, nhưng Vua vì tình cảm với Hoàng hậu nên không hỏi tội, bèn điều Chương Tần ra làm Tri châu Tuyên châu.

(Việc của Chương Tần liên quan đến việc Khấu Chuẩn xin trị tội họ Lưu, nhưng không rõ thời điểm. 《Nhật ký của Tiền Duy Diễn》 chép: Ngày 2 tháng 5, Khấu công đem văn thư của Viện chế lên trình, việc liên quan đến Lưu mã quân, Khấu xin đưa ra Đài xét xử. Vua giận nói: “Quản quân từ trước đến nay đâu có lệ này, khanh muốn đưa ra Đài thì cứ đưa xuống.” Khấu hoảng sợ lui ra. Tào, Đinh cùng tấu: “Trời hạn hán không nên gây thêm oan ngục, làm tổn thương người vô tội, xin bãi bỏ.” Vua nói: “Thôi bãi, thôi bãi!” Khấu lại lên điện, Vua rất không vui. Hôm đó, Khấu rất chán nản. Những lời Duy Diễn nói tuy chưa thể tin hết, nhưng việc Chương Tần ra làm Tri châu Tuyên châu chắc chắn là vào lúc này, nay ghi chép kèm, cần xem xét thêm.)

[98] Lữ Di Giản tâu: “Cuối niên hiệu Thuần Hóa, dân Thục có người theo giặc cỏ, xăm mặt làm quân Ứng Vận Hùng. Nay xin chọn những kẻ tội nặng, phân phối đến các lao thành ở các châu phủ phía đông Đồng Quan.” Vua nghe theo.

[99] Hoạt Châu tâu rằng sông Hoàng Hà vỡ đê dưới chân núi Thiên Đài.

Ban đầu bàn việc tu sửa sông, vì chỗ vỡ đê ở Thiên Đài cách xa dòng nước nên tạm sửa chữa. Đến khi đê phía tây nam hoàn thành, bèn xây đê hình trăng bên cạnh chỗ vỡ đê ở Thiên Đài, nhưng cũng không chắc chắn, mọi người đều xin sửa chữa lại. Tu hà đô bộ thự Phùng Thủ Tín nói: “Ta phụng chiếu chỉ tu sửa đê phía tây nam, việc này không thuộc phạm vi của ta.” Gặp lúc Mã quân đô chỉ huy sứ Vương Thủ Uân nhậm chức ngoài, kinh thành thiếu Tuần kiểm cựu thành, Thủ Tín nhận lệnh vội về.

Đến lúc này, sông lại vỡ đê, nước chảy về phía nam Vệ, tràn vào Từ, Tế, thiệt hại như năm thứ ba nhưng còn nặng hơn, mọi người đều cho là tội của Thủ Tín. Thủ Tín thông hiểu 《Hiếu Kinh》, 《Luận Ngữ》, sau thăng làm Uy Tắc tiết độ sứ.

Tháng 3 năm thứ 5, em ông từng muốn dâng con mình làm con của Thủ Tín để được hưởng ân huệ cao. Thủ Tín đối đáp một cách cảm khái: “Ta từ hàng ngũ binh lính, được chúa thượng đề bạt đến đây, đã muốn bỏ thân từ lâu, chỉ vì chưa có cơ hội, sao lại lừa dối được!” Năm đó, cả con mình cũng không được hưởng ân huệ, nói: “Để tỏ rõ lòng ta với em, không phải vì yêu thương.” Mọi người cũng vì thế mà khen ngợi ông.

(Theo 《Nhật Ký》.)

[100] Ngày Kỷ Hợi, bổ nhiệm Giáo Tuấn quân sĩ Lý Khiêm làm Tiểu hiệu bản quân, ban tiền xâu. Lúc đó Quân sứ Vũ Tán bị lính đào ngũ Hoắc Hưng đâm, Khiêm vội bắt Hưng, lấy thân che chở, bị 16 vết thương, Tán được chạy thoát. Vua khen ngợi nghĩa khí dũng cảm của ông, đặc biệt triệu kiến và ban thưởng.

[101] Ngày Tân Sửu, Phu Diên lộ Kiềm hạt Chu Văn Chất tâu rằng Triệu Đức Minh liên tiếp sai kỵ binh cướp bóc dân thục hộ, mong phái nhiều quân mã đến giới tuyến Khánh Châu, phá tan trại mạc các tộc, để ngăn chặn sự xâm nhiễu. Vua cho rằng động binh nơi biên giới có thể gây ra sự cố, chỉ lệnh Văn Chất do thám tuần tra, bí mật chuẩn bị.

[102] Ngày Nhâm Dần, Vua ngự điện Sùng Chính, thân hành khảo thí các cử nhân do Lễ bộ tâu danh, sai quan khảo xét như thường lệ, phong 92 người làm Tam ban Phụng chức, 13 người làm Tá chức. Những người không đạt tiêu chuẩn, bổ làm Thượng tá Văn học các châu. Từ Phụng chức đến Điện thị, đều được miễn làm việc ngắn hạn, được sai phái thuận tiện cho gia đình.

[103] Ngày Bính Ngọ, Khương Tuân từ Thiểm Tây trở về, tâu rằng Tri châu Tương Châu Hạ Tủng có tài vỗ về dân chúng, xử lý công việc không bị trì trệ, Vua ban chiếu khen thưởng. Lại tâu rằng Tri châu Giai Châu Hứa Thân, Tri châu Văn Châu Hồ Tĩnh, Tri huyện Tam Tuyền Phòng Trung Chánh đều có thành tích trị nhậm tốt, Vua ban chiếu cho Viện Thẩm quan ghi chép tên họ, đến khi họ về kinh thay người khác, sẽ thăng chức bổ nhiệm.

(Hồ Tĩnh, Phòng Trung Chánh chưa thấy xuất hiện).

[104] Ngày Mậu Thân, Phán Lại bộ Lưu nội tuyển Trần Nghiêu Tư tâu: “Theo chế độ cũ, các quan chức mạc phủ, châu huyện ở vùng biên giới Hà Bắc, Hà Đông không được mang gia đình đến nhậm chức, khi về kinh thay người khác thì được miễn thủ tuyển. Gần đây theo chiếu xá văn đều cho phép mang gia đình đến nhậm chức, nếu khi mãn nhiệm vẫn được miễn thủ tuyển và bổ nhiệm vào chức vụ gần, như vậy là quá ưu đãi. Xin từ nay áp dụng theo lệ thủ tuyển của các vùng xa như Giang, Chiết, Kinh, Hồ khi thay người khác.” Vua đồng ý.

[105] Vua ban chiếu cho Xu mật viện, từ nay mỗi quý phải nộp sổ ghi chép số lượng tiền bạc ban thưởng, mỗi năm làm thành một tập dâng lên.

[106] Vua ban chiếu cho Ty Ngưu Dương, từ nay chỉ sai sứ thần Tam ban quản lý ba chuồng trại, Nội thị tỉnh không được sai người. (Tháng 6 năm Gia Hựu thứ 4, có thể tra cứu).


  1. Bản chí ghi là một châu và một huyện, 'Nhất huyện' nguyên bản là 'Nhị huyện', căn cứ theo bản Tống, bản Tóm tắt của Tống và bản chính văn sửa lại.
  2. 'vỡ đê' hai chữ nguyên bản đảo ngược, theo văn lệ 'vỡ đê chảy về phía bắc' và 《Tống sử》 quyển 91 《Hà cừ chí》, 《Tấu nghị》 quyển 249 《Thủy lợi ất》 sửa.
  3. 'địa hình thấp trũng' chữ 'ô' nguyên bản viết 'Vu', theo 《Tống sử》, 《Tấu nghị》 sửa.
  4. 'chảy qua quân Càn Ninh vào cửa Độc Lưu' chữ 'kính' nguyên bản viết 'kinh', chữ 'độc' nguyên bản viết 'trọc', theo sách trên sửa.
  5. 'phía bắc không ra khỏi địa giới Thông Lợi quân' chữ 'xuất' nguyên bản viết 'chí', theo sách trên sửa.
  6. 'Thần xin từ phía đông giới Vệ châu, chỗ lồi lên ở bờ bắc sông cách kênh đào của Tào công năm dặm' chữ 'Vệ châu' nguyên bản viết 'Vận châu', chữ 'đột' nguyên bản viết 'á', theo sách trên sửa.
  7. 'đào núi Đại Phi, Tây Sơn' chữ 'tạc' nguyên bản viết 'kích', theo sách trên sửa.
  8. 'thì đưa nước lên chỗ cao về phía bắc' chữ 'bắc' nguyên bản thiếu, theo sách trên bổ sung.
  9. 'việc san đều chỗ dày chỗ mỏng' chữ 'bì' nguyên bản viết 'tì', theo sách trên sửa.
  10. 'triều nghị sợ phiền nhiễu' chữ 'nhiễu' nguyên bản viết 'nạo', theo sách trên sửa.
  11. Sai Tư làm tri phủ Kinh Nam thay cho cấp sự trung Nhạc Hoàng Mục làm tri châu Đàm. Xét 《Tống sử》 quyển 292, truyện Lý Tư chép: 'Vì cha còn ở quê nhà xin ra ngoài, bèn ra làm tri phủ Kinh Nam.' (《Long bình tập》 quyển 10, 《Đông đô sự lược》 quyển 55, bản truyện đều giống nhau.) Cùng sách quyển 306, truyện Nhạc Hoàng Mục chép Hoàng Mục 'giáng làm tả gián nghị đại phu, tri phủ Kinh Nam. Năm sau, lại làm cấp sự trung, dời làm tri châu Đàm.' Sách này chép việc Hoàng Mục bị giáng chức vào ngày Ất Mão tháng 8 năm Thiên Hi thứ 2, việc dời làm tri châu Đàm thực ra là lúc Lý Tư ra làm tri phủ Kinh Nam. Vì thế, chữ 'đại' có lẽ là thừa, hoặc nên viết là 'dĩ'. Nếu ngắt câu ở dưới 'Nhạc Hoàng Mục', thì trên 'tri châu Đàm' chắc chắn có chỗ thiếu.
  12. Chữ 'Đô' trong 'Đại phó đô bộ thự Dương Sùng Huân làm Khách tỉnh sứ' vốn bị thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Cảnh văn tập》 quyển 61 《Dương Thái úy hành trạng》 bổ sung.
  13. Chữ 'chi' trong 'hứa chi' vốn viết là 'thượng', căn cứ theo các bản khác sửa lại.
  14. 'Xướng' nguyên là 'Yết', theo 《Tống hội yếu》 Nghi chế 2-10 sửa.
  15. 'Tây Lương phủ' nguyên là 'Tây Kinh phủ', theo các bản và 《Tống hội yếu》 Phiên di 4-8 sửa.
  16. 'Thân tộc' trong bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Tống sử》 quyển 282 bản truyện đều chép là 'thân hiệu', 《Biên niên lục》 quyển 3 chép là 'thân cố'.
  17. 'Viễn' nguyên bản chép là 'đạt', căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Biên niên lục》, 《Biên niên cương mục》 quyển 8, 《Tống sử toàn văn》 quyển 6, 《Đông đô sự lược》 quyển 41 bản truyện sửa lại.
  18. Chữ 'viết' nguyên bản thiếu, căn cứ theo bản Tống, bản Tống toát yếu và 《Biên niên lục》 bổ sung.
  19. Lệnh cho Dương Ức xếp hàng dưới Tiền Duy Diễn, chữ 'Tiền' nguyên bản thiếu, theo bản Tống và Tống toát yếu bổ sung.
  20. Vậy thì khoản thuế này nhất định phải để lệnh tự đi đốc thúc sao 'Vậy thì' hai chữ nguyên bản thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 《Tục thủy kỷ văn》 quyển 6 bổ sung.
  21. Phát giác tội của họ Ma 'Tội' chữ nguyên bản thiếu, căn cứ theo sách trên bổ sung.
  22. Tả Chánh ngôn Tri chế cáo Trương Sư Đức vì bệnh xin ra ngoài giữ chức ở Dĩnh Châu, 'Dĩnh Châu' nguyên bản là 'Dĩnh Xuyên', theo bản Tống, bản Tống toát yếu, bản các và 《Tống sử》 quyển 306 bản truyện sửa lại.
  23. Theo lệ ưu đãi như các huyện Long Nham thuộc châu Chương, nguyên bản viết 'châu Đàm', căn cứ theo 《Tống hội yếu》 chức quan 47-5 sửa lại
  24. Tộc Tiểu Hồ nguyên bản chép là 'Tiểu Phiên', nay căn cứ 《Tống sử》 quyển 491, truyện Đảng Hạng sửa lại.
  25. Rồng vàng và giun đất xuất hiện, 'rồng vàng' và 'giun đất' nguyên văn đảo lộn, theo 《Tống hội yếu》 vận lịch nhất chi nhất sửa lại.
  26. Thần nghe rằng Thái Tổ sinh ra đã có khí vàng bao bọc, chữ 'duy' nguyên văn thiếu, theo sách trên bổ sung.
  27. Còn lại thần quy, thú quý, chữ 'thú' nguyên văn là 'hiến', theo sách trên sửa lại.
  28. Vẫn được cấp thêm theo lệ Giám áp, 《Tống hội yếu》 chức quan 49-2 chép là 'Vẫn được cấp thêm Giám áp'.
  29. Chữ 'Từ' nguyên là 'Trừ', căn cứ theo sách trên đã sửa lại.
  30. Cung châu nguyên bản là 'Ấn châu', căn cứ theo 《Tống sử》 quyển 301, truyện Chương Tần sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.