I. TỐNG THÁI TỔ
QUYỂN 11: NĂM KHAI BẢO THỨ 3 (CANH NGỌ, 970)
Từ tháng giêng năm Khai Bảo thứ 3 đời Thái Tổ đến hết tháng 12 cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Quý Sửu, bãi bỏ Đông Hải giám ở Hải châu, khôi phục lại thành huyện.
[2] Ngày Tân Dậu, ban chiếu cho các quan chức châu xét duyệt dân chúng, ai có hiếu đễ nổi tiếng, đức nghiệp thuần hậu (theo ‘Tống sử’, ‘Tống sử ký’ và ‘Tiết Ứng Kỳ – Tục Thông Giám’ đều chép là “đức hạnh thuần mậu”, ở đây chép “đức nghiệp thuần mậu”, chữ “nghiệp” là sai), ở nơi có đủ năm nghìn hộ thì được tiến cử một người, hoặc có tài năng xuất chúng, hành vi khác thường thì không giới hạn số lượng. Người được tiến cử phải có thực trạng rõ ràng[1], sẽ được thưởng theo cấp bậc, nếu không tuân theo chiếu chỉ sẽ bị trị tội.
(Theo ‘Vương Xưng – Đông Đô Sự Lược’: Chiếu cho các đạo, châu, phủ xét dân có hiếu đễ nổi tiếng, đức hạnh thuần mậu, được khen ngợi trong làng, được sĩ phu và dân chúng kính phục thì tâu lên.)
[3] Trấn Ninh tiết độ sứ Trương Lệnh Đạc bị bãi chức quân sự, Vua sai hoàng đệ là Quang Mỹ cưới con gái Lệnh Đạc làm phu nhân. Khi Lệnh Đạc từ Trấn Ninh về triều, bị bệnh, Vua thân hành thăm hỏi, ban tặng 5.000 xấp lụa, 5.000 lạng bạc, và ban thưởng hậu hĩnh cho gia quyến. Ngày Kỷ Tỵ, Lệnh Đạc mất, được tặng chức Thị trung. Lệnh Đạc tính tình nhân hậu, từng nói với người khác: “Ta theo quân ba mươi năm[2], trải qua hơn bốn mươi trận lớn nhỏ, phần nhiều là phá hủy phòng tuyến địch, nhưng sau khi thắng trận, chưa từng tùy tiện giết hại một người nào.” Khi ông mất, nhiều người tiếc thương.
[4] Chiếu rằng các quan lại phụ trách đê điều không được thu gom tiền của dân phu, cũng không được điều động nhân lực, vật liệu để phục vụ việc riêng, ai vi phạm sẽ bị xử tử.
[5] Bắc Hán chủ sai sứ giả mang lễ vật đến chúc mừng Khiết Đan chủ. Xu mật sứ Cao Huân tâu với Khiết Đan chủ rằng: “Ta với Tấn Dương là hai nước có quan hệ cha con. Hàng năm thường sai sứ giả đến chầu, không phải là đại thần thì cũng là con em của mình. Tiên quân vì một cơn giận mà bắt giữ hết sứ giả, thật là vô lý. Nay người kế vị vừa mới lập, tả hữu đều không phải người cũ, nếu quốc gia gặp hoạn nạn, chẳng lẽ lại không oán ta? Nên nhân dịp này trả lại hết sứ giả cho họ.” Khiết Đan chủ nói: “Phải.” Bèn sai lục tìm tất cả sứ giả của Bắc Hán trước sau tổng cộng mười sáu người, đối đãi trọng hậu rồi cho về. Lập tức phong Lý Bật làm Xu mật sứ, Lưu Kế Văn làm Bảo Nghĩa tiết độ sứ, ban chiếu cho Bắc Hán chủ trao quyền cho họ.
Kế Văn và những người khác vốn đã ở lâu tại Khiết Đan, nay lại nhận mệnh lệnh của họ, về nội bộ quốc chính, tả hữu đều dèm pha hủy báng. Chẳng bao lâu, Kế Văn bị bổ làm Thứ sử Đại Châu, Bật làm Thứ sử Hiến Châu.
Khiết Đan chủ nghe tin, liền hạ chiếu trách Bắc Hán chủ rằng: “Trẫm vì nước ngươi liền mất hai chủ, ở một nơi hẻo lánh, mong được an định lại, ắt phải dựa vào sự chung sức chung lòng. Kế Văn là em hiền của ngươi, Lý Bật là cựu thần của ngươi, một người là người thân cùng huyết thống, một người là bậc cựu thọ, nên cùng ban mệnh lệnh, để họ thể hiện lòng thành, hy vọng giữ được hòa bình, duy trì tình hữu hảo. Thế mà ngôi chưa kịp ấm, thân đã bị bỏ rơi, lòng thuận theo của ngươi ở đâu?” Bắc Hán chủ nhận được thư, vừa sợ hãi vừa nghi ngờ Kế Văn báo với Khiết Đan, bèn sai sứ giả điều tra và trách mắng Kế Văn, Kế Văn vì lo sợ mà chết.
[6] Tháng 2, ngày Nhâm Thân mùng một, đổi huyện Lương Sơn thuộc Vạn Châu thành quân Lương Sơn.
[7] Ngày Kỷ Mão, Hùng Châu tâu: Thứ sử Hầu Nhân Củ từ trần. Nhân Củ là con trai của Hầu Ích, giữ nhiệm vụ phòng thủ biên giới và quản lý dân chúng đều xứng chức, rất tiếc thương, đặc biệt sai trung sứ hộ tang, nhà nước lo việc mai táng. Con trai của Nhân Củ là Hầu Diên Quảng cũng có tài dũng lược.
(Nhân Củ, Diên Quảng đều được nhắc lần đầu vào năm Càn Hữu nguyên niên.)
Khi Nhân Củ ở Hùng Châu, đang ăn yến, kỵ binh địch vài nghìn người giữa ban ngày tiến vào thành châu, dân chúng kinh hãi. Diên Quảng dẫn vài kỵ binh thân tín phi ngựa ra khỏi cửa nha, bắn chết một tù trưởng[3], chém vài thủ cấp, bắt hết bọn còn lại, cầm thủ cấp dâng lên. Nhân Củ vui mừng, vỗ lưng nói: “Người làm hưng thịnh gia tộc ta chắc chắn là ngươi.” Giám quân Lý Hán Siêu tâu sự việc lên, Vua khen ngợi, ban cho áo gấm, đai bạc.
[8] Đổi tên chùa Thiền Tự thành chùa Khai Bảo, xuống chiếu tu bổ thêm.
[9] Trước đó, cấm thương nhân buôn lậu phèn ở U Châu, người vi phạm bị tịch thu. (Chiếu năm Kiến Long thứ ba[4].) Sau đó định lệnh: người buôn lậu phèn Hà Đông và U Châu từ một lạng trở lên, người nấu lậu phèn từ ba cân trở lên và kẻ trộm phèn nhà nước từ mười cân trở lên, đều xử tử. Ngày Giáp Thân, lệnh tăng mức buôn lậu lên mười cân, người nấu lậu và trộm cắp đủ năm mươi cân thì chết. Những tội khác xử theo mức độ.
[10] Ngày Đinh Hợi, Binh bộ viên ngoại lang, Tri chế cáo Lư Đa Tốn vào chầu ở điện Trường Xuân, được ban áo tía, đai vàng.
[11] Ngày Canh Dần, ngự đến kho trà phía tây, rồi ngự đến quán Kiến Long.
[12] Ngày Đinh Dậu, Vua mở yến tiệc ở điện Quảng Chính, Thái tử Thái sư Vương Phổ, Thái tử Thái phó Vũ Hành Đức, Tả kim ngô vệ Thượng tướng quân Vương Ngạn Siêu đều say rượu thất lễ, bị Ngự sử hặc tấu, Vua hạ chiếu tha cho.
[13] Bắc Hán chủ phong Lễ bộ Thị lang Lý Uẩn làm Tư không, Đồng bình chương sự; Hồng lư khanh Lưu Kế Ngung làm Thái sư, kiêm Trung thư lệnh, lĩnh chức Thành Đức tiết độ sứ; Tam ty sứ Cao Trọng Hy (Trọng Hy, không rõ lai lịch.) làm Xu mật sứ; hoạn quan Vệ Đức Quý làm Đại nội đô điểm kiểm; kẻ sủng ái Phạm Siêu làm Thị vệ thân quân đô ngu hậu. Siêu và Đức Quý thực sự nắm giữ việc cơ mật, còn Uẩn và những người khác chỉ giữ chức vụ danh nghĩa mà thôi.
Uẩn, người Dương Vũ, gặp loạn, bị cách biệt với mẹ, sống trong cảnh buồn bã, chỉ chăm lo đánh cờ và uống rượu, bỏ bê chính sự. Bắc Hán chủ nhiều lần nhắc nhở, nhưng Uẩn không nghe. Một hôm, Uẩn đang đánh cờ với một vị sư, Bắc Hán chủ biết chuyện, sai thị vệ đến thẳng chỗ Uẩn, lấy bàn cờ đốt đi. Uẩn vẫn thản nhiên đến xin lỗi Bắc Hán chủ. Hôm sau, Uẩn cho làm bàn cờ mới, tiếp tục đánh cờ như trước.
Bắc Hán chủ có nhiều người sủng ái trong cung, Kế Ngung làm hàng trăm bộ trâm và hoa tai dâng lên, Bắc Hán chủ càng thêm tin dùng ông ta.
[14] Tháng 3, ngày mùng 1 Nhâm Dần, Vua hạ chiếu cho Lễ bộ Cống viện xét duyệt những tiến sĩ, các khoa thi đã 15 lần dự thi trở lên từng qua trường thi, lấy tên trình lên. Ngày Giáp Thìn, chọn được 63 người, trong đó có Tư Mã Phổ; ngày Canh Tuất, lại chọn thêm 43 người đã 15 lần dự thi nhưng chưa qua trường thi, tất cả đều được ban danh vị, đồng thời hạ chiếu từ nay không được lấy đây làm lệ.
(‘Tân lục’, ‘Bản chí’ và ‘Hội yếu’ ghi chép ơn đặc biệt này, gộp hai việc làm một, số người không thống nhất, nay căn cứ ‘Cựu lục’ sửa đổi[5].)
[15] Quyền tri cống cử Hỗ Mông chọn được 8 người đỗ tiến sĩ hợp cách.
[16] Trung vũ tiết độ sứ Tống Ngọ mua nhà cửa, cửa hàng trong khu vực mình quản lý, Vua nghe tin, không vui. Ngày Mậu Thân, điều Tống Ngọ làm Tĩnh nan tiết độ sứ.
[17] Ngày Kỷ Dậu, phong Trung Chính tiết độ sứ Vương Thẩm Kỳ làm Trung Vũ tiết độ sứ. Thẩm Kỳ trấn thủ Thọ Xuân tổng cộng tám năm, hàng năm thu thuế, cân nhắc chi tiêu, chưa từng đòi hỏi quá mức, dân chúng cảm thấy yên ổn. Có viên lệnh trong cai quản vì tội mà cách chức lục sự sử[6], mạc liêu tâu rằng lệnh không xin ý kiến phủ trước, xin tra xét. Thẩm Kỳ nói: “Từ đời Ngũ Đại trở lại đây, chư hầu cường bạo, lệnh không thể chuyên quyền trong huyện. Nay thiên hạ thái bình, ta giữ chức phiên, mà lệnh trong cai quản có thể đuổi đi viên lại gian xảo, thật đáng khen, cần gì phải tra xét!” Người nghe đều khen phục.
[18] Ngày Canh Tuất, ban chiếu cho Lễ bộ Cống viện liệt kê tên họ những người được đặc cách ban xuất thân, gửi xuống các châu huyện liên quan, bảo quan lại xem xét hành vi thực tế báo lên, ai che giấu sẽ bị trị tội.
[19] Ngày Tân Hợi, phong xử sĩ Vương Chiêu Tố làm Quốc tử bác sĩ về hưu.
Chiêu Tố người Toan Tảo, từ nhỏ chăm học, có chí hướng[7]. Khi mua đồ, ông trả đúng giá, có người nói giá không đúng, ông liền bảo: “Ngươi hãy nhận lấy, bằng không, ngươi sẽ thành kẻ nói dối.” Từ đó, người ta không dám lừa dối ông, và bảo nhau rằng: “Mua đồ của tiên sinh Vương, không được kê giá hư.” Khi dựng nhà, ông chất gỗ giữa tường. Có kẻ trộm chui vào bị gỗ vướng, không vào được, Chiêu Tố phát hiện, lấy hết đồ trong nhà ném ra ngoài, bảo tên trộm: “Ngươi mau đi, sợ người bắt đến.” Tên trộm xấu hổ, bỏ đồ chạy. Từ đó trong ấp không có trộm cắp. Ông soạn ‘Dịch luận’ 33 thiên, nhiều học giả theo học.
Vua nghe danh tiếng của ông, bèn triệu đến gặp ở điện Tiện, lúc ấy ông đã hơn bảy mươi tuổi. Vua hỏi: “Vì sao không ra làm quan, để đến nay mới được gặp mặt?” Chiêu Tố từ chối, nói rằng không có khả năng. Vua bảo ông giảng quẻ Càn, khi đến câu “Cửu ngũ, phi long tại thiên”, ông liền nghiêm mặt nói: “Hào này đúng là việc của Bệ hạ ngày nay.” Rồi dẫn chứng cớ, nhân đó tỏ ý khuyên răn kín đáo. Vua rất hài lòng, liền hỏi về việc dân, Chiêu Tố nói rõ sự thật không giấu giếm gì, Vua càng khen ngợi. Lại hỏi về thuật trị nước và dưỡng thân, Chiêu Tố đáp: “Trị nước không gì bằng yêu dân, dưỡng thân không gì bằng ít ham muốn.” Vua yêu thích lời ấy, thường viết lên bình phong và bàn kỷ. Ông ở lại hơn một tháng, nhiều lần xin về, nên có lệnh này. Năm tám mươi chín tuổi, ông qua đời tại nhà.
(Bản truyền chép rằng ông được Lý Mục tiến cử. Xét ra, Mục đến năm Khai Bảo thứ năm mới được triệu làm Thái tử Trung Doãn, lúc này đang bị cách chức Thông phán Dương Châu về ở nhà, nên người tiến cử Chiêu Tố không phải là Mục. Sách ‘Tương Sơn Lục’ của sư Văn Oánh cũng nói Mục tiến cử, lại nói là đối đáp với Thái Tông, đều sai. Sách ‘Bảo Huấn’ chép rằng được phong Tả Thập Di ngay, khác với chính sử và Thực lục, nay không theo.)
[20] Ngày Bính Thìn, cách chức Điện trung Thị ngự sử (theo ‘Tống sử’ chép là Điện trung Thừa) Trương Ngu, vì trước đây làm Tri châu Dĩnh để chính sự không công bằng, bị người tố cáo.
(Trương Ngu, chưa rõ lai lịch.)
[21] Ngày Kỷ Mùi, Vua đến phủ Tể tướng Triệu Phổ thăm bệnh, ban cho năm nghìn lạng bạc, năm nghìn tấm lụa. Lại ban cho vợ ông là Hòa thị năm mươi lạng bạc, ba nghìn bộ quần áo[8]. Sau đó, Vua đến chùa Khai Bảo.
[22] Ngày Canh Thân, lưu đày Hữu Giám môn Vệ Suất phó phủ Suất Vương Kế Huân đến Đăng Châu, ngày Tân Dậu, đổi mệnh cho ông làm quan ở Tây Kinh. Kế Huân lại phạm pháp, nhưng Vua nghĩ đến Hiếu Chương Hậu nên chỉ xử phạt nhẹ.
[23] Ngày Ất Sửu, Đô quan viên ngoại lang Cao Miện bị giáng chức làm Tả tán thiện đại phu. Miện từng tiến cử Giám sát ngự sử Phù (Duật Vũ), (Duật Vũ) phạm tội bị tước chức nên Miện bị liên đới.
(Miện, chưa rõ lai lịch.)
[24] Ngày Mậu Thìn, Triệu Phổ bị miễn chức khởi phục.
[25] Ngày Canh Ngọ, ban chiếu lệnh cho Trạch Châu trực thuộc Kinh sư.
[26] Nâng huyện Củng thuộc phủ Hà Nam lên hàng thứ xích để phụng thờ An lăng.
[27] Mùa hạ, tháng 4, ngày Tân Mùi mùng 1, nhật thực xảy ra.
[28] Ngày Ất Hợi, bổ nhiệm Nội khách tỉnh sứ Đinh Đức Dụ quyền tri Lộ Châu. Lúc này, Chiêu nghĩa tiết độ sứ Lý Kế Huân đã được điều làm Thiên hùng tiết độ sứ.
[29] Ngày Mậu Dần, ban chiếu: “Các đạo châu phủ phải cử những người đủ tiêu chuẩn về Kinh, trừ thời gian di chuyển, cho hạn hai tháng, nếu quá hạn không đến sẽ bị phạt. Những ai không muốn làm quan, cấp trên phải tâu lên, đồng thời bị chậm năm kỳ tuyển dụng.”
[30] Ngày Kỷ Mão, ban chiếu cho Tam ty: Các loại thuế lưỡng thuế chiết khoa vật phẩm không phù hợp với địa phương thì không được bắt ép nộp. Lại ban chiếu các châu: Lụa, gấm, vải lanh, thuốc thơm, lông chim, tên, da, gân, sừng, v.v., mỗi nơi chỉ được dự trữ đủ dùng trong hai năm, không được thu mua quá nhiều[9] để tránh làm phiền dân.
(Chiếu này theo bản chí được ban trong tháng này, nay ghi thêm. Chí lại nói: Các quan thuộc Tam ty không chịu hợp tác, vin vào lệ trốn tránh công việc, nên bắt đầu quy định lại. Xét việc quy định các quan thuộc Tam ty vốn là sự kiện tháng giêng năm Càn Đức thứ 4. Nay bỏ đi.)
[31] Ngày Đinh Hợi, ngự giá đến Kiến Long Quán và chùa Khai Bảo ở Tướng quốc để cầu mưa.
[32] Ngày Mậu Tý, ban chiếu các cơ quan: Mọi việc xây dựng phải lập kế hoạch trước, mỗi tuần cấp phát vật liệu đủ dùng, tránh tích trữ dẫn đến tham nhũng.
[33] Ngày Tân Mão, mưa.
[34] Ngày Giáp Ngọ, ngự giá đến hồ Giáo Thuyền.
[35] Lệnh cho Hàn lâm học sĩ và các quan văn thường trực, mỗi người phải tiến cử một người đủ tiêu chuẩn làm quan thường trực từ số quan chức đương nhiệm hoặc cũ, tân khách, châu huyện.
[36] Trước đây, phòng thượng tả tàng tự may quần áo thì tự thu. Ngày Kỷ Hợi, bắt đầu đặt kho y phục bên trong cửa Tả Dịch.
[37] Vùng Hà Bắc trước đây cấm buôn muối, đến cuối niên hiệu Kiến Long, mới cho phép thương nhân muối đi lại trong phạm vi 20 dặm ngoài thành của sáu châu: Hình, Minh, Từ, Trấn, Kỹ, Triệu. Ngày Canh Tý, bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm muối ở các châu, những người đi qua nộp thuế mỗi cân một đồng, người ở lại nộp gấp đôi.
[38] Tháng 5, ngày Đinh Mùi, cấm dân chúng trong kinh thành không được tích trữ vũ khí.
[39] Ngày Mậu Thân, xuống chiếu cho các châu lớn, không được cử người hầu cận hoặc thân thuộc nắm giữ công việc ở các cục, trấn.
(Theo sách cũ ghi lại, sách mới không có nội dung này. Trong bản kỷ, việc này được ghi vào tháng 6, ngày Ất Mùi, nay theo sách cũ. Xem lại bản chí và sách hội yếu, đều ghi rằng vào năm Thái Bình Hưng Quốc thứ hai, cấm các phiên hầu bổ nhiệm người thân tùy làm tướng trấn[10]. Từ đó chỉ dùng lại châu sở tại, cũng có người được tuyên bổ nhiệm. Tra cứu năm Hưng Quốc thứ hai nhưng không thấy việc này, có lẽ chính là sự việc này. Hoặc năm Hưng Quốc thứ hai lại tái ban lệnh cấm này, nay để cả hai.)
[40] Ngày Quý Sửu, Vua đến phía bắc thành xem cối xay nước.
[41] Ngày Đinh Tỵ, ở kinh thành lần đầu tiên đặt cơ quan tiện tiền vụ.
[42] Ngày Đinh Mão, xuống chiếu cho quân Thông Viễn trực thuộc kinh thành.
[43] Ngày Mậu Thìn, lấy huyện Vô Đế của châu Thương đặt làm quân Bảo Thuận.
[44] Đổi tên điện Quảng Chính thành điện Đại Minh.
[45] Tháng 6, ngày Giáp Tuất, phong con gái đầu của Vua làm Chiêu Khánh công chúa, ngày Giáp Thân gả cho Tả vệ tướng quân, Phò mã đô úy Vương Thừa Diễn. Thừa Diễn là con của Vương Thẩm Kỳ.
[46] Ngày Kỷ Hợi, Kinh Đông phát vận sứ, Lại bộ lang trung Hà Ấu Xung, vì nhận của đút lót từ các châu, bị giáng chức xuống Khảo công viên ngoại lang.
[47] Lấy ba trăm bản chiếu thư giao cho các châu quân ở vùng đông bắc Hà Đông, Thiểm Tây, lệnh phân người đưa vào đất Bắc Hán để chiêu hàng dân và quan lại nơi đó.
[48] Sông Biện vỡ đê ở huyện Ninh Lăng, châu Tống, huy động dân đinh châu Tống, Bạc đến đắp đê. Lại đắp cửa sông Biện để giảm bớt sức nước.
[49] Mùa thu, tháng bảy, ngày Nhâm Dần, ban chiếu rằng: “Dân chúng trình báo thiệt hại do lũ lụt hoặc hạn hán, mùa hè không được quá tháng tư, mùa thu không được quá tháng bảy.”
(Sách ‘Thực hóa chí’ ghi chép thời hạn báo cáo thiên tai ở Kinh Hồ, Hoài Nam, Lưỡng Chiết, Xuyên Hạp, Quảng Nam là sai. Lúc đó Chiết, Quảng chưa quy về triều đình, nay theo ‘Tân lục’.)
[50] Ngày Nhâm Tý, ban chiếu rằng: “Quan lại quá nhiều, khó mà tìm được người giỏi trị, bổng lộc lại ít, không thể bắt họ phải liêm chính. Thà rằng giảm bớt quan lại mà tăng bổng lộc còn hơn giữ nhiều người mà hao phí nặng. Trong các châu huyện thuộc Tây Xuyên, nên căn cứ vào số hộ khẩu để điều chỉnh giảm số quan, đồng thời tăng bổng lộc cũ mỗi tháng thêm năm ngàn. Các châu có hai vạn hộ trở lên, vẫn giữ ba vị tào quan như cũ; dưới hai vạn hộ, chỉ đặt một lục sự tham quân, một tư pháp tham quân, tư pháp kiêm luôn việc tư hộ; dưới một vạn hộ, chỉ đặt một tư pháp, một tư hộ, tư hộ kiêm luôn việc lục sự tham quân; dưới năm ngàn hộ, chỉ đặt một tư hộ, kiêm luôn việc tư pháp và lục sự tham quân. Huyện có một ngàn hộ trở lên, vẫn giữ ba vị: lệnh, úy, chủ bạ; dưới một ngàn hộ, chỉ đặt một lệnh, một úy, huyện lệnh kiêm luôn việc chủ bạ; dưới bốn trăm hộ, chỉ đặt chủ bạ, huyện úy, chủ bạ kiêm luôn việc tri huyện; dưới hai trăm hộ, chỉ đặt chủ bạ, kiêm luôn việc huyện úy.”
[51] Ngày Bính Thìn, ban chiếu rằng: “Những kẻ trộm cắp ở Tây Xuyên phải chết mà cần tâu lên xin xét xử, đều phải giải về kinh.”
[52] Ban chiếu rằng: “Quan chức các châu huyện trong thiên hạ nên theo lệ Tây Xuyên mà giảm bớt số người.”
(Cần thấy số lượng người giảm bớt là bao nhiêu.)
[53] Ngày Bính Dần, Trung thư thị lang Hàn Hi Tải của Nam Đường qua đời. Trước đó, Đường chủ thấy Hi Tải hết lòng trung thành, dám nói thẳng, muốn dùng ông làm tể tướng, nhưng Hi Tải buông thả tình cảm, bỏ qua lễ nghi, trong nhà có vài chục kỹ thiếp, phần lớn ra ngoài phủ đón tiếp khách riêng, Đường chủ vì thế khó xử.
Không lâu sau, ông bị hặc tấu, giáng làm Hữu thứ tử, phụ trách Nam Đô. Hi Tải liền đuổi hết các kỹ nữ, một mình lên đường, lại dâng biểu xin ân xét. Đường chủ vui mừng, giữ ông lại, rồi khôi phục chức vị. Sau đó, các kỹ nữ dần trở về, Đường chủ nói: “Ta chẳng biết làm sao nữa.” Khi Hi Tải chết, Đường chủ than: “Ta rốt cuộc không được dùng Hi Tải làm tể tướng.” Muốn truy tặng ông chức Bình chương sự, bèn hỏi có tiền lệ nào như vậy không, cận thần đáp: “Trước kia Lưu Mục Chi được truy tặng Khai phủ Nghi đồng Tam ty.” Liền viết chiếu truy tặng Hi Tải chức Bình chương sự. Nhà Hi Tải không còn của cải, quan tài, áo liệm đều do Đường chủ ban.
(Theo tập của Từ Huyền, Hi Tải mất ngày 27 tháng 7 năm đó, tức ngày Bính Dần. ‘Giang Nam dã lục’ chép việc Hi Tải rất chi tiết, nhưng lời lẽ quá thô tục, nay chỉ dùng ‘Ngũ Đại sử’ và ‘Cửu Quốc chí’, có thêm chút chỉnh sửa.)
[54] Ngày Mậu Thìn, ngự đến Giáo thuyền trì. Lại ngự đến Ngọc Tân viên yến tiệc bắn cung.
[55] Cấm dân Phủ Hà Nam cày cấy đất trong tường bao quanh miếu thờ nhà Tấn và nhà Hán.
[56] Lệnh cho quan lại Tây Xuyên khi hết hạn khảo khóa được thay thế, không phải đợi tuyển dụng.
[57] Tháng 8, ngày Đinh Hợi, dời Cơ quan Chuyên trách về Thương mại thuộc Kiến Dương quân về Dương Châu.
[58] Ngày Mậu Tý, ngự đến Giáo thuyền trì, lại ngự đến Ngọc Tân viên.
[59] Ngày Canh Dần, cho Lý Khiêm Bạc, thứ sử châu Thấp, làm Đoàn luyện sứ châu Tế. Khiêm Bạc ở châu Thấp mười năm, kẻ địch không dám xâm phạm biên giới. Có tướng Chiêu thu là Lưu Tiến, sức mạnh hơn người, Khiêm Bạc đối đãi rất hậu, được Tiến hết lòng phụng sự, thường lui tới biên giới, lấy ít đánh nhiều.
Bắc Hán lo ngại, dùng thư gián địch, bọc trong quả cầu sáp, bỏ lại giữa đường. Triệu Tán, tiết độ sứ châu Tấn, bắt được đem dâng lên Vua. Vua ra lệnh trói Tiến đưa về kinh. Khiêm Bạc triệu đến tra hỏi, Tiến quỳ xuống sân, xin chịu tội. Khiêm Bạc nói: “Ta lấy cả gia tộc bốn mươi người bảo lãnh cho ngươi.” Liền tâu lên: “Tiến bị người Bắc Hán ghét, đây là kế phản gián.” Tấu đến, Vua tỉnh ngộ, lập tức ra lệnh tha, ban cho áo mũ, lều trại của đô hiệu cấm quân. Tiến cảm kích, nguyện đánh giặc để đền ơn.
[60] Vua từng sai quan hữu ty xây dinh thự cho Quách Tiến, phòng ngự sứ châu Minh, sảnh đường đều dùng ngói ‘dõng’. Quan hữu ty tâu rằng chỉ có thân vương, công chúa mới được dùng loại ngói này. Vua nổi giận nói: “Quách Tiến trấn giữ Tây Sơn hơn mười năm, khiến ta không phải lo lắng phương bắc. Ta coi Tiến đâu kém con cái? Hãy mau đốc thúc công việc, đừng nói bậy.” Vua yêu quý tướng súy như thế, nên được họ hết lòng phụng sự. (Tiến từng làm tuần kiểm Tây Sơn năm đầu Kiến Long, đến nay đã mười một năm, nhân việc này mà chép thêm, chưa chắc đúng vào năm này).
[61] Đường chủ lại sai Tri chế cáo Phan Hữu viết thư hơn nghìn chữ khuyên Nam Hán chủ quy thuận Trung Quốc, cử Cấp sự trung Cung Thận Nghi đi sứ. Nam Hán chủ nhận thư, nổi giận, bèn giam Thận Nghi. Viết thư trả lời Đường chủ, lời lẽ rất bất kính. Đường chủ đem thư ấy dâng lên, Vua mới quyết ý đánh dẹp.
(Trích ‘Tư trị thông giám’, Bản kỷ)
[62] Tháng chín, ngày Kỷ Hợi (mùng 1), lấy Phòng ngự sứ Đàm châu là Phan Mỹ làm Đô bộ thự Binh mã Hành doanh đạo Hạ châu, (Xét ‘Tống sử’ và ‘Tống sử ký’ đều chép là Hạ châu, Tiết Ứng Kỳ trong ‘Tục thông giám’ chép là Quế châu. Tra cứu Quế châu và Hạ châu đều là đất của Nam Hán, chưa rõ chính xác. Xin ghi lại để tham khảo.) Đoàn luyện sứ Lãng châu là người Nghiệp là Doãn Sùng Kha làm phó, Thứ sử Đạo châu là Vương Kế Huân làm Đô giám Mã quân Hành doanh. Lại sai sứ phát động binh lính các châu đến dưới thành Hạ châu.
(Cựu lục chép việc phái Phan Mỹ vào ngày Tân Mão tháng tám, nay theo Tân lục, Bản kỷ và Hội yếu.)
[63] Ngày Giáp Thìn, xuống chiếu: “Các lăng của Chu Văn Vương, Thành Vương, Khang Vương; Tần Thủy Hoàng; Hán Cao Tổ, Văn Đế, Cảnh Đế, Vũ Đế, Nguyên Đế, Thành Đế, Ai Đế; Ngụy Hiếu Văn Đế; Tây Ngụy Văn Đế; Hậu Chu Thái Tổ; Đường Cao Tổ, Thái Tông, Trung Tông, Túc Tông, Đại Tông, Đức Tông, Thuận Tông, Văn Tông, Vũ Tông, Tuyên Tông, Ý Tông, Hi Tông, Chiêu Tông, tổng cộng 27 lăng từng bị khai quật, lệnh cho các cơ quan chuẩn bị pháp phục và thường phục mỗi loại một bộ, sắp xếp quan quách để chôn cất lại. Các quan địa phương phải tổ chức tế lễ.”
[64] Ngày Bính Thìn, Đăng châu tâu rằng nước Nữ Chân cử sứ sang triều cống. Vua nước Định An là Liệt Vạn Hoa dâng biểu kèm theo phẩm vật địa phương. Nước Định An vốn là một chủng tộc thuộc Mã Hàn, bị Khiết Đan đánh phá, thủ lĩnh của họ tập hợp tàn quân chạy về phía tây, tự xưng là Quốc công Định An.
(Lưu ý: Bản gốc có ‘tây bỉ’, nhưng dịch đơn giản là ‘phía tây’ để rõ nghĩa.)
[65] Ngày Đinh Mão, Phan Mỹ tâu rằng đã đại phá hơn vạn quân Nam Hán và chiếm được Phú châu.
(Việc chiếm Phú châu, ‘Lưu Sưởng truyện’ và ‘Cửu quốc chí’ đều lược bỏ, chỉ chép việc đóng quân ở Bạch Hà. Không rõ Bạch Hà thuộc châu huyện nào, nay theo Bản kỷ và Thực lục, ghi trước là Phú châu. ‘Thập quốc kỷ niên’ chép việc chiếm Phú châu đến Bạch Hà cùng trong tháng chín.)
[66] Trước đó, các tướng cũ của Nam Hán đa phần bị chết vì nịnh thần, tông thất bị giết gần hết, việc nắm binh quyền chỉ còn mấy tên hoạn quan. Tường thành, hào lũy chỉ được dùng để trang trí cung điện, ao hồ, thuyền chiến cùng khí giới đều hư hỏng, không được tu sửa. Khi quân nhà Tống đóng quân ở Bạch Hà, Thứ sử Quý châu là Trần Thủ Trung (Thủ Trung, không rõ lai lịch) phái người báo tin khẩn cấp, trong ngoài đều chấn động, sợ hãi. Vua Nam Hán liền sai Cung Trừng Xu dùng trạm ngựa nhanh đến Quý châu để an ủi quân sĩ. Bấy giờ, quân lính đóng ở biên giới đã lâu, phần lớn đều nghèo khổ, nghe tin Trừng Xu đến, tưởng rằng sẽ được ban thưởng hậu hĩnh, nên đều vui mừng. Nhưng Trừng Xu chỉ đưa ra chiếu thư rỗng để phủ dụ, khiến quân sĩ tan rã tinh thần. Khi quân nhà Tống chiếm được Phùng Thừa, tiền quân tiến đến Phương Lâm, Trừng Xu hoảng sợ, liền chạy trốn về bằng thuyền nhẹ. Tháng này, ngày Quý Sửu, quân nhà Tống bèn bao vây Quý châu.
(Theo ‘Cửu quốc chí’, ‘Ngũ đại sử’ và truyện Lưu Sưởng, đều chép rằng khi quân Tóng đóng ở Bạch Hà, Sưởng liền phái Cung Trừng Xu đến Quý châu, Quách Sùng Nhạc đến Quý châu, Lý Thác[11] đến Thiều châu, bàn kế phòng thủ. Nay xét lại, lúc này chỉ phái Trừng Xu mà thôi. Sùng Nhạc được làm Chiêu thảo sứ là sau khi Lý Thừa Ốc thất bại, còn khi Tân Diên Ốc khuyên Sưởng đầu hàng, Thác vẫn ở trong triều ngăn cản việc này, vì vậy khi quân Tống đóng ở Bạch Hà, Thác và Sùng Nhạc chắc chắn chưa xuất quân.)
[67] Vua Nam Hán hạ chiếu triệu tập các đại thần bàn bạc, tất cả đều xin cử Phan Sùng Triệt cầm quân chống lại quân triều đình. Sùng Triệt từ khi bị tước quyền binh, lòng thường oán hận, bèn từ chối với lý do mắt bị bệnh. Vua Nam Hán nổi giận nói: “Cần gì Sùng Triệt, chẳng lẽ Ngũ Ngạn Nhu không có mưu lược sao?” (Ngạn Nhu, chưa rõ lai lịch.) Bèn sai Ngạn Nhu cầm quân đến cứu viện.
[68] Ngày Mậu Ngọ, quân triều đình nghe tin Ngạn Nhu đến, liền rút lui 20 dặm, bí mật đặt phục binh ở bờ nam sông. Đêm đó, Ngạn Nhu đậu thuyền ở Nam Hương, dừng thuyền bên bờ sông. Đến sáng, ông cầm cung lên bờ, ngồi trên ghế hồ chỉ huy. Bỗng chốc, quân phục kích nổi dậy, quân của Ngạn Nhu đại loạn, chết đến bảy tám phần mười[12]. Ngạn Nhu bị bắt, chém đầu, treo đầu ông lên để thị uy trong thành, nhưng người trong thành vẫn kiên quyết cố thủ không hàng. Tùy quân Chuyển vận sứ Vương Minh nói với Phan Mỹ: “Nên tấn công gấp, nếu không, viện binh đến sẽ lợi dụng thời cơ, quân ta đã mệt mỏi lắm rồi.” Các tướng còn do dự, Vương Minh liền tự mình mặc giáp trụ[13], dẫn bộ hạ hộ tống hơn trăm quân vận chuyển lương thực, cùng mấy nghìn phu dịch, tất cả đều cầm cuốc xẻng, lấp hào, tiến thẳng đến cổng thành. Người trong thành sợ hãi, liền mở cửa đón quân triều đình.
(Ngày 12 tháng 10, Canh Thìn, tin thắng trận ở Hạ Châu mới đến kinh đô, nên sách ‘Bản kỷ’ và ‘Thực lục’ đều ghi chép vào tháng 10. Căn cứ theo truyện Lưu Sưởng, quân triều đình vây Hạ Châu từ tháng 9[14], nhanh chóng hạ được. Đến tháng 10, quân triều đình mới đến Chiêu Châu. Lại theo ‘Thập quốc kỷ niên’, quân triều đình hạ Hạ Châu vào ngày 21 tháng 9, Kỷ Mùi.)
Quân triều đình chỉ huy chiến thuyền, tuyên bố sẽ xuôi dòng tiến về Quảng Châu, Nam Hán chủ lo sợ tột độ, không biết làm thế nào, liền phong Phan Sùng Triệt làm Nội thái sư, Mã bộ quân Đô thống, thống lĩnh ba vạn quân đóng ở Hạ Giang. Nhưng khi quân triều đình tiến thẳng đến Chiêu Châu, Sùng Triệt chỉ bảo toàn lực lượng của mình mà thôi.
[69] Mùa đông, tháng mười, ngày Kỷ Tỵ mùng 1, phu nhân quận Kinh Triệu họ Đỗ qua đời. Vua không thiết triều, mặc áo tang tổ chức lễ ai điếu ở điện Giảng Vũ, các quan văn võ dâng lời tấu chia buồn, đồng thời truy phong bà làm Tề Quốc Thái phu nhân. Phu nhân họ Đỗ là em gái của Chiêu Hiến Hoàng Thái hậu. Lúc trẻ bà về làm vợ Lưu Thiên, Lưu Thiên mất sớm, đến đây cũng được truy tặng chức Thái Bảo.
[70] Ngày Quý Dậu, ban chiếu cho các vị công thần, anh hùng đời trước như Tôn Tẩn, Nguyên Chẩn,… tổng cộng 31 người, mỗi người được đặt một hộ canh giữ mộ, cấm chặt củi hái lượm.
[71] Ngày Tân Tỵ, ban đặc xá trong phạm vi quản lý của châu Hạ (Ngày Tân Tỵ, 13. Ngày Canh Thìn 12, tấu đến).
[72] Ngày Tân Mão, Phan Mỹ tấu rằng Hành doanh Mã quân Đô giám, Thứ sử Đạo Châu Vương Kế Huân đã mất, chiếu lấy Thứ sử Sâm Châu Chu Hiến ở Tuấn Nghi thay thế (Hiến, lần đầu xuất hiện vào năm Thiên Phúc thứ 3).
[73] Quân triều đình phá trại Khai Kiến của Nam Hán, giết vài nghìn người, bắt sống tướng Cận Huy. Thứ sử Chiêu Châu Điền Hành Trù bỏ thành chạy trốn, Thứ sử Quế Châu Lý Thừa Tiến cũng chạy về, bèn chiếm được Chiêu Châu và Quế Châu
(Ngày Nhâm Dần mồng 4 tháng 11, tấu báo thắng trận Chiêu, Quế đến, ắt là lúc đó vào cuối tháng này, nhưng chưa rõ ngày. ‘Bản kỷ’ ghi chép rằng đầu tháng 11 đã chiếm được Chiêu, Quế hai châu, đến cuối tháng lại ghi Phan Mỹ đánh bại hai nghìn quân Quảng Nam ở huyện Khai Kiến, châu Phong, bắt sống Cận Huy. Căn cứ ‘Cửu Quốc Chí’, ‘Thập Quốc Kỉ Niên’ cùng ‘Lưu Sưởng Truyện’ thì trước hết là phá trại Khai Kiến, chém Cận Huy, sau đó mới chiếm được Chiêu, Quế, nay theo ‘Địa Chí’, ‘Truyện’ và ‘Kỉ Niên’).
[74] Vua xem qua số bạc nhập mỗi năm của Giám Quế Dương, nói với Tể tướng: “Lợi từ núi rừng, sông biển tuy nhiều, nhưng nghe nói khai thác cũng chẳng dễ.” Ngày Ất Tỵ tháng 11, ban chiếu giảm một phần ba số cũ để giảm bớt sức dân.
[75] Ngày Kỷ Dậu, ngự giá đến chùa Khai Bảo xem chuông mới.
[76] Ngày Quý Sửu, Tướng quân Hữu lĩnh quân vệ Thạch Diên Tộ bị tử hình, do làm gian với lại dịch khi giám Quảng Tích thương.
[77] Ngày Giáp Dần, ngày Đông chí, ngự tại điện Càn Nguyên nhận chầu.
[78] Kiến Vũ Tiết độ sứ, phán Lệ Châu Hà Kế Quân vào chầu. Ngày Nhâm Tuất, nhận lệnh trở về biên ải, được ban ngựa yên, vũ khí để lên đường.
[79] Ban đầu, quân Khiết Đan kéo sáu vạn kỵ binh đến Định châu, Vua sai quan Phán tứ phương quán sự là Điền Khâm Tộ dẫn ba nghìn quân đi chống cự. Vua bảo Khâm Tộ: “Địch đông ta ít, chỉ nên dựa vào thành dàn trận chờ đợi, địch đến thì đánh, chớ đuổi theo.”
Khâm Tộ giao chiến với giặc ở Mãn thành[15], kỵ binh giặc hơi lùi, Khâm Tộ thừa thắng tiến đến Tuy thành. Ngựa của Khâm Tộ trúng tên bị ngã, kỵ sĩ Vương Siêu đưa ngựa cho Khâm Tộ, quân sĩ lại phấn chấn. Từ sáng đến chiều, quân giặc bị giết hại rất nhiều, đêm đến thì vào giữ Tuy thành. Khiết Đan vây thành mấy ngày, Khâm Tộ nghĩ trong thành lương thực ít, bèn chỉnh đốn quân ngũ mở cửa nam đột phá ra, đêm đó đến Bảo Tắc, trong quân không mất một mũi tên. Miền bắc truyền tụng rằng: “Ba nghìn đánh sáu vạn.” Ngày Quý Hợi, báo thắng trận tâu lên, Vua mừng, bảo tả hữu rằng: “Khiết Đan nhiều lần xâm phạm biên giới, ta bỏ ra hai mươi tấm lụa để mua lấy một thủ cấp Khiết Đan, thì quân tinh nhuệ của chúng không quá mười vạn, nhiều lắm cũng chỉ tốn của ta hai triệu tấm lụa, là Khiết Đan sẽ tiêu diệt hết.” Từ đó càng tăng cường phòng bị biên giới.
(Theo ‘Hội yếu’ và ‘Khiết Đan truyền’, đều nói Khâm Tộ phá giặc vào tháng mười, nhưng đến ngày hai mươi lăm tháng mười một mới có tấu chương về Kinh, e rằng thời gian quá xa. Nay căn cứ vào ‘Bản kỷ’ và ‘Thực lục’ chép vào tháng này. Có lẽ tháng mười sai Khâm Tộ đi, đến tháng mười một mới phá được Khiết Đan.)
[80] Trước đó, Vua xuống chiếu cho các đạo tiến cử người có đức hạnh. Do đó, mọi người đều tụ tập dưới cửa khuyết, Vua sai Học sĩ viện thi vấn về lí lẽ làm quan, thì người được Tào châu tiến cử là Khổng Thiềm đối đáp khá hơn. Ngày Bính Dần, lấy Thiềm làm Chủ bạ huyện Chương Khâu.
[81] Tháng đó, vương sư chiếm được Liên Châu, Chiêu thảo sứ của Nam Hán là Lư Thu dẫn quân rút về bảo vệ Thanh Viễn. Nghe tin ấy, Nam Hán chủ bảo tả hữu rằng: “Chiêu, Quế, Liên, Hạ vốn thuộc về Hồ Nam, nay quân phương Bắc đã lấy được là đủ rồi, hẳn họ không tiến xuống phương Nam nữa.”
(Ngày mùng 5 tháng 12, tấu báo thắng trận ở Liên Châu đến, thời gian quân triều đình chiếm được hẳn là nửa tháng sau đó, nhưng không rõ ngày chính xác.)
[82] Quân hiệu của Bắc Hán là Vương Hưng cùng 22 người khác đến đầu hàng.
[83] Tháng 12, ngày Canh Ngọ, Hàn lâm học sĩ thừa chỉ, Hộ bộ thượng thư, được tặng chức Hữu bộc xạ là Đào Cốc qua đời, Vua sai trung sứ giám sát việc tang lễ.
Cốc văn chương nổi tiếng một thời, tự cho mình ở ngôi lâu, mong được trọng dụng, nhưng tính cách a dua, xu nịnh. Ngụy Nhân Phố ở Trung thư, Cốc tự nhận mình xuất thân từ họ Ngụy, xem Nhân Phố như cậu, mỗi khi gặp đều cúi lạy từ xa. Vợ là Tôn thị dâm loạn, Cốc không thể kiểm soát. Vua vốn coi thường ông, khi chọn người cho chức Tể phụ, chưa từng nghĩ đến Cốc. Cốc không phục, một hôm sai đồng đảng nhân việc nhắc với Vua rằng: “Cốc ở trong từ cấm, đóng góp rất nhiều.” Vua cười nói: “Trẫm nghe nói học sĩ soạn chiếu chỉ đều lấy bản cũ của người trước sửa đổi chút ít, đó chính là như câu ngạn ngữ ‘vẽ bầu theo mẫu’, có gì là đóng góp!” Cốc liền làm thơ đề lên tường Hàn lâm, tỏ ý oán hận. Vua càng coi thường, quyết định không dùng ông nữa.
[84] Cao Dương của Doanh Châu vốn thuộc về Khiết Đan, giáp với Bác Dã của Định Châu, dân Bác Dã thường xâm phạm, bèn lập hành huyện ở phía đông bắc cách 30 dặm. Sau khi Chu Thế Tông chiếm được Tam Quan, hành huyện gần biên giới, cách xa châu trị, dân kêu ca bất tiện, Chuyển vận sứ tâu lên. Ngày Tân Mùi, dời hành huyện về lại trị sở cũ.
[85] Ngày Mậu Dần, Vua đi săn ở ngoại ô.
[86] Trước đây, Nam Hán chiếm Quế, Liên hai châu, đều đuổi dân không cho ở trong thành. Ngày Mậu Tý, lệnh trưởng lại chiêu an dân chúng, lập khu dân cư, cấp nhà cửa cho họ ở.
Quân triều đình tiến thẳng đến Thiều Châu, Đô thống Lý Thừa Ốc dẫn hơn mười vạn binh, dàn trận dưới chân núi Liên Hoa Phong. Người Nam Hán huấn luyện voi làm trận, mỗi voi chở hơn mười người, đều cầm vũ khí, mỗi khi chiến đấu đều đặt ở trước trận để tăng thế uy cho quân. Vương sư tập trung nỏ mạnh bắn vào, voi hoảng sợ chạy loạn, người trên lưng voi đều rơi xuống, quay lại giày xéo quân của Thừa Ốc, quân Nam Hán đại bại, Thừa Ốc may mắn thoát thân. (Sách ‘Thế gia’ nói Thừa Ốc chỉ thoát được, trong ‘Lý Thác truyện’ lại nói Thừa Ốc tử trận, không rõ bên nào đúng. Quốc sử cũng chép Thừa Ốc chỉ thoát được, nay theo ghi chép đó. Thừa Ốc, không rõ lai lịch.) Quân triều đình chiếm được Thiều Châu, bắt Thứ sử Tân Diên Ốc (Diên Ốc, không rõ lai lịch.) và Gián nghị đại phu Trâu Văn Viễn.
(Văn Viễn, không rõ lai lịch.)
Diên Ốc ngầm cử sứ giả khuyên chúa Nam Hán ra hàng, Lục quân Quan quân dung sứ Lý Thác kiên quyết phản đối nghị này, trong nước rất lo sợ. Nam Hán chủ bèn lệnh đào hào phía đông để phòng thủ, xét thấy các tướng không có người đủ tài dùng được, cung ảo Lương Loan Chân[16] tiến cử dưỡng tử Quách Sùng Nhạc là người có thể dùng, bèn phong làm Chiêu thảo sứ, cùng Đại tướng Thực Đình Hiểu (Đình Hiểu, không rõ lai lịch.) thống lĩnh sáu vạn quân đóng ở Mã Kính, dựng rào chắn để chống lại vương sư, cách Phiên Ngu chỉ hơn trăm dặm.
(Ngày 24 tháng 12, giờ Tân Mão, tin thắng trận ở Thiều Châu mới đến, nhưng thời điểm thắng trận hẳn là vào đầu tháng. Căn cứ ‘Thập quốc kỷ niên’, ngày 7 tháng 12, giờ Ất Hợi, quân của Vương tiến đến Thiều Châu.)
[87] Ngày Quý Tỵ, huy động hai vạn dân ở vùng gần kinh thành sửa đê sông.
[88] Mùa đông năm đó, Lâm Nhân Triệu, Nam đô lưu thủ nhà Đường, người Kiến An (Nhân Triệu là em của Nhân Hàn, xuất hiện lần đầu vào năm Hiển Đức thứ 2), dâng mật biểu trình rằng: “Các châu ở Hoài Nam hiện chỉ đặt không quá một ngàn quân phòng thủ. Nhà Tống năm trước đã diệt Thục, nay lại chiếm lĩnh Lĩnh Biểu, quân đội phải di chuyển mấy ngàn dặm, sức lực đã kiệt. Xin hãy cho thần mấy vạn binh, từ Thọ Xuân vượt sông về phía bắc, tiến chiếm Chính Dương, nhờ vào dân chúng còn nhớ cũ, có thể khôi phục vùng đất Giang Bắc xưa. Dù họ có cứu viện, thần cũng đã chiếm cứ Hoài Hà, dựa vào thành lũy để chống trả, họ chắc chắn không thể địch nổi. Ngày khởi binh, xin hãy tuyên bố thần làm phản để báo cho nhà Tống. Việc thành thì quốc gia được lợi, nếu thất bại xin hãy tru di gia tộc thần để chứng tỏ Bệ hạ không có hai lòng.”
Đường chủ sợ việc không thành mà còn dẫn đến thất bại nhanh chóng, nên không nghe theo.
[89] Trước đó, Lư Ráng, người Nghi Xuân, đến yết kiến Xu mật sứ Trần Kiều dâng thư. Trần Kiều thấy ông khác thường, liền đề bạt làm Thừa chỉ của viện này, sau thăng làm Tuần kiểm vùng duyên giang. Ông chiêu mộ những người liều mạng, luyện thủy chiến, nhiều lần đánh bại quân Ngô Việt ở Hải Môn, cướp được vài trăm chiến thuyền.
Ông từng khuyên Đường chủ: “Ngô Việt là kẻ thù của ta. Đến ngày nào đó, họ ắt sẽ dẫn đường cho phương bắc, hợp lực tấn công, nên tiêu diệt trước.”
Đường chủ nói: “Họ là chư hầu của thiên triều, sao dám đem quân đánh?”
Lư Ráng đáp: “Xin để thần giả làm phản ở Tuyên, Hấp châu, bệ hạ hãy tuyên bố thảo phạt, đồng thời xin viện binh từ Ngô Việt. Đợi khi quân họ đến, thần sẽ đánh úp, tiến đánh trực tiếp, nước họ ắt sẽ diệt vong.”
Đường chủ cũng không dùng kế này.
(Hai việc này đều căn cứ theo “Thập quốc kỷ niên”.)
[90] Năm đó, Vua xuống chiếu tu sửa đền thờ Tứ Độc. Sau đó, sai Thái tử hữu Tán thiện đại phu Viên Nhân Phủ cùng chín người khác đến các núi sông lớn để đốc thúc việc tu sửa đền thờ.
(Theo “Hội yếu” và “Lễ chí”, việc tu sửa đền Tứ Độc là trong năm nay, còn việc sai sứ đi là năm sau, không ghi rõ tháng ngày. Nay ghi chung. Viên Nhân Phủ, không thấy chép rõ.)
[91] Bắt đầu lệnh đặt giám ở huyện Bách Trượng, châu Nhã, đúc tiền sắt, cấm tiền đồng lưu thông vào đất Thục. Đó là theo lời thỉnh cầu của Thứ sử châu Đường, Tào Quang Thực.
(Việc này căn cứ theo “Bản chí” và “Hội yếu”.)
- 'thực trạng' nguyên văn là 'sở', theo bản Tống, Tống Toát Yếu và các bản khác sửa lại ↵
- 'ba mươi' nguyên văn có chữ 'dư', theo bản Tống, Tống Toát Yếu và 'Tống sử' quyển 250 - 'Trương Lệnh Đạc truyện' bỏ ↵
- 'Tù' nguyên bản thiếu chữ 'trưởng', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản bổ sung. ↵
- 'Kiến Long' nguyên bản viết 'Kiến Hưng'. Theo 'Tống hội yếu' Thực hóa 34 chép: 'Thái Tổ năm Kiến Long thứ ba, tháng ba, Giám Tấn Châu kiêm quản nghề phèn, Hữu gián nghị đại phu Lưu Hi Cổ tâu: 'U Châu giới có phèn Tiểu Bồn, dân chúng thường buôn lậu, xin lệnh cấm chỉ.' Chiếu rằng từ nay người phạm tội bị xử nghiêm, chiêu mộ người tố giác, thưởng hậu.' Ghi chú 'Chiếu năm Kiến Long thứ ba' trong sách này chính là chỉ việc này. Hơn nữa, đầu đời Tống trước niên hiệu Khai Bảo không có niên hiệu 'Kiến Hưng', nguyên bản sai, nay sửa. ↵
- 'Cựu lục' sửa đổi 'sửa' nguyên tác 'sách', căn cứ các bản sửa. ↵
- Có viên lệnh trong cai quản vì tội mà cách chức lục sự sử 'Lục sự sử', các bản đều giống. 'Tống sử toàn văn' quyển 2 phần trên, 'Tống sử' quyển 250 'Vương Thẩm Kỳ truyền' chép là 'Lục sự lại'. ↵
- Có chí hướng, nguyên bản chép là 'có đức hạnh', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản và 'Đông Đô sự lược' quyển 113 'Vương Chiêu Tố truyền', 'Biên niên cương mục' quyển 2, 'Tống sử toàn văn' quyển 2 phần trên sửa lại. ↵
- Lại ban cho vợ ông là Hòa thị năm mươi lạng bạc, ba nghìn bộ quần áo, bản Tống chép là 'hai nghìn lạng bạc, hai nghìn bộ quần áo'. Bản 'Tống Toát Yếu' chép 'một nghìn lạng bạc', các bản khác chép 'năm nghìn lạng bạc', số quần áo thì đều giống bản Tống. ↵
- 'Hữu' nguyên là 'kỳ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 'Tống sử toàn văn' quyển 2 sửa lại. ↵
- chữ 'hầu' nguyên bản viết là 'hậu', theo bản trong các và sách hội yếu, chức quan 48, mục 92 sửa lại ↵
- Nguyên văn là 'Lý Thác'. Xem 'Tân Ngũ đại sử' quyển 65 - 'Nam Hán thế gia' chép rằng Lưu Sưởng phái Lý Thác trấn thủ Thiều châu để phòng Phan Mỹ. Cùng sách và 'Thông giám' quyển 294 - 'Hậu Chu kỷ' chép việc Vua Nam Hán giết Chung Doãn Chương đều có nhắc đến hoạn quan Lý Thác. 'Tống sử' quyển 481 - 'Nam Hán thế gia' cũng có phụ chép truyện Lý Thác. Ở đây nguyên văn viết 'Lý Thác', chắc là sai, nay sửa lại. ↵
- 'Bảy tám phần mười' nguyên bản là 'bảy tám người', căn cứ theo 'Trưởng biên kỷ sự bản mạt' quyển 4 và 'Trị tích thống loại' quyển 1 sửa lại. ↵
- 'Tự mình mặc giáp trụ' nguyên bản thiếu chữ 'tự', căn cứ theo 'Tống bản', 'Tống bản toát yếu' và 'Trưởng biên kỷ sự bản mạt' quyển 4 bổ sung. ↵
- Chú thích: 'Vây Hạ Châu' nguyên bản là 'đóng đoàn', căn cứ theo các bản khác và 'Trị tích thống loại' quyển 1, 'Tống sử' quyển 481 sửa lại. ↵
- Mãn thành nguyên bản chép là 'Bồ thành', bản Tống và bản Tống toát yếu đều chép là 'Mãn thành'. Xét thời Tống sơ, Bồ thành thuộc Đồng châu, quan Tây, cách địa giới Khiết Đan. Câu sau nhắc đến Tuy thành, Tuy thành thời Tống sơ thuộc Dịch châu, Hà Bắc, phía tây nam là Mãn thành, đều là những nơi giao chiến lúc bấy giờ. Bản Tống là đúng, nay căn cứ để sửa lại. ↵
- Cung ảo Lương Loan Chân, chữ 'ảo' nguyên bản là 'giám', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản, Các bản và 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 4, 'Cửu quốc chí' quyển 9 sửa lại. ↵