I. TỐNG THÁI TỔ
QUYỂN 12: NĂM KHAI BẢO THỨ 4 (TÂN MÙI, 971)
Từ tháng giêng năm Khai Bảo thứ 4 đời Thái Tổ đến tháng chạp cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, quân triều đình chiếm được hai châu Anh và Hùng. Đô thống Nam Hán là Phan Sùng Triệt đến hàng.
(Theo ‘Truyện Sùng Triệt’, quân triều đình qua Mã Kính thì ông mới hàng. Nay căn cứ vào ‘Truyện Lưu Sưởng’ trong quốc sử và ‘Thế gia Sưởng’ trong ‘Cửu Quốc Chí’, ngày 16 tháng giêng, ngày Quý Sửu, tin chiến thắng hai châu báo về. Theo ‘Thập Quốc Kỷ Niên’, việc chiếm hai châu diễn ra từ tháng chạp năm trước, nay ghi phụ vào đầu tháng giêng.)
[2] Ngày Bính Ngọ, ban chiếu cho các đạo, châu, huyện từ nay không được bổ nhiệm quan nhiếp chức nữa. Nếu có chức vụ khuyết, phải tâu lên và sẽ được bổ nhiệm ngay. Các quan nhiếp chức đã bổ nhiệm trước đây đều bãi bỏ, công việc tạm giao cho quan đương nhiệm quản lý.
[3] Ngày Đinh Mùi, Đại tướng quân Hữu Thiên Ngưu Vệ Tang Tiến Hưng bị xử tử tại chợ, vì tội nhận hối lộ khi làm Giám trấn kho lương ở châu Trần.
[4] Ngày Tân Hợi, cấm các trường, viện dùng lợi nhuận để cho vay, châu huyện không được truy thu.
[5] Thông phán châu Lãng, Điện trung Thị ngự sử là Lộ Xung người Bình Cực tâu: “Hộ chức dịch ở bản châu cậy thế lực, nộp thuế trễ hạn, đã lập sổ riêng ở sảnh Thông phán để đốc thúc theo hạn. Xin ban hành thành điều lệ.” Ban chiếu cho các châu phủ đều lập sổ hình thế, giao cho Thông phán chuyên trách việc thu thuế[1].
[6] Cấm dân các châu Hà Đông di cư vào nội quận tư giấu binh khí.
[7] Ngày Mậu Ngọ, sai Tri chế cáo Lư Đa Tốn cùng người khác tu sửa sách ‘Thiên Hạ Đồ Kinh’, nhưng sách không hoàn thành.
[8] Ngày Quý Hợi, Điện trung Thị ngự sử Lưu Nhữ Lệ được phân công xử lý việc quản lý tài chính.
[9] Phủ Khai Phong bắt được 367 người vô lại, ác thiếu và quân nhân đào ngũ làm giặc từng bị bắt giữ. Chiếu lệnh xử tử 21 người tội nặng, còn lại đánh trượng và lưu đày.
[10] Khiết Đan xâm chiếm Dịch châu, Giám quân Nhiệm Đức Nghĩa đánh đuổi chúng.
(Việc này căn cứ theo ‘Bản kỷ’, nhưng trong ‘Thực lục’ mới và cũ đều không thấy ghi chép. ‘Bản truyện’ cũng không có, nghi ngờ là sự việc tháng 3 năm Kiến Long thứ 4, nhưng ‘Bản kỷ’ ghi nhầm vào đây, nay lưu cả hai.)
[11] Tháng đó, quân triều đình đóng ở Lãng Đầu, Nam Hán chủ sai sứ đến xin hòa và cầu xin hoãn binh. Lãng Đầu núi sông hiểm trở, Phan Mỹ nghi ngờ có phục binh, bèn ép sứ giả và nhanh chóng vượt qua các vùng hiểm yếu.
Ngày Giáp Tí, đến cửa trại. Ngày Ất Sửu, đến Mã Kính. (Giáp Tí là ngày 27 tháng giêng. Điều này căn cứ theo tờ ‘Lộ bố’ nói, tức là nơi Quách Sùng Nhạc lập trại. ‘Truyện’ nói cách Quảng châu 10 dặm, chắc là sai. ‘Cửu quốc chí’ nói cửa trại cách Quảng châu 100 dặm, quân triều đình đóng cách cửa trại 10 dặm. ‘Lộ bố’ nói cách Quảng châu một ngày đường, lại nói 80 dặm cờ giáo tiến lên, nên chắc là đúng.) Đóng quân ở núi Song Nữ, trực tiếp quan sát trại Quách Sùng Nhạc. Kỵ binh tuần tra nhiều lần ra thách chiến, Sùng Nhạc vốn không có tài cầm quân, binh sĩ phần lớn là tàn quân từ Thiều châu, Anh châu, tinh thần đều suy sụp. Thực Đình Hiểu muốn giao chiến, Sùng Nhạc không nghe, chỉ cố thủ, ngày đêm cầu khấn thần linh.
[12] Nam Hán chủ lấy hơn 10 chiếc thuyền, chở vàng bạc châu báu và phi tần định ra biển, nhưng chưa kịp xuất phát, hoạn quan Nhạc Phạm cùng hơn 1.000 lính cấm vệ cướp thuyền bỏ trốn. Nam Hán chủ lo sợ, bèn sai Hữu bộc xạ Tiêu Thoái, (Thoái, không rõ lai lịch. Xét ‘Ngũ đại sử’ ghi là Tiêu Thoái, ‘Tống sử’ ghi là Tiêu Quán.) Trung thư xá nhân Trác Duy Hưu (Duy Hưu, không rõ lai lịch.) mang biểu đến cửa quân xin hàng. Phan Mỹ lệnh đưa họ về kinh đô. Tiêu Thoái và đoàn tùy tùng vào kinh rồi không trở lại, Nam Hán chủ càng sợ hãi, lại lệnh cho Sùng Nhạc giữ nghiêm quân đội.
[13] Ngày sóc tháng hai, mùng một Đinh Mão, [Nam Hán chủ] lại sai em trai mình là quan phán lục quân thập nhị vệ, Trinh vương Bảo Hưng, dẫn quân trong nước đến chống cự.
(Chi tiết này căn cứ vào lộ bố truy thư. ‘Ngũ Đại Sử’ và ‘Cửu Quốc Chí’ đều chép rằng Bảo Hưng dẫn các quan văn võ đến đầu hàng, nhưng quân triều đình không chịu tiếp nhận, khác với lộ bố. ‘Quốc Sử Mại Truyện’ lại chép Bảo Hưng đến đầu hàng nhưng bị Quách Sùng Nhạc ngăn cản. Xét rằng Sùng Nhạc vốn không có chí khí, há dám ngăn Bảo Hưng khiến ông không đầu hàng? Truyện lại chép quân triều đình tấn công Sùng Nhạc, Bảo Hưng dẫn quân chống cự. Vậy Bảo Hưng chắc chắn không ra hàng, nay chỉ theo lộ bố. ‘Thập Quốc Kỷ Niên’ cũng chép Bảo Hưng trước dẫn các quan nghênh đón quân triều đình, Phan Mỹ cho rằng Nam Hán chủ không đến nên không tiếp nhận. Ngày mùng một tháng hai, Nam Hán chủ bèn sai Bảo Hưng ra chống cự.)
Thực Đình Hiểu nói với Quách Sùng Nhạc: “Quân bắc nhân thế cuốn phăng, khí thế không thể đương nổi. Quân ta tuy đông nhưng đều là những kẻ bị thương tích còn sót lại. Nay nếu không thúc đẩy tiến lên, chỉ ngồi chờ bị diệt mà thôi.” Ngày Canh Ngọ, Đình Hiểu bèn dẫn quân tiên phong đóng trận bên sông, bảo Sùng Nhạc làm hậu quân, chặn đánh quân địch khi chúng xông lên. Sau đó, quân triều đình vượt sông, Đình Hiểu giao chiến không thắng nên tử trận, Sùng Nhạc chạy về trại. Phan Mỹ nói với Vương Minh: “Quân địch dùng tre gỗ làm trại, nếu nổi lửa đốt, ắt gây hỗn loạn. Nhân lúc hỗn loạn mà giáp công, đây là kế vạn toàn.” Bèn chia quân dũng sĩ, mỗi người cầm hai bó đuốc, theo đường tắt đến trại địch. Đêm ấy, vạn đuốc đồng loạt phóng lên, trời nổi gió lớn, khói bụi mịt mù, quân Nam Hán đại bại. Sùng Nhạc chết trong đám loạn quân, Bảo Hưng chạy trốn về.
Cung Trừng Xu, Lý Thác cùng nội thị trung là Tiết Sùng Dự (Sùng Dự, chưa thấy tài liệu chép về người này) bàn rằng: “Quân bắc tới đây vì tham của báu trong nước ta mà thôi. Nay đốt sạch đi, khiến chúng có được thành trống rỗng, ắt không thể ở lâu, sẽ tự rút về.” Bèn phóng hỏa đốt kho tàng, cung điện, trong một đêm đều cháy rụi.
(Truyện Cung Trừng Xu đều chép rằng quân triều đình đến Bạch Điền, Trừng Xu mới phóng hỏa đốt kho. ‘Thế Gia’ và ‘Thập Quốc Kỷ Niên’ thì chép ngày sau khi đốt kho, quân triều đình mới đến Bạch Điền. Nay theo ‘Thế Gia’ và ‘Kỷ Niên’.)
[14] Ngày Tân Mùi, quân của Vương đến Bạch Điền, Nam Hán chủ mặc áo trắng ra hàng, Phan Mỹ theo lệnh của triều đình tha cho ông ta, rồi tiến vào Quảng Châu, bắt giữ 97 người thuộc hoàng tộc và quan lại[2], cùng với Nam Hán chủ đều bị giam tại Long Đức cung. Bảo Hưng ban đầu ẩn lánh trong dân gian, sau đó mới bị bắt. Có hơn trăm hoạn quan[3] mặc lễ phục xin diện kiến, Phan Mỹ nói: “Những kẻ này làm hại nhiều người rồi, ta phụng chiếu trừng phạt kẻ có tội, chính là vì loại người này.” Bèn ra lệnh chém hết. Phan Mỹ dùng lộ bố báo tin thắng trận, ngày Kỷ Sửu, đến kinh sư.
(Xét lộ bố chắc là do doanh trại soạn, nhưng trong ‘Hỗ Mông truyền’ lại nói: Bắt Lưu Sưởng, Mông soạn lộ bố được Vua khen, triệu vào điện Tư Phúc ban thưởng kim tử. Vậy có lẽ là làm sau, cần xem xét thêm.)
Ngày Canh Dần, quần thần chúc mừng, bèn mở yến tiệc. Tổng cộng chiếm được 60 châu, 214 huyện, 170.263 hộ.
(Số liệu châu, huyện, hộ trong tân lục và cựu lục khác với bản kỷ, nay theo bản kỷ. ‘Tống sử toàn văn’ của Lã Trung viết: Vùng Biện Lương so với Giang Nam thì gần, so với Lĩnh Nam thì xa, sao lại đánh xa trước rồi mới đánh gần? Bởi nghe Lưu Sưởng xa xỉ, bèn nói “Ta phải cứu dân một phương này”, nên đánh Nam Hán trước để cứu dân. Giang Nam có tội gì? Chỉ vì “Bên cạnh giường nằm, sao cho phép người khác ngáy ngủ”, nên sau mới thu phục Giang Nam để thống nhất thiên hạ.)
[15] Ngày Tân Mão, tha tội cho các châu huyện thuộc quản hạt Quảng Nam mà thường không được xá trong các lệnh ân xá trước đây. Những người giữ chức quan của ngụy triều vẫn tiếp tục tại vị như cũ. Thuế má vô danh đều được miễn trừ. Bãi bỏ các khoản thuế đọng từ trước năm Khai Bảo thứ ba. Những người trốn tránh nơi rừng núi được tha tội và chiêu dụ trở về. Quan lại, dân chúng, tăng đạo bị cưỡng ép theo giặc được quan cấp giấy tờ để tự do đi lại. Dân đói được mở kho cứu tế. Những người bị quân lính bắt giữ đều được trả về cho chủ. Thả những người hầu giữ phần mộ tổ tiên của Lưu Sưởng. Tìm kiếm những người tài giỏi, kiệt xuất. Những người giữ khí tiết, từ chối làm quan ở ngụy triều, các quan lại địa phương phải báo danh lên triều đình. Các đền miếu, mộ phần đều được tu bổ, bảo vệ.
(Sách ‘Đại Định Lục’ chép rằng việc bình định Quảng Nam dùng kế của Chu Vị, nhưng trong sử sách không thấy ghi, cần xem xét lại.)
[16] Tri chế cáo Lư Đa Tốn được cử quyền chủ trì kỳ thi cống cử, có mười người đỗ tiến sĩ.
(Theo ‘Hội Yếu’ và ‘Đăng Khoa Ký’ đều ghi là ngày 24. ‘Cửu Triều Thông Lược’ của Hùng Khắc chép: các tiến sĩ Lưu Dần v.v.)
[17] Ngày Ất Mùi, Vua ngự đến Phi Long viện, ban ngựa cho các quan theo hầu.
[18] Vua cho rằng, các lệnh, úy bắt giặc trước hết phải định thời hạn, những người đã bị phạt có thể vì thế mà bỏ bê việc truy bắt, bèn ra chiếu: “Từ nay, dù bắt được giặc ngoài hạn kỳ, các quan phải ghi chép đầy đủ vào sổ để xóa bỏ hình phạt, nhưng không được tính vào thành tích. Những người đã nhiều lần bị giáng chức, phải bãi chức theo pháp luật thì không áp dụng lệnh này.”
(Theo bản chí sách này. Tân lục và cựu lục không chép, không rõ ngày.)
[19] Tháng này, các đạo thiếu hơn tám trăm chức mạc chức, châu huyện, triều đình gửi văn thúc giục Lưu nội tuyển bổ nhiệm. Thuyên ty tâu rằng gần đây người được tuyển rất ít, dù có phê chuẩn, thứ bậc cũng thường xuyên trùng lặp. Bèn ra chiếu, trừ những người đã được bổ nhiệm làm quan ở Tây Xuyên chưa nhận chức, cùng những người trước đây từ Tây Xuyên quy thuận, và những người đã hai lần được phái nhưng không đến kinh đô, cùng những người được ban đỗ tiến sĩ theo sắc chỉ, từ nay trở về trước, tất cả các chức tuyển nhân đã bãi nhiệm đều được đặc cách tuyển chọn, lệnh họ đến Nam Tào nộp đơn, sau khi phê chuẩn sẽ gửi đến thuyên ty để sắp xếp bổ nhiệm theo thứ tự.
[20] Tháng ba, ngày Canh Tý, cấm dân Lĩnh Nam mua người lương thiện, xăm mặt làm nô tỳ để thuê mướn lấy tiền.
[21] Ngày Tân Sửu, bổ nhiệm Tiêu Thoái làm Thái tử trung doãn, Trác Duy Hưu làm Thái bộc tự thừa.
[22] Ngày Ất Tỵ, Vua ngự đến Giáo Thuyền Trì, rồi đến Ngọc Tân Viên yến tiệc và bắn cung.
[23] Ngày Giáp Dần, Điện trung thừa Tang Huân bị cách chức, giáng làm Ty nông tự thừa, do tội buôn lậu trà dọc sông và tự ý bãi bỏ việc mua bán[4].
[24] Ngày Đinh Tỵ, đổi tên châu Tư Đường ở Lĩnh Nam thành Tư Minh Châu, châu Hùng thành Nam Hùng Châu. Các huyện trong thiên hạ có tên là “Đường” đều phải đổi tên.
[25] Chiếu ban rằng các quan chức cấp châu ở Lĩnh Nam phải rà soát những chính sách giả dối có hại cho dân và báo lên triều đình, sẽ loại bỏ tất cả.
(Theo ‘Đông Đô Sự Lược’ của Vương Xưng: Ngày Ất Tỵ tháng 3 năm Khai Bảo thứ 4, chiếu viết: “Dân Bách Việt đã chịu đựng chính sách tàn ngược lâu ngày. Nay lệnh các quan chức cấp châu ở Lĩnh Nam rà soát những chính sách giả dối có hại cho dân và báo lên[5], sẽ loại bỏ tất cả.”)
[26] Chiếu rằng các vị Đế Vương đời trước có dân phụng sự lăng tẩm sẽ được tăng thêm hai hộ.
[27] Ở Nam Ninh Châu, Phiên lạc sứ Long Ngạn Thao qua đời. Người trong nước đến Phù Châu, dâng tấu của Quy Đức tướng quân Vũ Tài và tám thứ sử, xin lập con của Ngạn Thao là Hán Đường kế vị[6]. Chiếu phong Hán Đường làm Nam Ninh Châu Thứ sử kiêm Phiên lạc sứ.
[28] Trước đây, Tiền hữu giám môn vệ tướng quân (Chú: Sách Tống sử và Tục thông giám của Tiết Ứng Kỳ đều ghi là tả giám môn vệ tướng quân) Triệu Biền bị buộc về nghỉ tại tư đệ, trong lòng uất hận không nguôi. Một hôm, thấy Triệu Phổ vào triều, ông liền đến trước ngựa xỉ vả Phổ. Vua nghe tin, liền triệu Biền và Phổ đến điện tiện để đối chất. Biền lớn tiếng vu cáo Phổ buôn gỗ kiếm lợi. Trước đó, triều đình cấm tư nhân buôn bán gỗ lớn từ Tần, Lũng; Phổ từng sai thuộc hạ mua vật liệu xây nhà, kết thành bè lớn đưa về kinh đô để xây dinh thự, thuộc hạ nhân đó buôn bán lén lút trong đô thành, nên Biền mới đem việc này ra tố cáo. Vua nổi giận, hạ lệnh triệu tập bá quan tại cửa cáp môn, định ban chiếu trục xuất Phổ. Vua hỏi Thái tử thái sư Vương Phổ và các quan xem Phổ đáng tội gì. Phổ nhờ cáp môn sứ tâu rằng: “Biền vu cáo đại thần.” Vua nghe xong, trong lòng giận lắng dịu, liền trách mắng Biền và lệnh võ sĩ đánh ông ta. Ngự sử xét hỏi tại sân điện, Phổ ra sức xin tha, Vua bèn đặc cách khoan hồng, cho người đỡ Biền ra ngoài. Tháng tư mùa hạ, ngày Bính Dần mùng 1, Biền bị giáng làm nha hiệu ở Nhữ Châu.
(Chú: Sách Tống sử và Tục thông giám của Tiết Ứng Kỳ đều ghi là bị an trí ở Nhữ Châu.)
[29] Ngày Đinh Mão, nước Tam Phật Tề sai sứ đến cống phương vật.
[30] Ngày Kỷ Tỵ, Vua hạ chiếu cho thuế thương mại và phép muối ở Lĩnh Nam áp dụng theo lệ của Kinh Hồ, rượu và mẻ vẫn không cấm.
[31] Ngày Nhâm Thân, bổ nhiệm Nam diện hành doanh đô bộ thự Phan Mỹ và Phó bộ thự Doãn Sùng Kha cùng làm Đồng tri Quảng Châu.
[32] Ngày Ất Hợi, Vua hạ chiếu cho Lại bộ lưu nội thuyên từ các châu Đường, Đặng, Tùy, Dĩnh, Tương, Quân, Phòng, Phục, An, Thân trở xuống phía nam và các châu Kinh Hồ, chọn các quan lệnh lục đang tại chức, đã qua hai kỳ khảo xét, cùng phán, ty, bạ, uý đủ tiêu chuẩn thăng làm lệnh lục, tuổi dưới 50, điều đi làm thông phán các châu Lĩnh Nam, được mang gia đình theo. Sau ba kỳ khảo xét, sẽ được xét bổ nhiệm theo thứ bậc, không phải chờ tuyển chọn nữa.
[33] Ngày Mậu Dần, đổi tên Nghĩa Châu thành Nam Nghĩa Châu, Kính Châu thành Mai Châu.
[34] Ngày Quý Mùi, Vua đến thăm chùa Khai Bảo.
[35] Ngày Mậu Tý, lệnh các châu tìm danh y chuyển về kinh.
[36] Ngô Đình Tộ, người giữ chức Tiết độ sứ Vĩnh Hưng, kiêm đồng Trung thư môn hạ nhị phẩm, đến triều bái kiến, bị bệnh. Vua thân hành đến thăm hỏi, sai đốt ngải cứu bụng ông, phái Trung sứ Vương Kế Ân đi giám sát. Bệnh tạm thuyên giảm, vài ngày sau lại tái phát, ngày Canh Dần thì mất. Ông được truy tặng chức Thị trung, nhà nước lo việc mai táng. Kế Ân là người Thiểm châu.
[37] Đường chủ sai em trai là Cát Vương Từ Khiêm đến triều cống và mua yến tiệc. Số lượng châu báu, đồ quý và lễ vật đều gấp đôi lần trước.
[38] Ngày Nhâm Thìn, Giám sát ngự sử Lư Khâu Thuấn Khanh bị xử tử nơi chợ, vì tội thông đồng với phán quan Hưng Nguyên phủ ăn cắp tiền công chín mươi vạn quan.
[39] Triều đình điều một nghìn quân Sương quân đến Kinh Triệu sửa sang lăng tẩm của tiên đế. Lệnh cấm không được huy động dân chúng, từ nay hễ có việc tu bổ, đều dùng binh lính trấn giữ để thi công.
[40] Lệnh ghép bốn châu Đam, Nhai, Chấn và Vạn An thuộc Lĩnh Nam vào Quỳnh châu, giao cho Quảng châu lựa chọn quan viên phân chia việc châu.
[41] Trong tháng này, Nguyên soái Tề Vương Lý Cảnh Đạt của Phủ châu thuộc Đường qua đời. Đường chủ theo ý chí của Liệt Tổ, truy tặng ông là Hoàng thái đệ, thụy hiệu là Chiêu Hiếu.
[42] Phan Mỹ sai sứ đưa Lưu Sưởng cùng tông đảng và thuộc hạ về kinh dâng lên triều đình. Khi đến Công An, quan lại ở dinh là Bàng Sư Tiến ra đón. Học sĩ Hoàng Đức Chiêu (Đức Chiêu, người chưa từng thấy) hầu hạ Lưu Sưởng. Sưởng hỏi Sư Tiến là ai, Đức Chiêu đáp: “Là người nước ta.”
Sưởng nói: “Sao lại ở đây?”
Đức Chiêu trả lời: “Khi Cao hoàng đế còn ở phiên trấn, hằng năm đều cống nạp triều đình, xe cộ chở hàng đều đi qua Kinh châu, nên sai Sư Tiến lập dinh ở đây để đóng xe ngựa phục vụ việc vận chuyển.”
Sưởng thở dài: “Ta ở ngôi mười bốn năm, chưa từng nghe lời này, hôm nay mới biết sơn hà của tổ tông cũng là đất đai của triều đình.” Rồi khóc rất lâu.
Sau khi đến, [Lưu Sưởng] lưu trú tại vườn Ngọc Tân. Vua sai Tham tri chính sự Lữ Dư Khánh điều tra tội danh lấn chiếm và đốt phá kho tàng. [Lưu] Sưởng đổ tội cho Cung Trừng Xu, Lý Thác và Tiết Sùng Dự. Vua lại cử sứ giả đến hỏi Trừng Xu rằng đây là mưu kế của ai, nhưng họ đều cúi đầu không đáp. Gián nghị đại phu Vương Khuê nói với Lý Thác: “Xưa ở Quảng Châu, mọi việc cơ mật đều do các ngươi chuyên quyền, và lửa cũng bắt đầu từ bên trong. Nay các ngươi còn muốn đổ lỗi cho ai?” Rồi ông ta nhổ nước bọt và tát vào mặt Lý Thác. Trừng Xu và đồng bọn bèn nhận tội.
[43] Tháng 5, ngày Ất Mùi, mùng 1, các quan dùng dây lụa trói [Lưu] Sưởng cùng thuộc hạ, rồi dẫn đến dâng lên Thái Miếu và Thái Xã. Vua ngự tại cửa Minh Đức, sai Nhiếp hình bộ thượng thư Lư Đa Tốn tuyên chiếu trách tội [Lưu] Sưởng. [Lưu] Sưởng đáp: “Thần năm 16 tuổi đã tự xưng hiệu ngụy, còn Trừng Xu và đồng bọn đều là cựu thần của cha thần. Mọi việc, thần không thể tự quyết. Ở trong nước, thần chỉ là bề tôi, còn Trừng Xu mới là chủ tể.” Nói xong, [Lưu] Sưởng phục xuống đất chờ tội. Vua sai Nhiếp Đại Lý khanh Cao Kế Thân dẫn Trừng Xu, Lý Thác và Sùng Dự ra ngoài cửa Thiên Thu chém đầu. Vua tha tội cho [Lưu] Sưởng, cùng các thuộc hạ như Trân Vương Bảo Hưng, ban cho mũ áo, đồ vật, ngựa. Sau đó, phong Bảo Hưng làm Tả giám môn vệ suất phủ suất.
[44] Ban đầu bàn về lễ dâng tù binh, triều thần không ai biết rõ, bèn cử sứ giả đến hỏi Lại bộ thượng thư đã về hưu Trương Chiêu. Chiêu đang ốm, đọc miệng dạy sứ giả, mọi người đều khen ngợi sự uyên bác của ông, rồi dùng lễ ấy.
[45] Ngày hôm đó, thiết đại tiệc ở điện Đại Minh.
[46] Ngày Đinh Dậu, lấy Đàm Châu phòng ngự sứ Phan Mỹ giữ chức Sơn Nam Đông đạo tiết độ sứ, Lãng Châu đoàn luyện sứ Doãn Sùng Kha giữ chức Bảo Tín tiết độ sứ, vẫn kiêm đồng tri Quảng Châu như cũ.
[47] Lấy Hữu bổ khuyết Vương Minh làm Bí thư thiếu giám, kiêm Thứ sử Thiều Châu[7], Chuyển vận sứ các châu Quảng Nam. Khi quân triều đình nam chinh, Vương Minh phụ trách việc chuyển vận. Đường núi hiểm trở, không thể dùng thuyền xe, chỉ dùng dân phu vận chuyển lương thực, hàng vạn quân không thiếu thốn. Mỗi lần chiếm được quận ấp, ông đều thu thập sổ sách địa bạ, giữ vững kho tàng, cũng tham gia bàn bạc quân sự. Vua khen ngợi công lao của ông, nên thăng chức.
[48] Vua sai Quân khí khố sứ Sở Chiêu Phụ kiểm tra vàng bạc ở tả tàng khố, vài ngày thì xong, trình bày rõ ràng hợp ý Vua. Vua khen tài tính toán của ông, bổ nhiệm làm Tả kiêu vệ đại tướng quân, quyền phán tam ty.
[49] Ngày Tân Sửu, mở tiệc chiêu đãi Lưu Sưởng ở Sùng Chính điện.
[50] Lệnh huyện Nhiêu Dương là Mạnh Di Tôn dâng thư đúng ý Vua, ngày Bính Thìn, thăng Mạnh Di Tôn làm Hữu tán thiện đại phu.
(Mạnh Di Tôn, chưa rõ lai lịch.)
[51] Ngày Tân Dậu, Vua đến thăm hồ Giáo Thuyền.
[52] Vua định cử Hàn Lâm học sĩ, Tả tán kỵ thường thị Âu Dương Quýnh đi tế Nam Hải, nhưng Quýnh nghe tin, cáo bệnh không ra, Vua nổi giận. Tháng sáu, ngày Tân Mùi, bãi chức, cho về Tây Kinh làm quan. Thay bằng Ty Nông thiếu khanh Lý Kế Phương tế Nam Hải. Lưu Sưởng trước đây tôn thần biển làm Chiêu Minh đế, miếu là Thông Chính cung, y phục thêu long phụng. Vua xuống chiếu bỏ đế hiệu và tên cung, thay bằng phẩm phục bậc nhất.
(Kế Phương, chưa rõ lai lịch.)
[53] Ngày Nhâm Thân, lần đầu đặt Sở Thị bạc ở Quảng Châu, giao cho Tri châu Phan Mỹ, Doãn Sùng Kha kiêm chức sứ, Thông phán Tạ Biền (Biền, chưa rõ lai lịch.) kiêm phán quan.
[54] Ngày Bính Tý, lấy con trai của nguyên Thứ sử Tuy Châu là Lý Quang Tú là chủy la làm Thứ sử Tuy Châu.
[55] Xuống chiếu cho Ngự sử trung thừa Lưu Ôn Tẩu, Trung thư xá nhân Lý Phưởng cùng biên soạn lại sách ‘Khai Nguyên lễ’, thêm vào chế độ biến đổi của triều đình.
(Ngày Bính Tý hôm ấy, mới bắt đầu biên soạn, nhưng thật lục và bổn kỷ đều ghi là dâng sách lên, e là nhầm. Sáu năm sau, sách mới hoàn thành.)
[56] Hạ lệnh cho Học sĩ viện khảo thí các quan ngụy ở Quảng Nam, chọn những người có tài năng văn thư xử án xuất sắc, bổ nhiệm làm các chức Thượng tá, Lệnh lục, Bạ uý.
[57] Trước đây, khi nhà Vua đem quân đánh Tấn Dương, đã lệnh cho Mật Châu phòng ngự sứ Mã Nhân Vũ dẫn quân tuần tra biên giới, đến Thượng Cốc và Ngư Dương. Kẻ địch vốn đã nghe danh ông, không dám ra ứng chiến, nên ông nhân cơ hội cho quân cướp bóc lớn, bắt sống được người và thu được trâu, dê số lượng lên tới hàng vạn. Sau đó, xa giá trở về kinh, lệnh cho Nhân Vũ trở lại nhiệm sở.
Năm sau, giặc cướp nổi lên ở Duyện Châu, thủ lĩnh là Chu Bật đặc biệt hung dữ, tự xưng là “Trường cước long”. Quan Giám quân đem quân đánh dẹp, bị thua. Triều đình hạ chiếu cho Nhân Vũ đánh úp. Nhân Vũ dẫn hơn mười người dưới trướng vào núi Thái Sơn, bắt được Bật, bắt gọn toàn bộ đảng của hắn, từ đó vùng ngoại ô Lỗ được yên ổn. Ngày Canh Thìn, điều Nhân Vũ làm Doanh Châu phòng ngự sứ. Con trai của anh Nhân Vũ do say rượu vô tình giết chết một người dân, bị bắt giam và định tội tử hình. Gia đình nạn nhân nói: “Chúng tôi không oán hận gì, chỉ là sự cố ngoài ý muốn, mong xét theo tội thương người do sơ suất.” Nhân Vũ nói: “Ta làm chức Trưởng lại mà cháu trai giết người, đó là ỷ thế cậy quyền, không phải do sơ suất. Sao dám vì người thân của mình mà làm loạn quốc pháp!” Rồi xử án theo đúng luật. Cấp cho gia đình nạn nhân vải bạch để lo hậu sự.
[58] Nâng huyện Cao Bưu thuộc Dương Châu thành quân Cao Bưu.
[59] Người dân thường La Cư Thông ở Thành Đô vì mất cha mẹ nên dựng lều ở gần mộ, ngày ngày tụng kinh Phật. Sau đó, cây cỏ linh chi mọc lên, sương ngọt rơi xuống. Quan địa phương tâu lên việc này, rồi bổ nhiệm Cư Thông làm Chủ bạ huyện Duyên Trường.
(Theo ‘Tống sử’ thì làm Chủ bạ Châu Diên.)
[60] Ngày Nhâm Ngọ, phong Lưu Sưởng làm Hữu Thiên Ngưu Vệ Đại tướng quân, chức viên ngoại, phong tước Ân Xá Hầu, ngoài bổng lộc còn cấp thêm 50.000 tiền, 50 hộc gạo lúa mì. Sưởng có thân hình to lớn, mày mắt đều rõ ràng. Ông có tài ăn nói, tính cách rất khéo léo, từng dùng ngọc trai kết thành yên cương ngựa tạo hình rồng chơi đùa[8], đặc biệt tinh xảo, Vua ra chiếu cho các quan thợ ở Thượng phương xem, ai nấy đều kinh ngạc kính phục. Vua cấp 1.500.000 tiền để bồi thường giá trị, rồi nói với tả hữu: “Sưởng thích khéo léo, nên thành thói quen, nếu có thể chuyển sang việc trị quốc, há đến nỗi diệt vong sao!”
[61] Khi còn ở nước mình, Sưởng thường dùng thuốc độc để hại bề tôi. Một hôm, Vua ngồi kiệu, cùng mười mấy kỵ binh đến hồ Giảng Vũ, các quan chưa tụ tập đủ, Sưởng đến trước, Vua ban cho Sưởng chén rượu, Sưởng nghi ngờ, cầm chén khóc nói: “Thần kế thừa cơ nghiệp của tổ phụ, chống lại triều đình, khiến quân vương phải vất vả đánh dẹp, tội đáng chết, Bệ hạ không giết thần, nay được thấy thái bình, làm dân thường ở Đại Lương, chỉ mong kéo dài mạng sống ngắn ngủi để báo đáp ân sinh thành của Bệ hạ, thần không dám uống rượu này.” Vua cười nói: “Trẫm đặt lòng tin vào lòng người, sao có chuyện này!” Rồi sai lấy rượu của Sưởng tự uống, rót rượu khác ban cho Sưởng, Sưởng rất xấu hổ, cúi đầu tạ ơn.
(Sưởng dâng yên cương, sự thực ghi vào tháng 5 năm thứ 5, nay chép vào đây.)
[62] Phòng ngự sứ Phục Châu là Lương Diên Tự vào triều, Vua an ủi ông, nói: “Khiến họ Cao không mất phú quý, là nhờ sức của khanh.” Ngày Mậu Tý, đổi làm Phòng ngự sứ Hào Châu.
[63] Tháng đó, Châu Lam báo phá quân Bắc Hán ở thôn Cổ Dã, chém được vài trăm thủ cấp.
[64] Sông Hoàng Hà vỡ đê ở huyện Nguyên Vũ, Châu Trịnh.
[65] Sông Biện vỡ đê ở huyện Cốc Thục, Châu Tống.
[66] Vua đã bình định Quảng Nam, muốn làm lễ báo tạ, mùa thu, tháng 7, ngày Giáp Ngọ, ra chiếu định làm lễ tế Nam Giao vào ngày Đông chí.
[67] Ngày Ất Mùi, Ngự sử trung thừa Lưu Ôn Tẩu mất. Ôn Tẩu giữ chức Trung thừa mười hai năm, nhiều lần xin từ chức, Vua không tìm được người thay thế nên không chấp thuận. Khi ông bị bệnh, Vua biết ông nghèo, sai trung sứ đến ban tặng vật dụng và tiền.
Ôn Tẩu tính tình trầm trọng, ngay thẳng, phụng dưỡng mẹ kế nổi tiếng hiếu thảo. Từ đời Ngũ Đại, những người đề cao cổ lễ đều khen ngợi ông. Cha ông tên Nhạc, ngoài những buổi yến tiệc, suốt đời không nghe nhạc. Hoàng đệ Khai Phong doãn Quang Nghĩa nghe tiếng ông thanh liêm, từng sai phủ lại mang năm trăm ngàn tiền tặng ông. Ôn Tẩu không dám từ chối, để tiền ở gian nhà phía tây, niêm phong rồi bảo phủ lại mang về. Năm sau, vào tiết Đoan Ngọ, Quang Nghĩa lại tặng bánh ú và quạt lụa, người mang quà chính là người trước đây mang tiền đến. Thấy dấu niêm phong vẫn y nguyên, người đó về báo. Quang Nghĩa nói: “Ta tặng mà còn không nhận, huống chi người khác.” Bèn cho người mang tiền về lại phủ. Một hôm, Quang Nghĩa nhân dịp yến tiệc bàn về bậc danh sĩ đương thời, kể rõ việc Ôn Tẩu từ chối tiền. Vua khen ngợi mãi.
Sau khi Ôn Tẩu mất, Vua khó tìm người thay thế, nói: “Phải tìm được người thuần hậu như Ôn Tẩu mới được.” Bèn sai Thái tử tân khách Biên Quang Phạm kiêm quản công việc Ngự sử đài. Nửa năm sau, mới chính thức làm Trung thừa.
(Sách ‘Tống sử toàn văn’ của Lã Trung viết: Một chức Trung thừa giữ mười hai năm, đến khi mất, Vua còn nói phải tìm người thuần hậu như ông ấy mới được. Thời quốc sơ, việc dùng người được xem xét kỹ lưỡng như vậy. Ban đầu chọn người tinh tường, cuối cùng thì giữ lâu. Chọn tinh tường thì kẻ tiểu nhân không thể lọt vào; giữ lâu thì người quân tử có thể tận tâm làm việc. Triệu Trung Lệnh làm Tể tướng mười một năm, Quách Tiến giữ chức ở Tây Sơn hai mươi năm, Lý Hán Siêu trấn thủ Quan Nam mười bảy năm. Chức tác phường vốn thấp kém, nhưng Ngụy Phi giữ đến hơn mười năm, đều là do giữ lâu nên thành công.)
[68] Ngày Bính Thân, ban chiếu cho các châu Quảng Nam thu thuế dân bằng đấu tỉnh, mỗi thạch được phép thu thêm hai thăng làm hao hụt do chuột và chim. Trước đây, Lưu Sưởng tự chế đấu lớn, thu nặng của dân. Cứ mỗi thạch thu được thì thực chất là một thạch tám đấu. Chuyển vận sứ Vương Minh tâu lên, nên mới cải cách.
[69] Ngày Mậu Tuất, ban cho hoàng đệ Khai Phong doãn Quang Nghĩa mười bốn cây kích đặt trước cửa.
[70] Ngày Canh Tý, Vua đến thăm cối xay nước mới, ban cho những người thợ tiền và lụa.
[71] Nước Đại Thực sai sứ đến cống nạp sản vật địa phương. Ngày Đinh Mùi, phong sứ giả Lý Ha Mạt làm Hoài Hóa tướng quân.
[72] Ngày Kỷ Dậu, lệnh Hà Nam phủ cùng bốn mươi bảy quân châu ở Kinh Đông, Hà Bắc, cử quan phán của mỗi châu đến các bộ khác, cùng các quan lệnh và tá điểm duyệt nhân khẩu, ghi chép đầy đủ vào sổ sách để chuẩn bị cho việc đắp đê sông năm sau. Nếu ai dám giấu giếm thiếu sót, cho phép dân tố cáo sự thật, xử tội quan lại. Trước đó, Vua đã hạ chiếu cho mười sáu huyện thuộc kinh kỳ kiểm tra lại sổ dân, chỉ có Khai Phong báo số lượng tăng gấp đôi so với trước, còn các nơi khác đều không tuân chiếu. Vua nghi ngờ quan lại không làm tròn chức trách, khiến kẻ cường hào được lợi, còn kẻ nghèo yếu càng thêm khốn khổ, nên ra lệnh để cảnh cáo.
[73] Cấp sự trung Lưu Tạm quyền nhiệm trị sự ở Châu Trấn, không hòa hợp với Kiến Vũ tiết độ sứ Hà Kế Quân, Kế Quân đã kiện lên Vua. Ngày Quý Sửu, giáng chức Lưu Tạm làm Hành quân tư mã thuộc Sơn Nam Đông đạo.
[74] Con nuôi của các hoạn quan thường tranh chấp tài sản, khởi kiện lẫn nhau. Vua ra chiếu từ năm nay, người nào đã đủ ba mươi tuổi mà không có cha nuôi, mới được phép nhận con nuôi, đồng thời phải khai tên lên Viện Tuyên Huy. Kẻ vi phạm sẽ bị xử tội theo chiếu trước.
[75] Chỉ huy sứ trong nha môn của Phong châu là Vương Thừa Mỹ cử sĩ quan đến tâu, muốn dụ người Thổ Hồn và Đột Quyết quy phụ. Ngày Canh Thân, phong Thừa Mỹ làm Phiên Hán đô chỉ huy sứ thuộc Thiên Đức quân, kiêm nhiệm sự vụ Phong châu. Không lâu sau, lại bổ nhiệm Thừa Mỹ làm Thứ sử Phong châu.
(Việc bổ nhiệm thứ sử vào ngày Quý Sửu tháng chạp, nay viết chung vào đây.)
[76] Kiến Vũ tiết độ sứ, kiêm quản lĩnh Châu Hà Kế Quân vào triều kiến. Ngày Quý Hợi, ông qua đời tại kinh đô. Vua thân hành đến viếng, rơi lệ nói với tả hữu: “Kế Quân giữ gìn biên cương có công, Trẫm không sớm phong cho ông làm phiên trấn, vì lo ông số mệnh không may. Nay vừa nhận ấn tiết chưa được bao lâu, đã vội qua đời, há chẳng đau xót sao!” Vua liền sai trung sứ lo việc tang lễ[9], lại ban cho bảo kiếm và áo giáp để chôn theo.
Kế Quân tính cách thâm trầm, có trí lược, cùng chia sẻ ngọt bùi với quân sĩ, được lòng người hết sức phục vụ. Ông trấn thủ biên cương phía bắc trước sau hai mươi năm, giỏi suy đoán tình hình địch, nhiều lần dùng ít đánh nhiều, quân Khiết Đan sợ hãi và kính phục, thường vẽ hình ông để lạy.
(Kế Quân từ tháng 8 năm Khai Bảo thứ 2 nhậm chức tiết độ sứ Ung Châu.[10], kiêm quản lĩnh Lệ Châu. Tháng 11 năm thứ 3 vào triều, rồi được phái đi trấn thủ biên cương lần nữa, nay lại vào triều, rồi qua đời. Bản truyện chỉ nói lại được phái đi trấn thủ biên cương, không nói trấn thủ nơi nào. Sau khi Kế Quân qua đời, ngày Ất Hợi tháng 8, bổ nhiệm Tả tán thiện đại phu Tống Hàm Nghệ làm Tri Lệ Châu, thì có thể thấy việc trấn thủ biên cương vẫn là kiêm quản lĩnh Lệ Châu, chỉ là sử sách ghi chép sơ lược mà thôi.)
[77] Bình Tấn quân sứ Vương Hoài Mỹ (Hoài Mỹ, chưa thấy chép), báo rằng đã dẫn quân đánh phá hai trại Mạnh Viên và Lạc Nghĩa của Bắc Hán.
[78] Nước sông Biện vỡ đê tại huyện Tống Thành, châu Tống.
[79] Ngày Giáp Thân tháng 8, quần thần dâng biểu xin gia tôn hiệu là “Hưng Hóa Thành Công”. Chiếu đáp rằng: “Trẫm tuy lấy việc hưng hóa làm tâm, nhưng chưa thể làm được, nếu vội tự xưng là thành công, đó là điều khó an lòng.” Quần thần dâng biểu lần nữa, nhưng cuối cùng Vua vẫn không chấp thuận.
[80] Ban chiếu rằng các hộ phục dịch tại các kho tàng, cung điện cũ của nguỵ Hán ở Quảng Nam đạo đều được trả về các châu huyện nguyên quán, và được miễn thuế dịch trong hai năm.
[81] Tháng 9, ngày Canh Tý, Điện trung thị ngự sử Lý Oánh được phân công xử lý việc độ chi của tam ty.
[82] Cấm việc làm giả vàng trắng và vàng, ai tố cáo sẽ được thưởng mười vạn tiền.
[83] Tháng 10 mùa đông, ngày Quý Hợi mùng một, có nhật thực.
[84] Khai Phong phủ bắt được Vương Huyền Nghĩa cùng mười một người khác làm giả vàng trắng và vàng, tra hỏi thì họ đều nhận tội. Đến ngày Kỷ Tỵ, họ đều bị đánh trượng và lưu đày ra đảo. Nhân đó, ban chiếu rằng từ nay, ai dám làm giả vàng sẽ bị xử tử[11].
[85] Ngày Canh Ngọ, Thái tử tẩy mã Vương Nguyên Cát bị xử tử, vì tội nhận hối lộ và làm trái pháp luật khi giữ chức Tri Anh Châu.
(Bản chí và Tổ tông cố sự chép: Nguyên Cát giữ chức Tri Anh Châu hơn một tháng, nhận hối lộ bảy mươi vạn. Vua cho rằng vùng Lĩnh Biểu vừa mới ổn định, cần trừng trị những kẻ tham nhũng nên đặc biệt ban chiếu xử tử. Tuy nhiên, việc nhận hối lộ bị xử tử là điều thường thấy, không chỉ riêng Nguyên Cát, và cũng không phải vì Lĩnh Biểu vừa ổn định mới có chiếu đặc biệt. Nay không theo ý này.)
[86] Ngày Mậu Dần, đổi đúc ấn của Trung thư môn hạ.
[87] Tri Ung Châu Phạm Mân tâu lên mười mấy việc dân bị bắt nộp tài vật từ thời Lưu Sưởng. Đến ngày Tân Tỵ, ra lệnh bãi bỏ tất cả.
[88] Tại Ung Châu, dân chúng có tập tục coi trọng việc tế lễ, người bệnh không dám chữa trị, chỉ biết giết nhiều gà lợn để cầu phúc từ các loại quỷ dâm tà. Phạm Mân ra lệnh cấm chỉ, dùng bổng lộc của mình mua thuốc men, tự tay pha chế rồi cấp phát cho dân chúng bị bệnh. Hàng nghìn người đã khỏi bệnh, ông còn cho khắc sách thuốc vào bia đá đặt ở tường sảnh, khiến trong châu được giáo hóa. Khi đó, Đặng Tồn Trung, quan tri châu do ngụy Hán đặt, vốn là hoạn quan[12], đã cướp bóc hai vạn dân bản địa, vây hãm thành châu hơn bảy mươi ngày. Phạm Mân nhiều lần ra giao chiến, tên bắn trúng ngực nhưng vẫn cố gắng đốc chiến, giặc mới tạm lui. Vì vết thương quá nặng, ông bèn ra lệnh cố thủ, sai người tìm đường hiểm đến Quảng Châu cầu viện, phái mười lăm lượt sứ giả mới thành công. Khi viện binh đến, vòng vây được giải, nhưng bệnh tình của Phạm Mân chưa khỏi. Vua hạ chiếu cho ông về kinh bằng kiệu, những nơi đi qua cần thuê phu phen thì quan phủ sẽ trả tiền cho họ. Phạm Mân là con của Phạm Chất.
(Bài ‘Doãn Sùng Kha truyện’ lại nói Đặng Tồn Trung là Đô chỉ huy sứ Dung Châu, nay theo bản truyện của Phạm Mân.)
[89] Ngày Giáp Thân, Vua hạ chiếu: “Từ tháng mười trở đi, các kẻ phạm tội cướp bóc, trộm cắp tại hai kinh và các đạo không được hưởng đặc ân xá tội trong lễ tế giao. Các quan trưởng tại địa phương phải răn dạy dân chúng, không để họ liều mình vi phạm pháp luật.” Từ đó về sau, mỗi khi sắp tổ chức lễ tế giao, đều phải nhắc lại chiếu này.
(Sách ‘Bảo huấn’ chép: Vương Đán nói: “Thời Thái Tông, mỗi khi bàn việc tế giao, đều hạ chiếu trước. Lại lo bọn cướp lợi dụng ân xá để phạm pháp, nên chiếu không cho chúng được hưởng ân xá. Nhưng sử quán chép trong ‘Nhật lịch’ và cũng ghi rõ cả tội trộm cắp, vốn là tội nhẹ, không thể đối xử ngang với tội cướp bóc. Nay lập ‘Hình pháp chí’, nên cân nhắc giữa hai bên. Nhưng các sử quan vẫn khăng khăng không chịu sửa lại chữ cũ trong ‘Nhật lịch’.” Chân Tông hỏi: “Nên chép thế nào?” Vương Đán đáp: “Chỉ nên ghi là tội cướp bóc.” Vua nói: “Lý lẽ tuy đúng như vậy, nhưng không thể tùy tiện sửa đổi, nên theo ý kiến của sử quan để đảm bảo tính chân thực.” Nay trong ‘Hình pháp chí’ chép lại, thực ra là dùng lời thánh của Chân Tông vậy.)
[90] Hữu bổ khuyết Lương Chu Hàn dâng sớ nói: “Bệ hạ tái lễ tế Trời, ắt sẽ ban ân xá rộng rãi. Thần nghĩ thiên hạ rộng lớn, trong đó có những nơi ân huệ chưa đến, điều lệ chưa đủ, nên mở rộng thêm. Hiện nay thuế má thu vào quá nhiều, lại thêm các loại vật phẩm biến đổi, danh mục không đồng nhất, việc điều phối cung ứng không khỏi gây thêm gánh nặng. Hơn nữa, Tây Thục, Hoài Nam, Kinh, Đàm, Quế, Quảng các nơi đều đã thuộc về đất Vua, Bệ hạ thực sự có thể dùng lợi lộc thu được từ ba phương đó, giảm bớt thuế má của các đạo, thì đức huệ sẽ được đồng đều và sức dân được thư thả.” Vua khen ngợi và chấp nhận lời tâu ấy.
(Chu Hàn nhân dịp tế giao dâng sớ này, không rõ cụ thể ngày nào. Nay phụ lục sau lệnh cảnh cáo bọn cường đạo ỷ thế ân huệ phạm pháp.)
[91] Chu Hàn từng giám sát viện Lăng Cẩm, đánh đòn thợ dệt quá mức, bị họ tố cáo. Vua giận lắm, triệu đến và trách rằng: “Ngươi chẳng lẽ không biết máu thịt người ta cũng như của mình, mà lại nỡ lòng tàn độc như vậy!” Định đánh đòn Chu Hàn, nhưng ông tự nói: “Thần mang tài danh thiên hạ, không nên bị đối xử như thế.” Vua bèn thôi.
Vua trước kia từng biết cha Chu Hàn là Lương Ngạn Ôn trong quân ngũ, vì thấy Chu Hàn có tài văn chương, muốn dùng làm Chế cáo. Tiết độ sứ Thiên Bình Thạch Thủ Tín cũng thân thiện với Ngạn Ôn, khi Thủ Tín vào triều, Vua nhân đó nhắc đến. Thủ Tín hé lộ ý Vua, Chu Hàn liền dâng biểu tạ ơn, Vua không vui, mệnh lệnh ấy bèn bỏ qua.
(Hai việc này chắc không cùng năm, không thể xác định, nên chép sau sớ xin mở rộng ân huệ nhân dịp tế giao.)
[92] Ngày Bính Tuất, ban chiếu bãi bỏ các loại thuế khoá phiền hà thời Lưu Sưởng ở các châu Lĩnh Nam, những người bình dân bị bắt làm lính được trả về, kẻ lưu vong được chiêu dụ trở lại làm ăn.
[93] Ban chiếu: Ở các châu có công sứ, Tri châu và Thông phán cùng ghi chép vào sổ việc chi tiêu.
(Nay phụ lục cuối tháng. Theo ‘Hội yếu’, là việc tháng mười.)
[94] Tháng 11, ngày Quý Tỵ, mùng một, chúa nước Giang Nam Lý Dục sai em là Trịnh Vương Tòng Thiện sang triều cống. Từ đó bỏ hiệu Đường, đổi văn ấn thành ‘Giang Nam quốc ấn’, dâng biểu xin được gọi tên, Vua đồng ý. Trước đó, chúa nước Giang Nam đem năm vạn lạng bạc tặng Thừa tướng Triệu Phổ, Phổ tâu lên Vua[13]. Vua nói: ‘Việc này không thể không nhận, nhưng nên viết thư đáp tạ và tặng ít quà cho sứ giả là được.’ Phổ cúi đầu từ chối, Vua bảo: ‘Thể diện của nước lớn không nên tự làm yếu đi, cần khiến họ không thể lường được.’ Khi Tòng Thiện vào chầu, ngoài lễ thường ban, Vua lại bí mật tặng số bạc trắng như đã cho Phổ. Quần thần Giang Nam nghe tin đều kinh hãi, nể phục sự rộng lượng của Vua.
[95] Một hôm, Vua đi ra ngoài, bỗng đến nhà Phổ. Lúc ấy, Ngô Việt Vương Tiền Hoằng Thục vừa gửi thư cho Phổ cùng mười bình hải sản đặt ở hành lang[14]. Đúng lúc xa giá đến, Phổ vội ra đón, không kịp giấu. Vua nhìn thấy, hỏi là gì, Phổ thật thưa lại. Vua nói: ‘Hải vật này hẳn là ngon.’ Liền sai mở ra, thấy đều đầy vàng hạt dưa. Phổ hoảng sợ, cúi đầu tạ rằng: ‘Thần chưa mở thư, thực không biết có vàng này, nếu biết, tất phải tâu lên và từ chối.’ Vua cười nói: ‘Cứ nhận đi, không hại gì. Họ cho rằng việc nước đều do ngươi quyết định mà thôi.’ Vua nhất định bảo Phổ nhận và tạ ơn.
(Hai việc này không rõ xảy ra lúc nào. Trong ‘Đàm uyển’ nói là vào năm Khai Bảo, Lý Dục hối lộ Phổ. ‘Ký văn’ chép việc Ngô Việt, không ghi năm, tương tự như việc của Lý Dục, nên ghi chung sau sự kiện Tòng Thiện vào cống.)
[96] Ngày Bính Thân, Ngô Việt Vương Tiền Hoằng Thục sai con là Trấn Hải, Trấn Đông tiết độ sứ Duy Tuân sang triều cống.
[97] Ngày Mậu Tuất, bãi bỏ các chức Tư thương, Tư hộ tham quân tại các châu ở Lĩnh Nam, cùng các chức Huyện thừa, Bộ tặc[15].
[98] Ngày Canh Tuất, ban chiếu rằng: “Đạo lựa chọn nhân tài vốn không chỉ một cách. Gần đây, các chức nhiếp quan ở các đạo đều bị bãi bỏ, lại lo rằng việc thay đổi chính sự dân chính nhiều lần, hoặc có người tỏ ra tài năng, nếu bỏ qua đồng loạt thì thật đáng tiếc. Nên giao cho các cơ quan xem xét lại quá trình làm việc của họ, nếu đã ba lần nhiệm chức mà không phạm lỗi lớn, thì hãy báo tên lên. Những ai từng nhận chức dưới quyền kẻ phản nghịch thì không thuộc diện này.”
[99] Sông Hoàng Hà vỡ đê ở Đạm Châu, nước chảy về phía đông, đổ vào Vận Châu và Bộc Châu, làm hỏng ruộng dân. Vua tức giận vì quan lại không kịp thời báo cáo, liền phái sứ giả đi điều tra xét hỏi. Ngày hôm đó, Thông phán, Tư phong lang trung Diêu Thứ bị xử tử chém đầu, còn Tri châu, Tả kiêu vệ đại tướng quân Đỗ Thẩm Triệu được miễn tội, trở về nhà riêng.
[100] Diêu Thứ, người Bác Hưng, từng làm Phán quan dưới quyền Hoàng đệ Quang Nghĩa ở Khai Phong, rất có tài giúp đỡ. Ông từng đến yết kiến Thừa tướng Triệu Phổ, nhưng gặp lúc Triệu Phổ đang tiếp khách, người giữ cửa không cho vào, Diêu Thứ tức giận bỏ đi. Triệu Phổ biết chuyện, liền sai người đến xin lỗi, nhưng Diêu Thứ bỏ đi không quay lại, từ đó Triệu Phổ oán hận ông. Khi Vua chọn người phụ tá cho Đỗ Thẩm Triệu, Triệu Phổ liền đề nghị dùng Diêu Thứ, nhưng Quang Nghĩa giữ lại không cho đi. Diêu Thứ ở Đạm Châu gần hai năm, cuối cùng bị xử tử vì tội danh, xác bị ném xuống sông. Gia đình Diêu Thứ ban đầu không biết chuyện, tình cờ giữa dòng sông thấy xác ông, áo quan vẫn còn nguyên, vài ngày sau mới biết nguyên nhân cái chết. Người đời cho rằng tội của Diêu Thứ không đến mức phải chết, thực ra là Triệu Phổ trả thù riêng mà thôi.
(Việc này căn cứ vào sách ‘Bách Nhất Biên’ của Vương Tử Dung, còn trong quốc sử thì không thấy chép.)
[101] Ngày Mậu Ngọ, Hoàng đế thân hành tế ở Thái Miếu, lần đầu tiên dùng nghi trượng áo thêu.
[102] Ngày Kỷ Mùi, hợp tế trời đất ở Nam Giao, ban chiếu đại xá, miễn thuế thuốc từ năm Khai Bảo thứ nhất trở về trước.
[103] Ngày Canh Thân, ban chiếu rằng: “Các chức phán quan, suy quan của tiết độ sứ, quan sát sứ, phòng ngự sứ, đoàn luyện sứ, quân phán quan, đều theo lệ châu huyện, cấp tiền hồi dịch và bổng lộc. Phó sứ tiết độ, phòng ngự, đoàn luyện quyền tri châu sự, chưởng thư ký tiết độ do triều đình bổ nhiệm cùng xử lý công việc biệt sảnh, cũng được cấp. Phó sứ không tri châu, chưởng thư ký do tấu thụ nhưng không xử lý công vụ, thì vẫn như cũ, cấp bằng bạc lẻ.”
[104] Ngày Nhâm Tuất, sai Dĩnh châu đoàn luyện sứ Tào Hàn đắp đê ngăn sông vỡ ở Thiền châu, Bộc châu thứ sử An Thủ Trung làm phó.
[105] Ban đầu, Vua chọn hơn trăm tên thân binh giỏi cưỡi ngựa bắn cung từ nước Thục cũ, lập làm xuyên ban nội điện trực, cấp bổng lộc ưu đãi như ngự mã trực. Đến khi lễ tế giao kết thúc, ban thưởng. Vua vì ngự mã trực hộ giá, đặc cách cho thêm tiền, mỗi người năm ngàn. Xuyên ban nội điện trực không được hưởng như thế, bèn cùng nhau đánh trống đăng văn kêu xin. Vua nổi giận, sai trung sứ nói rằng: “Cái gì Trẫm ban, đó là ân trạch, sao lại có lệ?” Rồi sai chém hơn bốn mươi kẻ vọng tố, số còn lại đày đi Hứa châu làm quân ưu tiệp, các đô hiệu đều bị đánh trượng và giáng chức, sau đó bãi bỏ xuyên ban này.
[106] Bấy giờ có nội thần là Tả phi long sứ Lý Thừa Tiến, từng phục vụ triều Hậu Đường, Vua hỏi: “Trang Tông dùng vũ lược dẹp yên Trung Nguyên, nhưng hưởng nước không lâu, vì sao vậy?”
Thừa Tiến đáp: “Trang Tông thích săn bắn, hay nuông chiều binh lính. Mỗi khi ra ngoài thành, binh lính thường kéo dây cương ngựa mà xin rằng: ‘Chúng tôi lạnh quá, mong được giúp đỡ’. Trang Tông bèn tùy ý ban cho. Việc này không chỉ một lần, do không nghiêm cấm nên sinh loạn. Lệnh uy không thi hành, ban thưởng vô độ, nên vậy.”
Vua vỗ đùi than rằng: “Hai mươi năm chiến đấu nơi biên ải mới giành được thiên hạ, mà không dùng quân pháp ràng buộc bọn họ, để chúng tha hồ đòi hỏi, như thế coi việc trị nước như trẻ con. Nay Trẫm nuôi dưỡng binh lính, không tiếc tước thưởng, nhưng nếu phạm pháp, chỉ có gươm mà thôi.”
[107] Cấm quân dân nam nữ kết nghĩa xã.
[108] Tháng chạp, ngày Tân Mùi, triệu Lý Phù, người am hiểu chín kinh, vào nội điện để hỏi về nghĩa lý trong kinh sách, ban cho ông xuất thân từ bản khoa.
(Lý Phù, sử không chép rõ.)
[109] Ngày Kỷ Mão, Lư Đa Tốn, chức Binh bộ viên ngoại lang, tri chế cáo, được bổ nhiệm làm Hàn lâm học sĩ, vẫn giữ nguyên chức cũ.
[110] Ngày Nhâm Ngọ, Vua đi săn ở vùng ngoại ô.
[111] Ngày Đinh Hợi, Đỗ Thẩm Triệu, nguyên là Tả kiêu vệ đại tướng quân, được phong làm Tả kiêu vệ thượng tướng quân, về hưu nhưng vẫn hưởng bổng lộc của chức Thứ sử Duy Châu.
[112] Năm đó, Tiền Tông, Vua bị phế của nước Ngô Việt, qua đời.
[113] Quốc chủ nước Giang Nam lấy Thang Duyệt, chức Thái tử thái phó, Giám tu quốc sử, làm Tư không, kiêm quản Tam ty và Thượng thư đô tỉnh.
[114] Các nước Chiêm Thành, Xà Bà và Đại Thực đều sai sứ mang vật phẩm địa phương đến dâng cho Quốc chủ Giang Nam. Quốc chủ không dám nhận, bèn sai sứ đem đến triều đình dâng lên. Vua xuống chiếu từ nay không cần dâng những thứ ấy nữa.
[115] Binh sĩ Định Viễn ở Lê Châu nổi loạn, tụ tập ở khe Đình Giác. A Phục, Đô quỷ chủ vùng Cung Bộ Xuyên, sai Du kích tướng quân Bê Phệ cùng các tướng khác dẫn quân dẹp loạn. Vua ban cho A Phục đai bạc, áo gấm, phong làm Quy Đức tướng quân.
- 'Chưởng' nguyên là 'Quản', chữ 'thuế' thiếu, theo Tống bản và Tống toát yếu sửa bổ sung. ↵
- 'Hoàng tộc' nguyên là 'gia đình', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản và 'Vĩnh Lạc đại điển' (sau đây gọi là Đại điển) quyển 12306, 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 4 sửa lại. ↵
- 'Hoạn quan' nguyên là 'người', căn cứ vào Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản và Đại điển quyển 12306, 'Tống sử toàn văn' quyển 2 sửa lại. Theo 'Biên niên cương mục' quyển 2, trước 'trăm' có chữ 'năm'. ↵
- 'Bãi bỏ' trong các bản khác và Đại điển quyển 12306 ghi là 'Bãi chức'. ↵
- Câu 'lệnh các quan chức cấp châu' thiếu chữ 'châu', căn cứ vào các bản khác và Đại điển quyển 12306, 'Đông Đô Sự Lược' quyển 2 bản Thái Tổ kỷ bổ sung. ↵
- 'Hán Đường' nguyên văn là 'Hán Đường', căn cứ vào các bản khác và Đại điển quyển 12306, 'Tống Hội Yếu' phần Phiên Di 5.10 sửa lại. ↵
- Thiều Châu nguyên bản viết 'Chiêu Châu', căn cứ theo Tống bản, các bản khác và Đại điển quyển 12306, Trưởng biên kỷ sự bản mạt quyển 4, Trị tích thống loại quyển 1 mà sửa đổi. ↵
- Từng dùng ngọc trai kết thành yên cương ngựa tạo hình rồng chơi đùa, 'yên cương ngựa' nguyên bản là 'Mã yên cương', căn cứ theo Tống bản, Các bản và sách 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 4 sửa lại. ↵
- 'Nguyên bản chữ 'hộ' có chữ 'tống' dưới, theo bản Tống và 'Đại điển' quyển 12306 cùng 'Tống sử' quyển 273 bản truyện của Hà Kế Quân mà bỏ ↵
- Nguyên bản chữ 'Ung' viết là 'Hỗ', các bản khác viết là 'Ung'. Theo chính văn của bản biên soạn và 'Đông đô sự lược' quyển 29 bản truyện của Hà Kế Quân đều nói Kế Quân làm tiết độ sứ Kiến Vũ, Kiến Vũ tức là Ung Châu quân ngạch. Nay căn cứ vào các bản sửa lại ↵
- Chiếu rằng từ nay, ai dám làm giả vàng sẽ bị xử tử. 'Làm giả vàng' nguyên bản viết 'Giả làm vàng', các bản và Đại điển quyển 12306 đều viết 'Làm giả vàng'. Theo Tống hội yếu, Hình pháp 2.162 viết 'Cấm dân không được làm giả vàng', Tống đại chiếu lệnh tập quyển 198 viết 'Cấm dân không được làm giả vàng vàng'. Các bản và Đại điển đều đúng, nay căn cứ để sửa. ↵
- Nguyên văn 'thự' viết là 'trí', nay căn cứ vào bản Tống, bản các và bản đại điển quyển 12306 sửa lại ↵
- Phổ tâu lên Vua, chữ 'ư' nguyên bản thiếu, căn cứ vào bản Tống, bản các và quyển 12306 'Đại điển', cùng quyển 2 thượng 'Tống sử toàn văn' bổ sung ↵
- Lúc ấy, Ngô Việt Vương Hoằng Thục vừa gửi thư cho Phổ cùng mười bình hải sản đặt ở hành lang. Bản các cũng như vậy. Trong bản Tống và quyển 12306 'Đại điển', quyển 3 'Tẩu thủy ký văn', cùng quyển 2 thượng 'Tống sử toàn văn', dưới chữ 'phương' đều có hai chữ 'khiển sứ' ↵
- 'Tặc' nguyên bản viết 'Phú', căn cứ vào các bản khác và quyển 12306 trong 'Đại điển' mà sửa lại. ↵