I. TỐNG THÁI TỔ
QUYỂN 15: NĂM KHAI BẢO THỨ 7 (GIÁP TUẤT, 974)
Từ tháng giêng năm Khai Bảo thứ 7 đời Thái Tổ đến hết tháng chạp cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Canh Thân, nước Chiêm Thành sai sứ mang phương vật đến tiến cống.
[2] Ngày Giáp Tuất, sai sứ mở kho lương cứu đói dân các châu Dương, Sở.
[3] Ngày Mậu Dần, Vua ngự đến cửa Huyền Hóa, ban y phục, giày dép cho quân lính đào hào sửa thành. Sau đó, ngự đến cối nước mới, rồi trở về vườn thượng uyển, tổ chức yến tiệc và bắn cung.
[4] Khi Yên quốc Trưởng công chúa qua đời, Vua đau xót, nói với tả hữu: “Năm sau vào dịp sinh thần, nên bỏ hội và cấm nhạc.”
Ngày Kỷ Mão, Trung thư môn hạ tâu: “Vương giả lễ không gián đoạn, dù Bệ hạ có lòng yêu thương sâu sắc, nhưng quần thần chúc thọ mà không có nhạc thì không thành lễ, mong cho Giáo phường được tấu nhạc.” Vua đành nghe theo.
[5] Tháng hai, ngày Canh Thìn, mùng 1, có nhật thực.
[6] Khi mới lên ngôi, Vua muốn biết hết việc bên ngoài, bèn sai quân hiệu là Sử Khuê đi thăm dò rộng rãi. Khuê dò được vài việc, tâu lên Vua, tra xét đều đúng, từ đó được tin dùng, dần thăng đến chức Mã quân Đô quân đầu, kiêm Thứ sử châu Nghị, bắt đầu lộng quyền.
Lúc đó, Thứ sử Đức châu là Quách Quý tạm quản trị Hình châu. (Quách Quý tạm quản Hình châu vào tháng 6 năm thứ 6.) Quốc tử giám thừa Lương Mộng Thăng được cử làm Tri đức châu. Người nhà và thân tín của Quách Quý ở Đức châu thường làm những việc gian lợi, Mộng Thăng dùng pháp luật trừng trị họ. Quách Quý vốn thân thiết với Khuê, bèn sai người thân tín đến kinh đô, báo cáo việc này với Khuê, mưu toan loại bỏ Mộng Thăng. Khuê ghi chép tất cả vào giấy, chờ cơ hội tâu lên.
Ngày Giáp Thân, Vua thong thả nói: “Gần đây, các chức vụ trong ngoài đều được giao cho người xứng đáng.” Khuê vội tâu: “Các quan văn hiện nay cũng chưa hẳn đều tốt.” Rồi lấy trong ngực ra tờ giấy đã ghi chép, dâng lên và nói: “Như Lương Mộng Thăng tạm quản Đức châu, khinh nhờn Thứ sử Quách Quý, suýt nữa gây họa đến chết.” Vua nói: “Chắc chắn Thứ sử làm điều bất pháp, Mộng Thăng là một viên quan thanh liêm cương trực.” Vua lấy tờ giấy đã ghi, triệu một hoạn quan sai đem giao cho Trung thư, và nói: “Lập tức bổ nhiệm Mộng Thăng làm Tán thiện đại phu.” Khi sứ giả vừa đi, Vua lại triệu về và nói: “Phong làm Tả tán thiện đại phu, vẫn quản trị Đức châu.” Khuê từ đó không dám nói nữa.
(Lương Mộng Thăng, không rõ xuất xứ.)
[7] Có người tên là Chu Quảng, cũng thích bàn chuyện ngoại giao, từ chức Nội ngoại mã bộ quân phó đô thống, Phan châu đoàn luyện sứ[1] được thăng chức Hữu lĩnh vệ đại tướng quân. Ông từng tâu với Vua rằng: “Triều đình mỗi lần cử sứ thần đến Ngô Việt, Tiền Thích ngồi hướng nam, bên cạnh đặt vị trí sứ giả. Thích tuy quý cực nhân thần, nhưng tôn quý không thể có hai, mà sứ giả không thể chính danh, điều này là sự sỉ nhục lớn đối với quốc gia.” Vua hỏi: “Ngươi có thể khuất phục hắn không?” Chu Quảng xin đi.
Đến ngày sinh thần Tiền Thích, liền cử Chu Quảng làm sứ giả. Thích vẫn giữ thói cũ, Chu Quảng nói: “Cùng vai phụng sự chủ, không dám ngồi.” Thích bèn dời ghế quay hướng tây, theo lễ khách chủ. Chu Quảng về triều báo mệnh, khí khái kiêu ngạo, mong được ân thưởng. Vua nói: “Ngươi cậy thế triều đình, nếu không thì Thích đâu có để ý đến ngươi.” Chu Quảng xấu hổ.
(Việc này không rõ xảy ra vào thời gian nào. ‘Đàm uyển’ chép rằng lúc đó Chu Quảng làm đô đầu. Xét tháng 9 năm thứ 6, ngày Nhâm Thân, Chu Quảng từ chức đô đầu thăng lên hoàn vệ, nay nhân sự việc của Sử Khuê được ghi thêm vào.)
[8] Ngày Nhâm Thìn, Khánh Châu báo tin Thứ sử Diêu Nội Bân qua đời, Vua sai trung sứ hộ tang về an táng tại Lạc Dương.
Nội Bân tại Khánh Châu hơn mười năm, người biên giới kính sợ, gọi ông là “Diêu đại trùng”, ý nói ông dũng mãnh như hổ.
[9] Ngày Quý Tỵ, lấy Giác Dịch sứ (Theo 《Tống Sử – Chức Quan Chí》 có chức Giác Trường sứ, ở đây ghi là Giác Dịch sứ, chữ “Dịch” có lẽ là sai.) Điền Nhân Lãng quyền làm Tri Khánh châu.
Khi đó quân Tây Nhung nhân cơ hội quấy nhiễu biên giới, Nhân Lãng đến nơi, chỉ huy bộ hạ đánh lại. Hai bên giao tranh quyết liệt, tiền phong tạm thời lui, Nhân Lãng liền chém hai Chỉ Huy sứ dưới cờ, quân sĩ khiếp sợ, tranh nhau xin tha mạng. Sau đó đại phá quân Tây Nhung, các thủ lĩnh Tây Nhung cùng nhau đến xin hòa. Nhân Lãng làm thịt bò, bày rượu mời họ uống, cùng lập lời thề, biên giới trở lại yên ổn. Vua ban Chiếu thư khen ngợi.
[10] Trước đó, Tri Bác châu Lã Hộc và Tri Kỳ châu Tần Thiện đều bị kết tội ăn cắp tiền thuộc phần ngoài định mức muối và rượu, bị phạt đánh trượng và tước bỏ chức tước.
Ngày Canh Tý, hạ lệnh cho các châu, Tri châu, Thông phán, Phán quan, Binh mã Đô giám, Huyện lệnh phải trực tiếp quản lý muối, rượu, thuế chợ, thuế đất, hàng tháng lập sổ gửi lên Tam ty, cuối nhiệm kỳ xét công trạng, kẻ nào gian lận sẽ bị trừng trị theo pháp luật, ai báo cáo việc gian lận sẽ được thưởng ba mươi vạn tiền.
[11] Ngày Quý Mão, phân phái các quan cận thần đến các đền miếu trong kinh thành cầu mưa.
[12] Ra chiếu thư quy định những người thi Học cứu, các môn Thi, Thư, và Dịch hợp thành một khoa, việc xét đỗ và bổ nhiệm giống như các khoa Tam Lễ, Tam Truyền.
[13] Ngày Ất Tỵ, Thái tử Trung xá Hồ Đức Xung bị xử tử nơi chợ, vì khi làm Thông phán Diên châu đã tham ô một trăm tám mươi vạn tiền công, bị Lục sự Tham quân Đoàn Tòng Cách tố cáo. Tòng Cách sau đó được thăng làm Tả Tán thiện Đại phu, quyền Tri Hải châu.
[14] Tháng ba, ra chiếu tạm ngừng việc thi cử.
[15] Ngày Ất Sửu, nước Tam Phật Tề phái sứ giả đến dâng vật phẩm địa phương.
[16] Mùa hạ, tháng tư, ngày Bính Tuất, truy tặng cho Thái bảo Uẩn (tổ cố), Thái phó Uyển (ông nội), Thái sư Sảng (cha) của Chiêu Hiến Hoàng Thái hậu, các tổ phu nhân đều được phong làm Thái phu nhân của các nước Vệ, Yến, Tề.
[17] Ngày Quý Mão, Điện trung Thị ngự sử Lưu Quang Phụ bị kết tội nhận hối lộ khi làm Tri Sở châu, bị tước bỏ chức tước, trở thành thường dân.
[18] Ngày Bính Ngọ, Vua sai Tả bổ khuyết Giả Hoàng Trung người Nam Bì đi kiểm tra ruộng đất của dân ở Quảng Nam. Hoàng Trung liêm khiết, ngay thẳng, công bằng và khoan dung, khiến người dân xa xôi được thuận lợi. Sau khi trở về, ông dâng tâu hàng chục việc lợi hại, đều được Vua khen ngợi.
[19] Lý Tòng Thiện vào cống, Độ chi phán quan, Điện trung thị ngự sử Lý Oánh được cử làm người tiếp đón. Oánh nhận hối lộ của Tòng Thiện, có người tố giác việc này. Ngày mùng 1 tháng 5, Mậu Thân, Oánh bị cách chức, giáng làm Hữu tán thiện đại phu, và chia số tiền hối lộ để ban cho Diêm thiết phán quan Lưu Kiêm, Hộ bộ phán quan Tân Trọng Phủ mỗi người 10 vạn tiền.
(Lưu Kiêm, không rõ lai lịch.)
[20] Ngày Giáp Dần, Vua cho Tề Đắc Nhất, người ở Mật Châu được tiến cử vì đức hạnh trinh liêm, trung hiếu, làm chủ bạ huyện Chương Khâu. Đắc Nhất trước đây dùng Ngũ Kinh dạy học trong làng, học trò từ xa đến theo học. Cuối thời Tấn, gặp loạn, nhà ông bị quan tướng châu giết hại, chỉ có ông thoát chết. Ông kêu oán lên triều đình, viên châu tướng bị cách chức. Đắc Nhất về nhà, mặc áo vải, ăn cơm đạm bạc, không màng danh lợi. Nhân đó, ông ứng chiếu đến kinh sư, qua kỳ thi được trúng tuyển, nên có lệnh này.
[21] Giám sát ngự sử Lưu Bàn người Bột Hải nhận chiếu đi thanh tra việc trà ở các châu như Lư, Thư, v.v.. Bàn ngồi xe, giả làm thương nhân, đến nhà dân xin mua trà, người dân không nghi ngờ, đem trà ra bán, liền bị bắt và xử theo pháp luật. Ngày Nhâm Tuất, Vua sai Bàn làm đồng tri chuyển vận sự các châu ở Hoài Nam[2].
[22] Kinh thành có dân buôn bán vật phẩm của quan hoặc định giá không đúng, Mã quân đô quân đầu Sử Khuê bí mật sai người theo dõi, tố cáo họ vu cáo, thường bị kết án tử hình, các cửa hiệu vì thế phải đóng cửa ban ngày.
Vua nghe việc này, vào ngày Ất Sửu, hạ chiếu rằng: “Người xưa coi việc ở chợ và ngục là nơi gửi gắm, vì biết dân nhỏ chỉ chăm lo lợi ích, không thể lấy luật pháp buộc họ hoàn toàn. Huống chi, lệnh trước đây chưa từng nghiêm khắc, nếu đẩy người vào hình phạt, thật phi lý. Nay muốn cấm việc định hai giá, nên ban bố minh văn. Từ nay, nếu ai mua bán vật phẩm của quan mà tăng giảm giá trị sai lệch, lừa dối tiền quan, khi xét án đúng sự thật, đều xử theo luật uổng pháp. Những kẻ phạm tội trước khi có chiếu này, đều không truy cứu.” Từ đó, những lời tâu của Sử Khuê càng không được Vua nghe theo.
[23] Ngày Bính Dần, Vua đến hồ Giảng Vũ xem tập trận thủy chiến.
[24] Ngày Bính Tý, lại đến hồ Giảng Vũ xem tập trận thủy chiến, rồi đến vườn Ngọc Tân.
[25] Tháng này, Vua ban chiếu rằng học sinh của Ty Thiên Đài và những người làm nghề kỹ thuật, công xảo ở các ty khác, không được bổ nhiệm làm quan ngoại.
[26] Giang Nam quốc chủ vốn có tính hiếu thuận, thân ái.
Ban đầu, Lý Tòng Thiện thân mật với Chung Mô, từng có mưu đoạt ngôi, đến khi Nguyên Tông băng hà ở Dự Chương, chỉ có Tòng Thiện và các em hộ tống, nhân đó nảy lòng không chính đáng, tìm đến tể tướng Từ Du xin di chiếu. Từ Du nghiêm nghị không cho, đến khi về Kiến Nghiệp, đem việc này tâu lên, Quốc chủ không hỏi đến, lại đối đãi càng hậu hơn.
Tòng Thiện bị lưu giữ, Quốc chủ buồn thương không nguôi. Các buổi yến tiệc trong năm đều bãi bỏ[3], viết bài ‘Khước đăng cao văn’ để bày tỏ ý mình. Sau đó, Quốc chủ sai Thường Châu thứ sử Lục Chiêu Phù (Chiêu Phù có truyện, không ghi quê quán.) vào cống, dâng thư tay xin cho Tòng Thiện về nước, nhưng Vua không cho, đưa bức thư cho Tòng Thiện xem, an ủi vỗ về. Tháng sáu, ngày Giáp Thân, cho Chưởng thư ký của Tòng Thiện là Giang Trực Mộc (Trực Mộc, không thấy ghi.) làm Tư môn viên ngoại lang, đồng phán Duyện Châu, các thuộc hạ đều được ban ơn. Sau lại phong mẹ của Tòng Thiện là Lăng thị làm Ngô quốc thái phu nhân.
(Tháng mười một, ngày Canh Thìn, mới phong Lăng thị, nay gộp lại viết.)
[27] Lục Chiêu Phù ở Giang Nam có hiềm khích với Trương Kỵ. Vua biết rõ điều này, nhân dịp thong thả bảo Chiêu Phù: “Kẻ chuyên quyền trong nước ngươi là Trương Kỵ, đứa trẻ có cổ họng lồi, sao không vào triều cống? Ngươi về, hãy bảo hắn đến, Trẫm muốn xem mặt.” Chiêu Phù sợ hãi, nên không dám về.
(Ngày tháng Lục Chiêu Phù vào cống, sách ‘Thực lục’ và ‘Bản kỷ’ đều không chép. Sách ‘Giang Biểu Chí’ chép: Khi Lý Tòng Thiện được bổ làm Thứ sử Duyện, Chiêu Phù vào tạ ơn, Vua nhắc đến Trương Kỵ, Chiêu Phù liền ở lại. Xét bản truyện của Chiêu Phù, năm Khai Bảo thứ 7 lại vào cống, như vậy khi bổ Tòng Thiện làm Thứ sử Duyện, Chiêu Phù chưa ở lại. Việc bổ Tòng Thiện là vào tháng hai nhuận năm thứ hai, ‘Giang Biểu Chí’ chắc chắn sai. Nay nhân Lý Dục dâng thư xin cho Tòng Thiện về nước, ghi chép sự việc này. Sau đó, Dục sai Từ Huyền vào cống, trong thư viết: “Lục Chiêu Phù vẫn chưa về nước, việc trong thân tộc khó lòng trình bày đầy đủ.” Nghi ngờ rằng Chiêu Phù lại vào cống cũng vì muốn xin cho Tòng Thiện về nước. Cần xem xét thêm.)
[28] Ngày Mậu Tý, xuống chiếu cho Thượng thư bộ Thương lang, Tri chế cáo Trương Đạm tạm quyền kiểm tra công việc của Tam ty, vẫn giữ chức túc trực ở Viện Hàn lâm. Đạm ban đầu ra khỏi chức Lang trung, có vẻ bất mãn, về sau xu nịnh Lư Đa Tốn, mới được thăng chức, không quá mười ngày thì đột ngột qua đời. Vua nghe tin ông không có con, rất thương xót, sai Trung sứ lo việc tang lễ, chôn cất tại Lạc Dương.
[29] Dân chúng ở Hà Trung phủ và Châu Giang bị đói. Ngày Bính Thân, xuống chiếu phát ba vạn thạch lương dự trữ của quân Hà Trung để cứu tế.
[30] Ngày Ất Tỵ, giảm giá rượu ở kinh thành, mỗi cân chỉ còn một trăm tiền.
[31] Mùa thu, tháng bảy, ngày Nhâm Tý, Vua đến hồ Giảng Vũ xem tập trận thủy chiến, rồi đến vườn Ngọc Tân.
[32] Người man ở Nam Đan Châu là một tộc biệt lập của người Khê Động, đất đai tiếp giáp với Châu Nghi. Ngày Bính Thìn, thủ lĩnh Mạc Hồng Lai tự xưng là Tiết độ sứ, sai Nha hiệu Trần Thiệu Quy dâng biểu xin quy phụ.
[33] Muối ở Xuyên, Hạp theo chế độ cũ do quan bán. Bấy giờ, xuống chiếu giảm mỗi cân mười tiền để ban ơn cho dân xa.
[34] Lư Đa Tốn vừa trở về, Quốc chủ Giang Nam biết Vua có ý nam chinh, liền sai sứ xin nhận sách phong, nhưng Vua không cho phép.
Lại cử Cáp môn sứ Lương Huýnh đi sứ Giang Nam. Huýnh nhân dịp hỏi Quốc chủ: “Triều đình mùa đông năm nay có lễ tế thiêu củi, Quốc chủ sao không đến giúp tế?” Quốc chủ ngập ngừng không đáp. Huýnh trở về, từ đó Vua quyết ý phạt Giang Nam.
(Lương Huýnh đi sứ vào mùa hạ năm này, không rõ ngày nào, nay phụ chép vào đây.)
[35] Ban đầu, người Giang Nam là Phàn Nhược Băng (Theo ‘Tống sử’ và ‘Tục thông giám’ của Tiết Ứng Kỳ đều chép là Phàn Nhược Thuỷ.) thi tiến sĩ không đỗ, dâng thư trình bày việc nhưng không được trả lời, bèn mưu tính về phương Bắc. Trước đó, ông thường câu cá ở sông Thái Thạch, dùng thuyền nhỏ chở dây tơ, buộc ở bờ nam rồi nhanh chóng chèo sang bờ bắc để đo độ rộng hẹp của sông, đi đi lại lại mấy chục lần để tính toán kích thước, sau đó đến kinh đô trình bày có kế sách đánh chiếm Giang Nam. Vua sai Học sĩ viện thử nghiệm, ban cho ông đỗ tiến sĩ, phong làm Thư châu Đoàn luyện suy quan. Nhược Băng tâu rằng mẹ và thân thuộc đều ở Giang Nam, sợ bị Lý Dục hãm hại, xin đón về trị sở. Vua lập tức hạ chiếu bảo Quốc chủ hộ tống, Quốc chủ tuân mệnh.
Ngày Mậu Thìn, triệu Nhược Băng làm Tán thiện đại phu, đồng thời sai sứ đến Kinh Hồ, theo kế của Nhược Băng, đóng hàng nghìn chiếc thuyền lớn và thuyền rồng đen vàng, định dùng để vượt sông vận chuyển quân lính.
(Truyện về Nhược Băng chép rằng ông dâng thư vào năm Khai Bảo thứ ba, ‘Hội yếu’ cũng chép vào tháng 11 năm đó. ‘Đại định lục’ lại chép vào tháng 11 năm thứ sáu, ‘Đăng khoa ký’ chép năm thứ bảy không thi cử, ban cho người dâng thư Phàn Nhược Băng đỗ tiến sĩ. Có thể Nhược Băng về vào mùa đông năm ngoái, mùa đông năm nay được phong chức, ‘Đại định lục’ và ‘Đăng khoa ký’ đều ghi đúng sự thực. Nay cùng chép vào đây.)
[36] Ngày Kỷ Tỵ, Chương Đức tiết độ sứ, tặng Thị trung Hàn Trọng Uân mất, Vua sai trung sứ lo việc tang. Trọng Uân mộ đạo Phật, ở Tương châu sáu bảy năm, hàng ngày bắt dân chúng lên núi Tây đốn gỗ xây chùa, không ngừng nghỉ, khiến mọi người đều khổ sở.
[37] Thái tử trung doãn Lý Nhân Hữu vì tội khi làm tri phủ Hưng Nguyên đã tự thu tiền qua đò đến hàng chục vạn, lại cưỡng ép thu nạp nữ giới, ngày Canh Ngọ, bị xử tử.
[38] Phó sứ kho quân khí của Khiết Đan là Thạch Trọng Vinh và đông đầu cung phụng quan Lưu Tông đến hàng. Tháng tám, ngày mùng một Bính Tý, phong Trọng Vinh làm phó sứ kho trà rượu, Tông làm tây đầu cung phụng quan. (Trọng Vinh, Tông, chưa thấy sử sách ghi chép).
[39] Trước đó, Ngô Việt vương Tiền Hoàng thúc sai nguyên súy phủ phán quan Hoàng Di Giản[4] vào cống. Vua bảo Di Giản rằng: “Ngươi về bảo với nguyên súy, phải luyện tập binh mã. Giang Nam cố chấp không chịu triều cống, ta sẽ phát binh đánh dẹp. Nguyên súy nên giúp ta, chớ nghe lời người khác, ví như da không còn, lông sẽ bám vào đâu?” Đặc biệt sai quan lại xây dựng một dinh thự lớn ngoài cửa Huân Phong, trải dài qua nhiều phố phường, kiến trúc to lớn nguy nga, chứa đầy đủ đồ dùng. Rồi Vua triệu tiến phụng sứ Tiền Văn Chí đến bảo: “Trẫm mấy năm trước đã sai học sĩ thừa chỉ Đào Cốc soạn chiếu, định xây cung điện ở phía nam thành, nay đặt tên là Lễ Hiền Trạch, để dành cho Lý Dục và chủ ngươi, ai đến triều trước thì sẽ ban cho.” Vua đưa bản thảo chiếu cho Văn Chí xem, rồi sai Văn Chí tặng Hoàng thúc dê ngựa, truyền đạt ý chỉ.
Ngày Mậu Dần, Hoàng thúc sai hành quân tư mã Tôn Thừa Hữu vào cống.
Ngày Đinh Hợi, Thừa Hữu từ biệt về nước, Vua ban tặng nhiều vật quý, lại bí mật thông báo thời điểm xuất quân. Thừa Hữu là anh của Hoàng thúc, vốn là kẻ hát xướng, nhờ làm anh vợ Vua mà được trọng dụng, nắm quyền chính sự, thời bấy giờ gọi là “Tôn Tổng Giám”, ý nói ông ta quản lý mọi việc.
(Sách ‘Cửu quốc chí’ ghi Tiền Văn Chí từ kinh sư về năm Khai Bảo thứ 4. ‘Quốc sử’ và việc Hoàng Di Giản vào cống đều ghi sau năm thứ 5. ‘Cửu quốc chí’ e rằng ghi sớm quá, nhưng ‘Quốc sử’ thì ngày tháng đều không khảo được. Nay tạm theo việc Thừa Hữu vào triều mà ghi trước. ‘Thập quốc kỷ niên’ cũng ghi việc Hoàng Di Giản vào cống năm Khai Bảo thứ 5. Cần khảo thêm).
[40] Ngày Kỷ Sửu, ngự đến hồ Giảng Vũ xem tập thủy chiến, ban tiền cho quân sĩ[5].
[41] Ngày Giáp Ngọ, Tiết độ sứ Trung Vũ, Đồng bình chương sự, được truy tặng chức Trung thư lệnh, tước Lang Gia Chính Ý Vương là Vương Thẩm Kỳ mất. Ban đầu, Thẩm Kỳ đột ngột mắc bệnh, mất tiếng, thân hành đến thăm hỏi, ban thưởng hậu hĩ, đến khi ông mất, lại ngự đến phủ đệ, khóc thương hết mực, tang lễ và tặng phẩm đều được gia tăng hạng.
[42] Ngày Mậu Tuất, Điện trung thừa Triệu Thượng bị cách chức, do khi giữ chức Tri châu Hán đã tự ý đánh thuế tre gỗ.
[43] Ngày Giáp Thìn, ngự đến hồ Giảng Vũ xem tập thủy chiến, sau đó đến vườn Ngọc Tân.
[44] Tháng chín, ngày Quý Hợi, sai Đoàn luyện sứ Dĩnh Châu là Tào Hán dẫn quân tiến đến Kinh Nam trước. Ngày Bính Dần, lại sai Tuyên huy Nam viện sứ Tào Bân, Thị vệ mã quân Đô ngu hậu Lạc Dương là Lý Hán Quỳnh, Phán sự Tứ phương quán là Điền Khâm Tộ cùng dẫn quân tiếp ứng.
[45] Vua đã phân bổ các tướng lĩnh, nhưng chưa có danh nghĩa xuất quân, nên muốn cử sứ giả triệu Lý Dục vào triều, bèn chọn trong bầy tôi một người thích hợp. Trước đó, Tả thập di, Tri chế cáo Khai Phong Lý Mục cùng Tham tri chính sự Lư Đa Tốn vốn là đồng môn sinh[6], Vua từng nói với Đa Tốn: “Lý Mục tính tình nhân hậu, ngoài văn chương ra không can dự gì khác.”
Đa Tốn đáp: “Lý Mục tiết tháo ngay thẳng, xử sự không vì sống chết mà thay lòng, là người nhân nghĩa mà dũng cảm.”
Vua nói: “Nếu quả thật như vậy, Trẫm sẽ thử xem.” Ngày Đinh Mão, bèn cử Lý Mục làm sứ giả đi Giang Nam.
Khi Lý Mục đến, truyền đạt ý chỉ của triều đình, Quốc chủ định nghe theo, nhưng Quang chính sứ, Môn hạ thị lang Trần Kiều can rằng: “Thần cùng Bệ hạ đều nhận cố mệnh của Nguyên Tông, nay nếu đến, ắt bị giữ lại, xã tắc sẽ ra sao! Thần dù có chết cũng không thể diện kiến Nguyên Tông nơi chín suối.” Thanh Huy điện học sĩ, Hữu nội sử xá nhân Trương Kỵ cũng khuyên Quốc chủ không nên vào triều.
Lúc này, Trần Kiều và Trương Kỵ đều nắm giữ cơ mật, Quốc chủ tin tưởng họ, bèn cáo bệnh kiên quyết từ chối, lại nói: “Kính cẩn phụng sự nước lớn, vốn mong được ban ơn cứu giúp. Nay việc như thế này, chỉ còn cách chết mà thôi.”
Lý Mục nói: “Vào triều hay không, Quốc chủ tự quyết định. Nhưng quân đội triều đình tinh nhuệ, vật lực hùng mạnh, e rằng khó đương đầu, nên suy nghĩ kỹ, đừng tự chuốc lấy hối hận.”
Khi sứ giả về, kể rõ tình hình, Vua cho rằng lời truyền đạt của Mục rất thỏa đáng, Giang Nam cũng cho là lời Mục nói không lừa dối.
(Sứ giả về, hẳn là sau tháng này, nay gộp lại nói một lần.)
[46] Cùng ngày, lại lệnh cho Sơn Nam Đông đạo tiết độ sứ Phan Mỹ, Thị vệ bộ quân đô ngu hậu Thanh Trì Lưu Ngộ, Đông thượng các môn sứ Lương Huýnh cùng dẫn quân đến Kinh Nam.
[47] Ngày Giáp Tuất, lấy Thái tử trung doãn, Tri Kinh Hồ chuyển vận sứ Hứa Trọng Tuyên kiêm chức Nam diện tùy quân chuyển vận sứ. Trọng Tuyên là người Thanh Châu.
[48] Mùa đông, tháng mười, Khai phong phủ tâu rằng các ngục ở kinh thành đều trống, không có tù nhân.
[49] Ngày Giáp Thân, Vua đến Nghênh Xuân uyển, lên đê sông Biện, phát chiến hạm xuôi về phía đông.
[50] Ngày Bính Tuất, Vua lại đến Nghênh Xuân uyển, lên đê sông Biện, xem quân lính tập trận, rồi đến Đông Thủy môn, phát chiến thuyền xuôi về phía đông.
[51] Quốc chủ Giang Nam lại sai em là Giang quốc công Tòng Dật[7] và Thủy bộ lang trung Phan Thận Tu[8] mang nhiều lễ vật sang cống, đồng thời xin dự yến tiệc. Vua đều giữ lại, không trả lời.
[52] Tào Bân cùng các tướng vào từ biệt, Vua bảo Tào Bân rằng: “Việc phương Nam, Trẫm giao hết cho khanh, chớ nên bạo ngược với dân chúng, phải làm cho uy tín lan rộng, khiến họ tự quy thuận, không cần đánh gấp.” Rồi lấy thanh kiếm trong hộp trao cho Tào Bân, nói: “Phó tướng trở xuống, ai không tuân lệnh thì chém.” Phan Mỹ và những người khác đều sợ hãi, không dám ngẩng đầu nhìn. Từ khi Vương Toàn Bàn bình định Thục, giết nhiều người, Vua lúc nào cũng hận chuyện đó. Tào Bân tính nhân hậu, nên được giao phó trọng trách này.
(Sách ‘Thiệu Thị Kiến Văn Lục’ chép rằng Triệu Phổ thật sự tiến cử Tào Bân. Xét thời điểm này Triệu Phổ đã bị bãi chức Tướng và ra trấn nhậm, có lẽ sách của họ Thiệu nhầm, nên không theo.
‘Kỷ Sự Bổn Mạt’ chép: Thái Tổ lúc đầu sai Tào Vũ Huệ Bân đánh Giang Nam, Phan Mỹ làm phó. Khi sắp xuất phát, Vua ban yến ở Giảng Võ Điện, sau ba tuần rượu, Tào Bân và các tướng đứng dậy quỳ trước long sàng, xin được nghe chỉ thị trực tiếp. Vua từ trong áo lấy ra bức thư niêm phong trao cho Tào Bân, nói: “Chỉ thị đều ở trong này. Từ Phan Mỹ trở xuống, ai có tội thì cứ mở ra, chém ngay, không cần tâu báo.” Hai vị đại thần rụng rời lui ra.
Khi bình định Giang Nam, không có ai vi phạm luật lệ. Lúc trở về, Vua lại ban yến ở Giảng Võ điện, sau ba tuần rượu, hai vị đại thần đứng dậy quỳ trước long sàng, nói: “Thần may mắn không làm hỏng việc, bức thư được trao trước đây không dám giữ ở nhà.” Rồi dâng lên Vua. Vua từ từ mở phong thư ra cho xem, chỉ là một tờ giấy trắng.
Sự thần cơ của Vua là như thế. Ban đầu dùng cách đó để nghiêm lệnh. Nếu quả thật họ phạm tội mà mở biểu ra, thấy giấy trắng ắt phải tâu báo. Khi trở về, Vua lại cho xem để thấy ban đầu chẳng có ý dễ dàng chém giết. Ân uy đều đạt, nên dù là Tào Bân cũng phải khuất phục.)
[53] Ngày Nhâm Thìn, Tào Bân và các tướng xuất phát từ Kinh Nam, tiến về Kim Lăng.
[54] Ngày Đinh Dậu, phong Ngô Việt Vương Tiền Thục làm Thăng Châu Đông Nam Diện Hành Dinh Chiêu Phủ Chế Trí Sứ, lại ban cho hai trăm con ngựa chiến, sai Khách Tỉnh Sứ Đinh Đức Dụ dẫn một nghìn quân bộ và kỵ làm tiền phong cho Tiền Thục, đồng thời giám sát quân đội của ông.
[55] Ngày Kỷ Hợi, Tào Bân cùng các tướng lĩnh vượt sông từ Kỳ Dương, đánh phá trại Hạp Khẩu, giết chết 800 quân thủ thành, bắt sống 270 người, bắt được ba người là hiệu úy ở Trì Châu: Vương Nhân Chấn, Vương Yến và Tiền Hưng.
[56] Ngày Giáp Thìn, phong Tào Bân làm Đô bộ thự Hành dinh mã bộ quân chiến trạo phía tây nam Thăng Châu, Phan Mỹ làm Đô giám, Tào Hàn làm Tiên phong đô chỉ huy sứ.
[57] Ban đầu, quân triều đình tiến thẳng đến Trì Châu, các đồn binh dọc theo sông đều cho rằng đây là quân tuần tra hàng năm của triều đình, nên chỉ đóng cửa thành cố thủ, sai người mang trâu rượu đến khao quân. Nhưng chẳng bao lâu, họ nhận ra sự khác thường so với mọi năm, tướng giữ thành Trì Châu là Qua Ngạn bèn bỏ thành chạy trốn. Ngày Kỷ Dậu, tháng mười nhuận, Tào Bân cùng các tướng tiến vào Trì Châu.
[58] Trước đó, nhà Vua sai Bát tác sứ Hác Thủ Tuấn (Thủ Tuấn, chưa rõ lai lịch) dẫn thợ từ Kinh Nam, dùng thuyền lớn chở những cây tre khổng lồ, cùng với thuyền rồng đen vàng do Lãng Châu chế tạo, đến Thạch Kỳ bắc cầu phao qua sông. Có người cho rằng sông rộng nước sâu, xưa nay chưa từng có ai bắc cầu phao qua được, nên trước hết thử nghiệm ở Thạch Bài Khẩu. Sau khi hoàn thành, sai cựu Phòng ngự sứ Nhữ Châu là Lục Vạn Hữu ở Linh Khâu đến trông coi.
[59] Ngày Đinh Tỵ, Tào Bân cùng các tướng giao chiến với quân Giang Nam ở Đồng Lăng, đánh bại chúng, bắt được hơn 200 chiến thuyền và bắt sống hơn 800 người.
(Đồng Lăng, cách Trì Châu 140 dặm về phía đông bắc.)
[60] Ngày Canh Thân, Tri chế cáo kiêm Sử quán tu soạn Hỗ Mông dâng tấu:
“Xưa, Vua Đường Văn Tông mỗi khi mở điện Diên Anh, triệu tập đại thần bàn việc chính sự, đều sai Khởi cư lang và Xá nhân cầm bút ghi chép tại bệ rồng, để ghi chép việc chính sự trong triều, vì thế sách Thực lục chép về thời Vua Văn Tông nay còn được bảo tồn đầy đủ nhất. Sau đó, Vua Đường Minh Tông cũng sai Điện học sĩ Đoan Minh và Xu mật trực học sĩ luân phiên chép nhật lịch gửi về Sử quán. Từ các triều gần đây, việc này đều bị bãi bỏ. Mỗi quý mặc dù có nhật lịch của nội đình và Xu mật viện ghi chép gửi đến Sử quán, nhưng những gì được ghi lại chỉ là những lời tâu đối, từ tạ mà thôi, còn lời nói và hành động của Vua thì không được ghi chép. Nguyên do là tể tướng lo sợ việc tiết lộ, nên không ai chịu nói; sử quan vì ở xa nên bị cách trở, làm sao có thể nghe được!
Xin từ nay, phàm có việc chế độ, lời nói ưu ái, xuất phát từ tấm lòng của Vua, có thể ghi vào sử sách, đều giao cho tể thần và Tham tri chính sự mỗi tháng luân phiên sao chép, để sử quan có tư liệu soạn tập.”
Vua nghe theo, ra chiếu và giao cho Lư Đa Tốn phụ trách việc này.
[61] Ngày Nhâm Tuất, Tào Bân đến Đương Đồ, Phán quan quân Hùng Viễn là Ngụy Vũ ở Vụ Nguyên đầu hàng. Hùng Viễn chính là Đương Đồ, vùng Giang Nam đặt quân ở huyện này. Quân triều đình trước đó đã chiếm Ngô Hồ, lại hạ được Đương Đồ, liền đóng quân ở Thái Thạch Kỳ.
[62] Hằng năm, Đàm châu cống trà mới, trọng lượng từng cân từng lá dày nặng, khác hẳn so với các năm khác, quan chức địa phương xin định lại giá. Vua nói: “Trà thì tốt đấy, nhưng chẳng phải là làm khổ dân ta thêm sao!” Ngày Quý Hợi, Vua ra chiếu Đàm châu vẫn theo khuôn mẫu cũ mà chế tạo [9], không được tự ý thay đổi.
[63] Ngày Giáp Tý, Giám tu quốc sử Tiết Cư Chính cùng các quan dâng lên bộ sách mới biên soạn là “Ngũ đại sử”, gồm 150 quyển. Ngày hôm sau, Vua nói với tể tướng: “Hôm qua xem bộ sử mới, thấy tội ác và sự đồi bại của Lương Thái Tổ nhiều đến thế, cũng không ngạc nhiên vì sao ông ta sớm bị giết hại.”
[64] Ngày Đinh Mão, Tào Bân cùng các tướng đánh bại hơn hai vạn quân của Giang Nam tại Thái Thạch Kỵ, bắt sống hơn một nghìn người cùng Phó đô bộ thự Mã bộ quân Dương Thâu[10], Binh mã đô giám Tôn Chấn cùng các tướng khác, lại thu được hơn ba trăm ngựa chiến.
Trước đây, Giang Nam không có chiến mã, triều đình mỗi năm ban cho một trăm con, đến lúc này đem ra làm tiền phong để chống lại quân triều. Khi bắt được chúng, kiểm tra dấu ấn, đều là những ngựa do triều đình ban tặng.
[65] Ngày Ất Hợi, tháng 11, quân Đàm Châu tiến vào địa giới Giang Nam, tấn công Bình Hương, bị Chế trí sứ Lưu Mậu Trung đánh bại. Quốc chủ liền phong Mậu Trung làm Viên Châu thứ sử. Mậu Trung là người An Phúc.
[66] Người làm muối ở Thông, Thái nộp muối[11], trước đây lấy vải, lụa, trà, gạo để chiết trả. Ngày Canh Thìn, ban chiếu cấp tiền.
[67] Ngày Quý Mùi, duyệt và chọn hơn một nghìn ba trăm người thuộc hạ của Thái Ninh tiết độ sứ Lý Tòng Thiện cùng quân thủy của Giang Nam làm quân cấm vệ, đặt hiệu là Quy Thánh.
[68] Ngày Giáp Thân, bãi bỏ chức Chủ bạ ở các huyện thuộc đạo Kiếm Nam.
[69] Ban chiếu miễn thuế thuê còn thiếu của sáu châu Bồ, Thiểm, Tấn, Ráng, Đồng, Giải, còn các châu ở Thiểm Tây được miễn nửa.
[70] Chiếu dời cầu phao từ trấn Thạch Bài đến bến Thái Thạch, buộc dây thừng trong ba ngày thì hoàn thành, không sai một tấc, quân Vương đi qua như trên đất bằng.
(Việc dời cầu phao ở Thái Thạch và chiến thắng trại Tân Lâm, theo Thực lục đều tấu lên vào ngày 20. Xét tình thế, hẳn là vào khoảng ngày 10 hoặc 11, 12. Vì tấu không ghi rõ ngày, nên tạm ghi lại ở đây, riêng chiến thắng trại Tân Lâm vẫn ghi theo ngày tấu lên, để tỏ ý nghi ngờ.)
[71] Lúc đầu bắc cầu phao, Giang Nam quốc chủ nghe tin, nói với Học sĩ Thanh Huy điện Trương Kỵ, Trương Kỵ tâu rằng: “Từ xưa đến nay, chưa từng có việc này, chắc chắn không thành.” Quốc chủ nói: “Ta cũng cho rằng đây chỉ là trò đùa của trẻ con thôi.” Bèn sai Trấn Hải tiết độ sứ, Đồng bình chương sự Trịnh Ngạn Hoa đốc suất thủy quân một vạn người, Thiên Đức đô ngu hậu Đỗ Chân lĩnh bộ quân một vạn người, cùng đón đánh quân Vương. Trước khi xuất quân, quốc chủ dặn rằng: “Hai quân thủy bộ hỗ trợ nhau, ắt không thất bại.”
(Trịnh Ngạn Hoa, chép vào năm Hiển Đức thứ 3; Đỗ Chân, không thấy chép.)
[72] Ngày Mậu Tý, Ngô Việt vương Thục sai sứ đến triều cống, tạ ơn mệnh chiêu phủ và chế trí, đồng thời dâng thư của quốc chủ nước Giang Nam, đại lược nói: “Hôm nay không có ta, ngày mai há có ngài! Minh thiên tử một mai đổi đất ban thưởng công lao, Vương cũng chỉ là một thường dân ở Đại Lương mà thôi.”
[73] Ngày Kỷ Sửu, Tri quân Hán Dương Lý Thứ đánh bại thủy quân Ngạc Châu của Giang Nam hơn ba nghìn người, bắt được hơn bốn mươi chiến thuyền.
(Lý Thứ tấu lên vào ngày 22.)
[74] Ngày Giáp Ngọ, Tào Bân và các tướng tâu rằng đã đánh bại mấy nghìn quân Giang Nam ở trại Tân Lâm, (Tra sử Tống và sách ‘Tục Thông Giám’ của Tiết Ứng Kỳ đều ghi là trại Tân Trúc, phía dưới cũng vậy.) bắt được ba mươi chiến thuyền.
(Chiến thắng trại Tân Lâm và việc buộc cầu phao ở Thái Thạch đều tấu lên vào ngày 20, xét tình thế, hẳn là vào khoảng ngày 10 hoặc 11, 12. Nay theo lời ghi trong Thực lục, không thay đổi nữa.)
[75] Khiết đan Thứ sử Trác Châu là Gia Luật Tông gửi thư cho Quyền tri Hùng Châu, Nội viên sứ Tôn Toàn Hưng, đại ý nói: “Giữa hai triều vốn không có mối hiềm khích nào, nếu cùng cử một sứ giả, bày tỏ rõ lòng thành của hai bên, để nhân dân được nghỉ ngơi, kết làm nước láng giềng lâu dài, chẳng phải là tốt sao?” Ngày Tân Sửu, Toàn Hưng dâng thư của Tông lên, Vua bèn sai Toàn Hưng viết thư hồi đáp, cùng thông hiếu với nhau.
(Toàn Hưng, không rõ lai lịch.)
[76] Ngày Nhâm Dần, nước Đại Thực phái sứ giả đến dâng lễ vật.
[77] Trịnh Ngạn Hoa và Đỗ Chân gặp quân triều đình, Chân dẫn binh ra đánh trước, Ngạn Hoa đóng quân không cứu viện, quân của Chân do đó thua trận.
[78] Tháng 12, Kim Lăng bắt đầu giới nghiêm, hạ lệnh bỏ niên hiệu Khai Bảo[12], sổ sách công tư chỉ ghi là năm Giáp Tuất. Càng thêm chiêu mộ dân làm lính, dân nào dâng của cải và lương thực thì ban cho quan tước.
(Việc Đỗ Chân thua trận, theo ‘Giang Nam dã lục’, quân triều đình lúc đó vẫn ở Đương Đồ, quốc sử không ghi rõ địa điểm, Thực lục và bản kỷ cũng không chép, không rõ có phải là chiến thắng ở trại Tân Lâm không? Quân bắt được ở Tân Lâm lại là thủy quân, e rằng không phải là quân của Đỗ Chân chỉ huy. Nay theo ‘Giang Nam dã lục’, ghi phụ vào tháng 12.)
[79] Hữu Bổ khuyết người Phùng Dực là Dương Khắc Nhượng, trước đây từ Tây Xuyên Chuyển vận phó sứ trở về, tâu việc hợp ý Vua, Vua cho ngồi nói chuyện, và bảo sắp trọng dụng. Tả Ty viên ngoại lang, Quyền phán Lại bộ Lưu nội tuyển là Hầu Trắc, tính tình hiểm ác, dò biết việc này, nhân lúc vào chầu, Vua hỏi có biết Khắc Nhượng không, Trắc đáp: “Thần chơi với Khắc Nhượng đã lâu, người đó có tài trí, thực là người tốt, hiếm có. Gần đây nghe nói ông ta đóng cửa từ chối khách, mua nhiều bạc làm đồ dùng, hưởng thụ xa xỉ, lại nói Bệ hạ sắp trọng dụng, thần riêng lấy làm lạ.” Vua nổi giận, ý định trọng dụng do đó bỏ dở.
Ngày Bính Ngọ, sai Khắc Nhượng làm Quyền tri Thăng Châu hành phủ sự.
[80] Lấy Quang lộc tự thừa Thôi Hoành, Thái bộc tự thừa Từ Nguyên, Thiếu phủ giám thừa Trương (?) phân nhau quản lý công việc của ba ty Khổng mục quan, gặp phán quan thì làm lễ như các quan lại, qua năm thì bãi bỏ.
[81] Ngày Đinh Mùi, Hán Dương binh mã giám áp Ninh Quang Tộ[13] đánh bại hơn 3.000 quân thủy của Ngạc Châu ở bờ bắc sông.
(Quang Tộ thắng trận vào ngày mồng 3 tháng này, đến ngày mồng 8 thì tấu báo về.)
[82] Ngày Kỷ Mùi, Hộ Quốc tiết độ sứ, được tặng chức Thị trung là Trần Tư Nhượng qua đời. Vua sai trung sứ lo việc tang lễ, bổ nhiệm con ông là Khâm Tộ làm Thượng thực phó sứ.
Tư Nhượng từng trải qua nhiều chức vụ, không có chính sách nào thất bại, nhưng rất sùng tín Phật giáo, ở nơi nào ông đến cũng cấm sát sinh, bổng lộc đều dùng để cúng dường tăng nhân, mọi người gọi ông là “Trần Phật Tử”, khi qua đời, gia đình không còn tài sản gì.
[83] Ngô Việt vương Tiền Hoằng Thục dẫn binh vây Thường Châu, bắt sống 250 quân và 80 ngựa dưới thành Thường Châu. (Đến ngày mồng 9 tháng giêng năm sau mới tấu báo về.) Ngày Quý Hợi, đánh chiếm Lợi Thành trại, đánh bại hơn 3.000 quân, bắt sống hơn 600 người.
[84] Ngày Bính Dần, Tào Bân cùng các tướng đánh bại quân Giang Nam ở cửa cảng Tân Lâm, chém được 2.000 thủ cấp, đốt cháy hơn 600 chiến thuyền[14].
(Đến ngày mùng 1 tháng giêng năm sau mới tấu báo về.)
[85] Bắc Hán chủ lùng sục trong quân đội con em từ 17 tuổi trở lên, đều ghi danh làm lính, thu gom hết ngựa của dân, cử Đại Châu thứ sử Uất Tiến đến xâm lấn Bình Dương.
Quyền tri Tấn Châu là Vũ Thủ Kỳ dẫn quân chống cự. Ngày Canh Ngọ, giao chiến với Uất Tiến ở địa phận huyện Hồng Động, đánh bại hơn 5.000 quân Bắc Hán.
(Đến ngày mồng 4 tháng giêng năm sau mới tấu báo về.)
[86] Ngày Tân Mùi, Ngô Việt vương Tiền Hoằng Thục đánh bại hơn 1 vạn quân Giang Nam ở vùng biên giới phía bắc Thường Châu.
(Đến ngày 21 tháng giêng năm sau mới tấu báo về.)
[87] Năm đó, ban chiếu bắt đầu bổ nhiệm các quan ở kinh thành, sai phái, xử lý công việc, thăng giáng chức vụ, lệnh cho Trung thư theo thông lệ của triều quan mà ban sắc chỉ, Ngự sử đài biên soạn danh sách các quan, cứ mười ngày một lần trình lên Trung thư.
(Việc này căn cứ vào ‘Hội Yếu’ ghi chép sự việc tháng mười nhuận, nay ghi chép ở đây, cần xem xét vì sao trước đây không ban sắc chỉ và trình danh sách các quan.)
[88] Bắc Hán chủ đổi niên hiệu thành Quảng Vận.
(Niên hiệu Thiên Hội kéo dài 18 năm rồi mới đổi thành Quảng Vận, có người nói 13 năm đã đổi, nhưng đó là sai. Nay theo ‘Tư Trị Thông Giám Khảo Dị’, lấy ‘Thần Đạo Bi’ của Lưu Kế Ngung làm chuẩn.)
[89] Tướng Khiết Đan muốn giao hảo với triều đình, sai sứ đến khuyên Bắc Hán chủ rằng tình thế mạnh yếu đã khác, đừng tùy tiện xâm phạt. Bắc Hán chủ nghe mệnh thì khóc lóc thảm thiết, dự định xuất binh đánh Khiết Đan, Tuyên huy sứ Mã Hoạn ra sức can ngăn, mới thôi.
(Việc này căn cứ vào ‘Thập Quốc Kỷ Niên’.)
- chữ 'Thống phan châu đoàn' bốn chữ nguyên bản thiếu, dựa theo bộ 'Đại điển' quyển 12306 bổ sung. Xem 'Tống sử' quyển 271, phần truyện Chu Quảng, ghi rằng năm Càn Đức thứ 3, Chu Quảng được thăng chức Phan châu đoàn luyện sứ; năm Khai Bảo thứ 2, thêm chức Nội ngoại mã bộ quân phó đô quân đầu; sách 'Hoàng Tống sự thực loại uyển' (sau đây gọi tắt là 'Loại uyển') quyển 1 ghi Chu Quảng 'giữa niên hiệu Khai Bảo làm Nội ngoại mã bộ quân đô đầu', có lẽ lúc này đã thăng lên chức phó đô thống. ↵
- 'Mệnh Bàn đồng tri Hoài Nam chư châu chuyển vận sự'. Chữ 'sự' nguyên bản là 'sứ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản khác và Đại điển quyển 12306 sửa lại. ↵
- 'Tuế thời yến hội giai bãi' – nguyên bản 'Thị tuế', căn cứ vào các bản và 'Đại điển' quyển 12306, 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 3 mà sửa. ↵
- 'Phúc nhân Hoàng Di Giản', nguyên bản ghi 'Phúc nhập', căn cứ theo Tống bản, Ngọc hải và Đại điển quyển 12306, Tống sử quyển 441 bản truyện sửa lại ↵
- Ban tiền cho quân sĩ, chữ 'quân' nguyên bản viết là 'khố', căn cứ theo 'Tống sử' quyển 3, 'Thái Tổ bản kỷ', 'Đại điển' quyển 12307 mà sửa lại. ↵
- 'sinh' vốn thiếu, căn cứ theo Tống bản, Tống Toát yếu bản và Đại điển quyển 12307, Trị tích thống loại quyển 1, Tống sử quyển 263 Lý Mục truyện bổ sung. ↵
- Giang quốc công Tòng Dật, chữ 'Dật' nguyên bản là 'Giám', theo các bản như Đại điển quyển 12307, 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 3, 'Biên niên cương mục' quyển 2, 'Lục Du Nam Đường thư' quyển 3 Hậu chủ kỷ mà sửa. ↵
- Thủy bộ lang trung Phan Thận Tu, các bản như Đại điển quyển 12307, 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 3, 'Trị tích thống loại' quyển 1 đều giống nhau. Theo 'Lục Du Nam Đường thư' quyển 3 Hậu chủ kỷ, quyển 16 Lý Tòng Dật truyện, 'Tống sử' quyển 296 Phan Thận Tu truyện, quyển 478 Nam Đường thế gia, 'Thập quốc xuân thu' quyển 17 Hậu chủ kỷ, quyển 30 Phan Thận Tu truyện và bản sách này quyển 16 tháng bảy ngày Nhâm Ngọ, 'Cung Thận Tu' nên sửa thành 'Phan Thận Tu'. ↵
- Chiếu Đàm châu vẫn theo khuôn mẫu cũ mà chế tạo: 'Khuôn' nguyên chữ là 'Dạng', dựa theo các bản khác và bộ 'Đại điển' quyển 12307, 'Tống hội yếu' phần Thực hóa 30-1 sửa lại ↵
- Phó đô bộ thự Mã bộ quân Dương Thâu: Nguyên văn là 'Phó đô thự'. Theo các bản Tống, Tống Toát Yếu, bản Các cùng Đại Điển quyển 12307 đều chép là 'Phó bộ thự', Trường Biên Kỷ Sự Bản Mạt quyển 3 và Trị Tích Thống Loại quyển 1 đều chép là 'Phó đô bộ thự', nay căn cứ bổ sung chữ 'bộ'. Hai cách gọi nào đúng, cần khảo cứu thêm. ↵
- Người làm muối ở Thông, Thái nộp muối: Nguyên văn là 'Thông phán'. Theo Thông Khảo quyển 15, Chinh Quyết Khảo chép: 'Người làm muối ở Thông, Thái, mỗi một thạch muối tính cả hao tổn ba thạch, được cấp năm trăm văn tiền, lấy vải, lụa, trà, gạo để trả, dân chúng rất khổ. Năm Khai Bảo thứ 7, mới ban chiếu cho trả bằng tiền thật.' (Tham khảo Tống Đại Chiếu Lệnh Tập quyển 183, bảng tứ Thông Châu về việc nấu muối). Thông Khảo chép cùng nội dung này. Thông, Thái hai châu đều là vùng sản xuất muối ở Hoài Nam, 'Thông phán' là sai, nay sửa lại. ↵
- 'Lệnh' ở đây nguyên văn là 'Mệnh', theo bản Tống, bản Tóm tắt, bản các, 'Trường biên kỷ sự bản mạt' quyển 3, 'Nam Đường thư' quyển 3 của Lục Du sửa đổi. ↵
- Chữ 'áp' trong câu 'Hán Dương binh mã giám áp Ninh Quang Tộ' vốn bị thiếu, chữ 'tộ' vốn viết là 'tác', được bổ sung và sửa lại theo 《Đại điển》 quyển 12307 và 《Trường biên kỷ sự bản mạt》 quyển 3. Chú thích chữ 'tộ' cũng giống như vậy. ↵
- Các bản khác và 《Đại điển》 quyển 12307 đều ghi là 'hơn 60 chiếc'. ↵