"

II. TỐNG THÁI TÔNG

QUYỂN 18: NĂM THÁI BÌNH HƯNG QUỐC THỨ 2 (ĐINH SỬU, 977)

Từ tháng giêng năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 2 đời Thái Tông đến tháng chạp cùng năm.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Bính Dần, sai Lễ bộ Viên ngoại lang Giả Hoàng Trung, Tả bổ khuyết Trình Năng, Tả tán thiện đại phu Phùng Toản, chia nhau quản lý ba kho tả tàng.

Trước đây, tiền tệ và vàng lụa đều do chung một cơ quan quản lý, tích trữ lâu ngày nên dư thừa nhiều, bèn sai tách ra quản lý riêng. Nhà Vua nói với các quan hầu cận: “Trẫm với đức mỏng, kế thừa nghiệp lớn. Mọi việc cơ mật và biên cương, đều tuân theo quy chế của Tiên đế, chẳng dám tự ý thay đổi. Nhưng của cải dư thừa, cần phải đặt thêm quan chức để mỗi người chuyên trách một việc.” Giả Hoàng Trung sau đó ra làm Tri châu Thăng Châu, từng kiểm tra các phủ sảnh, thấy một phòng khóa kỹ, bèn sai mở khóa xem, phát hiện được mấy chục rương châu báu, giá trị ước tính lên đến hàng vạn vạn, đều là vật phẩm còn sót lại từ cung thất của họ Lý, chưa được ghi vào sổ sách, liền làm biểu tâu lên. Vua nói: “Nếu không nhờ Hoàng Trung liêm khiết và cẩn thận, thì bảo vật của nước mất ắt sẽ làm loạn phép tắc và hại đến dân.” Bèn ban thưởng 20 vạn tiền.

(Giả Hoàng Trung làm Tri châu Thăng Châu, không rõ ngày tháng, căn cứ theo bản truyện thì là năm thứ 2, nay ghi chép phụ tại đây. ‘Từ Độ quốc kỷ’ chép việc này vào tháng hai ngày Canh Tý, không rõ căn cứ từ đâu.)

[2] Thời Ngũ đại, các phiên trấn thường phái thân thuộc đi khắp các đạo buôn bán, những nơi đi qua đều được miễn thuế. Khi đã giàu có, họ thường xa xỉ quá mức, nuôi ngựa đến hơn nghìn con, tôi tớ cũng hơn nghìn người. Đầu triều, mấy chục đại công thần vẫn theo thói cũ, Thái Tổ lo lắng nhưng chưa thể ngăn chặn. Triều đình bèn ban chiếu cho các quan trong triều và ngoài địa phương, từ nay không được nhân việc công mà xuất nhập, mang theo hàng hóa nhẹ, kiếm lợi lớn, cũng không được sai người đi khắp nơi buôn bán, tranh lợi với dân. Ai vi phạm, các quan châu huyện phải tâu lên rõ tên.

[3] Lại ra lệnh cấm các phiên trấn bổ nhiệm người thân làm trấn tướng. Từ đó, chỉ dùng các hiệu úy trong quân để làm việc này, cũng có người được tuyên bổ.

(Lệnh cấm các phiên hầu không được bổ nhiệm người thân làm trấn tướng được ghi trong bản chí và hội yếu cùng năm này, nhưng trong Thực lục lại không thấy. Nay nhân việc cấm các quan lại tranh lợi với dân, ghi thêm vào đây. Kỳ thực, lệnh cấm này đã có từ tháng 5 năm Khai Bảo thứ ba.)

[4] Khi Vua mới lên ngôi, thấy lãnh thổ rộng lớn, số quan lại càng nhiều, muốn mở rộng cơ hội cho người tài bị bỏ quên để bổ sung vào những chỗ khuyết, bèn nói với các bề tôi: “Trẫm muốn tìm kiếm người tài giỏi qua các khoa cử, không dám mong mười người được năm, chỉ cần được một hai người, cũng đủ làm công cụ trị quốc rồi.” Trước đó, các địa phương cử hơn năm nghìn ba trăm cống sĩ, sai Thái tử trung doãn, trực Xá nhân viện Trương Kỵ, Hữu bổ khuyết Thạch Hi Tải chấm thi tiến sĩ, Tả tán thiện đại phu Hầu Đào và các quan chấm thi các khoa, Hộ bộ lang trung Hầu Trắc giám sát.

Sau đó, Lễ bộ trình danh sách những người thi đỗ. Ngày Mậu Thìn, Vua ngự ở điện Giảng Vũ, ra đề thi thơ phú để phúc khảo các tiến sĩ, quy định vần phú phải luân phiên bằng trắc, sai Hàn lâm học sĩ Lý Phưởng, Hỗ Mông định thứ bậc cao thấp thành ba hạng, chọn được Lữ Mông Chính ở Hà Nam và một trăm lẻ chín người khác.

Ngày Canh Ngọ, phúc khảo các khoa khác, chọn được hai trăm lẻ bảy người, đều được ban đỗ. Lại ra chiếu cho Lề bộ xét lại hồ sơ cống sĩ, chọn được một trăm tám mươi bốn người đã thi mười lăm khoa trở lên, đều được ban bằng xuất thân. Có bảy người thi “Cửu kinh” không đỗ, Vua thương họ già, đặc cách ban cho bằng xuất thân như “Tam truyền”. Tổng cộng năm trăm người, đều được ban áo lục và văn bằng, rồi mở yến ở chùa Khai Bảo, Vua tự làm hai bài thơ ban cho họ.

[5] Dưới thời nhà Đường, sau khi Lễ bộ công bố kết quả thi, các tiến sĩ cùng tổ chức tiệc tại Khúc Giang, gọi là “Văn hỉ yến”. Đến thời Ngũ đại, tiệc này thường được tổ chức tại các chùa chiền hoặc danh viên. Dưới triều Chu Hiển Đức, triều đình đứng ra tổ chức tiệc. Vua sai Trung sứ điều hành, bày biện lộng lẫy. Những tiến sĩ đỗ hạng nhất, hạng hai và những người thông hiểu chín bộ kinh được bổ nhiệm làm Tướng tác giám thừa, Đại Lý bình sự, Thông phán các châu. Những tiến sĩ đồng xuất thân và các khoa khác đều được đưa về Lại bộ, miễn qua khâu tuyển chọn, ưu tiên bổ nhiệm vào các chức vụ sơ cấp như Phán ty, Bạ uý. Sự ưu đãi này đặc biệt khác thường, chưa từng có trong các triều đại trước. Tiết Cư Chính và các quan khác tâu rằng việc tuyển dụng quá nhiều người và quá gấp gáp. Vua lúc ấy đang muốn khuyến khích văn hóa, hạn chế việc quân sự, nên không nghe theo. Khi Tiết Cư Chính và những người khác cáo từ, Vua đặc biệt triệu họ lên điện, dặn rằng: “Khi đến nhiệm sở, nếu có việc gì bất tiện cho dân, hãy nhanh chóng báo lên.” Rồi ban cho mỗi người hai mươi vạn tiền trang bị.

(Việc khuyến khích văn hóa, hạn chế việc quân sự, căn cứ theo ‘Kê cổ lục’. Tiệc ban cho tiến sĩ vào ngày Kỷ Tỵ. Lễ mặc áo quan đầu tiên vào ngày Nhâm Thân. Có mười lăm người đỗ tiến sĩ vào ngày Tân Tỵ. Việc bổ nhiệm quan chức vào tháng ba, ngày Mậu Tý. Nay gộp lại kể, không ghi rõ ngày. Số người được ghi trong ‘Thực lục’ khác với ‘Quốc sử chí’, nay theo ‘bản chí’.)

Hoặc nói rằng, khi Thái Tổ đến Tây Kinh, người Lạc Dương là Trương Tề Hiền dâng lên mười kế sách gồm: chiếm thành Tịnh Phần, làm dân giàu, phong kiến, khuyên hiếu, tiến cử người hiền, mở trường Thái học, làm lễ Tịch điền, chọn quan lại tốt, trừng trị kẻ gian, thận trọng hình phạt. Thái Tổ triệu ông vào gặp ở chỗ ngồi thường, hỏi han, Trương Tề Hiền dùng tay vạch đất, trình bày từng điểm. Thái Tổ khen bốn kế sách, nhưng Trương Tề Hiền cương quyết cho rằng các kế khác đều hay. Thái Tổ nổi giận, lệnh vệ sĩ kéo ông ra ngoài. Khi trở về, Thái Tổ nói với Vua: “Ta đến Tây Kinh, chỉ gặp được một Trương Tề Hiền. Ta không muốn ban chức tước cho ông ấy ngay, ngày sau ngươi có thể thu dụng để giúp mình.” Vì thế, Trương Tề Hiền thi đỗ Tiến sĩ, Vua nhất quyết muốn xếp ông vào hàng cao, nhưng quan chức xếp tên ông vào vị trí sau mấy chục người, Vua không vui, bèn hạ chiếu cho tất cả Tiến sĩ đỗ hàng nhì và Cửu kinh, tổng cộng một trăm ba mươi người, đều được vượt cấp bổ nhiệm, chính là vì Trương Tề Hiền.

(Việc này căn cứ theo sách ‘Đông Hiên Ký’ của Ngụy Thái mà chỉnh sửa, cũng không biết có đáng tin không, nên ghi là “hoặc nói”, tạm giữ cả hai, đợi xem xét kỹ hơn.)

Trương Tề Hiền làm quan Thông phán ở Hoành Châu, lúc ấy châu xét án mười tên cướp, đều định tội chết. Khi ông mới đến, biện hộ cho họ, cứu sống được năm người. Quan coi ngục và viên Tri châu sợ bị khiển trách, Trương Tề Hiền nói: “Tôi mới có chút danh, há lại muốn đổ tội cho mọi người để mình lập công sao? Chỉ cần sửa lại là được.” Từ Giang Lăng đến Quế Châu, có mấy nghìn hộ phu trạm nước, đều là dân nghèo sống bằng nghề chài lưới và kiếm củi, không đủ cơm ăn áo mặc. Sông Tương nhiều vực sâu và đá ngầm hiểm trở, nhưng thời hạn công việc lại bằng với trạm bộ, nếu gặp gió to mưa lớn, thường bị đánh đòn. Trương Tề Hiền tâu việc này, Vua hạ chiếu giảm một nửa số phu mỗi trạm.

[6] Ngô Việt Vương Tiền Thục sai con là Ôn Châu Thứ Sử Tiền Duy Diễn đến triều cống, chúc mừng Vua lên ngôi.

[7] Trước đây, các châu Du viên cùng huyện lệnh, huyện bá, huyện úy, đều do Nam Tào của Lại Bộ cấp ấn chỉ và sổ lịch, có nơi còn cấp thêm giấy công cứ. Ngày Nhâm Thân, Vua hạ chiếu bãi bỏ giấy công cứ, tuyên bố lại chế độ ghi chép lịch trình.

[8] Vua cho rằng thuế khoá chưa công bằng, sai sứ đi khắp các châu, cùng với trưởng quan địa phương bàn định, đồng thời chiêu mộ người giàu có để đứng ra quản lý.

[9] Ngày Quý Dậu, lấy Thương Phượng làm Đông thượng các môn sứ.

Khi Vua còn ở phủ đệ, Phượng giữ chức Điển khách, năm ngày sau khi lên ngôi, Trần Tòng Tín từ Hữu tri khách Áp nha được thăng làm Tây thượng các môn sứ, Xu mật thừa chỉ; Trình Đức Huyền từ chức Dược viện Áp nha được bổ làm Hàn lâm sứ; Trần Tán từ chức Cung tiễn khố quan được làm Quân khí khố phó sứ; Vương Diên Đức từ chức Giám trù bổ làm Ngự trù phó sứ.

Lúc đó, Phượng đang cáo bệnh, đến khi khỏi bệnh, liền nhận mệnh này.

Diên Đức là người Đông Minh.

(Thương Phượng, chưa rõ lai lịch. Trần Tán, cũng chưa rõ.)

[10] Ngày Ất Hợi, ban cho hương cống tiến sĩ Khổng Thế Cơ cùng bản khoa xuất thân, là người thuộc dòng dõi của Thánh nhân.

[11] Ngày Bính Tý, Vua đến chùa Tướng quốc, sau đó trở về ngự ở Đông Hoa Môn xem đèn.

[12] Ngày Kỷ Mão, vương phi nước Ngô Việt là Tôn thị qua đời, chiếu lấy Cấp sự trung Trình Vũ làm Điếu tế sứ.

[13] Ngày Canh Thìn, chiếu đổi tên đẹp cho các hiệu cũ của cấm quân: Thiết kị đổi thành Nhật kị, Khống hạc đổi thành Thiên vũ, Long kị đổi thành Long vệ, Hổ tiệp đổi thành Thần vệ.

[14] Từ thời Ngũ đại đến nay, các phương cát cứ, tội nhân thường bị phối đày ra biên giới Tây Bắc, nhưng nhiều người trốn sang đất ngoài, dụ dỗ Khương Nhung gây cướp bóc. Ngày Kỷ Sửu, chiếu từ nay, những người bị đày sẽ phối đày vào Quảng Nam, không được phối đày ở Châu Tần, Châu Linh, quân Thông Viễn và các châu biên giới khác.

[15] Châu Ung tâu: “Tù trưởng người man ở Châu Quảng Nguyên là Thản Xước Nông Dân Phú (theo bản khảo chứng trong ‘Tống sử’ là Thản Thản Xước Nông Dân Phú) đem chiếu sắc mà Vua Ngụy Hán đã ban cho thủ lĩnh 10 châu đến dâng hiến, muốn nội thuộc như Châu Thất Nguyên để nộp thuế, nhưng người man ở Châu Tư Lăng chặn đường, khiến họ không thể thông. Kính mong triều đình cử binh đánh Châu Tư Lăng.” Chiếu ban cho Thản Xước Nông Dân Phú chức Kiểm hiệu Tư không (theo bản khảo chứng trong ‘Tống sử’ là Kiểm hiệu Tư không, Ngự sử đại phu, Thượng trụ quốc), lệnh cho Chuyển vận sứ Châu Quảng là Từ Đạo chiêu dụ họ.

(Từ Đạo, chưa rõ lai lịch.)

[16] Ngày Mão, Vua đến ao Giảng Vũ.

[17] Đổi chùa Long Hưng mới thành chùa Thái Bình Hưng Quốc.

[18] Trước đây, các châu ở Giang Nam do quan phủ mua 8 phần trong 10 phần trà, 2 phần còn lại lại thu thêm 1 phần 10 làm thuế, sau đó cấp giấy phép, cho phép buôn bán. Thương nhân lợi dụng kẽ hở, vượt sông vượt Hoài, làm rối loạn pháp luật trong nước. Chuyển vận sứ Phàn Nhược Băng xin cấm việc này, đồng thời tăng giá mua để thuận tiện cho dân.

[19] Lý Dục trước đây dùng tiền sắt, gây bất tiện cho dân. Ngày Nhâm Thìn đầu tháng 2, Nhược Băng xin đặt chức giám tại các châu Thăng, Ngạc, Nhiêu,… đúc nhiều tiền đồng. Tất cả những nơi trên núi có đồng đều cấm dân khai thác, lấy hết cho quan phủ đúc. Số tiền đồng dự trữ ở các châu đều được phát ra để mua vàng lụa, hàng hóa nhẹ cung cấp cho triều đình và trao đổi lúa mì. Tiền đồng không qua sông, thêm vào tiền mới, tiền trong dân càng nhiều, tiền sắt tự nhiên không dùng nữa, đúc hết thành nông cụ, cung cấp cho dân lưu vong phía Bắc sông quy phụ, đồng thời bỏ lệnh cấm tiền đồng qua sông. Chiếu theo lời xin, dân rất thuận tiện.

(Việc đúc tiền sắt thành nông cụ, bản chép khác trong Thực lục ghi ngày Đinh Hợi tháng 7, nay ghi chung vào.)

Tuy nhiên, trong lúc Lý Dục dùng binh, tạm thời thu thuế, Nhược Băng đều tâu lên thành thuế thường, dân rất oán giận. Nhược Băng thuở nhỏ nghèo khổ, từng bị người giàu họ Hồng ở Dự Chương làm nhục, trong lòng oán hận. Sau đó, họ Hồng quản lý việc bán rượu tại quận, nợ Lý Dục vài trăm vạn tiền sắt, Nhược Băng thu hết tiền đồng, họ Hồng gần như phá sản.

(Xét Phàn Nhược Băng, trong ‘Tống sử’ ghi là Phàn Nhược Thủy, xuất hiện nhiều lần ở quyển 15 và 16 trước đó.)

[20] Ngày Quý Tỵ, Ngô Việt vương Tiền Thục sai sứ đến triều cống.

[21] Lệnh cho Hộ bộ viên ngoại lang, kiêm Thị ngự sử tri lam sự Lôi Đức Tương đảm nhiệm việc quản lý muối, rượu, thuế thương mại và lợi tức trong khu vực phủ Khai Phong.

[22] Ngày Giáp Ngọ, lập huyện Vĩnh Hưng, châu Ngạc thành quân Vĩnh Hưng.

[23] Khiết Đan sai sứ đến chúc mừng Hoàng thượng lên ngôi và lễ Chính đán.

[24] Hữu Thiên Ngưu vệ Thượng tướng quân Lý Dục tự nói mình nghèo.

Ngày Ất Mùi, triều đình ban chiếu ban thưởng ba trăm vạn tiền. Dục tuy nghèo, nhưng Trương Kỵ vẫn đòi hỏi, Dục đành đưa cho Kỵ một bộ đồ làm lễ bằng bạc, Kỵ tỏ ra không hài lòng. Lúc đó, Phan Thận Tu quản lý việc ghi chép của Dục, Kỵ nghi Thận Tu đã chỉ bảo Dục, vốn thân thiết với Thận Tu, từ đó cũng dần xa cách.

[25] Ban đầu, Tỷ bộ lang trung Trương Toàn Thao dám thẳng thắn bàn luận việc ngoại giao, Thái Tổ rất yêu quý, phong cho chức Tri Linh Châu, giao phó việc biên giới.

Toàn Thao đưa ngựa quan đi tiêu thụ hàng năm, tặng vật phẩm thô kém cho các bộ lạc ngoài biên, quân man tức giận không nhận. Toàn Thao bắt giết mười tám người, tịch thu vũ khí, dê ngựa của họ, gây náo loạn lớn. Triều đình phái sứ giả đem vàng lụa an ủi ban thưởng cho bộ lạc đó, kết minh ước, mới yên. Thượng nổi giận, triệu Toàn Thao bỏ ngục, tra hỏi. Ngày Đinh Dậu, phạt đánh và lưu đày ra đảo Hải Điểu sơn. Toàn Thao là người Giang Đông.

(Toàn Thao, chính là người năm Càn Đức thứ tư làm Tri Quang Hóa quân dâng lợi nhuận thặng dư[1].)

[26] Tuần kiểm Tây Sơn Quách Tiến tâu viên Chỉ huy sứ trại Hồ Đào của Bắc Hán là Sử Ôn cùng bốn mươi bốn hộ, hai trăm bốn mươi lăm người đã quy phụ.

[27] Ngày Mậu Tuất, ban chiếu cho quan trong triều được sai đi làm Tư Tiết trấn được mượn áo tía, quan làm Thứ sử Châu, Phòng, Đoàn và Thông phán được mượn áo đỏ, khi bãi chức thì trở lại như cũ.

[28] Phong Trấn Đông quân An phủ sứ, Tri Việt Châu Tiền Nghi làm Quan sát sứ các Châu Thận, Thụy, Sư, vẫn giữ chức Tri Việt Châu; Tuyên Đức quân An phủ sứ, Tri Hồ Châu Tiền Tín làm Quan sát sứ các Châu Tân, Quy, Nho, vẫn giữ chức Tri Hồ Châu.

Nghi và Tín đều là em của Ngô Việt Vương Thục. Nghi thích ngủ ngày, thường xử lý việc phủ và dự yến tiệc vào ban đêm, Tín từng xuất gia, sau trở lại làm quan, nhân lời thỉnh cầu mà có mệnh lệnh này, có lẽ là vì người nắm quyền đùa cợt.

[29] Khi Thượng còn làm Tấn Vương, Tả Đồn vệ Thượng tướng quân Trương Đạc từng mượn một trăm sáu mươi vạn tiền, nay ban chiếu miễn trả hết.

[30] Ngày Kỷ Hợi, Ngô Việt Vương Thục vì kỳ Sơn lăng đã đến, phái sứ giả đến dâng lễ viếng.

[31] Ngày Canh Tý, Vua đổi tên thành Quý. Chiếu lệnh ngoại trừ những châu huyện, chức quan và tên người đã đổi, tên cũ hai chữ không cần kiêng tránh.

[32] Ngày Nhâm Dần, tổ chức yến tiệc lớn ở cung Sùng Đức, không cử nhạc.

[33] Ngày Ất Tỵ, Vua đến hồ mới đào, ban thưởng cho ba vạn năm nghìn binh lính mỗi người một nghìn tiền, một tấm vải. Sau đó, Vua đến hồ Giảng Vũ, yến tiệc và bắn cung ở vườn Ngọc Tân.

[34] Ngày Bính Ngọ, bắt đầu chia Tây Xuyên thành hai lộ Đông và Tây, mỗi lộ đặt chức Chuyển vận sứ và Phó sứ. Lang trung Binh bộ Hứa Trọng Tuyên làm Chuyển vận sứ lộ Tây, Viên ngoại lang Khảo công Đằng Trung Chánh làm Chuyển vận sứ lộ Đông. Trung Chánh là người Bắc Hải.

[35] Ngày Đinh Mùi, nước Chiêm Thành phái sứ giả đến cống nạp sản vật địa phương.

[36] Hữu ty tấu rằng: “Các châu Giang Nam thực hiện việc độc quyền trà, theo chiếu chỉ, tại các vùng ven sông thiết lập các cơ quan quản lý độc quyền[2]. Dân chúng có người cất giấu trà trong nhà, định rõ pháp lệnh, ghi vào luật, người nào giấu giếm không khai báo, cho phép hàng xóm tố cáo, thưởng bằng tiền và lụa, đều có phân loại. Đồng thời, tại các nơi quan trọng, treo pháp lệnh để răn dạy." Chiếu theo lời tấu.

Hễ ở các châu huyện xuất trà, nếu dân chúng giữ lại hoặc bán với giá trị trên một nghìn quan, sẽ bị xăm mặt đày về kinh, đàn bà thì phối làm thợ rèn. Người dân chứa trà lậu giảm một nửa tội so với người phạm pháp. Quan lại phụ trách cơ quan độc quyền ăn cắp trà quan bán ra, nếu tiền dưới năm trăm, thì bị đày ba năm; trên ba quan, thì xăm mặt đày về kinh. Người trồng trà hủy hoại cây trà của mình, (Theo 'Văn hiến thông khảo', viết là "cây trà"), tính theo số trà đã bán ra, xử theo pháp luật.

[37] Hữu ty lại tâu: "Lợi từ việc nấu muối để phụ trợ chi tiêu nhà nước, nếu không nghiêm minh pháp cấm, thì dân giàu sẽ độc quyền, các sản vật từ núi rừng và đầm hồ không thể thu hết vào kho vương phủ. Nên cấm tất cả các châu Giang Nam trước đây đã thông thương, phàm dân chúng ở vùng đất mặn và nước mặn đều không được tư nấu muối, định rõ tội danh, ghi vào sắc lệnh. Những giám sát tại các trì diêm (hồ muối), nếu giám quan và người phụ trách ăn cắp muối quan để buôn bán kiếm lợi, cũng áp dụng pháp luật giống như tội nấu muối lậu. Các nơi thông thương và áp dụng pháp cấm, cùng với muối xanh trắng ở Tây lộ, phải giám sát lẫn nhau, không để muối lậu xâm phạm lợi ích công, kẻ phạm tội từ một lạng đến hai trăm cân đều bị luận tội theo mức độ. Từ đó so với lệnh cấm thời Càn Đức, tăng mức xử phạt đối với việc vận chuyển trái phép từ hai trăm cân trở lên, nấu kiềm và quan chủ lại ăn cắp buôn bán từ một trăm cân trở lên, muối dùng cho tằm nhập vào thành thị từ năm trăm cân trở lên, đều đánh trượng, xăm mặt và tống giam.

('Tống triều yếu lục': Việc dân dùng muối, quan châu huyện căn cứ số nhân khẩu để phân phối, muối dùng cho tằm căn cứ vào sổ hộ tịch mà cấp, chiếu đều theo lời xin trước đây. Trước kia, quan cho dân mượn muối công, khi việc nuôi tằm xong, dùng tơ lụa để trả, gọi là muối tằm. Muối dùng cho ăn, lệnh dân theo thuế hạ thu mà nộp tiền)."

[38] Ban đầu, Phó suất Vương Kế Huân của Hữu Giám Môn Vệ Suất phủ được phân công cai quản Tây Kinh, càng ngày càng tàn bạo, cưỡng đoạt con cái của dân chúng để làm tôi tớ, nếu không vừa ý liền giết và ăn thịt, dùng hòm nhỏ đựng xương rồi vứt ra ngoài đồng. Những người buôn bán và bán quan tài ra vào cửa ông ta không dứt, dân chúng vô cùng khổ sở nhưng không dám tố cáo. Khi còn ở phiên phủ, nhà Vua đã nghe nhiều về sự việc này. Lên ngôi, gặp lúc có người tố cáo, liền lập tức sai Hộ bộ viên ngoại lang, Tri lam sự Lôi Đức Tương đi điều tra. Kế Huân khai nhận toàn bộ, từ tháng tư năm Khai Bảo thứ 6 đến nay, ông ta đã tự tay giết hơn trăm thị nữ.

Ngày Ất Mão, Kế Huân bị chém tại chợ Lạc Dương, đồng thời chém tám người buôn bán và ba người dân Lạc Dương, đều là những kẻ giúp Kế Huân cưỡng đoạt con cái dân chúng. Huệ Quảng, nhà sư chùa Trường Thọ, từng cùng Kế Huân ăn thịt người, nhà Vua ra lệnh bẻ gãy chân trước rồi mới chém. Dân chúng đều vui mừng.

[39] Ngày Mậu Ngọ, các tể thần Tiết Cư Chính, Thẩm Luân, Lư Đa Tốn, cùng xu mật sứ Tào Bân, Sở Chiêu Phụ, đều được ban tiền năm trăm vạn, bạc ba trăm cân. Tuyên huy nam viện sứ Phan Mỹ, bắc viện sứ Vương Nhân Hạo, đều được ban tiền ba trăm năm mươi vạn, bạc hai trăm cân.

[40] Ngày Kỷ Mùi, xuống chiếu cho Lưu Sưởng và Lý Dục, ngoài lương thường, được thêm các khoản cấp khác.

[41] Ban cho Tề vương Đình Mỹ một vạn tấm lụa, năm trăm vạn tiền; Vũ Công quận vương Đức Chiêu năm nghìn tấm lụa, năm trăm vạn tiền; Hưng Nguyên doãn Đức Phương ba nghìn tấm lụa, ba trăm vạn tiền.

[42] Ngày Canh Thân, ban cho Điện tiền đô chỉ huy sứ Dương Tín, Mã quân đô chỉ huy sứ Đảng Tiến, mỗi người sáu trăm cân bạc; Điện tiền đô ngu hậu Lý Trọng Huân, Mã quân đô ngu hậu Lý Hán Quỳnh, Bộ quân đô ngu hậu Lưu Ngộ, Thần vệ tả hữu sương đô chỉ huy sứ Dương Mỹ, mỗi người ba trăm cân bạc. Dương Mỹ, tức là Quang Mỹ.

[43] Ngày Tân Dậu, ban chiếu rằng các đạo cấp bổng lộc cho các chức mạc chức và quan châu huyện, giá cả vật phẩm phải được định theo thời, không được để thiệt hại mà không đạt được bảy phần.

[44] Mạnh Man, người mới được bổ nhiệm làm Lục sự Tham quân ở Đậu Châu, vì sợ xa cách nên không nhậm chức, đến phòng khiếu nại tự trình bày. Vua nổi giận, sai đánh trượng và lưu đày ra đảo Hải Điểu Sơn.

(Theo chuyện cũ của tổ tiên có 8 chữ "dẫn sự hoặc chúng, vu võng thiết hại", nghi là quan tu sách đã thêm thắt, nay theo sách Thực lục.)

[45] Ngày Mậu Ngọ, Vua đến chùa Thái Bình Hưng Quốc. Sau đó đến xưởng đóng tàu, ban thưởng cho thợ mỗi người một nghìn tiền và một tấm vải. Khi về, ghé qua quán Kiến Long.

[46] Khi Thái Tổ nhận thiền vị, các quan văn võ từ ngũ phẩm trở lên đều được phép cho con em hưởng ấm. Sau khi Vua lên ngôi, các đạo, châu, phủ đều cử con em mang lễ vật đến cống. Vua đều phong cho chức thí hàm và tam ban. Theo chế độ cũ, những ai được phong chức thí hàm do ân trạch không được cùng với chính quan tham gia tuyển chọn. Bấy giờ, Vương Hoài Đĩnh và Trương Trạc, mới được phong làm Thí Đại Lý Bình sự, dâng tấu rằng: "Dù được triều đình phong chức, nhưng chưa có kỳ hạn tuyển chọn, xin được xem xét, cho phép tham gia tuyển chọn."

Ngày Nhâm Tuất tháng 3, ban chiếu rằng những người được phong chức thí hàm sẽ được định kỳ bảy lần tuyển chọn. Từ đó, chức thí hàm mới có tuyển chọn, bắt đầu từ Trạc và những người khác.

[47] Ngày Quý Hợi, Công bộ lang trung là Hầu Trắc tấu rằng: "Bộ Từ cấp sớ cho tăng ni, mỗi sớ phải nộp 100 tiền cho quan chức. Xin bãi bỏ điều này. Hàng năm, các châu gửi danh sách tăng ni lên Bộ Từ, rồi cấp sớ, giao cho các quan địa phương tự cấp." Chiếu theo đề nghị.

[48] Ngày Giáp Tí, Ngô Việt Vương Tiền Hoằng Thố lại cử sứ đến tu cống.

[49] Ngày Ất Sửu, bắt đầu ban hành lệnh cấm đồng ở các châu Giang Nam.

[50] Nhiệm Duy Cát, nguyên là Thông phán Thiểm Châu, bị cấp dưới tố cáo, điều tra thấy có tang vật. Ngày Bính Dần, chiếu tước đoạt quan tước, đày đi Nhữ Châu. Vương Hỗ, Trấn Quốc Hành Quân Tư Mã, là người thân của Duy Cát, từng làm Tri chế cáo, tiến cử Duy Cát, bị phạt mất hai quý bổng.

[51] Ngày Nhâm Thân, tiết Thanh Minh, lần đầu ban lửa mới cho các quan cận thần.

[52] Triệu Phổ, Tiết độ sứ Hà Dương Tam Thành, vào triều, xin đến lăng Thái Tổ. Ngày Ất Hợi, được phong làm Thái tử Thiếu bảo, lưu lại kinh sư.

[53] Hữu thiên ngưu vệ tướng quân Đổng Kế Nghiệp trước đây làm tri châu Châu Thần, tư lợi bán muối đánh thuế dân, mỗi cân muối đổi một tấm vải, muối chỉ nặng mười hai lạng, mà vải bắt buộc dài bốn mươi thước, dân chúng rất khổ cực. Có người đến triều đình tố cáo việc này, bèn hạ lệnh cho ngục sử điều tra xác minh, sau đó trách phạt Kế Nghiệp giáng chức làm trung lang tướng bản bộ.

[54] Hương dược khố sứ Cao Đường Trương Tốn dâng kiến nghị, xin lập cục chuyên quản việc mua bán, đem hương liệu, bảo vật trong quan khố ra bán, nâng giá lên một chút, cho phép thương nhân dùng vàng lụa mua về, mỗi năm có thể thu được năm mươi vạn quan tiền, để giúp quốc dụng, đồng thời khiến hàng hóa ngoại quốc được lưu thông. Vua nghe theo, trong một năm quả nhiên thu được ba mươi vạn quan. Từ đó hàng năm đều có lợi nhuận tăng thêm, cuối cùng đạt đến năm mươi vạn quan.

(Theo 'Hùng Khắc Cửu Triều Thông Lược': Cấm không được tuỳ tiện mua bán với người không xuất hàng từ quan khố.)

[55] Ngày Mậu Dần, lệnh cho Hàn lâm học sĩ Lý Phưởng cùng các người khác biên soạn sách loại gồm một nghìn quyển, tiểu thuyết gồm năm trăm quyển.

(Theo 'Tống Triều Yếu Lục': Chiếu cho Lý Phưởng, Hỗ Mông cùng các người dựa vào các sách 'Ngự Lãm', 'Nghệ Văn Loại Tụ', 'Văn Tư Bác Yếu' cùng các sách loại thời trước, phân môn loại biên thành một nghìn quyển. Các sách dã sử, truyện ký, cố sự, tiểu thuyết được biên thành năm trăm quyển.)

[56] Trước đây, các tiết độ sứ có thể bổ nhiệm con em làm nha hiệu trong quân đội, nhờ có thế lực và tài lực của cha anh, thường kiêu ngạo, xa xỉ, ngang ngược, dân chúng khổ sở. Ở Lạc Hạ có mười người thuộc hàng vãi nội, càng ngông cuồng phóng túng, con của Tả kiêu vệ thượng tướng quân Thái Nguyên Điền Cảnh Hàm là Điền Hán Minh là một trong số đó.

Vua vốn biết rõ tệ nạn này, mới lên ngôi đã lệnh cho các châu phủ lập danh sách những người này, gửi về kinh đô, đến nơi tổng cộng một trăm người. Ngày Quý Mùi, đều bổ làm điện tiền thừa chỉ, cho chức thấp để giữ chân họ. Năm người còn lại già yếu không đảm đương được việc, đều cho về.

[57] Ngày Canh Dần, Tri châu Giang Châu Chu Thuật tâu rằng số học trò ở động Bạch Lộc núi Lư Sơn thường lên đến hàng nghìn người, xin ban cho 'Cửu Kinh' để họ học tập. Chiếu lệnh cho Quốc tử giám cấp sách, rồi chuyển giao đến nơi.

[58] Bộ châu Tần báo rằng người Nhung ở tộc An Gia đánh chiếm trại Trường Sơn, Tuần kiểm sứ Vi Thao đánh đuổi chúng đi.

[59] Thời Thái Tổ, Khiết Đan tuy cho phép buôn bán dọc biên giới nhưng chưa có cơ quan quản lý. Tháng này, lệnh cho các châu Trấn, Dịch, Hùng, Bá, Thương đặt cơ quan chuyên trách buôn bán (gọi là "giác vụ"), cử quan tham chính cùng thái giám cùng quản lý, vận chuyển hương liệu, tê giác, ngà voi cùng trà để giao thương.

(Theo 'Hùng Khắc Cửu Triều Thông Lược': Sau khi có chiến dịch Phạm Dương, việc này bị bãi bỏ, không giao thương nữa.)

[60] Phó sứ Bát tác Kỳ Đình Khuê xin nghỉ ốm hết hạn nhưng không bị xóa tên khỏi sổ, khi khỏi bệnh không vào chầu mà trực tiếp nhập ban. Tuyên huy sứ Phan Mỹ và Vương Nhân Thiệm đều bị phạt giảm ba tháng lương; Đông thượng cáp môn sứ Thương Phụng và Tây thượng cáp môn sứ Trần Tòng Tín bị giáng chức thành nhàn cứu sứ và cáp môn chi hậu; những người khác bị xử phạt tùy mức độ.

(Năm đó tháng giêng ngày Quý Dậu, Thương Phụng được bổ làm Đông thượng cáp môn sứ, việc này không rõ xảy ra lúc nào, nay ghi chép cuối tháng ba, chờ xem xét thêm.)

[61] Mùa hạ, tháng tư, ngày Tân Mão mùng một, Hữu thập di Quách Bí tâu: "Các châu Kiếm Nam, nhà nước bán muối với giá 70 đồng một cân. Những kẻ hào phú gian ngoan cùng nhau thông đồng, mua muối rẻ từ quan rồi bán đắt cho dân, giá lên đến vài trăm đồng một cân. Xin tăng giá lên 150 đồng, như vậy kẻ gian không còn lợi dụng được, mà dân vẫn mua được muối rẻ." Triều đình đồng ý.

[62] Nước Đại Thực sai sứ đến cống nạp sản vật địa phương.

[63] Trước đó, có chiếu lệnh xây thành ở vùng Loạn Liễu Thạch phía bắc châu Lộ. Ngày Giáp Ngọ, đặt tên là quân Uy Thắng.

[64] Ngày Đinh Dậu, đổi trại Quảng Dương ở châu Trấn thành quân Bình Định.

[65] Ngày Kỷ Hợi, đổi trấn Vĩnh An ở châu Diên thành quân Bảo An.

[66] Điện trung thừa Lưu Tịch bị cách chức, vĩnh viễn không được bổ nhiệm lại, vì khi làm Tri châu Kiếm có kẻ trộm của công, Lưu Tịch treo thưởng cho người tố giác, rồi xin thưởng cho người này. Triều đình cho rằng Lưu Tịch không chuyên tâm bắt trộm, tự ý treo thưởng nên có lệnh này.

(Theo bản khác.)

[67] Ngày Nhâm Dần, lệnh cho các quan mạc chức ở các châu Tây Xuyên ngoài lương thường được cấp thêm 5.000 đồng.

[68] Ngày Giáp Dần, Khiết Đan sai Hồng lư thiếu khanh Gia Luật Xưởng đến tham dự tang lễ.

[69] Ngày Ất Mão, an táng Thái Tổ Anh Vũ Thánh Văn Thần Đức Hoàng đế ở lăng Vĩnh Xương.

[70] Thái tổ băng hà, chiếu cho Hàn lâm học sĩ, Hộ bộ thị lang Lý Phưởng kiêm quản lý Thái thường tự.

Phưởng về, bảo các con là Tông Ngạc rằng: "Các lại trong triều không hiểu điển cố, há lại có chuyện thừa lang mà quản lý tự hay không? Nếu nói quản lý tự, thì từ thừa trở xuống đến bạ đều có thể quản lý được, cần gì phải bổ nhiệm riêng quan chức? Thời Đường, thừa lang kiêm quản lý các cục khác rất nhiều, hoặc quan cao thì gọi là quản lý việc quan, hoặc quan thấp thì gọi là biết việc quan, hoặc chưa chính thức thì gọi là quyền biết việc quan, hoặc gọi là kiểm hiệu việc quan. Chỉ có Thái thường khanh là trọng trách, chưa từng nghe ai có thể tổng quản lý được. Chắc triều đình không coi ta là kẻ bất tài, nên nói là quyền quản lý việc Thái thường khanh là đủ. Nhưng gần đây Đậu Nghi quản lý Đại Lý tự, Thôi Tụng quản lý Quốc tử giám, đó là sai lầm từ lâu rồi."

Tông Ngạc hỏi: "Phàm chiếu sắc ban ra, đều phải từ tể tướng. Nay nói các lại không hiểu điển cố, sao vậy?"

Phưởng đáp: "Bổ nhiệm quan quản lý tự, tể tướng chắc không để tâm, chỉ do các lại cứ việc nêu gần đây mà ký tên thôi." Phưởng lại nói: "Từ khi Thái tổ lên ngôi, trăm việc của các ty khó khăn trong việc tuyển bổ, người mới tiến cử phần đa không quen việc cũ, do đó quy định cũ của đài tỉnh dần dần bị bỏ phế."

[71] Dân chúng ở Diên Châu đói kém, chiếu ban cho hai vạn hộc thóc để cứu đói.

[72] Ngày Đinh Tỵ, phong Trang Kiệt, người từng giảng học thời Tiềm Long, làm Huyện lệnh huyện Toan Tảo, ban cho đai thếp vàng, yên ngựa bạc, bạch kim, tiền mẫn.

(Trang Kiệt, sử không chép rõ.)

[73] Tháng đó, xây dựng điện Cảnh Phúc.

[74] Ban chiếu quan tâm đến hình phạt. Từ đó, mỗi năm vào đầu mùa hạ thường thi hành việc này.

[75] Tháng năm, ngày Tân Dậu mùng một, ban thưởng khác nhau về khí tệ cho các quan chấp sự ở lăng Vĩnh Xương. Những người chấp hành việc ở các ty và các hành sự, Bộ Lại sẽ giảm bớt việc tuyển chọn.

[76] Vua dốc lòng tìm đạo lý trị quốc, trước đó đã hạ chiếu lệnh các chuyển vận sứ xét án ở các châu, xếp hạng ưu khuyết của các chức vụ, sau đó lại phái sứ giả đi khắp các đạo để thanh tra quan lại.

Ngày Nhâm Tuất, Pháp tào tham quân phủ Hà Nam là Cao Phi, Chủ bạ huyện Y Khuyết là Trạch Lân, và Lệnh huyện Huỳnh Trạch, châu Trịnh là Thân Đình Ôn đều bị cách chức vì bất tài, lười biếng, không chú tâm công việc[3], bị miễn chức.

[77] Khi Vua vừa lên ngôi, An Viễn tiết độ sứ Hướng Củng, Vũ Thắng tiết độ sứ Trương Vĩnh Đức, Hoành Hải tiết độ sứ Trương Mỹ, Trấn Ninh tiết độ sứ Lưu Đình Nhượng đều đến triều kiến. Ngày Quý Hợi, phong Củng và Vĩnh Đức cùng làm Tả vệ Thượng tướng quân, Trương Mỹ làm Tả kiêu vệ Thượng tướng quân, Lưu Đình Nhượng làm Hữu kiêu vệ Thượng tướng quân, trong chiếu viết: "Không dám để trọng trách ở biên cương làm phiền các bậc cựu thần."

[78] Trước đó, con gái họ Lý ở huyện Cung Khâu, châu Duyễn, từ nhỏ mất cha mẹ, mắc bệnh đau tim. Lý cầu khấn thần linh, rồi không ăn uống suốt nửa tháng. Từ đó không ăn ngũ cốc, không uống nước. Qua tám năm, bỗng một ngày nàng châm lửa đốt nhà, lên núi dựng lều cỏ sống. Châu phái quan lại đến xem, cho người vây giữ, bảy ngày không ăn uống, bèn tâu việc lên triều đình. Ngày Giáp Tý, Vua hạ chiếu cho châu tha cho nàng, để nàng sống theo ý mình.

[79] Ngày Ất Sửu, Vua đến Thủy Cối mới, rồi đến Ngọc Tân viên dự tiệc và bắn cung.

[80] Ngày Bính Dần, châu Kinh báo việc vợ một người dân huyện An Định giận con dâu của chồng (con của vợ trước), bèn cắt cổ giết chết. Vua bảo tả hữu: "Pháp luật phải xét tình cảm. Việc này chắc do lúc kế thừa địa vị chính thất, yêu ghét khác nhau, nên xử như người thường." Bèn hạ chiếu: "Từ nay, nếu kế mẫu giết hoặc làm bị thương con trai của chồng và con dâu, đều xử như giết hoặc làm bị thương người thường. Nếu từng làm kế mẫu mà chồng chết rồi đi tái giá, không được chiếm tài sản nhà chồng, phải giao hết cho con cháu của chồng, nếu còn nhỏ thì quan phủ quản lý, đợi lớn rồi trao lại, vi phạm sẽ trị tội như ăn trộm."

[81] Ngày Canh Ngọ, cử Khởi cư xá nhân Tân Trọng Phủ đi sứ sang Khiết Đan, phái Hữu tán thiện đại phu Mục Bị làm phó sứ. Trọng Phủ đến biên giới, nghe tin triều đình đang bàn kế hoạch xuất binh đánh Bắc Hán, thực chất dựa vào Khiết Đan làm viện binh, nên chần chừ không dám tiến, dâng tấu chương xin chỉ thị. Triều đình ban chiếu cho tiếp tục đi.

Khi đến nơi, Khiết Đan chủ hỏi: "Nghe nói triều đình trung nguyên có Đảng Tiến là dũng tướng, như Đảng Tiến có bao nhiêu người?" Trọng Phủ đáp: "Danh tướng rất nhiều, còn những người tài như Đảng Tiến thì không thể đếm xuể!" Khiết Đan chủ muốn giữ ông lại, Trọng Phủ nói: "Lấy thành tín để giữ nghĩa, nghĩa không thể ở lại, chỉ có chết mà thôi." Khiết Đan chủ biết ông giữ khí tiết không thể lay chuyển, bèn hậu đãi rồi cho về. Vua từng nói với tả hữu: "Trọng Phủ đi sứ nơi xa, thông thạo thời cơ, có thể nói là không phụ mệnh Vua. Nếu có thêm được mấy người như Trọng Phủ nữa[4], thì ta còn lo gì?"

[82] Hôm đó, mở yến tiệc ở điện Sùng Chính, không dùng nhạc.

[83] Cai Châu Đoàn luyện sứ Trương Diên Phạm trước kia làm Tri Quảng Châu, để xảy ra hỏa hoạn thiêu rụi gần hết kho công khố chứa hương liệu, ngọc trai, sừng tê giác và ngà voi. Diên Phạm tấu trình không trung thực, lại để ba tên nô tài nhận hối lộ. Ngự sử phụ điều tra rõ sự việc, Vua hạ lệnh chém ba tên nô ấy ở chợ Quảng Châu. Ngày Quý Dậu, cách chức Diên Phạm, giáng làm Hộ quốc Hành quân Tư mã.

[84] Ban đầu, Tào Hàn giết hại dân chúng ở Giang Châu, không để sót ai, ruộng đất và nhà cửa của họ đều bị các lái buôn ở Giang Bắc chiếm đoạt. Triều đình ra chiếu lệnh cho các quan chức địa phương tìm kiếm người thân thích xa gần của dân để trả lại tài sản. Tri châu Trương Tế nhận hối lộ của lái buôn, che giấu sự việc, không trả hết cho dân, dân tố cáo. Ngày Mậu Dần, Tế bị xử đánh trượng và lưu đày đến đảo Điểu Sơn.

[85] Ở Thường Châu, dân đồn đại rằng quan lại bắt con gái lương dân sung vào hậu cung, khiến dân chúng hoang mang, nhiều người gả con gái mà không cần mai mối. Triều đình ra lệnh bắt những kẻ loan tin đồn, bắt được Từ Thuyên và một số người, tất cả đều bị xử tội.

[86] Ngày Kỷ Mão, đưa thần chủ của Thái Tổ vào thờ phụng ở Thái Miếu, nhạc miếu gọi là "Đại Định chi vũ", dùng Hiếu Minh Hoàng Hậu họ Vương làm phối thờ, lại đưa Ý Đức Hoàng Hậu họ Phù, Thục Đức Hoàng Hậu họ Doãn vào thờ phụng ở Biệt Miếu.

(Trong 'Hùng Khắc Cửu Triều Thông Lược' còn ghi thêm Hiếu Huệ, Ý Đức, Thục Đức ba Hoàng Hậu đều được thờ ở Biệt Miếu.)

[87] Ngày Canh Thìn, ban chiếu tu sửa Bắc Đế Cung ở núi Chung Nam thuộc phủ Phượng Tường, cung này do Trương Thủ Chân xây dựng để thờ thần.

[88] Ngày Tân Tỵ, Bình Hải Tiết Độ Sứ Trần Hồng Tiến tâu rằng đã rời bản đạo vào triều.

[89] Ngày Đinh Hợi, ban chiếu cho Thái Tử Trung Xá Trần Ngạc và những người khác cùng xem xét và định lại bộ 'Ngọc Thiên' và 'Thiết Vận'.

(Trong 'Nghệ Văn Chí' ghi rằng Trần Ngạc cùng những người khác xem xét và định lại 'Thiên', 'Vận' vào niên hiệu Ung Hy, khác với ghi chép trong 'Bản Kỷ' và 'Thực Lục', sợ rằng 'Chí' có sai sót nên không lấy làm căn cứ.)

[90] Tháng sáu, ngày Ất Mùi, châu Từ tâu rằng ở các huyện Bảo An có loài côn trùng đen bay thành đàn, ban đêm bay ra, ban ngày ẩn nấp, ăn sạch lá dâu, ban chiếu miễn thuế dâu.

[91] Ngày Quý Mão, Tri Châu Tần là Trương Bỉnh tâu: "Trước đây thần nhận chiếu bán thóc trong kho cho dân nghèo, nhưng sứ giả Lưu Văn Bảo lại mang chiếu đến bảo thần dừng việc này. Dân đói càng thêm nặng, kẻ chết đói bên vệ đường ngày càng đông. Thần cùng Văn Bảo đã tự ý mở kho, cứu nguy cho dân, xin nhận tội." Triều đình ban chiếu tha tội.

[92] Châu Toàn, châu Dĩnh tâu rằng lũ lớn làm hư hỏng nhà cửa của dân.

[93] Ngày Ất Mão, hoàng đế đến chùa Khai Bảo, rồi đến viện Phi Long, ban cho các quan tùy tùng mỗi người một con ngựa.

[94] Ngày Kỷ Mùi, Ty Chuyển Vận lộ Giang Nam Tây tâu: "Các châu thiếu tơ lụa mà giá vàng lại khá thấp, nay nếu tính thuế theo lụa thì ước tính quá thấp sẽ hại dân, còn ước tính vàng quá cao sẽ hại quan. Vàng loại thượng, trước đây ước tính mỗi lạng mười ngàn, nay xin ước tính tám ngàn. Lụa loại thượng, trước đây mỗi tấm một ngàn, nay xin ước tính một ngàn ba trăm. Phần còn lại tăng giảm tùy theo thứ bậc." Triều đình chấp thuận.

[95] Tháng bảy mùa thu, ban chiếu trả lại toàn bộ ruộng đất, nhà cửa của các quan lớn ở chợ Dương Bình thuộc châu Hoa.

[96] Ngày Nhâm Tuất, xử chém hoạn quan Chu Diên Tiêu, vì tội mang chiếu đến châu Tống giám sát việc mua thóc, tự ý rời khỏi nơi mua thóc vào thành uống rượu, làm thất lạc chiếu thư.

[97] Cuối năm Khai Bảo, khi ấy Vua còn ở phủ Tấn, sai người thân tín đến vùng biên giới phía Tây mua ngựa. Khi trở về, nghỉ đêm bên đền Yếu Sách tưu, nửa đêm mộng thấy thần nhân bảo: "Tấn vương đã lên ngôi rồi, ngươi hãy gấp đường trở về kinh." Sứ giả đến Kinh Triệu, quả nhiên nghe tin Thái Tổ băng hà.

Tháng 5 năm ấy, Tĩnh Nam tiết độ sứ Tống Ngọ lại tâu: "Rồng trắng xuất hiện trong hồ đền Yếu Sách, dài mấy trượng, hướng về phía đông phun mây xanh trắng."

Ngày Quý Hợi, chiếu phong thần tưu là Phổ Tế vương làm Hiển Thánh vương, tu sửa đền thờ, hằng năm xuân thu cúng tế, lại dựng bia ghi chép việc này.

[98] Hà Dương tâu sông Hoàng Hà vỡ đê ở huyện Ôn, Trịnh châu tâu sông Hoàng Hà vỡ đê ở huyện Huỳnh Trạch. Chiếu sai khách tỉnh sứ Trạch Thủ Tố huy động 1.500 dân phu và 1.000 quân ở Trịnh châu để đắp lại chỗ đê vỡ ở Huỳnh Trạch.

[99] Ngày Ất Sửu, Thiền châu tâu sông Hoàng Hà vỡ đê ở Đốn Khâu, Hoạt châu tâu sông Hoàng Hà vỡ đê ở Bạch Mã, Đạo châu tâu nước lũ lớn làm hư hại nhà dân.

[100] Các quan chức địa phương hộ tống vật phẩm triều cống, những kẻ coi giữ kho thường dùng móc câu gian lận, khiến quan lại các châu phải chịu nợ công, có kẻ đến mức phá sản mà không trả nổi. Vua nghe vậy, nói: "Đây nào phải là đạo giữ của cải cho thiên hạ!" Ngày Canh Ngọ, lệnh cho kho Tả tàng và các kho khác tiếp nhận vật phẩm triều cống từ các châu như vàng, bạc, tơ lụa, bông vải và các vật khác, giám quan phải giám sát cẩn thận người cầm cân, không để họ lừa lọc tăng thêm số lượng, kẻ vi phạm, người cầm cân và kẻ giữ kho đều bị chém, giám quan cũng bị xử phạt nặng.

(Sách 'Thật lục' và 'Thực hóa chí' chép chiếu chỉ này giống với chiếu chỉ năm Càn Đức thứ 4 bàn về dư thừa lương thảo của Trương Quang Thao, có lẽ do sử quan tu sửa, nay không chép lại, chỉ ghi việc này.)

[101] Ban đầu, Chu Thái Tổ bổ nhiệm Trung thư xá nhân Ngư Sùng Lượng làm Hàn lâm học sĩ. Khi ấy, mẹ Sùng Lượng ở lại Thiểm châu, ông xin từ chức để về phụng dưỡng mẹ, được triều đình ban lệnh cho nghỉ dài ngày. Ngày từ biệt, được ban ngồi và an ủi, lại ban cho mẹ ông quần áo rất hậu hĩnh. Khi hết thời gian nghỉ 100 ngày, triều đình nhiều lần sai sứ đến hỏi thăm. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm Lễ bộ thị lang, rồi lại làm Hàn lâm học sĩ, chiếu chỉ ra lệnh ông đưa mẹ về kinh. Sùng Lượng dâng biểu từ chối, lý do là mẹ già bệnh tật, không muốn rời quê nhà, triều đình ban chiếu từ chối. Khi cuối năm giá rét, Sùng Lượng xin đợi đến cuối mùa xuân mới vào triều, được chấp thuận. Không lâu sau, nghe tin Chu Thái Tổ băng hà, ông vội vã đến kinh sư.

Thế Tông thi hành chiếu chỉ trước, Sùng Lượng từ chối, nói: "Tiên đế đã hứa với thần đến cuối xuân mới nhậm chức, nếu vì chạy tang mà vội vàng nhận mệnh, không hợp lễ nghi." Ông kiên quyết xin theo lời hứa trước. Đến kỳ hạn, Sùng Lượng đưa mẹ lên đường. Nhưng lúc đó, Thế Tông đi đánh Cao Bình, Sùng Lượng chưa đến, Đào Cốc bàn tán rằng: "Sùng Lượng chần chừ không đến, có ý chờ đợi." Thế Tông nghi ngờ ông. Sùng Lượng lại dâng biểu trình bày mẹ ốm, triều đình cho phép ông ở lại Thiểm châu phụng dưỡng mẹ, suốt đời Thái Tổ không ra làm quan.

Vua nghe tiếng ông từ lâu, muốn triệu kiến, Sùng Lượng lại từ chối vì bệnh. Vua không ép, ngày Bính Tý, phong ông làm Binh bộ thị lang rồi cho về hưu.

(Sùng Lượng, người Bắc Hải, lần đầu xuất hiện vào năm Trường Hưng thứ 4.)

[102] Ban đầu, Thái Tổ cưới con gái của nguyên Tuy châu thứ sử Lý Xử Vân cho Vua. Sau khi đã nộp lễ cưới, gặp lúc Thái Tổ băng hà, mãi đến ngày Đinh Sửu mới nhập cung.

[103] Ngày Mậu Dần, sai Tả vệ Đại tướng quân Lý Sùng Củ từ Thiểm châu đi ngựa trạm đến Thương châu, Lệ châu, xem xét tình hình sông ngòi, kiểm tra những chỗ đê điều hư hỏng, mau chóng sửa chữa. Ruộng của dân bị thiệt hại do lũ lụt, đều được miễn thuế.

[104] Từ khi Giang Nam được bình định, hàng năm vận chuyển mấy trăm vạn thạch gạo về kinh sư, kho tăng thêm diện tích, sai Thường tham quan quản lý việc xuất nhập, Nội thị phụ tá. Vua lo sợ quan lại cân đo không công bằng, bèn sai quân Hoàng thành cải trang để giám sát. Khi ấy, bắt được 8 người ở kho Vĩnh Phong như Trương Ngộ nhận hối lộ làm điều gian trá, ngày Canh Thìn, đều bị xử trảm. Giám thương Hữu Giám môn vệ tướng quân Phạm Tòng Giản cùng 4 người khác bị cách chức, các Nội thị cùng giám quản bị đánh trượng.

[105] Ngày Tân Tỵ, Huyện úy Kim Đàn là Chu Sở vì tội tham nhũng bị xử tử chợ.

[106] Chiếu cho các châu tìm kiếm bút tích và tranh vẽ của các bậc tiên hiền.

(Nhân tháng Tân Dậu, Tổ Lệnh Tôn dâng sách mô phỏng của Vương Hy Chi, chiếu ban vào ngày Canh Ngọ tháng mười.)

[107] Ngày Canh Dần tháng bảy nhuận, vì Trần Hồng Tiến sắp vào triều, sai Hàn lâm sứ Trình Đức Huyền đến Túc Châu đón tiếp.

[108] Ngày Quý Sửu, đặt Trấn Định Đào thuộc Tào Châu làm Quảng Tế quân.

[109] Ngày Kỷ Hợi, ngự giá đến cầu Bạch Hạc, (Theo 'Tống sử' ghi là cầu Bạch Cốt) bên sông Kim Thủy.

[110] Điện trực Ngô Thuấn Khanh nhận chiếu mộ binh ở vùng Nghi, Duyễn, đến trạm Tứ Thủy, say rượu, giết tám người dân thường, Duyện Châu tâu lên, Vua sai trói giải về kinh. Ngày Tân Sửu, trước chặt hai chân, sau đó chém đầu.

[111] Ngày Đinh Mùi, đổi Bình Nam quân thành Thái Bình châu.

[112] Ngày Kỷ Dậu, sai Hàn lâm học sĩ Lý Phưởng đi sứ Ngô Việt.

[113] Sông Biện tràn, làm vỡ đê Đại Ninh ở Khai Phong, ngập ruộng dân, hại mùa màng, chiếu sai huy động 3.500 dân đinh ở Hoài, Mạnh đến đắp đê.

[114] Trước đây, Tiết độ sứ Thiên Hùng quân kiêm Thị trung Lý Kế Huân trấn thủ Đại Danh hơn tám năm, vì bệnh xin về Lạc Dương chữa trị, được chấp thuận, lại ban mười triệu tiền, mười ngàn lạng bạc. Lại dâng biểu xin về hưu, ngày Canh Tuất, được phong Thái tử Thái sư về hưu.

Kế Huân nhiều lần trấn giữ các phiên lớn, tuy không có thành tích gì đáng kể, nhưng được khen là chất phác, thẳng thắn. Tính tằn tiện, ăn mặc giản dị, rất sùng đạo Phật, mỗi khi xây chùa cúng tăng thì không tiếc tiền. Vì có tình nghĩa quân đội với Thái Tổ nên được đặc biệt sủng ái. Hơn một tháng sau thì mất, được tặng chức Trung thư lệnh, truy phong tước Lũng Tây quận vương, thụy là Trang Vũ.

[115] Ngày Giáp Dần, phong thường dân Tôn Thủ Bân làm Hữu lĩnh vệ Tướng quân về hưu, lúc đó con gái Thủ Bân mới vào cung.

[116] Thủ lĩnh tả giáp người Man ở động Mai Sơn là Bao Hán Dương, thủ lĩnh hữu giáp là Hán Lăng dẫn quân cướp bóc thương nhân, Vua nhiều lần sai sứ chiêu dụ, nhưng giặc vẫn không ngừng, bèn sai Khách tỉnh sứ Trạch Thủ Tố đem quân Đàm Châu đến đánh.

[117] Ngày Đinh Tỵ, hữu ty dâng lên các bản đồ nhuận năm do các châu cống nạp. Theo lệ cũ, cứ ba năm một lần, triều đình ra lệnh cho thiên hạ cống nạp bản đồ, cùng với sổ hộ tịch đều phải dâng lên Thượng thư tỉnh. Thời đầu quốc gia, lấy năm nhuận làm hạn định, nhằm nắm rõ địa hình hiểm trở hay bằng phẳng của núi sông, cùng số lượng hộ khẩu nhiều hay ít.

(Sách ‘Thực lục’ ở phần sau có ghi: Lúc đó, các nước Ngô, Tấn đều đã bình định, các châu quận dâng bản đồ đến cống, tổng cộng bốn trăm quyển. Điều này sai lầm lớn. Tra cứu ‘Địa lý chí’, việc này xảy ra vào thời Ung Hi, nay bỏ đi. ‘Hội yếu’ cũng ghi giống ‘Thực lục’.)

[118] Tháng tám, ngày Quý Hợi, chúa man Lưỡng Lâm ở vùng Sơn Hậu châu Lê là Quy Đức tướng quân Vật Ni, Hoài Hóa tướng quân Vật Nhi, sai sứ là Vương tử Ty Thái, Phó sứ Mâu Cái, Quỷ chủ Hoàn Tổ cùng bảy mươi tám người đến cống nạp ngựa quý, xin ban lịch chính thức. Không lâu sau, phong Vật Ni làm Quy Đức đại tướng quân.

(Việc thăng chức cho Vật Ni diễn ra vào tháng chín, ngày Kỷ Dậu, nay gộp lại viết chung.)

[119] Vua lại ban chiếu dụ Bao Hán Dương, nhưng Hán Dương cố thủ chống cự, không tuân lệnh. Vua bèn hạ chiếu cho Trạch Thủ Tố tiến quân đánh bắt.

Lúc đó, mưa lớn đổ xuống suốt mười ngày, cung nỏ ẩm ướt, không thể kéo được. Hôm sau, gần đến lúc giao chiến, Thủ Tố ra lệnh trong đêm đẽo gỗ làm nỏ. Đến sáng, quân giặc bất ngờ tấn công, quân triều đình bắn tên giao chiến, đánh bại quân giặc, thừa thắng truy kích, bình định hết sào huyệt của chúng.

Trước đó, các quan lớn và phú hào ở các châu Đàm, Thiệu đều qua lại với Hán Dương. Sau này, thu được hàng trăm bức thư của chúng, Thủ Tố đốt hết, khiến những kẻ ngầm chống đối được yên.

[120] Ngày Bính Dần, Trần Hồng Tiến vào triều kiến ở điện Sùng Đức, được đối đãi trọng thị, ban tiền mười vạn, bạc trắng một vạn lượng, lụa một vạn tấm.

[121] Khi Vua mới lên ngôi, lấy Thiếu phủ giám Cao Bảo Dần làm Tri châu Hoài.

Châu Hoài vốn thuộc Hà Dương, lúc đó Triệu Phổ làm Tiết độ sứ. Bảo Dần vốn có hiềm khích với Phổ, nhiều việc bị Phổ ức chế, trong lòng không phục, nên dâng sớ xin bãi bỏ chế độ Tiết trấn kiêm lĩnh các quận. Vua bèn hạ chiếu cho châu Hoài trực thuộc kinh đô, quan lớn được tự tâu việc.

[122] Khi đó, Thứ sử Quắc Châu là Hứa Xương Duệ (Xương Duệ, chưa rõ lai lịch) tố cáo Tiết độ sứ Bảo Bình là Đỗ Thẩm Tiến về việc thiếu sót. Vua ban chiếu sai Hữu Thập Di là Lý Hãn (Lý Hãn, chưa rõ lai lịch) đi điều tra. Hãn nhân đó tâu: "Các trấn lĩnh các quận nhỏ[5], thường bổ nhiệm thân lại quản lý các cửa ải và chợ búa, gây nhiều bất tiện cho thương nhân, làm ách tắc hàng hóa trong thiên hạ. Xin đừng để họ có quyền thống lĩnh, để phân chia quyền lực các phương diện, tôn vương thất, cũng là thuật mạnh gốc yếu ngọn vậy."

Trước đây, từ đời Đường đến Ngũ Đại, các trấn đều có quận nhỏ. Thái Tổ bình định Hồ Nam, bắt đầu ra lệnh các châu như Đàm, Lãng trực thuộc kinh, quan trưởng được tự tâu việc. Sau đó, các huyện lớn đóng quân cũng có trực thuộc kinh, như Tam Tuyền của Hưng Nguyên vậy. Ngày Mậu Thìn, Vua nghe theo lời Hãn, ban chiếu các châu như Bân, Ninh, Kinh, Nguyên, Phù, Phường, Diên, Đan, Thiểm, Quắc, Tương, Quân, Phòng, Phục, Đặng, Đường, Thiền, Bộc, Tống, Hào, Vận, Tế, Thương, Đức, Tào, Đơn, Thanh, Truy, Duyễn, Nghi, Bối, Ký, Hoạt, Vệ, Trấn, Thâm, Triệu, Định, Kỳ đều trực thuộc kinh, từ đó các trấn trong thiên hạ không còn lĩnh quận nhỏ nữa.

(Xét thời điểm này đã bãi bỏ hết việc các trấn lĩnh quận nhỏ, nhưng trong 'Thực Lục' năm Hưng Quốc thứ 7 tháng 5 ngày Tân Hợi lại ghi chiếu lệnh châu Kinh trực thuộc kinh, không rõ vì sao? Nay bỏ qua không ghi, nhưng cần kiểm tra lại.)

[123] Ngày Kỷ Mão, đổi chùa Báo Tiên thành chùa Càn Minh, cho tu sửa lại.

[124] Tri châu Tư là Thành Túc tâu: "Theo chiếu năm Khai Bảo thứ 6, các châu thuộc Xuyên, Thiểm phạm tội trộm cắp tính bằng tiền đồng và sắt đủ một vạn, cướp đủ sáu nghìn đều xử tử. Tiền sắt Xuyên, Thiểm bốn đồng đổi một đồng tiền đồng, xin quy định lại pháp luật." Việc được giao xuống các quan, xin lấy một lạng bạc làm mức chuẩn. Trộm cắp tang vật tiền đồng một nghìn, hoặc phạm tội liên quan đến một tấm lụa, thì xét xử, Vua đồng ý.

[125] Tháng chín, ngày Tân Mão, nội phẩm Vương Thủ Trung bị xử chém, tội lỗi là do giám quản kho rượu pháp, đánh cắp 300 bình rượu quan, bị thợ của mình là Vương Cảnh Năng tố giác. Ban cho Cảnh Năng áo tía, đai bạc và năm xấp lụa.

[126] Xây dựng cung Sùng Thánh.

[127] Ngô Việt vương Tiền Hoằng Thự sắp vào chầu, trước sai con trai là Trấn Hải, Trấn Đông tiết độ sứ Tiền Duy Tuấn đến cống nạp. Ngày Nhâm Thìn, xuống chiếu cho hộ bộ lang trung Hầu Trắc đến Tứ châu đón và ban thưởng. Khi Duy Tuấn đến, ban thưởng không kể xiết.

[128] Ngày Ất Mùi, ngự giá đến viện chế tạo cung tên, ban thưởng cho thợ thầy mỗi người một nghìn đồng tiền, một tấm vải. Lại ngự giá đến Tam quán mới sửa, ban thưởng cho thợ phu số tiền có chênh lệch.

[129] Thời Đường Thiên Hựu, do loạn lạc, khan hiếm, bắt đầu lệnh lấy 85 đồng làm một trăm. Đến thời Hậu Đường Thiên Thành lại giảm năm đồng. Đầu thời Hán Càn Hựu, lại giảm ba đồng. Đầu thời quốc triều, theo chế độ nhà Hán, việc nộp quan cũng dùng 80 hoặc 85 đồng, nhưng các châu riêng vẫn tùy theo tục lệ, thậm chí có nơi lấy 48 đồng làm một trăm. Ngày Đinh Dậu, xuống chiếu cho các nơi đều lấy 77 đồng làm một trăm, mỗi nghìn đồng phải đủ nặng bốn cân rưỡi trở lên. Cấm tiền nhỏ mới đúc ở Giang Nam. Dân trước đã cất giữ, đều phải đem nộp quan, quan căn cứ vào đồng mà tính giá.

[130] Ban đầu, bãi bỏ đội Mị Xuyên ở Lĩnh Nam, cấm dân mò ngọc trai. Không lâu sau, quan lại tự mò. Châu Dung cũng có ngọc trai, lại đặt quan coi việc. Từ đó, châu Dung bắt đầu cống nạp một trăm cân ngọc trai, ban thưởng cho người khiêng vác đai bạc và áo quần.

[131] Ngày Nhâm Dần, ngự giá đến thủy cối, ban thưởng áo quần và lụa thêu cho thợ phu. Sau đó, đến vườn ngự phía Tây yến tiệc và bắn cung.

[132] Ngày Quý Mão, quan nam tuần kiểm, ứng châu quan sát sứ Lý Hán Siêu mất. Vua rất thương tiếc, đặc cách bãi triều, tặng chức Thái uý, Trung Vũ tiết độ sứ, sai trung sứ hộ tống tang lễ về quê an táng.

[133] Ngày Đinh Mùi, Vua nước Bột Nê sai sứ đến cống nạp vật phẩm địa phương, mới bắt đầu thông hiếu.

[134] Vua chú trọng việc quân sự, mỗi khi tan triều, liền ở điện tiện hoặc vườn sau tự xem xét quân cấm vệ, chọn những người khỏe mạnh sung vào quân thân, giải tán những kẻ yếu đuối, già nua, phân phối hết ra ngoại châu. Từ đó, quân phiên vệ ngày càng tinh nhuệ và mạnh mẽ.

[135] Nhà Vua bèn ra lệnh xây dựng đài Giảng Vũ tại thôn Dương, phía tây thành.

Ngày Tân Hợi, tổ chức duyệt binh lớn, nhà Vua cùng các văn võ đại thần và quan tùy tùng lên đài quan sát. Điện tiền đô chỉ huy sứ Dương Tín ban đầu phụ trách việc này, nhưng vì Tín bị bệnh câm không thể nói, nhà Vua liền lệnh cho Thiên Vũ tả sương đô chỉ huy sứ Thôi Hán thay thế. Hán bố trí quân đội, kéo dài từ nam đến bắc hai mươi dặm, dựng cờ ngũ sắc để điều khiển. Tướng sĩ nhìn cờ hiệu mà tiến thoái, mỗi khi cờ chỉ hướng, hàng ngàn xe vạn ngựa xoay chuyển như một, sự hùng mạnh của binh lính, thời cận đại không có gì sánh bằng.

Nhà Vua rất hài lòng, liền sai trung sứ bí mật ban cho Hán một chiếc đai vàng, nói rằng: "Đây là vật mà Trẫm từng dùng khi còn ở phủ phiên." Rồi bảo tả hữu: "Người như Thôi Hán, chắc chắn sẽ không làm quan cho triều đình nhà Tấn." Ý nói rằng tướng lĩnh triều Tấn phần lớn không đủ tài năng, quân chính hỗn loạn.

Dương Tín chính là Dương Nghĩa, vì kiêng tên Vua nên đổi tên.

[136] Ngày Bính Thìn, nhà Vua lần đầu đi săn ở ngoại ô, làm thơ ban cho quần thần, lệnh họ họa lại.

[137] Quốc tử giám chủ bạ Quách Thứ Tiên bị đánh trượng, phát phối đến Đăng châu và bị giam cầm. Thứ Tiên chính là Quách Trung Thứ.

Ban đầu, bị giáng chức làm Ty hộ tham quân ở Can châu, hết hạn quan chức, bỏ quan không nhận chức nữa. Ông ngao du khắp vùng Kỳ, Ung, Thiểm, Lạc, có khi cả tháng không ăn, giữa mùa hè nắng gắt đứng dưới nắng mà không đổ mồ hôi, mùa đông giá lạnh đục băng để tắm, mọi người đều lấy làm lạ. Thứ Tiên rất giỏi hội họa, ai được tranh của ông đều giữ làm của quý.

Vua từng nghe danh Thứ Tiên, sau khi lên ngôi, triệu vào làm chức Quốc tử giám chủ bạ, ban thưởng rất hậu, sai ở Thái học san định các sách chữ qua các đời.

Nội thị áp ban Đậu Thần Hưng từng mời ông ở lại. Thứ Tiên có râu đẹp, một hôm bỗng nhiên nhổ hết, Thần Hưng kinh ngạc hỏi nguyên do, Thứ Tiên nói: "Chỉ là bắt chước khổ tâm mà thôi." Thần Hưng giận dữ, tâu với Vua rằng Thứ Tiên không có kỷ cương, buông thả thái quá, Vua dần xa lánh.

Thứ Tiên lại càng uống rượu vô độ, buông lời bàn luận chính sự, lời lẽ có nhiều chỗ chê bai, lại còn tự tiện bán vật quan để lấy tiền. Vua nổi giận, nên mới gặp họa. Thứ Tiên đi đến Lâm Ấp, nói với viên lại theo hộ tống: "Ta đi đây." Rồi bới đất làm hầm, đoán vừa đủ khuôn mặt, cúi xuống nhìn rồi mất, được chôn sơ sài bên đường. Sau này khi cải táng, chỉ còn tìm thấy quần áo, chăn gối, người đời bảo ông đã hóa thân mà rời đi.

[138] Mùa đông, tháng mười, ngày Tân Dậu, Vua sai Tả vệ đại tướng quân Lý Sùng Củ làm Đô tuần kiểm sứ các châu Ung, Quý, Tầm, Hoành, Khâm, Tân, chẳng bao lâu lại điều đi Quỳnh châu, Nhai châu, Đam châu, Vạn châu. Quân sĩ dưới quyền đều sợ phải đi theo, Sùng Củ đem hết khí dụng, vàng bạc, trị giá đến vài trăm vạn, chia hết cho họ, mọi người đều cảm kích vui mừng.

Lúc ấy giặc Lê quấy nhiễu, Sùng Củ đích thân đến các hang động vỗ về khuyên nhủ, lấy của cải của mình tặng cho tù trưởng, mọi người đều qui phục. Ông ở vùng Lĩnh Biểu và trên biển tổng cộng bốn năm năm, vẫn thư thái không lo nghĩ về cảnh quê mùa nóng bức.

Trước đây, người qua biển thường đậu thuyền chờ gió thuận, có khi hơn mười ngày, có khi cả tháng. Sùng Củ đi lại chỉ một ngày là qua, không bao giờ bị trì hoãn, người đi theo cũng không ai gặp nạn, người đời cho đó là kết quả của đức thuần hậu của ông.

[139] Khiết đan sai sứ Gia Luật Ma Lý đến chúc mừng lễ Càn Minh tiết.

[140] Ngày Kỷ Tỵ, Vua đến góc phía tây bắc kinh thành, xem các vệ sĩ và sứ giả Khiết Đan thi bắn cưỡi ngựa, lại triệu tập các thần cận và Lưu Sưởng, Lý Dục cùng sứ giả Khiết Đan đến yến tiệc trong vườn thượng uyển, thi bắn cung.

[141] Ngày Tân Mùi, Kinh Tây chuyển vận sứ Trình Năng tâu xin độc quyền về rượu ở các châu Trần, Hoạt, Thái, Dĩnh, Tùy, Dĩnh, Quân, Đặng, Kim, Phòng và quân Tín Dương, có thể thu được lợi lớn. Vua đồng ý, sai Thái thường thừa Phùng Địch cùng một viên nội phẩm cùng quản lý việc này.

(Phùng Địch, không rõ lai lịch.)

[142] Ngày Nhâm Thân, Man chủ vùng Lưỡng Lâm ở phía sau núi Lê Châu là Vật Nhi sai sứ đến triều cống phương vật, chúc mừng Vua lên ngôi.

[143] Ngày Bính Tý, Quần thần dâng biểu ba lần xin mở nhạc lễ, Vua ban chiếu cho phép.

[144] Chiếu rằng: "Những người làm nghề âm dương bói toán ở hai kinh và các đạo, trước đây đã lệnh đưa họ đến cửa khuyết, hỏi về những điều họ thông thuộc, nhưng họ đều mơ hồ, không có gì đáng lấy, chỉ dùng lời giả dối nói họa phúc để lừa dối kẻ tục, kiếm tiền mà thôi. Từ nay, trừ phép xem nhà đất và bói dịch, những sách về thiên văn, tướng thuật, lục nhâm, độn giáp, tam mệnh và các sách âm dương khác, hạn trong một tháng kể từ khi chiếu ban đến phải nộp lên quan."

[145] Ngày Tân Tỵ, Vua đi săn ở vùng ngoại ô.

[146] Ngày Quý Mùi, Vua ban chiếu chia Kinh Tây chuyển vận sứ thành hai ty, lấy Thị ngự sử Trương Hoán quản lý các châu phía bắc sông Hoàng Hà ở Kinh Tây, Tả tán thiện đại phu Vi Vụ Thăng quản lý các châu phía nam sông Hoàng Hà ở Kinh Tây.

(Trương Hoán, không rõ lai lịch.)

[147] Chiếu tạm ngừng việc thi cử một năm.

[148] Tháng 11, ngày Đinh Hợi, mùng 1, nhật thực toàn phần.

[149] Ngày Canh Dần, ngày đông chí. Vua ngự ở Càn Nguyên điện nhận lễ chúc mừng, sau đó ngự ở Đại Minh điện, dâng lễ thọ, lại dùng nhạc của giáo phường.

[150] Ngày Giáp Ngọ, lệnh Giám sát ngự sử Lý Độc và Cáp môn chi hậu Trịnh Vĩ làm Chính đán sứ đến Khiết Đan.

[151] Ngày Kỷ Hợi, Thiên Bình tiết độ sứ kiêm Trung thư lệnh Thạch Thủ Tín bị cách chức tiết độ sứ[6], giữ chức Trung thư lệnh và Tây Kinh lưu thủ.

Thủ Tín trấn giữ Vận Châu, tổng cộng 17 năm không thăng chuyển, chuyên chăm việc thu gom của cải, tích lũy tài sản đến hàng vạn. Ông đặc biệt sùng Phật giáo, cho xây dựng chùa ở Tây Kinh, bắt dân chở gỗ ngói đến, giục giã gấp gáp, nhưng tiền công trả không đủ, dân chúng khổ sở vì việc này.

[152] Trấn An tiết độ sứ, Mã quân đô chỉ huy sứ Đảng Tiến, được điều làm Trung Vũ tiết độ sứ.

Tiến nắm quyền cai quản cấm vệ tổng cộng 12 năm, thường tuần tra trong các ngõ hẻm kinh thành, nếu thấy ai nuôi chim quý thú lạ, ông liền sai người bắt thả đi, mắng rằng: "Không mua thịt phụng dưỡng cha mẹ, lại đi nuôi chim thú sao!"

Khi ấy, Thượng đang ở phủ Tấn, có một con chim ưng nổi tiếng, thân tín nuôi dưỡng rất cẩn thận. Tiến trách mắng và định bắt thả, người thân tín định chạy đi báo với Tấn Vương, Tiến liền ngăn lại, đưa tiền bảo mua thịt, và nói: "Ngươi hãy coi chừng nó, đừng để nó bị vật khác làm hại!" Việc này truyền ra kinh thành, ai nghe cũng cười.

Khi Tiến trấn giữ đất Hứa, nếu thuộc hạ trong phủ có chút gì trái ý, ông liền sai người tát vào mặt họ. Tính cách gian trá thô bạo của ông đều như vậy. Ông từng là gia nô của Đỗ Trọng Uy, về sau con cháu Trọng Uy nghèo khó, Tiến hàng tháng trích lương để giúp đỡ, nhờ vậy mà được người đời khen ngợi.

[153] Hạ Thái huyện chủ bạ Trương Lợi Dụng, giả mạo là anh mình đã mất tên Bỉnh để xin tiến cử. Ngày Bính Ngọ, ra chiếu đánh trượng rồi lưu đày đến Thương Châu giam giữ.

[154] Hộ bộ lang trung Hầu Trắc phụ trách việc tuyển chọn quan lại. Khi ấy có người gian lận trong việc tuyển chọn, sự việc bại lộ, Trắc phải liên đới chịu tội. Quan tri lam sự Lôi Đức Tương định tấu hặc ông, Trắc liền đến điện nhỏ tự thú. Thượng đặc biệt tha tội cho ông. Ngày Quý Sửu, phong ông làm Hà Bắc chuyển vận sứ.

[155] Thượng đến phủ Ngự Long, Cung Tiễn trực tân ban viện, ban thưởng tiền lụa cho quân sĩ tùy theo thứ bậc. Trở về, trong vườn hoàng cung tổ chức tiệc bắn cung.

[156] Chiếu các đạo, châu, phủ quan giám lâm, từ nay không được tự ý rời bỏ chức vụ đến triều đình tấu việc. Nếu có điều nghe thấy, cho phép gửi thư niêm phong kèm theo văn thư trình báo. Ai cần mặt tấu riêng, phải đợi chiếu chỉ.

[157] Các đạo tiến cử những người biết thiên văn, tướng thuật, tổng cộng 351 người. Tháng 12, ngày mùng 1 Đinh Tỵ, chiếu lệnh cho 68 người vào Ty Thiên Đài, số còn lại đều bị thích chữ lưu đày ra đảo Điểu Sơn.

[158] Chiếu lệnh cho Lưu nội tuyển chấm thi bốn đẳng, phân định tốt xấu.

[159] Ngày Canh Ngọ, Vua đi săn gần kinh thành, rồi đến vườn Kim Phượng, ban rượu cho các bề tôi đi theo.

[160] Hữu ty tâu rằng quan quản lý phèn bán phèn năm nay không đủ số lượng như trước, xin nghiêm cấm. Ngày Quý Dậu, chiếu rằng: "Kẻ buôn lậu phèn ngoại hóa trên 3 cân, hay nấu lậu và trộm cướp trên 10 cân, đều xử tử. Số còn lại đánh roi rồi lưu đày. Ai đã bị xử mà tái phạm, dù không đủ tội theo luật, cũng đánh roi rồi lưu đày; nếu về rồi phạm lại, thì xử tử."

[161] Trước đây, khi Giang Nam chưa bình định, kẻ vượt sông trộm và người chèo thuyền đều bị xử tử. Ngày Mậu Dần, bãi bỏ lệnh cấm này.

[162] Ngày Tân Tỵ, Vua Cao Ly là Trụ sai con là Nguyên Phụ đến triều cống, chúc mừng Vua lên ngôi.

[163] Ngày Nhâm Ngọ, Khiết Đan cử Thái Bộc Khanh Gia Luật Tuyển Liệt (theo "Liêu sử" là Thái Bảo Tuyển Liệt Cát) và Lễ Tân Phó Sứ Vương Anh đến chúc mừng Tết năm sau.

[164] Ngày Quý Mùi, Tiết Độ Sứ Tĩnh Hải là Đinh Liễn sai sứ đến triều cống, chúc mừng Vua lên ngôi.

[165] Ngày Giáp Thân, chiếu rằng: "Trước đây, những người mộ dân lập trường buôn bán, nếu có lãi thì thu vào riêng. Đã có quan giám lâm sai phái, nhưng kẻ chủ quản phạm tội, cơ quan pháp luật xử như tội tự đạo, thậm chí xử tử, không đúng với luật trung dung, thật đáng thương. Từ nay xử tội đạo, chỉ lưu đày."

Lại chiếu: "Kẻ cầm dao đào tường, pháp luật xử như cướp. Gần đây nhiều người bỏ dao bên ngoài, không tay vào nhà, khó xác minh, thực tế khuyến khích kẻ gian. Từ nay xử như tội cướp." Tất cả theo lời tâu của Quyền Đại Lý Thiếu Khanh Triệu Tề. (Tề, chưa rõ lai lịch).

[166] Năm đó, các tộc người Phiên ở Linh châu, Thông Viễn quân cướp bóc đoàn vận chuyển của quan phủ. Vua hạ chiếu cho Tri châu Linh châu An Thủ Trung và Thông Viễn quân sứ Đổng Tuân Hối đem quân đánh dẹp. Khi Tuân Hối sắp xuất quân, các tộc người Phiên sợ hãi, trả lại hết những thứ đã cướp bóc, cởi trần xin chịu tội. Tuân Hối liền an ủi vỗ về họ. Từ đó, các tộc người Phiên cẩn thận giữ biên giới, không dám xâm phạm một mảy may. Vua sai Tuân Hối kiêm chức Tuần kiểm lộ Linh châu. Ông ở Thông Viễn quân tổng cộng mười bốn năm.

(Việc cướp bóc đoàn vận chuyển, căn cứ vào phần truyện về Đảng Hạng, xảy ra năm đó, nên ghi chép lại. Phần truyện về sự việc của Tuân Hối nói rằng Vua sai Thủ Trung và Tuân Hối đi đánh dẹp. Phần truyện về Thủ Trung không ghi chép gì, còn phần truyện về Tuân Hối thì không thấy nhắc đến việc xuất quân, e rằng phần truyện về Đảng Hạng có sai lầm, nay lược bớt và chỉnh sửa.)

[167] Ban đầu, người Nam Hán chiếm Chiêu châu, thi hành chính sách tàn bạo, dân chúng khổ cực không thể sống nổi.

Chu Vị dẫn sáu trăm người cùng quê vượt núi tránh nạn đến Linh Lăng. Chưa tới nơi, giặc cướp nổi lên, chặn đường cướp lương, ông phải quay về Cung thành[7], thấy nhà cửa đã cháy thành tro tàn, liền chạy đến Đạo châu, lại bị giặc đánh úp. Chu Vị hoảng hốt chạy về phía bắc, không kịp từ biệt vợ là Mạc Thuyên. Hai con trai còn nhỏ, ở lại với Thuyên. Thuyên lúc đó còn trẻ, cha mẹ muốn gả chồng khác, Thuyên khóc lóc thề quyết: "Chu Vị không phải kẻ bị khốn cùng lâu dài, nay ly biệt xa xứ chắc chắn sẽ tự mình phấn đấu." Rồi bà tự tay dệt vải, giã gạo để kiếm sống qua ngày, nuôi dạy hai con thành gia lập nghiệp, tổng cộng hai mươi sáu năm.

Sau đó, Chu Vị làm Phó sứ Chuyển vận các châu Quảng Nam, sai người đi tìm, gặp lại Thuyên. Lúc đó, Chu Vị đã tái hôn, muốn đón Thuyên về, nhưng bà nói: "Chàng đã có gia đình, ta không thể theo nữa. Hơn nữa, ta với con cháu đã ở đây lâu, không nên rời bỏ." Mọi người nghe tin đều ca ngợi, viết sách ‘Mạc Tiết Phụ Truyện’. Chu Vị cũng tấu trình việc này, Vua hạ chiếu phong tước cho bà và ban chức quan cho cả hai con trai.

(Nam Hán chiếm Chiêu châu vào năm Quảng Vận thứ nhất thời Chu.)

[168] Mùa đông năm ấy, quân lính canh giữ biên giới của Bắc Hán báo cáo rằng các châu Tấn, Lộ, Hình, Minh, Trấn, Ký đều chế tạo vũ khí cùng các dụng cụ đánh thành, lại chuyển vận lương thảo. Vua Bắc Hán Vô Cực vô cùng lo sợ.


  1. 'Đương thị' nguyên bản là 'Đương thì', theo bản chỉnh sửa
  2. Theo chiếu chỉ, thiết lập các cơ quan quản lý độc quyền tại các vùng ven sông[footnote]Nguyên bản viết 'vật', bản trong các sách viết 'vụ'. Theo 'Tống hội yếu' phần Thực hóa 30, ghi: 'Thiết lập tám cơ quan độc quyền tại các vùng ven sông', 'Thông khảo' quyển 18 phần Chinh giác khảo, 'Tống sử' quyển 136 phần Thực hóa chí, đều ghi: 'Thiết lập các cơ quan độc quyền tại Giang Lăng phủ và các nơi khác'. Nên viết là 'vụ', nay căn cứ sửa chữa.
  3. chữ 'sự' vốn thiếu, căn cứ theo bản khác bổ sung
  4. Nếu có thêm được mấy người như Trọng Phủ nữa, chữ 'được' dưới nguyên có chữ 'người', theo bản Tống và bản Tống toát yếu mà bỏ.
  5. 'Tiết trấn' nguyên bản là 'Tiết độ', căn cứ vào bản Tống, bản Tống Toát Yếu, bản các và 'Tống Sử Toàn Văn' quyển 3 sửa.
  6. Nguyên văn có thừa chữ 'Dĩ' ở trên 'Thiên Bình', theo sách 'Tục thông giám' quyển 9 mà xóa bỏ.
  7. 'Cung thành' nguyên bản viết là 'Công thành', căn cứ vào bản Tống, bản Tóm tắt thời Tống, bản Các và ‘Tống sử’ quyển 304 truyện về Chu Vị, sửa lại.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.