"

II. TỐNG THÁI TÔNG

QUYỂN 21: NĂM THÁI BÌNH HƯNG QUỐC THỨ 5 (CANH THÌN, 980)

Từ tháng giêng năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 5 đời Thái Tông đến hết tháng chạp cùng năm.

[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Bính Tý, mùng 1, Vua ngự điện Sùng Nguyên nhận lễ chầu.

[2] Ngày Canh Thìn, sai Cung phụng quan, Cáp môn Chi hậu Vương Tuân đi sứ Cao Ly.

[3] Lúc đầu, khi Lưu Kế Nguyên đầu hàng, các quan lại, tướng sĩ của ông ta phần lớn trốn vào núi rừng, lâu ngày chưa quy phục. Vì thế, Vua ban chiếu dụ, lệnh cho những người ấy đến trình diện, đều được xóa tội trước, ban thưởng tiền lụa theo cấp bậc, được huyện sở tại cấp lương ăn, đưa về kinh đô, đồng thời hỏi ý muốn của họ rồi tùy theo đó mà xử trí.

[4] Khi mới lên ngôi, Vua xét thấy các quân thiếu nhiều ngựa chiến, chuẩn bị Bắc chinh, bèn hạ chiếu cho các đạo mua ngựa của quan lại và dân trong vùng. Ai dám giấu diếm sẽ bị xử tử.

Thứ sử Phường Châu là Hồ Công Bá từng có việc riêng bị Khổng mục lại nắm được, nên rất oán hận. Nhân có lại viên có ngựa tốt, Công Bá bảo giấu đi. Người này nghe theo, đào hầm giấu ngựa trong đó, sau đó trình bày mọi chuyện. Công Bá giả vờ mừng rỡ, nói với lại viên: “Ta vì ngươi tính kế, ngươi phải giữ kín, đừng để ai biết, kẻo liên lụy đến ta.”

Một hôm, khi kiểm tra việc mua ngựa của quan phủ, Công Bá lớn tiếng nói lại viên kia có ngựa tốt giấu ở chỗ nào, sai lính đến lấy, bắt lại viên giam vào ngục. Việc chưa xét xong, Công Bá đã vội chém chết. Gia đình lại viên tố cáo, triệu Công Bá về kinh, Vua hỏi tội ở điện Tiện. Công Bá cãi rằng chỉ làm theo chiếu chỉ, không phải cố ý giết người.

Vua nổi giận, ngày Nhâm Ngọ, giáng Công Bá làm Hữu Giám môn Vệ Suất phủ Suất [1]

Khi mới lập quốc, chỉ có hai viện Phi Long do tả, hữu Phi Long sứ phân quản. Lúc đó, các chức giám mục ở các châu phần lớn đã bị bỏ phế, quan chức mất đi chức trách, ngựa quốc gia không còn sinh sôi. Thái Tổ bắt đầu lập hai vụ dưỡng ngựa, lại khôi phục bốn vụ ngựa cũ, dùng làm nơi chăn thả, rồi phái trung sứ đến các châu biên giới mỗi năm mua ngựa. Từ đó, ngựa trong các trạm nuôi dần được đầy đủ.

Sau khi Vua bình định Thái Nguyên, liền xem xét quân ở Phạm Dương, thu được hơn bốn mươi hai nghìn ngựa ở Phần Tấn và Yên Kế, ngựa quốc gia tăng lên nhiều. Vua bèn hạ chiếu xây mới bốn trạm nuôi ngựa ngoài cửa Cảnh Dương, đặt tên là Thiên Tứ Giám, mỗi bên trái phải hai trạm, lấy Phi Long sứ bên trái và phải làm Thiên Cứu sứ bên trái và phải, đổi Nhàn Cứu sứ thành Sùng Nghi sứ. Ngựa trong các trạm nuôi trong cung đã đủ, bắt đầu phân bố đến các châu để chăn dưỡng.

(Việc đổi Sùng Nghi sứ, sách ‘Thực lục’ ghi vào ngày Giáp Thân, nay theo ‘Bản kỷ’, ghi chép chung lại.)

[5] Ngày Quý Mùi, châu Hấp báo cáo lúa chín hai lần.

[6] Ngày Canh Dần, lấy Lễ bộ thị lang là Trình Vũ làm Văn Minh Điện học sĩ, xếp hàng dưới Xu mật phó sứ. Văn Minh Điện học sĩ, tức là Đoan Minh Điện học sĩ, khi mới lập quốc tuy đổi tên điện nhưng chức học sĩ vẫn giữ nguyên, đến nay mới đổi. Văn Minh Điện học sĩ bắt đầu từ Trình Vũ.

[7] Ngày Đinh Dậu, lệnh Thứ sử Ký Châu là Ngưu Tư Tiến bảo vệ quân Quan Nam.

[8] Ngày Kỷ Hợi, lệnh Thứ sử Liên Châu là Nhiệm Tri Cảo, Thứ sử Quắc Châu là Hứa Xương Duệ, Thứ sử Hùng Châu là Tôn Toàn Hưng huy động dân đinh các quận sửa đê ba châu Vệ, Thiền, Bộc; Tướng quân Tả Đồn Vệ là Lý Trọng Tiến, Tướng quân Hữu Thiên Ngưu Vệ là Trịnh Ngạn Hoa, Suất phủ Hữu Nội Suất là Điền Phổ sửa đê ba châu Tế, Bối, Trịnh.

(Lý Trọng Tiến, Điền Phổ, chưa rõ lai lịch.)

[9] Ngày Quý Mão, lệnh Tướng quân Hữu Vệ là Sử Khuê đôn đốc ba vạn dân đinh trong kinh đào sông mới chín mươi dặm ở huyện Uý Thị, vài tuần thì hoàn thành, dân chúng được lợi.

[10] Chia quân mã và bộ binh các ty lương liệu thành ba viện, mỗi viện giao cho một quan phụ trách.

[11] Tháng hai, ngày Bính Ngọ, Kinh Tây chuyển vận sứ Trình Năng tâu rằng: “Các đạo, châu, phủ, việc dân sự và lao dịch chưa từng phân thành bậc, e rằng có sự bất công. Xin hạ lệnh cho các lộ chuyển vận ty sai quan định làm chín bậc, bốn bậc trên thì bắt phải đi lao dịch, năm bậc dưới đều được miễn.” Chiếu lệnh cho chuyển vận sứ tự mình xét định, không cần sai quan khác.

[12] Ngày Mậu Thân, đổi tên Nam Biện Châu thành Hóa Châu.

[13] Châu Ôn bắt giải tên giặc Đặng Ông chuyên nuôi quỷ hành pháp trù chú giết người cùng thân thuộc đến kinh đô. Đặng Ông bị xử chém ngang lưng, thân thuộc đều bị đày đi nơi xa xôi hiểm trở.

[14] Các châu ngựa chết nhiều, Điện trực Lý Ngạc đảm nhiệm chức Giám mục ở châu Hứa, ăn trộm 250 hộc lúa công, ngựa chết 1.500 con, bị trói giải về kinh. Ngày Giáp Tý, cùng với nội thị Lương Thủ Trung và ba viên lại chủ đều bị xử chém ở chợ.

[15] Ngày Ất Sửu, quân Khả Lam tâu rằng, khoảng 260 hộ dân tộc thiểu số gồm 2.300 người già trẻ ở biên giới đã quy phụ.

(Số liệu này theo bản truyện và hội yếu ghi chép.)

[16] Ngày Mậu Thìn, châu Từ giải 45 tên yêu tặc Lý Tự đến, bảy người cầm đầu bị xử chém, còn lại đều bị đày đi nơi xa hiểm.

[17] Ngày Nhâm Thân, quân Khả Lam lại tâu rằng 89 hộ dân tộc thiểu số gồm 632 người già trẻ đã quy phụ.

[18] Bãi bỏ quân Thuận Hóa.

[19] Tháng ba, ngày Giáp Tuất mùng 1, chiếu rằng: “Các châu Giang Nam hàng năm cống nạp tổ ong khô, rất hại sinh mạng và quấy rối dân, nên bãi bỏ.”

[20] Trước đó, lệnh cho bộ phận liên quan xét định nghi thức đánh cầu. Ngày Mậu Tý, bắt đầu áp dụng nghi thức này, triệu tập quần thần chơi cầu ở điện Đại Minh, Vua giành được nhiều điểm.

[21] Tặng chức Thái Sư, Nam Việt Vương Lưu Sưởng qua đời, tạm ngừng triều ba ngày.

[22] Ngày Quý Tỵ, Phan Mỹ tâu rằng từ Tam Giao Khẩu tuần phủ đến châu Đại, gặp 10 vạn quân địch xâm phạm Nhạn Môn, liền lệnh Dương Nghiệp dẫn vài trăm kỵ binh từ Tây Hình xuất phát, theo Tiểu Hình đến Bắc Khẩu Nhạn Môn, hợp lực với Phan Mỹ đánh úp, địch đại bại, giết chết Tiết độ sứ, Phò mã, Thị trung Tiêu Đoát Lý, bắt sống Mã bộ quân Đô chỉ huy sứ Lý Trọng Hối, thu được rất nhiều áo giáp và ngựa.

Trọng Hối là người Kim Thành.

[23] Ngày Bính Thân, Vua làm thơ ‘Hỉ Xuân Vũ’, lệnh cận thần họa lại.

[24] Tháng ba nhuận, ngày Giáp Dần, Vua ngự điện Giảng Vũ, duyệt lại kỳ thi do quyền tri cống cử Trình Vũ và các quan đề cử những tiến sĩ đạt chuẩn, chọn được Tô Dịch Giản người Đồng Sơn cùng 118 người khác, lại chọn được 533 người đỗ các khoa khác, đều phân thứ hạng Giáp Ất, ban yến tiệc, từ đây bắt đầu có chế độ trực sử quán tham dự.

Tiến sĩ hạng nhất được bổ làm Giám thừa Tướng tác, thông phán các quận phiên; hạng hai được bổ làm Bình sự Đại Lý, tri lệnh, lục sự; các khoa khác được bổ các chức sơ đẳng cùng phán, ty, bạ, uý. Khi ấy, Lưu Xương Ngôn, Nhan Minh Viễn (Minh Viễn, quê quán chưa rõ), Trương Quan người Tì Lăng, Nhạc Sử người Nghi Hoàng, bốn người đều là quan đương nhiệm được tiến cử tham gia thi tiến sĩ, Vua tiếc không để họ đỗ, đặc cách bổ làm Chưởng thư ký ở các phiên gần[2]. Đời Đường từng có lệ sắc chỉ ban đỗ đệ để thể hiện ân điển đặc biệt, từ niên hiệu Khai Bảo trở đi, người đỗ đầu trong kỳ thi do Vua chủ trì đều được gọi như vậy.

Các văn thần không qua thi cử, hoặc nhờ dâng văn được thi riêng, được sắc ban tiến sĩ đệ[3], hoặc được ban tiến sĩ đệ trước mặt Vua, lại có các danh mục như đồng tiến sĩ và tiến sĩ xuất thân. Sau đó, lại ban cho Nhạc Sử đỗ tiến sĩ, vẫn xếp dưới hạng nhất của năm đó.

[25] Ngày Đinh Mão, lệnh cho các nơi như Kinh Hồ, Lĩnh Nam tính giá tang vật bằng lụa, theo quy chế của Giang, Chiết.

[26] Ngày Kỷ Tỵ, chiếu rằng các quan phạm tội công, bị phạt đồ trở lên mà đã thôi chức, khi việc phát giác, nơi xảy ra phải tra xét rồi tâu lên.

[27] Ngày Tân Mùi, người Hồi Cốt ở Cam Châu, Sa Châu sai sứ đến dâng sản vật địa phương.

[28] Chém hoạn quan Phùng Ngạn Sâm, vì tội tu sửa đồn lũy tự ý tịch thu ngói gỗ của quan, bán lấy tiền.

[29] Tam Giao Khẩu tâu rằng 234 hộ người Nhung, gồm 5.037 người già trẻ, đã quy phụ.

[30] Tiết độ sứ Quy Nghĩa quân Tào Nguyên Trung mất, con ông là Diên Lộc tự xưng Quyền tiết độ binh mã lưu hậu, sai sứ đến triều cống.

Mùa hạ, tháng tư, ngày Đinh Sửu, Vua xuống chiếu truy tặng Nguyên Trung tước Đôn Hoàng quận vương, phong Diên Lộc làm Tiết độ sứ Quy Nghĩa quân, lại bổ nhiệm em ông là Diên Thịnh làm Thứ sử Châu Qua, Diên Thụy làm Nha nội đô ngu hậu[4]; mẹ ông được phong là Tần quốc Thái phu nhân, vợ ông được phong là Lũng Tây quận phu nhân.

[31] Sai Cung phụng quan Lư Tập đi sứ Giao Châu. Lúc này, Đinh Liễn và cha ông là Bộ Lĩnh đều đã mất, em của Liễn là Tuyên còn nhỏ, tự xưng làm Tiết độ hành quân tư mã, quyền lĩnh quân phủ sự. Đại tướng Lê Hoàn lộng quyền, nhân đó kết bè kết đảng rất mạnh, dần không thể kiềm chế, bắt ép đưa Tuyên đến một dinh thự khác, giam cầm cả gia tộc, tự mình thống lĩnh binh mã.

(Bản truyện chép: Vua nghe tin Hoàn ép buộc chuyển chủ, bắt đầu có ý định thảo phạt. Xét rằng việc binh lính Giao Châu là do Hầu Văn Bảo khởi xướng, e rằng đây cũng là lời đã được tô vẽ, nay không theo.)

[32] Có người tên Triệu Quốc Xương xin ứng thi khoa Bách thiên. Ngày Quý Mùi, Vua thân hành ra đề thi, đưa ra hai mươi chữ tạp đề, yêu cầu mỗi người làm năm bài, mỗi bài tám câu. Đến chiều tối, chỉ hoàn thành được vài chục bài, đều không có gì đáng kể. Vua thấy khoa này bỏ lâu, đặc cách ban cho học vị để khuyến khích người sau, lại ra chiếu cho các quan, từ nay ai ứng thi khoa Bách thiên, đều lấy đề này làm chuẩn.

[33] Ngày Mậu Tý, Châu Tương báo rằng dân huyện Tương Dương là Trương Cự Nguyên năm đời cùng chung sống, trong nhà không chia bếp riêng, Vua xuống chiếu khen ngợi, biểu dương cửa nhà. Cự Nguyên từng học sách hình danh, được đặc cách ban cho học vị Minh pháp.

[34] Ngày Kỷ Sửu, Châu Đại báo rằng hai trăm ba mươi lăm hộ người Nhung gồm hai nghìn bốn trăm hai mươi tư khẩu đến quy phụ.

[35] Ban đầu, khi Lưu Kế Nguyên đầu hàng, Vua lệnh cho Điện tiền đô úy hậu, Vũ Thái tiết độ sứ Thôi Hàn vào trước để an ủi, và cấm không được mang tài vật bắt được ra khỏi thành. Lúc ấy, Tần Vương Đình Mỹ cùng vài mươi kỵ binh định vi phạm lệnh ra khỏi thành, Thôi Hàn quát ngăn lại. Đình Mỹ oán giận, bèn gièm pha với Vua. Ngày Nhâm Thìn, Thôi Hàn bị cách chức, giáng làm Cảm Đức tiết độ sứ.

[36] Vua ra chiếu lấp sông Phần và dẫn nước từ đền Tấn Từ để tưới vào thành cũ Thái Nguyên.

[37] Ngày Đinh Dậu, Vua ban chiếu: “Những ai được sắc chỉ bổ nhiệm hoặc do Lại bộ bổ nhiệm vào các chức vụ như Mạc chức, Lệnh lục, Tư lý, Phán ty, Bạ uý, từ nay trừ khi đi đường được gia hạn một tháng, những người ở Xuyên, Hạp, Lĩnh Nam, Phúc Kiến được gia hạn hai tháng. Ai vi phạm, châu đó không được cho lên đường, phải hộ tống đến kinh đô, sẽ bị xoá tên khỏi sổ, không được dùng lại. Nếu bị bệnh, phải nộp đơn tại nơi đó, quan trưởng xét nghiệm và cấp giấy chứng nhận. Nếu bệnh nặng chưa khỏi, phải tường trình tình hình lên triều đình.”

(Năm Thuần Hoá thứ ba, tháng bảy lại có chiếu tương tự, không chép lại nữa.)

[38] Thủ lĩnh mười động ở Thành Châu là Dương Thông Bảo đến triều cống. Ngày Kỷ Hợi, phong Dương Thông Bảo làm Thành Châu thứ sử.

(Tháng bảy năm ngoái, trong phần bản kỷ có ghi thủ lĩnh mười động là Dương Uẩn, năm nay trong Thực lục lại ghi là Dương Thông Bảo, không rõ ai đúng. Bản truyện cũng ghi cả hai.)

[39] Đầu tháng này, Vua ban nhà Lễ Hiền cho Tiền Thục, Thục dâng ba trăm cân bạc để tạ ơn.

[40] Lệnh cho quan hữu ty định ra quy định về việc các quan phẩm chuộc tội và bị phạt.

(Phần chí ghi vào tháng tư, nhân tiện chép vào đây.)

[41] Tháng năm, mưa lớn kéo dài, Vua lệnh các quan cận thần đi đến các chùa, đạo quán, miếu và cung điện trong kinh thành để cầu tạnh.

[42] Ngày Kỷ Mùi, Hùng Châu đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng bị giáng làm Lan Châu đoàn luyện sứ, vì trong khi chỉ huy quân chống giữ biên cương, hắn tỏ ra nhút nhát, không xứng với chức vụ.

(Việc này không rõ.)

[43] Ngày Ất Sửu, Nội cung tiễn khố sứ, Thuận Châu thứ sử Lý Phúc Vinh bị giáng làm Hữu nội suất phủ phó suất, vì trong khi hộ tống quân biên phòng, hắn đã vi phạm quân luật.

(Việc này không rõ.)

[44] Ngày Đinh Mão, xây dựng lầu Đoan Củng.

[45] Tháng sáu, ngày Bính Tý, châu Dĩnh báo nước sông Dĩnh tràn, làm hư hại nhà cửa của dân.

[46] Ngày Nhâm Tý, Cao Ly vương Trụ sai sứ đến cống nạp sản vật địa phương.

[47] Ngày Kỷ Hợi, bổ nhiệm Minh Khởi, chủ động Bạch Lộc thuộc Giang châu làm Chủ bạ huyện Chiết Tín, Châu Thái. Động Bạch Lộc nằm ở phía nam núi Lư Sơn, thường tập hợp mấy trăm học sinh.

Thời Lý Dục tiếm vị, đã cắt vài chục khoảnh ruộng tốt, hàng năm lấy lương thực cấp cho họ; chọn người thông thạo kinh sách ở Thái học bổ nhiệm làm quan khác, để quản lý việc động, hàng ngày giảng dạy cho học sinh. Đến lúc này, Minh Khởi dâng lời đề nghị đem ruộng đất đó trả lại cho triều đình, nên được bổ nhiệm quan tước. Động Bạch Lộc từ đó dần bị bỏ phế.

[48] Thái thường bác sĩ, Tri châu Ung là Hầu Nhân Bảo, vì cha là Hầu Ích ở Lạc Dương có nhà lớn và ruộng tốt, sống nhàn nhã tự tại, không muốn dính líu đến việc quan. Vợ ông là em gái của Triệu Phổ, lúc Phổ làm Tể tướng, Nhân Bảo được phân về Tây Kinh. Lư Đa Tốn có hiềm khích với Phổ, bèn tâu Vua cho Nhân Bảo làm Tri châu Ung.

(Theo ‘Thực lục’, ngày Tân Sửu tháng tư năm Khai Bảo thứ sáu, Lư Đa Tốn đi sứ Giang Nam, mười ngày sau là ngày Tân Hợi, Nhân Bảo được bổ làm Tri châu Ung, lúc đó Đa Tốn chưa phản. ‘Truyện’ chép rằng khi Đa Tốn tham chính, liền cử Nhân Bảo làm Tri châu Ung, e là nhầm, nay xin sửa lại.)

Tổng cộng chín năm không được thay chức. Nhân Bảo sợ cứ thế mà chết ở nơi biên ải, bèn dâng sớ tâu: “Chủ tướng Giao châu bị hại, nội bộ nước ấy loạn, có thể dùng một cánh quân nhỏ chiếm được, xin cho phép thần về kinh tâu bày tình hình, mong được trình bày chi tiết.” Sớ dâng lên, Vua rất mừng, liền hạ lệnh gọi về triều [5], chưa kịp đi, Đa Tốn vội tấu: “Giao Chỉ trong nước rối loạn, đây là thời cơ trời muốn diệt nó, triều đình nên xuất kỳ bất ý dùng binh đánh úp, đó gọi là sấm sét không kịp bịt tai. Nếu giờ triệu Nhân Bảo về trước, chắc chắn kế hoạch sẽ bị lộ, giặc biết được, dựa vào núi biển phòng bị trước, thì khó mà đánh được. Chi bằng giao cho Nhân Bảo nhiệm vụ điều quân, nhân đó để lo liệu việc này, chọn tướng điều động một hai vạn quân Kinh Hồ, tiến thẳng tới chắc chắn thắng lợi, dễ như chẻ tre vậy.” Vua cho là phải.

[49] Mùa thu, tháng bảy, ngày Đinh Mùi, lấy Nhân Bảo làm Chuyển vận sứ đường thủy bộ lộ Giao Châu, Tôn Toàn Hưng làm Đoàn luyện sứ châu Lan, Hác Thủ Tuấn làm Bát tác sứ, Trần Khâm Tộ làm An bí khố sứ, Thôi Lượng làm Tả giám môn vệ Tướng quân, đều giữ chức Binh mã Đô bộ thự lộ Ung Châu; Lưu Trừng làm Thứ sử châu Ninh, Giả Thục làm Phó sứ quân khí khố, Vương Tuân làm Cung phụng quan Cáp môn Chi hậu, đều giữ chức Binh mã Đô bộ thự lộ Liêm Châu, cùng tiến quân đường thủy bộ tiến đánh.

Ngày Canh Tuất, Toàn Hưng và các tướng vào từ biệt, Vua sai Dẫn tiến sứ Lương Huýnh đưa tiễn tướng sĩ hành doanh ở vườn Ngọc Tân. Thục là con của Diễm.

[50] Ngày Kỷ Dậu, ra chiếu rằng: “Dân các châu Tây Xuyên trước đây chỉ cần phạm tội buôn muốn đều phải giải về kinh thành. Từ nay, phạm dưới mười cân, giao cho châu phủ khép tội theo pháp luật; còn từ mười cân trở lên vẫn như trước, giải về kinh.” Lệnh này theo lời tấu của Chuyển vận sứ Nhiếp Vịnh.

[51] Ngày Canh Thân, Thứ sử châu Nam là Hướng Hành Mãnh sai sứ đến cống vật phương xa.

[52] Ngày Kỷ Tỵ, ra chiếu cho các lộ Chuyển vận sứ và các châu: ngoài những chiếu chỉ cũ đã biên soạn, các chiếu chỉ mới ban bố đều phải biên chép theo thứ tự[6], khi chức quan từ Trưởng lại trở xuống thay đổi, phải chuyển giao cho người kế nhiệm. Lệnh này theo lời tấu của Binh mã Giám áp châu Đàm là Mã Tri Tiết.

[53] Châu Tế tâu rằng: Gia đình Lý Diên, dân huyện Kim Hương, từ đầu niên hiệu Vũ Đức nhà Đường đã sống chung một nhà, cho đến nay gần bốn trăm năm, đời đời làm nhà ở bên mồ mả, khi cha mẹ bệnh thì cắt ngón tay, xẻo thịt đùi, lấy máu viết kinh Phật. Vua xuống chiếu khen thưởng, ban cho lụa và thóc.

[54] Bát tác sứ Đoàn Nhân Hối phụng mệnh tu sửa Thiên tứ giám, xây tường, lấn vào đường phố cửa Cảnh Dương, Vua nổi giận, hạ lệnh phá bỏ, Nhân Hối bị đánh bằng trượng, giáng chức Sùng nghi phó sứ.

[55] Lại bộ lang trung Biên Tịch từ Quảng Nam chuyển vận sứ trở về. Ngày Canh Ngọ, phong Biên Tịch làm Hữu Gián nghị đại phu, kiêm quản việc tuyển chọn của Lại bộ.

Biên Tịch khi nhậm chức ở Quảng Nam, vừa đến Quế Châu gặp việc Tri châu Trương Tụng qua đời. Trương Tụng là người Duy Châu. Theo quy chế cũ, không cho phép gia quyến đi theo nên dân châu chôn ông tạm ngoài thành, đầy tớ và thiếp thấy lợi từ tài sản của ông bèn chia nhau giấu đi. Biên Tịch triệu tập quan lại nói: ‘Trương sứ quân mất nơi đất khách, việc lo liệu hậu sự, chúng ta há có thể không ra sức!’ Bèn sai quan truy lấy lại tài sản, cùng đưa tang ông về Duy Châu, mọi người vì thế khen ông là nghĩa khí. Những quận thủ và hộ quân có hiềm khích chỉ cho đổi nhiệm sở, chứ không xử pháp.

[56] Lệnh cho Tri Lai Châu, Điện trung thừa Trịnh Tuấn Văn làm Tri Đơn Châu, Tả Tán thiện đại phu Lưu Nguyên Đức cùng Thông phán bản châu sự, vì Thứ sử Thái Nguyên Dương Trọng Tiến và Lư Hán Uân về nhậm chức.

(Tuấn Văn, Nguyên Đức, Hán Uân đều không thấy tiểu sử.)

[57] Tháng 8, ngày Giáp Tuất, Hương cống tiến sĩ Mạnh Du (Hương cống tiến sĩ Mạnh Du “Mạnh Du”, Tống bản, Tống toát yếu bản đều chép là “Mạnh Du”) làm Chủ bạ huyện Cổ Thủy.

Mạnh Du là người Trường Sa, từng soạn ‘Dã sử’ 30 quyển. Khi Thạch Hi Tại còn ở Hồ Nam, kết giao thân thiết với Mạnh Du, đến nay ông đến dâng sách, Hi Tại thay ông tâu với Vua, nên có mệnh này.

[58] Tuyên huy bắc viện sứ, kiêm phán Tam ty Vương Nhân Thiệm mật tấu: “Các cận thần và thân thích thường sai người thân tín đi mua trúc gỗ ở vùng Tần, Lũng, kết thành bè lớn đưa về kinh sư, qua cửa quan, bến đò đều nêu lệnh Vua để miễn thuế. Khi đến nơi, lại dùng hậu lễ kết thân với người phụ trách, khiến họ mua hết vào quan, rồi thu lợi lớn.” Vua nổi giận, bèn giao Tam ty phó sứ Phạm Mân, Hộ bộ phán quan Đỗ Tải, Khai Phong phủ phán quan Lã Đoan cho quan lại xét. Phạm Mân và Đỗ Tải đều nhận tội lừa dối trên, mua tre gỗ nhập quan. Lã Đoan vì thân lại của Tần vương phủ là Kiều Liễn mà nhờ vả người phụ trách.

Ngày Kỷ Sửu, giáng Phạm Mân làm Ty hộ tham quân ở Phòng châu, Đỗ Tải về Quy châu, Lã Đoan xuống Thương châu, đều làm chức Ty hộ tham quân. Phán Tứ phương quán sự Trình Đức Huyền, Vũ đức sứ Lưu Tri Tín, Hàn lâm sứ Đỗ Ngạn Khuê, Nội thị Vũ đức phó sứ Đậu Nhân Bảo, Nhật kị Thiên vũ tứ sương đô chỉ huy sứ Triệu Diên Bạc, Tả vệ thượng tướng quân Kỳ Đình Huấn đều bị giáng chức. Phò mã đô uý Vương Thừa Diễn, Thạch Bảo Cát, Ngụy Hàm Tín mỗi người bị phạt lương một năm. Nhân đó, Vua hạ chiếu: “Từ nay, các quan văn võ không được tự tiện vào công thự Tam ty[7], cũng không được dùng thư từ nhờ vả việc công. Người giữ cửa phải cẩn thận kiểm tra, ai vi phạm thì báo lên.”

Lưu Tri Tín là người Hình châu, mẹ ông là em gái Chiêu Hiến Thái hậu. Đỗ Ngạn Khuê là con của Đỗ Thẩm Quỳnh.

[59] Chủ vùng Tây Nam là Long Quỳnh Cư sai con là La Nhược Tòng cùng 734 người thuộc các châu man dâng phương vật và ngựa danh tiếng.

[60] Ngày Mậu Tuất, Vua đến phủ đệ của Tiền Thục thăm bệnh, ban cho Thục một vạn lạng bạc, một vạn tấm lụa, một trăm vạn tiền, một nghìn lạng vàng, lại ban cho các con của Thục là Duy Tuấn, Duy Trị mỗi người một vạn lạng bạc.

[61] Tháng chín, ngày Giáp Thìn, Sử quán dâng lên Vua bộ ‘Thái Tổ Thực lục’ gồm 50 quyển.

(Trong ‘Thực lục’ có chép rằng vào ngày Quý Mão tháng này, Giao Châu sai sứ Giang Cự Tụ mang vật phẩm địa phương đến triều cống. Đến ngày Canh Tý tháng 11 lại chép việc Đinh Toàn dâng biểu. Biểu của Đinh Toàn cùng với Giang Cự Tụ và Vương Thiệu Tộ đều đến kinh sư vào ngày Canh Tý tháng 11, không nói rõ việc sai Giang Cự Tụ đi trước, sau đó mới đến Vương Thiệu Tộ. Nghi rằng ‘Thực lục’ có sai sót. ‘Thực lục’ cũng tự chép biểu của Đinh Toàn, không rõ vì sao lại có sự khác biệt này, cần phải xem xét lại. Nay tạm lấy biểu và ‘Hội yếu’ làm chứng, ghi chép việc Giang Cự Tụ đến cống vào ngày Quý Mão tháng này.)

[62] Ngày Đinh Mùi, Kinh Tây chuyển vận sứ, Khởi cư xá nhân Trình Năng bị cách chức, giáng làm Hữu tán thiện đại phu; Phán quan, Hữu tán thiện đại phu Thời Tái bị giáng làm Tướng tác giám thừa. Họ bị trị tội vì dung túng cho Trình Đức Huyền và những người dưới quyền buôn bán trái phép gỗ tre mà không báo cáo.

[63] Ban thưởng cho Tam ty phó sứ Lý Phụ 3.000 lạng bạc.

[64] Ra chiếu cho các quan lại rằng: “Mỗi khi tham dự triều hội, phải giữ thái độ cung kính; vào ngày khởi cư nội điện, phải nhanh chóng tiến vào cửa, chỉnh tề vào hàng; nếu có biểu hiện thiếu nghiêm túc, sẽ bị tấu trình trị tội.” Đây là để răn dè sự khinh nhờn.

[65] Ngày Nhâm Tuất, Vua đi săn ở vùng ngoại ô.

[66] Thái thường thừa Tống Kỳ trước đây làm tri phủ Đại Thông giám, Vua triệu về, định thăng chức nhưng bị Lư Đa Tốn ngăn cản. Ngày Bính Dần, được bổ làm Đô quan lang trung, ra nhậm chức Tri phủ Quảng Châu. Khi chuẩn bị lên đường, được vào yết kiến ở điện nhỏ, được Vua ban cho áo vàng. Vì là cựu thần từ thời còn ở phủ đệ, Vua không muốn cho ông đi xa, nên lưu lại không đi, sau đó lệnh cho ông làm Phán quan Tam ty câu viện.

[67] Quân Khiết Đan gửi thư cho thứ sử Phong Châu Vương Thừa Mỹ, yêu cầu không được buôn bán ngựa với Trung Quốc. Thừa Mỹ không tuân theo, tâu trình việc này lên triều đình. Quân Khiết Đan nổi giận, đem quân cướp phá hơn 300 trại dân tộc phía tây quan ải Phong Châu.

[68] Mùa đông, tháng mười, ngày Mậu Dần, lệnh cho Thứ sử Lai Châu Dương Trọng Tiến, Thứ sử Nghi Châu Mao Kế Mĩ (Mao Kế Mĩ, Thái Ngọc chưa được ghi chép) dẫn quân đóng ở Quan Nam; Thứ sử Bạc Châu Thái Ngọc, Thứ sử Tế Châu Thượng Đảng Trần Đình Sơn đóng quân ở Định Châu; Thứ sử Đan Châu Lư Hán Uân đóng quân ở Trấn Châu để đề phòng quân Khiết Đan.

[69] Ngày Giáp Thân, ngày Hạ nguyên, kinh thành bắt đầu treo đèn như ngày Trung nguyên.

[70] Ngày Đinh Hợi, (triều đình) dùng trượng xử tử Huyện lệnh Dương Vũ là Trương Hi Vĩnh. Tội của ông ta là cùng viên lại coi việc chuyên bán rượu là Triệu Tán trước sau ăn cắp số tiền công thừa là 234 quan đưa vào túi riêng, tra hỏi ra sự thật, nên cả ông ta và Tán đều bị xử tử theo pháp luật.

[71] Vua sẽ đi tuần du biên giới phía bắc. Ngày Kỷ Sửu, ban chiếu từ kinh sư đến Châu Hùng, huy động dân chúng dọn đường, sửa chỗ nghỉ ngơi.

[72] Ngày Giáp Ngọ, Tả thập di Vi Vụ Thăng bị khiển trách và giáng làm Hữu tán thiện đại phu, do khi giữ chức Chuyển vận sứ lộ Thiểm Tây Bắc đã để Trình Đức Huyền và những người khác dưới quyền buôn bán tư nhân tre gỗ, không tố giác nên bị phạt như vậy.

[73] Lệnh cho Mã quân đô chỉ huy sứ Mễ Tín, Đông thượng các môn sứ Quách Thủ Uân, Cung tiễn khố sứ Lý Bân, Nghi loan phó sứ Giang Quân cùng trông coi quân đồn trú tại Châu Định.

(Thủ Uân, Bân, Quân, chưa rõ lai lịch.)

[74] Ban tặng trà, dê, rượu cho các tướng hiệu trong hành dinh ở vùng biên giới phía bắc Hà Bắc.

[75] Tháng này, bắt đầu hợp nhất ba ty Cơ viện làm một viện.

(Theo ‘Hội yếu’.)

[76] Tháng 11, ngày Canh Tý mùng một, Lê Hoàn phái nha hiệu Giang Cự Tụ, Vương Thiệu Tộ đem phương vật đến triều cống, đồng thời thay mặt Đinh Toàn dâng biểu, tự nói là theo lời thỉnh cầu của tướng lại, quân dân[8], đã tạm quyền Tiết độ hành quân tư mã, tạm cai quản việc quân phủ, xin triều đình ban mệnh lệnh chính thức. Lúc bấy giờ, Tôn Toàn Hưng và những người khác đem quân xuất chinh đã quá thời gian, Vua nhận thấy ý của Lê Hoàn chỉ muốn hoãn binh, nên bỏ qua mà không trả lời.

[77] Ngày Nhâm Dần, phong Hạ châu nha nội chỉ huy sứ Lý Kế Phủng làm Định Nan quân lưu hậu.

[78] Khiết Đan cướp phá Hùng Châu, (sách ‘Thực Lục’, ‘Bản Kỷ’ đều không ghi chép việc này, chỉ trong ‘Khiết Đan Truyện’ tháng 11 có nhắc đến.) Quân giặc chiếm đê Long Loan, Phó Chỉ huy sứ Long Mãnh là Kinh Tự dẫn nghìn quân, giao chiến ác liệt để mở đường. Khi có sứ giả đến Hùng Châu kiểm tra thành lũy, ra ngoài thành, quân địch liền bao vây. Các quân kéo đến cứu viện, phần lớn bị thương, Kinh Tự cùng quân sĩ bị lạc nhau trong đêm, đến canh ba mới phá vây chạy về Mạc Châu. Quân địch bắc cầu qua sông Giới để qua sông, Kinh Tự đón đánh, giết và bắt được rất nhiều.

(Việc quân địch chiếm Hùng Châu, các sách khác đều không ghi rõ, chỉ trong ‘Kinh Tự Truyện’ có nhắc đến, nay tạm chỉnh sửa ghi chép phụ vào, cần khảo cứu thêm.)

[79] Ngày Bính Ngọ, lấy Tần Vương Đình Mỹ làm Lưu thủ Đông Kinh; Tuyên huy Bắc viện sứ Vương Nhân Thiệm làm Đại nội Đô bộ thự[9], Xu mật thừa chỉ Trần Tòng Tín làm phó.

[80] Ngày Kỷ Dậu, ban chiếu tuần tra biên giới phía bắc.

[81] Ngày Nhâm Tý, xuất phát từ kinh sư.

[82] Ngày Quý Sửu, Quan Nam báo phá được hơn một vạn quân Khiết Đan, chém đầu hơn ba nghìn tên. Liền lấy Hà Dương tiết độ sứ Thôi Ngạn Tiến làm Quan Nam Binh mã Đô bộ thự.

[83] Ngày Bính Thìn, dừng chân ở Thiền Châu.

[84] Ngày Đinh Tỵ, dừng chân ở Đức Thanh quân.

[85] Ngày Mậu Ngọ, đóng quân ở Đại Danh phủ.

[86] Hùng Châu báo quân Khiết Đan đã rút lui.

[87] Cuối niên hiệu Khai Bảo, Hữu bổ khuyết Đậu Xưng làm Phán quan Khai Phong phủ, cùng Suy quan Giả Diễm cùng phục vụ Vua. Giả Diễm xu nịnh, biết đón ý Vua, Xưng thường ghét. Khi Vua cùng các vương yến tiệc bắn cung, Diễm hầu bên cạnh Vua, khen ngợi đức hạnh của Vua quá mức, lời lẽ đều khoa trương, Xưng mắng rằng: “Kẻ họ Giả khéo nói, đẹp mặt, lòng không thấy hổ thẹn sao?” Mọi người đều biến sắc, Vua cũng không vui, bèn tạm dừng hội, tâu với Thái Tổ cho Xưng ra làm Phán quan Chương Nghĩa tiết độ. Đến lúc này, Vua nhớ Xưng, vội triệu đến hành tại.

[88] Ngày Quý Hợi, phong Đậu Xưng làm Tỷ bộ lang trung. Khi ấy triều đình đang bàn việc Bắc chinh, Xưng liền dâng sớ xin rút quân về kinh đô, cho quân sĩ nghỉ ngơi, nuôi dưỡng ngựa, từ từ tính kế sau, nhà Vua rất hài lòng với lời tâu ấy. Khi trở về từ Đại danh, phong Xưng làm Xu mật trực học sĩ. Xưng là em của Đậu Nghi.

[89] Tháng 12, ngày Canh Ngọ, mở tiệc chiêu đãi các bề tôi thân cận.

[90] Ngày Giáp Tuất, săn bắn ở vùng ngoại ô, nhân dịp duyệt binh, ban thưởng áo quần cho các hiệu úy cấm quân và vệ sĩ. Lúc đó, có lệnh cấm săn bắn trái phép, có một vệ sĩ bắt được một con sóc, vi phạm lệnh phải chịu tội chết. Nhà Vua nói: “Nếu Trẫm giết người này, đời sau ắt sẽ nói Trẫm coi trọng thú vật hơn con người.” Bèn tha tội cho người đó.

[91] Mở tiệc chiêu đãi các bề tôi thân cận trong trướng điện.

[92] Ngày Đinh Sửu, phong Trịnh châu Phòng ngự sứ Dương Nghiệp kiêm nhiệm Vân châu Quan sát sứ, vẫn giữ chức Phán Trịnh châu, quản lý việc Đại châu. Từ sau trận thắng ở Nhạn Môn, quân Khiết Đan rất sợ Dương Nghiệp, hễ thấy cờ của ông là lập tức rút lui. Các tướng chủ trì biên ương nhiều người ghen ghét ông, có kẻ âm thầm dâng thư gièm pha, chỉ trích khuyết điểm của ông, nhưng nhà Vua không xét hỏi, mà phong kín những thư ấy giao cho Dương Nghiệp.

[93] Vua nhân dịp quân Khiết Đan rút lui, bèn muốn tiến công U Châu. Ngày Mậu Dần, lấy Bảo Tĩnh tiết độ sứ Lưu Ngộ sung chức U Châu Tây Lộ hành dinh hào trại binh mã bộ thự, Mục Châu đoàn luyện sứ Điền Khâm Tộ làm đô giám; Uy Tắc tiết độ sứ Tào Hán sung chức U Châu Đông Lộ hành dinh hào trại binh mã bộ thự, Đăng Châu phòng ngự sứ Triệu Diên Bạc làm đô giám.

Lại sai tể tướng hỏi ý kiến của Hàn lâm học sĩ Lý Phưởng và Hỗ Mông về việc này có nên làm hay không. Lý Phưởng và các quan tấu rằng: “Người Nhung phương Bắc, từ xưa đã là mối họa, thừa cơ mùa thu xâm phạm biên ải, việc này thường xảy ra. Bệ hạ chịu gió dầm mưa, xông pha giá rét, thân mặc áo giáp, để trừ họa cho dân. Kẻ địch kinh sợ, vì uy thế của Bệ hạ mà bỏ chạy, nhân đó mà tiêu diệt chúng, dễ như bẻ cành khô. Huống chi đất U Kế từ lâu đã rơi vào tay địch, lòng mong hóa lại của dân chúng đang như treo ngược, rất cấp thiết. Nay nếu dẫn trăm vạn quân hùng mạnh, cứu vớt dân chúng một phương đang trông chờ, hợp lực tiến công, thì việc dẹp yên có thể hoàn thành trong thời gian ngắn.

Nhưng đại quân tập trung, cần phải có lương thảo cung cấp, mà vùng Hà Sóc đã nhiều năm vận chuyển vất vả, gần đây lại bị giày xéo, càng thêm tiêu điều. Dù có được mùa nhỏ, cũng e khó kham nổi việc điều động. Lại thêm mùa đông lạnh giá, sức dân càng mệt mỏi. Huống chi nay giặc nhỏ đã bỏ chạy ban đêm, biên cương đã yên tĩnh, nếu Ngài thân chinh ra ngoài biên ải, phô trương uy thế, tuy đủ để khiếp sợ bọn tàn quân, nhưng cũng e sẽ vất vả cho việc huy động đại binh.

Trộm mong Bệ hạ hãy truyền lệnh cho quân hộ vệ, rút quân về kinh đô, nuôi dưỡng tướng sĩ tinh nhuệ, huấn luyện tinh thông, nghiêm lệnh cho các quận biên giới, tích trữ quân lương đầy đủ, nghiên cứu binh pháp, sửa sang vũ khí, đợi khi kho tàng đầy đủ, dân chúng no ấm, qua vài tháng năm nữa, dùng binh cũng chưa muộn.” Vua khen ngợi và tiếp thu lời tấu ấy, liền hạ chiếu cho quân trở về nam.

(Sách ‘Ngọc Hồ Dã Sử’ chép việc Thái Tông chuẩn bị đánh Ngư Dương, Lý Phưởng dâng sớ kháng biện, lời lẽ khá thẳng thắn, khác với chỗ này. Sách ấy lại chép rằng Lý Phưởng bình thường tấu sự thường ôn hòa, nên khi sớ này dâng lên, các quan đều kinh ngạc và kính phục. Sau đó, việc Bắc phạt quả nhiên không thành, Thái Tông khen ngợi mới ban thưởng hậu hĩnh. Sự việc này cũng khác với chính sử, nay theo chính sử.)

[94] Lệnh cho Tào Hàn đốc thúc sửa chữa thành trì của các quân Hùng, Bá, Bình Nhung, Phá Lỗ, Càn Ninh. Khai sông Nam, từ Hùng châu thông đến Mạc châu, để thông tuyến vận chuyển. Đắp đê lớn ngăn nước, huy động hàng vạn dân phu, chống lại địch ở biên giới, chặt cây lấy gỗ sử dụng. Cử năm kỵ binh làm trinh sát, trao cho ngũ sắc cờ, mỗi người cầm một cờ, phía trước có rừng cây thì giơ cờ xanh, có khói lửa thì giơ cờ đỏ, có giặc thì giơ cờ trắng, có đầm lầy thì giơ cờ đen, có đồi núi thì giơ cờ vàng.

Trước đây, khi Khiết Đan xâm lược, đều đốt khói báo hiệu, Hàn sai người đốt khói ở biên giới, địch nghi ngờ có phục binh, lập tức rút lui, không dám đến gần biên ải. Thu được hàng vạn cây gỗ lớn, mang về, giúp ích rất nhiều cho việc sử dụng. Vài tuần sau, công việc hoàn tất, triệu về Dĩnh châu.

[95] Ngày Canh Thìn, xa giá xuất phát từ Đại Danh phủ, nhân dịp đi săn.

[96] Ngày Ất Dậu, đến kinh đô.

[97] Ngày Tân Mão, doanh trại Giao châu báo phá được hơn một vạn quân giặc, chém hơn hai nghìn ba trăm bốn mươi lăm thủ cấp.

[98] Vua đã trở về kinh đô, các quan nghị bàn nên nhanh chóng đánh chiếm U, Kế. Tả Thập Di, Trực Sử quán Trương Tề Hiền dâng sớ can gián rằng:

“Hiện nay thiên hạ thống nhất, triều đình vô sự. Điều khiến Thánh thượng lo nghĩ, chẳng phải vì Hà Đông mới bình định, quân đội còn đông, U Yến chưa hạ, việc vận chuyển mệt nhọc, và lo cho sinh mạng dân chúng sao?

Thần thường suy đoán, điều này không đáng lo ngại. Từ khi Hà Đông đầu hàng, thần tạm giữ chức tri Hãn châu, bắt được quan lại Khiết Đan phụ trách thu nạp lương thực, đều nói lương thực được chuyển từ phía sau núi để tiếp tế cho Hà Đông.

Theo thần đoán, nếu Khiết Đan có thể tự lo lương thực, thì đối với Thái Nguyên cũng không phải không tận lực, nhưng cuối cùng vẫn thuộc về ta, là vì sức lực của họ không đủ. Hà Đông vừa bình định, lòng dân chưa ổn định, Lam, Hiến, Hãn, Đại chưa có đồn trại, nếu bị xâm lược thì đồng ruộng mất ngay, quấy nhiễu biên giới thì phòng thủ đáng lo, nhưng họ lại bảo vệ biên giới sống qua ngày, sợ uy tự giữ. Khi quốc gia giữ chỗ hiểm yếu, tăng thêm lũy thành, bên trái khống chế, bên phải chặn đứng, việc biên giới rất nghiêm ngặt, ân tín đã thi hành, lòng dân đã ổn định, thì họ đến Nhạn Môn Dương Vũ cốc tranh giành lợi nhỏ, điều này có thể suy đoán mà biết được.

Thánh nhân làm việc, mỗi hành động đều tính toán kỹ lưỡng, trăm trận trăm thắng, nhưng không bằng không đánh mà thắng. Nếu coi trọng và thận trọng, Khiết Đan không đáng để tiêu diệt, Yên Kệ không đáng để chiếm lấy.

Từ xưa đến nay, việc khó khăn ở biên giới, không phải đều do kẻ địch, mà phần lớn là do quan lại biên cương gây rối mà ra. Nếu các trại biên giới được quản lý tốt, chỉ cần xây thành cao, đào hào sâu, tích lũy sức mạnh, dưỡng sức chờ thời, lấy sự nhàn nhã để đối phó, khiến kẻ địch chủ động đến, đó là cách mà Lý Mục được khen là tướng giỏi của nước Triệu. Chọn binh không bằng chọn tướng, dùng sức không bằng dùng người. Như vậy thì biên cương yên ổn, biên cương yên ổn thì việc vận chuyển giảm, việc vận chuyển giảm thì dân chúng Hà Bắc được nghỉ ngơi. Dân chúng được nghỉ ngơi thì nghề nông phát triển, tằm tơ dệt lụa mở rộng, chăm lo nông nghiệp, tích trữ lương thực để phục vụ biên cương.

Hơn nữa, thần đoán lòng địch, họ cũng chọn lợi tránh hại, há lại dám lao vào chỗ chết để gây họa sao!

Thần lại nghe rằng, người trị vì thiên hạ phải lấy thiên hạ làm tâm, đâu chỉ tranh giành từng tấc đất, so kè mạnh yếu mà thôi! Vì vậy, Thánh nhân coi trọng gốc rễ trước, ngọn ngành sau, an định trong nước để nuôi dưỡng bên ngoài. Dân chúng là gốc, cương thổ là ngọn. Ngũ Đế, Tam Vương chưa từng không coi trọng gốc rễ trước hết. Đạo của Nghiêu, Thuấn không gì khác, chỉ là rộng rãi ban ơn cho dân chúng trong thiên hạ mà thôi. Ban ơn là gì? Là làm cho dân an cư lạc nghiệp. Dân đã an cư lạc nghiệp, thì người từ xa sẽ tự động đến quy phục. Tấm lòng yêu dân, vì thiên hạ của Bệ hạ, thực sự là như Nghiêu, Thuấn.

Thần lo rằng, những gì quần thần nghe được, phần lớn là những lợi lộc nhỏ nhoi, cách hà khắc với dân, bóc lột dân nghèo để lập công, họ làm theo cách đó, thói quen đã lâu, đối với nỗi khổ của dân, thấy như không thấy, nghe như không nghe, tích tụ oán hận, không gì lớn hơn điều này.

Kính mong chọn lựa những bậc nho học thông thạo, phân chia lộ trình đi thăm dò khắp Lưỡng Chiết, Giang Nam, Kinh Hồ, Tây Xuyên, Lĩnh Nam, Hà Đông, nơi nào dưới thời ngụy triều có thuế má nặng nề[10], hãy sửa đổi và chính đốn lại, dựa vào đó tạo ra lợi ích, khiến cho việc thu thuế được thông suốt, có thể áp dụng lâu dài, làm thành pháp định của thánh triều, loại bỏ những tệ xưa.

Ở các châu trong thiên hạ, nơi nào có việc không tiện cho dân, giao cho quan trên tâu trình. Nếu dám theo thói cũ mà không báo cáo, ắt sẽ bị xử phạt nghiêm khắc. Khiến cho mọi người đều biết đến lòng nhân từ của Bệ hạ[11], nhớ ơn đức của Bệ hạ.

Đây là lấy đức để thu phục người xa, lấy ơn để tạo lợi cho dân, thì sự quy phục của người xa có thể chờ đợi được.”

(Luận của Tề Hiền quả thật là biết gốc rễ. Tuy nhiên, Tề Hiền chỉ biết Khiết Đan chưa thể đánh, mà không biết Yến Kế là nơi cần lấy. Không chỉ Tề Hiền không biết, mà cả Triệu Phổ, Điền Tích, Vương Vũ Xứng cũng không biết.)

[99] Từ đầu thời quốc sơ, những người phạm tội chết được tha, phần lớn bị đày đến đảo Sa Môn thuộc Đăng Châu và đảo Hải Môn thuộc Thông Châu[12], đều có quan quân đồn trú quản lý. Trong đảo Thông Châu có hai nơi: những kẻ cường hào khó kiềm chế thì đày đến trấn Sùng Minh, kẻ yếu đuối thì đày đến châu Đông Bắc, cả hai nơi đều do quan nấu muối.

Năm đó bắt đầu lệnh cho những người bị đày phải phân ra làm việc tại các trạm muối[13], còn đảo Sa Môn vẫn như cũ.


  1. Chú thích: Theo lệ văn sử, trên chữ 'thụ' có lẽ thiếu chữ 'trách'.
  2. 'Thụ' nguyên là 'thụ', theo Tống bản, Tống toát yếu bản, các bản sửa.
  3. 'Dĩ' nguyên là 'Diệc', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Biên niên cương mục quyển ba sửa.
  4. Diên Thụy làm Nha nội đô ngu hậu: 'Diên Thuỵ' nguyên bản viết là 'Diên Đoan', dựa theo bản Tống, Tống toát yếu và 'Tống hội yếu' phiên di 5/1, 'Tống sử' quyển 490, ngoại quốc truyện, điều về Sa Châu mà sửa
  5. 'gọi về triều', bản 'Tống toát yếu' chép là 'gọi về', 'Tống sử' quyển 254, 'Truyện Hầu Nhân Bảo' chép là 'gọi về', 'Tục thông giám' quyển 10 chép là 'gọi'.
  6. 'Sở thụ tuyên sắc tịnh y thứ biên lục', chữ 'Tuyên sắc' nguyên bản là 'Sắc nghi', căn cứ theo bản trong các cổ các mà sửa lại.
  7. Từ nay, các quan văn võ không được tự tiện vào công thự Tam ty. Hai chữ 'văn võ' vốn thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản và Tục thông giám quyển 10 mà bổ.
  8. Tự nói là theo lời thỉnh cầu của tướng lại, quân dân: Nguyên văn chép là 'tình', sửa theo sách trên.
  9. Chữ 'Đô' trong 'Đại nội Đô bộ thự vốn bị thiếu, căn cứ vào sách trên và 'Tống sử' quyển 4 'Thái Tông Kỷ' bổ sung.
  10. 'thuế má nặng nề' nguyên văn là 'điền', căn cứ theo bản Tống và 'Uyển Diễm Tập' của Đỗ Đại Khuê, quyển hạ, chương 2, truyện Trương Văn Định Công Tề Hiền, cùng 'Biên Niên Cương Mục' quyển 3 mà sửa.
  11. 'lòng nhân từ' nguyên văn là 'tâm', căn cứ theo bản Tống, bản Tống Toát Yếu và 'Biên Niên Cương Mục' quyển 3 mà sửa.
  12. 'Hải Môn' nguyên văn là 'Sa Môn', căn cứ theo bản Tống, bản Tống Toát Yếu và 'Kỷ Thắng' quyển 41, mục Hải Môn Đảo mà sửa.
  13. 'phân ra' nguyên văn thiếu chữ 'phân', căn cứ theo bản Tống, bản Tống Toát Yếu và 'Tống Sử' quyển 201, mục Hình Pháp Chí mà bổ sung.

Bản quyền

Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên Copyright © 2025 by khosachviet.com. All Rights Reserved.