II. TỐNG THÁI TÔNG
QUYỂN 29: NĂM ĐOAN CỦNG THỨ NHẤT (MẬU TÝ, 988)
Từ tháng giêng niên hiệu Đoan Củng nguyên niên của Thái Tông đến tháng chạp cùng năm.
[1] Mùa xuân, tháng giêng, ngày Bính Dần, lấy Đại lý bình sự Vương Vũ Xứng làm Hữu thập di, La Xử Ước làm Trứ tác tá lang[1], cùng giữ chức Trực sử quán. Trước đó, Vũ Xứng làm tri huyện Trường Châu, Xử Ước làm tri huyện Ngô, hai người mỗi ngày cùng làm năm bài thơ, được người vùng Tô, Hàng truyền tụng rộng rãi. Vua nghe danh tiếng, triệu về Trung thư, sai ứng chế làm bài tựa thơ về tuyết của Vua, được khen là hợp ý, nên đều được đề bạt làm Trực sử quán, ban áo tía; trước đây chỉ ban đai mạ vàng, nay đặc biệt chọn đai tê để tỏ lòng ưu ái. Vũ Xứng là người Cự Dã. Xử Ước là người Hoa Dương.
[2] Ngày Ất Hợi, Vua thân hành đông giao làm lễ tế Tiên Nông, lấy Hậu Tắc làm bồi tế, rồi cày ruộng tịch điền. Ban đầu cày ba lần, quan lại báo lễ đã xong, Vua nói: “Trẫm có chí khuyến khích nông nghiệp, chỉ tiếc không thể cày xong cả nghìn mẫu, há chỉ dừng lại ở ba lần cày?” Cày thêm vài chục bước, quần thần xin dừng, Vua mới thôi. Vua trở về, ngự tại cửa Càn Nguyên, đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu. Dân từ 70 tuổi trở lên, có đức hạnh được làng xóm tôn kính, được ban tước một bậc.
[3] Ngày Bính Tý, Vua làm thơ về việc cày ruộng đông giao, ban cho các đại thần, bảo rằng: “Điềm lành của quốc gia chỉ là được mùa mà thôi. Mấy năm liền được mùa, dân không bị dịch bệnh, Trẫm tuy hết lòng cầu trị, nhưng đức hóa chưa thấu đến dân, trời lại ban phúc như vậy, há chẳng lo sợ sao?”
[4] Ngày Canh Thìn, xuống chiếu các đạo, châu, phủ không được để Ty lý tham quân kiêm nhiệm chức vụ khác.
[5] Điện trung thị ngự sử Cung Dĩnh biên soạn bản đồ hai phần về niên đại các triều đại dâng lên, Vua khen ngợi và ban chiếu khen thưởng.
[6] Vua thấy chức Bổ khuyết, Thập di vốn để can gián nhưng thường giữ im lặng, trái với ý nghĩa khi lập ra chức này, nên muốn đổi tên mới để mỗi người chuyên tâm vào nhiệm vụ. Tháng hai, ngày Ất Mùi, đổi chức Tả, Hữu bổ khuyết thành Tả, Hữu ty gián, chức Tả, Hữu thập di thành Tả, Hữu chánh ngôn.
[7] Trước đó, có người tên là Trạch Mã Chu đánh trống đăng văn, tố cáo Trung thư thị lang, kiêm Công bộ thượng thư, Bình chương sự Lý Phưởng, khi giữ chức Nguyên tể, nhằm lúc quân Bắc nhung xâm lược, không lo việc biên cương và trách nhiệm của mình, chỉ lo làm thơ uống rượu và nuôi nữ nhạc. Vua lúc đó đang bàn việc lễ tịch điền nên tạm nhẫn nhịn. Sau đó, triệu Hàn lâm học sĩ Giả Hoàng Trung soạn chiếu, phong Lý Phưởng làm Hữu bộc xạ, miễn chức Bình chương sự, và ra lệnh cho Hoàng Trung trách mắng ông ta. Hoàng Trung nói: “Bộc xạ là chức vụ dẫn dắt trăm quan, vốn là nhiệm vụ của tể tướng xưa, nay từ chức Công bộ thượng thư thăng lên, là một sự thăng chức đặc biệt, không phải là cách trách phạt. Nếu lấy lý do việc ít ở Văn xương để cân bằng sự nhàn rỗi, có thể coi là phù hợp.” Vua đồng ý. Ngày Canh Tý, Lý Phưởng miễn chức, làm Hữu bộc xạ.
[8] Vua dụ bảo Triệu Phổ [2] rằng: “Khanh chớ vì địa vị cao mà tự buông thả, chớ vì quyền thế mà kiêu ngạo, chỉ cần cẩn thận trong thưởng phạt, tiến cử người hiền tài, loại bỏ sự yêu ghét, thì lo gì quốc gia không được trị vì? Nếu Trẫm có lỗi, khanh đừng vì mặt mũi mà xuôi theo, người xưa lấy làm xấu hổ khi bậc quân chủ không noi gương Nghiêu, Thuấn, khanh hãy nhớ lấy!” Lữ Mông Chính tính chất phóng khoáng, giản dị, có uy tín lớn, không kết bè đảng, gặp việc dám nói, mỗi khi bàn luận chính sự, nếu có điều chưa hợp lý, đều kiên quyết phản đối. Vua khen ngợi sự thẳng thắn của ông, nên cùng với Triệu Phổ được bổ nhiệm, mượn đức độ cũ của Triệu Phổ làm gương mẫu. Lữ Mông Chính tuy là người trẻ tuổi, được thăng tiến nhanh chóng[3], cùng địa vị với Triệu Phổ, Triệu Phổ rất khen ngợi ông.
[9] Trần Vương Nguyên Hi được tiến phong làm Hứa Vương; Hàn Vương Nguyên Khản được bổ nhiệm làm Tiết độ sứ Kinh Nam, Hồ Nam, tiến phong làm Tương Vương; Ký Vương Nguyên Phần được bổ nhiệm làm Tiết độ sứ Uy Vũ, Kiến Ninh, tiến phong làm Việt Vương; Ích Vương Nguyên Kiệt được bổ nhiệm làm Tiết độ sứ Kiếm Nam Đông Tây Lưỡng Xuyên.
(Ngày Giáp Thìn, bắt đầu thiết lập quân Kiến Ninh.)
Vua ban chiếu răn dạy Nguyên Hi và các người khác rằng:
“Trẫm lúc mười sáu tuổi, vào năm Hiển Đức nhà Chu, khi Giang, Hoài chưa quy thuận, đã theo Chiêu Vũ Hoàng đế nam chinh, đóng quân ở Dương, Thái các châu. Trẫm từ nhỏ tập cưỡi ngựa bắn cung, nhiều lần giao chiến với giặc, giặc trúng tên ngã gục rất nhiều. Thái Tổ đóng quân ở Lục Hợp, nghe tin liền vỗ đùi khen ngợi.
Năm mười tám tuổi, theo Chu Thế Tông và Thái Tổ, hạ được ải Ngõa Kiều, châu Doanh, Mạc, cũng đều tham gia chiến trận. Khi Thái Tổ lên ngôi, thân chinh đánh Lý Quân, Lý Trọng Tiến, Trẫm ở lại giữ kinh đô, trấn phủ kinh thành, trên dưới một lòng. Năm đó được giao binh quyền, hơn một năm sau được bổ nhiệm làm Khai Phong Doãn, trải qua mười sáu bảy năm, việc dân gian cày cấy, sự chân giả của quân tử tiểu nhân, không gì không biết.
Từ khi lên ngôi đến nay đã mười ba năm. Trẫm giữ mình giản dị, bên ngoài bỏ hết thú săn bắn du ngoạn, bên trong không ham mê thanh sắc, lời nói đều chân thật, không hề dối trá. Các ngươi sinh ra trong nhung lụa, lớn lên trong cung cấm, e chưa hiểu rõ nỗi khó nhọc của dân chúng, thiện ác của con người, nên tóm lược nói qua căn bản, chưa thể bày tỏ hết lòng Trẫm. Người làm đế tử thân vương, trước hết phải khắc kỷ tinh tiến, nghe lời khiêm nhường và tiếp nhận can gián. Mỗi lần mặc áo, hãy nghĩ đến người phụ nữ nuôi tằm; mỗi bữa ăn, hãy nhớ tới người nông dân cày ruộng. Khi xử án, đừng để cảm xúc vui giận chi phối.
Trẫm thường thân chính, đâu dám lười biếng mệt mỏi, lễ đãi quần thần, chẳng qua là để cầu sự minh xét. Các ngươi đừng chê người kém, cũng đừng ỷ mình giỏi, thì mới có thể giữ được phú quý lâu dài và bảo toàn điềm lành. Cổ nhân có câu: ‘Kẻ chống lại ta là thầy ta, kẻ thuận theo ta là kẻ hại ta’. Điều này không thể không xem xét kỹ.”
[10] Xu mật phó sứ Vương Miễn được bổ nhiệm làm Hộ bộ Thị lang, Tham tri chính sự; Ngự sử trung thừa Trương Hoành được bổ nhiệm làm Công bộ Thị lang, Xu mật phó sứ.
[11] Giáp Thìn, đặt quân Kiến Ninh ở Kiến châu.
(‘Bản kỷ’ chỉ chép Ký vương kiêm lĩnh hai trấn Uy Vũ và Kiến Ninh, mà không ghi lại việc quân Kiến Ninh khôi phục quân ngạch. Tra ‘Hội yếu’, việc kiêm lĩnh Kiến Ninh là vào năm Thuần Hóa thứ 4, ‘Bản truyện’ cũng chép như vậy. Lại thêm Ích vương vừa kiêm lĩnh Đông Xuyên và Tây Xuyên, nghi ngờ Việt vương không nên một mình trấn nhậm, nay theo ‘Bản kỷ’.)
[12] Bính Ngọ, ban chiếu rằng các đạo có dân đói khổ, nơi nào có lương thực thì mở kho phát chẩn. Vua nói với Thừa tướng rằng: “Những năm gần đây, trăm vật dồi dào, từ kinh sư đến bốn phương đều không có tai họa, ngũ cốc thuận mùa, nếu không phải nhờ Trời ban phúc, sao được như vậy? Nay quận huyện rộng lớn, dân số đông đúc, mỗi khi nghe một nơi nhỏ có mất mùa, liền lệnh cứu tế, tuy không thể khắp nơi, cũng thể hiện ý lo lắng của Trẫm cho dân.” Triệu Phổ đáp: “Văn vương chôn cốt khô, thiên hạ khen nhân đức. Dân cũng như cỏ, gió thổi cỏ ắt rạp xuống. Nếu đế vương chuyên tâm làm đạo, hợp với ý trời, dân tự nhiên vui lòng kính phục. Thần mỗi lần nghe bệ hạ nói chuyện đều nghĩ đến lợi ích lâu dài cho dân chúng, há lo rằng khí hòa bình không giáng xuống sao?”
[13] Ngày Kỷ Dậu, lấy Đồn điền viên ngoại lang Dương Lệ làm Khố bộ viên ngoại lang, sung chức Ký thất tham quân ở phủ Tương vương.
Lệ là người Hộ, vào đầu niên hiệu Quảng Thuận nhà Chu, từng du ngoạn ở Thiền châu, mang theo bài văn của mình ra mắt Thế Tông. Ông thường ở một mình trong nhà sư, mơ thấy một người y phục rất cổ xưa, nhìn Lệ nói: “Ngươi có thể theo ta du ngoạn không?” Lệ liền theo đi. Một lát sau, thấy cung điện nghiêm trang hùng vĩ, dường như không phải cảnh trần gian. Trên đại điện, thấy một vị chân nhân mặc y phục như vương giả, cầm khuê hướng về phía nam, thống lĩnh hơn ba nghìn người. Lệ lên điện làm lễ ra mắt. Người đứng đầu trước mặt có chiếc bàn, trên đặt sổ ghi tên người. Lệ thấy tên mình đứng đầu, liền xin chỉ dạy về cát hung. Chân nhân nói: “Ta không phải thầy của ngươi.” Chỉ một người nói: “Đây là Lai Hòa Thiên Tôn, ngày sau sẽ là chủ của ngươi, nên hỏi người ấy.” Thiên Tôn cười nói: “Bốn mươi năm nữa, ngươi sẽ thành công, danh ta cũng hiển hách.” Lệ lạy tạ, tỉnh dậy ghi nhớ điều đó. Lệ vốn tên là Lệ, do trong mộng thấy sổ ghi tên viết là “Lệ”[4], nên đổi theo. Đến lúc này, nhận mệnh ra mắt phủ phiên, về nhà nói với các con: “Nay ta thấy dung mạo Tương vương, chính là Lai Hòa Thiên Tôn vậy.”
[14] Trước đó, Triệu Phổ lại nhận chức Tể tướng, vừa đứng vào hàng tuyên đọc chiếu chỉ, Công bộ thị lang, Đồng tri Kinh triều quan khảo khóa Lôi Đức Tương nghe tin, tay không cầm nổi hốt, vội dâng sớ xin về quê, lại xin được đối diện, trình bày đầy đủ lý do. Vua khuyên nhủ rất lâu, và nói: “Khanh cứ về đi, Trẫm sẽ bảo toàn khanh, chớ lo lắng.” Đức Tương vẫn cố xin mãi. Ngày Nhâm Tý, bãi chức Đồng tri Kinh triều quan khảo khóa, vẫn cho phụng triều chầu, đặc biệt ban thưởng ba nghìn lạng bạch kim[5] để an ủi lòng ông.
[15] Vua chuyên tâm lo việc trị nước, muốn nghe những lời bàn thẳng thắn để đạt được thái bình, nhưng lo lắng rằng quần thần không ai chịu hết lòng phụng sự bề trên.
Tháng ba, ngày Giáp Tý, Vua hạ chiếu răn dạy rằng: “Bốn phương thông suốt, muốn hiểu rõ tình hình sự vật; trăm chức cùng tu sửa để làm cho sự nghiệp của Đế được hưng thịnh. Thế mà các bậc có chức vị lại thích yên ổn, trách nhiệm đưa lời khuyên thì phần lớn im lặng, muốn đạt đến đạo lý, há chẳng khó sao? Các quan gián nghị của Lưỡng tỉnh, chức trách là răn dạy và can gián, gánh vác việc dâng lời thay thế, phải kịp thời trình bày những điều về chính sách bế tắc, điển chương thiếu sót, nạn nước hại dân, không được giấu giếm, đến cả Ty Hiến cũng phải giúp chỉnh đốn sai lầm, nếu cứ theo thói cũ mà làm cho đủ người thì sao chịu nổi sự trống rỗng! Nên đẩy mạnh chức nghiệp, làm sáng tỏ kỷ luật, sửa đổi việc chỉ trích để cảnh cáo kẻ gian tà. Tất cả các quan trong kinh đô đều có nhiệm vụ riêng, phải xứng đáng với bổng lộc, gánh vác việc được giao, mỗi người cố gắng làm tốt chức trách của mình để làm vừa lòng Trẫm.”
Sau đó, người dâng sớ khá nhiều. Có chiếu rằng cửa Cáp Môn chỉ nhận những việc không liên quan đến danh lợi. Điện trung thừa, Trực sử quán Tạ Bí dâng sớ chỉ ra việc này không nên, và nói: “Ngoài thì giặc cường, trong thì việc dân chưa yên, lời nói của kẻ điên, Thánh nhân vẫn nghe. Nếu cứ gạn hỏi rồi từ chối, thì sự sáng suốt của bốn phương sẽ bị che lấp, mong hãy chọn lấy điều hay mà làm, điều không nên thì bỏ, để tình hình dưới có thể thông lên trên.”
Bí là người Hấp châu.
[16] Thượng từng nói với Hộ bộ sứ Lý Duy Thanh rằng: “Trẫm đọc truyện Giả Nghị trong sách ‘Hán thư’, đến khuya mà không thấy mệt. Giả Nghị vào thời Hán Văn Đế, thiên hạ thái bình, nhưng ông chỉ trích thời cuộc hết sức khẩn thiết, thậm chí còn nói đến việc phải thở dài, khóc lóc, cốt để làm rung động bậc quân chủ, không ngại chạm vào long nhan, quả là bậc trung thần thấu hiểu quốc thể. Hiện nay trong triều có người nào giống như vậy chăng?”
Duy Thanh đáp: “Từ khi Bệ hạ lên ngôi, thân chọn các cống sĩ, nên bây giờ trong triều đầy những bậc tài năng. Nếu ai trình bày việc hợp lý, xin ban thưởng nhậm chức; nếu có ai không biết kiêng kỵ, cũng mong được bao dung, thì chắc chắn sẽ xuất hiện những người như Giả Nghị.”
Thượng nói: “Trẫm tuy thông minh không bằng Hán Văn Đế, nhưng mỗi khi có chương tấu trình, đều xem đi xem lại nhiều lần, tìm kiếm đạo lý trong đó. Nếu việc gì có lợi cho nước, thuận lợi cho dân, lập tức giao cho Thừa tướng thi hành. Nếu lời tâu thiển cận, sai lạc, thì tạm gác lại, chưa từng trị tội. Bởi Trẫm muốn mở rộng đường ngôn luận, tăng thêm tầm nhìn. Nếu có ai nói được việc lớn, hiểu được đại thể, Trẫm sẽ phong cho chức vụ không theo thứ tự.”
[17] Xu mật phó sứ, Công bộ thị lang Triệu Xương Ngôn thân thiết với Diêm thiết phó sứ Trần Tượng Dư; Độ chi phó sứ Đổng Nghiễm, Tri chế cáo Hồ Đán đều là người cùng khoa với Xương Ngôn; Hữu chánh ngôn Lương Hạo thường làm việc dưới trướng ở Đại Danh, nên bốn người này ngày đêm tụ họp tại phủ của Xương Ngôn, dân kinh đô có câu: “Trần ba canh, Đổng nửa đêm.”
Có người viết mướn tên là Trạch Dĩnh, gian trá nguy hiểm, vốn thân thiết với Đán, Đán biết Dĩnh có thể sai khiến, bèn viết những lời khoác lác kỳ quái, sai Dĩnh dâng lên, lại đổi tên Dĩnh thành Mã Chu, cho rằng Mã Chu thời Đường tái xuất[6]. Lời lẽ của Dĩnh phần nhiều bài xích hủy hoại chính sự đương thời, tự tiến cử mình có thể làm đại thần của thiên tử[7], lại tiến cử mạnh mẽ mười mấy người đều là nhân tài phò tá, Xương Ngôn bên trong giúp sức, nhiều người nhận ra văn phong, biết là do Đán chủ mưu.
Lý Phưởng vừa bị cách chức, Triệu Phổ nắm quyền, rất ghét việc này. Khai Phong doãn Hứa vương Nguyên Hi sai thuộc hạ là Nghi Tán điều tra rõ sự việc, tâu lên Vua, bắt Mã Chu giam vào ngục, Khai Phong phủ phán quan Trương Khứ Hoa thân chính tra xét, Mã Chu thú nhận hết. Vua nổi giận, hạ chiếu đánh trượng rồi lưu đày ra hải đảo.
Ngày Giáp Tuất, cách chức Xương Ngôn làm Sùng Tín tiết độ hành quân tư mã, Tượng Dư làm Phục Châu đoàn luyện phó sứ, Nghiễm làm Hải Châu, Đán làm Phường Châu[8], Hạo làm Quắc Châu ty hộ tham quân. Vua đối đãi với Xương Ngôn vốn rất hậu, sắp cho làm tể tướng[9], gặp lúc Phổ lấy công lao cũ trở lại triều đình, ghét Xương Ngôn cương trực khó kiềm chế, nhân đó xin xử tử. Vua đặc cách khoan hồng cho Xương Ngôn, sau khi bị biếm, Phổ lại xin thi hành mệnh lệnh truy sát, Vua không cho, nên thôi. Phổ lúc mới làm tiết độ sứ, gửi thư cho các đài các, thể thức đều như tờ trình, người nhận đều phải trả lại, chỉ có Tượng Dư không từ chối, Phổ cho là khinh mình, nên cùng Hạo đều bị trách phạt nặng.
[18] Năm đầu niên hiệu Thái Bình Hưng Quốc, Hầu Mạc Trần Lợi Dụng bán thuốc ở kinh thành, có nhiều thuật biến hóa, mê hoặc lê dân. Xu mật thừa chỉ Trần Tòng Tín phát hiện, vội tâu lên Vua, ngay hôm đó được triệu kiến, thử thuật của hắn đều linh nghiệm, liền được phong chức Điện trực, được ban ân sủng dồi dào, dần thăng đến chức Trịnh Châu đoàn luyện sứ. Trước sau được ban thưởng rất nhiều, ân sủng không ai sánh bằng, từ đó hắn trở nên ngang ngược, không còn e sợ gì, đến cả nơi ở, đồ dùng, đều vượt quy chế của cung điện. Những kẻ a dua với hắn đều được tiến cử, sĩ quân tử sợ bè đảng của hắn nên không dám nói.
Do đó, Triệu Phổ sai người điều tra, phát hiện hắn chuyên giết người cùng các việc bất pháp khác, ra sức tâu lên Vua[10], Vua liền sai cận thần xét xử, Lợi Dụng khai nhận hết. Ngày Ất Hợi, ra chiếu tước bỏ chức tước, đày ra Thương Châu, lại tịch thu gia sản, sau đó lại ra chiếu tha về. Triệu Phổ sợ hắn được dùng lại. Có Điện trung thừa Đậu Nhân, con trai của Đậu Nghi, từng giám sát việc bán rượu ở Trịnh Châu, bèn nói với các quan khác: “Lợi Dụng thường ngồi quay mặt về hướng nam để tiếp sứ giả từ kinh thành, đai ngọc tê dùng túi lụa đỏ vàng. Ở Thiền Châu sông Hoàng Hà trong, Trịnh Châu định dùng làm đề thi cho các cử nhân, Lợi Dụng phán bài thi, lời lẽ rất bất kính.”
Triệu Phổ nghe được, gọi đến Trung thư, tra hỏi ra sự thật, lại sai viết tấu tố giác hắn. Lại có Kinh Tây chuyển vận sứ Tống Hạng, lúc đầu tịch thu gia sản của Lợi Dụng, thu được mấy tờ giấy, lời lẽ đều xúc phạm nghiêm trọng, đều tâu lên. Triệu Phổ nhân đó khuyên Vua: “Lợi Dụng tội lớn mà trách phạt nhẹ, chưa đáp ứng lòng người, giữ hắn làm gì!” Vua nói: “Lẽ nào bậc chúa tể muôn dân lại không thể bảo vệ một người sao?” Triệu Phổ đáp: “Kẻ gian thần này phạm mười mấy tội chết. Bệ hạ không giết, thì sẽ làm rối phép nước. Phép nước đáng trân quý, còn kẻ tiểu nhân này, có gì đáng tiếc.” Vua không còn cách nào, đành ra lệnh ban chết ở Thương Châu.
Sau đó Vua hối hận, vội sai người chạy đi tha chết, sứ giả đến Tân An, ngựa bị lầy ngã, người chìm trong vũng bùn, đổi ngựa khác. Đến nơi thì Lợi Dụng đã bị xé xác ở chợ. Người nghe chuyện đều cảm thấy thỏa mãn. Tống Hạng là em họ của Tống Thực. Triệu Phổ cương trực ghét ác như vậy. Có người nói rằng khi Triệu Phổ tiếp kiến các quan ở Trung thư, thường trong lúc nói chuyện tìm hiểu xem ai có chỉ trích kẻ khác[11]. Sau khi họ lui ra, liền sai lại ghi chép lại. Khi việc xảy ra, dùng đó làm chứng cứ. Do đó các quan đều sợ hãi, không dám nói, việc Trung thư ngày càng bị bưng bít.
(Việc Trung thư ngày càng bị bưng bít, điều này căn cứ vào phụ truyền. Nhưng Triệu Phổ ba lần làm Tể tướng, việc sai lại ghi chép chuyện tốt xấu của người khác, e rằng đều là việc của Đậu Nhân, Triệu Phổ chắc chắn không như vậy. Nhưng phụ truyền lại cho rằng Triệu Phổ vốn hành xử như thế, e rằng quá đáng. Vì vậy nhân việc Đậu Nhân mà ghi lại câu này, và dùng “hoặc vân” để phần nào thấy rằng Triệu Phổ chưa chắc thường xuyên như vậy.)
[19] Tháng tư mùa hạ, ngày Canh Tuất, sai Khảo công viên ngoại lang kiêm Thị ngự sử tri tạp sự Lã Đoan, Khởi cư xá nhân Cự Dã Lã Hữu Chi đi sứ Cao Li[12], mượn năm mươi vạn tiền từ kho nội phủ để chuẩn bị hành trang. Khi trở về, gặp sóng gió, cột buồm gãy, người trên thuyền rất sợ hãi, nhưng Lã Đoan vẫn điềm nhiên đọc sách không ngừng, Lã Hữu Chi liền ném hết các vật phẩm thu được xuống biển, thuyền mới dừng lại, Vua ra chiếu miễn khoản tiền họ đã mượn.
[20] Tháng năm, ngày Tân Dậu, đặt Bí các ở Sùng Văn viện, phân hơn một vạn cuốn sách từ Tam quán để lấp đầy, lệnh cho Lại bộ thị lang Lý Chí kiêm Bí thư giám, Hữu ty gián, Trực sử quán Tống Bật kiêm Trực bí các, Hữu tán thiện đại phu, Sử quán kiểm thảo Đỗ Hạo làm Hiệu lí. Tống Bật là anh của Tống Thục.
[21] Triều đình nhiều lần dùng chiếu thư để chiêu dụ Lý Kế Thiên và các bộ lạc phiên thuộc đồng lõa, Kế Thiên cũng từng sai Khổng mục quan Trương Phổ đến gặp Tri Hoàn châu Trình Đức Huyền để bày tỏ ý muốn quy thuận. Tuy nhiên, Kế Thiên cuối cùng vẫn không chịu đầu hàng, lại càng quấy phá biên giới. Tể tướng Triệu Phổ đề nghị nên giao lại vùng đất cũ Hạ Đài cho Lý Kế Phụng, để ông ta lo liệu. Kế Phụng lúc đó đang là Cảm Đức tiết độ sứ, liền được triệu về triều.
Ngày Tân Mùi, Vua đích thân viết tờ giấy hoa vàng năm màu ban cho Kế Phụng quốc tính, đổi tên thành Bảo Trung, ngày Nhâm Thân, phong làm Định Nan tiết độ sứ, ban cho toàn bộ tiền bạc, lương thực, ruộng vườn của năm châu dưới quyền quản lý.
Ngày Nhâm Ngọ, Bảo Trung từ giã về trấn, được ban thưởng rất hậu, lệnh cho Hữu vệ đệ nhị quân đô ngu hậu Vương Cảo dẫn một nghìn quân hộ tống. Khi trở về, Bảo Trung dùng đặc sản địa phương làm lễ vật, nhưng Vương Cảo từ chối không nhận. Vua biết chuyện, triệu đến ban cho trăm lạng bạc trắng.
Vương Cảo là người Tề.
[22] Nhuận tháng năm, ngày Kỷ Sửu, bổ nhiệm Triệu Thừa Hú, Đô Ngu hậu ở nha môn Tương Châu, làm Lục trạch sứ. Thừa Hú là con thứ của Triệu Phổ. Khi Phổ lần thứ hai vào chức Tể tướng, chưa từng vì con cầu quan, nhưng Vua đặc cách bổ nhiệm. Triệu Phổ thường răn dạy các con rằng: “Ta vốn là một thư sinh, may mắn gặp thời thịnh vượng, được hưởng ân sủng quá mức, nên phải lấy thân phò nước, việc riêng tư, ta không can dự. Các con hãy tự cố gắng, đừng để ta thêm lỗi lầm.” Vì thế, từ chức Hựu mật thăng lên Tể phụ [13], ra vào triều đình hơn ba mươi năm, chưa từng vì thân thích mà cầu xin ân huệ.
[23] Theo chế độ gần đây, con trai của Tể tướng khi nhậm chức liền được làm Thủy bộ viên ngoại lang, gia thêm tước Triều tán. Lữ Mông Chính kiên quyết từ chối, chỉ nhận chức lục phẩm kinh quan, từ đó trở thành tiền lệ.
(Việc này ghi trong ‘Thần đạo bi’ của Phú Bật về Lữ Mông Chính, nói rằng con trưởng của Mông Chính là Lữ Tòng Giản đáng được làm Thủy bộ viên ngoại lang, nhưng Mông Chính cố từ, chỉ nhận chức Tướng tác giám thừa, từ đó thành lệ, đến nay không thay đổi.)
[24] Ngày Bính Thân, ban tước Công sĩ cho 129 người cao tuổi ở các đạo. Từ thời Tần, Hán về sau, không còn ban tước cho dân thường, từ khi lễ Tịch điền thành tựu, mới lại ban tước.
[25] Trước đó, Hàn lâm học sĩ, Lễ bộ Thị lang Tống Bạch được cử làm chủ khảo khoa thi, chọn 28 người đỗ tiến sĩ, đứng đầu là Trình Túc, và 100 người đỗ các khoa khác. Sau khi danh sách được công bố, dư luận dậy sóng, có người còn đánh trống Đăng Văn để yêu cầu thi lại. Vua cho rằng còn sót nhân tài, nên vào ngày Nhâm Dần, triệu tập những người trượt thi làm bài kiểm tra lại tại điện Sùng Chính, chọn được 700 người, bao gồm tiến sĩ như Mã Quốc Tường và các khoa khác. Vua lệnh cho Xu mật viện dùng giấy trắng làm sắc phong ban cho họ, lấy danh hiệu “thi trúng”, cho họ tạm thời giữ chức bạ thư, uý ở các huyện. Vua nói với Xu mật phó sứ Trương Hoành: “Từ khi Trẫm lên ngôi, đã tự tay chọn các sĩ tử, người giỏi làm trụ cột, người kém làm việc nhỏ. Nay bờ cõi rộng lớn, không ai bị bỏ phí, ngày đêm lo lắng, mong đạt được đạo trị quốc tốt đẹp. Khanh cùng Lữ Mông Chính trước kia thường bị các đại thần ngăn cản, nếu không phải nhờ quyết đoán của Trẫm, thì đã không được như vậy.” Trương Hoành lạy tạ. Tống Bạch từng ba lần làm chủ khảo, những người ông chọn như Tô Dịch Giản, Vương Vũ Xứng đều nổi tiếng, nhưng số người bị loại cũng nhiều, nên bị dư luận chỉ trích. Lúc đó, Tri chế cáo Lý Hãng cũng làm chủ khảo, nhưng chỉ riêng ông không bị dị nghị.
[26] Theo chế độ cũ, khi khoa thi diễn ra, cấp 10 vạn tiền từ kho Tả Tàng để chi phí. Năm này, Vua xuống chiếu thay bằng tiền từ bộ Thượng thư Từ bộ, và tăng gấp đôi số tiền. Bãi bỏ việc cung cấp lều trướng từ Ngự trù Hàn lâm, Nghi Loan ty.
[27] Trước đó, việc phát giải ở Khai Phong phủ cũng theo quy chế của các châu, do các quan phủ đảm nhiệm. Mùa thu năm đó, vì việc phủ quá bận rộn, lần đầu tiên cử triều thần riêng phụ trách, sau khi định danh, chuyển giao cho phủ phát giải theo thể thức, từ đó thành quy chế vĩnh viễn.
(Trình Túc, người Cù Châu, ghi theo sách ‘Đăng khoa ký’.)
[28] Hữu gián nghị đại phu Lý Cự Nguyên bị giáng chức làm đô quan lang trung, nhậm chức tri châu Lãng châu[14]. Cự Nguyên tính thẳng thắn, thích bàn việc, Vua nhiều lần khen ngợi và khích lệ, có ý muốn trọng dụng. Khi bị giáng chức, Cự Nguyên dựa vào ân xưa, ngày đêm mong được triệu hồi, từng nói với thuộc hạ rằng: “Rồi sẽ nhớ đến ta, đâu thể ở đây lâu!” Sau vài năm, nhận được công văn từ trạm dịch lệnh về kinh, Cự Nguyên mở ra xem, cười lớn, vui quá khí tuyệt mà chết.
(Cự Nguyên chết tại Lãng châu vào ngày Quý Mùi tháng 10 năm Thuần Hóa thứ 3, nay ghi chép thêm.)
[29] Ngự sử trung thừa từng tấu hặc Khai Phong doãn Hứa Vương Nguyên Hi, Nguyên Hi không phục, tâu với Vua rằng: “Thần là con của Thiên tử, vì mắc lỗi với trung thừa mà bị tra xét, mong được khoan hồng.” Vua nói: “Đây là quy chế triều đình, ai dám trái? Trẫm nếu có lỗi, bề tôi còn phải chỉ trích, ngươi làm Khai Phong phủ doãn, há không tuân pháp sao?” Liền xử phạt theo quy định.
(Sách ‘Bách quan biểu’ ghi việc này vào năm Đoan Củng nguyên niên, không ghi tên trung thừa và lỗi của Hứa Vương, nay ghi thêm sau việc Lý Cự Nguyên bị giáng.)
[30] Điện trung thừa Giang Lăng Hạ Hầu Gia Trinh[15] từng viết bài phú ‘Động Đình’, Hữu tán kị thường thị Từ Huyền thấy bài phú ấy, khen rằng: “Thuộc hàng Mộc Huyền Hư, mà văn chương còn hơn cả.” Vua nghe danh tiếng của ông, triệu vào cung thi thử, rồi thăng làm Hữu chánh ngôn, trực Sử quán, kiêm trực Bí các. Gia Trinh thích thuật luyện vàng bạc, mong làm quan văn, thường nói với người khác: “Ta chỉ cần thấy một đồng bạc trong chì[16], làm Tri chế cáo một ngày là đủ.” Ông từng dâng thơ, trong đó có ý ngưỡng mộ công danh, Vua họa thơ ban cho, răn ông đừng quá tham vọng. Gia Trinh không lâu sau bệnh mất.
[31] Lại lấy Hồ Nam làm Vũ An quân.
(Trong ‘Bản kỷ’ tháng 2 có ghi Tương vương kiêm lĩnh Kinh Nam, Hồ Nam hai trấn, đến đây lại ghi đổi Hồ Nam thành Vũ An quân. Xét: ‘Thực lục’ ghi Tương vương tháng 2 chưa từng kiêm lĩnh Hồ Nam, nghi ngờ sau khi phục hồi quân ngạch mới bổ nhiệm Tiết độ sứ, ‘Bản kỷ’ có lẽ sai, cần đợi xem xét kỹ hơn.)
[32] Vua sau khi thăng chức cho Mã Quốc Tường, vẫn sợ bỏ sót nhân tài, lại sai Hữu chánh ngôn Vương Thế Tắc triệu tập các tiến sĩ trượt kỳ thi và các khoa khác đến Vũ Thành Vương miếu thi lại, chọn được mấy trăm người đỗ. Ngày Đinh Sửu, Vua cho thi lại thơ phú, lại chọn thêm 31 tiến sĩ, đứng đầu là Diệp Tề, và 89 người đỗ các khoa khác, đều ban cho đỗ đạt.
(Quê quán của Diệp Tề, trong ‘Đăng khoa ký’ cũng không ghi rõ.)
[33] Thượng bảo Thừa tướng rằng: “Năm nay nắng nóng càng dữ dội. Trong dân gian có câu, đời người như bệnh sốt rét, sống qua năm tháng giữa lúc cực lạnh, cực nóng, hàn và nhiệt thay đổi, không tự giác dần dần trở nên già yếu. Nếu chẳng gắng sức làm việc thiện, để thời gian trôi qua vô ích, thật đáng tiếc thay.” Mùa thu, tháng bảy, ngày Mậu Tuất, bảo Triệu Phổ rằng: “Khanh tuổi cao mà chịu nóng, vốn đã khó khăn. Từ nay sau khi việc đối đáp ở điện Trường Xuân xong, nên trở về tư đệ dưỡng sức, đợi khi trời mát hãy đến Trung thư lo việc.” Phổ cúi đầu tạ ơn.
[34] Tháng 8, ngày mùng 1 (Ất Mão). Ngày Giáp Tý, lấy Tuyên huy Nam viện sứ Quách Thủ Văn sung chức Trấn châu lộ Đô bố thự. Vua trực tiếp sai bảo rằng: “Người dùng binh trước hết phải biết rõ địch mạnh yếu, hiểu rõ động tĩnh, thưởng phạt phải công minh, chỉ cần bảo toàn binh lực và làm sạch đồng ruộng, đó là đại ý vậy. Hơn nữa, triều đình dùng ba lộ Trấn, Định, Cao Dương để khống chế yết hầu giao thông, nếu địch không kiêng dè, kiêu căng kéo đến, thì xuất kỳ binh vây đánh, sẽ không sai lầm. Vả lại, trong một đội kỵ binh, hãy chọn những người dũng cảm, trang bị cung tên, giáo kiếm, chia làm mười đội, thậm chí ba bốn trăm đội, đều có thể khống chế được. Lại chọn bề tôi trong triều để chỉ huy. Nếu địch dám vượt qua Trấn, Định, ngươi chớ giao chiến, giả làm khiếp nhược, bố trí kỵ binh giấu kín việc ấy[17]. Trẫm sẽ dùng tinh binh tiền quân trực tiếp phát động đánh gấp, lại ngầm dùng kỹ hiệu của địch, đợi khi có kế chắc thắng thì phân bố đội ngũ, tung quân đánh giết. Nếu chưa thắng, hãy bảo vệ các thành trại, đó là mưu kế bách chiến bách thắng vậy. Có thể tùy cơ lập kế, làm việc linh hoạt, không bị ràng buộc[18].”
[35] Trung thư đường hậu quan khuyết, Tể tướng muốn chọn người trong trăm quan để bổ nhiệm, nhưng Vua không cho phép. Ngày Tân Mùi, lấy Pháp tào tham quân phủ Hà Nam Lương Chính Từ, Chủ bạ huyện Sở Khâu Kiều Uất cùng năm người, đều được bổ làm Tướng tác giám thừa, sung chức Trung thư đường hậu quan. Từ đấy, việc chọn người trong đường lại để bổ nhiệm làm quan triều bắt đầu.
[36] Ngày Mậu Dần, Vũ Thắng tiết độ sứ, Thái sư, Thượng thư lệnh, kiêm Trung thư lệnh Đặng vương Tiền Thích mất. Vua ngừng triều chính bảy ngày, truy phong làm Tần quốc vương, đặt thụy là Trung ý, sai trung sứ lo việc tang, an táng tại Lạc Dương. Thích giữ chức Thái sư, Thượng thư lệnh, kiêm Trung thư lệnh bốn mươi năm, làm Nguyên soái ba mươi lăm năm, hưởng phú quý tột bậc, phúc lộc dồi dào, thời cận đại không ai sánh bằng.
[37] Ngày Canh Thìn, Vua ngự giá đến Quốc tử giám, bái yết Văn Tuyên vương. Lễ xong, lên xe định ra cửa Tây, nhìn thấy chỗ giảng, tả hữu tâu rằng Bác sĩ Lý Giác đang tụ tập đệ tử giảng sách. Vua liền triệu Giác, bảo giảng trước mặt. Giác nói: ‘Bệ hạ đang ngự xa giá, thần đâu dám lên ngồi chỗ cao.’ Vua bèn xuống xe, sai quan dựng màn trướng, bày chỗ ngồi riêng, truyền Giác giảng quẻ Thái trong sách ‘Chu Dịch’, các quan đều ngồi nghe. Giác trình bày ý nghĩa trời đất cảm thông, quân thần tương ứng. Vua rất hài lòng, đặc biệt ban tặng trăm tấm lụa. Sau đó, Vua ngự đến Ngọc Tân viên dự yến tiệc bắn cung. Ngày Tân Tỵ, Vua bảo tể tướng rằng: ‘Hôm qua nghe lời giảng của Giác, ý nghĩa sâu xa, đủ để làm gương soi, nên cùng các khanh tuân theo.’ Triệu Phổ cúi đầu tạ ơn.
[38] Tháng 9, ngày Đinh Mùi, Bí thư giám Lý Chí tâu: ‘Cục Trứ tác soạn văn tế tông miếu và các đền chùa, xưng tôn hiệu. Thời Đường chỉ có Khai Nguyên lễ làm như vậy. Những người nghiên cứu cổ điển cho là không hợp lễ. Hơn nữa, tôn hiệu xuất hiện từ thời cận đại. Xin dựa theo cổ điển: khi tế tông miếu thì xưng ‘Tự hoàng đế thần mỗ’, khi tế các đền thì xưng ‘Hoàng đế’. Như thế mới hợp lễ [19]
[39] Mùa đông, tháng 10, ngày Giáp Tý, đặc biệt đặt chức Mã bộ quân Long Thần vệ tứ sương đô chỉ huy sứ và Điện tiền Phụng Nhật Thiên Vũ tứ sương đô chỉ huy sứ, cử Khổng Thủ Chính, Chấn châu phòng ngự sứ, và Phạm Đình Triệu, Trừng châu phòng ngự sứ, giữ chức này[20].
(Theo truyện Khổng Thủ Chính ghi chép: Đế vì thấy Khổng Thủ Chính quen thuộc việc quân, nên đặc biệt đặt chức Long Thần vệ tứ sương đô chỉ huy sứ để trao cho ông. Lưu ý: Theo ‘Thực lục’, Long Thần vệ tứ sương và Phụng Nhật Thiên Vũ tứ sương cùng được đặt chức đô chỉ huy sứ, Phạm Đình Triệu và Khổng Thủ Chính cùng được bổ nhiệm. Nay ghi lại, cần xem xét thêm.)
[40] Ngày Quý Mùi, Đế nói với các quan hầu rằng: “Trẫm luôn nhớ lời răn của cổ nhân về việc ham săn bắn, từ nay ngoài việc quan chức thuận thời hành lễ, sẽ không đi săn bắn ở cận điện nữa. Tất cả chim ưng và chó săn trong Ngũ phường đều được thả tự do, để tỏ rõ ý hảo sinh.” Từ đó ban chiếu khắp thiên hạ không được dâng chim ưng và chó săn nữa.
[41] Tháng này, bổ nhiệm Phàn Tri Cổ, Hữu gián nghị đại phu, làm Hà Bắc đông, tây lộ đô chuyển vận sứ. Chức Đô chuyển vận sứ bắt đầu từ Tri Cổ. Phàn Tri Cổ vốn tên là Nhược Thủy, Đế đổi tên cho ông.
(Chức Đô chuyển vận sứ bắt đầu từ đây, ‘Thực lục’ không ghi, căn cứ vào bản truyện và ‘Hội yếu’ để bổ sung, nên không rõ ngày cụ thể, cần xem xét thêm. Lại nữa, tháng 11 năm Thái Bình Hưng Quốc thứ 4, Cao Kế Thân[21]làm Hà Bắc nam lộ đô vận sứ, lúc đó Hà Bắc chia làm hai lộ, Kế Thân chỉ làm ở nam lộ, nên không tính là bắt đầu).
[42] Tháng 11, quân Khiết Đan tiến đến phía bắc sông Đường, chuẩn bị xâm lược[22]. Các tướng muốn theo chiếu chỉ, củng cố thành lũy, thanh trừng đồng ruộng, không giao chiến. Giám quân Định châu, kiêm Phán tứ phương quán sự Viên Kế Trung nói: “Khiết Đan đang ở gần, nay trong thành đóng quân trọng binh mà không thể tiêu diệt, để chúng tiến sâu xâm lược các quận khác, mưu tính kế an toàn là đúng, nhưng đâu phải là cách chống giặc, ngăn địch! Tôi sẽ dẫn đầu quân sĩ, liều chết với giặc.” Lời lẽ khảng khái, mọi người đều phục. Trung hoàng môn Lâm Diên Thọ cùng bốn người khác vẫn cầm chiếu chỉ ngăn lại, Đô bộ thự Lý Kế Long nói: “Việc bên ngoài biên ải, tướng súy được quyết đoán. Năm trước ở Hà Gian không chết ngay, chính là vì có dịp báo đáp quốc gia.” Bèn cùng Viên Kế Trung xuất binh chống cự.
[43] Trước đó, kỵ binh Tĩnh Tắc ở châu Dịch vốn rất tinh nhuệ, Lý Kế Long lấy họ về dưới quyền mình, để lại vợ con trong thành. Viên Kế Trung nói với Kế Long: “Những quân tinh nhuệ này chỉ nên cho họ giữ thành, vạn nhất giặc đến, trong thành thì ai chống địch?” Kế Long không nghe, sau đó quả nhiên giặc xâm lược, châu Dịch bị hạ, vợ con của quân lính đều bị giặc bắt. (Châu Dịch thất thủ, không rõ tên chủ tướng giữ thành, cũng không biết ngày tháng cụ thể, chỉ thấy sự việc này được ghi chép sơ lược ở đây, quốc sử[23] chép sơ lược như vậy, thật đáng tiếc.) Kế Long muốn phân quân ấy vào các đội quân khác, Kế Trung nói: “Không nên, hãy tấu lên xin tăng biên chế quân đội, cấp lương hậu hĩ, để họ hết lòng trung thành là được.” Kế Long nghe theo lời, mọi người đều cảm kích vui mừng, Kế Trung nhân đó xin đưa họ về dưới quyền mình. Đến lúc ấy, họ xông lên tiên phong, quân kỵ Khiết Đan đại bại, truy kích qua sông Tào, chém được mười lăm nghìn thủ cấp, bắt được mười nghìn ngựa. Ngày Kỷ Sửu, tin thắng trận tấu lên, quần thần đều chúc mừng. Vua ban chiếu khen ngợi, ban thưởng rất hậu.
(Xét rằng chiến thắng này là công của Đô bộ thự lộ Định châu và Giám quân. Quách Thủ Văn lúc bấy giờ ở châu Trấn, ban đầu không nghe nói xuất quân kềm chế địch, nhưng Thực lục và bản kỷ đều chép rằng Thủ Văn tấu lên rằng đánh bại Khiết Đan ở sông Đường, không rõ nguyên do. Nay chỉ căn cứ vào truyện của Lý Kế Long và Viên Kế Trung để soạn lại, không nhắc đến Thủ Văn. Tuy nhiên, chính truyện của Thủ Văn cũng chép rằng đại phá Khiết Đan ở sông Đường. Lại trong Hội yếu chép[24]: Khiết Đan xâm lược Trung Sơn, Thủ Văn cùng Kế Long xuất tinh binh dựa thành dàn trận, giặc dốc toàn lực tấn công, Kế Long hiệu lệnh tướng sĩ, một trống đánh bại chúng, giết và bắt rất nhiều. Xét rằng Thủ Văn vốn là Đô bộ thự châu Trấn, ban đầu chưa từng nhận chiếu đến châu Định, sao có thể cùng Kế Long xuất quân dựa thành dàn trận được? Truyện Khiết Đan tuy chép rằng Thủ Văn và Kế Long cùng xuất trận, nhưng cũng không có việc dựa thành dàn trận. Không rõ Hội yếu dựa vào đâu, cần phải xét lại. Thực lục lại chép: Khiết Đan nhiều năm xâm lược biên giới, gây hại cho dân, triều đình bèn đóng trọng binh ở châu Trấn, châu Định và cửa Cao Dương để kềm chế chúng. Ngày cử tướng, Vua thân truyền kế sách. Đến lúc ấy, quả nhiên đại thắng. Xét đây là lời của sử thần ca ngợi, e không phải sự thực, nay không sử dụng.)
[44] Tháng chạp, Quốc tử bác sĩ Lý Giác dâng lời tâu rằng:
“Vùng Ký Bắc, Yên, Đại là nơi sinh ra ngựa, cũng là chỗ dựa của người Hồ Nhung, nên việc chế ngự kẻ địch, thực sự cần kỵ binh là cấp thiết. Người bàn luận cho rằng muốn quốc gia có nhiều ngựa, phải dụ người Nhung bằng lợi, khiến họ từ phương xa mang ngựa đến. Nhưng chi phí mua ngựa hàng năm tăng mà số lượng ngựa trong chuồng không tăng, ấy là vì đã mất đi nguyên lý sinh sôi.
Hơn nữa, người Nhung chăn nuôi di chuyển theo nước và cỏ, thả ngựa con và ngựa cái [25], thuận theo tự nhiên, nên chúng sinh sôi nảy nở. Khi mua ngựa về Trung Quốc, thì buộc lại nuôi bằng cỏ khô, tách ngựa đực và cái, ép chúng theo ý người, khiến chúng gầy yếu, suy giảm là lẽ đương nhiên. Lại khác với ngựa trong nước, quen ăn cỏ khô, sống trong chuồng tốt, nên sinh sôi nhiều, không hao hụt.
Theo phép thuế ruộng xưa, 64 tỉnh xuất 4 con ngựa Nhung, một cỗ xe binh, 12 con bò. Thiên tử đất kinh kỳ ngàn dặm, đất cấp trăm vạn tỉnh, trừ núi sông, thành trì, làng xóm, vườn tược chiếm 36 vạn tỉnh không nộp thuế [26], thì 64 vạn tỉnh xuất 4 vạn con ngựa Nhung, 1 vạn cỗ xe binh, đó là số lượng ngựa theo thuế. Chư hầu lớn có 4 nghìn con ngựa, 1 nghìn cỗ xe, nên gọi là nước ‘nghìn xe’. Khanh đại phu lớn có 400 con ngựa, trăm cỗ xe, nên gọi là nhà ‘trăm xe’. Vậy đất rộng trong thiên hạ, chư hầu đông đảo, thuế ngựa Nhung nhiều lắm.
Đời Đường Nghiêu đến Tấn đều ở phía bắc sông Hoàng Hà, mà Bắc Địch không gây họa được, là vì có nhiều ngựa. Những ngựa này đều lấy theo thuế ruộng, chứ không nghe mua ngựa từ ngoài. Từ khi Tần phá hủy phép tỉnh điền, Hán mở mang ruộng đất, xe binh không lấy từ thuế ruộng, ngựa Nhung đều do quan cấp, nên Hung Nô nhiều năm gây họa, vì thiếu ngựa. Vì thế, Triều Thác khuyên Hán Văn Đế khuyến khích nông nghiệp, lệnh cho dân có một con ngựa xe kỵ thì miễn thuế phục dịch cho ba người, tức là miễn thuế dịch cho ba binh sĩ.
Đến thời Vũ Đế, trong 70 năm, ngựa đầy đường phố, hàng nghìn đàn, người cưỡi ngựa cái bị xua đuổi không được tụ tập, đấy là vì ngựa đều sinh trong nước, chứ không nghe mua từ người Nhung.
Hiện nay trong quân đội, số ngựa cái rất nhiều, nhưng số lượng sinh sản lại rất ít, vì sao? Đều nói rằng chi phí thức ăn do quan phủ cấp không đủ, lại do ngựa sinh nhiều thì gầy yếu, ngựa con biết ăn thì chiếm phần thức ăn của ngựa mẹ, khiến ngựa mẹ ngày càng gầy mòn. Quân lính nuôi ngựa có tội mà không được lợi, vì thế khi ngựa con sinh ra liền bị đuổi đi hoặc bắt phải ngửi tro mà chết. Sau này, quan phủ biết được tệ nạn này, bèn bàn việc thưởng tiền cho quân lính nuôi ngựa con, nhưng số tiền thưởng quá ít, nên vẫn tiếp tục tệ nạn cũ.
Nay suy đoán, số tiền mua ngựa chiến của quốc gia, ít nhất mỗi con cũng không dưới hai mươi ngàn, chưa kể chi phí đi lại và ban thưởng. Như vậy là quý trọng việc mua ngựa từ ngoại bang mà khinh rẻ việc nuôi ngựa trong nước, không hợp lý. Nếu quốc gia chưa thể chọn riêng ngựa cái để phân chia chăn nuôi, nên tạm giảm một nửa số tiền mua ngựa để ban thưởng cho tướng sĩ nuôi ngựa con, tăng thêm trợ cấp hàng tháng, đến khi họ nộp ngựa thì dừng lại. Như vậy tiền không ra khỏi nước mà ngựa vẫn sinh sôi. Ước tính với hai vạn ngựa cái, mỗi năm thu được nửa số ngựa con [chữ “thu” nguyên là “Mục”, sửa theo sách trước], cũng có thể được một vạn con, huống hồ ngựa cái lại sinh ngựa con, trong mười năm số ngựa chắc chắn tăng gấp đôi.
Xưa Y Đốn, một kẻ nghèo, được Đào Chu Công dạy cách nuôi năm loại gia súc, liền đến phía nam huyện Y Thị thuộc Tây Hà, nuôi rất nhiều trâu bò, mười năm sau thu lợi không đếm xuể, huống chi là ngựa của thiên hạ mà sinh sôi?[27]”
Vua xem tấu chương và khen ngợi.
(Bản chí, Giác sớ vào năm Đoan Củng đầu tiên, không rõ ngày tháng, ghi vào cuối năm.)
[45] Trứ tác lang kiêm Trực sử quán La Xử Ước dâng sớ nói:
(Sớ của Xử Ước nhắc đến chiếu chỉ mùa xuân năm nay, tức là chiếu thư ban ra vào ngày Giáp Tý tháng ba năm Đoan Củng nguyên niên. Việc dâng sớ này hẳn là vào cuối năm đó, còn việc Tam ty đặt 12 viên phán quan là sự việc năm Thuần Hoá thứ tư, không rõ Xử Ước vì sao lại dự đoán được, hay là từ đầu năm Đoan Củng đã có nghị luận này, đến năm Thuần Hoá mới thi hành chăng? Nay tạm ghi vào cuối năm, chờ xem xét kỹ hơn.)
“Thần những ngày qua, nhân lúc rảnh rỗi sau buổi chầu, hoặc được nghe các khanh sĩ bàn luận về việc chính sự thời nay, đều nói rằng Thánh thượng cho rằng trong Tam ty, việc quốc kế là quan trọng, sổ sách ngày càng nhiều, điều lệ ngày càng phức tạp, muốn hoàn thiện những quy chế chưa tốt, mong đạt được đạo trung dung.
Thần nghe nói trong triều có đề xuất muốn đặt 12 viên phán quan kiêm nhiệm chức vụ này, để mỗi người phụ trách một việc, giữ được sự cân bằng. Thần cho rằng chế độ Tam ty không phải là cổ chế, mà là từ sau thời kỳ trung diệp nhà Đường, chiến tranh liên miên, vùng Hà Sóc không phục tùng[28], quân đội chưa yên, vì nguồn thu từ thuế khoá và quản lý chuyên chế, nên từ Thượng thư tỉnh tách ra Tam ty để trông coi.
Tuy nhiên, việc quốc dụng là nhu cầu cấp thiết của triều đình, nên các quan lại được giao trọng trách, được hưởng bổng lộc cao, người cần mẫn thì chỉ biết làm theo lối cũ, kẻ tận tụy thì lại sinh ra hiềm khích; làm theo lối cũ thì chẳng giúp ích cho quốc gia, hiềm khích thì không phù hợp với thời thế. Kẻ nông cạn lấy việc chỉ trích làm kế sách, người sâu sắc lại lấy sự thoả hiệp làm mưu cầu cá nhân[29].
Những tệ nạn đã tồn tại lâu ngày. Nay nếu theo như lời bàn về mười hai viên phán quan, cũng là một phương cách tạm thời để cứu vãn tệ nạn. Tuy nhiên, chính sự của Thánh triều đã đạt đến sự thái bình, cần phải tìm quy chế xưa để làm khuôn mẫu lưu truyền đời sau.
Thần từng đọc sách của Phó Duyệt, cho rằng: “Việc không bắt chước cổ nhân, Phó Duyệt chưa từng nghe thấy”, lại trong hai thiên ‘Nghiêu điển’, ‘Thuấn điển’ cũng nói: “Thuận theo mà xét đạo cổ”, đều cho rằng thuận theo đạo xưa để đạt đến sự thái bình. Theo như thần thấy, không gì bằng khôi phục chế độ cũ của Thượng thư đô tỉnh, các chức vụ như Thừa lang, Chính lang, Viên ngoại lang, Chủ sự, Lệnh sử, xin theo quy chế cũ trong ‘Lục điển’, đem việc quản lý tiền tệ, lương thực, vải lụa, thuế khoá và chi tiêu của Tam ty hiện nay phân về hai mươi tư ty. Như vậy, mỗi ty sẽ có nhiệm vụ riêng, có thể đòi hỏi họ hoàn thành công việc.
Nay bộ Thương, bộ Kim, làm sao biết được sự đầy vơi của kho lương, kho tiền? Ty Điền, ty Xuyên, ai biết được khoảng cách xa gần của việc đắp đê, đào kênh? Có danh mà không có thực, tập quán lâu ngày đã thành thói quen, huống chi việc khôi phục Thượng thư đô tỉnh, kẻ hạ thần còn có thể thấy là khả thi, huống chi bệ hạ là người thông minh, sáng suốt? Tuy nhiên, người bàn luận cho rằng chế độ này đã bỏ lâu, khó thay đổi. Nếu bệ hạ quyết định từ trong lòng, giao xuống tướng phủ, chế độ Thượng thư đô tỉnh vốn là điển chế cũ, trên ra lệnh, dưới tuân theo, sao lại không được? Vì người ta dễ theo thói quen, khó thích ứng thay đổi; dễ vui với thành quả, khó lo liệu lúc khởi đầu.
Trong ‘Chu Dịch’ có câu: “Trời đất đổi mới mà bốn mùa thành”, ý nói có thể thay đổi mệnh trời mà sáng tạo chế độ, đến khi kẻ tiểu nhân vui với thành quả, thì thay đổi bề ngoài để thuận theo bề trên. Huống chi danh xưng Tam ty chỉ mới xuất hiện gần đây, hồ sơ chất đầy bàn, nào có từng xem xét hết được? Lại trong Tam ty[30], lại chia đặt thêm thuộc quan, thì càng mất đi gốc gác. Nay Câu viện của Tam ty vốn là bộ Tỷ của Thượng thư tỉnh, nguyên là cơ quan kiểm tra, hiểu rõ chi tiêu trong ngoài.
Bệ hạ nếu muốn khôi phục, thì chế độ hoàn toàn có sẵn. Đến như Cửu tự, Tam giám, phần nhiều là cơ quan rườm rà, dù có chức quan nhưng không thực hiện nhiệm vụ. Kính mong bệ hạ vào lúc thái bình, xây dựng quy chế lâu dài, không cần phiền phức sai phái sứ thần, lập thêm công thự. Như vậy, danh chính thì ngôn thuận, ngôn thuận thì việc thành. Bớt bớt viên chức rườm rà, thì sẽ tiết kiệm được kinh phí. Sách xưa có nói: “Đường, Ngu xét đạo cổ, đặt quan chỉ một trăm”, “Hạ, Thương tăng gấp đôi quan chức, nhưng vẫn dùng để trị nước”. Kính mong bệ hạ noi theo sự giản dị hóa của trời đất, xây dựng đạo lý lớn lao trong ‘Hồng Phạm’, có thể kéo dài muôn năm, ngồi yên mà trị nước.”
[46] Thượng từng nói với Thừa tướng: “Sự hưng suy của quốc gia có thể biết qua uy quyền. Ngũ đại tiếp nối sau loạn lạc cuối thời Đường, quyền lực nằm ở các phiên trấn, việc chinh phạt không do triều đình quyết định, ỷ thế mà làm bậy trong nước. Vì vậy, vương thất suy yếu, hưởng quốc không lâu. Thái Tổ trị vì thiên hạ, đã sâu sắc khắc phục tệ nạn này. Đến khi Trẫm kế vị, cũng từ từ lo toan việc này, mong cùng các khanh nghiêm túc tuân thủ pháp chế, chấn chỉnh cương kỷ, để đạt đến thái bình.”
Thượng lại nói: “Đạo lý chí công là không phe phái, không thiên vị. Người trị quốc mà làm được điều này, thái bình thực sự không khó đạt được.”
Triệu Phổ nói: “Trời sinh sôi vào xuân hạ, thu tàn vào thu đông, không thiên vị một vật nào, đó là lý do có thể trường tồn, bậc vương giả nên noi theo.”
- Chữ 'Trứ tác tá lang', trong 'Thái Tông Thực lục' quyển 43, 'Đông đô sự lược' quyển 115 và 'Tống sử' quyển 440 phần bản truyện đều ghi là 'Trứ tác lang'. ↵
- Nguyên văn 'Vị' được sửa thành 'Dụ' căn cứ vào bản Tống, 'Tống toát yếu' và 'Biên niên lục' quyển 2. ↵
- Chữ 'sậu' nguyên bản là 'hậu', được sửa căn cứ vào bản Tống, 'Biên niên cương mục' quyển 4 và 'Tống sử toàn văn' quyển 3 hạ. ↵
- Do trong mộng thấy sổ ghi tên viết là 'Lệ', chữ 'tác' vốn thiếu, theo bản Tống và sách 'Tống sử' quyển 287 truyện Dương Lệ bổ sung. ↵
- Ban thưởng ba nghìn lạng bạch kim, 'ba nghìn lạng' nguyên ghi là 'ba mươi lạng', các bản đều như vậy. Tra theo ‘Thái Tông Thực lục’ quyển 43 và ‘Tống sử’ quyển 278 truyện Lôi Đức Tương đều ghi là 'ba nghìn lạng', nay sửa theo đó. ↵
- Cho rằng Mã Chu thời Đường tái xuất, chữ 'Đường' nguyên bản thiếu, theo Tống bản, Tống toát yếu bản bổ sung ↵
- Tự tiến cử mình có thể làm đại thần của thiên tử, 'có thể' nguyên bản là 'vu', theo các bản và Thái Tông Thực lục quyển 44, Tống hội yếu chức quan 64/6 sửa ↵
- Phường Châu nguyên bản là 'Phòng Châu', theo Tống bản, các bản và sách trên sửa ↵
- Sắp cho làm tể tướng, chữ 'sắp' nguyên bản là 'tùy', theo Tống bản và Tống sử quyển 267 truyện Triệu Xương Ngôn sửa ↵
- chữ 'lực' nguyên bản là 'phương', căn cứ vào các bản khác sửa lại. ↵
- chữ 'dịch' nguyên bản là 'dịch', căn cứ vào các bản Tống, Tống toát yếu, các bản khác sửa lại. ↵
- Lã Hữu Chi nguyên bản viết là 'Lã Hựu Chi', các sách đều giống nhau. Theo 'Tống sử' quyển 296, bản truyện chép 'Lã Hữu Chi, tự Nguyên Cát', quyển 487, 'Cao Ly truyện' và 'Thái Tông Thực lục' quyển 44 đều chép là 'Lã Hữu Chi', nay theo đó mà sửa lại. Sau này đều theo. ↵
- 'Hựu' nguyên bản chép là 'Xu', căn cứ vào Tống bản, Các bản, Hoạt tự bản cùng 'Biên niên lục' quyển 2, 'Tống sử toàn văn' quyển 3 hạ sửa. ↵
- Lãng châu nguyên bản viết 'Lang châu', theo bản 'Tống tóm yếu' và các bản khác sửa lại. Dưới đây giống nhau. ↵
- Điện trung thừa Giang Lăng Hạ Hầu Gia Trinh: Theo ghi chép từ đây đến cuối phần 'tịnh tứ cập đệ' trong 'Thái Tông Thực lục' quyển 44, đều được ghi vào ngày Đinh Sửu tháng 6. Việc triệu tập các tiến sĩ trượt kỳ thi và các khoa khác đến Vũ Thành Vương miếu để thi lại, trong 'Tống hội yếu tuyển cử' quyển 7, phần 5 cũng ghi vào ngày 11 tháng 6. Nguyên bản ở đây có lẽ thiếu tháng ngày. ↵
- Ta chỉ cần thấy một đồng bạc trong chì: Chữ 'nhất' nguyên bản thiếu, theo bản Tống bổ sung. Xem 'Sa môn Văn Oánh Ngọc hồ thanh thoại' quyển 7 ghi: 'Khiến ta được nửa lạng thủy ngân, làm Tri chế cáo một ngày, đời ta đủ rồi.' ↵
- Nguyên văn là'âm trí kị sĩ', theo bản Tống sửa lại. Xem 'Tống hội yếu' phần Phiên di 1-13 chép 'liên trì dĩ văn'. ↵
- Nguyên văn là'mạc thiện ư thử', theo bản Tống, Các bản, Hoạt tự bản sửa lại. 'Tống hội yếu' phần Phiên di 1-14 chép 'Diệc bất câu thử'. Lại chép 'Tự năng tùy cơ thiết kế', phần trên 'Hội yếu' 1-13 ghi là 'Cẩu tùy cơ sở kiến', nghi rằng nguyên bản hai chữ 'Tự năng' hoặc có thể là 'Cẩu năng'. ↵
- Chữ 'Tư' nguyên bản viết 'Thủy', theo bản Tống, Tống toát yếu bản và các bản khác sửa lại].' Vua đồng ý. ↵
- Sử sách ghi: 'Dĩ Chấn châu phòng ngự sứ Khổng Thủ Chính, Trừng châu phòng ngự sứ Phạm Đình Triệu vi chi'. Chữ 'sứ' dưới 'Chấn châu phòng ngự' nguyên bản thiếu, tên Phạm Đình Triệu nguyên bản viết là 'Phạm Diên Triệu', căn cứ vào các bản sửa chữa trong 'Tống sử' quyển 275, 'Khổng Thủ Chính truyện', 'Long bình tập' quyển 17 và 'Tống sử' quyển 289, 'Phạm Đình Triệu truyện' để bổ chính ↵
- Nguyên bản viết là 'Cao Kế Trung', căn cứ vào bản Tống, các bản và bản hoạt tự để sửa. Dưới đây cũng vậy ↵
- 'chuẩn bị' nguyên bản chữ 'Kinh', căn cứ vào bản Tống sửa lại ↵
- Quốc sử, bản gốc là 'Quốc Trung', căn cứ vào bản Tống, Toát yếu bản Tống, bản hoạt tự sửa lại. ↵
- 'Hội yếu' nguyên bản là 'Cập', căn cứ vào bản Tống, các bản sửa lại. ↵
- Nguyên văn viết 'ngựa' thay vì 'ngựa con', dựa theo bản đời Tống, 'Tống Toát Yếu' và 'Biên Niên Cương Mục' quyển 4, 'Thông Khảo' quyển 160 về Binh sử mà sửa lại ↵
- '36 vạn tỉnh', nguyên văn là '26 vạn tỉnh', dựa theo bản đời Tống và 'Thông Khảo' sửa lại ↵
- 'Sinh sôi' trên nguyên có chữ 'vô', sửa theo bản Tống, Tống Toát Yếu và các bản khác cùng thông khảo. ↵
- 'Hà Sóc không phục tùng' nguyên bản viết 'Hà Sóc không đến', theo Tống bản, Tống toát yếu bản và 'Tống sử' quyển 440 truyện La Xử Ước sửa. ↵
- 'Người sâu sắc lại lấy sự thoả hiệp làm mưu cầu cá nhân' nguyên bản viết 'sinh', theo các bản và 'Tống sử' dẫn trên đã sửa. ↵
- Chữ 'tựu' trong câu 'phục tựu tam ty chi trung' ban đầu bị thiếu, căn cứ theo 'Tống sử' bản trước mà bổ sung. ↵